1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phân tích các yếu tố tác động đến quyết định mua và lựa chọn loại hình bảo hiểm y tế tư nhân ở người dân thành phố hồ chí minh

117 53 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 1,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngoài hai yếu tố cơ bản mục tiêu hoạt động, mức đóng góp - tỷ lệ chi trả bảo hiểm thì còn có 4 điểm khác biệt nổi bật khác ảnh hưởng đến quyết định tham gia BHYT tư nhân hay BHYT nhà nướ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

***

ĐINH HOÀNG HUY

PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH MUA VÀ LỰA CHỌN LOẠI HÌNH BẢO HIỂM Y TẾ TƯ NHÂN

Ở NGƯỜI DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP Hồ Chí Minh – Năm 2019

Trang 2

***

ĐINH HOÀNG HUY

PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG

ĐẾN QUYẾT ĐỊNH MUA VÀ LỰA CHỌN

LOẠI HÌNH BẢO HIỂM Y TẾ TƯ NHÂN

Ở NGƯỜI DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Chuyên ngành: Kinh tế phát triển (Kinh tế và Quản trị lĩnh vực sức khỏe)

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan luận văn này là do chính tôi nghiên cứu và được thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS Võ Tất Thắng Ngoài những tài liệu tham khảo được trích dẫn trong luận văn này, không có sản phẩm, nghiên cứu nào của người khác được sử dụng trong luận văn mà không được trích dẫn theo quy định Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan của mình

Học Viên

Đinh Hoàng Huy

Trang 4

MỤC LỤC TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC HÌNH

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

TÓM TẮT

ABSTRACT

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI 1

1.1 VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU: 6

1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU: 6

1.4 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU: 6

1.5 CẤU TRÚC ĐỀ TÀI: 6

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 8

2.1 TỔNG QUAN VỀ BẢO HIỂM Y TẾ: 8

2.2 LÝ THUYẾT NHU CẦU VỀ SỨC KHOẺ: 9

2.2.1 Mô hình Grossman (cầu sức khoẻ và dịch vụ y tế): 9

2.2.2 Hàm cầu cho dịch vụ y tế: 15

2.3 CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN: 16

2.4 KHUNG PHÂN TÍCH VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU: 29

2.4.1 Khung phân tích: 29

2.4.2 Giả thuyết nghiên cứu đề xuất: 29

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31

3.1 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU: 31

3.2 MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU: 31

Trang 5

3.3 XÂY DỰNG BẢNG CÂU HỎI KHẢO SÁT: 35

3.4 PHƯƠNG PHÁP LẤY MẪU VÀ THU THẬP DỮ LIỆU: 36

3.4.1 Phương pháp lấy mẫu: 36

3.4.2 Thu thập dữ liệu: 37

3.5 PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH DỮ LIỆU: 37

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 40

4.1 PHÂN TÍCH THỐNG KÊ MÔ TẢ: 40

4.2 PHÂN TÍCH KẾT QUẢ HỒI QUY: 50

4.3 THẢO LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU: 61

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH 63

5.1 KẾT LUẬN: 63

5.2 HÀM Ý CHÍNH SÁCH: 63

5.3 HẠN CHẾ TRONG NGHIÊN CỨU: 65 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1: Tóm tắt hệ thống Bảo hiểm Y tế Việt Nam 2

Bảng 3.1: Mô tả biến số trong mô hình nghiên cứu 33

Bảng 4.1: Thống kê mô tả theo đồ thị 40

Bảng 4.2: Thống kê mô tả các biến trong mô hình hồi quy 51

Bảng 4.3: Kết quả mô hình hồi quy các yếu tố ảnh hưởng lên quyết định mua hay không mua bảo hiểm và quyết định chọn mua từng loại bảo hiểm 52

Trang 7

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1: Khung phân tích 29

Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu 31

Hình 4.1: Thống kê các quyết định lựa chọn mua bảo hiểm 41

Hình 4.2: Quyết định mua bảo hiểm theo thu nhập 42

Hình 4.3: Quyết định mua bảo hiểm theo trình độ học vấn 43

Hình 4.4: Độ tuổi trung bình theo các nhóm quyết định mua bảo hiểm 44

Hình 4.5: Quyết định mua bảo hiểm theo khu vực làm việc 45

Hình 4.6: Quyết định mua bảo hiểm theo giới tính 46

Hình 4.7: Quyết định mua bảo hiểm theo tình trạng sức khoẻ (có hay không khám bệnh trong 3 tháng gần nhất) 47

Hình 4.8: Quyết định mua bảo hiểm theo tình trạng sức khoẻ (số lần nghỉ việc do bệnh) 47

Hình 4.9: Số trẻ em trong gia đình phân theo nhóm các quyết định mua bảo hiểm 48 Hình 4.10: Yếu tố sống cùng bố mẹ trong gia đình theo phân nhóm các quyết định mua bảo hiểm 49

Hình 4.11: Quyết định mua bảo hiểm theo yếu tố có thẻ BHYT nhà nước 50

Hình 4.12: Quyết định mua bảo hiểm theo yếu tố may rủi 50

Trang 9

TÓM TẮT

Dựa trên mô hình cầu sức khoẻ và dịch vụ y tế của Grossman (1972b) và các nghiên cứu thực nghiệm của Propper (1989), Hopkins và P Kidd (1996), Liu và Chen (2002), Christiansen và cộng sự (2002), Höfter (2006), Finn và Harmon (2006), Makoka và cộng sự (2007), Ying và cộng sự (2007), đề tài tiến hành xây dựng mô hình nghiên cứu định lượng để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua và lựa chọn loại hình BHYT tư nhân Dựa trên dữ liệu sơ cấp thu thập được tại Bệnh viện 115 và Bệnh viện nhân dân Gia Định - Tp Hồ Chí Minh, đề tài

sử dụng phương pháp hồi quy Multinomial Logistic để phân tích dữ liệu

Kết quả nghiên cứu cho thấy, các yếu tố nhân khẩu học có ảnh hưởng nhất định đối với quyết định mua và lựa chọn loại hình BHYT tư nhân của đối tượng khảo sát Đặc biệt, những người có thu nhập tốt và trình độ học vấn cao thường là đối tượng dễ dàng quyết định mua BHYT tư nhân Kết quả của nghiên cứu chỉ ra phù hợp với cơ sở lý thuyết, ngoài ra các yếu tố như độ tuổi, qui mô gia đình, tình trạng việc làm, tình hình sức khoẻ cũng ảnh hưởng đến quyết định của đối tượng được khảo sát tương đồng với kết quả nghiên cứu trước đây Propper (1989), Hopkins và P Kidd (1996), Makoka và cộng sự (2007), Ying và cộng sự (2007)

Trang 10

ABSTRACT

Based on Grossman's model on demand of health and health services (1972b) and the empirical studies: Propper (1989), Hopkins and P Kidd (1996), Liu and Chen (2002), Christiansen et al 2002, Höfter (2006), Finn and Harmon (2006), Makoka et al (2007), Ying et al (2007), the thesis conducted an econometric model

to identify factors, which influence the decision to buy and choose the type of private health insurance Based on primary data collected at 115 Hospital and Gia Dinh People‟s Hospital - Ho Chi Minh City, the thesis uses the Multinomial Logistic regression method to analyze data

The research results show that demographic factors affect on the decision to purchase and choose the type of private health insurance of the respondents In particular, people with good incomes and high levels of education are often the ones who easily decide to buy private health insurance The results of the study are consistent with the theoretical basis, in addition, factors such as age, family size, employment status, health status also affect the decisions of the respondents, similar

to the previous research results of Propper (1989), Hopkins and P Kidd (1996), Makoka et al (2007), Ying et al (2007)

Trang 11

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI 1.1 VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Trong cuộc sống lao động hàng ngày, con người chịu ảnh hưởng tác động của môi trường xung quanh, sự tác động này bao gồm các điều kiện khí hậu, nơi làm việc Trong thời đại công nghiệp hoá hiện nay, con người phải chịu ảnh hưởng nhiều hơn do các chất thải được tạo ra từ các khu công nghiệp làm phá hoại môi trường sinh thái Thêm vào đó sự lao động không còn đơn thuần, nhiều người phải làm việc trong những nơi nguy hiểm, độc hại và nó tác động lớn đến sức khoẻ của họ nên việc ốm đau, bệnh tật là điều không thể tránh khỏi Khi xảy ra ốm đau bệnh tật, sự chi tiêu cho việc khám chữa bệnh (KCB) có thể là rất lớn mà khả năng người bệnh lại không đảm bảo được khoản chi tiêu cần thiết đó, điều này thúc đẩy bảo hiểm y tế (BHYT) ra đời nhằm giải quyết vấn đề này với tính chất huy động sự đóng góp của số đông người khoẻ mạnh để bù cho số ít người ốm đau

Hiện nay trên thế giới BHYT được triển khai dưới các hình thức khác nhau,

ở các quốc gia BHYT nằm trong hệ thống bảo hiểm xã hội và có những nước thì BHYT là một hệ thống độc lập Ở Việt Nam, chính sách BHYT được triển khai từ năm 1992 nằm trong hệ thống bảo hiểm xã hội được quản lý điều hành bởi nhà nước, huy động sự đóng góp của cá nhân, tập thể và cộng đồng xã hội Hệ thống BHYT nhà nước (bắt buộc) bao gồm hai chương trình riêng biệt: một chương trình phổ biến dành cho các đối tượng là nhân viên công chức nhà nước, người lao động trong các công ty doanh nghiệp đóng góp vào quỹ BHYT, và một chương trình dành cho việc hỗ trợ, chăm sóc sức khoẻ cho người nghèo, ngoài ra trẻ em dưới 6 tuổi sẽ được cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khoẻ miễn phí (Ron, 1998) Khoản đóng góp vào BHYT đối với doanh nghiệp nhà nước được tính như một phần của thu nhập, ban đầu là 10% sau đó giảm xuống còn 3%, trong khu vực tư nhân do thu nhập của nhân viên liên quan đến lợi nhuận thưởng nên ấn định mức đóng là 3% trên tổng doanh thu, trong đó 2% phí bảo hiểm được chi trả bởi người sử dụng lao động và 1% phí còn lại do người lao động đóng (Ron, 1998) BHYT nhà nước sẽ

Trang 12

chi trả một phần hoặc toàn bộ cho cá nhân điều trị ngoại trú, cùng với dịch vụ chăm

sóc nội trú hoặc tham vấn tại cơ sở y tế đã đăng ký trước (Ensor, 1995)

Bảng 1.1: Tóm tắt hệ thống Bảo hiểm Y tế Việt Nam

Chương trình Độ bao

phủ dân số

Nhóm mục tiêu

Tài chính Báo cáo tác động

BHYT nhà

nước *

nước, người nghỉ hưu, người khuyết tật, người có công

- 3% thuế biên chế (2% người

sử dụng lao động, 1%

người lao động đóng)

- Gia tăng hữu dụng

- Giảm chi phí tự chi trả

- Cải thiện bảo hiểm rủi ro

- Chính phủ chi trả 75% và nguồn lực của tỉnh 25%

- Gia tăng hữu dụng

- Giảm chi phí tự chi trả

- Giảm thanh toán nguy cơ cú sốc sức khoẻ

- Phí bảo hiểm đóng góp dựa trên khả năng chi trả

- Gia tăng hữu dụng

- Giảm chi phí tự chi trả

* Một phần của hệ thống bảo hiểm xã hội

Nguồn: Bảo hiểm xã hội Việt Nam (Vietnam Social Security, 2007)

Bảng 1.1 cho chúng ta cái nhìn tổng quan về hệ thống BHYT Việt Nam qua những chương trình, độ bao phủ và những tác động được báo cáo Khoảng nửa dân

Trang 13

số được lợi ích khi tham gia một số hình thức BHYT hoặc trả trước, hệ thống BHYT bắt buộc có 41% dân số tham gia gồm nhân viên nhà nước 9%, người nghèo 18% và trẻ em dưới 6 tuổi là 11%, ngoài ra khoảng 3% dân số tham gia với những quy định bảo hiểm đặc biệt gồm người về hưu, người khuyết tật, đối tượng chính sách, và người có công Trong khi đó chương trình BHYT tự nguyện chiếm khoảng 11% dân số (Ekman và cộng sự, 2008)

Trải qua hơn 20 năm thực hiện BHYT, với nhiều thay đổi quan trọng không chỉ về cơ chế, chính sách tài chính y tế mà còn tác động đến nhiều mặt của hoạt động khám chữa bệnh cho nhân dân và đạt được những kết quả nhất định Nghị quyết số 21 ngày 22/11/2012 của Bộ Chính trị xác định BHYT là một chính sách quan trọng, trụ cột góp phần bảo đảm an sinh xã hội, thể hiện tinh thần trách nhiệm cộng đồng “mình vì mọi người” trong khám chữa bệnh và chăm sóc sức khoẻ BHYT là một chính sách xã hội lớn, mang ý nghĩa nhân đạo cộng đồng sâu sắc, góp phần quan trọng thực hiện công bằng xã hội trong việc chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ người dân, thực hiện tốt các chế độ, chính sách BHYT là trách nhiệm của các cấp

uỷ đảng, chính quyền, đoàn thể, tổ chức xã hội, doanh nghiệp và của mỗi người dân Trên tinh thần chỉ đạo của Bộ Chính trị, Luật Bảo hiểm y tế được sửa đổi, bổ sung và thông qua ngày 13/6/2014 với nhiều nội dung đổi mới thể hiện rõ tính ưu việt của BHYT, đó là mở rộng đối tượng tham gia BHYT, mở rộng phạm vi quyền lợi BHYT và mức hưởng BHYT; mở rộng thông tuyến khám chữa bệnh BHYT; quy định cụ thể việc quản lý và sử dụng quỹ BHYT; quy định trách nhiệm của các

cơ quan, tổ chức có liên quan Những thay đổi này nhằm giảm các gánh nặng chi phí khám chữa bệnh cho người tham gia BHYT và tăng khả năng tiếp cận dịch vụ y

tế đối với một số đối tượng chính sách và các nhóm đối tượng yếu thế

Chính sách nhà nước tạo điều kiện cho những người dân có thu nhập trung bình, thấp tiếp cận đến các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ Tuy nhiên, chúng ta vẫn còn đang gặp nhiều thách thức về chi phí KCB phát sinh cao, cùng với sự thiếu hụt và không đều trong việc phân phối các chuyên gia y tế, số giường bệnh trên đầu người

Trang 14

Điều này đưa đến nhu cầu về chăm sóc sức khoẻ của nhóm có thu nhập trung bình, khá đang dần chuyển dịch sang khu vực tư nhân và KCB tại nước ngoài, đây chính

là tiềm năng to lớn mà các doanh nghiệp bảo hiểm tư nhân trong và ngoài nước khai thác, tạo thêm cơ hội cho người dân thông qua những sản phẩm bảo hiểm sức khoẻ

BHYT nhà nước và BHYT tư nhân thực hiện trên cùng một nguyên tắc có tham gia đóng góp bảo hiểm thì mới được hưởng quyền lợi, không đóng góp thì không được hưởng quyền lợi, người mua bảo hiểm sẽ được chi trả một phần hoặc toàn bộ chi phí khám chữa bệnh cũng như chi phí thuốc men điều trị Nếu mục tiêu hoạt động của BHYT tư nhân là lợi nhuận thì mục tiêu hoạt động của BHYT nhà nước là phi lợi nhuận nhằm thực hiện chính sách xã hội của Nhà nước, góp phần ổn định đời sống cho nhân dân Mức đóng, tỷ lệ đóng BHYT nhà nước hoàn toàn dựa vào thu nhập từ tiền lương của người lao động, mức lương cơ sở và mức hưởng được thực hiện theo quy định chung của Luật Bảo hiểm y tế Trong khi quan hệ giữa mức đóng góp và mức hưởng của BHYT tư nhân là quan hệ tỷ lệ thuận, ứng với mỗi mức đóng góp nhất định thì khi khám bệnh cũng như điều trị sẽ nhận được một mức quyền lợi tương ứng quy định trước Ngoài hai yếu tố cơ bản mục tiêu hoạt động, mức đóng góp - tỷ lệ chi trả bảo hiểm thì còn có 4 điểm khác biệt nổi bật khác ảnh hưởng đến quyết định tham gia BHYT tư nhân hay BHYT nhà nước: các đặc điểm của nguồn nhân lực y tế trong cơ sở khám chữa bệnh, dụng cụ thiết bị y tế

- dược phẩm, hiệu quả - kỹ năng trong việc chăm sóc người bệnh, sự hài lòng của bệnh nhân đối với các dịch vụ y tế được cung cấp (Tuan và cộng sự, 2005)

Theo Nghị định 105/2014/NĐ-CP, người tham gia BHYT nhà nước với mức phí bảo hiểm tối thiểu 700 ngàn đồng/năm khi đi khám chữa bệnh thì được quỹ bảo hiểm y tế thanh toán chi phí khám chữa bệnh trong phạm vi 80% tổng chi phí điều trị, nếu tổng chi phí dưới 127 ngàn đồng/lần sẽ được quỹ bảo hiểm y tế chi trả toàn

bộ Đối với trường hợp đối tượng điều trị sử dụng dịch vụ kỹ thuật cao thì chi phí tối đa mà quỹ bảo hiểm y tế chi trả là 48,4 triệu đồng tương đương 40 tháng lương tối thiểu Thực tế việc khám và điều trị cho thấy đây là mức chi trả không cao, vì

Trang 15

thế nhiều người tuỳ vào nhu cầu và mục đích của mình mà hướng đến BHYT tư nhân Như đã trình bày ở trên, chi phí tham gia BHYT tư nhân cao hơn nên được chi trả nhiều hơn, chẳng hạn gói bảo hiểm mở rộng của công ty bảo hiểm Bảo Việt (hợp tác với ngân hàng HSBC) cho độ tuổi từ 0-18 có mức phí bảo hiểm 2,1 triệu đồng/năm, cao gần 5 lần so với BHYT nhà nước, nhưng hạn mức chi trả cao gần 10 lần (450 triệu đồng so với 48,4 triệu đồng) Hiện nay thị trường bảo hiểm sức khoẻ nước ta đã có một số hãng bảo hiểm tư nhân tham gia như AIA, Prudential, Bảo Minh, PJICO, Liberty Hãng Liberty (Hoa Kỳ) đang cung cấp nhiều sản phẩm bảo hiểm sức khoẻ, trong đó có những sản phẩm với mức trách nhiệm tối đa của sản phẩm là 1 tỷ đồng Với mức này, người mua bảo hiểm sẽ được chi trả toàn bộ chi phí cấy, ghép bộ phận cơ thể, điều trị ung thư và chi phí điều trị tại khoa cấp cứu

Việt Nam đang trải qua quá trình chuyển đổi sức khỏe dịch tễ học, các vấn

đề bệnh rối loạn mãn tính và sức khỏe của dân số già đang gia tăng, vì thế tham gia BHYT không chỉ góp phần đảm bảo chăm sóc sức khoẻ thông qua việc chia sẻ gánh nặng tài chính mà còn thực hiện mục tiêu công bằng xã hội, xoá đói giảm nghèo Và BHYT tư nhân đang góp phần giải quyết những nhu cầu của người dân đối với các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ chất lượng cao, tốt hơn mà BHYT nhà nước chưa thể đem lại Việc quyết định tham gia BHYT tư nhân giống như các hành vi sức khoẻ khác, ảnh hưởng bởi bối cảnh xã hội, với sự khác biệt thu nhập, trình độ học vấn, nhận thức, mối quan tâm đến tình trạng sức khoẻ, và các yếu tố nhân khẩu học (Mathauer, 2008) Ngoài ra nó còn tuỳ thuộc vào sự khác biệt cảm nhận của người tham gia BHYT giữa mức độ hữu dụng dự kiến đem lại khi có bảo hiểm và không

có bảo hiểm (Kirigia, 2005) khi khám chữa bệnh

Tuy nhiên hiện nay ở Việt Nam chưa có nhiều nghiên cứu đánh giá các yếu

tố tác động đến việc mua BHYT tư nhân, vì thế đề tài được thực hiện nhằm để đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến việc mua BHYT tư nhân từ đó có những lý giải phù hợp nhằm khuyến khích người dân tham gia BHYT để tránh những rủi ro không dự đoán được trong cuộc sống hàng ngày

Trang 16

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU:

Nghiên cứu được thực hiện nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua BHYT tư nhân và lựa chọn loại hình tham gia loại hình bảo hiểm Trên cơ

sở mục tiêu tổng quát, đề tài cần đạt được những mục tiêu cụ thể như sau:

- Đánh giá thực trạng tham gia BHYT tư nhân theo các yếu tố đặc điểm kinh

tế - xã hội của cá nhân của những người từ 18 tuổi trở lên

- Xác định tác động của các yếu tố đó về việc tham gia BHYT tư nhân và lựa chọn loại hình bảo hiểm

1.3 ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU:

Đối tượng nghiên cứu là quyết định mua BHYT tư nhân và lựa chọn gói bảo

hiểm của người dân KCB

Phạm vi nghiên cứu của đề tài là tại khu vực đăng ký KCB ở bệnh viện 115

và bệnh viện Gia Định tại thành phố Hồ Chí Minh

Thời gian: Nghiên cứu được tiến hành trong năm 2018

1.4 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU:

Với mục tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu đã trình bày, đề tài tập trung trả lời những câu hỏi nghiên cứu như sau:

- Các yếu tố là những nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đến việc tham gia BHYT tư nhân?

- Mức độ tác động của các yếu tố đó đến quyết định tham gia BHYT tư nhân

và việc lựa chọn loại hình bảo hiểm sức khoẻ như thế nào?

1.5 CẤU TRÚC ĐỀ TÀI:

Luận văn có kết cấu 5 chương, theo đó:

Chương 1: giới thiệu tổng quát bối cảnh nghiên cứu, vấn đề nghiên cứu, đối tượng - phạm vi nghiên cứu, các mục tiêu nghiên cứu cần đạt được

Trang 17

Chương 2: trình bày cơ sở lý thuyết liên quan đến BHYT, lý thuyết giải thích cho việc tham gia BHYT tư nhân, lược khảo các nghiên cứu về chủ đề này Trên nền tảng đó, xây dựng khung phân tích và đặt ra các giả thuyết cho nghiên cứu

Chương 3: trình bày khái quát phương pháp nghiên cứu, mô hình định lượng trong nghiên cứu, cách thức chọn mẫu, thu thập dữ liệu và phương pháp phân tích

Trang 18

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Chương 2 trình bày tổng quan các khái niệm liên quan đến BHYT nhà nước, BHYT tư nhân; các lý thuyết giải thích cho việc tham gia BHYT tư nhân và lược khảo các nghiên cứu liên quan đến chủ đề này để có cách tiếp cận phù hợp

2.1 TỔNG QUAN VỀ BẢO HIỂM Y TẾ:

Theo Luật kinh doanh bảo hiểm của Việt Nam (09/12/2000) thì “kinh doanh bảo hiểm là hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lợi, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm, trên cơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm” Chúng ta có thể hiểu khái quát “bảo hiểm là một sự cam kết bồi thường của người bảo hiểm với người được bảo hiểm về những thiệt hại, mất mát của đối tượng bảo hiểm do rủi ro phát sinh trong thời gian thoả thuận hợp đồng bảo hiểm giữa hai bên với điều kiện người được bảo hiểm đã nộp khoản tiền phí bảo hiểm”

Một trong những đặc tính quan trọng của sức khoẻ là tính bất định, và bởi vì mối liên hệ mật thiết giữa dịch vụ chăm sóc sức khoẻ và sức khoẻ, tính bất định của sức khoẻ kéo theo tính bất định trong chi tiêu cho dịch vụ chăm sóc sức khoẻ Trực giác ban đầu sẽ nói với chúng ta rằng chính vì tính bất định này mà chúng ta cần bảo hiểm sức khoẻ, hay chính xác hơn là bảo hiểm y tế Tuy nhiên, thực tế có thể cũng sẽ mách bảo chúng ta cần bảo hiểm sức khoẻ bởi vì chúng ta cần khoản tài chính nhận được từ bảo hiểm sức khoẻ để chi trả cho các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ cần thiết để chữa bệnh cho mình BHYT là hình thức bảo hiểm được áp dụng trong lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ, hiện nay Việt Nam có 2 loại hình BHYT:

- BHYT nhà nước, mang tính xã hội không vì mục đích lợi nhuận và được Nhà nước tổ chức thực hiện theo Luật Bảo hiểm y tế số 25/2008/QH12 ngày 14/11/2008 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo hiểm y tế số 46/2014/QH/13 ngày 13/6/2014 Mọi người dân phải bắt buộc tham gia BHYT theo Luật BHYT

Trang 19

- BHYT tư nhân (sản phẩm bảo hiểm sức khoẻ của các công ty bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ), mang tính kinh doanh, hoạt động có lợi nhuận theo Luật Kinh doanh bảo hiểm số 24/2000/QH10 ngay 09/12/2000 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm số 61/2010/QH12 ngày 24/11/2010 Hiện tại có nhiều doanh nghiệp bảo hiểm trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài triển khai loại hình BHYT này

Trên thị trường bảo hiểm hiện nay, sản phẩm bảo hiểm sức khoẻ của các doanh nghiệp bảo hiểm rất đa dạng (cả doanh nghiệp trong và ngoài nước) để khách hàng tuỳ chọn Tuy nhiên gói bảo hiểm sức khoẻ phổ biến nhất có hai nhóm chính

là chương trình bảo hiểm phổ thông và bảo hiểm cao cấp Cụ thể, chương trình bảo hiểm phổ thông phù hợp cho việc điều trị, khám chữa bệnh tại các cơ sở y tế công lập, tư nhân, quốc tế trong nước Còn gói bảo hiểm cao cấp hướng tới đối tượng khách hàng có điều kiện tài chính tốt, thường xuyên thăm khám, sử dụng dịch vụ tại các bệnh viện cao cấp trong và ngoài nước

Theo Công ty tư vấn chiến lược phát triển quốc tế thì tốc độ gia tăng dân số người cao tuổi ở Việt Nam vào khoảng 3,4%/năm cho đến năm 2020 Quá trình già hóa dân số đang diễn ra, kéo theo sự gia tăng số ca mắc bệnh mãn tính và tăng chi phí y tế Hiện nay, chi tiêu chăm sóc sức khoẻ bình quân của người Việt ước tăng từ

133 USD/năm 2016 lên 183 USD/năm 2020 Xu hướng này dự đoán tiếp tục tăng trong bối cảnh nhà nước cho thực thi các chính sách chăm sóc sức khỏe phổ thông

và phát triển cơ sở hạ tầng y tế từ năm 2018 này Sự gia tăng nhu cầu chăm sóc sức khoẻ tốt hơn tại Việt Nam hiện nay, là động lực để các công ty bảo hiểm không chỉ

mở gói sản phẩm bảo hiểm sức khoẻ có quyền lợi hấp dẫn thiết thực, mà còn xây dựng và phát triển hệ thống kết nối với các bệnh viện lớn và bệnh viện chất lượng cao

2.2 LÝ THUYẾT NHU CẦU VỀ SỨC KHOẺ:

2.2.1 Mô hình Grossman (cầu sức khoẻ và dịch vụ y tế):

Trang 20

Nếu đồng ý xem sức khoẻ là một tài sản có thể sản xuất được, việc tạo ra sức khoẻ có thể coi như một sự đầu tư bù đắp cho phần vốn đã bị tiêu tốn vì tuổi tác và lối sống, và tạo nên một sự gia tăng trong “vốn sức khoẻ” Việc đầu tư này đạt được nhờ sử dụng các dịch vụ y tế (chữa bệnh) và những nỗ lực của cá nhân trong việc phòng bệnh Lợi ích thu được từ vốn sức khoẻ chính là việc giảm thiểu thời gian ở trong một trạng thái sức khoẻ “đau ốm” Thời gian khoẻ mạnh thu được có thể làm tăng mức thoả dụng một cách gián tiếp hay trực tiếp qua mức thu nhập lao động cao hơn, và nhờ đó làm tăng tiêu dùng Những cá nhân lý trí sẽ tối đa hoá mức thoả dụng bằng cách sử dụng theo cách tối ưu lượng vốn sức khoẻ trong cuộc đời họ Mô hình nghiên cứu của Grossman (1972b) chỉ ra ảnh hưởng của độ tuổi, thu nhập tiền lương và trình độ học vấn là các yếu tố chính ảnh hưởng đến nhu cầu tối ưu hoá vốn sức khoẻ của con người

Grossman (1972b) đã xây dựng mô hình nhu cầu về hàng hoá “sức khoẻ tốt”, trung tâm của mô hình là sức khoẻ được xem như cổ phiếu vốn bền vững tạo ra sản phẩm khoẻ mạnh theo thời gian Giả định rằng các cá nhân kế thừa một lượng sức khoẻ ban đầu giảm đi theo độ tuổi và được tăng lên bằng cách đầu tư Trong khung

mô hình này, “giá ẩn” của sức khoẻ phụ thuộc vào nhiều biến số khác ngoài mức giá chăm sóc y tế Điều này cho thấy “giá ẩn” tăng lên theo độ tuổi nếu tỷ lệ khấu hao vốn sức khoẻ tăng lên trong suốt chu kỳ sống và ngược lại đối với giáo dục, nếu người có học vấn cao và xem là yếu tố sản xuất sức khoẻ Xét một cá nhân với một

kế hoạch gồm hai giai đoạn, trong mỗi giai đoạn họ trải qua một lượng thời gian đau ốm , nếu vốn sức khoẻ càng lớn thì khoảng thời gian này càng ít đi Nói cách khác, thời gian khoẻ mạnh chính là những lợi ích của vốn sức khoẻ Cá nhân đó nhận được mức thoả dụng dương từ những hàng hoá tiêu dùng X và những mức thoả dụng âm từ thời gian đau ốm Hàm thoả dụng dựa trên những đìều kiện này được giả định là không phụ thuộc vào thời gian (tỷ lệ thay thế biên giữa thời gian đau ốm và tiêu dùng không thay đổi theo thời gian) Mức thoả dụng trong tương lai được chiết khấu bằng một yếu tố giả định Nhờ đó, cá nhân được tối đa hoá mức thoả dụng đã chiết khấu

Trang 21

Hàm thoả dụng của cá nhân với lượng vốn sức khoẻ:

Phương trình trên tạo nên một ràng buộc trong vấn đề tối ưu hoá cá nhân, tỷ

lệ khấu hao xem như biến ngoại sinh nhưng nó có thể thay đổi theo độ tuổi của cá nhân Tuy vậy, không chỉ sức khoẻ thay đổi theo thời gian mà ngoài ra còn tài sản (sự sung túc) và kiến thức (học vấn, kỹ năng chẳng hạn) cũng thay đổi Cụ thể, mức tiết kiệm có được trong giai đoạn đầu có thể được tiêu dùng trong giai đoạn thứ hai Tiết kiệm cho mức lãi suất và trở thành với Với phương trình trên, việc đầu tư vào sức khoẻ chỉ diễn ra trong suốt giai đoạn đầu

Từ vấn đề bảo hiểm sức khoẻ, điều này có nghĩa là những chi tiêu cho chăm sóc sức khoẻ phải được tài trợ bởi thu nhập lao động hay một mức tài sản ban đầu với là mức lương trong giai đoạn đầu và là giá cả của dịch vụ y tế Ngược lại, tiêu dùng (ở mức giá ) phải dương ở cả hai giai đoạn Quy ước tổng thời gian là 1, gộp lại ta có ràng buộc về ngân sách sau khi chiết khấu như sau:

( ) (3)

Trang 22

Để giải bài toán tối ưu này, ta viết hàm Lagrange như sau:

( ( ) )

(4)

Số nhân Lagrange thể hiện mức độ mà sự nới lỏng các ràng buộc sẽ cải thiện mục tiêu chung của bài toán tối ưu, được đo bằng mức thoả dụng đã chiết khấu Ta tìm các điều kiện bậc nhất cho một phương án của bài toán tối ưu này bằng cách lấy đạo hàm bậc nhất đối với từng biến quyết định và cho đạo hàm này bằng không

Việc lấy đạo hàm với các biến và là để đảm bảo các ràng buộc trong các phương trình trên xảy ra, không trình bày trong bài viết này Coi là một giá trị cố định cho trước, ta có:

Trang 23

Chia phương trình (8) cho (9) ta có:

hay

(

)

⁄ ⁄

Điều kiện trên đòi hỏi mức thoả dụng biên của một sự đầu tư vào sức khoẻ phải bằng với mức chi phí biên của nó

Vế bên trái có thể được giải thích như sau:

Điều kiện tiên quyết là sự hiệu quả Để cho việc đầu tư vào sức khoẻ có được mức sinh lợi dương, nó phải giúp giảm thời gian đau ốm Một giá trị âm của đạo

Nếu chiết khấu, lợi ích từ mức thoả dụng bằng

với điều

Trang 24

kiện (14) chỉ gồm yếu tố đầu tiên trong mức thoả dụng biên của một sự đầu tư và sức khoẻ, nó được gọi là mô hình tiêu dùng thuần tuý

Coi sức khoẻ như hàng hoá đầu tư, sự giảm xuống trong thời gian đau ốm có

tác động ngay lập tức lên sự sung túc của một cá nhân thông qua

và mức lương thực tế Giá trị này phụ thuộc vào

(mức thoả dụng biên của việc tiêu dùng một hàng hoá tăng thêm) Vậy ngay cả khi thời gian đau ốm không bị từ chối

vì bản thân sự khó chịu mà nó gây ra thì việc đầu tư vào sức khoẻ cũng đem lại lợi ích trong việc tăng thêm thu nhập lao động và mức độ sung túc Vì sức khoẻ trở thành một hàng hoá thực chất chỉ được đánh giá dựa trên tác động của nó lên mức sung túc, điều kiện (14) khi chỉ giữ lại yếu tố thứ hai này gọi là mô hình đầu tư thuần tuý

Vế phải của phương trình (14) phản ánh chi phí biên của việc có thêm một đơn vị vốn sức khoẻ Nó có thể được giải thích như sau:

Cuối cùng, năng suất này cần được điều chỉnh bởi giá của sự chăm sóc y tế

vì việc đầu tư vào sức khoẻ có lợi nhưng không nhiều nếu cao Tương tự, mức thoả dụng thực sự mất đi từ việc từ bỏ một sự tiêu dùng nhất định cần phải được điều chỉnh bởi mức giá của hàng tiêu dùng vì nếu cao, chỉ một vài đơn vị của

bị từ bỏ

Trong mô hình này, sức khoẻ và sự sung túc là hai tài sản tương quan với nhau Giá trị của chúng được quản lý tối ưu qua thời gian bởi các cá nhân, trong trường hợp sức khoẻ, mức thoả dụng biên của việc có thêm một đơn vị vốn sức khoẻ gồm một phần tiêu dùng và một phần đầu tư Tổng của chúng phải bằng với chi phí biên của việc có thêm một đơn vị vốn sức khoẻ

Trang 25

2.2.2 Hàm cầu cho dịch vụ y tế:

Dựa trên mô hình Grossman, Wagstaff (1986) đã phát triển hàm cầu với sức khoẻ và các dịch vụ y tế thành những dạng hàm cụ thể đối với hàm thoả dụng và các hàm và Dù cho có những hạn chế, dạng hàm Cobb-Doughlas thường được giả định và Theo tính chất của hàm Cobb-Doughlas, mức đầu tư vào sức khoẻ được tạo nên bởi các dịch vụ y tế và thời gian mà cá nhân dành cho sự chăm sóc sức khoẻ Bên cạnh đó, một mức giáo dục cao hơn được giả định sẽ tăng hiệu quả của việc đầu tư

Mô hình hàm cầu cho dịch vụ y tế chỉ ra mức cầu để có chi phí thấp nhất đối với các dịch vụ y tế cho một vốn sức khoẻ cho trước Để có dạng hàm cụ thể, ta

cụ thể hoá dạng hàm của hàm đầu tư sức khoẻ Ta giả định hàm đầu tư này

Sự tăng lên trong mức giá làm giảm lượng cầu Vì chỉ có hai yếu tố sản xuất, sự giảm xuống của sẽ được thay thế bởi sự tăng lên trong thời gian dành cho chăm sóc sức khoẻ Mức lương ban đầu cao sẽ khiến nhu cầu đối với dịch

vụ y tế cao (với mức giáo dục cho trước), rõ ràng khi chi phí cơ hội của thời gian

Trang 26

tăng cao được thay thế bởi Một mức giáo dục cao hơn tạo ra một tác động âm lên nhu cầu dịch vụ y tế trong hàm cầu (16) Vì giáo dục làm tăng mức hiệu quả của dịch vụ y tế, để duy trì một lượng vốn sức khoẻ nhất định cần ít dịch vụ y tế hơn Đồng nghĩa với việc nếu mức giáo dục cao hơn sẽ làm tăng năng suất của sự đầu

tư vào sức khoẻ , dẫn tới lượng tối ưu của tăng lên Cầu sức khoẻ và dịch vụ y tế theo tính chất đã nêu phụ thuộc vào mức lương, mức giá dịch vụ y tế, giáo dục và

sự sung túc

Cầu y tế còn ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố liên quan đến quyết định lựa chọn của đối tượng Đối với lựa chọn ra quyết định trong điều kiện không chắc chắn (Machina, 1992), thái độ của mọi người trong cùng một hoàn cảnh thì không giống nhau Có một số người ưa các trò may rủi trong khi có nhiều người rất ghét những trò này Với những người ghét may rủi thì khi được phép chọn giữa một tình huống chắc chắn và một tình huống không chắc chắn có giá trị kỳ vọng tương đương thì họ

sẽ chọn tình huống chắc chắn Trong khi đó, những người ưa thích may rủi mạo hiểm thì ngược lại họ sẽ lựa chọn tình huống không chắc chắn có giá tị kỳ vọng tương đương Điều đó có thể lý giải đối với hành vi tham gia hoặc không tham gia BHYT tư nhân của người tiêu dùng

Có thể nhận thấy mô hình của Grossman (1972b) đã cho chúng ta thấy được các nhân tố chủ yếu tác động đến cầu sức khoẻ và dịch vụ y tế của người tiêu dùng

Do đó, đề tài sẽ dựa trên hai mô hình để giải thích cho tác động của các yếu tố cá nhân, cảm nhận tiện ích đối với quyết định tham gia BHYT tư nhân

2.3 CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN:

- Nghiên cứu của Makoka và cộng sự (2007) nhằm mục tiêu xác định những nhân tố quyết định đến nhu cầu BHYT tư nhân trong số nhân viên làm việc trong khu vực nhà nước ở Malawi bằng phương pháp hồi quy đa thức (multinomial logit regression) Nghiên cứu sử dụng dữ liệu chính được tổng hợp từ 221 cá nhân (n=148 cá nhân đã có bảo hiểm, n=73 cá nhân không có bảo hiểm) ở hai thành phố lớn Blantyre và Zomba năm vào năm 2003 Nhóm tác giả sử dụng phương pháp

Trang 27

chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng và 41,6% mẫu là nữ, biến phản ứng là quyết định tham gia chương trình BHYT của hiệp hội hỗ trợ y tế Malawi (MASM) có bốn loại: đặc biệt, cao cấp, tiết kiệm và không tham gia Các biến giải thích được xác định: giới tính, độ tuổi, số trẻ em, số năm đi học, tình trạng sức khoẻ và thu nhập Kiểm định Wald được tác giả sử dụng xác định tầm quan trọng của từng biến trong mô hình kinh tế lượng, dù cho tất cả các biến ảnh hưởng đến việc lựa chọn tham gia một trong ba chương trình BHYT, so với việc chọn không tham gia BHYT Kết quả của nghiên cứu hầu như các biến số có tác động chung đáng kể đến xác suất chọn tham gia BHYT với các mức ý nghĩa khác nhau, đặc biệt thu nhập hàng tháng của

cá nhân có ảnh hưởng tích cực đến quyết định lựa chọn tham gia một trong ba chương trình BHYT, nhưng hệ số tác động tham gia các chương trình BHYT: đặc biệt, cao cấp và tiết kiệm thì không giống nhau

Chương trình BHYT đặc biệt thì các biến giải thích: độ tuổi, bình phương độ tuổi, thu nhập ảnh hưởng tích cực đến việc tham gia BHYT với mức ý nghĩa 5% hay 1%, ngược lại số năm đi học tác động tiêu cực ảnh hưởng xác suất tham gia BHYT trái với mong đợi của tác giả Độ tuổi là biến có tác động dương đến xác suất tham gia chương trình đặc biệt, nhưng trên 55 tuổi lại tác động tiêu cực vì giới hạn độ tuổi, trong khi đó thu nhập tác động dương mặc dù đây là chương trình BHYT với giá cao nhất Số năm đi học trong nghiên cứu được xem là kiến thức về lợi ích của sức khoẻ, nhưng có thể ở Malawi đối với chương trình BHYT đặc biệt thì biến này có thể xem như loại công việc, thu nhập và quyền lợi bảo hiểm theo lao động, trong đó có 38% số người khảo sát có trình độ giáo dục trên trung học

Với chương trình BHYT cao cấp chỉ có thu nhập là biến ảnh hưởng có tác động dương với quyết định tham gia BHYT với mức ý nghĩa cao 1%, trong khi đó biến số trẻ em và tình trạng sức khoẻ thì lại tác động âm với mức ý nghĩa lần lượt 10% và 5%, các biến còn lại thì tác động không có ý nghĩa Điều này cho thấy những người được khảo sát có nhu cầu tham gia chương trình BHYT cao cấp có xu hướng bị ảnh hưởng tích cực bởi mức thu nhập của họ, và quy mô gia đình và tình

Trang 28

trạng sức khoẻ tốt hay bình thường của họ hạn chế khả năng tham gia chương trình BHYT này Trong khi đó nhu cầu về chương trình BHYT tiết kiệm có các đặc điểm giống với chương trình BHYT cao cấp ngoại trừ biến độ tuổi, bình phương độ tuổi

có ý nghĩa ở mức 10% Dưới giới hạn độ tuổi tham gia các chương trình BHYT thì tuổi tác là yếu tố thúc đẩy tham gia chương trình BHYT tiết kiệm này

Makoka và cộng sự (2007) sử dụng phương pháp kiểm định nhị phân cho kết quả thống kê mô tả có đến 98% số mẫu đến khám chữa bệnh tại cơ sở y tế tư nhân

có thu phí và chỉ có 2% đến các cơ sở y tế công, cho thấy các nhân viên nhà nước thích được điều trị tại các cơ sở y tế tư nhân có chấp nhận sử dụng BHYT Thử nghiệm tương tự đối với 73 cá nhân không có bảo hiểm để xác định lý do chính cho việc không tham gia chương trình BHYT của MASM, kết quả thu được với mức ý nghĩa 1% cho thấy 68% người không có bảo hiểm không tham gia BHYT do thiếu thông tin, 32% còn lại là do thu nhập, vì vậy nhóm tác giả kết luận rằng việc thiếu kiến thức (68%) là lý do chính tại sao hầu hết nhân viên nhà nước không tham gia các chương trình BHYT

- Ying và cộng sự (2007) thiết kế nghiên cứu đánh giá nhu cầu về BHYT tư nhân ở khu vực thành thị Trung Quốc sử dụng phương pháp hồi quy Logistic để ước tính mức sẵn lòng chi trả cho các chương trình BHYT tư nhân và đánh giá ảnh hưởng của các biến giải thích Nghiên cứu dựa trên thu thập về hộ gia đình được thực hiện tại bốn thành phố nhỏ ở hai tỉnh Tứ Xuyên ở Tây Nam và Sơn Đông ở Đông Bắc của Trung Quốc, mẫu được chọn theo phương pháp ngẫu nhiên phân tầng với 9.478 cá nhân từ 2.671 hộ gia đình được khảo sát Các cá nhân được hỏi về mức sẵn lòng chi trả (WTP) của họ đối với ba chương trình bảo hiểm: bảo hiểm dành cho bệnh hiểm nghèo (MCDI), bảo hiểm điều trị nội trú (IEI) và bảo hiểm điều trị ngoại trú (OEI) Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia vào ba chương trình BHYT tư nhân được xác định: tình trạng việc làm, độ tuổi, giáo dục và thu nhập

Bảng câu hỏi khảo sát để xác định WTP cho ba chương trình BHYT được nhóm tác giả thiết kế dựa trên phí bảo hiểm và lợi ích của các chương trình BHYT

Trang 29

được cung cấp bởi các doanh nghiệp BHYT tư nhân Với bảo hiểm MCDI sẽ hoàn trả 80% chi phí y tế cho người được bảo hiểm nếu họ mắc phải bệnh hiểm nghèo Bảo hiểm IEI chi trả 100% chi phí y tế cho các dịch vụ y tế nội trú ,và bảo hiểm OEI sẽ chi trả 60% chi phí y tế cho các dịch vụ y tế ngoại trú của người mua BHYT Những lợi ích được cung cấp bởi mỗi chương trình bảo hiểm trước tiên được giải thích cho người trả lời, sau đó các câu hỏi về WTP sẽ được hỏi để gợi ra

số tiền cao nhất mà người được phỏng vấn sẵn lòng mua BHYT Các yếu tố cá nhân cũng được thu thập trong bảng câu hỏi, trong số 2.630 người được phỏng vấn có 75% là nam giới, 40% đối tượng có BHYT nhà nước Tỷ lệ người trả lời ở độ tuổi dưới 40, từ 41 đến 59 và 60 trở lên lần lượt là 52%, 40% và 8% Biến số tình trạng việc làm thì nhân viên làm trong các doanh nghiệp nhà nước và chính phủ chiếm 17%, những người làm doanh nghiệp tư nhân hoặc tự làm chủ là 56% và thất nghiệp chiếm 27% số người được hỏi Thu nhập bình quân hàng tháng được chia làm bốn nhóm: thấp nhất là 134 RMB, trung bình 261 RMB, cao là 403 RMB và cao nhất là

883 RMB Hầu hết các đối tượng không học đại học hoặc cao hơn, khoảng 69% có trình độ học vấn trung học cao hơn nhiều so với người có trình độ đại học trở lên (6%) và người có trình độ học vấn tiểu học trở xuống chiếm 25%

Kết quả thu được cho thấy ba đặc điểm nổi bật, thứ nhất nhu cầu về BHYT

tư nhân ở khu vực thành thị Trung Quốc có tiềm năng rất lớn Hơn 40% số người được hỏi cho biết họ sẵn lòng mua MCDI và IEI, và trung bình của mức sẵn lòng chi trả đối với các chương trình BHYT là hơn 100RMB Với quy mô dân số hơn

100 triệu người ở các thành phố nhỏ sẽ sẵn sàng mua BHYT tư nhân thì mức phí hàng năm hơn 20 tỷ RMB Thứ hai là nhiều người muốn mua MCDI và IEI hơn OEI dù các cá nhân phải trả phí bảo hiểm cao hơn Việc có BHYT nhà nước không ảnh hưởng nhiều đến nhu cầu mua MCDI và OEI, nhưng lại tác động đến nhu cầu mua IEI với hệ số giải thích 0,0776 mức ý nghĩa 1% điều này cho thấy dù BHYT nhà nước bao gồm các dịch vụ y tế nội ngoại trú và bệnh hiểm nghèo nhưng nó không đáp ứng nhu cầu của người dân Điểm nổi bật thứ ba là một số yếu tố quyết định nhu cầu BHYT tư nhân là tương tự nhau trong ba chương trình BHYT tư nhân

Trang 30

Các cá nhân làm việc trong khu vực công, doanh nghiệp tư nhân hoặc tự làm chủ, dưới 40 tuổi, có trình độ đại học và thu nhập cao hơn là những ảnh hưởng đến quyết định mua BHYT tư nhân Trong đó thu nhập là yếu tố quan trọng có mối tương quan dương với cả ba chương trình BHYT tư nhân phù hợp với mong đợi của nhóm tác giả

- Nghiên cứu của Propper (1989) thảo luận về nhu cầu BHYT tư nhân trong thị trường chăm sóc sức khoẻ ở Anh và xứ Wales nơi mà BHYT nhà nước là bắt buộc và được đóng góp thông qua một bộ phận của thuế, người dân được hưởng quyền lợi của mình trong dịch vụ chăm sóc sức khoẻ công Bộ dữ liệu được tác giả

sử dụng để phân tích là bộ dữ liệu khảo sát hộ gia đình (GHS) năm 1982, đây là khảo sát cắt ngang hàng năm với khoảng 12.000 hộ gia đình ở Anh và xứ Wales có

đủ thông tin về độ tuổi, giới tính, việc làm, thu nhập, chăm sóc y tế và BHYT của tất cả các thành viên trong gia đình Mô hình kinh tế lượng của Propper (1989) sử dụng phương pháp hồi quy Probit hoặc Logit, biến phụ thuộc trong mô hình là quyết định mua BHYT tư nhân và các biến giải thích xác định là đặc điểm cá nhân, thu nhập hộ gia đình và hữu dụng dự kiến của cá nhân trong trường hợp có bảo hiểm và không có bảo hiểm Dựa vào mục đích của nghiên cứu và kinh nghiệm từ những nghiên cứu trước đó tác giả rút ra tổng số mẫu quan sát là 1.026 hộ gia đình với tỷ lệ chênh lệch không quá lớn giữa hai nhóm hộ gia đình: có bảo hiểm (464 hộ)

và không có bảo hiểm (562 hộ) Kết quả của nghiên cứu cho thấy tầm quan trọng của thu nhập và tình trạng việc làm trong việc quyết định mua BHYT tư nhân, những biến còn lại với hệ số biến thiên ít có nghĩa hơn trong xác suất mua bảo hiểm Tuy nhiên kết quả thu được cũng cho thấy một số yếu tố có thể ảnh hưởng đến quyết định mua không có trong bộ dữ liệu GHS, các tham số ước tính có dấu hiệu như dự kiến nhưng những tham số khác lại xác định kém vì thế tác giả đề xuất hai phần mở rộng thêm trong nghiên cứu Phần mở rộng đầu tiên sẽ tính đến các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua trước đây so với quyết định mua hiện tại Thứ hai là xác định thêm những yếu tố khả năng ảnh hưởng đến quyết định của cá nhân

do hạn chế của bộ dữ liệu

Trang 31

- Mặc dù hệ thống chăm sóc sức khoẻ công của Ireland cung cấp nhiều hỗ trợ cho người dân nhưng vẫn có 50% dân số lựa chọn tham gia BHYT tư nhân Thị trường BHYT tư nhân được thành lập vào cuối những năm 1950 để cung cấp bảo hiểm cho 15% dân số có thu nhập cao nhất (những người được loại trừ những hỗ trợ

từ chính phủ) dù vậy tỷ lệ dân số chọn BHYT tư nhân tiếp tục tăng, đồng thời chính sách y tế của Ireland tích cực hỗ trợ ngành y tế tư nhân, những khoản trợ cấp cả trực tiếp lẫn gián tiếp từ tài chính công Từ đánh giá ban đầu, Finn và Harmon (2006) nghiên cứu về vai trò của đặc điểm kinh tế xã hội và hộ gia đình thúc đẩy nhu cầu của người dân với BHYT tư nhân như thế nào, và chính sách chính phủ đóng vai trò gì? Tác giả sử dụng dữ liệu khảo sát về đời sống ở Ireland giai đoạn 1994 - 2001 để kiểm định phân tích dữ liệu bảng và so sánh giữa 3 mô hình: mô hình tĩnh, mô hình của Chamberlain-Mundlak và mô hình động Vì đây là dữ liệu bao quát hộ gia đình nên các cá nhân trong cùng một hộ gia đình không thể được coi là độc lập, do đó Finn và Harmon (2006) sử dụng một tập hợp con của mẫu tập trung vào cá nhân tham chiếu của hộ gia đình, như là kiểm tra quyết định tham gia bảo hiểm

Thông qua ba mô hình phân tích kết quả chỉ ra rằng những người tham gia BHYT tư nhân có học vấn cao, giàu có và khoẻ mạnh hơn những người không tham gia bảo hiểm Điều này cũng không đặc biệt trong bối cảnh của Ireland mà đặc biệt

là chính sách của những nhà hoạch định đối với BHYT tư nhân Những chính sách nhằm thúc đẩy cầu BHYT tư nhân như cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khoẻ chất lượng hơn, giá cả phù hợp, hỗ trợ người mắc bệnh mãn tính trong việc mua bảo hiểm Tuy nhiên nó chỉ thành công trong việc khuyến khích những người có học vấn tốt, thu nhập cao và có sức khoẻ tốt hơn tham gia BHYT tư nhân

Trong mô hình động, sự kiên trì là yếu tố quyết định rất lớn đến nhu cầu BHYT tư nhân và nó cũng làm giảm quy mô của các hệ số trên các biến hồi quy Trong khi giáo dục, thu nhập và tình trạng sức khoẻ có ảnh hưởng lớn đến xác suất tham gia BHYT thì tác động này lại được đánh giá quá cao khi không có sự kiểm soát đồng nhất và không phụ thuộc vào chính phủ Nhà cung cấp bảo hiểm có thể sử

Trang 32

dụng một số chính sách được chính phủ hỗ trợ tác động đến quyết định mua BHYT của người dân như hồ sơ tuổi tác của nhóm bảo hiểm làm thay đổi quy định cung cấp BHYT với người tham gia BHYT trên 30 tuổi sẽ bị tính thêm 2% tiền thuế mỗi năm Kết quả cho thấy rằng nếu có thể thu hút người không có BHYT mua BHYT thì xác suất giữ lại nó trong tương lai là rất lớn, một khuyến khích để lôi kéo người dưới 30 tuổi tham gia BHYT tư nhân có thể khá hiệu quả Một số trợ cấp khác của chính phủ đối với thị trường BHYT tư nhân chẳng hạn như giảm thuế cho bảo hiểm với lý do hỗ trợ người có bệnh mãn tính được mua bảo hiểm, sử dụng tiền thuế để giảm giá bảo hiểm tạo điều kiện cho người dân được tham gia BHYT tư nhân Những việc này trên thực tế phù hợp với mục tiêu gia tăng nhu cầu BHYT tư nhân của chính phủ, đồng thời nó cũng mang lại lợi ích cho những công ty cung cấp bảo hiểm

Kết quả của nghiên cứu này nhấn mạnh giáo dục, thu nhập và tình trạng sức khoẻ là những yếu tố tác động mạnh mẽ tích cực đối với nhu cầu BHYT tư nhân ở Ireland, đan xen vào đó là những chính sách hỗ trợ của chính phủ đối với thị trường bảo hiểm tư nhân Tuy nhiên với trình độ giáo dục và thu nhập thấp hơn thì tình trạng sức khoẻ có ảnh hưởng rất lớn đến xác suất mua bảo hiểm, những chính sách này góp phần vào sự bất bình đẳng trong việc tiếp cận chăm sóc y tế

- Mục tiêu của nghiên cứu của Hopkins và P Kidd (1996) tìm hiểu các vấn

đề quan trọng có ảnh hưởng đến nhu cầu BHYT tư nhân tại Úc, vì kể từ khi chương trình Medicare được thành lập vào năm 1984 thì tỷ lệ dân số Úc có BHYT tư nhân

đã giảm đáng kể Các biến số kinh tế xã hội, đặc điểm cá nhân và vị trí địa lý được thu thập và kiểm định bằng mô hình Logit nhị phân, qua đó làm nổi bật ảnh hưởng

và tầm quan trọng của chúng đối với nhu cầu BHYT tư nhân của người dân Úc Bộ

dữ liệu được sử dụng trong nghiên cứu là khảo sát y tế quốc gia năm 1989 – 1990 cung cấp thông tin chi tiết về các đặc điểm cá nhân bao gồm độ tuổi, trình độ học vấn, nơi cư trú, thu nhập, tình trạng sức khoẻ, chi tiêu cho dịch vụ y tế và tình trạng

sở hữu BHYT tư nhân của người dân Úc Dữ liệu ban đầu có 54.241 cá nhân với

Trang 33

37,7% có BHYT tư nhân và 35,2% không có, phần còn lại của mẫu là các cá nhân dưới 15 tuổi không được phân loại bảo hiểm Sau khi xử lý số liệu, tỷ lệ người có BHYT tư nhân là 51,7% cao hơn lúc ban đầu điều này là hợp lý vì những người dưới 15 tuổi sẽ được bảo hiểm bởi chính sách bảo hiểm của cha mẹ họ

Kết quả hồi quy nghiên cứu của Hopkins và Kidd (1996) cho thấy rằng độ tuổi và tần suất sử dụng dịch vụ y tế - khám chữa bệnh làm tăng xác suất mua BHYT tư nhân Xác xuất mua BHYT đối với biến giới tính Nam là 65,1%, và với

độ tuổi trên 70 các yếu tố khác không đổi thì xác suất tăng lên 92,9% Tương tự, nếu tình trạng sức khoẻ thay đổi để anh ta phải khám chữa bệnh trong 12 tháng qua thì xác xuất BHYT tăng lên tới 78,9% Số trẻ em trong hộ gia đình cũng làm tăng xác xuất mua BHYT

Mối quan hệ giữa thu nhập và BHYT tư nhân là đặc điểm chính trong tranh luận chính sách về mối quan hệ tư nhân – nhà nước trong y tế Chương trình Medicare là BHYT bắt buộc, chi phí cho nó tỷ lệ thuận với mức thu nhập chịu thuế

vì thế khi thu nhập tăng thúc đẩy người có thu nhập cao mua BHYT tư nhân và sử dụng dịch vụ y tế ở các cơ sở y tế tư nhân Xác suất mua BHYT tư nhân tăng lên cùng với sự gia tăng của thu nhập của người chủ hộ gia đình, tuy nhiên sự gia tăng thu nhập của vợ/chồng không quan trọng trong xác suất mua BHYT do thu nhập của người vợ/chồng thấp hơn đáng kể so với thu nhập của hộ gia đình Kết quả còn cho thấy sự khác nhau của xác suất mua BHYT tư nhân ở cá nhân với địa điểm nơi

ở khác nhau, ví dụ với một quan sát là người đàn ông có gia đình trong khi các yếu

tố khác không đổi, nếu anh ta ở Hobart sẽ có xác suất mua BHYT tư nhân là 72% nhưng sẽ là 36,5% nếu anh ta sống ở Brisban

- Hiệp hội BHYT tư nhân „danmark‟ được thành lập năm 1973 ban đầu là tổ chức phi lợi nhuận, nay được xem như là công ty bảo hiểm duy nhất cung cấp BHYT tư nhân ở Đan Mạch Có 4 loại bảo hiểm khác nhau được chia thành 4 nhóm Nhóm 1 được cung cấp miễn phí các dịch vụ chăm sóc y tế ở các bệnh viện công, tuy nhiên người tham gia nhóm này khi sử dụng dịch vụ y tế phải có giấy giới

Trang 34

thiệu từ bác sĩ gia đình Nhóm 2 phải trả một phần chi phí nhất định dưới dạng đồng thành toán khi họ có nhu cầu dịch vụ y tế và không cần phải có giấy giới thiệu Nhóm 5 chủ yếu nhắm vào những người trẻ tuổi có nhu cầu sử dụng bảo hiểm nhỏ hơn, do đó phạm vi bảo hiểm và phí bảo hiểm thấp hơn Thành viên tham gia nhóm

8 là những người thụ động và không được hưởng bất kỳ lợi ích nào Cho phép các thành viên được chuyển đổi qua lại giữa các nhóm bảo hiểm với phí bảo hiểm khác nhau, để được tham gia BHYT thì người đăng ký phải khoẻ mạnh, dưới 60 tuổi và không có tiền sử sử dụng thuốc kéo dài

Từ bối cảnh Đan Mạch, nghiên cứu của Christiansen và cộng sự (2002) nhằm kiểm tra các yếu tố như có tham gia thành viên „danmark‟, thu nhập, giáo dục

và tình trạng sức khoẻ của người được khảo sát có tác động thay đổi đến nhu cầu tham gia BHYT tư nhân Nghiên cứu dựa trên mẫu khảo sát phỏng vấn sức khoẻ toàn quốc của Viện dịch tễ học lâm sàng Đan Mạch năm 1994, bảng phỏng vấn được gửi đến 6.001 người và có 4.663 người phản hồi Dữ liệu được phân tích bằng các kỹ thuật hồi quy đa biến, tham gia BHYT tư nhân được phân tích bằng nhiều lựa chọn - hồi quy Logistic lựa chọn tuần tự

Kiểm định Chi-square được thực hiện nhằm đảm bảo tính ý nghĩa của các biến giải thích đối với quyết định tham gia các nhóm thành viên „danmark‟, bảng câu hỏi được thiết kế thu thập những đặc điểm cá nhân và tình trạng sức khoẻ của người được khảo sát Trong đó, tự đánh giá tình trạng sức khoẻ là câu hỏi về sức khoẻ mà người trả lời đánh giá với 5 mức phân biệt, mức 1 là tình trạng sức khoẻ tốt nhất Sử dụng phương pháp hồi quy Logistic cho kết quả rằng xác suất tham gia thành viên nhóm bảo hiểm tăng theo thu nhập, số năm đi học và độ tuổi cho đến khi

60 tuổi, có xu hướng ngược chiều giữa sức khoẻ kém và xác suất tham gia BHYT Trên tư cách thành viên thì việc lựa chọn nhóm bảo hiểm dựa vào mức chi trả bảo hiểm cao thì tăng lên với sức khoẻ kém và độ tuổi

- Xuất phát từ thực tế hiệu quả của thị trường bảo hiểm ở Đài Loan, Liu và Chen (2002) đã sử dụng bộ dữ liệu khảo sát về thu nhập và chi tiêu của hộ gia đình

Trang 35

Đài Loan (1999) để tìm hiểu tác động của những yếu tố nhân khẩu học, thu nhập, có tham gia BHYT, chi tiêu đến quyết định mua BHYT tư nhân Số mẫu được sử dụng

là 14.031 hộ gia đình với 52.610 cá nhân, trong đó với 64,8% mẫu (9.090 hộ gia đình) đã có BHYT tư nhân và xấp xỉ 98% mẫu có BHYT nhà nước (NHI) Các quyết định về việc nên mua BHYT hay không và chi bao nhiêu (hoặc mua bao nhiêu gói BHYT) không nhất thiết phải xác định chung Mọi người có khả năng mua BHYT nhiều lần, đặc biệt trong tình huống họ có BHYT nhà nước, vì thế hai tác giả đã sử dụng mô hình hai phần (two-part model) để xác định việc có mua BHYT hay không và làm rõ các yếu tố trong quá trình ra quyết định Tác giả dự đoán xác suất một hộ gia đình có BHYT (so với không có BHYT) bằng phương pháp hồi quy Logistic, đồng thời sử dụng phương pháp hồi quy OLS với phí bảo hiểm là biến phụ thuộc để kiểm tra các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu BHYT tư nhân cho những hộ gia đình đã có BHYT tư nhân

Nghiên cứu cho thấy các biến độc lập trong mô hình, sáu yếu tố cá nhân (tình trạng hôn nhân, giới tính, tuổi tác, trình độ học vấn, ngành nghề và tình trạng việc làm) và hai yếu tố hộ gia đình (quy mô và thu nhập) có ảnh hưởng đáng kể đến xác suất mua BHYT tư nhân Hầu hết các biến này cũng có mối quan hệ chặt chẽ với chi phí cho BHYT tư nhân ngoại trừ các biến: độ tuổi, ngành nghề và qui mô gia đình Người chủ hộ kinh tế gia đình đã kết hôn (74,5%) nhiều khả năng mua BHYT hơn so với người chưa kết hôn (25,5%) với các ước tính tham số là tích cực và có ý nghĩa trong cả hồi quy Logistic và OLS, khả năng mua BHYT của chủ hộ gia đình

đã kết hôn cao hơn 2.3 lần so với chủ hộ chưa lập gia đình Hệ số tiêu cực của của biến giới tính trong mô hình cho thấy giới tính chủ hộ có vấn đề trong việc dự đoán xác suất có BHYT tư nhân và chi phí mua BHYT So sánh ở biến nhóm tuổi, các hệ

số có ý nghĩa và tích cực với tất cả các nhóm tuổi, tuy vậy hệ số của nhóm trên 65 tuổi mang giá trị âm ngụ ý rằng chủ hộ gia đình lớn tuổi ít có khả năng được tham gia BHYT đây có thể là kết quả của việc loại trừ nhóm người cao tuổi khỏi thị trường BHYT tư nhân, và kết quả hồi quy OLS không có hệ số nào có ý nghĩa điều này cho thấy chi phí mua BHYT không ảnh hưởng bởi số tuổi

Trang 36

Biến số trình độ học vấn có ý nghĩa cao (mức ý nghĩa 0,0001) và có hệ số dương trong hồi quy Logistic cho thấy những người có trình độ học vấn cao hơn có khả năng mua BHYT, tương tự hồi quy OLS được hiển thị có tác động đáng kể và tích cực đến chi phí mua BHYT, có ý nghĩa rằng những người có trình độ học vấn cao hơn sẽ tiếp xúc và hiểu biết tầm quan trọng của BHYT thì xác suất mua BHYT

và chi phí mua BHYT càng cao Khu vực làm việc cũng có ảnh hưởng đáng kể đến việc có BHYT, nhưng không có mối liên hệ nào với chi phí mua BHYT, nói cách khác chủ hộ gia đình làm việc cho các doanh nghiệp nhà nước có nhiều khả năng có BHYT hơn so với những người làm trong khu vực tư nhân Hệ số không đáng kể đối với nhân viên chính phủ cho thấy khả năng có BHYT không khác biệt so với người lao động tư nhân Tình trạng việc làm được chứng minh có ý nghĩa thống kê

ở cả hai phần và có hệ số dương, người có việc làm xu hướng có BHYT và chi phí mua BHYT cao hơn so với người thất nghiệp Mô hình hai phần hồi quy cho thấy một hệ số âm không đáng kể đối với BHYT nhà nước của Đài Loan, nó không ảnh hưởng đến xác suất tham gia BHYT tư nhân và chi phí mua BHYT tư nhân Thu nhập hộ gia đình đều có hệ số hồi quy logistic tích cực, trong hồi quy OLS ba trong

số đó cũng có liên quan đáng kể và tích cực với chi phí mua BHYT Kết quả lược

bỏ nhóm thu nhập thấp nhất, các hộ gia đình trong nhóm các thu nhập khác có nhiều khả năng mua BHYT và yêu cầu chi phí mua nhiều BHYT tư nhân hơn Tương tự đối với biến quy mô gia đình cho thấy rằng các hộ gia đình có hơn bốn thành viên thì xác suất mua BHYT cao hơn với hệ số dương nhưng lại ảnh hưởng không đáng

kể đến chi phí mua BHYT tư nhân

Từ kết quả đạt được, nhóm tác giả đưa ra kết luận chung về các yếu tố ảnh hưởng xác suất có BHYT cũng ảnh hưởng đến chi phí mua BHYT Sự gia tăng cả

về thu nhập và giáo dục dẫn đến xác suất có BHYT cũng như số lượng bảo hiểm được mua Những người phụ nữ đã kết hôn, người có việc làm, người làm trong doanh nghiệp nhà nước có nhiều khả năng mua BHYT tư nhân hơn so với đối tượng còn lại Khả năng mua BHYT tư nhân có xu hướng tăng theo quy mô hộ gia đình,

và ngược lại với độ tuổi trên 65 do ảnh hưởng của chính sách giới hạn độ tuổi tham

Trang 37

gia BHYT tư nhân Biến số NHI được tìm thấy không có tác động đến nhu cầu BHYT tư nhân, và ý nghĩa chính của phát hiện này là không có sự bổ sung giữa hệ thống công và tư ở Đài Loan bởi vì việc triển khai NHI dường như không làm tăng đáng kể việc mua bảo hiểm y tế tư nhân

- Kể từ khi bắt đầu chương trình BHYT tư nhân Isapres ở Chile vào những

năm 1980, số người được chi trả bảo hiểm bởi nó tăng nhanh chóng lên tới gần 20% dân số Trước đây chỉ có 67% dân số Chile được lợi ích từ bảo hiểm thông qua công

ty bảo hiểm nhà nước, quỹ y tế quốc gia được gọi là Fonasa BHYT là bắt buộc nhưng các cá nhân có thể tự do lựa chọn Fonasa hoặc một trong những loại bảo hiểm Isapres, lựa chọn như thế nào thì các cá nhân phải đóng góp phí bảo hiểm

thông qua mức thuế thu nhập 7% mặc dù các nhà cung cấp BHYT tư nhân có thể hỗ trợ tỷ lệ phần trăm này để cá nhân có thể mua một loại BHYT toàn diện hơn Quyết định mua BHYT không đơn giản do thông tin bất cân xứng, mà còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố ảnh hưởng đến nó Vì thế mục đích của nghiên cứu Höfter (2006) nhằm đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố tác động đến lựa chọn của cá nhân đối với BHYT tư nhân và BHYT tư nhân ảnh hưởng đối với sử dụng các dịch vụ y tế Phương pháp hồi quy Logit và Probit được sử dụng trong nghiên cứu dựa trên thông tin của bộ dữ liệu Casen 2000: nhân khẩu học, đặc điểm kinh tế xã hội của cá nhân, bao gồm sự hiểu biết về chức năng và sử dụng dịch vụ y tế

Các ước lượng về độ tuổi, tình trạng sức khoẻ cho thấy có sự lựa chọn tích cực vào BHYT tư nhân, những người trẻ tuổi hơn và khoẻ mạnh hơn có nhiều khả năng hơn mua bảo hiểm hơn Có sự khác biệt tác động của giới tính đối với xác suất mua bảo hiểm tư nhân, hệ số âm cho thấy phụ nữ ít có nhu cầu đối với bảo hiểm tư nhân, mẫu khảo sát thống kê cá nhân cho thấy chỉ 34% đối tượng nữ lựa chọn BHYT tư nhân Một hệ số dương của tình trạng hôn nhân cho thấy các cá nhân sợ rủi ro hơn một khi họ kết hôn và điều này liên quan đến việc mở rộng bảo hiểm cho trẻ em, do đó các cá nhân đã kết hôn có thể cân nhắc nhiều hơn đến các loại bảo hiểm tư nhân Trình độ giáo dục là một hệ số tích cực và ý nghĩa rằng những người

Trang 38

có học vấn tốt hơn nhiều khả năng chọn BHYT tư nhân, do họ có kiến thức đánh giá về ưu nhược điểm loại hình bảo hiểm như mức đồng thanh toán, mức bồi hoàn, giới hạn chi tiêu mỗi năm Đối với thu nhập là hệ số tác động tích cực đối với nhu cầu BHYT tư nhân tuy nhiên hệ số này rất nhỏ ngụ ý rằng thu nhập có tầm quan trọng thấp hơn mong đợi Một điều ngạc nhiên là có sự ngược chiều ở biến tình trạng việc làm, những người tự làm chủ không thích chi trả bảo hiểm so với người

có công việc ổn định cho thấy người tự làm chủ ít có định hướng cho kế hoạch sức khoẻ và họ thích tự chi trả cho sử dụng dịch vụ y tế Từ những kết quả đạt được cho thấy có sự tác động mạnh mẽ của các yếu tố như độ tuổi, giới tính, tình trạng hôn nhân, giáo dục, thu nhập, và tình trạng sức khoẻ ảnh hưởng đến quyết định mua BHYT tư nhân của người dân Chile Ngoài ra tác giả còn cho thấy BHYT tư nhân

có tác động mạnh mẽ đến sử dụng dịch vụ y tế ngoại trú nhưng ảnh hưởng không đáng kể đối với dịch vụ y tế nội trú

Lược khảo các nghiên cứu có liên quan cho thấy có nhiều phương pháp nghiên cứu, cách tiếp cận, đo lường khác nhau nhưng các câu hỏi được sử dụng trong những nghiên cứu này đa phần đều có chung đặc điểm là thu thập dữ liệu về các nhân tố đặc điểm nhân khẩu học, kinh tế xã hội, tiện ích sử dụng dịch vụ y tế với BHYT và sự sẵn lòng mua BHYT tư nhân Tiêu biểu trong nghiên cứu nhu cầu

về BHYT tư nhân ở khu vực thành thị Trung Quốc của Ying và cộng sự (2007) và nghiên cứu của Makoka và cộng sự (2007) về nhu cầu BHYT tư nhân ở Malawi nơi được miễn phí dịch vụ chăm sóc y tế công, nhóm tác giả của hai nghiên cứu chỉ ra rằng thu nhập chính là yếu tố quan trọng nhất tác động đến quyết định tham gia BHYT tư nhân, ngoài ra trình độ học vấn cũng ảnh hưởng đến việc lựa chọn chương trình bảo hiểm Kết quả của nghiên cứu đa phần giống như những nghiên cứu khác trên thế giới như Propper (1989); Liu và Chen (2002); Christiansen và cộng sự (2002); Finn và Harmon (2006) Hơn nữa nghiên cứu của Hopkins và Kidd (1996); Höfter (2006) còn cho thấy sự ảnh hưởng của tiện ích dịch vụ y tế ảnh hưởng mà BHYT tư nhân đem lại có ảnh hưởng đến quyết định mua BHYT tư nhân

Trang 39

2.4 KHUNG PHÂN TÍCH VÀ GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU:

2.4.1 Khung phân tích:

Hình 2.1: Khung phân tích

Nguồn: Đề xuất của tác giả

Dựa trên nền tảng của mô hình Grossman (1972b) cho thấy các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua BHYT tư nhân Trong bài viết này, người ra quyết định

sẽ chịu tác động bởi các đặc điểm kinh tế - xã hội, tình trạng sức khoẻ và tâm lý thích sự may rủi Trên cơ sở tổng quan của các tài liệu nêu trên, khung phân tích của đề tài được xây dựng đan xét kết hợp giữa hai nghiên cứu của Ying và cộng sự (2007) và Makoka và cộng sự (2007), trong đó quyết định mua BHYT tư nhân là khái niệm trung tâm mô hình

2.4.2 Giả thuyết nghiên cứu đề xuất:

Dựa trên mô hình lý thuyết Grossman (1972b) thu nhập, trình độ học vấn của người được khảo sát ảnh hưởng đến quết định mua BHYT tư nhân Kết quả nghiên cứu của Hopkins và Kidd (1996); Liu và Chen (2002); Christiansen và cộng sự (2002); Finn và Harmon (2006); Höfter (2006); Ying và cộng sự (2007) cũng đã ủng hộ cho nhận định trên Các nghiên cứu của Ying và cộng sự (2007); Makoka và cộng sự (2007) cho thấy có sự ảnh hưởng của các yếu tố cá nhân đến lựa chọn loại

Tâm lý thích sự may rủi

Yếu tố nhân khẩu

Quyết định mua BHYT

tư nhân lựa chọn loại hình bảo hiểm

H 3

Trang 40

hình BHYT tư nhân của người được khảo sát Đồng thời tác giả cũng đặt ra câu hỏi đối với những người thích tâm lý may rủi thì họ có xu hướng muốn mua hay không mua BHYT tư nhân

Do đó, các giả thuyết của nghiên cứu được kỳ vọng ảnh hưởng đến quyết định mua BHYT tư nhân được trình bày như sau:

Giả thuyết H1: Các yếu tố đặc điểm kinh tế - xã hội có tác động đến lựa chọn mua BHYT tư nhân

Giả thuyết H2: Tình trạng sức khoẻ có ảnh hưởng tích cực đến lựa chọn mua BHYT tư nhân

Giả thuyết H3: Tâm lý thích sự may rủi sẽ tác động tiêu cực đến lựa chọn mua BHYT tư nhân

Tóm tắt Chương 2

Cơ sở lý thuyết ở Chương 2 đã giúp có cái nhìn tổng quan về BHYT tư nhân

Cụ thể chương này đã trình bày khái niệm bảo hiểm, BHYT tư nhân đồng thời cũng trình bày tóm tắt về mô hình cầu sức khoẻ, dịch vụ y tế và mô hình cầu về bảo hiểm

y tế tư nhân để làm cơ sở giải thích cho quyết định mua BHYT tư nhân Ngoài ra kết quả lược khảo các nghiên cứu có liên quan đến chủ đề BHYT tư nhân trước đây

đã giúp cho đề tài có được cách tiếp cận cũng như xây dựng khung phân tích để tiến hành nghiên cứu về tác động của đặc điểm kinh tế - xã hội quyết định mua BHYT

tư nhân trong điều kiện ở Việt Nam

Ngày đăng: 27/05/2020, 00:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w