1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Ghi nhận ban đầu về mọt đục thân gây hại cây sưa ở Việt Nam

5 58 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 423,23 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết tiến hành theo dõi, quan sát đặc điểm gây hại của mọt trên cây Sưa và trên các mẫu thân cây bị mọt đục thân. Các chỉ tiêu quan sát gồm vị trí gây hại, hang đục của mọt, màu sắc và phân bố mọt trên thân cây.

Trang 1

GHI NHẬN BAN ĐẦU VỀ MỌT ĐỤC THÂN GÂY HẠI CÂY SƯA Ở VIỆT NAM

First Report of Stem Borer Beetle Associated with Dalbergia tonkinensis

in Viet Nam Nguyễn Minh Chí 1 , Nông Phương Nhung 2 , Trần Xuân Hưng 1

, Đào Ngọc Quang 1

, Trần Xuân Hinh 1

, Nguyễn Văn Nam 1 , Phạm Thị Thu Thủy 1 và Phạm Quang Thu 1

Ngày nhận bài: 26.7.2019 Ngày chấp nhận: 08.8.2019

Abstract

Dalbergia tonkinensis is a rare and highly valuable rosewood and planted quite popularly in Viet Nam in the

past few years, but the D tonkinensis trees were infected by a number of pathogens such as root rot disease, and leaf spot disease, canker disease and wilt disease This is the first report of stem borer beetle - Euwallacea sp which associated with D tonkinensis in Vietnam The adult is very dark-brown to black, their body size is 2.35 -

2.61 mm in length and 0.98 - 1.05 mm in width with club antennae They often attack the diseased or weak trees, mainly on the 5 - 10 year-old trees, and greatly affect the tree growth and wood quality This species is a new

record for Vietnamese fauna and a potential insect pest for D tonkinensis In order to manage effectively of this

species, further research is needed to determine the exact species name, their biology, ecology and control measures

Keywords: ambrosia beetle, Dalbergia tonkinensis, Euwallacea sp

1 ĐẶT VẤN ĐỀ *

Cây Sưa (Dalbergia tonkinensis Prain) là

một trong những loài cây gỗ quý, hiếm, có giá

trị kinh tế cao ở Việt Nam và đã được xếp vào

nhóm IA, nhóm thực vật rừng nghiêm cấm khai

thác, sử dụng vì mục đích thương mại (Chính

phủ, 2006) Tuy nhiên, do giá trị kinh tế rất cao,

có thể tới 18 tỷ đồng/m3 (Vĩnh Phúc, 2013),

cây Sưa đã được trồng khá phổ biến ở nhiều

nơi trên cả nước, tập trung nhiều nhất ở tỉnh

Vĩnh Phúc và đang hình thành thị trường các

sản phẩm giá trị cao từ cây Sưa (Nông

Phương Nhung et al., 2019)

Đến nay, đã ghi nhận một số bệnh hại cây

Sưa ở giai đoạn vườn ươm như bệnh thối cổ rễ

do hai loài nấm Fusarium solani, Pythium vexans

và bệnh đốm lá do nấm Colletotrichum sp.; bệnh

loét thân, cành do nấm Fusarium lateritium và F

decemcellulare gây hại cây Sưa cả ở giai đoạn

vườn ươm và rừng trồng (Nhung et al., 2018);

bệnh chết héo do nấm Ceratocystis manginecans

(Chi et al., 2019) và mới đây đã ghi nhận mọt đục

thân gây hại cây Sưa ở Việt Nam

Các loài mọt thuộc giống Euwallacea đục thân

cây sống có tên tiếng Anh là ambrosia beetle và

còn được gọi là mọt nuôi nấm, mọt ăn nấm, mọt

1 Trung tâm Nghiên cứu Bảo vệ rừng, Viện Khoa học

Lâm nghiệp Việt Nam

2 Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam

hại gỗ gián tiếp hay mọt ăn nấm và là vector truyền nấm gây bệnh cho cây chủ (Parthiban and Muraleedharan, 1996) Mọt Euwallacea fornicatus đã được ghi nhận là loài mọt đục thân cây sống, gây hại rừng trồng Keo trên diện rộng

ở Việt Nam (Phạm Quang Thu, 2016b) Các nghiên cứu trên thế giới cho thấy các loài mọt

thuộc giống Euwallacea gây hại trên nhiều loài cây trồng khác nhau như Phong bạc, Thầu dầu, Chè, các loài Dẻ, các loài Cây có múi, Cao su,

Xoài, Tếch, Ca cao (Parthiban and

Muranleedharan, 2012), gây hại cây Chè ở Ấn

Độ (Kumar et al., 2011) và gây hại nghiêm trọng

đối với cây Bơ ở Mỹ (Kasson, 2013)

Các loài mọt thuộc giống Euwallacea được xác định có mang và nuôi nấm Fusarium euwallacea làm thức ăn, trưởng thành cái mang

theo bào tử nấm ở gốc râu đầu và miệng (Parthiban and Muraleedharan, 1996; Phạm Quang Thu, 2016b) Trong quá trình mọt trưởng thành cái đào hang trong thân cây, nấm được nhiễm vào đường hang, từ đó nấm phát tán ra xung quanh và làm nguồn thức ăn cho sâu non

và trưởng thành sau khi vũ hóa (Parthiban and Muraleedharan, 1996)

Năm 2018 - 2019 đã ghi nhận mọt đục thân trên cây Sưa ở các tỉnh Thái Nguyên, Vĩnh Phúc,

Hà Nội, Hòa Bình và Nghệ An Đây là sinh vật gây hại mới và tiềm ẩn những mối nguy hại đối với cây Sưa ở Việt Nam Bài báo này trình bày kết quả nghiên cứu đặc điểm hình thái, giám định

Trang 2

loài và đặc điểm gây hại của loài mọt đục thân

cây Sưa ở Việt Nam

2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Vật liệu nghiên cứu

- Các mẫu cây Sưa bị mọt đục thân thu thập

tại các tỉnh Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Hà Nội, Hòa

Bình và Nghệ An

- Các mẫu mọt đục thân gây hại cây Sưa

2.2 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu đặc điểm gây

hại của mọt

Theo dõi, quan sát đặc điểm gây hại của mọt

trên cây Sưa và trên các mẫu thân cây bị mọt

đục thân Các chỉ tiêu quan sát gồm vị trí gây hại,

hang đục của mọt, màu sắc và phân bố mọt trên

thân cây

Phương pháp nghiên cứu đặc điểm hình

thái của mọt

Thu các mẫu thân cây Sưa bị hại, chẻ nhỏ để

thu mẫu mọt trưởng thành, trứng, sâu non,

nhộng trong các mẫu cây bị mọt đục thân

Mẫu mọt trưởng thành, trứng, sâu non và

nhộng được quan sát trên kính soi nổi Leica

M165C để chụp ảnh, đo kích thước và mô tả chi

tiết các bộ phận của cơ thể mọt

Phương pháp giám định tên khoa học

Đặc điểm hình thái của các mẫu mọt được đối chiếu với khóa phân loại và đặc điểm của giống

Euwallacea đã được mô tả bởi Eichhoff (1868) Kết hợp với việc so sánh và đối chiếu mẫu mọt của trường Đại học Florida do Tiến sỹ Johnson Andrew thực hiện tháng 6 năm 2019

3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 3.1 Đặc điểm gây hại của mọt đục thân cây Sưa

Cây Sưa ở giai đoạn 5 - 10 tuổi thường bị mọt đục thân gây hại, thân cây bị mọt đục có lỗ nhỏ

có đường kính từ 1,1 - 1,3 mm Khi thân cây mới

bị mọt đục thân, mọt đùn mùn gỗ ra có màu trắng, mùn gỗ chuyển dần sang màu thâm đen theo thời gian, sau đó để lại các lỗ nhỏ trên thân (hình 1a), cây bị mọt hại có đường hang chạy thẳng vào trong thân, sau đó rẽ nhiều nhánh ở phần gỗ giác (hình 1b,c)

Chúng thường tấn công các cây bị bệnh hoặc cây sinh trưởng kém, có sức sống yếu, tập trung gây hại cây Sưa ở giai đoạn trên 5 năm tuổi, đặc biệt là 5 - 10 năm tuổi Đặc điểm gây hại này tương đồng với nghiên cứu của Phạm Quang

Thu (2016a,b) đã ghi nhận mọt E fornicatus tập

trung gây hại rừng trồng các loài Keo ở giai đoạn trên cây 3 năm tuổi

Hình 1 Cây Sưa bị mọt đục thân: a thân cây bị mọt; b mặt cắt dọc thân cây bị mọt

Hiện nay, đã ghi nhận mọt đục thân cây Sưa

trên một số rừng trồng và một số vườn hộ với tỷ

lệ cây bị hại khoảng 10 - 12%, tập trung ở những

cây Sưa bị bệnh Đồng thời, chúng đang có xu hướng phát tán rộng và gây hại ngày càng nặng hơn Cây Sưa là một loài cây gỗ bản địa có giá trị

Trang 3

kinh tế rất cao, giá gỗ có thể tới 18 tỷ đồng/m3

(Vĩnh Phúc, 2013) Cây Sưa đã và đang được

trồng khá phổ biến ở nhiều vùng trên cả nước,

tập trung nhiều ở các tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ

(Nông Phương Nhung et al., 2019) Gỗ Sưa rất

được ưa chuộng để sản xuất đồ mỹ nghệ và đồ

mộc cao cấp Tuy nhiên, khi cây bị mọt đục thân

đã làm ảnh hưởng lớn đến chất lượng gỗ với các

lỗ mọt và đường hang, làm mất tính thẩm mỹ và

giá trị của sản phẩm sau này

3.2 Đặc điểm hình thái của mọt đục thân

cây Sƣa

Trưởng thành: Cơ thể mới vũ hóa có màu

vàng, sau đó chuyển màu vàng đậm, nâu sẫm

đến đen Chiều dài cơ thể từ 2,35 đến 2,61 mm,

rộng từ 0,98 đến 1,05 mm Râu đầu có dạng hình

chuỳ với đốt thứ tư phình to, đốt chân râu đầu

nằm ở giữa phần mắt kép với phần hàm dưới của miệng (hình 2a)

Trứng: Hình oval, dài từ 0,31 đến 0,42 mm

(hình 2b), màu trắng kem hoặc vàng, trứng nằm ở cuối đường hang trong thân cây bị chúng gây hại, số trứng trong mỗi ổ dao động

từ 12 đến 15 quả

Sâu non: Có 3 tuổi :

Tuổi 1: Màu trắng sữa, chiều dài cơ thể 0,92 - 1,11 mm, rộng 0,38 - 0,50 mm

Tuổi 2: Màu vàng nhạt, chiều dài cơ thể 1,41 - 1,60 mm, rộng 0,45 - 0,61 mm

Tuổi 3: Màu vàng, chiều dài cơ thể 1,79 - 2,22

mm, rộng 0,61 - 0,75 mm, phần đầu bắt đầu xuất hiện nhiều tấm chắn bảo vệ (hình 2c)

Nhộng: Kích thước dài 2,15 - 2,65 mm, rộng 0,98

- 1,32 mm, mới hoá nhộng có màu trắng sữa sau chuyển màu vàng hoặc vàng nâu (hình 2d)

Hình 2 Mọt đục thân Sƣa:

a trưởng thành; b trứng; c sâu non; d nhộng Thước: a, c, d = 1 mm; b = 0,5 mm

3.3 Giám định tên khoa học

Các kết quả mô tả đặc điểm hình thái cho loài

mọt đục thân cây Sưa trong nghiên cứu này

được so sánh với đặc điểm hình thái của 2 loài

mọt Euwallacea fornicatus và E timidus thuộc giống Euwallacea (bảng 1)

Trang 4

Bảng 1 Đặc điểm hình thái của mọt đục thân cây Sƣa, mọt E fornicatus và E timidus

Đặc điểm Mọt đục thân cây Sưa E fornicatus * E timidus **

Trưởng thành

Màu sắc Nâu sẫm hoặc đen Nâu hoặc đen Vàng hoặc nâu

Kích thước Dài: 2,35 - 2,61 mm

Rộng: 0,98 - 1,05 mm

Dài: 1,83 - 1,90 mm Rộng: 0,96 - 1,02 mm

Dài: 2,10 - 2,60 mm Rộng: 0,94 - 1,06 mm Râu đầu Dạng hình chuỳ với đốt

thứ tư phình to

Dạng hình chuỳ với đốt thứ tư phình to

Dạng hình chuỳ với đốt thứ tư phình to

Trứng

Màu sắc Màu trắng kem hoặc

vàng

Màu trắng kem Màu trắng kem hoặc

vàng Kích thước Dài 0,31 - 0,42 mm Dài 0,23 - 0,40 mm Dài 0,29 - 0,37 mm

Sâu non

Tuổi 1 Dài: 0,92 - 1,11 mm

Rộng: 0,38 - 0,50 mm

Dài: 0,90 - 0,97 mm Rộng: 0,37 - 0,42 mm

Dài: 0,88 - 0,99 mm Rộng: 0,33 - 0,47 mm Tuổi 2 Dài: 1,41 - 1,60 mm

Rộng: 0,45 - 0,61 mm

Dài: 1,30 - 1,36 mm Rộng: 0,44 - 0,50 mm

Dài: 1,34 - 1,56 mm Rộng: 0,48 - 0,60 mm Tuổi 3 Dài: 1,79 - 2,22 mm

Rộng: 0,61 - 0,75 mm

Dài: 1,80 - 1,85 mm Rộng: 0,60 - 0,67 mm

Dài: 1,85 - 2,05 mm Rộng: 0,55 - 0,69 mm

Nhộng

Màu sắc Màu vàng hoặc vàng

nâu

Màu vàng nhạt Màu vàng đậm hoặc

nâu Kích thước Dài: 2,15 - 2,65 mm

Rộng: 0,98 - 1,32 mm

Dài: 1,97 - 2,07 mm Rộng: 0,97 - 1,07 mm

-

* Nguồn: (Phạm Quang Thu, 2016b); ** Nguồn: (Hulcr and Cognato, 2013)

Các mẫu mọt đục thân cây Sưa có nhiều đặc

điểm tương đồng với loài E fornicatus gây hại

cây Keo ở Việt Nam (Phạm Quang Thu, 2016b),

gây hại cây Chè ở Ấn Độ (Kumar et al., 2011)

nhưng kích thước của chúng lớn hơn đáng kể so

với mọt E fornicatus đã được mô tả Kích thước

của mọt trưởng thành tương đồng với loài E

timidus (Hulcr and Cognato, 2013)

Từ kết quả mô tả đặc điểm hình thái nêu trên,

đối chiếu với khóa phân loại và đặc điểm của

giống Euwallacea, kết hợp việc so sánh với khóa

phân loại của Eichhoff (1868) và đối chiếu mẫu

của bộ môn côn trùng, loài mọt hại cây Sưa

được giám định là một loài thuộc giống

Euwallacea, thuộc tộc Xyleborini, phân họ

Scolytinae, họ Curculionidae, bộ Coleoptera

Chúng có nhiều đặc điểm tương đồng với loài

E fornicatus gây hại cây Keo ở Việt Nam nhưng

chưa xác định được đến loài

Trong nghiên cứu này, đã ghi nhận loài mọt

đục thân Euwallacea sp., một sinh vật gây hại

mới đối với cây Sưa Loài mọt này có nhiều đặc

điểm tương đồng với loài E fornicatus gây hại

cây Keo ở Việt Nam đã được Phạm Quang Thu (2016b) mô tả và cũng có nhiều đặc điểm hình

thái và kích thước tương đồng với loài E timidus

(Hulcr and Cognato, 2013) Các nghiên cứu trên thế giới cho thấy các loài mọt thuộc giống

Euwallacea gây hại trên nhiều loài cây trồng khác nhau như Phong bạc, Thầu dầu, Chè, các loài

Dẻ, các loài Cây có múi, Cao su, Xoài, Tếch, Ca cao (Kumar et al., 2011; Parthiban and Muranleedharan, 2012) Trong đó, mọt E fornicatus là loài gây hại nghiêm trọng đối với cây

Bơ ở Mỹ (Kasson, 2013; Coleman et al., 2019),

chúng đã được ghi nhận là sinh vật gây hại chính

Trang 5

đối với rừng trồng các loài Keo trên diện rộng ở

Việt Nam (Phạm Quang Thu, 2016b; Coleman et

al., 2019)

Mọt Euwallacea spp là các loài mọt đục thân

cây sống, chúng lây nhiễm nấm Fusarium

euwallacea vào hang đục để làm thức ăn

(Parthiban and Muraleedharan, 1996) Ngoài ra,

mọt E fornicatus cũng đã được xác định có

mang theo bào tử nấm gây bệnh chết héo trong

rừng trồng Keo với 70% mẫu mọt có mang nấm

C manginecans trên tổng số 50 mẫu mọt thu từ

rừng trồng Keo tai tượng đang bị bệnh chết héo

(Trần Thị Thanh Tâm, 2018) Đối với cây Sưa,

bệnh chết héo đã xuất hiện và gây hại tại một số

địa phương (Chi et al., 2019), việc đồng thời xuất

hiện thêm mọt đục thân có thể sẽ làm tăng nguy

cơ lây lan bệnh hại Do đó, rất cần tiếp tục

nghiên cứu xác định đến loài, nghiên cứu đặc

điểm sinh học, sinh thái, xác định thành phần các

loài nấm gây bệnh do mọt mang theo và các biện

pháp phòng trừ để có giải pháp quản lý hiệu quả

4 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

Kết luận: Loài mọt đục thân cây Sưa được

xác định là Euwallacea sp thuộc phân họ

Scolytinae, họ Curculionidae, bộ Coleoptera

Chúng gây hại chủ yếu trên rừng trồng ở giai

đoạn 5 - 10 tuổi và có xu hướng lan rộng

Kiến nghị: Cần tiếp tục nghiên cứu xác định

đến loài, nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái,

xác định thành phần các loài nấm gây bệnh do

mọt mang theo và các biện pháp phòng trừ để có

giải pháp quản lý hiệu quả

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 N M Chi, N P Nhung, T T Trang, P Q Thu,

T X Hinh, N V Nam, D N Quang, B Dell, 2019

“First report of wilt disease in Dalbergia tonkinensis

caused by Ceratocystis manginecans” Australasian

Plant Pathology, 48(5)

2 Chính phủ, 2006 Nghị định số 32/2006/NĐ-CP

ngày 30/3/2006 của Chính phủ về quản lý thực vật

rừng, động vật rừng nguy cấp, quý hiếm

3 Coleman, T W., Poloni, A L., Chen, Y., Thu, P

Q., Li, Q., Sun, J., & Seybold, S J (2019)

Hardwood injury and mortality associated with two shot

hole borers, Euwallacea spp., in the invaded region of

southern California, USA, and the native region of

Southeast Asia Annals of Forest Science, 76(3), 61

4 Eichhoff, W J., 1878 Neue oder noch

unbeschriebene Tomicinen Entomologische Zeitung,

Stettin, 39(7-9), 383-392

5 Hulcr, J., & Cognato, A I., 2013 Xyleborini of

New Guinea, a taxonomic monograph (coleoptera: curculionidae: scolytinae) Entomological Society of

America

6 Kasson, M T., O’Donnell, K., Rooney, A P., Sink, S., Ploetz, R C., Ploetz, J N., & Smith, J A.,

2013 An inordinate fondness for Fusarium: phylogenetic diversity of fusaria cultivated by ambrosia beetles in the genus Euwallacea on

avocado and other plant hosts Fungal Genetics and

Biology, (56), 147-157

7 Kumar, R., Rajkhowa, G., Sankar, M., Rajan, R.K., 2011 A new host plant for the shoot-hole borer,

Euwallacea fornicatus (Eichoff) (Coleoptera: Scolytidae) from India Acta Entomol Sinicia, (54), 734-738

8 Nhung, N.P., Thu, P.Q., Dell, B and Chi, N.M.,

2018 “First report of canker disease in Dalbergia

tonkinensis caused by Fusarium lateritium and Fusarium decemcellulareAustralasian Plant Pathology, 47(3): 317-323

9 Nông Phương Nhung, Phạm Quang Thu, Bernard Dell, Nguyễn Minh Chí, 2019 Nghiên cứu hiện trạng gây trồng cây Sưa tại phía Bắc Việt Nam

Tạp chí Khoa học Lâm nghiệp, 2

10 Parthiban, M and Muranleedharan, N., 1996

Biology of the shot hole borer Euwallacea fornicatus (Eich.) of tea J Plantn.Crops, (24), 319-329

11 Trần Thị Thanh Tâm, 2019 “Nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái học và biện pháp phòng

chống bệnh chết héo do nấm Ceratocystis sp gây

hại Keo tai tượng tại tỉnh Thái Nguyên”, Luận án tiến

sỹ Lâm nghiệp, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam,

131 trang

12 Phạm Quang Thu, 2016a Kết quả nghiên cứu thành phần sâu, bệnh hại một số loài cây trồng rừng

chính tại Việt Nam Tạp chí Khoa học Lâm nghiệp, (1),

4257-4264

13 Phạm Quang Thu, 2016b Mọt Euwallacea

fornicatus đục thân keo ở Việt Nam Tạp chí Nông

nghiệp và Phát triển nông thôn, (7), 110-113

14 Vĩnh Phúc, 2013 Thông báo của tỉnh Vĩnh Phúc số 132/TB-TTDVBĐGTS ngày 17/6/2013 về việc bán đấu giá tài sản nhà nước

Phản biện: TS NCVCC Nguyễn Văn Liêm

Ngày đăng: 27/05/2020, 05:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w