Để xây dựng được một hệ thống văn bản pháp lý quản lý giáo dục hiệu quả, đặc biệt đối với loại hình cơ sở giáo dục tư thục thì các nhà làm luật cần phải tham khảo, học tập từ hệ thống ph
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN KIM DUNG
PH¸P LUËT VÒ M¤ H×NH C¥ Së GI¸O DôC T¦ THôC CñA MéT Sè N¦íC §¤NG NAM ¸ Vµ NH÷NG KIÕN NGHÞ VíI VIÖT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN KIM DUNG
PH¸P LUËT VÒ M¤ H×NH C¥ Së GI¸O DôC T¦ THôC CñA MéT Sè N¦íC §¤NG NAM ¸ Vµ NH÷NG KIÕN NGHÞ VíI VIÖT NAM
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 8380101.05
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS LÊ THỊ THU THỦY
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Nguyễn Kim Dung
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ MÔ HÌNH CƠ SỞ GIÁO DỤC TƯ THỤC VÀ PHÁP LUẬT VỀ MÔ HÌNH CƠ SỞ GIÁO DỤC TƯ THỤC 13
1.1 Khái niệm, đặc điểm cơ sở giáo dục tư thục 13
1.2 Mô hình cơ sở giáo dục tư thục 15
1.3 Khái quát pháp luật về mô hình cơ sở giáo dục tư thục 16
1.3.1 Khái niệm, đặc điểm của pháp luật về mô hình cơ sở giáo dục tư thục 16
1.3.2 Nội dung của pháp luật về mô hình cơ sở giáo dục tư thục 17
Kết luận chương 1 21
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ MÔ HÌNH CƠ SỞ GIÁO DỤC TƯ THỤC CỦA MỘT SỐ NƯỚC ĐÔNG NAM Á VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM 22
2.1 Thực trạng pháp luật về giáo dục tư thục của Singapore 22
2.2 Thực trạng pháp luật về giáo dục tư thục của Malaysia 34
2.3 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam từ mô hình cơ sở giáo dục tư thục ở các nước Đông Nam Á 42
Kết luận chương 2 44
CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ MÔ HÌNH CƠ SỞ GIÁO DỤC TƯ THỤC 45
Trang 53.1 Thực trạng pháp luật về mô hình cơ sở giáo dục tư thục tại
Việt Nam 45
3.2 Định hướng và kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt nam về mô hình cơ sở giáo dục tư thục 70
3.2.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật Việt nam về mô hình cơ sở giáo dục tư thục 70
3.2.2 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt nam về mô hình cơ sở giáo dục tư thục 71
Kết luận chương 3 75
KẾT LUẬN 77
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong xu hướng toàn cầu hoá và hội nhập, việc thúc đẩy đầu tư trong mọi lĩnh vực, đặc biệt đầu tư trong lĩnh vực giáo dục đã và đang được Chính phủ quan tâm Nhiều chính sách mới cần được ban hành để thu hút đầu tư nước ngoài cũng như phù hợp với tốc độ phát triển của nền kinh tế Các văn bản pháp luật ban hành trước đây như Luật Giáo dục 2005 và Luật Giáo dục Đại học 2012 dường như đã không còn phù hợp Các quy định trong luật này như loại hình cơ sở giáo dục tư thục, cơ sở giáo dục có vốn đầu tư nước ngoài, vấn đề nguồn vốn chưa được định danh rõ ràng cũng như chưa có các quy định về phân quyền quản trị tài chính, tài sản với quản trị giáo dục Trong khi đó, với tốc độ phát triển của nền kinh tế và nhu cầu của đông đảo người dân, các cơ sở giáo dục tư thục có vốn đầu tư trong nước và cơ sở giáo dục có vốn đầu tư nước ngoài đã và đang xuất hiện ngày càng nhiều, tạo nên xu thế
du học tại chỗ Nhưng các mô hình cơ sở giáo dục tư thục phát triển theo hình thức tự phát, chưa có mô hình chuẩn của một cơ sở giáo dục tư thục để định danh phần tài sản góp vốn, chưa quy định rõ quyền và nghĩa vụ của nhà đầu
tư, quyền và trách nhiệm của hội đồng trường, mối quan hệ giữa nhà đầu tư
và hội đồng trường để điều chỉnh các hoạt động giáo dục
Nhìn ra các nước trên thế giới, đặc biệt là hệ thống giáo dục tư thục
ở Singapore, Malaysia, họ có một hệ thống các văn bản pháp lý để điều chỉnh việc thành lập, quản trị và hoạt động của cơ sở giáo dục tư thục Các văn bản pháp lý này có những quy định cụ thể để hướng dẫn nhà đầu tư muốn đầu tư vào lĩnh vực giáo dục là phải thành lập một pháp nhân công ty
để pháp nhân này là chủ sở hữu của cơ sở giáo dục tư thục Pháp nhân công
ty này phải tuân theo các quy định của pháp luật về đầu tư kinh doanh Sau khi pháp nhân công ty được thành lập thì pháp nhân này sẽ chịu trách
Trang 7nhiệm tuân thủ các quy định về giáo dục khi thành lập, quản trị và vận hành cơ sở giáo dục tư thục
Vậy, pháp luật về mô hình cơ sở giáo dục tư thục nào hiệu quả để Việt nam có thể học tập để điều chỉnh, định hướng và quản lý các cơ sở giáo dục tư thục tại Việt nam nhằm tránh các tranh chấp về vốn đầu tư, tài sản góp vốn, đảm bảo chất lượng đào tạo đồng thời phù hợp với điều kiện thực tế của Việt nam ?
Để xây dựng được một hệ thống văn bản pháp lý quản lý giáo dục hiệu quả, đặc biệt đối với loại hình cơ sở giáo dục tư thục thì các nhà làm luật cần phải tham khảo, học tập từ hệ thống pháp luật về giáo dục ở các
nước khác như Singapore, Malaysia, đặc biệt các quy định về thành lập, quản trị và hoạt động của các cơ sở giáo dục tƣ thục hay còn gọi là cơ
sở giáo dục ngoài công lập
Trong những năm gần đây khi mà nền kinh tế phát triển, nhu cầu học tập ngày càng nâng cao, nhiều cha mẹ học sinh tìm đến các trường tư thục với mong muốn con em mình được hưởng một chế độ giáo dục năng động, hiện đại, đồng thời có cơ hội được học các chương trình quốc tế mà các trường tư thục được cấp phép giảng dạy Nhiều trường tư thục có vốn đầu tư trong nước
và cả vốn đầu tư nước ngoài được thành lập Ngoài khía cạch tích cực là khối trường tư thục đã đóng góp rất lớn vào hệ thống giáo dục quốc dân, giảm thiểu gánh nặng cho các trường công lập, giảm số học sinh du học nước ngoài, thì những bất cập, những tranh chấp đến từ mô hình tư thục bắt đầu lộ diện và có một sự ảnh hưởng không nhỏ tới học sinh Vấn đề quản lý nhà nước được đặt ra là phải quản lý hoạt động của khối trường tư thục sao cho vừa đảm bảo phát triển và vừa đảm bảo quản lý nhà nước Không để cho quản
lý nhà nước trở thành rào cản đầu tư Vướng mắc đầu tiên xuất phát từ việc
mô hình trường tư thục là một loại hình kinh doanh giáo dục (Trong Hiệp
định chung về Thương mại Dịch vụ (GATS - General Agreement on Trade in
Trang 8Services) mà Việt Nam đã ký kết khi tham gia vào Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) cũng đã xếp giáo dục và đào tạo vào lĩnh vực dịch vụ), nhưng các
vấn đề liên quan đến đầu tư kinh doanh trong giáo dục chưa được quy định đủ trong các văn bản pháp lý điều chỉnh các hoạt động này Các quy định pháp lý điều chỉnh hoạt động giáo dục tư thục vẫn còn sơ sài và chưa bao phủ hết các hoạt động thực tiễn Chính vì vậy, dẫn tới sự lách luật, lạm dụng luật hoặc có một số hoạt động vì chưa có khung pháp lý nên không thể điều chỉnh các hoạt động này Nổi cộm trong các tranh chấp phát sinh từ việc chưa có đủ khung pháp lý điều chỉnh là các tranh chấp về quyền điều hành nhà trường, mối liên
hệ giữa quyền sở hữu vốn của nhà đầu tư và quyền quản trị nhà trường Đây
là loại hình kinh doanh có điều kiện nhưng vốn của nhà đầu tư không được định danh bằng một văn bản pháp lý có xác nhận của cơ quan nhà nước như các hoạt động đầu tư kinh doanh khác Toàn bộ các quy định hiện hành quy định đầu tư vào giáo dục tư thục chỉ đề cập đến vốn góp của nhà đầu tư tư nhân mà không có quy định việc định danh nguồn vốn, việc biểu quyết của nhà đầu tư trường tư thục theo tỷ lệ vốn góp được áp dụng theo hình thức công ty TNHH hay công ty cổ phần? Trong toàn bộ hệ thống văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động giáo dục tư thục đều không có bất kỳ điều khoản nào quy định về việc đầu tư vào giáo dục, mô hình đầu tư vào giáo dục của nhà đầu tư tư nhân hay còn gọi là giáo dục tư thục là loại mô hình nào, vậy vấn đề cấp thiết đặt ra là phải bổ sung, xây dựng các văn bản pháp lý để điều
chỉnh các hoạt động này
Luật giáo dục 2019 được Quốc hội thông qua ngày 14/6/2019 và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Giáo dục Đại học 2018 đã được Quốc hội thông qua ngày 28/11/2018 Trong luật mới này, đã có những sửa đổi, bổ sung tạo nên hành lang pháp lý để quản lý hoạt động giáo dục tư thục Sau luật, các nghị định, thông tư hướng dẫn sẽ được chuẩn bị để ban hành, các nội
Trang 9dung này thực sự cần sát thực tế, đúng, đủ để loại bỏ những sự bất cập đang xảy ra trong hệ thống giáo dục tư thục hay còn gọi là ngoài công lập
Vì vậy, tác giả lựa chọn đề tài “Pháp luật về mô hình cơ sở giáo dục
tư thục của một số nước Đông Nam Á và những kiến nghị với Việt Nam”
làm luận văn Thạc sĩ với mục đích hoàn thiện pháp luật về giáo dục tư thục hiện nay ở Việt nam cả về phương diện nghiên cứu khoa học và thực tiễn
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài:
Ở các nước Đông nam Á, các cơ sở giáo dục tư thục phát triển rất mạnh mẽ và đã có những đóng góp lớn cho hệ thống giáo dục công lập như Singapore, Malaysia Việc thành lập, quản trị và hoạt động của các cơ sở giáo dục tư thục được điều chỉnh bởi đạo luật quy định riêng cho các cơ sở giáo dục tư thục
Về cơ sở giáo dục tư thục ở các nước Đông Nam Á đã có một số công trình khoa học đề cập đến, ví dụ theo bài báo nghiên cứu “Để trở thành trung tâm giáo dục thì cần phải thay đổi quản trị và cải tổ chính sách ở Malaysia và Singapore” của Mok, K.H (2008) trên tạp chí quốc tế về cải cách giáo dục xuất bản ngày 1/7/2008 Bài viết đề cập đến việc Chính phủ Malaysia đã cương quyết trong việc cải tổ và thay đổi chính sách quản trị theo xu hướng doanh nghiệp hoá để nâng cao chất lượng giáo dục, đặc biệt ở các trường đại học công lập Bắt đầu từ tháng 1 năm 1998, Đại học Malay, trường đại học lâu đời nhất ở Malaysia, đã được hợp nhất cùng với tám trường đại học công lập khác trong nước Trước khi việc hợp nhất diễn ra, thì việc điều hành tất cả các trường đại học công lập được thực hiên theo mô hình định hướng quản lý nhà nước Bộ Giáo dục quản lý các trường đại học theo cơ chế tập trung Các trường không có nhiều tự chủ do theo cơ chế nhà nước
Tuy nhiên khi chính sách thay đổi theo Luật Đại học sửa đổi, các trường đại học được hợp nhất dự kiến sẽ gây quỹ thông qua tất cả các loại
Trang 10kênh (bài báo về “tầm nhìn 2020” do Tác giả M N N Lee đăng trong Tạp chí giáo dục ở Malaysia ngày 9.8.2010), gần giống như điều hành một doanh nghiệp và không chỉ ở trong tháp ngà (như trước đây) Các trường đại học công lập, sau khi thành lập ở Malaysia, được cho là đa dạng hóa nguồn tài chính bằng cách thu học phí của sinh viên, tăng số lượng sinh viên, phân nhánh hợp tác chặt chẽ với các lĩnh vực kinh doanh và công nghiệp, và cung cấp các khóa học chuyên nghiệp, tư vấn và dịch vụ cộng đồng
Chính phủ Malaysia tin rằng việc trao thêm quyền tự chủ và sự linh hoạt cho quản trị và tài chính đại học công sẽ tăng cường khả năng cạnh tranh toàn cầu của giáo dục đại học; do đó, vào cuối những năm 1990, chính phủ đã đưa ra những cải cách quản trị mới cho các trường đại học công lập theo đường lối tập đoàn – hình thức công ty
Lấy trường đại học Sains Malaysia làm ví dụ, cấu trúc quản trị mới của trường đại học này bao gồm Hội đồng quản trị (bao gồm tám thành viên), chủ tịch, hiệu trưởng, đại diện của cộng đồng địa phương, hai đại diện của chính phủ và ba người khác từ khu vực tư nhân Hội đồng quản trị là cơ quan quyền lực cao nhất của trường đại học trong việc quyết định các hướng phát triển và chiến lược chính cho trường đại học Với quyền quyết định mạnh mẽ dựa trên Hội đồng quản trị và hiệu trưởng, trường đại học hiện đang hoạt động như một công ty kinh doanh lớn Mô hình quản trị mới thực sự hữu ích trong quản trị trường đại học, đặc biệt là tác động của thay đổi quản trị từ khía cạnh doanh nghiệp Đồng hành với việc trao quyền và để duy trì trách nhiệm, Bộ Giáo dục Đại học đã thành lập một đơn vị kiểm toán để tiến hành đánh giá độc lập về hiệu suất đại học, cụ thể là: tự chủ, quy trình kiểm toán và xếp hạng đại học – mô hình này đã định hình cơ chế quản trị giáo dục đại học ở Malaysia (tác giả Morshidi & Abdul, R.A xuất bản tháng 1 năm 2008 về Chính sách cho giáo dục đại học trong thế giới thay đổi)
Trang 11Bài nghiên cứu trên cho thấy, trước khi có được mô hình quản trị đại học theo xu hướng mô hình tập đoàn thì Chính phủ Malaysia đã thấy những khuyết thiếu trong việc quản trị tập trung, không trao quyền tự chủ về tài chính, việc quản trị tài chính theo cơ chế nhà nước sẽ dẫn tới những bó buộc trong quá trình phát triển và quản trị hoạt động của các trường đại học
Cũng tại bài viết trên Tạp chí quốc tế về cải cách giáo dục, Mok.H.K cũng đề cập đến những cải tổ về mặt quản trị, đặc biệt việc thay đổi mô hình quản trị đại học của Singapore Perry Lim, giám đốc giáo dục đại học của Bộ Giáo dục Singapore cho biết rằng sẽ mất vài năm hiện thực hóa mục tiêu kết hợp các trường đại học quốc gia Khi được hỏi về lý do chính đằng sau cải cách, Lim nói rõ rằng việc thành lập các trường đại học quốc gia ở Singapore không phải do tài chính, bởi vì tất cả các trường đại học hợp nhất vẫn được chính phủ tài trợ rất nhiều Lý do chính đằng sau việc thành lập là quản trị, với một ý định mạnh mẽ để làm cho các trường đại học quốc gia cũ có đủ năng lực cạnh tranh Cụ thể, sau khi các trường đại học quốc gia được thành lập, họ có thể đáp ứng thị trường toàn cầu đang thay đổi theo cách chủ động hơn Thay vì quản trị theo cơ chế nhà nước, tất cả các trường đại học hợp nhất
sẽ được điều hành như các tập đoàn kinh doanh Như vậy, quản trị đại học đã được linh hoạt hơn trong việc điều hành hoạt động của họ, và quyền tự chủ và quyền quyết định hơn được trao nhiều hơn cho ban quản trị trong các vấn đề nhân sự và tài chính
Mô hình quản trị mà Chính phủ Singapore cải tổ là trao quyền tự chủ nhiều hơn cho đại học công lập và cho phép cơ chế quản trị theo xu hướng tập đoàn kinh doanh, giống như Mô hình quản trị đại học của Malaysia Mô hình này được áp dụng cho các cơ sở giáo dục đại học công lập và tư thục
Ở Việt nam, mô hình quản trị của các cơ sở giáo dục công lập vẫn đang theo cơ chế quản lý nhà nước tập trung Nhiều các cơ sở giáo dục tư thục được
Trang 12thành lập nhưng chưa có chính sách cụ thể hướng dẫn mô hình quản trị, đặc biệt về vấn đề quản trị phần vốn đầu tư, quản trị hoạt động theo hướng tập đoàn kinh doanh như Singapore và Malaysia Việt nam cũng chưa có riêng một luật giáo dục tư thục để điều chỉnh cụ thể hoạt động quản trị của cơ sở giáo dục như Singapore và Malaysia
Tác giả thấy rằng cần có các nghiên cứu chuyên sâu về nguồn vốn đầu
tư của tư nhân cho giáo dục tư thục và phương thức quản trị, điều hành nguồn vốn Đây là vấn đề chưa được đề cập tới trong bất cứ văn bản pháp lý nào, và cũng chưa có bất kỳ công trình nghiên cứu nào mặc dù vấn đề quản trị nguồn vốn đầu tư tại các cơ sở giáo dục tư thục đã xảy ra rất nhiều các tranh chấp vì không có hành lang pháp lý điều chỉnh Thực tế, chỉ có một số bài viết đề cập đến vấn đề tự chủ đại học như bài viết của giáo sư Phạm Đỗ Nhật Tiến về
“kinh nghiệm quốc tế trong việc xây dựng các quy định pháp lý về tự chủ đại học” và bài viết “tự chủ tài chính tại các cơ sở giáo dục đại học ở Việt nam: của PGS.TS Lê Trung Thành và TS Đoàn Xuân Hậu của Đại học Kinh tế quốc dân trình bầy trong hội thảo về “ góp ý xây dựng luật giáo dục đại học” vào tháng 5 năm 2018 tại Uỷ ban văn hoá thanh thiếu niên nhi đồng của Quốc hội Một trong những nội dung tự chủ là tự chủ tài chính nhưng mới chỉ giới hạn đến tự chủ tài chính trong đại học công lập, chứ chưa nêu lên vấn đề quản trị nguồn vốn đầu tư ở cơ sở giáo dục tư thục
Việc hoàn thiện các văn bản pháp luật về giáo dục tư thục là những việc cần làm ngay để tạo sự phát triển ổn định cho giáo dục Đặc biệt nội dung về quản trị nguồn vốn đầu tư tại các cơ sở giáo dục tư thục Các quy định pháp luật này cần rõ ràng và minh bạch thì mới giúp ổn định nguồn vốn đầu tư và định hướng đầu tư trong bối cảnh cần thu hút thêm đầu tư tư nhân vào giáo dục, đảm bảo giáo dục tư thục hoàn thành vai trò quan trọng của
Trang 13mình là giảm thiểu gánh nặng cho công lập và đóng góp cho sự phát triển của giáo dục nói chung
3 Đối tƣợng, phạm vi, mục đích nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu pháp luật của các nước Đông Nam Á cụ thể là Singapore
và Malaysia về việc thành lập, quản trị và hoạt động của các cơ sở giáo dục tư thục, đồng thời nghiên cứu pháp luật hiện hành của Việt nam về giáo dục tư thục để có những kiến nghị đóng góp sửa đổi pháp luật điều chỉnh hoạt động giáo dục tư thục ở Việt nam
Ngoài ra, luận văn nghiên cứu thực trạng mô hình của các cơ sở giáo dục tư thục của Việt nam (ở Hà nội và thành phố HCM), cụ thể là việc thành lập (mô hình tổ chức vốn đầu tư, phân định quyền sở hữu), quản trị (quyền điều hành, quyền quản trị nhà trường), và hoạt động của cơ sở giáo dục tư thục
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu thực trạng thành lập, quản trị và hoạt động của cơ
sở giáo dục tư thục ở một số nước Đông Nam Á và Việt nam, trong đó tập trung vào các bất cập trong việc thành lập và quản trị cơ sở giáo dục tư thục ở Việt Nam khi chưa có đủ văn bản pháp luật điều chỉnh gồm:
- Xác định quyền sở hữu nguồn vốn đầu tư tại các trường tư thục có vốn đầu tư trong nước khi nhà đầu tư xin cấp phép thành lập cơ sở giáo dục
Trang 14Đông Nam Á như Singapore, Malaysia và quy định về mô hình giáo dục tư thục để đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật Việt nam về mô hình giáo dục tư thục
4 Những đóng góp mới về mặt khoa học và thực tiễn của luận văn
Luận văn nghiên cứu pháp luật về mô hình cơ sở giáo dục tư thục ở một số nước Đông Nam Á, từ đó đề xuất các kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt nam về xây dựng mô hình cơ sở giáo dục tư thục trên cơ sở học tập mô hình các nước Đông Nam Á đã thành công –mô hình giáo dục tư thục mà các hoạt động đầu tư, hoạt động quản trị nhà trường được tách bạch rõ ràng
Như vậy, các tranh chấp không đáng có về quyền điều hành, cơ chế quản trị đang xảy ra tại các mô hình giáo dục tư thục hiện hành sẽ không còn Quyền lợi người học được đảm bảo cao nhất Khi mà hệ thống giáo dục tư thục có được một hành lang pháp lý vững chắc thì sẽ giúp các hoạt động của loại hình này hoạt động ổn định, không có tranh chấp về quyền điều hành hoặc quản trị phần vốn (mô hình cơ sở giáo dục công lập có nguồn vốn của nhà nước thì sẽ không gặp phải sự tranh chấp nguồn vốn như tư thục) Khi hoạt động của cơ sở giáo dục tư thục ổn định thì hệ thống giáo dục tư thục mới có thể hoàn thành tốt vai trò giảm thiểu gánh nặng cho giáo dục công lập, đáp ứng được nhu cầu của người dân trong các loại hình học tập Kinh tế xã hội sẽ phát triển mạnh khi đất nước có một nền giáo dục phát triển mạnh
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận
Phương pháp luận của bất kỳ khoa học nào cũng là lập trường xuất phát điểm để tiếp cận vấn đề nghiên cứu Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử cung cấp cho việc nghiên cứu của bất kỳ ngành khoa học nào các quy luật, nguyên tắc, phạm trù, khái niệm của triết học duy vật
Trang 15biện chứng và triết học duy vật lịch sử từ đó giúp ta có khả năng nhận thức được một cách chung nhất, khái quát nhất và đầy đủ nhất Khi nghiên cứu vấn
đề khoa học, cần phải xuất phát từ hai quan điểm:
- Quan điểm duy vật: vấn đề cần phải được nghiên cứu trong mối quan
hệ với đời sống vật chất của xã hội, coi đó là nguồn gốc sâu xa của sự xuất hiện, tồn tại và phát triển
- Quan điểm biện chứng: nghiên cứu vấn đề đặt trong sự vận động, phát triển, biến đổi, trong những mối liên hệ biện chứng và những mâu thuẫn vốn có của nó
Như vậy, khi áp dụng phương pháp luận vào nghiên cứu vấn đề “pháp luật về tổ chức mô hình cơ sở giáo dục tư thục của một số nước Đông Nam Á
và kiến nghị đối với Việt nam” cần phải xem xét các yếu tố sau:
Thứ nhất, học tập pháp luật các nước Đông Nam Á quy định về mô hình cơ sở giáo dục tư thục để từ đó định hướng mô hình cơ sở giáo dục tư thục Việt nam Quy định về mô hình phải ở trong sự phát triển của nền kinh tế và pháp luật trong từng thời kỳ lịch sử Vì thế khi nghiên cứu đề xuất mô hình cơ sở giáo tư thục của Việt nam phải gắn với các điều kiện cụ thể, tức là phải cân nhắc tất cả những đặc điểm và điều kiện đặc thù của sự tồn tại, phát triển của thực tiễn trong giai đoạn phát triển của nền kinh tế, của các quan hệ xã hội …
Thứ hai, vấn đề về quản trị cơ sở giáo dục phải đặt trong mối quan hệ biện chứng với các yếu tố quy định chúng Trong đó pháp luật là yếu tố thuộc kiến trúc thượng tầng của xã hội, bởi vậy, pháp luật quy định về mô hình quản trị của cơ sở giáo dục tư thục phải được xem xét trong mối quan hệ giữa nhà đầu tư và hội đồng trường - yếu tố quyết định nó, Bên cạnh đó, các yếu tố
về quản trị nhà trường, quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư, của hội đồng
Trang 16trường, của hiệu trưởng cũng cần nghiên cứu để xây dựng hành lang pháp lý nhằm đảm bảo phát triển giáo dục tư thục trong khuôn khổ pháp luật, vì vậy khi nghiên cứu cần phải chú ý đến tất cả yếu tố đó
về giáo dục tư thục ở một số nước Đông Nam Á cho thấy các sự kết nối chặt chẽ các quy định bắt buộc về đầu tư kinh doanh với các quy định về quản trị
và hoạt động cơ sở giáo dục để tạo lên một chỉnh thể thống nhất nhằm đảm bảo quản lý nhà nước trong đầu tư giáo dục
Phương pháp quy nạp
Phương pháp quy nạp là đi từ nhận thức sự vật riêng lẻ, từ những kinh nghiệm đến những nguyên lý chung, tức là đi từ cái riêng đến cái chung; diễn dịch là phương pháp đi từ những tri thức chung đến tri thức về cái riêng Vận dụng phương pháp này trong nghiên cứu các đặc thù hoạt động của các trường tư thục, nhằm khái quát các đặc điểm mâu thuẫn, các đặc điểm phát triển để từ đó có những khái quát chung về mô hình trường tư thục cần các chế định gì để vừa đảm bảo quản lý nhà nước vừa định hướng phát triển
Phương pháp so sánh pháp luật
Trên cơ sở của phương pháp này, các hiện tượng pháp lý, các sự kiện
Trang 17pháp lý được nghiên cứu trong mối quan hệ so sánh với nhau Việc so sánh có thể tiến hành ở các mức độ khác nhau, từ việc so sánh hệ thống pháp luật với
hệ thống pháp luật, ngành luật đến ngành luật… trên cơ sở đó rút ra những nét giống nhau, khác nhau, đặc thù của các hiện tượng đang nghiên cứu Phương pháp này sẽ giúp đưa ra các so sánh về hệ thống pháp luật của các nước Đông nam Á (nơi có văn hoá tương đồng Việt nam) với hệ thống pháp luật Việt nam quy định về các mô hình trường tư thục Từ việc so sánh các quy định của hệ thống pháp luật này sẽ đưa ra được các điểm khuyết thiếu mà hệ thống pháp luật về giáo dục của Việt nam cần hoàn thiện
6 Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
luận văn gồm 3 chương sau:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về mô hình cơ sở giáo dục tư thục và
pháp luật về mô hình cơ sở giáo dục tư thục
Chương 2: Thực trạng pháp luật về mô hình cơ sở giáo dục tư thục của
một số nước Đông Nam Á và bài học kinh nghiệm cho Việt nam
Chương 3: Thực trạng pháp luật về cơ sở giáo dục tư thục tại Việt nam
và định hướng, kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt nam về mô hình cơ sở giáo dục tư thục
Trang 18CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
VỀ MÔ HÌNH CƠ SỞ GIÁO DỤC TƯ THỤC VÀ PHÁP LUẬT VỀ
MÔ HÌNH CƠ SỞ GIÁO DỤC TƯ THỤC
1.1 Khái niệm, đặc điểm cơ sở giáo dục tư thục
Cơ sở giáo dục công lập và cơ sở giáo dục tư thục được phân biệt rõ qua hình thức đầu tư, điều hành và quản trị, cụ thể:
Khái niệm cơ sở giáo dục công lập: Cơ sở giáo dục công lập do nhà
nước đầu tư Việc quản trị nguồn vốn và lợi nhuận được thực hiện theo quy chế tài chính được phê duyệt theo các quy định về sử dụng tài sản công Hội đồng quản trị, hiệu trưởng do cơ quan có thẩm quyền bổ nhiệm
Khái niệm cơ sở giáo dục tư thục: Cơ sở giáo dục tư thục do nhà
đầu tư tư nhân bỏ vốn đầu tư, thành lập và điều hành hoạt động Việc quản trị nguồn vốn được thực hiện theo ý chí của nhà đầu tư, vận dụng cơ chế biểu quyết theo số vốn góp được kiểm soát và đầu tư bằng vốn của các cá nhân hoặc tổ chức kinh tế Hội đồng quản trị của cơ sở đó gồm hầu hết các thành viên không do cơ quan có thẩm quyền bầu
Đặc điểm của cơ sở giáo dục tư thục: Cơ sở giáo dục tư thục được tự
chủ về toàn bộ hoạt động tài chính, nhân sự và chương trình học bên cạnh các quy định về chương trình phải tuân theo quy định của chính phủ, được quyền lựa chọn học sinh, sinh viên Cơ sở vật chất của cơ sở giáo dục tư thục được đầu tư bằng nguồn vốn tư nhân, không phải vốn nhà nước Toàn bộ thu nhập của cơ sở được thu từ nguồn học phí Việc quản trị cơ sở giáo dục tư thục được thực hiện theo các quy định của pháp luật về giáo dục, có những đặc điểm chung về hội đồng trường, hiệu trưởng và quản trị về mặt học thuật như
cơ sở giáo dục công lập Các hoạt động của cơ sở giáo dục tư thục được tự chủ và tạo nhiều điều kiện thuận lợi hơn cho người học
Trang 19Theo quy định tại Điều 48 của Luật Giáo dục số 38/2005/QH11 thì khái niệm về cơ sở giáo dục tư thục hay còn gọi là trường tư thục được
định nghĩa như sau “Trường tư thục do các tổ chức xã hội, tổ chức xã
hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế hoặc cá nhân thành lập, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và bảo đảm kinh phí hoạt động bằng vốn ngoài ngân sách nhà nước”
Theo định nghĩa tại Luật Giáo Dục 2005 thì trường tư thục do các thành phần kinh tế trong xã hội thành lập, trong đó bao gồm cả cá nhân, chưa
đề cập rõ hình thức cơ sở giáo dục tư thục có vốn đầu tư nước ngoài
Trong bối cảnh xã hội phát triển, các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào lĩnh vực giáo dục tại Việt nam ngày càng nhiều, nên trong Luật giáo dục số 43/2019/QH14 thay thế Luật giáo dục 2005, thì khái niệm về trường tư thục
đã được làm rõ hơn “Trường tư thục do nhà đầu tư trong nước hoặc nhà đầu
tư nước ngoài đầu tư và bảo đảm điều kiện hoạt động” [28, Điều 47]
Nhìn vào pháp luật các nước Đông nam Á, thì định nghĩa về cơ sở giáo dục tư thục có khác biệt, cụ thể:
Theo quy định tại Luật giáo dục Đại học tư thục Malaysia 2015 thì:
Tổ chức giáo dục đại học tư thục có nghĩa là một tổ chức hoặc tổ chức giáo dục, bao gồm Đại học hoặc Cao đẳng Đại học, hoặc một
cơ sở chi nhánh, được phê duyệt và đăng ký theo Đạo luật này, không được thành lập hoặc duy trì bởi Chính phủ [12, Điều 1]
Theo quy định tại Luật giáo dục tư thục Singapore 2011 thì:
Giáo dục tư thục có nghĩa là bất kỳ người nào đề nghị cung cấp hoặc cung cấp giáo dục tư nhân dù ở Singapore hay ở nơi khác, vì lợi nhuận, cùng với giáo dục khác; hoặc là tự nó hoặc liên kết hoặc hợp tác với hoặc bằng cách liên kết với bất kỳ người nào khác; và trường đó đã được đăng ký theo Đạo luật Giáo dục [19, Điều 1]
Trang 20Theo quy định tại Luật giáo dục tư thục Hàn quốc 2016 thì:
Trường tư thục có nghĩa là một trường được thành lập bởi một pháp nhân, không phải là tổ chức công cộng, hoặc các cá nhân khác [17, Điều 2]
Từ các quy định của Malaysia hoặc Singapore hay của Việt nam cho thấy đặc điểm chung về điều kiện ban đầu để thành lập cơ sở giáo dục tư thục là nhà đầu tư phải đăng ký thành lập doanh nghiệp theo quy định và đăng ký thành công vì không phải do nhà nước đầu tư Tuy nhiên, trong Luật giáo dục tư thục của Singapore có thể thấy thêm một đặc điểm rất rõ là
“vì lợi nhuận” Trong Luật giáo dục tư thục của Hàn quốc ghi rõ là cơ sở giáo dục tư thục “được thành lập bởi một pháp nhân”
Từ các khái niệm về cơ sở giáo dục tư thục của các nước và của Việt nam, cũng như đặc điểm chung về điều kiện ban đầu để thành lập cơ sở giáo
dục tư thục theo quy định các nước, cho thấy: cơ sở giáo dục tư thục là cơ sở giáo dục do tư nhân thành lập dưới hình thức tổ chức có tư cách pháp nhân, và việc phải đăng ký đầu tư kinh doanh theo quy định của pháp luật được coi là điều kiện để nhà đầu tư xin phép thành lập một cơ sở giáo dục tư thục
1.2 Mô hình cơ sở giáo dục tư thục
Theo Luật giáo dục 2019 có hiệu lực vào ngày 1.7.2020, cơ sở giáo dục được chia thành 2 loại: cơ sở giáo dục công lập do nhà nước đầu tư thành lập, cơ sở giáo dục tư thục do nhà đầu tư trong nước và nước ngoài đầu tư thành lập Theo quy định tại luật này thì cơ sở giáo dục tư thục gồm 2 loại: cơ sở giáo dục có vốn đầu tư trong nước do nhà đầu tư là tổ chức và cá nhân đầu tư thành lập Cơ sở giáo dục tư thục có vốn đầu tư nước ngoài do nhà đầu tư nước ngoài là tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đầu tư thành lập
Trang 21Theo Luật giáo dục tư thục ở Malaysia hay Singapore, Hàn quốc thì không phân biệt nhà đầu tư như Việt nam mà phải đáp ứng tiêu chí đăng ký
và phải đăng ký thành công và nhà đầu tư phải có tư cách pháp nhân
1.3 Khái quát pháp luật về mô hình cơ sở giáo dục tƣ thục
1.3.1 Khái niệm, đặc điểm của pháp luật về mô hình cơ sở giáo dục
tư thục
Khái niệm của pháp luật về mô hình cơ sở giáo dục tƣ thục:
Bao gồm các quy phạm pháp luật được Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận điều chỉnh về thành lập, tổ chức, quản trị và hoạt động của cơ sở giáo dục tư thục
Đặc điểm của pháp luật về mô hình cơ sở giáo dục tƣ thục
- Pháp luật về cơ sở giáo dục tư thục bao gồm các quy phạm bắt buộc và quy phạm trao quyền, theo đó các tổ chức, cá nhân có thể thành lập cơ sở giáo dục tư thục Tuy nhiên phải đáp ứng đủ các điều kiện của luật định và phải xin phép cơ quan nhà nước có thẩm quyền
- Bao gồm các quy phạm pháp luật thuộc các lĩnh vực khác nhau như pháp luật về giáo dục, kinh doanh, dân sự…
- Bị tác động chi phối bởi yêu cầu đổi mới và phát triển của xã hội Tuy nhiên, vì pháp luật về giáo dục tư thục của Việt nam chưa có đủ các văn bản quy định bao hàm được hết các khía cạnh của việc thành lập, quản trị và hoạt động của cơ sở giáo dục tư thục như nguồn vốn đầu tư khi thành lập chưa được định danh bằng văn bản pháp lý (giấy phép) Khi không thành lập doanh nghiệp thì quyền điều hành phần vốn của nhà đầu tư không
áp dụng Luật Doanh nghiệp được vì nhà đầu tư cá nhân không nằm trong loại hình thành lập mà Luật doanh nghiệp quy định Vì không nằm trong đối tượng được điều chỉnh của luật danh nghiệp, nên việc tranh chấp, không thống nhất ý kiến về quyền điều hành, về mục tiêu phát triển nhà trường, và
Trang 22các vấn đề khác liên quan đến vốn chưa được giải quyết bằng các quy phạm bắt buộc của Luật doanh nghiệp, do vậy những tranh chấp này vẫn đang tồn tại ở một số các cơ sở giáo dục tư thục
1.3.2 Nội dung của pháp luật về mô hình cơ sở giáo dục tư thục
Nội dung pháp luật về mô hình cơ sở giáo dục tư thục bao gồm các quy định điều chỉnh một số nội dung sau:
- Điều chỉnh việc thành lập cơ sở giáo dục tư thục gồm các nội dung về quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư, việc góp vốn cũng như các điều kiện phải đáp ứng để thành lập cơ sở giáo dục tư thục
- Điều chỉnh việc quản trị, điều hành sở giáo dục tư thục, cụ thể như hoạt động của hội đồng trường, quyền và trách nhiệm của hội đồng trường, của hiệu trưởng và các chức danh quản lý khác
- Điều chỉnh việc hoạt động cơ sở giáo dục tư thục và các vấn đề khác như chấm dứt, giải thể, trong đó quy định cụ thể về phạm vi hoạt động học thuật của cơ sở giáo dục như chương trình giảng dậy, đội ngũ giảng viên phải đáp ứng, điều kiện cơ sở vật chất đảm bảo học tập
Pháp luật Việt nam điều chỉnh việc thành lập, quản trị và hoạt động của
cơ sở giáo dục tư thục bao gồm các nội dung quy định về đầu tư trong nước
và nước ngoài Đó là Nghị định chính phủ số 46/2017/NĐ-CP về điều kiện đầu tư và thành lập cơ sở giáo dục có vốn đầu tư trong nước và Nghị định Chính phủ số 73/2012/NĐ-CP về hợp tác đầu tư với nước ngoài trong lĩnh vực giáo dục (cho thời kỳ từ 2012 đến 7 2018), Nghị định chính phủ số
86/2018/NĐ-CP thay thế Nghị định 73/2012/NĐ-CP quy định về hợp tác đầu
tư với nước ngoài trong lĩnh vực giáo dục Tại Nghị định số 73 và 86 này đã
có những hướng dẫn rất rõ ràng về điều kiện đầu tư, điều kiện thành lập và hoạt động của các cơ sở giáo dục có vốn đầu tư nước ngoài do nhà đầu tư nước ngoài đầu tư: “cơ sở giáo dục có vốn đầu tư nước ngoài là cơ sở giáo
Trang 23dục do tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài bỏ vốn đầu tư, hoạt động theo quy định của pháp luật Việt nam…” [Điều 2 NĐ86/2018]
Với nội dung quy định này thì cơ sở giáo dục tư thục có vốn đầu tư nước ngoài đã được định khung mô hình theo hình thức: cá nhân, tổ chức đầu tư nước ngoài khi đầu tư vào Việt nam để thành lập cơ sở giáo dục tư thục thì phải có tư cách pháp nhân là tổ chức kinh tế Tổ chức kinh tế do nhà đầu tư là cá nhân hoặc tổ chức nước ngoài đăng ký thành lập tại Việt nam, được cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư (chứng nhận loại hình dự án đầu
tư và số vốn đầu tư cho dự án) và giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh (chứng nhận tổ chức kinh tế hoạt động hợp pháp tại Việt nam để điều hành
dự án đầu tư, xác định số vốn phải góp của nhà đầu tư)
Nội dung về nhà đầu tư quy định tại Nghị định 86/2018/ND-CP về hợp tác đầu tư với nước ngoài trong lĩnh vực giáo dục tương thích với nội dung về trách nhiệm nhà đầu tư quy định tại Luật đầu tư 2014, quy định nhà đầu tư khi thực hiện bất kỳ dự án đầu tư nào tại Việt nam thì phải thành lập tổ chức kinh
tế để tổ chức kinh tế đó thực hiện dự án đầu tư Nội dung quy định này góp phần làm sáng tỏ cơ chế đầu tư cho nhà đầu tư, khi nhà đầu tư muốn thành lập
cơ sở giáo dục tư thục là trường phổ thông, trường đại học, hay cơ sở đào tạo ngắn hạn có vốn đầu tư nước ngoài thì đều phải thành lập tổ chức kinh tế để nguồn vốn đầu tư vào Việt nam được định danh rõ ràng cho dự án Nhà đầu tư
là tổ chức kinh tế sẽ quản lý vấn đề đầu tư, tài chính, tài sản theo quy định của luật doanh nghiệp 2014 (vì nhà đầu tư được thành lập theo quy định của luật này) Khi quy định rõ về thành lập tổ chức kinh tế trước khi thành lập cơ sở giáo dục tư thục thì nội dung các văn bản pháp lý về giáo dục chỉ cần quy định về thành lập và hoạt động của cơ sở giáo duc tư thục không phải quy định về cơ chế đầu tư và quản trị tài sản, rút vốn, góp vốn vì các nội dung này
đã được quy định rõ ràng ở luật doanh nghiệp Tuy nhiên, nội dung Nghị
Trang 24Định Chính phủ số 86/2018/ND-CP quy định về hợp tác đầu tư với nước ngoài trong lĩnh vực giáo dục mới chỉ quy định về hình thức thành lập và điều kiện thành lập, chưa quy định về cơ cấu quản trị và hoạt động của các cơ sở giáo dục tư thục có vốn đầu tư nước ngoài Sự thiếu hụt này đã được thể hiện trong Luật sửa đổi bổ sung một số điều Luật giáo dục đại học 2018 có hiệu lực từ ngày 1.7.2019, trong luật này đã có một số nội dung mới quy định nhà đầu tư trường tư thục được phép lựa chọn thành lập tổ chức kinh tế hoặc thành lập luôn trường tư thục, đồng thời luật này cũng có thêm nội dung quy định về cơ chế quản trị của nhà đầu tư trường tư thục quản trị về tài chính, tài sản, tách bạch với cơ chế quản trị hoạt động của nhà trường
Nhà đầu tư thành lập cơ sở giáo dục đại học được lựa chọn một trong các phương thức sau đây: a) Đầu tư thành lập tổ chức kinh
tế theo quy định của Luật đầu tư, Luật doanh nghiệp để tổ chức kinh tế thành lập cơ sở giáo dục đại học tư thục theo quy định của Luật này; b) Trực tiếp đầu tư thành lập cơ sở giáo dục đại học tư thục theo quy định của Luật này Trong trường hợp này, quy chế tổ chức và hoạt động của cơ sở giáo dục đại học phải quy định cụ thể về hội nghị nhà đầu tư và các phương thức hoạt động của nhà đầu tư; việc lựa chọn áp dụng quy định của pháp luật liên quan về công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc quỹ xã hội để giải quyết những vấn đề trong cơ sở giáo dục đại học mà Luật này chưa quy định; trách nhiệm và quyền hạn của nhà đầu
tư, ban kiểm soát phù hợp với quy định về công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc quỹ xã hội được lựa chọn
Tuy nhiên, nội dung quy định này chỉ hiệu quả khi nhà đầu tư là tổ chức kinh tế vì toàn bộ hoạt động của tổ chức kinh tế có Luật doanh nghiệp
2014 điều chỉnh Khi nhà đầu tư không phải là tổ chức kinh tế thì các vấn
Trang 25đề về quyền điều hành theo nguồn vốn, quyền rút vốn, góp vốn không được điều chỉnh bởi Luật doanh nghiệp 2014 mà cơ sở giáo dục tư thục tự xây dựng trong quy chế hoạt động của mình như quy định tại Luật sửa đổi bổ sung một số điều Luật giáo dục đại học 2018, điều này chưa đủ đảm bảo tính minh bạch và đủ cơ sở pháp lý để điều chỉnh các hoạt động phát sinh
từ nguồn vốn để phát triển nhà trường Điều này sẽ gây bất cập trong cơ chế quản trị hoạt động của cơ sở giáo dục tư thục
Nhìn ra các nước như Singapore, Hàn quốc hay Malaysia, đều có Luật giáo dục tư thục và các luật này đều có các nội dung quy định rõ ràng về đầu
tư vốn, cơ cấu thành lập, quản trị và hoạt động của cơ sở giáo dục tư thục
Trang 26Kết luận chương 1
Cơ sở giáo dục tư thục là cơ sở do nhà đầu tư tư nhân bỏ vốn đầu tư, thành lập và điều hành hoạt động theo quy định của pháp luật Việc quản trị phần vốn được quyết định theo ý chí của nhà đầu tư Pháp luật về mô hình cơ
sở giáo dục bao gồm các quy phạm bắt buộc và quy phạm trao quyền, theo đó các tổ chức cá nhân có thể thành lập cơ sở giáo dục tư thục theo các điều kiện quy định trong luật
Từ đó cho thấy, để có được một mô hình cơ sở giáo dục tư thục hiệu quả thì cần phải có các văn bản pháp lý quy định cụ thể về vốn đầu tư, quyền điều hành, quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư khi góp vốn đầu tư thành lập cơ
sở giáo dục tư thục, việc quản trị và điều hành theo các điều kiện đã được quy định trong các văn bản pháp luật
Trong chương 2 tác giả sẽ trình bày về thực trạng pháp luật về mô hình cơ sở giáo dục tư thục ở các nước Đông nam Á sẽ cho thấy một hệ thống pháp lý đầy đủ sẽ giúp các nhà đầu tư tư nhân thành lập và điều hành một cơ sở giá dục tư thục hiệu quả So sánh với thực trạng pháp luật về mô hình cơ sở giáo dục tư thục ở Việt nam, sẽ cho thấy những khuyết thiếu mà pháp luật Việt nam về cơ sở giáo dục tư thục cần sửa đổi bổ sung
Trang 27CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ MÔ HÌNH CƠ SỞ GIÁO DỤC
TƯ THỤC CỦA MỘT SỐ NƯỚC ĐÔNG NAM Á VÀ BÀI HỌC KINH
NGHIỆM CHO VIỆT NAM
2.1 Thực trạng pháp luật về giáo dục tư thục của Singapore
Tổng quan
Tại Singapore, văn bản pháp luật quy định việc thành lập, quản trị và hoạt động giáo dục gồm có Luật Giáo dục [10, chương 87], tại điều 4 quy định các cơ sở giáo dục chịu sự điều chỉnh của luật này không bao gồm các
cơ sở giáo dục kỹ thuật đang chịu sự điều chỉnh bởi Luật giáo dục kỹ thuật [14] (cap 141a) Các cơ sở giáo dục tư thục chịu sự điều chỉnh bởi Luật Giáo dục Tư thục 2009 [15] và các trung tâm giáo dục phát triển sớm được cấp phép theo Luật Trung tâm Giáo dục phát triển sớm 2017 [20]
Singapore có riêng một Luật Giáo dục Tư thục[19, chương 247A] của Singapore có hiệu lực từ ngày 31 tháng 12 năm 2009, sửa đổi năm 2011 điều chỉnh việc thành lập cơ sở giáo dục tư thục
Luật giáo dục tư thục Singapore quy định cụ thể về việc đăng ký cơ
sở giáo dục tư thục, trong đó quy định rõ ràng về cơ chế thành lập, quản trị và hoạt động, cụ thể:
- Về quy định thành lập cơ sở giáo dục tư thục: theo luật này, khi
thành lập cơ sở giáo dục tư thục các nhà cung cấp giáo dục tư thục được yêu cầu phải đăng ký với Ủy ban Giáo dục Tư thục (CPE) theo Luật Giáo dục Tư thục Theo Luật giáo dục tư thục 2009, sửa đổi năm 2011 của Singapore, thì
“Giáo dục tư thục” [15] có nghĩa là bất kỳ loại giáo dục nào sau đây, dù được cung cấp toàn bộ hay một phần điện tử, thông qua thư từ hoặc theo bất kỳ cách nào khác:
Trang 28(a) giáo dục dẫn đến việc cấp bằng tốt nghiệp hoặc bằng cấp; (b) giáo dục sau trung học toàn thời gian dẫn đến việc cấp chứng chỉ; (c) giáo dục tiểu học hoặc trung học toàn thời gian toàn bộ hoặc thực chất theo chương trình giảng dạy nước ngoài hoặc quốc tế; (d) giáo dục đặc biệt toàn thời gian cho học sinh khuyết tật về thể chất hoặc trí tuệ; (e) giáo dục toàn thời gian cho mục đích chuẩn
bị cho học sinh cho bất kỳ kỳ thi nào - dẫn đến một bằng cấp được trao bởi bất kỳ người nào khác ngoài người cung cấp giáo dục toàn thời gian đó; hoặc là cho phép học sinh được nhận vào một
tổ chức giáo dục
3 Giáo dục tư thục không bao gồm (a) bất kỳ việc học nghề nào, theo
đó người sử dụng lao động đảm nhận việc thuê một người và đào tạo người đó, hoặc nhờ người được đào tạo, có hệ thống cho một giao dịch hoặc nghề nghiệp; hoặc là (b) bất kỳ giáo dục được cung cấp bởi bất kỳ chủ lao động dành riêng cho nhân viên của mình
Quy định này khá tương đồng với mã ngành kinh tế quốc dân của Việt nam Theo quy định trong mã ngành kinh tế quốc dân theo quyết định của Thủ Tướng Chính phủ số 27/2018/QĐ-Ttg, ban hành hệ thống ngành kinh tế Việt nam ngày 6.7.2018 thì mã ngành giáo dục ở phân nhóm 85 (giáo dục và đào tạo) Điều này cho thấy, về mặt phân loại mã ngành kinh doanh, trong đó
có mã ngành giáo dục, Việt nam cũng có những tương đồng với hệ thống pháp lý của các nước trong khu vực
Quy định này giúp các nhà đầu tư khi thành lập cơ sở giáo dục xác định phạm vi hoạt động của cơ sở giáo dục họ dự định thành lập để thực hiện thủ tục đăng ký thành lập theo quy định
Luật này cũng có những quy định rõ ràng để giúp nhà đầu tư xác định hình thức đầu tư là hợp tác hoặc tự đầu tư, cụ thể:
Trang 29Theo quy định tại khoản 2 Luật giáo dục tư thục thì “giáo dục tư thục”:
–(chủ thể thực hiện giáo dục tư thục có thể là bất kỳ chủ thể nào; (i) giáo dục tư thục vì mục tiêu lợi nhuận;
(ii) cùng thực hiện với giáo dục khác; hoặc là
(iii) tự nó hoặc liên kết hoặc hợp tác với hoặc bằng cách liên kết với bất kỳ người nào khác
Trong nội dung hướng dẫn thành lập, Luật Giáo dục Tư thục Singapore cũng quy định rõ ràng về việc khả năng nào sẽ bị từ chối cấp phép để nhà đầu
tư tự đánh giá và xác định dự kiến đầu tư có khả thi hay không, trong đó, luật quy định rất rõ về nội dung nếu nhà đầu tư không đăng ký là công ty hoặc tổ chức xã hội có tư cách pháp nhân thì cũng bị từ chối không cấp phép cho phép đầu tư thành lập cơ sở giáo dục, cụ thể:
Theo quy định tại điều 37 Luật giáo dục tƣ thục của Singpore:
Cơ quan cấp phép có thể từ chối cấp hoặc gia hạn đăng ký của một
tổ chức giáo dục tư thục nếu
(a) tổ chức giáo dục tư thục không phải là một công ty hoặc một tổ chức xã hội đã đăng ký;
(b) cơ sở của tổ chức giáo dục tư thục -
(i) đang hoặc có khả năng không phù hợp để cung cấp giáo dục tư thục; (ii) không vệ sinh hoặc không phù hợp để cung cấp giáo dục tư thục, hoặc nếu không thì nguy hiểm hoặc không an toàn;
(iii) sẽ được sử dụng, toàn bộ hoặc một phần, cho bất kỳ mục đích nào khác ngoài việc cung cấp giáo dục hoặc giáo dục tư thục; hoặc là
(iv) không tuân thủ các quy định được đưa ra theo mục 71;
(c) tất cả hoặc hơn một nửa tổng số giáo viên của tổ chức giáo dục tư thục, hoặc tất cả hoặc hơn một nửa tổng số giáo viên được
đề xuất -
Trang 30(i) không có bằng cấp hoặc kinh nghiệm tối thiểu, hoặc đáp ứng các tiêu chí khác, như có thể được quy định trong mục 44 (1) (a); hoặc là (ii) nếu không là người phù hợp và phù hợp để giảng dạy trong các
tổ chức giáo dục tư thục
Quy định tại điều này cho thấy, để thành lập được một cơ sở giáo dục
tư thục tại Singapore, nhà đầu tư phải đáp ứng rất nhiều tiêu chí, trong đó, điều kiện tiên quyết người nộp đơn xin thành lập phải là “công ty “hoặc “tổ chức xã hội” Điều kiện này đươc cụ thể hoá trong hướng dẫn trên trang web của Bộ giáo dục Singapore https://www.moe.gov.sg/education/private-education/registering-as-a-school trong đó quy định 5 loại hình công ty được phép thành lập cơ sở giáo dục tư thục
Trong việc thành lập, cách đặt tên trường cũng được hướng dẫn cụ thể
để tránh nhầm lẫn cho xã hội và người học, cụ thể: “Nếu chữ viết tắt được
sử dụng trong tên được đề xuất, người nộp đơn phải nêu rõ chữ viết tắt là gì Tên được đề xuất phải phản ánh chương trình giảng dạy và loại khóa học sẽ
được cung cấp bởi trường được đề xuất (ví dụ: trường ngôn ngữ có tên là - Trường học ngôn ngữ) Những từ như ’Singapore,’ Quốc gia, v.v sẽ
-chỉ ra quyền sở hữu, liên kết với Chính phủ Do đó, các trường tư thục không được đặt tên / theo kiểu như vậy Trường hợp trường được đề xuất /
sẽ được đăng ký là doanh nghiệp sở hữu / hợp tác với Cơ quan quản lý doanh nghiệp và kế toán (ACRA – đây là cơ quan đăng ký doanh nghiệp của Singapore có chức năng như Sở kế hoạch và đầu tư của Vietnam), cả tên của trường và doanh nghiệp phải giống hệt nhau Bộ giáo dục có quyền từ chối đăng ký bất kỳ tên nào được đề xuất cho một trường học, được coi là không phù hợp hoặc gây hiểu nhầm
Quyền sở hữu: chỉ rõ loại sở hữu, tên và chi tiết của chủ sở hữu, ví dụ: Doanh nghiệp độc quyền / đối tác kinh doanh, đối tác trách nhiệm hữu hạn
Trang 31(LLP), công ty, xã hội, số đăng ký, được giao bởi Cơ quan quản lý doanh nghiệp và kế toán (ACRA) / Cơ quan đăng ký xã hội (ROS), v.v.”
Về cơ chế quản trị
Luật giáo dục tư thục Singapore đã phân định rõ vai trò của nhà đầu tư trong quản trị phần vốn và vai trò quản trị nhà trường của hội đồng trường trong việc quản trị các hoạt động đào tạo
Về cơ chế quản trị Bộ giáo dục Singapore cũng đưa ra các mẫu biểu
về việc bổ nhiệm hội đồng quản trị trường tư thục Singapore căn cứ theo loại hình chủ sở hữu Trong biểu mẫu, điểm chung là toàn bộ loại hình chủ
sở hữu đều phải đăng ký theo luật công ty của Singpore Tại văn bản hướng dẫn đăng ký hội đồng quản trị trường tư thục cũng ghi rất rõ là Hội đồng quản trị trường do nhà đầu tư (cụ thể sẽ theo loại hình mà công ty đã đăng
ký theo luật kế toán công ty của Singapore) bổ nhiệm Điều khoản này cho thấy Singapore phân định rất rõ vai trò của chủ sở hữu trong luật là người nắm giữ các quyền quản lý phần vốn và bầu hội đồng quản trị trường để điều hành hoạt động của trường tư thục Việc đăng ký thành lập và hoạt động của
cơ sở giáo dục tư thục được hướng dẫn cụ thể và phân chia rõ theo từng chương giúp nhà đầu tư dễ dàng tuân thủ: Chương 1 đăng ký cơ sở giáo dục
tư thục Chương này quy định rõ các thủ tục và điều kiện đăng ký Chương 2: quản trị cơ sở giáo dục tư thục đã đăng ký Chương này quy định rõ việc thành lập hội đồng quản trị điều hành hoạt động nhà trường, trách nhiệm và quyền hạn của từng vị trí quản trị, các yêu cầu báo cáo bắt buộc trình Bộ Giáo dục Chương 3: các quy định liên quan đến chương trình học của cơ sở giáo dục tư thục đã đăng ký Chương này quy định rõ về điều kiện, chất lượng phải đáp ứng đối với chương trình học Chương 4: các quy định liên quan đến giáo viên của cơ sở giáo dục tư thục đã đăng ký Quy định rõ các điều kiện mà trường tư thục phải đáp ứng trong việc tuyển dụng giáo viên
Trang 32đạt chuẩn Chương 5: các quy định liên quan đến hoạt động của cơ sở giáo dục tư thục đã đăng ký Bên cạnh quy định về điều kiện thành lập, hoạt động, luật này còn dành chương 6 quy định về xử phạt hành chính và các lịch biểu và quy định liên quan khác
Luật giáo dục tư thục Singapore quy định rõ ràng về hội đồng quản trị phải có số lượng thành viên là 9 người và trách nhiệm của hội đồng trong việc quản trị nhà trường, cụ thể:
Hội đồng quản trị: Mỗi trường tư thục phải được quản lý bởi một Hội đồng quản trị bao gồm tối thiểu một và tối đa 9 thành viên Hội đồng có trách nhiệm đảm bảo rằng các quy định của Luật Giáo dục
và các điều khoản trong quy chế trường học phải được tuân thủ Thành viên của Hội đồng trường không nên là giáo viên hoặc nhân viên được tuyển dụng bởi trường được đề xuất trừ khi họ cũng là chủ
sở hữu của trường Điều này là để ngăn chặn xung đột tình huống lợi ích của chủ lao động-nhân viên Hội đồng trường của một trường
sẽ có một thành viên của họ là Giám sát viên của trường
Luật giáo dục tư thục Singpaore cũng quy định rõ về nhiệm vụ và quyền hạn của những người mang chức danh quản lý cơ sở giáo dục tư thục, cụ thể
(a) Nhiệm vụ của người quản lý (i) để đảm bảo lưu giữ hồ sơ thích hợp, quản lý các khóa học được cung cấp (ii) quản lý các giáo viên, sinh viên (iii) Sắp xếp quản trị, quản lý tài chính, chương trình giáo dục và quy trình phúc lợi của sinh viên, các nguồn lực
Trang 33được thực hiện bởi tổ chức giáo dục tư thục cho sinh viên hoặc sinh viên dự định sẽ được cung cấp một vị trí trong một tổ chức giáo dục
tư thục đã đăng ký khác để hoàn thành khóa học tương tự với chi phí của chính tổ chức giáo dục tư thục [15, Điều 41]
Quy định này rất rõ ràng, cụ thể về nghĩa vụ của người quản lý phải thực hiện, rõ ràng với người học, để người học hiểu rằng quyền lợi của mình được biết những thông tin gì Nếu sai lệch có nghĩa là vi phạm Như vậy cả hệ thống sẽ vận hành quy củ, minh bạch, không có những góc khuất Đây cũng
là một trong các quy định mà hệ thống giáo dục tư thục của Việt nam nói riêng cần học tập và đưa các quy định tương tự như vậy vào văn bản pháp luật quy định về giáo dục tư thục
Về hoạt động của cơ sở giáo dục tư thục
Luật giáo dục của Singapore quy định cụ thể về các khoá học và điều kiện giảng viên là điều kiện chính để cấp phép hoạt động cho cơ sở giáo dục Từ các điều kiện này, hội đồng quản trị sẽ điều hành hoạt động nhà trường tuân thủ quy định Bên cạnh đó, cơ sở vật chất phải có và được sắp xếp ra sao cũng được nêu chi tiết trong luật để các nhà đầu tư có tiêu chí để thực hiện và tuân thủ, cụ thể:
Về giáo viên, để được cấp phép hoạt động, cơ sở giáo dục tư thục phải đáp ứng ít nhất 2 giáo viên có trình độ giáo dục tương ứng phù hợp với loại hình cơ sở giáo dục dự định thành lập, bên cạnh đó, toàn bộ cơ sở vật chất như phòng học, phòng giáo viên và các thiết bị học tập phải đáp ứng các điều kiện cuả từng loại hình cơ sở giáo dục, cụ thể:
Khóa học & Giáo viên: Đơn xin cấp phép giảng dạy cho giáo viên (ít nhất hai giáo viên cần thiết cho mỗi trường tư) trong một trường
tư phải đáp ứng trình độ giáo dục tối thiểu và kinh nghiệm làm việc / giảng dạy phù hợp theo yêu cầu của trường Trong hình thức ĐĂNG
Trang 34KÝ GIÁO VIÊN, người giám sát phải nêu rõ các mô-đun / khóa học / môn học và các cấp độ mà giáo viên được đề xuất để dạy
Giáo trình: Chương trình giảng dạy mà một trường tư có thể áp dụng phải được phê duyệt bởi Bộ giáo dục
Mặt bằng & Tiện nghi: Các trường tư thục phải có mặt bằng với quy mô hợp lý và có thể chấp nhận được, ngoài việc có lớp học, nên
có không gian cho khu vực văn phòng / hành chính / khu vực tiếp tân kiêm chờ đợi cho sinh viên / khách hàng, v.v
Căn cứ những quy định về thành lập, quản trị và điều hành hoạt động
cơ sở giáo dục tư thục theo Luật giáo dục Tư thục Singapore để so sánh với Việt nam, có thể thấy theo Luật giáo dục 2005, Luật giáo dục sửa đổi 2009 của Việt nam thì các nhà đầu tư tư nhân có thể thành lập trực tiếp cơ sở giáo dục tư thục mà không cần phải đáp ứng điều kiện người nộp đơn là tổ chức xã hội hoặc công ty như quy định của Singapore Các điều kiện khác như đặt tên, quy định về chương trình, giáo viên, hội đồng quản trị cũng đã được quy định nhưng không chi tiết, rõ ràng, cụ thể và được hướng dẫn trên trang web như của Bộ giáo dục và Đào tạo Singapore
Cũng tại luật này, các hoạt động của cơ sở giáo dục tư thục về quảng cáo cơ sở giáo dục tư thục cũng được quy định rõ, cụ thể tại điều 46:
(1) Không ai có thể phát hành hoặc xuất bản một cách có chủ ý hoặc bất cẩn, hoặc gây ra việc phát hành hoặc xuất bản, bất kỳ quảng cáo nào liên quan đến một tổ chức giáo dục tư nhân gây hiểu lầm trong một tài liệu cụ thể (a) Quảng cáo trực tuyến (i) trên một
tờ báo, tạp chí, tạp chí hoặc định kỳ được xuất bản hoặc lưu hành ở Singapore hoặc ở nơi khác; (ii) trong một chương trình phát thanh hoặc truyền hình được phát để tiếp nhận ở Singapore hoặc các nơi khác; hoặc là (iii) bằng bất kỳ phương tiện phát sóng hoặc truyền
Trang 35thông nào khác để lưu hành hoặc tiếp nhận ở Singapore hoặc ở nơi khác; và (b) một quảng cáo liên quan đến một tổ chức giáo dục tư nhân sẽ được coi là sai hoặc gây hiểu nhầm nếu quảng cáo - trừ khi điều ngược lại được chứng minh (i) mô tả sai về cơ sở giáo dục tư thục; (ii) chứa bất kỳ thông tin sai lệch hoặc gây hiểu lầm nào liên quan đến cơ sở giáo dục tư thục hoặc bất kỳ khóa học nào được
cung cấp hoặc cung cấp bởi cơ sở giáo dục tư thục; hoặc là (iii)
không chứa thông tin đó, hoặc không phù hợp với các yêu cầu như được quy định [15, Điều 46]
Luật Giáo dục Tư thục Singapore đã có những quy định cụ thể về quảng cáo sai lệch, cung cấp thông tin sai lệch hay mô tả sai lệch về cơ sở giáo dục tư thục gây hiểu lầm về khoá học, về cơ sở giáo dục kèm các chế tài phạt vi phạm
Singapore là một đất nước phát triển mạnh về giáo dục, họ có hệ thống trường tư thục nổi tiếng và có các chính sách trợ giúp cho sinh viên nước ngoài học tập tại Singapore, ví dụ sinh viên được học bổng của Chính phủ Singapore sẽ phải làm việc cho công ty Singapore hoặc tại Singapore sau khi tốt nghiệp Điều này vừa giúp phát triển Singapore và cũng vừa giúp phát triển đào tạo Trong bối cảnh giáo dục tư thục phát triển tại Singapore, chắc chắn đã có những trường hợp vi phạm về quảng cáo thông tin sai lệch gây hiểu lầm, và vì thế những góc khuất đó đã được đưa vào luật để tạo thành hành lang pháp lý quản lý hoạt động giáo dục tư thục Việt nam đi sau và nên học tập những quy định này Đơn cử, nếu như những quy định cụ thể như Luật giáo dục tư thục Singapore được đưa vào trong hệ thống văn bản pháp luật quy định về giáo dục tư thục tại Việt nam thì sẽ không có những trường hợp như trường Gateway hay nhiều trường tư thục tại Việt nam dùng từ
“trường quốc tế” gây hiểu lầm cho cha mẹ học sinh
Trang 36Luật Giáo dục Tư thục của Singapore cũng quy định ngay tại luật này
về xử lý vi phạm nếu các cơ sở giáo dục tư thục vi phạm Trong khi Việt nam lại có riêng 1 văn bản về vi phạm hành chính trong giáo dục, điều 48 của Luật Giáo dục Tư thục Singapore quy định:
Cơ quan quản lý có thể yêu cầu các tổ chức giáo dục tư nhân vi phạm các điều sau (a) đã vi phạm bất kỳ điều khoản hoặc điều kiện đăng ký nào; hoặc là(b) đã không tuân thủ mục 39 (1) hoặc 44:
Cơ quan quản lý có thể, theo quyết định của mình -
(i) áp dụng hình phạt tài chính với số tiền không vượt quá 5.000 đô
la, nếu Cơ quan quản lý cho là phù hợp; (ii) kiểm duyệt tổ chức giáo dục tư nhân; hoặc là (iii) yêu cầu tổ chức giáo dục tư nhân phải tuân theo các điều khoản hoặc điều kiện mà Cơ quan có thể đưa ra cho dù nằm ngoài hoặc thay thế các điều khoản và điều kiện hiện có của đăng ký đã có [15, Điều 48]
Việc quy định tổng thể như vậy cũng rất dễ dàng tra cứu cho mọi người dân, bản thân cơ sở giáo dục tư thục và cả cơ quan quản lý trong quá trình tham gia, kiểm soát và hoạt động của cơ sở giáo dục tư thục
Một điểm đáng học tập trong Luật giáo dục tư thục của Singapore là ngay tại luật này có điều khoản quy định việc thành lập hội đồng kháng cáo
để cơ sở giáo dục tư thục kháng nghị lại những quyết định của cơ quan có thẩm quyền Hội đồng này được thành lập do bộ trưởng đề cử và có quy định
rõ ràng về nhiệm vụ, quyền hạn, nhiệm kỳ và thù lao, cụ thể:
Cơ cấu của Hội đồng kháng cáo (1) Sẽ có một Hội đồng Kháng cáo bao gồm một chủ tịch và 4 thành viên khác theo bổ nhiệm của Bộ trưởng (2) Bộ trưởng sẽ bổ nhiệm một thư ký cho Hội đồng kháng cáo (3) Mọi thành viên của Hội đồng Kháng cáo, trừ khi Bộ trưởng chỉ đạo, giữ chức vụ trong thời gian 3 năm và đủ điều kiện để bổ nhiệm lại.(4) Bộ trưởng có thể, bất cứ lúc nào, thu hồi việc bổ
Trang 37nhiệm bất kỳ thành viên nào của Hội đồng Kháng cáo (5) Thành viên của Hội đồng Kháng cáo có thể từ nhiệm bằng cách thông báo bằng văn bản cho Bộ trưởng (6) Thành viên của Hội đồng Kháng cáo có thể nhận được khoản thù lao và các khoản phụ cấp đi lại và sinh hoạt theo quy định của Bộ trưởng [15, Điều 51]
Bên cạnh đó, Luật Giáo dục Tư thục của Singapore cũng quy định về việc thanh kiểm tra – đây là một hình thức hậu kiểm sau cấp phép Hiện tại ở Việt Nam, việc hậu kiểm này trên thực tế có thực hiện nhưng không có quy định cụ thể nên dễ dẫn tới tiêu cực Thủ tướng chính phủ Nguyễn Xuân Phúc
đã có yêu cầu “mỗi năm, chỉ được thanh kiểm tra doanh nghiệp 1 lần”, trong chỉ đạo số 20/CT-Ttg ngày 17/5/2017 về việc chấn chỉnh hoạt động thanh tra,
kiểm tra đối với doanh nghiệp, các doanh nghiệp đã rất vui mừng với chỉ đạo
này Tuy nhiên thực tế thì không phải như vậy Việc thanh kiểm tra trong giáo dục tại Việt nam chưa có văn bản cụ thể, tập trung Luật giáo dục tư thục Singapore đã đưa điều khoản thanh tra vào luật và ghi rõ các chế tài phải tuân thủ sau vi phạm như hoàn trả học phí cho sinh viên, học sinh nếu khoá học cung cấp không như thông báo, cụ thể:
(1) Phần này áp dụng cho một sinh viên của một tổ chức giáo dục
tư thục liên quan đến một khóa học được cung cấp bởi tổ chức giáo dục tư nhân nếu -
(a) khóa học không bắt đầu vào ngày thỏa thuận; (b) khóa học chấm dứt sau khi nó bắt đầu (c) khóa học không được cung cấp đầy
đủ cho sinh viên
(2) Không ảnh hưởng đến bất kỳ quyền lực nào khác được trao cho
Cơ quan có thẩm quyền theo Đạo luật này, Cơ quan có thẩm quyền
có thể bằng văn bản gửi đến người quản lý của tổ chức giáo dục tư thục đã đăng ký khóa học, chỉ đạo rằng tổ chức giáo dục tư thục đã đăng ký thực hiện một trong hai điều sau đây:
Trang 38(a) hoàn trả cho mỗi sinh viên toàn bộ hoặc một phần như Cơ quan
có thẩm quyền cho là công bằng với số tiền khóa học (b) sắp xếp cho mỗi học sinh hoặc sinh viên của cơ sở giáo dục tư thục, tùy theo trường hợp, sẽ được cung cấp một vị trí trong một tổ chức giáo dục tư thục khác để hoàn thành khóa học tương tự, bằng chi phí của tổ chức giáo dục tư thục hoặc bằng cách khác, thông báo cho sinh viên hoặc sinh viên dự định phù hợp [15, Điều 60]
Quy định này nhằm đảm bảo hệ thống giáo dục tư thục tuân thủ chặt chẽ các quy định về khoá học và đảm bảo quyền được hoàn trả học phí cho người học nếu cơ sở giáo dục vi phạm Việt nam cũng cần học tập quy định này để tránh các trường hợp cơ sở giáo dục tư thục thu học phí nhưng không
tổ chức lớp vì chưa đủ sinh viên hoặc vì bất kỳ lý do nào hoãn, huỷ khoá học gây ảnh hướng đến lộ trình học tập của người học
Tại luật này, một điểm mới trong việc quản lý nhà nước về mặt quản trị nhà trường mà Việt nam cũng cần học tập, đó là cơ quan có thẩm quyền công khai thông tin đăng ký của các cơ sở giáo dục tư thục về mô hình cơ sở giáo dục tư thục, về khoá học và các thông tin liên quan khác Bất kỳ ai cũng có thể yêu cầu trích xuất các thông tin này nhưng phải trả phí và các thông tin này có thể được sử dụng như bằng chứng tại các vụ kiện Quy định này đem đến một sư minh bạch trong hoạt động của cơ sở giáo dục tư thục Mọi người dân đều có thể yêu cầu trích xuất thông tin và trả tiền cho dich vụ này để tìm hiểu và nắm rõ cơ sở giáo dục mà con cái họ sẽ học Điều này tạo ra trật tự ổn định trong xã hội và yên lòng cha mẹ học sinh khi lựa chọn trường học cho con mình, cụ thể:
Đăng ký và công bố thông tin (1) Cơ quan có thẩm quyền có thể thiết lập, duy trì để công bố đối với (a) các tổ chức giáo dục tư nhân đã đăng ký hoặc bất kỳ lớp học nào của cơ sở giáo dục tư thục, và
Trang 39những vấn đề liên quan được quy định; (b) các khóa học được cung cấp (c) các thông tin khác liên quan đến giáo dục tư thục
(2) Các quy định có thể thực hiện để quy định cách thức đăng ký được thiết lập hoặc duy trì vào sổ đăng ký
(3) Bất kỳ ai cũng có thể, khi thanh toán khoản phí đó theo quy định, kiểm tra và trích xuất từ bất kỳ đăng ký nào được thiết lập theo tiểu mục (1)
(4) Bất kỳ trích xuất nào được thực hiện theo tiểu mục (3), nếu được Cơ quan chứng nhận là bản sao thật, sẽ được chấp nhận làm bằng chứng trong bất kỳ thủ tục tố tụng nào [15, Điều 63]
Từ phân tích trên cho thấy Luật về giáo dục tư thục của Singapore đã quy định cụ thể từ việc thành lập, quản trị và hoạt động của một cơ sở giáo dục tư thục, bên cạnh đó, các quy định về thanh tra, quảng cáo, hoàn trả học phí khi cơ sở giáo dục vi phạm và chế tài liên quan đều được quy định đầy
đủ, rõ ràng, minh bạch Trong bối cảnh khối giáo dục tư thục ngày càng phát triển thì việc Việt nam nên có một luật giáo dục tư thục với các quy định đầy
đủ như Luật giáo dục tư thục của Singapore sẽ giúp quản lý nhà nước được minh bạch, nhà đầu tư có định hướng và hành lang pháp lý để tuân thủ, người dân có được thước đo để đặt lòng tin và các cơ sở giáo dục tư thục Các cơ sở giáo dục tư thục làm ăn nghiêm túc, tuân thủ luật sẽ có cơ hội phát triển, các tranh chấp hay xẩy ra về phần vốn góp của nhà đầu tư cũng được giảm thiểu, các cơ sở giáo dục tư thục không nghiêm túc, không đảm bảo chất lượng sẽ không còn cơ hội để lách luật
2.2 Thực trạng pháp luật về giáo dục tƣ thục của Malaysia
Tại Malaysia, có 2 văn bản luật cao nhất điều chỉnh các hoạt động của
cơ sở giáo dục, trong đó có cơ sở giáo dục tư thục là Luật giáo dục 1996 (act
Trang 40550) [11], Luật giáo dục sửa đổi Act 2015 (Act A1490) và Luật giáo dục đại học
tư thục 1996 [13], Luật giáo dục đại học tư thục sửa đổi 2017 (A1535) [13]
Theo quy định tại Luật giáo dục, định nghĩa trường tư thục được hiểu như sau:
Trường tư thục và cơ sở giáo dục tư thục [11, tr.22] hoặc một tổ chức giáo dục không phải là chính phủ hoặc trường hỗ trợ chính phủ hoặc tổ chức giáo dục;
Tại Luật giáo dục 1996 có ba loại tổ chức giáo dục trong Hệ thống giáo dục quốc dân, cụ thể là [11, tr.30]
(a) Các có sở giáo dục của chính phủ;
(b) Các cơ sở giáo dục được chính phủ hỗ trợ; và
(c) Các cơ sở giáo dục tư nhân
Tại luật này, quy định về giáo dục tư thục và hình thức đăng ký được
đề cập từ điều 73 đến điều 78 Theo điều 73 của luật này (1) Không có gì trong luật này được hiểu là cấm thành lập và duy trì một tổ chức giáo dục
tư thục Mỗi tổ chức giáo dục tư thục phải tuân thủ Đạo luật này và tất cả các quy định được thực hiện theo Đạo luật này và áp dụng cho các tổ chức giáo dục Phần này sẽ không áp dụng cho tổ chức giáo dục đại học tư thục Các cơ sở giáo dục tư nhân tuân thủ các yêu cầu của chương trình giảng dạy quốc gia
Luật giáo dục của Malaysia thể hiện quan điểm mong muốn thúc đẩy
sự phát triển của giáo dục tư nhân Theo luật này, Phòng Giáo dục Tư thục (PED) là một trong những bộ phận thuộc Bộ Giáo dục có chức năng chính là lập kế hoạch, giám sát và điều chỉnh sự phát triển của giáo dục tư nhân của đất nước ở cấp độ tiền đại học Vai trò của PED được quy định theo luật Giáo dục 1996 (Đạo luật 550) nhằm thúc đẩy việc thành lập các tổ chức giáo dục tư