Do đó, việcnghiên cứu mô hình bệnh nhi tại các bệnh viện YHCT sẽ giúp cho việc địnhhướng chăm sóc sức khỏe bệnh nhi theo các phương pháp điều trị bằngYHCT, đồng thời giúp cho việc xây dự
Trang 1Danh mục các bảng, biểu.
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1: TỔNG QUAN 3
1.1 Tình hình nghiên cứu mô hình bệnh tật ở trẻ em 3
1.2 Tổng quan về ICD-10 5
1.2.1 Lịch sử của phân loại bệnh tật 5
1.2.2 Giới thiệu về ICD-10 6
1.3 Tổng quan các phương pháp điều trị bệnh ở trẻ em 8
1.3.1 Điều trị nội khoa 8
1.3.2 Điều trị ngoại khoa 10
1.4 Tổng quan phân loại các chứng bệnh nhi theo YHCT 10
1.5 Tổng quan các phương pháp điều trị bệnh nhi theo YHCT 13
1.5.1 Nguyên tắc điều trị điều trị bệnh 13
1.5.2 Không dùng thuốc……… 14
1.5.3 Dùng thuốc……… 17
1.6 Vài nét về bệnh viện Châm cứu Trung ương 18
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
2.1 Đối tượng nghiên cứu 20
2.1.1 Địa điểm nghiên cứu 20
2.1.2 Thời gian nghiên cứu 20
2.1.3 Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh án 20
Trang 22.2.2 Cách thức tiến hành 20
2.2.3 Công cụ nghiên cứu 20
2.2.4 Các chỉ số nghiên cứu 20
2.3 Đạo đức nghiên cứu 21
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 22
3.1 Mô hình bệnh tật tại viện Châm cứu Trung ương 22
3.1.1 Phân bố bệnh nhân theo tuổi 22
3.1.2 Phân bố bệnh nhân theo giới 23
3.1.3 Số lượng bệnh nhân diễn biến trong năm 24
3.1.4 Phân bố bệnh nhân theo khu vực 25
3.1.5 Mô hình bệnh tật theo ICD-10 26
3.1.6 Tỷ lệ các bệnh thường gặp nhất 27
3.1.7 Phân loại bệnh nhi theo YHCT 28
3.1.8 Công suất sử dụng giường bệnh, số ngày điều trị trung bình 29
3.2 Phương pháp điều trị 29
3.2.1 Tỷ lệ các phương pháp điều trị 30
3.2.2 Tỷ lệ các phương pháp điều trị không dùng thuốc………31
3.2.3 Tỷ lệ các nhóm thuốc sử dụng trong điều trị 31
3.3 Kết quả điều trị 32
Chương 4: BÀN LUẬN 33
4.1 Tuổi của bệnh nhân 33
Trang 34.4 Phân bố bệnh nhân theo thời gian 34
4.5 Mô hình bệnh tật tại khoa theo ICD-10 35
4.6 Tỷ lệ các bệnh thường gặp nhất 37
4.7 Phân bố các chứng trạng theo YHCT 39
4.8 Công suất sử dụng giường bệnh và số ngày điều trị trung bình 39
4.9 Các phương pháp điều trị 40
4.10 Các nhóm thuốc được sử dụng 42
4.11 Kết quả điều trị 43
KẾT LUẬN 45
KIẾN NGHỊ 47 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 4
ĐẶT VẤN ĐỀ
Tình trạng sức khỏe và bệnh tật của trẻ em là tấm gương phản ánhkhách quan điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa chính trị của mỗi quốc gia nóichung và Việt Nam nói riêng [1] Đối với ngành y tế, để có được thông tin cầnthiết đánh giá được tình trạng sức khỏe, sự thay đổi bệnh tật qua từng thời kỳ,đồng thời đánh giá được các biện pháp đã can thiệp, việc nghiên cứu mô hìnhbệnh tật là rất quan trọng đặc biệt là mô hình bệnh tật ở trẻ em Xác định đượcthay đổi mô hình bệnh tật trẻ em qua các thời kì đã tạo cơ sở đánh giá hiệuquả cho các phương pháp điều trị.Từ đó đề ra chiến lược chăm sóc sức khỏeban đầu, chiến lược y tế phù hợp, hỗ trợ cho công tác quản lý, tổ chức của Bộ
Y tế nói chung và trong từng bệnh viện nói riêng Mô hình bệnh tật trẻ em có
sự thay đổi và phân hóa rõ rệt ở các nước phát triển và đang phát triển [1], [2].Nhìn chung, ở nước ta trong những năm trở lại đây theo GS Nguyễn ThuNhạn, mô hình bệnh tật ở trẻ em có sự thay đổi, biến chuyển rõ rệt Các bệnhnhiễm khuẩn, tiêu chảy cấp, suy dinh dưỡng có xu hướng giảm dần, trong khi
đó các bệnh không lây như béo phì, tim mạch, dị tật bẩm sinh, bệnh thần kinhtâm thần như tự kỷ ngày càng có xu hướng gia tăng [1] Đối với YHCT, môhình bệnh tật cũng có nét đặc trưng riêng Song song với YHHĐ, các bệnhtâm thần, thần kinh như bại não, tự kỷ, di chứng viêm não… cũng dần xuấthiện ngày một nhiều và có xu hướng tăng nhanh trong những năm gần đây
Đã có nhiều công trình nghiên cứu, báo cáo thống kê về mô hình bệnhNhi tại các bệnh viện Đa khoa như khoa Nhi bệnh viện Bạch Mai [3], Bệnhviện Thanh Nhàn [4] Nhưng chưa có công trình nghiên cứu, báo cáo hệthống nào về mô hình bệnh nhi trong các bệnh viện YHCT Do đó, việcnghiên cứu mô hình bệnh nhi tại các bệnh viện YHCT sẽ giúp cho việc địnhhướng chăm sóc sức khỏe bệnh nhi theo các phương pháp điều trị bằngYHCT, đồng thời giúp cho việc xây dựng cơ sở vật chất, nguồn nhân lực đápứng với nhu cầu điều trị Mặt khác, nó góp phần quan trọng hoàn thiện bức
Trang 5tranh toàn cảnh về mô hình bệnh nhi và phương pháp điều trị đối với bệnh nhitrong cả nước nói chung.
Bệnh viện Châm cứu Trung ương là một trong những bệnh viện đầungành trong chăm sóc và điều trị bệnh bằng phương pháp YHCT Khoa Nhi,bệnh viện Châm cứu Trung ương được thành lập năm 1982 cùng với bệnhviện Trong những năm gần đây, số lượng bệnh nhi đến điều trị tại khoa cóchiều hướng gia tăng nhanh Những thay đổi mô hình bệnh trong cả nước,cùng chương trình chăm sóc sức khỏe, tiêm chủng đã ảnh hưởng đền mô hìnhbệnh tật của bệnh nhi điều trị tại khoa Trên cơ sở đó, chúng tôi nghiên cứu đề
tài “Mô hình bệnh tật và phương pháp điều trị bệnh nhi tại Bệnh viện Châm cứu Trung ương năm 2011 - 2012” với hai mục tiêu sau:
1 Mô tả mô hình bệnh tật trẻ em tại khoa Nhi Bệnh viện Châm cứu Trung ương năm 2011 - 2012.
2 Mô tả phương pháp điều trị bệnh nhi tại khoa Nhi Bệnh viện Châm cứu Trung ương năm 2011 - 2012.
Trang 6Chương 1 TỔNG QUAN 1.1 Tình hình nghiên cứu mô hình bệnh tật ở trẻ em
1.1.1 Trên thế giới:
Nhiều nghiên cứu của thế giới đã chứng minh sức khỏe, mô hình bệnhtật trẻ em phản ánh trung thành điều kiện sinh sống kinh tế, xã hội, văn hóa,tập quán, yếu tố môi trường nơi trẻ sinh sống [1] Ở Brunei, nước có thu nhậpbình quân đầu người cao, đầu tư cho y tế lớn nhất thế giới, ngoài nhiễm khuẩn
hô hấp là hay gặp, còn lại chủ yếu là nhiều bệnh không lây: tim mạch, dị tậtbẩm sinh, thần kinh … Còn ở Campuchia, một đất nước còn nghèo thì sốt rét,lao, sốt xuất huyết … phổ biến hơn cả Từ năm 1974, WHO đã có sự thống kêđịnh kỳ mô hình bệnh tật và tử vong nói chung và của trẻ em nói riêng cùngtổng GDP, ngân sách đầu tư y tế … của từng quốc gia, lãnh thổ trong khu vựcđưa ra sự so sánh [5] Tỷ lệ tử vong trẻ em trên thế giới thay đổi rõ rệt ở cácnước phát triển tỷ lệ tử vong trẻ em dưới 1 tuổi là 7% trong khi đó ở các nướcđang phát triển tỷ lệ này là 6.7%, các nước kém phát triển là 10.9%, tỷ lệ tửvong thay đổi theo vùng địa dư trên thế giới, theo thu nhập quốc dân [6] Cácnghiên cứu đều chỉ ra rằng, mô hình bệnh kéo theo phương pháp điều trị ở cácnước phát triển có sự khác biệt với các nước đang phát triển [1], [5], [6].Những năm gần đây tình hình bệnh tật trẻ em trên thế giới có những thay đổiđáng kể Từ khi có các chương trình tiêm chủng mở rộng phòng chống một sốbệnh, tỷ lệ tử mắc và tử vong do các bệnh nhiễm khuẩn, dịch bệnh lây lan đãgiảm Nhiễm khuẩn, suy dinh dưỡng vẫn còn song có xu hướng giảm, cácbệnh chuyển hóa, dị tật bẩm sinh, béo phì… có sự ra tăng cùng với sự pháttriển của xã hội
Một số nước đánh giá dựa trên gánh nặng bệnh tật như Mỹ năm 1996, tainạn thương tích lại đứng hàng đầu sau đó là dị tật bẩm sinh thứ ba là đẻ non,
Trang 7ở Canada thống kê gánh nặng bệnh tật ở bang Ontario từ 1990-1995 đứnghàng đầu là tai nạn thương tích sau đó là ung thư.
1.1.2 Tại Việt Nam:
Các nghiên cứu mô hình bệnh tật được áp dụng chủ yếu dựa trên cơ sởthống kê y học, số liệu quản lý, số bệnh nhân điều trị tại cơ sở y tế công cộng.Trong đó mô hình bệnh tật ở trẻ em được triển khai khá rộng rãi GS NguyễnThu Nhạn và cộng sự có nghiên cứu về thực trạng sức khỏe và mô hình bệnhtật của trẻ em Việt Nam [1]; một số đề tài của các bệnh viện trung ương: Bệnhviện Bạch Mai [3], Viện Nhi Trung ương [7], các nghiên cứu chỉ ra rằng cơbản mô hình bệnh tật nước ta vẫn là mô hình bệnh tật của nước đang pháttriển đứng hàng đầu vẫn là các bệnh nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính, bệnh tiêuchảy cấp và một số bệnh như viêm não, sốt xuất huyết Nghiên cứu ở 7 bệnhviện Nhi và 10 bệnh viện tỉnh cho thấy trẻ sơ sinh nhập viện chủ yếu do viêmphổi, đẻ non, vàng da, nhiễm khuẩn [6] Những năm gần đây mô hình bệnh tật
có sự thay đổi đáng kể các bệnh nhiễm khuẩn tuy tỷ lệ mắc cao nhưng xuhướng giảm, tỷ lệ năm 1996 là 37.63% năm 2000 là 32.11%, năm 2001 là25.02% [8], [9] Đặc biệt nhờ chương trình tiêm chủng mở rộng, đã thanhtoán được uốn ván rốn sơ sinh, bại liệt… tỷ lệ tử vong trẻ em nước ta giảmmột nửa so với thập kỷ trước Tỷ lệ tử vong trẻ dưới 1 tuổi và dưới 5 tuổi đãgiảm từ 3.5% và 4.2% năm 2001 xuống 1.78% và 2.7% năm 2005 Có sựkhác biệt về tỷ lệ tử vong tùy thuộc vào phân vùng kinh tế xã hội địa lý, liênquan tình hình chăm sóc trẻ em Trong khi đó tình trạng dinh dưỡng đã đượccải thiện song tỷ lệ suy dinh dưỡng còn cao trong khu vực Tỷ lệ suy dinhdưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi, cân nặng theo tuổi năm 2001 là 31.9%, 2005 là25.2%, tỷ lệ suy dinh dưỡng chiều cao so với tuổi giảm đáng kể tử 2001(34.8%) giảm 29.6% năm 2005 Bên cạnh đó, thừa cân béo phì đang có xuhướng gia tăng theo số liệu giám sát dinh dưỡng toàn quốc năm 2012 do Việndinh dưỡng công bố tỉ lệ trẻ thừa cân béo phì trong 10 năm từ 2000 - 2010 đã
Trang 8tăng 9 lần, trẻ em dưới 5 tuổi ở nông thôn là 3.8%, ở thành phố là 5.4% đặcbiệt là thành phố Hồ Chí Minh là trên 20% Do kinh tế xã hội, các biện phápchương trình y tế can thiệp ảnh hưởng đến mô hình bệnh tật với sự gia tăngcủa bệnh lý tai nạn thương tích, bệnh tim mạch, ung thư, dị tật bẩm sinh [6].Ngoài các mô hình trong bệnh viện thì cũng có nhiều đề tài nghiên cứutại cộng đồng góp phần làm bức tranh về mô hình bệnh tật trẻ em thêm phongphú như nghiên cứu của GS Nguyễn Thu Nhạn và cộng sự [1] hay nhữngnghiên cứu về tình hình trẻ em nông thôn tỉnh Nam Định [10], mô hình bệnhtật tại các bệnh viện đa khoa như Uông bí, trung tâm y tế Sóc Sơn [11]… Bêncạnh đó việc nghiên cứu gánh nặng bệnh tật cũng bước đầu được triển khaitheo Lê Cự Linh, Lê Vũ Anh nghiên cứu tại Chí Linh Hải Dương thì trẻ từ 0 -
4 tuổi có gánh nặng lớn nhất trong đó chu sinh chiếm tỷ lệ quan trọng, 5 - 14tuổi chấn thương đứng hàng đầu chiếm trên 70% gánh nặng bệnh tật [12]
1.2 Tổng quan về ICD-10
1.2.1 Lịch sử của phân loại bệnh tật [13], [14]
Thời cổ đại Aretec đưa ra cách phân loại bệnh tật dựa vào thời gian kéodài bệnh (cấp/mạn), diện lan rộng (địa phương/toàn cầu), vị trí (nội, ngoại).Đầu thế kỷ 19, phân loại bệnh tật được dùng nhiều nhất là của William Cullen(1710-1790) ở Edinburgh công bố năm 1789 dưới tiêu đề Synopsissociologiae methodocae
John Graunt là người đầu tiên nghiên cứu thống kê về bệnh tật với
“Niêm yết về tình hình tử vong của thành phố London” phân loại tử vong củatất cả trẻ khi sinh ra còn sống chết khi tròn 6 tuổi Năm 1837, William Farc(1807-1883) nỗ lực để có bảng phân loại tốt hơn từ bảng phân loại của Cullen,
sử dụng chung đồng nhất quốc tế
Năm 1855, Farc trình bày bảng phân loại nguyên nhân tử vong tại Hộinghị thống kê Quốc tế lần 2 tại Pari gồm 5 nhóm: bệnh dịch, bệnh nói chung,
Trang 9bệnh địa phương được bố trí theo vị trí cơ thể, bệnh tiến triển và bệnh lànguyên nhân trực tiếp của bạo động Song song với việc xây dựng ngày cànghoàn thiện danh sách nguyên nhân tử vong, bệnh tật thì phân loại bệnh tậtcũng được coi trọng Phân loại bệnh tật đầu tiên được chấp nhận năm 1990 vàliên tục được hiệu đính lần hiệu đính Trong quá trình phát triển, phân loại này
đã được đổi tên nhiều lần đến nay được gọi tên chính thức là Phân loại quốc
tế về bệnh tật và các vấn đề sức khỏe liên quan (International Classification ofDiseases gọi tắt là ICD)
1.2.2 Giới thiệu về ICD-10 [13], [14]
1.2.2.1 Cấu trúc của ICD-10
ICD – 10 được chia thành 21 chương:
Chương I : Bệnh nhiễm trùng và ký sinh trùng
Chương II : Bướu tân sinh
Chương III : Bệnh của máu, cơ quan tạo máu và các rối loạn liên quan đến
cơ chế miễn dịch
Chương IV : Bệnh nội tiết, dinh dưỡng, chuyển hóa
Chương V : Rối loạn tâm thần và hành vi
Chương VI : Bệnh hệ thần kinh
Chương VII : Bệnh mắt và phần phụ
Chương VIII : Bệnh tai và xương chũm
Chương IX : Bệnh tuần hoàn
Chương X : Bệnh hô hấp
Chương XI : Bệnh tiêu hóa
Chương XII : Bệnh da và mô dưới da
Chương XIII : Bệnh của hệ cơ xương khớp và mô liên kết
Chương XIV : Bệnh của hệ sinh dục – Tiết niệu
Trang 10 Chương XV : Thai nghén, sinh đẻ và hậu sản.
Chương XVI : Một số bệnh lý xuất phát trong thời kỳ chu sinh
Chương XVII : Dị tật bẩm sinh, biến dạng và bất thường về nhiễm sắc thể
Chương XVII : Các nguyên nhân ngoại sinh của bệnh và tử vong
Chương XXI : Các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng sức khỏe và tiếp xúc dịch
1.2.2.3 Cấu trúc một nhóm trong mỗi chương:
Trong mỗi nhóm bao gồm các bệnh:
Ví dụ: Thiếu máu dinh dưỡng:
- Thiếu máu do thiếu sắt
- Thiếu máu do thiếu Vitamin B12
- Thiếu máu do thiếu acid Folic
- Thiếu máu do dinh dưỡng khác
1.2.2.4 Cấu trúc một bệnh trong mỗi nhóm
Mỗi bệnh phân loại chi tiết theo nguyên nhân gây bệnh hay tính chất đặctrưng của bệnh đó
Ví dụ: Lỵ trực khuẩn (A03) được phân thành:
- Lỵ trực khuẩn do Shigella dysenteria (A03.0)
- Lỵ trực khuẩn do Shigella flexneri (A03.10)
- …
Trang 11- Nhiễm Shigella, không xác định và lỵ trực khuẩn KXĐK (A03.9).
Trang 121.2.2.5 Bộ mã ký tự
Gồm 25 chữ cái từ A đến Z, trừ chữ U không sử dụng
- Ký tự thứ nhất (chữ cái) mã hóa chương bệnh
- Ký tự thứ 2 (số thứ nhất) mã hóa nhóm bệnh
- Ký tự thứ 3 (số thứ hai) mã hóa tên bệnh
- Ký tự thứ 4 (số thứ ba) mã hóa một bệnh chi tiết theo nguyên nhân haytính chất đặc thù của bệnh
Giữa ký tự thứ 3 và 4 có 1 dấu thập phân (.)
1.3 Tổng quan các phương pháp điều trị bệnh ở trẻ em
1.3.1 Điều trị nội khoa [15]
a Không dùng thuốc:
- Chế độ ăn uống, sinh hoạt
- Các biện pháp vật lý trị liệu, ánh sáng trị liệu, điện trị liệu, thủy trị liệu,hoạt động trị liệu, ngôn ngữ trị liệu, liệu pháp tâm lý, vận động liệu pháp(xoa, nắn, thể dục điều trị…)
b Dùng thuốc:
Tùy theo triệu chứng, nguyên nhân, cơ chế bệnh sinh của bệnh mà cácthuốc được dùng phù hợp với từng bệnh nhân Có thể sử dụng các phươngpháp điều trị bằng:
- Thực vật liệu pháp: nhờ sự phát triển của hóa dược mà người ta chiết suất
được các tinh chất như alcaloit, glucozit… có tác dụng chữa bệnh trongcác loài thực vật
- Vắc xin liệu pháp: ở thời kỳ Pa-xto phương pháp dùng vi trùng để điều trị
bệnh do vi trùng mới ra đời Từ vi trùng gây bệnh người ta bào chế rathuốc để chữa bệnh đó ví dụ như tụ cầu vàng…
- Huyết thanh liệu pháp: lấy vi trùng tiêm cho con vật sau đó dùng huyết
thanh của con vật đó để điều trị bệnh
Trang 13- Hóa học liệu pháp: các thuốc được tổng hợp để đối phó với rất nhiều
bệnh, gần đây nhiều thuốc hóa học chống ung thư, virus đã được sử dụngrất công hiệu
- Kháng sinh liệu pháp: nhiều loại kháng sinh được lấy từ mốc, vi trùng
hoặc tổng hợp đã được sản xuất và sử dụng trong bệnh nhiễm vi sinh vật,ung thư
- Nội tiết liệu pháp: rất nhiều nội tiết tố được chiết xuất lấy từ hạch nội tiết
của súc vật (tuyến yên, insulin, estrogen…) hoặc tổng hợp (cortison…) đã
có tác dụng rõ rệt trong các bệnh nội tiết Hiện nay các corticoid đóng vaitrò quan trọng trong điều trị nhiều bệnh viêm nhiễm, dị ứng, dinh dưỡng…
- Các vitamin và enzym: nhờ tổng hợp được nên các vitamin hiện nay rẻ và
được sử dụng phổ biến hơn Các men tiêu hóa trong điều trị rối loạn tiêuhóa cũng được sử dụng rộng rãi
- Sinh vật liệu pháp: sử dụng những nhân tố sinh vật mà người ta chưa biết
rõ, có trong người bệnh nhân hoặc đưa từ ngoài vào để chữa bệnh Phươngpháp này chưa được xác định mức độ công hiệu nên chưa được chú ý pháttriển
- Truyền máu: được áp dụng từ lâu, ngoài cấp cứu ngoại khoa còn được
dùng để điều trị những bệnh thiếu máu cấp hay mạn
- Nước, điện giải: áp dụng nhiều trong hồi sức nội, ngoại khoa điều trị các
hiện tượng mất nước, điện giải, mất thăng bằng kiềm toan
- Cách cho thuốc: ngoài những đường sử dụng thuốc thông thường như:
uống, tiêm (trong da, dưới da, cơ, tĩnh mạch), nhét hậu môn, âm đạo còn
có những cách sử dụng thuốc đặc biệt như: phong bế thần kinh (Novocain,vitamin B12), khí dung, tiêm trong động mạch…
Trang 141.3.2 Điều trị ngoại khoa
Nhờ sự gây tê, gây mê và hồi sức, phẫu thuật đã phát triển rất mạnhtrong mọi lĩnh vực của y học Có thể nói về mặt kỹ thuật phẫu thuật đã đạtđến đỉnh cao nhất của khả năng y học
Từ phẫu thuật cắt bỏ một phần của nội tạng đến toàn bộ một nội tạng(thận, phổi, đến cắt bỏ nửa thận dưới) phẫu thuật đã giải quyết được các ulành tính, ác tính, những tổn thương không thể giữ được Dần dần, phẫu thuật
đã nghĩ đến tác dụng cơ năng sửa đổi chỉnh hình nhằm bảo tồn tới mức tối đa.Hiện nay chiều hướng phẫu thuật là lắp ráp, thay ghép bắt đầu từ một bộ phậncủa một cơ quan ( động mạch, van tim, da, xương…) đến thay thế hẳn mộtnội tạng bằng một nội tạng khác của bệnh nhân hoặc của người khác
1.4 Tổng quan phân loại các chứng bệnh nhi theo YHCT
Nhi khoa y học cổ truyền là môn y học lâm sàng chuyên nghiên cứu vềdinh dưỡng, điều trị và phòng bệnh ở trẻ em Nhi khoa là một bộ phận khôngthể tách rời trong YHCT phương Đông, được phát triển trên cơ sở Nội khoaYHCT Bên cạnh đó, YHCT có cả một hệ thống lý luận được hoàn chỉnh dầnqua các thời đại về dinh dưỡng, điều trị và phòng bệnh ở trẻ em Như vậy, Nhikhoa có phạm vi ứng dụng vô cùng rộng rãi toàn bộ hệ thống lý luận ÂmDương, Ngũ hành, tứ chẩn, bát cương cùng chỉ đạo chung cho lâm sàng nhikhoa Tuy nhiên, trẻ em là một cơ thể đang lớn có nhiều đặc điểm sinh lý,bệnh lý riêng rất khác người lớn, không nên nhìn nhận một cách đơn giảnrằng “trẻ em là người lớn thu nhỏ lại” sự khác biệt này thể hiện ở nhiều mặtnhư nguyên nhân gây bệnh, khám bệnh, chẩn đoán bệnh, trong đó các chứnghay gặp trên bệnh nhi cũng có sự khác biệt Các chứng thường gặp ở bệnh nhinhư:
- Ngũ trì: Theo Tuệ Tĩnh và Hải Thượng Lãn Ông “Năm chứng chậm” gồm
chậm biết đứng, chậm biết đi, chậm mọc tóc, chậm mọc răng và chậm biết
Trang 15nói Đây phần nhiều là chứng thận khí hư nhược [16], [17] Sách Y TôngTâm Giám, mục “Ấu khoa tâm pháp” viết chứng “Ngũ trì” ở trẻ emnguyên nhân phần nhiều do khí huyết của cha mẹ hư yếu, tiên thiên sútkém, đến nỗi sinh ra gân xương mềm yếu, đi lại khó khăn, răng mọc chậm,ngồi không vững … chủ yếu do thận khí không đầy đủ [16] Thận là gốccủa tiên thiên, là cội nguồn sinh trưởng phát dục, thận khí hư yếu nguồnsinh hóa ra thận tinh bất túc, dẫn đến cơ năng tạng phủ toàn thâm phát sinhbệnh biến Thận tàng tinh sinh tủy, tủy ở trong xương nuôi dưỡng cáckhớp, thận khí hư yếu không còn nguồn sinh hóa cho cốt tủy, làm choxương trẻ mềm yếu, lưng gối không mạnh, chân mềm rũ không đi đứngđược, thận hư não tủy bất túc, trí khôn kém, tư duy đần độn…
- Ngũ nhuyễn: Hải Thượng Lãn Ông trong tác phẩm Y Tông Tâm Lĩnh đã
phân tích nguyên nhân và cơ chế bệnh như sau: Năm chứng nhuyễn (ngũnhuyễn) gồm: “đầu cổ mềm yếu nghẹo, không ngẩng lên được, miệng xệ,nhai kém, tay chân mềm rũ không cầm nắm được, chân mềm yếu khôngđứng được, người mềm, cơ nhục mềm nhẽo, gầy róc” Theo ông, đầu cổmềm là đầu không đứng ngay được, cổ oặt nghiêng vì can chủ cân, thậnchủ cốt tủy, can thận hư mà sinh bệnh; tay chân mềm là tứ chi không cósức mà tay buông xuôi, nhác cầm nắm đồ vật, chân mềm nhỏ xíu, bốn nămtuổi mà không đi được, mình mềm là dương hư tủy kém, khí lục dâm dễxâm nhập vào; miệng mềm lưỡi thè ra khỏi miệng là vì lúc mang thai bỗng
có kinh sợ xâm vào tâm bào lạc làm cơ lưỡi không mạnh; da thịt mềm, dathịt không phát triển, ăn uống không bồi bổ gì cho da thịt Từ đó, HảiThượng cho rằng để điều trị chứng ngũ nhuyễn là phải bổ can, thận, tỳ
- Nuy chứng [18]: là loại bệnh gân mạch ở tay chân mình mẩy chùng ra,
mềm yếu, không có lực, vì không vận động được như ý lâu ngày làm cơnhục mềm co lại (súc) Nuy là tay chân liệt yếu, tý là chân mềm yếu không
có sức đi được nên gọi là nuy tý Có nhiều nguyên nhân gây ra bệnh: phế
Trang 16nhiệt hại tâm, thấp nhiệt lâu ngày, tỳ bị hư suy tinh vi không phân bố, canthận suy tổn tủy khô gân liệt Chứng nuy phần nhiều thuộc về ngũ tạng bịtổn thương, tinh huyết bị hao, âm hư hỏa vượng, nói chung chứng nhiệtchứng hư là nhiều có khi hư thực lẫn lộn, chứng thực chứng hàn tương đối
ít Về cách chữa bệnh, sách Tố Vấn đã nói “Chữa bệnh nuy chỉ theo dươngminh “Trị nuy độc thủ dương minh”, chỉ theo dương minh mà lấy bổ íchhậu thiên làm nguyên tắc” Dương minh là bể của ngũ tạng lục phủ, chủnhuận tôn cân, tôn cân chủ việc buộc xương mà lưu lợi các khớp Theo sựchỉ dẫn của Nội kinh chữa bệnh nuy chỉ theo dương minh là cách chữaquan trọng: bổ tỳ vị, thanh vị hỏa, trừ thấp nhiệt tư dưỡng cho ngũ tạng
- Di chứng ôn bệnh [6]: bệnh thường phát vào mùa hè nên còn thuộc thử
ôn Đó là thứ nhiệt cực thịnh, gây sốt cao tổn thương tân dịch mạnh Bệnhdiễn biến nhanh qua phần vệ khí, vào phần huyết làm can huyết hư sinhphong gây co giật, gọi là thử phong hay thử kinh Nhiệt nhập tâm bào, bếtâm khiếu, sinh hôn mê Nhiệt cực sinh hàn, chân tay giá lạnh, tuy thânmình vẫn nóng gọi là thử quyết Trường hợp nặng, ở giai đoạn huyết kéodài, thử làm tân dịch và khí bị hại nặng, cô thấp thành đàm, tắc trở kinh lạc
và đường thanh khí, nếu sống sót sẽ để lại nhiều di chứng thần kinh tâmtrí, giai đoạn sau của ôn bệnh sử dụng châm cứu và xoa bóp là nhữngphương pháp được khẳng định có hiệu quả rõ rệt nhất là giai đoạn trẻ rốiloạn ý thức, phải phục hồi chức năng thụ động
- Chứng cam: Trẻ em thể chất non yếu, tỳ vốn bất túc do ăn uống thất
thường nhiều đồ béo ngọt sống lạnh khó tiêu, ốm đau kéo dài, bẩm thụ yếu
ớt đẻ non… làm công năng tỳ vị rối loạn, thức ăn không tiêu, tích trệ lạithành chứng cam Bụng trướng to, người gầy róc, trí lực thể lực suy giảm,chậm phát triển, có thể kèm theo tả lỵ
- Khẩu nhãn oa tà: Thuộc phạm vi chứng trúng phong kinh lạc của YHCT.
Bệnh do phong hàn, phong nhiệt, huyết ứ ở kinh lạc đặc biệt là các kinh
Trang 17dương ở mặt làm cho kinh lạc bị bế tắc, khí huyết không lưu thông khiếnmặt lệch, miệng méo về bên lành, mắt bên liệt nhắm không kín, khó thổilửa, huýt sáo, thức ăn đọng lại má bên liệt, nhân trung lệch về bên lành,rãnh mũi má bên liệt mờ hoặc mất…
- Kinh phong: thường gặp ở trẻ dưới 3 tuổi với triệu chứng điển hình là co
giật nhiều lần, lơ mơ Trẻ em khí huyết chưa mạnh, thần khí chưa đủ ngoàigặp phải phong tà, kinh sợ, trong vì ăn uống tích trệ, thường dễ phát sinhchứng này Chứng kinh phong biến hóa rất nhanh, chia làm 2 loại là cấpkinh phong và mạn kinh phong Co giật xuất hiện trong cả cấp và mạnkinh phong nhưng độ mạnh yếu khác nhau Hễ bệnh phát nhanh chóng,thuộc dương thực nhiệt là cấp kinh phong; bệnh lâu ngày, bên trong đãthành hư, hình thành chứng bất túc, thuộc âm hư hàn là mạn kinh phong.Bệnh ở can cũng có thể ở tâm, phế, thận, tỳ Trong điều trị nếu cấp kinhphong cần phải cắt cơn co giật trước thì ở mạn kinh phong cần trị vào gốcbệnh bồi bổ nguyên khí gấp
1.5 Tổng quan các phương pháp điều trị bệnh nhi theo YHCT 1.5.1 Nguyên tắc điều trị điều trị bệnh [6], [19]
Điều trị bệnh nhi đã được Tuệ Tĩnh đề cập đến trong các tác phẩm củamình ở thế kỷ XVI Tập hợp những thành tựu của các y gia trước, chủ yếudựa trên cơ sở “Y phương ca quát” của Trần Ngô Thiêm (1947), Viện Thái y,triều Hậu Lê (1948-1788) đã biên soạn “Y học nhập môn ca” dùng cổphương điều trị các bệnh nội, ngoại, sản, nhi, thương khoa Đại danh y HảiThượng Lãn Ông viết bộ sách “Hải Thượng Y tông tâm lĩnh’’, gồm 22 tập, 66quyển hướng dẫn tương đối toàn diện Ngoài ra, Hải Thượng còn có quyển
“Ấu ấu tu tri” nói về cách chữa bệnh và nuôi dưỡng trẻ em Điều trị bệnh trẻ
em vừa dễ lại vừa khó Nói khó vì khó biện chứng, nói dễ là dễ điều trị Nếubiện chứng không rõ, sẽ thành khó điểu trị Ngược lại, nếu đã biện chứng
Trang 18được thì điều trị ở trẻ lại có đáp ứng rất nhanh nhạy cho kết quả tốt Khi điềutrị cho bệnh nhi cần chú ý các nguyên tắc sau [20]:
- Nắm vững nguyên nhân gây bệnh: chính là nguyên tắc “trị bệnh tất cầu kỳbản”, mới chọn đúng được phép chữa, dùng thuốc đúng và đạt hiệu quảtốt
- Phải thông thạo cấp cứu và chữa triệu chứng: tức là “cấp trị tiêu, hoãn trịbản” cơ thể trẻ em còn non yếu bệnh biến chuyển nhanh, dễ dẫn tới nguykịch Phải thông thạo cấp cứu chữa triệu chứng bằng YHHĐ cũng nhưYHCT kịp thời giữ được tính mạng trẻ khi bệnh nguy kịch Hoặc vừa chữatriệu chứng, vừa chữa nguyên nhân đó là “tiêu bản kiêm trị”
- Chữa bệnh đồng thời nâng cao sức chống đỡ của cơ thể “phù chính khutà” Theo YHCT, khi mắc bệnh là do bệnh tà xâm nhập, nhân khi chính khí
cơ thể suy yếu hoặc sơ hở Nên khi điều trị, ngoài dùng thuốc đuổi bệnh tà,còn cần dùng thuốc nâng cao sức khỏe toàn diện
- Kết hợp YHCT và YHHĐ trong điều trị bệnh YHHĐ điều trị cấp cứu rấthiệu quả trong lâm sàng phải tận dụng ưu thế này
- Điều trị cần kịp thời, dùng thuốc phải thận trọng
1.5.2 Không dùng thuốc
Phương pháp Châm cứu [21]:
Là một trong những phương pháp chữa bệnh độc đáo của nền YHCTphương Đông, là tên gọi chung của 2 phương pháp châm và cứu được nhiềunước trên thế giới áp dụng điều trị điển hình là Trung Quốc Riêng tại ViệtNam Châm cứu được coi là phương pháp phòng và chữa bệnh hiệu quả được
áp dụng từ thời xưa, được nhắc nhiều đến trong các tác phẩm “Y tông tâmlĩnh”, “Nam dược thần hiệu” của Tuệ Tĩnh, Hải Thượng Lãn Ông Châm cứutruyền thống có thể châm, hào châm, trên cơ sở thừa kế phương pháp châmcứu hiện đại, quá trình chữa bệnh, các nhà thực hành đã sáng tạo ra nhiều
Trang 19phương pháp mới như: đầu châm, diện châm, nhĩ châm, tỵ châm, thủ châm,túc châm Một số kỹ thuật châm mới:
Điện châm:
Là phương pháp chữa bệnh phối hợp tác dụng của châm cứu (YHCT) vớiphương pháp chữa bệnh của dòng điện (YHHĐ) qua máy điện châm (là loạimáy phát ra dòng điện 1 chiều hoặc dòng điện xung, có nhiều đầu kích thích,tính năng ổn định an toàn, điều chỉnh thao tác dễ dàng, tác dụng làm dịu đau,
ức chế cơn đau điển hình, kích thích hoạt động các cơ, tăng cường dinhdưỡng, giảm xung huyết phù nề tại chỗ
Phác đồ huyệt và kỹ thuật châm được khuyến cáo tại các cuộc “Hội thảotoàn quốc về châm cứu” [22] được áp dụng cụ thể tùy theo từng trường hợp:
- Liệt chi trên: Kiên tỉnh, Kiên ngung, Khúc trì, Xích trạch, Hợp cốc, Laocung, Bát tà
- Liệt chi dưới: Hoàn khiêu, Âm lăng tuyền, Dương lăng tuyền, Ủy trung,Độc tỵ, Thừa sơn, Giải khê, Bát phong
- Liệt cổ và lưng: Phong trì, Giáp tích (C3-C7, L1-S5), Đại chùy, Mệnhmôn, Dương quan…
- Nói khó : Á môn, Nhĩ môn, Liêm tuyền, Thiên đột, Phế du
- Điếc: Nhĩ môn, Thính cung, Thính hội, Ế phong, Ngoại quan, Chi câu
- Mù: Thái dương- Đồng tử liêu, Quang minh, Thái xung
- Rối loạn tâm thần : Bách hội, Nội quan, Thần môn, An miên
Thủy châm :
Là phương pháp phối hợp tác dụng chữa bệnh của châm cứu (YHCT)với tác dụng chữa bệnh của thuốc tiêm (YHHĐ) Các loại thuốc được dùngthủy châm: các thuốc tăng cường dinh dưỡng thần kinh (vitamin B, Becozym,Ginko biloba ), các thuốc có tác dụng giảm đau giảm tiết (Nonsteroid )
Cấy chỉ:
Trang 20Là phương pháp chữa bệnh, phục hồi chức năng độc đáo, là thành quảcủa sự kết hợp hai nền y học, có xuất xứ từ Trung Quốc và đã được nghiêncứu, ứng dụng tại Việt Nam từ những năm của thập kỷ 70 thế kỷ trước Cấychỉ là một trong những hình thức tác động vào huyệt đạo như thủy châm, từchâm, laser châm, gồm chôn chỉ, vùi chỉ, xuyên chỉ, thắt buộc chỉ Theo tiếngAnh, cấy chỉ có tên gọi là catgut embedding therapy, trong đó embedding cónghĩa là chôn, vùi, cấy Catgut là một loại chỉ dùng trong phẫu thuật, có khảnăng tự tiêu sau một thời gian nhất định Chính vì vậy, sự tồn lưu của catguttại huyệt đạo trong một thời gian nhất định đã phát huy vai trò kích thíchhuyệt đạo nhằm tạo được sự cân bằng âm dương, điều chỉnh chức năng tạngphủ, hành khí hoạt huyết, khai uất trệ, chỉ thống (giảm đau)… Theo y họchiện đại, cũng như châm cứu, cấy chỉ cũng có tác dụng kích thích theo cơ chếthần kinh thể dịch Một số nghiên cứu cho thấy rằng cấy chỉ có tác dụng giảmđau, an thần, điều hòa thể dịch, giãn nở mạch máu, kích thích tái tạo thầnkinh, điều hòa trương lực cơ … [23]
Năm 1975, GS Nguyễn Tài Thu đã có công rất lớn trong nghiên cứu và
áp dụng điều trị có kết quả một số bệnh đặc biệt là hen phế quản bằng cấydụng chỉ Từ năm 1982, viện Châm cứu trung ương đã thực hiện cấy chỉ chohàng loạt bệnh nhân điều trị nội trú tại bệnh viện, điền hình là trẻ em bị bạiliệt
Ngoài ra mai hoa châm, laser châm, từ châm, châm tê cũng là nhữngphương pháp điều trị được áp dụng
Phương pháp xoa bóp:
Là phương pháp người làm xoa bóp dùng đôi tay của mình để thực hiệnmột số động tác xoa bóp nhằm làm dịu cơn đau, mỏi mệt… cho người bệnh.Xoa bóp ở nước ta được áp dụng từ lâu đời, từ thời Hồng Bàng dựng nướcđến thời Tuệ Tĩnh trong cuốn Hồng nghĩa giác tư y thư hay trong Vệ sinh yếu
Trang 21quyết của Hải Thượng Lãn Ông, đến năm 1962 do Bác sĩ Hoàng Bảo Châuphụ trách chuyên điều trị các bệnh như: đau thần kinh tọa, viêm quanh khớpvai, di chứng bại liệt, viêm gân, suy nhược thần kinh Hiện nay, xoa bóp gồm
3 loại hình: xoa bóp điều trị 1 số chứng bệnh (cấp và mạn tính), xoa bóp thẩm
mĩ (làm đẹp da, giảm béo…), xoa bóp để phòng một số bệnh và nâng cao sứckhỏe Với các thủ thuật: xoa, xát, day, ấn, miết, phân, hợp, véo, bấm, điểm,bóp, đấm, chặt, lăn, phát, rung, vê, vờn, vận động
1.5.3 Dùng thuốc
Trong quá trình hình thành và phát triển YHCT Việt Nam việc dùngthuốc là phương pháp chữa bệnh quan trọng, ngay từ thời kỳ phong kiến kinhnghiệm chữa bệnh được tổng kết lại, dần xây dựng mối quan hệ điều trị với lýluận và kinh nghiệm sử dụng thuốc Ở nước ta, nổi bật lên là Danh y Tuệ Tĩnhcuối đời Trần được suy tôn là “Vị thánh thuốc nam” với “Hồng nghĩa giác tư
y thư” và “Nam dược thần hiệu”, kế thừa Tuệ Tĩnh là Danh y Lê Hữu Trác với
bộ “Hải thượng y tông tâm lĩnh” Ngày nay, những bài thuốc được nghiên cứu
và ứng dụng mạnh mẽ trên lâm sàng tạo ra nhiều chế phẩm, các dạng thuốckhác nhau như: thuốc sắc, thuốc tán, thuốc hoàn, cao thuốc, rượu thuốc, thuốcđan, chè thuốc, cốm thuốc, siro thuốc, thuốc viên, thuốc mỡ, cao dán… cóthể được dùng bằng cách uống hay dùng ngoài
Đối với trẻ em thể chất còn non yếu, “trĩ âm, trĩ dương”, tạng phủ chưavững chắc, dùng thuốc phải đúng quy định, liều lượng phải thận trọng Những
vị thuốc quá hàn, quá nhiệt, quá cay, có độc, công phạt mạnh, lúc sử dụngcàng phải thận trọng Cổ nhân nói “thuốc đắng lạnh thường làm tổn thươngsinh khí, thuốc cay nóng làm hao tổn chân âm Thuốc công phạt quá mạnhlàm hại tỳ vị, hao kiệt chân nguyên” Với trẻ em, dạng thuốc sử dụng nên tinh
tế, dạng bào chế dễ uống, dùng với lượng ít nhưng hiệu quả Cho trẻ uốngthuốc tương đối khó khăn khi điều trị nên tìm những bài thuốc liều lượng ít,
Trang 22công hiệu cao Cổ nhân ngoài dạng thuốc thang, còn dùng các thuốc hoàn,cốm dễ cho trẻ sử dụng, thích hợp với đặc điểm bệnh trẻ em dễ phát độtngột, diễn biến nhanh chóng.
1.6 Vài nét về bệnh viện Châm cứu Trung ương
Bệnh viện Châm cứu Trung ương được thành lập 24/4/1982 là 1 bệnhviện chuyên khoa hạng 1 trực thuộc Bộ Y tế, được sự đầu tư của Nhà nước,
Bộ Y tế cùng sự giúp đỡ của các tổ chức, sự đóng góp nỗ lực của tập thể cán
bộ viên chức qua nhiều thế hệ, trải qua thời gian dài xây dựng và phát triểnđền nay bệnh viện có một cơ sở vật chất hoàn chỉnh cùng với độ ngũ cán bộvững mạnh về chuyên môn, có quan hệ hợp tác với 38 nước trên thế giới vềlĩnh vực châm cứu và xoa bóp bấm huyệt
Hiện bệnh viện có 19 khoa phòng và các trung tâm trực thuộc bệnh viện:trung tâm Nghiên cứu châm cứu điều trị và hỗ trợ cai nghiện, trung tâm Đàotạo và chỉ đạo tuyến, trung tâm Hợp tác quốc tế, trung tâm chống đau và trungtâm Xoa bóp Bấm huyệt Hương sen, trung tâm ứng dụng Công nghệ Y Họcmới, trung tâm kỹ thuật cao Châm Cứu Việt (gồm 12 đơn vị) Bệnh viện tiếpnhận các bệnh nhân thể bệnh khó chữa như: liệt nửa người do tai biến mạchmáu não ở người lớn, liệt do di chứng viêm não ở trẻ em, liệt mặt, giảm hoặcmất thị lực, câm điếc thứ phát, các loại liệt thần kinh, các chứng đau… Hàngngày tiếp nhận mổ các loại phẫu thuật bằng châm tê là một y thuật độc đáocủa phương Đông nhằm giảm thuốc gây mê gây tê độc hại cho cơ thể, sớmphục hồi sức khỏe
Khoa Nhi là khoa lâm sàng điều trị các bệnh cho trẻ em dưới 15 tuổi, làmột khoa trọng điểm của bệnh viện được thành lập từ năm 1982 Trong khámbệnh, chữa bệnh có sự kết hợp chặt chẽ giữa lâm sàng, kết quả cận lâm sàng,kiến thức chuyên khoa sâu Khoa Nhi được bố trí theo đơn nguyên, thiết kếriêng phù hợp với đăc điểm sinh lý bệnh và tâm sinh lý của từng lứa tuổi Qua
Trang 23thời gian dài xây dựng đến nay khoa có đội ngũ chuyên môn cao, có thế mạnhđiều trị về các mặt bệnh như: Di chứng viêm não (liệt nửa người, tứ chi, thấtngôn), Bại não (liệt tứ chi, liệt 2 chi dưới, chậm phát triển ngôn ngữ, trí tuệ,chậm nói, giảm thính lực, thị lực…), liệt VII ngoại biên, tự kỷ… Hàng năm,khoa tiếp nhận điều trị một số lượng lớn bệnh nhân, đáp ứng được nhu cầukhám chữa bệnh, nâng cao được chất lượng điều trị, đến tháng 7/2012 khoatách ra đơn vị châm cứu điều trị và chăm sóc đặc biệt cho trẻ tự kỷ mang tínhchất chuyên nghiệp rút ngắn thời gian điều trị Khoa Nhi tiếp tục hoạt độngphát huy thế mạnh hơn nữa trong chăm sóc, điều trị bệnh.
Trang 24Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Địa điểm nghiên cứu.
Khoa Nhi - Bệnh viện Châm cứu Trung ương
2.1.2 Thời gian nghiên cứu
Từ 1/9/2013 đến 20/5/2014
2.1.3 Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh án
Tất cả hồ sơ bệnh án của bệnh nhân điều trị nội trú tại khoaNhi, Bệnh viện Châm cứu Trung ương ra viện trong thời gian từ1/1/2011 đến hết 31/12/2012
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu hồi cứu mô tả cắt ngang
2.2.2 Cách thức tiến hành
- Nghiên cứu hồi cứu tất cả bệnh án ra viện của bệnh nhân điều trị nội trútại khoa Nhi, Bệnh viện Châm cứu Trung ương từ 1/1/2011 đến hết31/12/2012
- Số liệu được thu thập tại Phòng Kế hoạch tổng hợp của bệnh viện
2.2.3 Công cụ nghiên cứu
- Mẫu bệnh án Nhi khoa do Bộ Y tế ban hành
- Thông tin về mỗi bệnh nhân được thu thập theo phiếu nghiên cứu có sẵn
- Chẩn đoán dựa trên bảng phân loại quốc tế bệnh tật lần thứ 10 do Bộ Y tếbiên dịch và dựa theo chứng trạng, chứng hậu, bệnh danh của YHCT
- Phần mềm xử lý số liệu SPSS 16.0
Trang 252.2.4 Các chỉ số nghiên cứu
- Tuổi: Căn cứ ngày tháng năm sinh và ngày tháng năm nhập viện
- Giới: Nam và Nữ
- Địa chỉ:
Khu vực 1: Các tỉnh miền núi, vùng sâu vùng xa, hải đảo
Khu vực 2: Thị xã, thành phố các tỉnh không trực thuộc trung ương
Khu vực 3: Các huyện quận thuộc thành phố trực thuộc trung ương
Khu vực 4: Huyện, xã vùng nông thôn
- Chẩn đoán ra viện theo YHHĐ, YHCT
- Tình trạng ra viện
Khỏi, đỡ, không thay đổi, nặng thêm, tử vong
Xuất viện, xin về, bỏ về
2.3 Đạo đức nghiên cứu
- Đề tài này nghiên cứu hoàn toàn nhằm mục đích khoa học, không vì mụcđích gì khác
- Trung thực với các số liệu thu thập được, tính toán đảm bảo chính xác
- Không làm hư hỏng hay thất lạc bệnh án, hoàn trả lại phòng lưu trữ sau khithu thập số liệu
Trang 26Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Mô hình bệnh tật tại viện Châm cứu Trung ương
3.1.1 Phân bố bệnh nhân theo tuổi.
Bảng 3.1: Phân bố BN theo tuổi
Trang 273.1.2 Phân bố bệnh nhân theo giới.
Nhìn vào biểu đồ 3.1 ta thấy trong từng năm số bệnh nhân nam cao hơn
số bệnh nhân nữ Năm 2011 tỷ lệ nam/nữ khoảng 1.7, tỷ lệ này ở năm 2012 là2.2
Trang 283.1.3 Số lượng bệnh nhân diễn biến trong năm