1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Định danh loài Alternaria sesami gây bệnh đốm nâu chanh leo tại Nghệ An

10 151 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 440,49 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tại Nghệ An, các nghiên cứu bước đầu về bệnh đốm nâu chanh leo đã xác định nguyên nhân gây bệnh là do nấm Alternaria. Nghiên cứu trình bày trong bài báo này cung cấp thông tin khoa học nhằm xác định chính xác tới mức loài của nấm gây bệnh dựa trên phân tích các đặc điểm hình thái và trình tự DNA mã hóa vùng Internal Transcribed Spacer (ITS). Vùng ITS hiện được coi là mã vạch phân tử (barcode) phổ biến và quan trọng nhất của nấm (Schoch et al., 2012) và cũng đã được sử dụng để xác định nấm Alternaria (Sanka et al., 2012; Singh et al., 2018).

Trang 1

ĐỊNH DANH LOÀI Alternaria sesami GÂY BỆNH

ĐỐM NÂU CHANH LEO TẠI NGHỆ AN

The Identification of Alternaria sesami Causing Brown Spot Disease

of Passion Fruit in Nghe An

Võ Thị Dung 1 , Hà Viết Cường 2 , Hà Minh Thanh 3 và Đỗ Duy Hưng 3

Ngày nhận bài: 15.3.2019 Ngày chấp nhận:16.7.2019

Abstract

Brown spot is a dangerous and common disease of passion fruit in Nghe An The disease has been known to

be caused by several Alternaria species worldwide The major aim of this study is to identify the identity of Alternaria species causing the brown spot diseaseof passion fruit in Nghe An The Alternaria isolates were

isolated from brown spot lesions and cultured on nutrient media The morphological characteristics and

sporulation manner of the Alternaria isolates were evaluated The Internal Transcribed Spacer (ITS) gene of 11 Alternaria isolates collected from Nghe An (7 isolates), Quang Binh (1 isolate), Thanh Hoa (1 isolate), Ha Tinh (1

isolate) and Hoa Binh (1 isolate) were sequenced directly from the PCR amplicons Sequence analysesshowed

that the ITS sequences of the 11 Alternaria isolates were identical with each other and with those of 3 Alternaria species, A sesami, A ricini and A acalyphicola, of the Section Porri Phylogenetic analysis showed the 11 Alternaria isolates, A sesami, A ricini and A acalyphicola formed a separate cluster on the ITS tree In the ITS2 region, 11 Alternaria isolates, A sesami, A ricini and A acalyphicola contain 1 nucleotide (G) distinct from 60 remaining Alternaria species of this Section The conidia of the Alternaria species causing the brown spot disease

were smooth wall and produced singly on conidiophores, meaning that the sporulation manner and conidial

morphology of the Alternaria causing brown spot are similar with those of A sesami but distinct with those of A ricini and A acalyphicola In combination with the result of inoculation on sesame plant conducted previously, the Alternaria species causing brown spot disease of passion fruit in Nghe An is identified as A sesami

Keywords: Alternaria sesami, Internal Transcribed Spacer (ITS), Nghe An, Passion fruit, sporulation

1 ĐẶT VẤN ĐỀ *

Chanh leo là cây trồng có giá trị kinh tế cao,

đang được trồng nhiều tại Việt Nam và ở Nghệ

An, chanh leo là loại cây đã được đưa vào danh

sách cơ cấu cây trồng Tuy nhiên hiện nay,

người trồng chanh leo đang gặp nhiều khó khăn

trong sản xuất do bệnh hại tấn công, trong đó có

bệnh đốm nâu, một trong những bệnh nghiêm

trọng nhất tại Nghệ An Bệnh gây hại trên lá làm

giảm khă năng quang hợp của cây, trên quả làm

hư hại vỏ quả, giảm chất lượng thương phẩm của

quả, ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả kinh tế

Trên thế giới bệnh đốm nâu chanh leo đã

được xác định do ít nhất 9 loài Alternaria gây ra

gồm A passiflorae, A alternata, A macrospora,

A aliena, A aragakii, A hawaiiensis,

1 Trường Đại học Kinh tế Nghệ An

2 Học viện Nông nghiệp Việt Nam

3 Viện Bảo vệ thực vật

A tenuissima, A tropica, A guangxinesis,

A bannaensis và A tomato (Holliday, 1995;

Chen& Zhang, 1997; Ploetz, 2003; Simmons,

1993; Ram et al., 1977; Fischer& Rezende, 2008) Trong số các loài trên, A passiflorae và

A alternata được xem là 2 loài phổ biến nhất, phân bố khắp thế giới (Fischer & Rezende, 2008; Joy & Sherin, 2012)

Hiện nay, dựa trên đặc điểm hình thái và

trình tự gen, khoảng 280 loài Alternaria đã được

phân loại và được phân chia vào 27 nhóm loài

gọi là Section (Lawrence et al., 2013, 2016), trong đó Section Porri (từ tên loài đại diện

A porri) là Section lớn nhất với tổng số 63 loài

được ghi nhận (Woudenberg et al., 2014) Các

loài đã công bố gây hại trên chanh leo như

A passiflorae, A macrospora, A aragakii,

A hawaiiensis, A tropica và A tomato thuộc

Section này

Tại Việt Nam, có rất ít nghiên cứu về nguyên nhân gây bệnh đốm nâu chanh leo Gần đây, một

Trang 2

nghiên cứu dựa trên đặc điểm hình thái của 71

mẫu nấm Alternaria phân lập trên chanh leo thu

tại Lâm Đồng và Đắk Nông đã xác định nguyên

nhân gây bệnh là nấm A.passiflorae (Phan Thị

Thu Hiền và CS, 2015)

Có thể thấy, tất cả các công bố về nguyên

nhân gây bệnh đốm nâu chanh leo trên thế giới

và Việt Nam ở trên đều dựa trên đặc điểm hình

thái của nấm Giống như đối với nhiều chi nấm

khác, phân loại nấm Alternaria dựa trên đặc điểm

hình thái đã chứng tỏ không chính xác (Lawrence

et al , 2016) Chẳng hạn, loài A hawaiiensis công

bố gây bệnh đốm nâu chanh leo, sau khi phân

tích trình tự gen, đã được phân loại lại là loài

A Passiflorae (Woudenberg et al., 2014)

Tại Nghệ An, các nghiên cứu bước đầu về

bệnh đốm nâu chanh leo đã xác định nguyên

nhân gây bệnh là do nấm Alternaria Nghiên cứu

trình bày trong bài báo này cung cấp thông tin

khoa học nhằm xác định chính xác tới mức loài

của nấm gây bệnh dựa trên phân tích các đặc

điểm hình thái và trình tự DNA mã hóa vùng

Internal Transcribed Spacer (ITS) Vùng ITS hiện

được coi là mã vạch phân tử (barcode) phổ biến

và quan trọng nhất của nấm (Schoch et al., 2012)

và cũng đã được sử dụng để xác định nấm

Alternaria (Sanka et al., 2012; Singh et al., 2018)

2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Phân lập nấm và đánh giá đặc điểm

hình thái

Mẫu lá, quả chanh leo bị bệnh đốm nâu điển

hình được thu thập và rửa sạch bằng nước vòi

Mẫu được khử trùng bề mặt bằng cồn 70% trong

30 giây và được thấm khô trên giấy thấm vô

trùng Các mảnh mô (5 x 5 mm) chứa cả mô

bệnh và mô khỏe được cắt và được đặt trên môi

trường WA (Water Agar) và được ủ ở nhiệt độ

28oC Khi sợi nấm phát triển dài cách mô bệnh

1-2cm, nấm được làm thuần bằng cấy đỉnh sinh

trưởng của sợi nấm sang môi trường PDA

(Potato Dextrose Agar)

Các đặc điểm hình thái của nấm gồm tản

nấm, sợi nấm, cành bào tử phân sinh, bào tử

phân sinh, cách sinh bào tử phân sinh được

quan sát từ các mẫu nấm thuần được nuôi cấy

trên các môi trường dinh dưỡng gồm PDA,

PDA+1%YE (PDA bổ sung 1% Yeast Extract),

PCA (Potato Carrot Agar)

2.2 PCR và giải trình tự

DNA tổng số được chiết từ sợi nấm thuần theo phương pháp CTAB (Cetyltrimethyl ammonium bromide) của Doyle and Doyle (1987).DNA được hòa trong 50µL đệm TE và bảo quản ở -20°C

Phản ứng PCR được thực hiện với hai mồi

ITS1và ITS4 (White et al., 1990) để nhân vùng

ITS của các mẫu nấm Phản ứng PCR được thực hiện với DreamTaq Polymerase của hãng Fermentas với nhiệt độ gắn mồi ở 52°C Sản phẩm PCR được tinh chiết từ gel agarose dùng kít tinh chiết Gel Extraction Kit D2500 (Omega, USA) theo hướng dẫn của nhà sản xuất Sản phẩm PCR tinh chiết được giải trình tự 1 chiều tại Hãng First Base (Singapore)

và Macrogen (Hàn Quốc) Trình tự nucleotide được biên tập và lắp ráp dùng phần mềm Seqman (DNASTAR, LaserGene)

2.3 Phân tích trình tự

Các trình tự mẫu được xác định danh tính sơ

bộ khi so sánh với các trình tự tại cơ sở dữ liệu MYCOBANK (http://www.mycobank.org/) Căn trình tự đa chuỗi được thực hiện với phần mềm

ClustalX2.1 (Larkin et al., 2007) Cây phả hệ

được xây dựng bằng phần mềm MEGA7.0

(Kumar et al., 2016)

3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1 Đặc điểm hình thái nấm Alternaria gây

bệnh đốm nâu trên chanh leo Nghệ An

Nấm Alternaria trên cây chanh leo chủ yếu gây

hại ở bộ phận lá và quả Trên vết bệnh, nấm hình thành cành bào tử phân sinh riêng rẽ và trên cành hình thành một bào tử phân sinh đơn lẻ có mỏ dài Trên môi trường nuôi cấy nhân tạo như PDA+1%YE, PCA và PDA, tản nấm tạo các vòng tròn đồng tâm, đều, hơi dày, có màu nâu đậm Trên môi trường nuôi cấy nhân tạo, nấm dễ dàng sinh sản trên bề mặt môi trường (Hình 1A) Cành bào tử phân sinh mọc trực tiếp từ sợi nấm

và vuông góc với sợi nấm, dạng đơn lẻ, có thể phân nhánh hoặc không phân nhánh Cành bào

tử phân đa bào, kích thước 80 X 3-5 μm, có màu nâu đến nâu đậm.Bào tử phân sinh non và trưởng thành thường có hình elip, kích thước (49

- 102) X (12 - 24) µm Bào tử trưởng thành nhẵn, màu đậm, có 6 - 10 vách ngăn ngang, 0 - 3 vách

Trang 3

ngăn dọc, vách ngăn dọc đầu tiên xuất hiện ở vị

trí ngăn thứ 2 - 3 của bào tử và các vách ngăn

dọc khác ở vị trí có đường kính bào tử lớn hơn

so với các vị trí khác Bào tử phân sinh có mỏ

kéo dài theo thời gian sinh trưởng của bào tử,

kích thước 186 - 390 X 2,5 μm) Bào tử phân

sinh mọc đơn lẻ từ đỉnh cành bào tử phân sinh

(Hình 1)

Hình 1 Đặc điểm hình thái nấm Alternaria gây

bệnh đốm nâu chanh leo tại Nghệ An (A, B),

trong đó: A: Cách sinh bào tử của nấm trên

bề mặt môi trường PDA; B: cành bào tử phân

sinh và bào tử phân sinh hình thành từ sợi

nấm nuôi cấy trên môi trường PDA Bào tử

phân và cành bào tử phân sinh loài A sesami

(C) theo Simmons, 2004

3.2 Kết quả giải trình tự vùng ITS và tìm

kiếm chuỗi tương đồng trên Genbank

Vùng ITS của 11 mẫu nấm Alternaria phân

lập từ vết bệnh đốm nâu trên cây chanh leo tím

thu thập từ Nghệ An (7 mẫu), Hà Tĩnh (1 mẫu),

Quảng Bình (1 mẫu), Thanh Hóa (1 mẫu) và Hòa Bình (1 mẫu) đã được nhân bằng PCR và giải trình tự trực tiếp 1 chiều bằng mồi PCR Sau khi loại bỏ các trình tự nhiễu ở 2 đầu, bốn mẫu

Alternaria thu tại Nghệ An, ký hiệu từ NA1 đến NA4, đều có kích thước 518 bp; bảy mẫu còn lại đều có kích thước 532 bp (Bảng 1)

Bảng 1 Nguồn gốc và kết quả giải trình tự

vùng ITS của 11 mẫu nấm Alternaria phân lập

từ vết bệnh đốm nâu chanh leo ở Việt Nam

STT Ký hiệu mẫu

Địa điểm thu mẫu

Kích thước (bp)

Tiếp theo, trình tự vùng ITS của 11 mẫu nấm

Alternaria được căn trình tự đa chuỗi bằng phần mềm Clustal và so sánh trình tự cho thấy chúng đồng nhất 100 % với nhau, chứng tỏ chúng thuộc cùng 1 loài Tuy nhiên, do khác nhau về kích thước nên trình tự của chúng được trình bày cụ thể như sau với phần trùng nhau được đánh dấu:

>Trình tự 4 mẫu NA1, NA2, NA3 và NA4 (518 bp):

TAACAAGGTCTCCGTAGGTGAACCTGCGGAGGGATCATTACACAAATATGAAGGCGGGCTGG CACCTCTCGGGGTGGCCAGCCTTGCTGAATTATTCCACCCGTGTCTTTTGCGTACTTCTTGTTTC CTTGGTGGGCTCGCCCACCACAAGGACCAACCCATAAACCTTTTTGTAATGGCAATCAGCGTCAG TAACAATGTAATAATTACAACTTTCAACAACGGATCTCTTGGTTCTGGCATCGATGAAGAACGCAG CGAAATGCGATAAGTAGTGTGAATTGCAGAATTCAGTGAATCATCGAATCTTTGAACGCACATTGC GCCCTTTGGTATTCCAAAGGGCATGCCTGTTCGAGCGTCATTTGTACCCTCAAGCTTTGCTTG GTGTTGGGCGTCTTTTTGTCCCCCCGCTTGCGGGGAGACTCGCCTTAAAGTCATTGGCAGCC GGCCTACTGGTTTCGGAGCGCAGCACAAGTCGCGCTCTCTTCCAGCCCCAAGGTCTAGCATC CAACAAG

>Trình tự 7 mẫu NA5, NA6, NA7, HT1, QB1, TH1 và HB1 (523 bp):

GCGGGCTGGCACCTCTCGGGGTGGCCAGCCTTGCTGAATTATTCCACCCGTGTCTTTTGCGT ACTTCTTGTTTCCTTGGTGGGCTCGCCCACCACAAGGACCAACCCATAAACCTTTTTGTAATGGC AATCAGCGTCAGTAACAATGTAATAATTACAACTTTCAACAACGGATCTCTTGGTTCTGGCATCGA TGAAGAACGCAGCGAAATGCGATAAGTAGTGTGAATTGCAGAATTCAGTGAATCATCGAATCTTT

Trang 4

GAACGCACATTGCGCCCTTTGGTATTCCAAAGGGCATGCCTGTTCGAGCGTCATTTGTACCCTCA AGCTTTGCTTGGTGTTGGGCGTCTTTTTGTCCCCCCGCTTGCGGGGAGACTCGCCTTAAAGTCAT TGGCAGCCGGCCTACTGGTTTCGGAGCGCAGCACAAGTCGCGCTCTCTTCCAGCCCCAAGGTCT AGCATCCAACAAGCCTTTTTTTCAACTTTTGACCTCGGATCAGGTAGGGATACCCGCTGAACTTAA GCATATCAATAAGC

Trình tự của vùng ITS của 11 mẫu nấm

Alternaria ở trên, tiếp theo, được sử dụng để xác

định loài gần gũi từ Cơ sở dữ liệu MYCOBANK

Kết quả tìm kiếm (Bảng 2) cho thấy các loài gần

gũi nhất xác định được gồm A sesami, A ricini

và và A acalyphicola với phần trăm đoạn so

sánh từ 89.9 – 96.9 % và mức đồng nhất trình tự 100% Đáng chú ý, tất cả 3 loài xác định được

đều thuộc Section Porri của chi Alternaria

Bảng 2 Tìm kiếm Cơ sở dữ liệu MYCOBANK xác định loài gần gũi dựa trên trình tự

vùng ITS của các mẫu Alternaria gây bệnh đốm nâu chanh leo

trình tự (%)

Phần trăm đoạn so sánh (%)

Ghi chú: 1 Chỉ trình bày 10 mẫu gần gũi nhất; 2 là mã mẫu nấm lưu trữ tại CBS-KNAW Fungal Biodiversity Centre (Hà Lan)

3.3 So sánh trình tự và phân tích phả hệ

Dựa trên kết quả tìm kiếm loài gần gũi, trình tự

ITS của 11 mẫu Alternaria gây bệnh đốm nâu

chanh leo đã được phân tích với trình tự tương

ứng của tất cả 63 loài Alternaria thuộc Section Porri

được công nhận mới đây nhất (Woudenberget al.,

2014) (Bảng 3) Tổng số 74 trình tự đã được căn

trình tự đa chuỗi, so sánh trình tự và phân tích phả

hệ (Bảng 3, Hình 2, Hình 3)

Kết quả so sánh trình tự cho thấy tất cả 11

mẫu Alternaria gây bệnh đốm nâu chanh leo đều

đồng nhất trình tự 100% với nhau So sánh cũng

cho thấy các mẫu Alternaria gây bệnh đốm nâu

chanh leo có mức đồng nhất trình tự 100 % với 3

loài A sesami, A ricini và A acalyphicola Đáng

chú ý, so sánh trình tự cho thấy các mẫu nấm

Alternaria gây bệnh đốm nâu chanh leo trong nghiên cứu này chỉ có mức đồng nhất trình tự

98,0 % với loài A passiflorae (Bảng 3)

Bảng 3 So sánh trình tự vùng ITS của 11 mẫu Alternaria gây bệnh đốm nâu chanh leo

với các loài Alternaria thuộc Section Porri1

GenBank

Mức đồng nhất trình

tự (%)

Trang 5

TT Loài Ký chủ Quốc Gia Mã

GenBank

Mức đồng nhất trình

tự (%)

tetragonoloba

14 A venezuelensis Phaseolus vulgaris Venezuela KJ718263 99,1

17 A novae-guineensis Citrus sp Papua New

Guinea

KJ718202 98,9

25 A tillandsiae Tillandsia usneoides New Zealand KJ718260 98,7

28 A catananches Catananche caerulea Hà Lan KJ718139 98,0

36 A paralinicola Linum usitatissimum Canada KJ718206 98,0

40 A scorzonerae Scorzonera hispanica Hà Lan KJ718191 98,0

44 A alternariacida Solanum lycopersicum Anh KJ718105 97,8

46 A carthamicola Carthamus tinctorius Iraq KJ718134 97.8

48 Alternaria cirsinoxia Cirsium arvense Canada KJ718143 97.8

50 Alternaria solani-nigri Cyphomandra betacea New Zealand KJ718242 97.8

Trang 6

TT Loài Ký chủ Quốc Gia Mã

GenBank

Mức đồng nhất trình

tự (%)

51 Alternaria argyroxiphii Argyroxiphium sp Mỹ KJ718112 97.6

52 Alternaria calendulae Calendula officinalis Đức KJ718127 97.6

53 Alternaria pipionipisi Cajanus cajan Ấn Độ KJ718214 97.6

55 Alternaria bataticola Ipomoea batatas Nhật Bản KJ718117 97.2

57 Alternaria echinaceae Echinacea sp New Zealand KJ718170 97.2

58 Alternaria ipomoeae Ipomoea batatas Ethiopia KJ718175 97.2

59 Alternaria neoipomoeae Ipomoea batatas Nam Phi KJ718198 97.2

60 Alternaria pseudorostrata Euphorbia pulcherrima Mỹ JN383483 97.2

61 Alternaria conidiophora Datura stramonium Síp KJ718145 96.9

62 Alternaria agripestis Euphorbia esula Canada KJ718099 87.3

63 Alternaria anagallidis Anagallis arvensis New Zealand KJ718108 86.4

1Tất cả 63 loài được phân loại mới nhất theo Woudenberg et al.(2014)

Trên vùng ITS của nấm có 2 vùng phụ được

ký hiệu là ITS1 và ITS2, có mức độ biến động

cao (tiến hóa trung tính) nên được xem là 2 vùng

chủ chốt để phân loại nấm (Blaalidet al., 2013;

Yang et al., 2018) So sánh trình tự ITS cho thấy

11 mẫu Alternaria gây bệnh đốm nâu chanh leo

và 3 loài A sesami, A ricini và A acalyphicola có

một nucleotide khác biệt so với tất cả 60 loài

Alternaria còn lại của Section Porri Nucleotide

khác biệt này là G, nằm ở vùng ITS2 (Hình 2)

Hình 2 Đoạn trình tự thuộc vùng ITS2 chứa 1 nucleotide (G, đƣợc đánh dấu bằng hình tam

giác) của A sesami, A ricini và A acalyphicola và 11 mẫu nấm Alternaria gây bệnh đốm nâu chanh leo tại Nghệ An khác biệt duy nhất so với 60 loài Alternaria còn lại của Section Porri

Trang 7

Tương tự như kết quả so sánh trình tự, phân

tích phả hệ dựa trên toàn bộ trình tự ITS cho

thấy tất cả 11 mâu nấm Alternaria gây bệnh đốm

nâu chanh leo và 3 loài A.sesami, A ricini và A

acalyphicola cũng phân nhóm thành một cụm với

nhau, độc lập với các loài Alternaria khác của Section Porri (Hình 3)

Hình 3 Phân tích phả hệ dựa trên toàn bộ trình tự vùng ITS của 11 mẫu nấm

Alternaria gây bệnh đốm nâu chanh leovà tất cả 63 loài Alternaria

thuộc Section Porri theo Woudenberg et al (2014)

Trang 8

Nguồn gốc các loài này được trình bày ở

Bảng 3 Cây được xây dựng bằng phần mềm

MEGA7 theo phương pháp Neighbor-Joining

với khoảng cách di truyền được xác định dùng

mô hình thay thế chuỗi Jukes - Cantor Giá trị

ởcác nốt là giá trị thống kê bootstrap dưới

dạng % (1.000 lần lặp) và chỉ trình bày các

giá trị > 50% Thanh bar trình bày khoảng

cách di truyền

3.4 So sánh loài Alternaria gây bệnh đốm

nâu chanh leo với A sesami, A ricini và

A acalyphicola

Dựa trên đặc điểm hình thái, so sánh trình tự

cũng như tìm kiếm loài gần gũi từ cơ sở dữ liệu

MYCOBANK, nơi lưu giữ thông tin các mẫu nấm

đã được thẩm định, tất cả 11 mẫu nấm Alternaria

gây bệnh đốm nâu chanh leo tại Việt Nam thuộc

cùng một loài thuộc Section Porri của chi

Alternaria

Dựa trên so sánh trình tự cũng như phân tích

phả hệ gen ITS,các mẫu nấm Alternaria gây

bệnh trên chanh leo có thể phân biệt được với 60

loài Alternaria thuộc Section Porri nhưng không

thể phân biệt được với 3 loài còn lại của Section

nàylà A.sesami, A ricini và A acalyphicola Các

nghiên cứu phân loại phân tử gần đây về chi

Alternaria cũng cho thấy gen ITS không đủ để

phân loại tới mức loài đối với các loài có quan hệ

gần gũi (Lawrenceet al., 2013, 2016) Chính vì

vậy, một phân tích bổ sung dựa trên đặc điểm

hình thái và sinh học của các mẫu nấm Alternaria

trong nghiên cứu này với 3 loài kể trên đã được

thực hiện (Bảng 4)

Kết quả so sánh cho thấy loài Alternaria gây

bệnh đốm nâu chanh leo và 3 loài A.sesami, A

ricini và A acalyphicola chia sẻ nhiều đặc điểm

hình tháigiống nhau liên quan đến cành bào tử

phân sinh và đặc biệt là bào tử phân sinh cũng

như khả năng sinh bào tử trên môi trường nhân

tạo (Bảng 4)

Về khả năng sinh bào tử trên môi trường

nhân tạo, cả 4 loài đều sinh sản vô tính dễ dàng,

tạo nhiều cành bào tử phân sinh và bào tử phân

sinh trên môi trường nuôi cấy nhân tạo Đặc

điểm này khá quan trọng vì nhiều loài, chủng

nấmkể cả Alternaria yêu cầu các điều kiện dinh

dưỡng hoặc vật lý đặc biệt để sinh sản trên môi

trường nhân tạo (Su et al., 2012; Rodrigueset al., 2010; Chaurasiaet al., 1998)

Nhìn chung, phân loại các loài Alternaria dựa

chỉ trên đặc điểm hình thái tương đối khó vì hình thái của chúng có thể thay đổi theo điều kiện nuôi cấy (Woudenberg, 2015).Tuy nhiên, so sánh các

đặc điểm hình thái cho thấy loài Alternaria gây

bệnh đốm nâu chanh leo có 2 đặc điểm giống với

loài A sesami (Hình 1) và khác với loài A ricini

và A acalyphicola là cách sinh bào tử phân sinh

và bề mặt bào tử phân sinh Bào tử phân sinh

của loài Alternaria gây bệnh đốm nâu chanh leo

và A sesami chỉ hình thành riêng lẻ từ đỉnh cành

bào tử phân sinh, trong khi bào tử phân sinh của

A ricini và A acalyphicola có thể mọc thành

chuỗi 2 bào tử, mặc dù hiếm (Bảng 4, Simmons, 2007) Bề mặt bào tử phân sinh non và trưởng

thành của loài Alternaria gây bệnh đốm nâu chanh leo và A sesami nhẵn trong khi của A

ricini và A acalyphicola không nhẵn (Bảng 3,

Simmons, 2004, 2007) Cũng cần chú ý rằng, bề

mặt nhẵn hay không nhẵn của Alternaria là đặc

điểm khá ổn định, không bị ảnh hưởng bởi điều kiện muôi cấy (Simmons, 2007)

Một đặc điểm sinh học rất hữu ích giúp định

danh loài Alternaria gây bệnh đốm nâu chanh leo

là tính gây bệnh trên cây ký chủ Cho tới nay,

mỗi loài A ricini, A acalyphicola và A sesami

được công bố chỉ gây bệnh trên một cây ký chủ,

lần lượt là cây thầu dầu (Ricinus communis), cây tai tượng xanh (Acalypha indica) và cây vừng (Sesamum indicum) (Woudenberget al., 2014) Chính vì vậy, tính gây bệnh của loài Alternaria

gây bệnh đốm nâu chanh leo Nghệ An cũng đã được đánh giá bằng lây nhiễm nhân tạo trên một

số cây ký chủ và kết quả lây nhiễm (không trình

bày trong bài báo này) cho thấy loài Alternaria

này có thể gây bệnh trên cây vừng

Dựa trên phân tích đặc điểm hình thái, trình

tự vùng gen ITS và tính gây bệnh trên cây vừng,

chúng tôi kết luận loài Alternaria gây bệnh đốm nâu trên chanh leo là loài A.sesami và 11 trình tự

ITS đã được gửi Genbank với danh tính của loài này Như vậy, nghiên cứu này đã (i) lần đầu tiên

phát hiện thấy loài A sesami tại Việt Nam, (ii) phát hiện thêm một ký chủ thứ 2 của A sesami là

cây chanh leo và (iii) phát hiện thêm một loài

Alternaria gây bệnh trên chanh leo

Trang 9

Bảng 4 Đặc điểm hình thái và sinh học của loài Alternaria gây bệnh đốm nâu chanh leo và 3 loài Alternaria thuộc Section Porricó mức đồng nhất trình tự 100 % trên gen ITS

Đặc điểm Chỉ tiêu/ đơn vị

A.sesami

(Simmons,

2004)

A acalyphicola

(Simmons,

2007)

A ricini

(Simmons,

2007)

Alternaria gây bệnh đốm nâu chanh leo

Nghệ An

Hình thành cành

bào tử phân sinh

và bào tử phân

sinh trên môi

trường nhân tạo

Cành bào tử

phân sinh

Cách mọc

Mọc trực tiếp

từ sợi, ít khi phân nhánh, phình to ở đỉnh

Hình thành như nhánh hoặc đỉnh sợi nấm

Hình thành như nhánh hoặc đỉnh sợi nấm

Cành bào tử mọc trực tiếp

và vuông góc với sợi nấm, Kích thước

(µm)

(60-225) x (5.0-6.5)

(50-100) x (5.0-6.0)

(50-150) x (5-6.0) 80 x (3-5.0) Cách sinh bào

tử phân sinh trên

cành bào tử

phân sinh

Mọc đơn lẻ

Chủ yếu mọc đơn lẻ, đôi khi mọc thành chuỗi

2 bào tử

Chủ yếu mọc đơn lẻ, đôi khi mọc thành chuỗi

2 bào tử

Mọc đơn lẻ

Thân bào tử

phân sinh

Hình dạng

Bào tử non hình elip hẹp, thót nhọn về đỉnh Bào tử trưởng thành hình trứng hẹp

Bào tử non hình elip, trứng hẹp

Bào tử trưởng thành hình elip, trứng rộng

Bào tử non hình trứng hẹp, thót nhọn về đỉnh

Bào tử trưởng thành hình trứng, elip, trứng ngược dài

Bào tử non hình elip hẹp, thót nhọn về đỉnh Bào tử trưởng thành hình trứng hẹp

Chiều dài

Chiều rộng

Số vách

Số vách

Mỏ bào tử

phân sinh

Chiều dài

Phần lớn có mỏ nhắn; nếu có,

mỏ có thể dài 75-125

186 – 390

Chiều rộng

* Thí nghiệm lây nhiễm nhân tạo không trình bày trong nghiên cứu này

Trang 10

4 KẾT LUẬN

Phân tích đặc điểm hình thái, trình tự vùng

gen ITS, kết hợp với đánh giá tính gây bệnh trên

cây ký chủ được thực hiện từ trước cho thấy loài

Alternaria gây bệnh đốm nâu chanh leo thu thập

tại Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Hòa Bình là

loài A.sesami

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Blaalid R., Kumar S., R H Nilsson, Abarenkov,

K., Kirk, P M., & Kauserud, H., 2013 ITS 1 versus ITS

2 as DNA metabarcodes for fungi, Molecular ecology

resources, 13(2): 218-224

2 Chaurasia S., Chand R & Joshi A K.,

1998 A simple technique for the induction of

sporulation in Alternaria triticina incitant of leaf

blight of wheat, Journal of Plant Diseases and

Protection, 17-21

3 Chen W Q., & Zhang T Y., 1997 Two new

species of Alternaria from China, Mycological

Research, 101(10): 1257-1258

4 Doyle J J & Doyle J L., 1987 A rapid DNA

isolation procedure for small quantities of fresh leaf

tissue, Phytochem Bull., 19, 11-15

5 Fischer I H., & Rezende J A., 2008 Diseases

of passion flower (Passiflora spp.), Pest technology,

2(1): 1-19

6 Joy P P & Sherin C G., 2012 Diseases of

Passion fruit (Passiflora edulis): Pathogen, Symptoms,

Infection, Spread & Management, Technical Report,

Kerala Agricultural University

7 Kumar S., Stecher G., & Tamura K., 2016

MEGA7: molecular evolutionary genetics analysis

version 7.0 for bigger datasets, Molecular Biology and

Evolution, 33(7): 1870-1874

8 Larkin M A., Blackshields G., Brown N.,

Chenna R., McGettigan P A., McWilliam H.,

Valentin F., Wallace I M., Wilm A., and Lopez R.,

2007 Clustal W and Clustal X version 2.0,

Bioinformatics, 23: 2947-2948

9 Lawrence D P., Gannibal P B., Peever T L., &

Pryor B M., 2013 The sections of Alternaria:

formalizing species-group concepts, Mycologia,

105(3): 530-546

10 Lawrence D P., Rotondo F., & Gannibal P B.,

2016 Biodiversity and taxonomy of the pleomorphic

genus Alternaria, Mycological Progress, 15(1): 3

11 Phan Thị Thu Hiền, Đặng Thị Hạnh, Huỳnh

Tiến Đông, Lê Đình Đôn, 2015 Nghiên cứu nấm

Alternaria passiflorae gây bệnh đốm nâu trên cây

chanh dây (Passiflora edulis), Tạp chí Bảo vệ Thực vật, Số 6: 17-23

12 Ploetz R C (Ed.), 2003 Diseases of tropical fruit crops, CABI

13 Ram B., Naidu R., & Singh H P., 1977 Alternaria macrospora Zimm a new record on passion

fruit (Passiflora edulis Sims.) from India, Current Science, 46(5):165

14 Rodrigues T T., Maffia L A., Dhingra O D., & Mizubuti E S., 2010 In vitro production of conidia of

Alternaria solani, Tropical Plant Pathology, 35(4):

203-212

15 Sankar N R., Devamma M N., & Giridhar D.,

2012 First report of Alternaria alternata causing leaf

spot on Rumex vesicarius in India, Australasian Plant Disease Notes, 7(1), 17-18

16 Schoch C L., Seifert K A., Huhndorf S., Robert V., Spouge J L., Levesque C A &Chen W., 2012 Nuclear ribosomal internal transcribed spacer (ITS) region as a universal DNA barcode marker for Fungi,

Proceedings of the National Academy of Sciences,

109(16): 6241-6246

17 Simmons E G., 2004 Novel dematiaceous

hyphomycetes, Studies in Mycology, 50(1): l9-218

18 Simmons E G., 2007 Alternaria: An Indentification Manual (No PA 632.488 S56.)

19 Simmons E G., & Roberts R G., 1993

Alternaria themes and variations (73), Mycotaxon, 48,

109-140

20 Singh N K., Patel D B., Chaudhari S R., Morad B G., Rabari S M., Chattopadhyay A., & Tetarwal M L., 2018 Morphometric and internally transcribed spacer gene sequence-based

characterization of Alternaria burnsii, Current Science,

114(9): 1927

21 Su Y Y., Qi Y L., & Cai L., 2012 Induction of

sporulation in plant pathogenic fungi, Mycology, 3(3),

195-200

22 Woudenberg J H., 2015 Restyling Alternaria,

PhD thesis, Wageningen University

23 Woudenberg J H C., Truter M., Groenewald J Z., & Crous P W., 2014 Large-spored Alternaria

pathogens in section Porri disentangled, Studies in Mycology, 79: 1-47

24 White T J., Bruns T., Lee S J W T., & Taylor

J L., 1990 Amplification and direct sequencing of

fungal ribosomal RNA genes for phylogenetics, PCR Protocols: A guide to Methods and Applications 18(1):

315-322

Ngày đăng: 27/05/2020, 05:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w