1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Nghiên cứu tác nhân gây bệnh chết rạp cây con ba kích (Morinda officinalis How.) tại Việt Nam

8 58 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 415,29 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài báo này là công bố đầu tiên về nguyên nhân gây bệnh chết rạp trên cây con ba kích ở Việt Nam. Để nắm chi tiết nội dung nghiên cứu mời các bạn cùng tham khảo bài viết.

Trang 1

NGHIÊN CỨU TÁC NHÂN GÂY BỆNH CHẾT RẠP CÂY CON BA KÍCH

(Morinda officinalis How.) TẠI VIỆT NAM

Study on The Pathogen Causing Damping - off on Indian Mullberry

(Morinda officinalis How.) in Viet Nam

Chu Thị Mỹ 1 , Đặng Thị Hà 1 , Đào Thị Kim Nhung 2 , Lê Thị Thu 1

, Hoàng Diệu Linh 1 & Phan Thúy Hiền 1

Ngày nhận bài: 14.11.2019 Ngày chấp nhận: 25.11.2019

Abstract

Indian Mullberry (Morinda officinalis How.), locally known as “ba kich” belonging to the Rubiaceae family,

commonly grown in Viet Nam for medicinal purposes However, ba kich seedlings in the nurseries are sufferred from the attack of damping-off disease The objective of the present study was to characterize the causal pathogen of the damping-off disease of ba kich Surveys were conducted in different ba kich nurseries in Thanh Hoa and Bac Giang provinces from March to July 2018; and a number of 3 to 4 month old seedlings showing symptoms of damping-off disease were collected for further identification In the surveyed nurseries, the incidence

of damping-off disease was above 50% Disinfected collar segments, about 5 mm in length, were plated on

quarter strength PDA (mPDA) and the isolated fungus was cultured on PDA and incubated at 25°C Rhizoctonia

solani was consistently isolated from the infected tissues The colony growth was 90 mm after 3 days on PDA, sclerotia were produced after incubation from 5 to 7 days The optimal conditions for the development of R solani

were 25oC to 30oC and pH 7 The efficacy of azoxystrobin + difenoconazole (Amistar top 325 SC) and

validamycin A (Vanicide 5 SL) in reducing R solani mycelial growth was tested in vitro The results indicated that azoxystrobin + difenoconazole (Amistar top 325 SC) is highly effective in inhibiting the mycelial growth of R solani This is the first report of R solani causing damping-off disease of ba kich in Viet Nam

Keywords: Morinda officinalis, damping off, seedling disease

1 ĐẶT VẤN ĐỀ *

Cây ba kích (Morinda officinalis How.), là loại

cây dược liệu thuộc họ cà phê (Rubiacea), được

trồng nhiều ở Trung Quốc, Lào, Ấn Độ và Triều

Tiên Ở Việt Nam, ba kích mọc hoang dại nhiều

ở các tỉnh miền núi như Quảng Ninh, Phú Thọ,

Bắc Giang, Quảng Nam, v.v Trong đông y, ba

kích được sử dụng làm dược liệu chữa các bệnh

như: phong thấp, giảm huyết áp (Đỗ Huy Bích và

cs., 2004)

Trên thế giới, chưa có nhiều nghiên cứu về

sâu, bệnh hại cây ba kích Cây ba kích trồng tại

Quảng Đông, Trung Quốc bị bệnh héo do nấm

Fusarium oxysporum f sp Morindae gây ra với

nguồn bệnh chủ yếu từ đất bị nhiễm bệnh (Shi và

1 Trung tâm nghiên cứu trồng và chế biến cây thuốc

Hà Nội - Viện Dược liệu

Corresponding author: phanthuyhien@yahoo.com

2 Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Chi, 1988) Bên cạnh đó, một số bệnh hại trên lá

được công bố trên một số cây thuộc chi Morinda spp như bệnh đốm lá do nấm Corynospora sp trên cây Morinda citrifolia L (thuộc họ cà phê

Rubiaceae) trồng tại vùng Agharkar, Ấn Độ Triệu chứng bệnh đốm lá do nấm này gây ra bắt đầu xuất hiện trên đồng ruộng từ tháng 7 đến tháng

10 (Firdousi và Khan, 2015) Bệnh thán thư do

nấm Colletotrichum spp gây ra trên cây con 1 tháng tuổi của một số loài thuộc chi Morinda ở 2

đảo Andaman và Nicobar Islands, Ấn Độ (Krishna và cs., 2012)

Tại Việt Nam, mới công bố bệnh héo vàng do

nấm F oxysporum trên ba kích ở một số vùng của

Quảng Ninh và Thanh Hóa Bệnh xuất hiện từ giai đoạn cây con đến khi cây hình thành củ, nhưng bệnh thường gây hại mạnh nhất ở giai đoạn cây ba kích được 3 – 4 năm, tỷ lệ bệnh trên đồng ruộng có thể lên đến 60% (Đặng Thị Hà và cs., 2017) Gần đây, ở một số vùng thuộc Thanh Hóa và Bắc Giang, cây ba kích con biểu hiện triệu chứng

Trang 2

chết rạp, đã ảnh hưởng đến năng suất và chất

lượng cây giống; nhưng vẫn chưa xác định được

nguyên nhân; do đó, chưa có biện pháp phòng

trừ bệnh hiệu quả Bài báo này là công bố đầu

tiên về nguyên nhân gây bệnh chết rạp trên cây

con ba kích ở Việt Nam

2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Vật liệu, thời gian và địa điểm nghiên cứu

Cây ba kích con biểu hiện triệu chứng chết rạp

được thu thập tại các vùng trồng ba kích tại huyện

Quảng Thành, tỉnh Thanh Hóa và huyện Lục Nam,

tỉnh Bắc Giang trong năm 2018 Các vật liệu khác

sử dụng trong nghiên cứu bao gồm: nguyên liệu sử

dụng trong môi trường phân lập, làm thuần và nuôi

cấy tác nhân gây bệnh [khoai tây - đường - agar

(PDA), môi trường PDA một phần tư độ mạnh có

bổ sung kháng sinh (mPDA), thạch - nước cất

(WA) và nguyên liệu sử dụng cho môi trường nhân

sinh khối nấm (Burgess và cs., 2008) Các trang

thiết bị và dụng cụ: Tủ sấy dụng cụ, buồng cấy, nồi

hấp, tủ định ôn, dụng cụ nuôi cấy nấm Nghiên cứu

được thực hiện từ tháng 3 đến tháng 12 năm 2018

tại Trung Tâm Nghiên cứu trồng và chế biến cây

thuốc Hà Nội

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Điều tra, phân lập và giám định tác

nhân gây bệnh

Phương pháp điều tra thu thập mẫu được tiến

hành theo “Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về

phương pháp điều tra phát hiện dịch hại cây

trồng” (QCVN 01-38, 2010) Mẫu bệnh cây con ba

kích có triệu chứng chết rạp hoặc héo sau khi thu

thập từ đồng ruộng về được loại bỏ thân lá và rửa

sạch dưới vòi nước Cắt bộ phận gốc thân, rễ bị

bệnh thành những miếng nhỏ sao cho miếng cắt

bao gồm cả mô bệnh và mô khỏe Khử trùng

miếng cắt bằng ethanol 70% trong 5 giây, sau đó

rửa sạch bằng nước cất vô trùng, dùng dao cấy

đã khử trùng cắt vết bệnh thành các miếng nhỏ 5

× 5 mm và cấy lên môi trường mPDA Khi nấm đã

phát triển với kích thước đường kính tản nấm 1 -

2 cm, cấy truyền sang môi trường WA Nấm được

làm thuần bằng cách cấy đỉnh sinh trưởng của sợi

nấm từ môi trường WA sang môi trường PDA và

được nuôi cấy trong phòng thí nghiệm ở điều kiện

25oC với 12 h chiếu sáng xen kẽ 12 h tối (Burgess

và cs., 2008) Sau 7 ngày nuôi cấy, nấm được giám định dựa vào đặc điểm hình thái Các mẫu nấm được giám định dựa vào khóa phân loại của Sneh và cs (1991)

2.2.2 Lây bệnh nhân tạo

Phương pháp lây bệnh qua đất được tiến hành theo Burgess và cs (2008) Cây ba kích sử dụng cho thí nghiệm là cây 7 tháng tuổi, khỏe mạnh, không có biểu hiện triệu chứng bệnh, được trồng trong các chậu thí nghiệm chứa giá thể đất đã khử trùng Thí nghiệm lây bệnh được

bố trí với 3 lần nhắc lại, 20 cây/lần nhắc lại Nguồn nấm lây bệnh được nhân sinh khối trên giá thể hạt kê - trấu Nấm được nuôi trong bình tam giác 15 ngày, sau đó đem ra trộn với đất xung quanh gốc cây cần lây bệnh, mỗi gốc cây

sử dụng 50g sinh khối nấm Theo dõi hàng ngày

sự xuất hiện, quá trình hình thành và phát triển triệu chứng trên cây lây bệnh Mẫu bệnh có triệu chứng điển hình từ thí nghiệm lây bệnh được tái phân lập theo quy tắc Koch Thời điểm lây bệnh nhân tạo: tháng 7 năm 2018 Chỉ tiêu theo dõi: Thời gian từ khi lây bệnh đến khi xuất hiện triệu chứng, thời gian từ khi lây bệnh đến khi cây chết,

tỷ lệ cây nhiễm bệnh, khả năng phục hồi

2.2.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ và

pH đến sự phát triển của nấm gây bệnh chết rạp trên môi trường nhân tạo

Chọn mẫu nấm đã được làm thuần, cắt tản nấm thành những miếng cấy tròn có đường kính

5 mm, cấy trên môi trường PDA, mỗi công thức

lặp lại 5 lần, mỗi lần 1 đĩa Petri Đối với thí

nghiệm nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ, các mẫu nấm thuần được nuôi cấy trong tủ định ôn ở các điều kiện nhiệt độ 20, 25, 30 và 35o

C Thí nghiệm nghiên cứu ảnh hưởng của pH đến sự phát triển của nấm được tiến hành với các ngưỡng pH 4, 5, 6, 7 ở điều kiện nhiệt độ 30o

C Chỉ tiêu theo dõi: Đương kính tản nấm sau khi cấy 24, 48 và 72 giờ

2.2.4 Khả năng ức chế của một số loại thuốc bảo vệ thực vật đối với nấm gây bệnh chết rạp trên môi trường nhân tạo

Thí nghiệm được tiến hành trên môi trường

PDA với 2 loại thuốc trừ bệnh là Amistar top 325

SC (hoạt chất azoxystrobin 200 g/l + difenoconazole 125 g/l) với nồng độ 0,25 ml thuốc/1 lít nước và Vanicide 5 SL (hoạt chất

Trang 3

validamycin A: 5 %) với nồng độ 1,6 ml thuốc/1 lít

nước Cách thức tiến hành theo phương pháp

kiểm tra sự khuếch tán của thuốc bảo vệ thực vật

trên đĩa Petri (Ahmed và cs., 2012) Cắt tản nấm

thành những miếng tròn nhỏ đường kính 5mm,

cấy vào giữa đĩa Petri đường kính 90 mm có

chứa môi trường PDA, sau đó sử dụng giấy lọc

đã được hấp khử trùng đã được nhúng vào dung

dịch thuốc pha và đặt vào 4 góc trên đĩa petri đã

cấy nấm Các đĩa này được đặt ở nhiệt độ 30ºC

Chỉ tiêu theo dõi: bán kính quầng thuốc sau khi

cấy nấm 24, 48 và 72 giờ (mm)

2.2.5 Phương pháp xử lý số liệu

Các số liệu được xử lý thống kê bằng phần mềm Irristat 5.0 và Excel

3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1 K t quả phân lập và xác định tác nhân gây bệnh ch t rạp cây con ba kích

Mười mẫu cây ba kích biểu hiện triệu chứng chết rạp, một phần thân sát gốc bị khô và teo lại được thu thập từ vườn ươm tại Quảng Thành, Thanh Hóa và Lục Nam, Bắc Giang (Hình 1) Tác nhân gây bệnh được phân lập, làm thuần trên môi trường WA và PDA

Hình 1 Triệu chứng bệnh ch t rạp cây con ba kích

Hình 2 Sợi nấm và hạch nấm của nấm R solani trên môi trường PDA

được phân lập từ cây con ba kích tại Bắc Giang và Thanh Hóa

(a) Sợi nấm R solani phân nhánh vuông góc; (b) Tản nấm và hạch nấm R solani được phân lập

từ mẫu ba ích trồng tại Bắc Giang (c) Tản nấm và hạch nấm R solani được phân lập từ mẫu

ba ích trồng tại Thanh Hóa

Căn cứ vào đặc điểm hình thái nấm của sợi

nấm, tác nhân gây bệnh chết rạp cây con ba kích

là nấm Rhizoctonia solani Ban đầu, tản nấm có

màu trắng đục, vàng nâu hoặc nâu vàng nhạt, về sau chuyển sang màu nâu sẫm Tản nấm phát triển với tốc độ rất nhanh trên môi trường PDA,

Trang 4

tản nấm mịn, áp sát bề mặt môi trường hoặc xốp

Sợi nấm đa bào, màu nâu hoặc nâu vàng, phân

nhánh nhiều, vị trí phân nhánh của sợi nấm hơi

thắt lại, sát đó có vách ngăn, phân nhánh gần

như vuông góc (Hình 2a) Sau nuôi cấy 5 đến 7

ngày, nấm bắt đầu hình thành hạch nấm, hạch

non có màu trắng, hạch già có màu nâu, hơi thô,

không định hình (Hình 2b, 2c) Nấm R solani làm

biến đổi màu môi trường nuôi cấy từ trắng đục

sang màu nâu đến nâu sẫm

3.2 K t quả lây bệnh nhân tạo nấm

Để xác định khả năng gây bệnh của nấm R

solani đối với cây ba kích con, thí nghiệm lây nhiễm nhân tạo được thực hiện trong nhà lưới của Trung Tâm Nghiên cứu trồng và chế biến cây thuốc Hà Nội (Bảng 1, Hình 3)

Bảng 1 Thí nghiệm lây bệnh nhân tạo nấm R solani trên cây con ba kích

(Trung tâm Nghiên cứu trồng và chế biến cây thuốc Hà Nội, tháng 3 năm 2018)

Lần

nhắc lại

Thời gian tiềm

dục (ngày)

TLB (%) sau lây bệnh

Triệu chứng

3 ngày 7 ngày 14 ngày

màu nâu, lá bị héo, khi nhổ cây lên thấy rễ bị thối thâm nâu, cây gãy gục rồi chết

Hình 3 Cây ba kích đối chứng (bên trái)

và cây được lây nhiễm bởi nấm R solani

(bên phải) sau 6 ngày

(Trung tâm Nghiên cứu trồng và chế biến cây

thuốc Hà Nội, tháng 3 năm 2018)

Khi lây nhiễm nấm R solani trên cây ba kích,

tỷ lệ nhiễm bệnh rất cao và có thời gian tiềm dục trên cây ký chủ ngắn (2 - 6 ngày) Tỷ lệ bệnh ở các lần nhắc lại sau 7 ngày lây nhiễm dao động

từ 60 đến 70% Vết bệnh ban đầu xuất hiện ở phần cổ rễ hay phần gốc thân sát mặt đất, sau

đó lan ra làm phần gốc thân bị thối, lá cây héo rũ, rồi cả cây gãy gục và chết (Hình 3) Sau 14 ngày lây nhiễm, toàn bộ cây lây bệnh đều bị nhiễm bệnh hoàn toàn trong khi cây đối chứng không lây nhiễm vẫn sinh trưởng bình thường Cây biểu hiện triệu chứng được tái phân lập tác nhân gây

bệnh được xác định nấm R solani đúng với nấm

đã được sử dụng trước khi lây nhiễm Như vậy,

nấm R solani là tác nhân chính gây bệnh chết

rạp cây con trên cây ba kích tại Thanh Hóa và Bắc Giang

3.3 Ảnh hưởng của nhiệt độ và pH đ n sinh trưởng và phát triển của nấm R solani trên môi trường nhân tạo

3.3.1 Ảnh hưởng của nhiệt độ đến sự phát triển của nấm R solani trên môi trường nhân tạo

Ở các điều kiện nhiệt độ thí nghiệm khác nhau, đường kính tản nấm phát triển khác nhau

có ý nghĩa ở độ tin cậy 95% (Bảng 2)

Trang 5

Bảng 2 Sự phát triển của nấm R solani trên cây ba kích ở các mức nhiệt độ khác nhau

(Trung tâm Nghiên cứu trồng và chế biến cây thuốc Hà Nội, tháng 5 năm 2018)

Nhiệt độ

( o C)

Đường kính tản nấm (mm) sau cấy

Ghi chú

24 giờ 48 giờ 72 giờ 96 giờ 120 giờ

20 10,6d 18,1d 36 b 57,5 90 Chưa hình thành hạch sau 15 ngày

theo dõi

25 19, 1c 50,5c 90a 90 90

Đã hình thành hạch nấm sau 15 ngày theo dõi

Ghi chú: Các công thức trong cùng một cột có chữ cái giống nhau thì hác nhau hông có ý nghĩa với độ tin cậy 95%

Sau 24 giờ nuôi cấy, đường kính tản nấm ở

nhiệt độ 20 oC là 10,6 mm, ở nhiệt độ 25 oC là

19,1mm, ở nhiệt độ 30 oC là 22,1 mm và ở nhiệt

độ 35 oC tản nấm phát triển nhanh nhất đạt 25

mm Sau 72 giờ, ở điều kiện nhiệt độ 25 - 35 o

C, nấm đã mọc kín đĩa trong khi tản nấm ở nhiệt độ

20 oC mới chỉ đạt 36 mm Ở nhiệt độ 20 oC, nấm

phát triển chậm nhất, sau 120 giờ mới phát triển

kín đĩa Như vậy, 25 - 30 oC là khoảng nhiệt độ

tốt nhất cho sự phát triển của tản nấm và hình

thành hạch nấm R solani Ở nhiệt độ 20 oC, khả năng hình thành hạch nấm chậm hơn so với các điều kiện nhiệt độ khác

3.3.2 Ảnh hưởng của pH đến sự phát triển của nấm R solani trên môi trường nhân tạo

Đã đánh giá ảnh hưởng của các mức pH 4, 5,

6, 7 đến sự phát triển của nấm R solani trên môi trường PDA (Bảng 3)

Bảng 3 Sự phát triển của nấm R solani ở các mức pH khác nhau

(Trung tâm Nghiên cứu trồng và chế biến cây thuốc Hà Nội, tháng 6 năm 2018)

Ghi chú: Các công thức trong cùng một cột có chữ cái giống nhau thì hác nhau hông có ý nghĩa với độ tin cậy 95%

Sau nuôi cấy 24 giờ, đường kính tản nấm

R solani trên môi trường có pH 4 là 10,3 mm,

pH 5 là 10 mm, pH 6 là 12,8 mm và pH 7 là

13,4 mm Sau 72 giờ nuôi cấy, nấm trên môi

trường pH 6 và 7 đã phát triển kín đĩa Petri

trong khi đó tản nấm ở môi trường pH 4 và 5

có kích thước đều là 78,8 mm và mọc kín đĩa

sau 96 giờ Như vậy, nấm R solani có khả

năng phát triển ở tất cả các mức pH từ 4 - 7; trong đó, tại mức pH 6 và 7, nấm phát triển tốt nhất, pH 4 - 5 kích thước tản nấm phát triển ở mức trung bình (Hình 4)

Trang 6

A B C D

Hình 4a Tản nấm R.solani ở pH 4 (A), pH 5 (B), pH 6 (C), pH 7 (D) sau 24 giờ nuôi cấy

Hình 4b Tản nấm R.solani trên môi trường PDA ở pH 4 (A),

pH 5 (B), pH 6 (C), pH 7 (D) sau 48 giờ nuôi cấy

Hình 4c Tản nấm R.solani trên môi trường PDA ở pH 4 (A),

pH 5 (B), pH 6 (C), pH 7 (D) sau 72 giờ nuôi cấy Hình 4 Tản nấm Tản nấm R.solani trên môi trường PDA ở pH 4,

pH 5, pH 6, pH 7, sau 24, 48 và 72 giờ nuôi cấy 3.4 Khả năng ức ch của một số loại thuốc

bảo vệ thực vật đối với nấm R solani của trên

môi trường nhân tạo

Hiệu quả của thuốc trừ nấm Amistar top 325

SC và Vanicide 5 SL đã được đánh giá dựa trên

sự khuếch tán của thuốc trong môi trường nuôi

cấy nấm R solani (Bảng 4)

Sau 24 giờ nuôi cấy, tốc độ phát triển của

các tản nấm ở các môi trường được xử lý thuốc

có sự khác biệt so với đối chứng Đường kính

tản nấm trung bình trên môi trường xử lý thuốc

Amistar top là 12 mm và tản nấm trên môi trường xử lý thuốc Vanicide là 12,2 mm có tác

dụng ức chế nấm R.solani như nhau và có hiệu

quả hơn so với công thức đối chứng (không xử lý) với đường kính tán nấm 13,1 mm Sau 72 giờ, khi kích thước tản nấm ở công thức đối chứng là 90 mm (kín đĩa), công thức xử lý Amistar top là 30,2 mm và công thức xử lý Vanicide là 56 mm Trong hai loại thuốc sử dụng ở thí nghiệm, thuốc Amistar Top 325 SC (hoạt chất azoxystrobin + difenoconazole) có

Trang 7

khả năng ức chế mạnh hơn đến sự phát triển

của sợi nấm R solani so với thuốc Vanicide

5SL (hoạt chất valydamycin A 5%) trên môi trường PDA (Hình 5)

Bảng 4 Khả năng ức ch của một số loại thuốc hóa học

đ n sự phát triển của nấm R Solani trên môi trường nhân tạo

(Trung tâm Nghiên cứu trồng và chế biến cây thuốc Hà Nội, tháng 8 năm 2018)

Thuốc hóa học Đường kính tản nấm trung bình (mm) sau Đặc điểm tản nấm

24 giờ 48 giờ 72 giờ Đối chứng (không

a

52,6a 90,0a

Tản nấm phát triển nhanh, lan rộng ra kín đĩa, mọc tràn lên trên giấy thấm

Amistar top

b

21,0c 30,2c Tản nấm phát triển chậm, ít bông

xốp, mọc cách xa giấy thấm Vanicide 5SL 12,2b 31,4b 56,0b

Tản nấm phát triển trung bình, tản nấm ít bông xốp, nấm mọc tránh giấy thấm

Ghi chú: Các công thức trong cùng một cột có chữ cái giống nhau thì hác nhau hông có ý nghĩa với độ tin cậy 95%

Hình 5 Sự phát triển của tản nấm

R solani trên môi trường PDA có/không

xử lý thuốc trừ nấm

4 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

- Nguyên nhân gây bệnh chết rạp cây con ba

kích tại Thanh Hóa và Bắc Giang là do nấm

Rhizoctonia solani gây ra Bệnh biểu hiện triệu

chứng điển hình trên cây ba kích trong vườn

ươm với một phần thân sát gốc bị khô và teo lại,

một số cây bị chết rạp Nấm R solani phát triển

tốt nhất ở nhiệt độ 25

30 oC và pH 7 trên môi

trường PDA

- Thuốc trừ nấm Amistar top 325 SC (hoạt

chất azoxystrobin 200 g/l + difenoconazole 125 g/l) và Vanicide 5SL (hoạt chất validamycin A: 5%) đều có khả năng hạn chế sự phát triển của

sợi nấm R solani trên môi trường PDA Trong đó

thuốc Amistar top 325 SC có khả năng hạn chế mạnh nhất

- Cần có những nghiên cứu sâu hơn về nấm

R solani gây bệnh chết rạp cây con ba kích trong sản xuất làm cơ sở khuyến cáo các biện pháp phòng trừ thích hợp

TÀI LIỆU THAM KHẢO (1) Ti ng Việt

1 Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2010 QCVN 01-38: 2010/BNNPTNT Quy chuẩn ỹ thuật quốc gia về phương pháp điều tra phát hiện dịch hại cây trồng

2 Đặng Thị Hà, Chu Thị Mỹ, Phan Thúy Hiền, Nguyễn Thị Bình và Trần Hữu Khánh Tân, 2017 Nghiên cứu tác nhân gây bệnh héo vàng trên cây ba kích

(Morinda officinalis How Tạp chí bảo vệ thực vật, 2: 9-13

3 Đỗ Huy Bích, Đặng Quang Chung, Bùi Xuân Chương, Nguyễn Thuận Dong, Đỗ Trung Đàm, Phạm Văn Hiển, Vũ Ngọc Lộ, Phạm Duy Mai, Phạm Kim Mãn, Đoàn Thị Nhu, Nguyễn Tập, Trần Toàn, Viện dược liệu,

2004 Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam, Nhà

xuất bản khoa học và kỹ thuật Hà Nội, Tập II

Trang 8

(2) Ti ng Anh

4 Ahmed D.B, Chaieb I., Salah K.B., Boukamcha

H., Jannet H.B., Mighri Z and Daami-Remadi M.,2012

Antibacterial and antifungal activities of Cestrum parqui

saponins: possible interaction with membrane sterols,

International Research Journal of Plant Science, 3 (1):

001-007

5 Banett H.L and Hunter B.B., 1998 Illustrated

genera of imperfect fungi The American

Phytopathological Society, St.Paul, Minnesota 218

6 Burgess L.W., Knight T.E., Tesoriero L and

Phan H T., 2008 Diagnostic manual for plant

diseases in Vietnam ACIAR Monograph, 129: 210

7 Firdousi, S A and Khan, T A.,2015 Two new

fungal diseases of trees of manudevi forest of Jalgaon,

district Flora and Fauna (Jhansi), 21( 2): 158-160

8 Koch, R.,1876 Untersuchungen über Bakterien:

V Die Ätiologie der Milzbrand-Krankheit, begründet

auf die Entwicklungsgeschichte des Bacillus

anthracis" [Investigations into bacteria: V The etiology

of anthrax, based on the ontogenesis of Bacillus

anthracis] (PDF) Cohns Beitrage zur Biologie der

Pflanzen (in German), 2 (2): 277–310

9 Krishna Kumar; Singh, D R.; Natarajan Amaresan; Kuttum Madhuri, 2012 Isolation and pathogenicity of Colletotrichum spp causing

anthracnose of Indian mulberry (Morinda citrifolia) in

tropical islands of Andaman and Nicobar, India,

Phytoparasitica, 40 (5): 485-491

10 Shi Xuerong, Chi Peikun, 1988 Identification of the pathogen causing wild disease of the medicinal

herb Indian mulberry (Morinda officinalis How.), Acta Phytopathologica Sinica 04

11 Sneh B, Burpee L Ogoshi A.,1991

Identification of Rhizoctonia species St Paul, Mn,

USA: APS press

Phản biện: TS Trịnh Xuân Hoạt

KẾT QUẢ XÁC ĐỊNH BỆNH ĐỐM CHẾT HOẠI HÌNH NHẪN GÂY HẠI THUỐC LÁ Results of Diagnotic Necrotic Ring Spot Disease on Tobacco plant

Nguyễn Văn Chín 1 và Hà Vi t Cường 2

Ngày nhận bài: 06.9.2019 Ngày chấp nhận 26.9.2019

Abstract

In 2019, Tobacco instutute collected 15 disease samples with crooked tip to the side and necrotic ringspot on leaves in growing tobacco Bac Giang; necrotic spot symptom in Bac Kan and Cao Bang; leaf curl and crooked tip

to the side in Tay Ninh to diagnose in Research centre for Tropical plant pathology – Vietnam national university

of Agriculture Results of diagnosis showed that all disease samples in Bac Giang were caused by Tomato necrotic ringspot virus (TNRV) Virus belong to Tospovirus genus and is spread by insect – thrips TNRV is a virus species that is detected the first times on tobacco plant in Vietnam Other disease samples of Bac Kan, Cao Bang and Tay Ninh provinces didn‟t infected with Tospovirus

Keywords: Tobacco, virus, Tospovirus, Tomato necrotic ringspot virus, TNRV

1 ĐẶT VẤN ĐỀ *

Trong 3 năm gần đây, cây thuốc lá có triệu

chứng đốm chết hoại hình nhẫn có chiều hướng

1 Viện Thuốc lá

2 Học Viện Nông nghiệp Việt Nam

tăng dần ở các tỉnh phía Bắc, đặc biệt gây hại nặng tại Chi nhánh Viện Thuốc lá Bắc Giang trong vụ xuân 2019 Như năm 2017, chúng xuất hiện rải rác trên đồng ruộng với mức độ gây hại không đáng kể; Đến năm 2018, bệnh xuất hiện phổ biến với tỷ lệ bệnh 12,5%; Và năm 2019, chúng gây hại rất nặng với tỷ lệ bệnh dao động

Ngày đăng: 27/05/2020, 05:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w