1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân

103 109 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 851,75 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Về BTTHNHĐ nói chung và năng lực BTTHNHĐ của cá nhân nói riêng đã một số lượng không nhỏ các công trình nghiên cứu, từ tiểu luận, bài viết trên các tạp chí, cho đến luận văn, đề tài khoa

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN THỊ PHƯƠNG CHÂM

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi

có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Trần Thị Thu Giang

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG VÀ NĂNG LỰC BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG CỦA CÁ NHÂN 6

1.1 Lý luận chung về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng 6

1.1.1 Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng 6

1.1.2 Ý nghĩa của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng 10

1.1.3 Đặc điểm pháp lý của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng 13

1.1.4 Điều kiện cấu thành trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng 14

1.2 Lý luận chung về năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân 16

1.2.1 Khái niệm về năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân 16

1.2.2 Ý nghĩa của năng lực bồi thường của cá nhân trong pháp luật BTTHNHĐ 17

1.2.3 Điều kiện về năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân 18

1.2.4 Hậu quả pháp lý khi xác định năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân 21

1.3 Quy định của một số nước về năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân 22

1.3.1 Pháp luật Nhật Bản về năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân 23

1.3.2 Pháp luật Cộng hòa Pháp về năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân 24

1.3.3 Pháp luật Cộng hòa Liên bang Đức về năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân 26

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 28

Trang 5

CHƯƠNG 2: PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ NĂNG LỰC BỒI THƯỜNG

THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG CỦA CÁ NHÂN 29

hại ngoài hợp đồng của cá nhân qua các thời kỳ 29

2.1.1 Năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân thời kỳ

phong kiến 29 2.1.2 Năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân thời kỳ thực

dân – phong kiến 31 2.1.3 Năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân thời kỳ sau

cách mạng tháng tám năm 1945 đến trước năm 1995 32 2.1.4 Năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân thời kỳ từ

năm 1995 đến trước năm 2005 34 2.1.5 Năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân thời kỳ từ

năm 2005 đến trước năm 2015 36 2.1.6 Năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân thời kỳ từ

năm 2015 đến nay 36

ngoài hợp đồng của cá nhân 38

2.2.1 Năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do hành vi trái pháp

luật của cá nhân từ đủ mười tám tuổi trở lên có đủ năng lực hành vi dân sự gây ra 38 2.2.2 Năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do hành vi trái pháp luật

của người chưa đủ mười tám tuổi gây ra 42 2.2.3 Năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do hành vi gây thiệt hại

của người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi 67 2.2.4 Năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do hành vi gây thiệt hại

của người dùng chất kích thích gây ra 78 KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 83

Trang 6

CHƯƠNG 3: VƯỚNG MẮC VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH

CỦA PHÁP LUẬT VỀ NĂNG LỰC BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI

NGOÀI HỢP ĐỒNG CỦA CÁ NHÂN 84

3.1 Vướng mắc của quy định ph p luật về năng lự ồi thường thiệt hại ngo i hợp đồng của cá nhân 84

3.2 i n nghị ho n thiện ph p luật về năng lự ồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân 88

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 93

KẾT LUẬN CHUNG 94

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 95

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thi t của đề tài và tình hình nghiên cứu

Trách nhiệm BTTHNHĐ là một trong những chế định lớn trong pháp luật dân sự nói chung và pháp luật dân sự Việt Nam nói riêng có lịch sử sớm nhất và có

vị trí quan trọng trong pháp luật dân sự, một chế định được hình thành nhằm giải quyết những vấn đề liên quan đến thiệt hại phát sinh không xuất phát từ thực hiện hợp đồng Tại các Quốc gia khác nhau, qua các giai đoạn lịch sử nhất định thì quy định về BTTHNHĐ cũng có sự khác nhau về cách thức, mức độ bồi thường, cách xác định thiệt hại cũng như việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại là không giống nhau Trách nhiệm bồi thường thiệt hại không phải là hình phạt mà là nghĩa

vụ, bổn phận của người gây thiệt hại phải bồi thường cho người bị thiệt hại nhằm phục hồi, đền bù những tổn thất, mất mát cho người bị thiệt hại Theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, chế định bồi thường thiệt hại được Bộ luật Dân sự

2015 ghi nhận tại chương XX quy định về về “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại

ngoài hợp đồng” Trong đó, năng lực bồi thường thiệt hại của cá nhân được quy

định tại Điều 586 BLDS 2015, năng lực này được xuất phát từ năng lực chủ thể của

cá nhân khi tham gia vào quan hệ dân sự Pháp luật dân sự quy định năng lực của cá nhân phụ thuộc vào mức độ năng lực hành vi, tình trạng tài sản và khả năng bồi thường của cá nhân

Trên thực tế, việc áp dụng quy định của pháp luật về BTTHNHĐ cần xét đến năng lực của cá nhân còn tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau, do đó mà cũng phát sinh mâu thuẫn chưa thống nhất, gây ra khó khăn khi xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân Điều này dẫn đến việc phát sinh nhiều vụ việc do hành

vi gây thiệt hại nặng nề ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích của các chủ thể trong xã hội Việc xử lý các vụ việc nêu trên ngoài chế tài về dân sự còn dựa trên căn cứ pháp luật về hình sự và hành chính, tuy nhiên những chế tài này còn yếu, chưa đủ sức răn đe Để hiểu chính xác cũng như xác định đúng trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân, qua đó phát hiện những bất cập và hoàn thiện, thống

Trang 8

nhất các quy định đó, đồng thời tăng tính khả thi của pháp luật, thì việc nghiên cứu các quy định pháp luật về năng lực BTTHNHĐ của cá nhân là hết sức cần thiết

Về BTTHNHĐ nói chung và năng lực BTTHNHĐ của cá nhân nói riêng đã một số lượng không nhỏ các công trình nghiên cứu, từ tiểu luận, bài viết trên các tạp chí, cho đến luận văn, đề tài khoa học, có thể kể đến đó là: Tạp chí luật học (số 10), trang 60-61 của Tiến sĩ Phùng Trung Tập năm 2004, Lỗi và trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng; Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số 8/2015, trang 13 – 18: Bình luận và kiến nghị về “thiệt hại khi tính mạng bị xâm phạm” trong chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của Fushihara Hirota; Tạp chí Nghiên cứu lập pháp

số 4/2005, trang 61 – 66 của Nguyễn Văn Cương, Chu Thị Hoa, Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng; Tạp trí kiểm sát số 19/2016, trang 34 – 39 của Trịnh Tuấn Anh, Bàn về căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015; Tạp chí tòa án nhân dân số 9/2013 trang 28 – 31 của Nguyễn Thị Thúy Hằng, Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân có năng lực hành vi dân sự; Sách chuyên khảo của Tiến sĩ Phùng Trung Tập năm 2009 – Nhà xuất bản Hà Nội, Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản, sức khỏe và tính mạng; Luận văn thạc sĩ luật học của Nguyễn Minh Thư năm 2010, Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân – Một số vấn đề

lý luận và thực tiễn; Luận văn thạc sĩ luật học của Cao Cẩm Nhung năm 2015 Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân theo pháp luật Việt Nam; Sách Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng từ quy định của pháp luật đến thực tiễn, Nhà xuất bản Học viện Tư pháp, năm 2012… có thể nhận thấy tài liệu về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng rất đa dạng, tuy nhiên tài liệu về năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng vẫn còn hạn chế Đặc biệt là kể từ khi BLDS 2015 có hiệu lực đến nay chưa có công trình luận văn thạc sĩ nào đi nghiên cứu về năng lực BTTHNHĐ của cá nhân

Xuất phát từ lý do đó, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Năng lực bồi thường thiệt hại

ngoài hợp đồng của cá nhân” để làm luận văn tốt nghiệp thạc sĩ chuyên ngành Luật

dân sự và tố tụng dân sự, hi vọng công trình này sẽ làm giàu thêm cho nội dung nghiên

Trang 9

cứu về BTTHNHĐ nói chung và năng lực BTTHNHĐ của cá nhân nói riêng Cùng với

đó góp phần hoàn thiện hơn hệ thống pháp luật về năng lực BTTHNHĐ của cá nhân, nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật Việt Nam về vấn đề này

2 Phạm vi v mụ đí h nghiên ứu

Đối với đề tài “Năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân”,

trong khuôn khổ nghiên cứu luận văn thạc sĩ, tôi xin tập trung nghiên cứu dựa vào các căn cứ pháp luật như sau: BLDS năm 2005, BLDS năm 2015, Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định của bộ luật dân sự năm

2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành; Nghị quyết 01/2004/NQ-HĐTP về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Dân sự về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành; Thông tư số 173/1972/TANDTC ngày 23/3/1972 hướng dẫn xét xử về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do Tòa án Nhân dân Tối cao ban hành Để đi nghiên cứu năng lực BTTHNHĐ của cá nhân, ta sẽ đi vào từng vấn đề: Đầu tiên là lý luận chung về năng lực BTTHNHĐ của cá nhân, hệ thống hóa các quy định của pháp luật về năng lực BTTHNHĐ của cá nhân, dựa vào đó nghiên cứu thực trạng BTTHNHĐ của cá nhân, đánh giá tính bao quát của quy định của pháp luật trong thực tế Trên cơ sở đó nghiên cứu về nguyên nhân của thực trạng, đồng thời chỉ ra những điểm cần sửa đổi, bổ sung đối với các bất cập còn tồn tại, góp phần vào việc giúp các cơ quan áp dụng pháp luật khi giải quyết các tranh chấp về BTTHNHĐ do hành vi trái pháp luật gây ra

3 Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài

Để có thể đạt được mục đích đã đặt ra, luận văn cần giải quyết các vấn đề:

Thứ nhất, khái quát được nội dung về năng lực bồi thường thiệt hại ngoài

hợp đồng của cá nhân theo pháp luật Việt Nam

Thứ hai, phân tích các quy định về năng lực BTTHNHĐ của cá nhân theo

pháp luật Việt Nam hiện hành, đồng thời nêu và đánh giá thực trạng thi hành pháp luật về vấn đề BTTHNHĐ của cá nhân, bất cập và vướng mắc

Trang 10

Thứ ba, trên cơ sở thực trạng trên, đề xuất các giải pháp để hoàn thiện pháp

luật, nhằm đảm bảo tốt việc thực hiện pháp luật lien quan đến việc xác định năng lực BTTHNHĐ của cá nhân

Các quy định về năng lực BTTHNHĐ của cá nhân còn cần được nghiên cứu

để bổ sung kịp thời, đặc biệt là trong tiến trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa, nhịp sống ngày càng nhanh với sự đa dạng của hoạt động con người trong những năm trở lại đây Khẳng định tính tất yếu và cấp bách của việc nghiên cứu đề tài năng lực BTTHNHĐ của cá nhân, tạo hành lang pháp lý, bổ sung kịp thời vào những lỗ hổng pháp luật Việt Nam về vấn đề này

4 Phương ph p nghiên ứu

Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu đã đặt ra, trong quá trình nghiên cứu luận văn, người viết đặt ra các vấn đề về trách nhiệm BTTHNHĐ, năng lực BTTHNHĐ của

cá nhân trong mối liên hệ với nhau, không nghiên cứu một cách riêng lẻ, đồng thời

có sự so sánh giữa các quy định đã hết hiệu lực với các quy định pháp luật hiện

hành Thông qua phương pháp luận nghiên cứu khoa học duy vật biện chứng và duy

vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối quan

điểm của Đảng cộng sản Việt Nam

Một số phương pháp nghiên cứu chủ yếu được áp dụng trong luận văn như sau:

Phương pháp phân tích, diễn giải: Những phương pháp này được sử dụng phổ biến trong việc làm rõ các quy định của pháp luật về trách nhiệm BTTHNHĐ

nói chung và năng lực BTTHNHĐ của cá nhân nói riêng

Phương pháp đánh giá, phương pháp so sánh: Những phương pháp này được người viết vận dụng để đưa ra ý kiến nhận xét quy định của pháp luật hiện hành có hợp lý hay không, đồng thời nhìn nhận trong mối tương quan so với quy định liên

quan hoặc pháp luật của các nước khác

Phương pháp quy nạp, phương pháp diễn dịch: Được vận dụng để triển khai

có hiệu quả các vấn đề liên quan đến năng lực BTTHNHĐ, đặc biệt là các kiến nghị hoàn thiện Cụ thể như trên cơ sở đưa ra những kiến nghị mang tính khái quát người viết dùng phương pháp diễn dịch để làm rõ nội dung của kiến nghị đó

Trang 11

5 Ý nghĩa lý luận v thự tiễn ủa luận văn

Với công trình nghiên cứu của mình trong phạm vi luận văn thạc sĩ, kết quả

đề ra của luận văn là làm sáng tỏ lý luận trong khoa học pháp lý về vấn đề năng lực BTTHNHĐ của cá nhân: Đưa ra và làm rõ được khái niệm, xây dựng những tiêu chí

để xác định được trường hợp cá nhân có năng lực BTTHNHĐ, phát hiện được những vướng mắc còn tồn tại, cùng với đó đưa ra phương hướng hoàn thiện pháp luật về năng lực BTTHNHĐ của cá nhân

Bên cạnh đó, luận văn sẽ góp phần làm đa dạng kho tàng tài liệu tham khảo cho các đối tượng cần tìm hiểu, nghiên cứu về vấn đề bồi thường thiệt hại Và với những giải pháp hoàn thiện sẽ đề cập đến trong luận văn cũng là cơ sở để giúp ích các cơ quan chức năng có thẩm quyền, trong phạm vi của mình trong hoạt động sửa đổi, bổ sung pháp luật

6 Cơ ấu luận văn

Ngoài lời nói đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn gồm ba chương, cụ thể:

Chương 1: Lý luận chung về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và năng lực

bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân

Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam về năng lực bồi thường thiệt hại

ngoài hợp đồng của cá nhân

Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật về năng

lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân

Trang 12

Chương 1

LÝ LUẬN CHUNG VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG VÀ NĂNG LỰC BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP

ĐỒNG CỦA CÁ NHÂN

1.1 Lý luận hung về tr h nhiệm ồi thường thiệt hại ngo i hợp đồng

1.1.1 Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

BTTHNHĐ là một trong những chế định có sớm nhất của pháp luật dân sự trong lịch sử pháp luật thế giới Quy định về người phải bồi thường, cách thức bồi thường, thiệt hại phải bồi thường, mức độ bồi thường khác nhau qua các thời kỳ lịch

sử, và cũng khác nhau ở mỗi quốc gia, lãnh thổ, tùy thuộc vào quan điểm giai cấp, điều kiện kinh tế - xã hội ở các nước khác nhau Bồi thường thiệt hại được hiểu là một loại trách nhiệm dân sự theo đó người có hành vi gây ra thiệt hại cho người khác phải bồi thường những tổn thất mà mình gây ra [10]

Về mặt ngôn ngữ học, theo Đại từ điển tiếng Việt, thiệt hại được hiểu là “mất

mát, hư hỏng nặng nề về người và của” [32] Dưới góc độ khoa học pháp lý, Từ

điển giải thích thuật ngữ luật học của Trường Đại học Luật Hà Nội: “thiệt hại là tổn

thất về tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, tài sản của cá nhân, tổ chức được pháp luật bảo vệ” [19]

Theo luật thực định, Điều 310 BLDS 1995 đưa ra cách tiếp cận khái niệm “trách

nhiệm bồi thường thiệt hại” trong quan hệ pháp luật về BTTHNHĐ, theo đó “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại bao gồm trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất và trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tinh thần” Điều 307 BLDS 2005 nhắc đến trách nhiệm bồi

thường thiệt hại, tuy nhiên lại không đưa ra được căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại, mà chỉ đề cập đến hai loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất

và bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần Tiếp đó BLDS năm 2015 quy định tại Điều

360 về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ:

Trường hợp có thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ gây ra thì bên có nghĩa vụ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác

Trang 13

Cụ thể tại Điều 361 BLDS 2015:

Thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ bao gồm thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần Thiệt hại về vật chất là tổn thất vật chất thực tế xác định được, bao gồm tổn thất về tài sản, chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại, thu nhập thực tế bị mất hoặc giảm sút Thiệt hại về tinh thần là tổn thất về tinh thần do bị xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín và các lợi ích nhân thân khác của một chủ thể

Như vậy, về mặt khoa học và luật thực định thì theo quan điểm phổ biến hiện

nay có thể hiểu thiệt hại bao gồm: Thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần

Bồi thường thiệt hại được hiểu là “đền bù những tổn thất đã gây ra” [31] Cá

nhân, pháp nhân có quyền dân sự bị xâm phạm được bồi thường toàn bộ thiệt hại, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác [29, Điều 13]

Về khía cạnh pháp lý, bồi thường là một dạng nghĩa vụ dân sự phát sinh do hành vi gây thiệt hại, hay có thể hiểu là hình thức trách nhiệm dân sự nhằm buộc bên có hành vi gây thiệt hại phải khắc phục hậu quả bằng cách bù đắp, đền bù tổn thất về vật chất và tổn thất về tinh thần cho bên bị thiệt hại Như vậy có thể định nghĩa bồi thường là việc đền bù những tổn thất, mất mát về vật chất và tinh thần nhằm khắc phục những hậu quả do hành vi gây thiệt hại gây ra

Tôn trọng pháp luật, tôn trọng những quy tắc chung của xã hội, không xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác là nguyên tắc chung cho mọi chủ thể trong toàn xã hội Khi chủ thể vi phạm nghĩa vụ pháp lý, gây tổn hại cho chủ thể khác thì chính chủ thể đó phải chịu bất lợi do hành vi của mình gây ra, việc gánh chịu hậu quả bất lợi này chính là việc bồi thường thiệt hại Như vậy, trách nhiệm bồi thường thiệt hại là trách nhiệm dân sự mà theo đó thì một người phải bù đắp những tổn thất, mất mát về vật chất và tinh thần nhằm khắc phục những hậu quả do hành vi gây thiệt hại trái pháp luật gây ra

Qua tiến trình phát triển của xã hội, các chế định pháp luật dần thay đổi, trách nhiệm bồi thường thiệt hại không được coi là hình phạt nữa mà là nghĩa vụ của người gây thiệt hại phải bồi thường cho người bị thiệt hại nhằm khôi phục tình trạng tài sản của người bị thiệt hại

Trang 14

BTTHNHĐ là một chế định quan trọng trong luật dân sự Tại Điều 275 BLDS năm 2015 nêu ra một trong những căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ dân sự là “gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật”, tương ứng với căn cứ này là các quy định tại chương XX

phần thứ ba BLDS 2015 về “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng”

Theo đó, hành vi trái pháp luật là căn cứ làm phát sinh trách nhiệm BTTHNHĐ Trách nhiệm lúc này được hiểu là nghĩa vụ của người gây thiệt hại phải bồi thường cho người bị thiệt hại Trong trường hợp này, nhà làm luật đã đồng nghĩa trách nhiệm BTTHNHĐ với nghĩa vụ phát sinh do hành vi trái pháp luật Điều 584 BLDS 2015 đã

xác định sự đồng nghĩa này bằng quy định: “Người nào có hành vi xâm phạm tính

mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác” Theo quy định của điều luật này khi một người gây

thiệt hại cho người khác thì phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại Hay nói cách khác giữa các chủ thể này phát sinh một quan hệ pháp luật, trong đó người bị thiệt hại

có quyền yêu cầu bên gây thiệt hại bồi thường còn bên gây thiệt hại có nghĩa vụ bồi thường những thiệt hại đã gây ra Quan hệ pháp luật đó gọi là nghĩa vụ phát sinh do gây thiệt hại hay còn gọi là trách nhiệm BTTHNHĐ [1]

Bộ luật không đưa ra khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại mà chỉ quy định người có hành vi gây thiệt hại phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất và bồi thường thiệt hại về tinh thần, khi thiệt hại xảy ra Trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất là trách nhiệm bù đắp tổn thất vật chất thực tế xác định được do bên vi phạm gây ra, bao gồm tổn thất về tài sản, chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại, thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút Trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tinh thần là khi người có hành vi gây thiệt hại về tinh thần cho người khác do xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm,

uy tín và các lợi ích nhân thân khác của một chủ thể [29, Điều 361]

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại làm phát sinh nghĩa vụ bồi thường do hành

vi trái pháp luật, và từ nghĩa vụ phải bồi thường lại tạo ra quan hệ nghĩa vụ tương ứng với quy định nghĩa vụ tại Điều 274 BLDS 2015:

Trang 15

Nghĩa vụ là việc mà theo đó, một hoặc nhiều chủ thể (sau đây gọi chung

là bên có nghĩa vụ) phải chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện công việc hoặc không được thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác (sau đây gọi chung là bên có quyền)

Theo đó, người bị thiệt hại (người có quyền) và người gây ra thiệt hại (người

có nghĩa vụ) là các bên tham gia vào quan hệ nghĩa vụ này, trong đó bên có quyền cũng như bên có nghĩa vụ có thể có một hoặc nhiều người Quyền và nghĩa vụ của

họ có thể là liên đới, riêng rẽ, hay theo phần tùy điều kiện hoàn cảnh và đối tượng bị xâm hại Trong quan hệ nghĩa vụ đó, chủ thể tham gia có thể là công dân, pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác Các cơ quan nhà nước, cơ quan tiến hành tố tụng cũng

có thể trở thành bên có quyền hoặc bên có nghĩa vụ trong một số trường hợp

Cơ sở của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do pháp luật quy định xuất phát

từ những nguyên tắc chung của Hiến pháp và các nguyên tắc được quy định trong

Điều 3 BLDS 2015 Tại khoản 4 Điều 3 BLDS 2015 quy định: “Việc xác lập, thực

hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự không được xâm phạm đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác” Nguyên tắc

này buộc các chủ thể không được xâm phạm, nếu xâm phạm sẽ bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế với mục đích khắc phục những hậu quả về tài sản cũng như nhân thân do hành vi gây thiệt hại tạo ra Cơ sở phát sinh nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do

là sự kiện “gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật” cho các chủ thể khác Khách thể trong quan hệ nghĩa vụ này luôn được thể hiện dưới dạng hành động, phải thực hiện hành vi bồi thường cho bên bị thiệt hại

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại thể hiện trong nghĩa vụ bồi thường thiệt hại được gọi là trách nhiệm BTTHNHĐ, để phân biệt với trách nhiệm theo hợp đồng Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng là trách nhiệm dân sự phát sinh do không thực hiện hoặc thực hiện không đúng với nghĩa vụ trong hợp đồng Loại trách nhiệm này có đặc điểm là giữa hai bên chịu trách nhiệm và bên bị thiệt hại có quan hệ hợp đồng, và thiệt hại là do hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không

Trang 16

đúng nghĩa vụ trong hợp đồng Đương nhiên trong trường hợp các bên có quan hệ hợp đồng nhưng thiệt hại xảy ra không liên quan đến việc thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng thì trách nhiệm này là trách nhiệm ngoài hợp đồng Trong thực tiễn xét

xử, trường hợp gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe dù hai bên có quan hệ hợp đồng hay không có quan hệ hợp đồng thì đều áp dụng trách nhiệm BTTHNHĐ

Trách nhiệm BTTHNHĐ là một hình thức cụ thể của trách nhiệm dân sự, do đó trách nhiệm BTTHNHĐ trước hết là một loại trách nhiệm dân sự, chịu sự điều chỉnh của pháp luật dân sự Trách nhiệm BTTHNHĐ luôn mang đến hậu quả bất lợi về tài sản cho người gây thiệt hại Theo quy định của BLDS 2015 khi một người có hành vi trái pháp luật gây ra thiệt hại cho người khác thì phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, thiệt hại là những tổn thất thực tế được tính thành tiền do việc xâm phạm đến danh

dự, tính mạng, nhân phẩm, uy tín, tài sản của cá nhân, tổ chức Các bên có thể thỏa thuận hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc Những tổn thất về tinh thần không thể giá trị được bằng tiền theo nguyên tắc ngang giá trị và không thể phục hồi được Tuy nhiên, với mục đích an ủi động viên người bị thiệt hại về tinh thần, BLDS năm 2015 quy định người bị thiệt hại danh dự, nhân phẩm, uy tín thì ngoài quyền yêu cầu bác bỏ thông tin đó, đưa ra thông tin xin lỗi, cải chính công khai, còn có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại [29, Điều 34]

Như vậy, trách nhiệm BTTHNHĐ là một loại trách nhiệm dân sự bao gồm trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất và trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tinh thần, phát sinh khi có hành vi vi phạm pháp luật gây thiệt hại cho người khác

về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác, mà trước đó giữa người gây thiệt hại và người bị thiệt hại không có quan

hệ hợp đồng hoặc không có giao kết hợp đồng nhưng hành vi gây thiệt hại không thuộc hành vi vi phạm hợp đồng

1.1.2 Ý nghĩa của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại không chỉ nhằm bảo đảm việc đền bù tổn thất đã gây ra mà còn giáo dục mọi người về ý thức tuân thủ pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong xã hội Trong thực tế thiệt hại về tài

Trang 17

sản, tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, nhân phẩm của cá nhân; Tài sản, danh dự,

uy tín của tổ chức do hành vi trái pháp luật của cá nhân diễn ra khá nhiều Vì vậy, quy định của pháp luật về trách nhiệm dân sự nói chung và trách nhiệm BTTHNHĐ nói riêng là vô cùng cần thiết Không chỉ có pháp luật Việt Nam mà pháp luật hầu hết các nước trên thế giới đều có chế định này Khi một hành vi xâm phạm đến tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể khác thì tùy theo quan hệ bị xâm hại được pháp luật bảo vệ hành vi của người gây thiệt hại có thể phải chịu trách nhiệm hình sự hoặc dân sự Điều có ý nghĩa thiết thực hơn hết vào lúc này, đối với người

có tài sản hoặc quyền nhân thân bị xâm phạm là phải làm thế nào để khắc phục được những hậu quả do hành vi pháp luật gây nên Trách nhiệm BTTHNHĐ khác với trách nhiệm hình sự ở chỗ nó được áp dụng đối với mọi chủ thể là cá nhân, pháp nhân hay chủ thể khác, trong khi đó trách nhiệm hình sự chỉ áp dụng đối với cá nhân Mặt khác, hình thức lỗi đóng vai trò quan trọng trong luật hình sự, trong khi luật dân sự lại quy định một nguyên tắc tổng quát về trách nhiệm BTTHNHĐ mà không quy định những hành vi nào là có lỗi và phải chịu chế tài, trong dân sự, người nào có hành vi xâm phạm đến lợi ích về vật chất hoặc tinh thần của cá nhân,

tổ chức khác thì phải bồi thường những thiệt hại đã gây ra Bởi vậy, bên cạnh những biện pháp hình sự để trừng phạt người có hành vi trái pháp luật, trong nhiều trường hợp phải sử dụng các biện pháp dân sự, được áp dụng một cách độc lập không phụ thuộc vào việc người gây thiệt hại có phải chịu trách nhiệm hình sự hay không Để khắc phục hậu quả do hành vi trái pháp luật gây ra, pháp luật Việt Nam quy định các biện pháp trong cả hình sự và dân sự, trong đó bao gồm biện pháp buộc bồi thường thiệt hại Hậu quả của việc áp dụng biện pháp này luôn mang đến bất lợi về tài sản cho người gây thiệt hại để hạn chế, bù đắp những thiệt hại họ gây ra cho người khác, nhất là hành vi phạm tội với động cơ vụ lợi Quy định của pháp luật về trách nhiệm BTTHNHĐ có các ý nghĩa:

Thứ nhất, quy định về trách nhiệm BTTHNHĐ góp phần bảo vệ tính mạng,

sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản của cá nhân, tổ chức một cách triệt để hơn Trường hợp hành vi trái pháp luật gây thiệt hại về tài sản thì phải khôi phục lại

Trang 18

tình trạng tài sản của người bị thiệt hại bằng các biện pháp như: Đền bù giá trị tài sản bị hư hỏng hay mất bằng một số tiền, thay thế tài sản hư hỏng hay mất bằng một tài sản khác, sửa chữa tài sản đã bị hư hỏng để khắc phục giá trị sử dụng của nó như khi chưa bị hư hỏng… Nếu hành vi trái pháp luật gây ra thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân hoặc tổ chức thì phải chịu trách nhiệm bồi thường những chi phí mà người bị thiệt hại bỏ ra để phục hồi sức khỏe và những thu nhập người đó không thu được Với thiệt hại về tính mạng, phải chịu trách nhiệm bồi thường những chi phí cứu chữa người đó trước khi chết, chi phí mai tang, chi phí cấp dưỡng những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng Còn đối với thiệt hại do xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín thì người gây thiệt hại phải chịu trách nhiệm do xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín thì người gây thiệt hại phải chịu trách nhiệm về chi phí hợp lý để hạn chế, bù đắp thiệt hại Bên cạnh đó, đối với trường hợp xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm,

uy tín của cá nhân, tổ chức người gây thiệt hại còn bù đắp tổn thất về tinh thần cho người bị thiệt hại hoặc nhân thân người bị thiệt hại bằng một khoản tiền nhất định, đồng thời buộc người gây thiệt hại phải xin lỗi, cải chính công khai

Thứ hai, những quy định về trách nhiệm BTTHNHĐ có ý nghĩa trong việc

giáo dục pháp luật, phòng ngừa những hành vi trái pháp luật gây thiệt hại cho người khác Bất kỳ ai có hành vi trái pháp luật gây thiệt đều có trách nhiệm bồi thường Bởi vậy, những quy định của pháp luật về trách nhiệm BTTHNHĐ sẽ buộc mọi người trước khi hành động đều phải suy nghĩ về hậu quả có thể xảy ra để lựa chọn hành vi xử sự đúng pháp luật Qua đó góp phần nâng cao nhận thức pháp luật cũng như ý thức chấp hành của công dân

Thứ ba, BLDS 2015 quy định về trách nhiệm BTTHNHĐ khá chi tiết về căn

cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại, nguyên tắc bồi thường thiệt hại, năng lực bồi thường thiệt hại, căn cứ để xác định thiệt hại, thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại, cũng như bồi thường thiệt hại trong một số trường hợp cụ thể Điều này tạo ra cơ sở pháp lý vững chắc để cơ quan bảo vệ pháp luật giải quyết các vấn đề tranh chấp liên quan đến trách nhiệm BTTHNHĐ, xác định đúng chủ thể có

Trang 19

trách nhiệm bồi thường thiệt hại, giải quyết vụ án một cách nhanh chóng, chính xác bảo đảm nguyên tắc thiệt hại gây ra phải được bồi thường “toàn bộ” và “kịp thời” cho người bị thiệt hại

1.1.3 Đặc điểm pháp lý của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Trách nhiệm BTTHNHĐ là một hình thức cụ thể của trách nhiệm dân sự, do

đó trách nhiệm BTTHNHĐ trước hết là một loại trách nhiệm dân sự, chịu sự điều chỉnh của pháp luật dân sự Khi một người gây ra tổn thất cho người khác thì họ phải bồi thường thiệt hại để bảo đảm quyền lợi chính đáng cho bên bị thiệt hại

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại dựa trên hành vi bất hợp pháp còn được gọi là BTTHNHĐ Đây là khái niệm được xây dựng dựa trên hành vi bất hợp pháp, là trách nhiệm luật định đối với chủ thể pháp luật dân sự với tư cách là hậu quả pháp lý được quy thuộc cho chủ thể khi thực hiện hành vi xâm hại quyền tài sản, quyền nhân thân (quyền và lợi ích hợp pháp) của chủ thể khác Và trách nhiệm BTTHNHĐ có những đặc điểm pháp lý sau khi phân biệt với trách nhiệm bồi thường thiệt hại dựa trên

hợp đồng: (1) Thứ nhất, BTTHNHĐ là hậu quả pháp lý mà pháp luật quy định khi

thấy rằng chủ thể nên gánh chịu khi vi phạm nghĩa vụ mang tính luật Việc vi phạm những nghĩa vụ này sẽ dẫn tới trách nhiệm bồi thường thiệt hại [11] Theo BLDS

2015, khi một người có hành vi trái pháp luật gây ra thiệt hại cho người khác thì phải chịu trách nhiệm BTTH, thiệt hại là những tổn thất thực tế được tính thành tiền

do việc xâm phạm đến danh dự, tính mạng, nhân phẩm, uy tín, tài sản của cá nhân,

tổ chức Các bên có thể tự thỏa thuận về hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc Những tổn thất về tinh thần không thể giá trị được bằng tiền theo nguyên tắc ngang giá trị và không thể phục hồi được Tuy nhiên, với mục đích an ủi động viên người bị thiệt hại về tinh thần, BLDS năm 2015 quy định đối với người bị thiệt hại về danh dự, nhân phẩm, uy tín thì ngoài quyền yêu cầu bác bỏ thông tin đó, đưa ra thông tin xin lỗi, cải chính công khai, còn có

quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại [29, Điều 34] (2) Thứ hai, BTTHNHĐ với điều

kiện cần là tồn tại hành vi bất hợp pháp (hành vi xâm hại) Do vậy, không có hành

vi bất hợp pháp không thể quy trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với chủ thể

Trang 20

Mục đích hình thành trách nhiệm BTTHNHĐ đó là pháp luật dân sự xem loại trách nhiệm này như một trách nhiệm dân sự đối với những hành vi bất hợp pháp và qua

đó bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể khác khi chịu những thiệt hại do

hành vi bất hợp pháp đem lại (bù đắp thiệt hại về tài sản và tinh thần) (3) Thứ ba,

trong mối tương quan so sánh với trách nhiệm dân sự dựa trên hợp đồng, trách nhiệm dân sự dựa trên hành vi bất hợp pháp (BTTHNHĐ) là trách nhiệm dân sự độc lập, riêng rẽ với đặc tính cưỡng chế mang tính luật rất mạnh Khác với trách nhiệm dân sự trên hợp đồng với nền tảng pháp lý là sự thỏa thuận giữa các bên, trách nhiệm BTTHNHĐ dựa trên pháp luật về BTTHNHĐ – được quy định tại BLDS và tại các luật chuyên ngành liên quan [11]

1.1.4 Điều kiện cấu thành trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Điều kiện phát sinh trách nhiệm BTTHNHĐ là cơ sở để xác định trách nhiệm bồi thường, người được bồi thường, người phải bồi thường, mức độ bồi thường Các điều kiện này phải được xem xét trong mối quan hệ biện chứng, thống nhất và đầy đủ Trên cơ sở khoa học pháp lý và thực tiễn áp dụng pháp luật khi xét

xử các vụ án, việc xác định trách nhiệm BTTHNHĐ đều phải dựa vào những điều kiện nhất định, mà nghĩa vụ chứng minh thuộc về nguyên đơn:

Một là, điều kiện về thiệt hại xảy ra: Thiệt hại xảy ra là yếu tố tiên quyết để

nhận định xem đó có phải là quan hệ pháp luật về bồi thường thiệt hại hay không, bởi mục đích của việc áp dụng chế định này là khôi phục, bù đắp những tổn thất, mất mát cho người bị thiệt hại, vậy không có thiệt hại thì cũng không đặt ra vấn đề bồi thường thiệt hại Căn cứ vào thiệt hại thực tế, cơ quan áp dụng pháp luật xác định được mức bồi thường thiệt hại, làm sao để tương xứng với tổn thất mà người bị thiệt hại phải chịu đựng, đồng thời ấn định mức bồi thường thiệt hại cho người gây thiệt hại một cách hợp lý

Hai là, điều kiện về hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật: Mọi cá

nhân, tổ chức đều được bảo vệ về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác, mọi chủ thể đều phải tôn trọng, không được thực hiện bất cứ hành vi xâm phạm nào đối với các quyền tuyệt đối đó Điều này

Trang 21

xuất phát từ nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự được quy định tại khoản 4 Điều

3 BLDS 2015: “Việc xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự không

được xâm phạm đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác”

Ba là, điều kiện về mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại và hành vi trái pháp

luật: Để xác định trách nhiệm BTTHNHĐ cần quan tâm đến mối quan hệ nhân quả giữa tác động của hành vi xâm phạm đối với thiệt hại xảy ra trên thực tế Hành vi xâm phạm đó phải là nguyên nhân của thiệt hại xảy ra và ngược lại, thiệt hại xảy ra là kết quả của hành vi trái pháp luật Tuy nhiên, để xác định mối quan

hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra trong nhiều trường hợp rất khó khăn Vậy nên cần phải xem xét, phân tích tất cả các sự kiện liên quan một cách thận trọng, khách quan và toàn diện Từ đó mới có thể rút ra được kết luận chính xác về nguyên nhân, xác định đúng trách nhiệm của người gây thiệt hại cũng như mức bồi thường hợp lý

Bốn là, có lỗi của người gây thiệt hại: Khi một người có đủ nhận thức và

điều kiện để lựa chọn cách xử sự sao cho phù hợp với pháp luật, tránh thiệt hại cho chủ thể khác nhưng vẫn thực hiện hành vi gây thiệt hại thì người đó bị coi là có lỗi Như vậy, lỗi là thái độ tâm lý của người có hành vi gây thiệt hại, phản ánh nhận thức của người đó đối với hành vi và hậu quả của hành vi mà họ đã thực hiện, lỗi bao gồm hai hình thức là lỗi cố ý và lỗi vô ý:

Cố ý gây thiệt hại là trường hợp một người nhận thức rõ hành vi của mình sẽ gây thiệt hại cho người khác mà vẫn thực hiện hành vi đó và mong muốn hoặc không mong muốn nhưng để mặc cho thiệt hại xảy ra

Vô ý gây thiệt hại là một người không thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại mặc dù phải biết trước thiệt hại sẽ xảy ra hoặc thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại nhưng cho rằng thiệt hại sẽ không xảy ra hoặc

có thể ngăn chặn được

Cuối cùng, ngoài bốn điều kiện vừa nêu trên, muốn cho trách nhiệm bồi thường

thiệt hại được phát sinh trên thực tế thì không thể thiếu điều kiện về năng lực BTTHNHĐ Bởi chủ thể có hành vi gây thiệt hại có thể là bất cứ ai, nhưng không phải

Trang 22

mọi chủ thể gây thiệt hại đó đều có năng lực BTTHNHĐ Vì thế, việc xác định điều kiện về năng lực BTTHNHĐ là một căn cứ để yêu cầu bồi thường thiệt hại, qua đó bảo đảm quyền lợi chính đáng cho người bị thiệt hại Đây cũng chính là chế định mà trong những phần tiếp theo của luận văn này tác giả sẽ đi phân tích và làm rõ

1.2 Lý luận chung về năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của

cá nhân

1.2.1 Khái niệm về năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân

Theo đại từ điển Tiếng Việt “năng lực là khả năng đủ để thực hiện tốt một

công việc hay những điều kiện đủ để làm một việc gì” [31] Về mặt thuật ngữ pháp

lý, từ điển luật học định nghĩa: Năng lực pháp luật của cá nhân là khả năng có các

quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự, năng lực pháp luật dâ sự bao gồm quyền nhân thân không gắn với tài sản, quyền nhân thân gắn liền với tài sản, các quyền tài sản, quyền tham gia quan hệ dân sự và có nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ đó [10] Cá nhân có năng lực pháp luật từ khi người đó sinh ra và chấm dứt khi người đó chết

Năng lực hành vi dân sự được pháp luật quy định căn cứ vào: Độ tuổi, bởi đến một

độ tuổi nhất định, một người mới có đủ nhận thức để quyết định về hành vi của mình Vì đó mà bộ luật dân sự quy định người thành niên là người có đủ năng lực hành vi dân sự trừ trường hợp bị mất năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hay hạn chế năng lực hành vi dân sự [29, Điều 20] Nếu

là người chưa thành niên thì tùy theo độ tuổi mà họ là người không có năng lực hành vi hoặc chỉ có năng lực hành vi một phần

Hiện nay, BLDS và các văn bản pháp luật khác chưa đưa ra khái niệm như thế nào là năng lực BTTHNHĐ của cá nhân mà chỉ quy định cụ thể các mức độ năng lực BTTHNHĐ căn cứ vào các tiêu chí độ tuổi, tình trạng tài sản, khả năng nhận thức của cá nhân Bằng việc phân tích trên đây ta có thể đưa ra khái niệm:

Năng lực BTTHNHĐ của cá nhân là khả năng của cá nhân đó bằng hành vi của mình bù đắp những tổn thất, mất mát về vật chất và tinh thần nhằm khắc phục những hậu quả do hành vi trái pháp luật gây ra thiệt hại.’

Trang 23

1.2.2 Ý nghĩa của năng lực bồi thường của cá nhân trong pháp luật BTTHNHĐ

Quy định của pháp luật về năng lực BTTHNHĐ của cá nhân không những có

ý nghĩa về mặt lý luận mà còn có ý nghĩa về mặt thực tiễn bởi khi phát sinh một quan hệ bồi thường thiệt hại thì việc xác định cá nhân gây thiệt hại và việc xác định trách nhiệm bồi thường này thuộc về ai luôn luôn là câu hỏi phải đặt ra để giải quyết tranh chấp Căn cứ vào năng lực BTTHNHĐ được pháp luật quy định để xác định

cá nhân nào phải tự chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do chính hành vi trái pháp luật của mình gây ra, cá nhân nào không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại mặc dù có hành vi gây thiệt hại, và xác định chủ thể có trách nhiệm bồi thường trong những trường hợp đó BLDS năm 2015 quy định bồi thường thiệt hại trong các trường hợp cụ thể: Bồi thường thiệt hại phát sinh trong trường hợp tài sản gây ra thiệt hại; Bồi thường thiệt hại phát sinh do hành vi trái pháp luật của con người gây thiệt hại Việc quy định năng lực bồi thường thiệt hại là căn cứ pháp lý để Tòa án có thể xác định rõ chủ thể nào có trách nhiệm bồi thường thiệt hại, qua đó bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị thiệt hại Pháp luật chỉ có quy định cụ thể về năng lực BTTHNHĐ của cá nhân mà không có quy định cụ thể về năng lực BTTHNHĐ của pháp nhân và các tổ chức khác Điều này có nghĩa là pháp luật thừa nhận pháp nhân và các tổ chức khác có năng lực BTTHNHĐ

Ngoài ra, quy định về năng lực bồi thường thiệt hại còn dựa vào độ tuổi, khả năng nhận thức làm chủ hành vi của cá nhân, đây là căn cứ để xác định đúng tư cách chủ thể trong tố tụng dân sự đối với các trường hợp cụ thể Đối với cá nhân có hành vi gây thiệt hại từ đủ mười tám tuổi trở lên và có năng lực hành vi dân sự đầy

đủ thì họ là bị đơn dân sự trước Tòa án, chính họ phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại Trong thực tiễn xét xử những cá nhân từ đủ mười tám tuổi trở lên có hành

vi gây thiệt hại chưa có tài sản, chưa có thu nhập, đang sống phụ thuộc vào cha mẹ thì Tòa án vẫn xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với họ và trong quá trình giải quyết vụ án vẫn thừa nhận sự tự nguyện của cha, mẹ người gây thiệt hại bồi thường thay cho con, song về mặt luật pháp họ không phải là chủ thể của trách nhiệm bồi thường thiệt hại Đối với cá nhân có hành vi gây thiệt hại là người chưa

Trang 24

thành niên từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi thì khi xét về về mặt

tố tụng, họ có tư cách là bị đơn trong vụ án dân sự, chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật của mình gây ra Tuy nhiên, pháp luật xác định trách nhiệm bồi thường của cha, mẹ, người giám hộ là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Đối với cá nhân chưa đủ mười lăm tuổi có hành vi gây thiệt hại thì họ không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại về hành vi của mình Trường hợp này cha, mẹ của người gây thiệt hại tham gia tố tụng với tư cách là

bị đơn dân sự, chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại thay cho hành vi gây thiệt hại của con mình Đối với những cá nhân mất năng lực hành vi dân sự thì cá nhân, tổ chức giám hộ là bị đơn dân sự

Như vậy, quy định về năng lực BTTHNHĐ của cá nhân đã tạo ra căn cứ pháp lý để bảo vệ lợi ích và nhân thân của người bị thiệt hại Với những quy định về năng lực BTTHNHĐ người bị hại có thể xác định đúng chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại để làm đơn yêu cầu Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, đảm bảo nguyên tắc bồi thường thiệt hại kịp thời và khắc phục toàn bộ thiệt hại đã xảy ra, góp phần tăng ý nghĩa thực tiễn và đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật

1.2.3 Điều kiện về năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân

Người gây thiệt hại có thể là bất cứ chủ thể nào: Cá nhân, pháp nhân, hay tổ chức khác… tuy nhiên chỉ những chủ thể có đủ khả năng bồi thường mới phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, và cũng chính họ phải là người tham gia vào quan

hệ nghĩa vụ, dù hành vi gây ra thiệt hại đó do họ thực hiện hay không BLDS năm

2015 có quy định về năng lực bồi thường thiệt hại của cá nhân tại Điều 586, song lại không có quy định về năng lực BTTHNHĐ của các chủ thể khác Do vậy, có thể hiểu rằng pháp nhân và các tổ chức khác mặc nhiên không có năng lực BTTHNHĐ Pháp nhân, các tổ chức khác có trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi thiệt hại xảy ra

do người của pháp nhân, tổ chức khác gây ra trong khi thực hiện công việc được giao Sau đó, pháp nhân, tổ chức khác xem xét người của pháp nhân gây thiệt hại có lỗi hay không có lỗi trong việc gây thiệt hại, để tiến hành việc hoàn trả khoản tiền bồi thường của người gây thiệt hại cho mình

Trong thực tiễn cuộc sống, khi một chủ thể gây ra thiệt hại cho người khác

Trang 25

thì chủ thể đó phải chịu trách nhiệm bồi thường đối với những thiệt hại do mình gây

ra trừ trường hợp pháp luật quy định không phải chịu trách nhiệm bồi thường Song, khi xét về mặt pháp lý chủ thể gây thiệt hại có thể là bất cứ ai nhưng không phải ai cũng phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại Bởi vậy, để đảm bảo nguyên tắc thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời cho người bị thiệt hại, khi một thiệt hại xảy ra thì vấn đề quan trọng đầu tiên phải làm là việc xác định ai là người phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại

Trên cơ sở khoa học pháp lý và kinh nghiệm từ thực tiễn áp dụng pháp luật

để xét xử các vụ án, cũng như xuất phát từ năng lực chủ thể của cá nhân khi tham gia vào quan hệ dân sự, BLDS 2015 đã quy định khi phải xác định năng lực BTTHNHĐ của cá nhân, đều phải căn cứ vào những yếu tố nhất định: Điều kiện về

độ tuổi; Điều kiện về khả năng nhận thức; Tình tạng tài sản Đây là các điều kiện nhằm xác định năng lực BTTHNHĐ của cá nhân, và cũng là những nội dung chủ yếu của chế định pháp luật này

Điều kiện về độ tuổi

Độ tuổi là yếu tố đầu tiên xuất phát từ yêu cầu về năng lực chủ thể của cá nhân khi tham gia bất kỳ một quan hệ pháp luật nào Để trở thành chủ thể của quan

hệ pháp luật dân sự thì cá nhân phải có đầy đủ năng lực chủ thể, bao gồm cả năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự như đã phân tích ở trên

Theo quy định tại Điều 586 BLDS năm 2015 thì người từ đủ mười tám tuổi trở lên có năng lực hành vi đầy đủ (không rơi vào các trường hợp mất hay hạn chế năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi), có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại thì phải tự bồi thường thiệt hại do họ gây ra, điều này xuất phát từ khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự [29, Điều 19] Người chưa đủ mười lăm tuổi gây thiệt hại mà còn cha, mẹ thì cha, mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại; nếu tài sản của cha, mẹ không

đủ để bồi thường mà con chưa thành niên gây thiệt hại có tài sản riêng thì lấy tài sản

đó để bồi thường phần còn thiếu, trừ trường hợp người này gây ra thiệt hại trong thời gian trường học, bệnh viện, pháp nhân khác trực tiếp quản lý được quy định tại

Trang 26

Điều 599 BLDS 2015 Đối với người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi gây thiệt hại thì phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha, mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình Việc pháp luật quy định độ tuổi là căn cứ của năng lực BTTHNHĐ của cá nhân là hợp lý, bởi khi cá nhân đạt đến một độ tuổi nhất định cùng với một trình độ nhận thức nhất định thì lúc này họ mới có khả năng chịu trách nhiệm dân sự nói chung và trách nhiệm bồi thường thiệt hại nói riêng

Khả năng nhận thức của cá nhân

Khả năng nhận thức của của người gây thiệt hại được đánh giá dựa trên độ tuổi của người đó, là căn cứ để xác định trách nhiệm BTTHNHĐ cũng như năng lực BTTHNHĐ Khả năng nhận thức của mỗi cá nhân là cơ sở quan trọng để xác định năng lực bồi thường khi cá nhân có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại và nó có mối quan hệ biện chứng với năng lực BTTHNHĐ của cá nhân Nhận thức và độ tuổi là hai yếu tố cấu thành nên năng lực hành vi dân sự của chủ thể Pháp luật quy định độ tuổi là căn cứ để xác định mức độ năng lực hành vi dân sự, bởi chỉ khi con người đạt tới một độ tuổi nhất định, tâm sinh lý cùng với nhận thức của họ mới được phát triển đầy đủ Tuy vậy lại có những trường hợp mà khi chủ thể đã đạt đến độ tuổi nhất định nhưng rơi vào trạng thái khó khăn hoặc không có khả năng nhận thức, làm chủ hành vi của mình, pháp luật quy định đây là trường hợp bị mất năng lực hành vi dân sự, hạn chế năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức làm chủ hành

vi Nguyên nhân có thể là do người đó bị mắc bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác dẫn đến hậu quả không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình Dựa vào kết quả giám định pháp y tâm thần, Tòa án tuyên bố bằng quyết định có hiệu thực thì họ

bị coi là người mất năng lực hành vi và họ không thể trở thành chủ thể có thể đứng

ra gánh vác trách nhiệm BTTHNHĐ dù thiệt hại đó là do họ gây ra Tương tự đối với trường hợp hạn chế năng lực hành vi dân sự và có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi cũng như vậy Trên thực tế những người rơi vào các trường hợp vừa đề cập cũng không thể chịu trách nhiệm do chính hành vi gây thiệt hại của mình gây ra, bởi vậy khả năng nhận thức là một căn cứ khoa học và biện chứng phù hợp

Trang 27

với bản chất của pháp luật quy định về trách nhiệm BTTHNHĐ, là điều kiện hạt nhân không thể không xét đến khi xác định năng lực BTTHNHĐ của cá nhân

Tình trạng tài sản

Có quan điểm cho rằng năng lực BTTHNHĐ của cá nhân dựa trên khả năng tạo dựng tài sản của cá nhân là không chính xác, vì bất kỳ cá nhân nào khi gây ra thiệt hại cho người khác đều phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại đã xảy ra mà không phụ thuộc vào việc cá nhân đó có tài sản hay không Tuy nhiên, quan điểm

đó lại cũng hợp lý nếu xét trong trường hợp trách nhiệm bồi thường sẽ do chính cá nhân đã gây thiệt hại gánh chịu Còn đối với trường hợp thiệt hại do người chưa thành niên, người mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi gây ra thì họ không phải gánh chịu hoặc không phải gánh chịu toàn bộ thiệt hại mà do cha mẹ hoặc người giám hộ (khi không chứng minh được mình không có lỗi) gánh chịu Do đó, pháp luật căn cứ vào trình trạng tài sản của cá nhân để quy định năng lực bồi thường thiệt hại Theo đó, người

từ đủ mười tám tuổi trở lên gây thiệt hại thì phải tự bồi thường Người chưa đủ mười lăm tuổi gây thiệt hại mà còn cha, mẹ thì cha, mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại; nếu tài sản của cha, mẹ không đủ để bồi thường mà con chưa thành niên gây thiệt hại có tài sản riêng thì lấy tài sản đó để bồi thường phần còn thiếu, trừ trường hợp quy định tại Điều 599 BLDS 2015 (người này gây ra thiệt hại trong thời gian trường học, bệnh viện, pháp nhân khác trực tiếp quản lý) Đối với người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi gây thiệt hại thì phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha, mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình Như vậy có thể thấy tình trạng tài sản của cá nhân

là điều kiện để xác định năng lực bồi thường thiệt hại

1.2.4 Hậu quả pháp lý khi xác định năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân

Từ các phân tích trên đây, có thể thấy khi một cá nhân gây thiệt hại thì tùy thuộc vào các điều kiện về năng lực BTTHNHĐ của cá nhân được đáp ứng mà sẽ xác định được trách nhiệm BTTHNHĐ của cá nhân tương ứng với từng trường hợp

Trang 28

cụ thể Căn cứ vào mức độ năng lực hành vi dân sự, tình trạng tài sản, khả năng bồi thường của cá nhân để xác định năng lực BTTHNHĐ của cá nhân Mức độ bồi thường thiệt hại được xác định căn cứ vào các điều kiện về độ tuổi, trí tuệ, nhận thức, khả năng tạo dựng tài sản của cá nhân theo quy định của pháp luật dân sự

Bản chất của việc BTTHNHĐ là khôi phục, bù đắp những tổn thất, thiệt hại cho người bị thiệt hại thông qua trách nhiệm tài sản, vì vậy mà việc xác định chủ thể có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại là yếu tố quan trọng đầu tiên cần phải xem xét BLDS quy định khá cụ thể về chế định này để bảo đảm quyền và lợi ích của người

bị thiệt hại Theo đó, người đã thành niên có đầy đủ năng lực BTTHNHĐ sẽ phải tự bồi thường thiệt hại; Còn nếu người gây thiệt hại là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi,… thì trách nhiệm bồi thường không hoàn toàn thuộc về đối tượng này, mà thuộc

về người khác như cha, mẹ, người giám hộ, bệnh viện, trường học, tổ chức khác… Việc xác định được chủ thể bồi thường thiệt hại vừa giúp giải quyết nhanh chóng, chính xác tranh chấp và khắc phục tổn thất cho người bị thiệt hại sớm nhất, vừa là căn cứ để xác định tư cách chủ thể trong tố tụng dân sự, ai sẽ là bị đơn dân sự phải bồi thường theo trách nhiệm dân sự trước Tòa án

Như vậy, sẽ có khó khăn để giải quyết đối với trường hợp người không có năng lực BTTHNHĐ, nếu điều kiện về tài sản của chủ thể phải chịu trách nhiệm BTTHNHĐ chỉ đáp ứng được một phần, hoặc không đáp ứng được yêu cầu bồi thường thiệt hại, lúc này người bị thiệt hại sẽ phải chịu rủi ro

1.3 Quy định của một số nước về năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân

BTTHNHĐ nói chung và năng lực BTTHNHĐ của cá nhân nói riêng là một chế định lịch sử ra đời khá sớm Ở mỗi Quốc gia khác nhau, vào những giai đoạn lịch sử và điều kiện kinh tế, tình hình chính trị - xã hội khác nhau mà các quy định của pháp luật về năng lực BTTHNHĐ của cá nhân cũng khác nhau Các Quốc gia luôn tiếp thu, học hỏi chọn lọc những kinh nghiệm với nhau, tiêu biểu phải kể đến

Trang 29

là pháp luật của Nhật Bản, Pháp và Đức, nơi mà quy định pháp luật có tầm ảnh hưởng bậc nhất đến pháp luật Việt Nam, trong đó có bao gồm các quy định về năng lực BTTHNHĐ của cá nhân

1.3.1 Pháp luật Nhật Bản về năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân

Đất nước “Mặt trời mọc” là một trong những Quốc gia Châu Á có nền kinh

tế phát triển vượt bậc Ở bất kỳ một quốc gia nào đều không thể tránh khỏi những xung đột giữa các chủ thể, hành vi xâm phạm đến quyền, lợi ích của người khác vì lợi ích của bản thân cũng là điều luôn tồn tại Để điều chỉnh các quan hệ xã hội, cũng như các quan hệ pháp luật phát sinh trong thực tiễn, Nhật Bản chú trọng vào cách thức hoạt động của hệ thống cơ quan áp dụng pháp luật và xây dựng các văn bản pháp quy chuẩn mực

BTTHNHĐ trong luật của Nhật Bản được quy định tại Chương V về hành vi

không hợp pháp: “Một người do cố ý hoặc do vô ý mà vi phạm quyền, lợi ích hợp

pháp của người khác thì phải bồi thường thiệt hại phát sinh từ việc vi phạm ấy” [22,

Điều 709] Quy định này chỉ ra cơ sở chịu trách nhiệm bồi thường khi có hành vi vi phạm Điều này tương đồng với pháp luật Việt Nam cũng như pháp luật của nhiều quốc gia khác khi xác định trách nhiệm BTTHNHĐ Pháp luật Nhật bản quy định một số trường hợp về năng lực bồi thường thiệt hại như sau:

Trường hợp người chưa thành niên gây thiệt hại cho người khác được quy

định: “Người chưa thành niên trong trường hợp gây thiệt hại cho người khác, không

phải chịu trách nhiệm bồi thường về hành vi đó khi không được trang bị đầy đủ năng lực trí tuệ để lý giải được trách nhiệm hành vi của bản thân” [22, Điều 712] Vậy,

theo pháp luật dân sự của Nhật Bản, khi người chưa thành niên có năng lực trí tuệ lý giải được trách nhiệm phát sinh từ hành vi mình thực hiện thì họ phải chịu trách nhiệm BTTHNHĐ và căn cứ pháp lý đó là cá nhân phải chịu trách nhiệm bởi hành động của chính mình bắt nguồn từ Luật La Mã (Self-Responsibility) Mặt khác, dưới góc độ khoa học pháp lý, cũng như luật thực định thì đối với trường hợp này không cấu thành trách nhiệm bồi thường thiệt hại thay thế của cha, mẹ [12, tr.2]

Trang 30

Trường hợp một người ở trong trạng thái suy nhược về tinh thần đã gây thiệt hại cho người khác thì không chịu trách nhiệm về thiệt hại đã gây ra Tuy nhiên, điều này không được áp dụng nếu người đó tạo ra cho mình tình trạng suy nhược tạm thời hoặc do cố ý hoặc do cẩu thả

Trường hợp người có nghĩa vụ pháp lý giám sát một người không có năng lực hành vi, trong những trường hợp khi người này không chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại (Như người vị thành niên, người ở trong trạng thái suy nhược về tinh thần), thì người giám sát có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại mà người được giám sát gây ra cho người khác Song, điều này không được áp dụng nếu người có nghĩa

vụ giám sát đã không lơ là nghĩa vụ của mình Người giám sát người không có năng lực hành vi thay cho người có nghĩa vụ giám sát cũng phải gánh vác những trách nhiệm nói trên Về vấn đề người giám sát thay thế người có nghĩa vụ giám sát này, pháp luật Việt Nam hiện vẫn chưa có quy định

1.3.2 Pháp luật Cộng hòa Pháp về năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân

Việt Nam có thời gian chịu sự đô hộ của thực dân Pháp khá lâu, bởi vậy mà sự ảnh hưởng của Pháp từ xưa đến nay luôn tồn tại ở nhiều phương diện, nhiều lĩnh vực khác nhau, từ văn hóa, kiến trúc, nghệ thuật, …đến chính sách pháp luật Trên cơ sở tiếp thu và chọn lọc những điểm tích cực, phù hợp của Bộ luật Dân sự Napoleon 1804 của Pháp, BLDS của Việt Nam được ban hành mang đậm giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc, đồng thời học hỏi, đúc kết những tinh hoa của BLDS Pháp

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong luật dân sự Pháp được gọi là trách nhiệm dân sự do gây thiệt hại (responsabilité civile délictuelle) Khi Napoleon Bonaparte lên ngôi vào năm 1799, gần như ngay lập tức, ông đã quan tâm đến vấn đề lập pháp, nhất là trong lĩnh vực luật dân sự Bộ luật Dân sự Pháp 1804

ra đời với niềm tự hào to lớn: “Vòng nguyệt quế từ những chiến thắng của ta có

thể bị lãng quên… nhưng Bộ luật Dân sự của ta, sẽ chẳng có gì có thể xóa nhòa” Trong số 2281 điều luật của bộ pháp điển hóa vĩ đại đó, chỉ có 5 (năm) điều,

từ điều 1382 đến điều 1386 được dành cho chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp

Trang 31

đồng [13, tr 29] Giống như các hệ thống pháp luật khác, luật dân sự pháp quy định rằng quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và thiệt hại là một yếu tố cấu thành

trách nhiệm dân sự Bộ luật dân sự Pháp quy định, “Bất cứ ai làm việc gì gây thiệt

cho người khác thì người đó phải bồi thường thiệt hại do lỗi của mình gây ra” [14,

Điều 1382] Có thể coi đây là quy tắc chung trong bồi thường thiệt hại, khi một người do lỗi của mình mà gây thiệt hại cho người khác thì người đó phải chịu trách nhiệm bồi thường những thiệt hại đã phát sinh Điều luật với phạm vi khá rộng khi quy định bất cứ ai làm việc gì, gây thiệt hại do lỗi của mình thì đều phải bồi thường thiệt hại, mà không nói rõ lỗi trong trường hợp này là lỗi vô ý hay cố ý, tuy nhiên

vấn đề này được quy định rõ hơn tại Điều 1383: “Mỗi người chịu trách nhiệm về

thiệt hại do bản thân đã gây ra, không những bởi việc làm mà còn bởi sự cẩu thả và thiếu thận trọng của mình” [14] Theo đó, lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại

bao gồm cả lỗi cố ý và vô ý, và việc không hành động khi cần thiết phải hành động

có thể là yếu tố làm phát sinh thiệt hại, vì vậy kéo theo trách nhiệm dân sự So với lỗi trong luật dân sự Việt Nam, lỗi trong pháp luật dân sự Pháp bao hàm ý nghĩa rộng hơn, không những chỉ trạng thái tâm lý của con người đối với hành vi của mình và hậu quả của hành vi đó, mà còn chỉ chính hành vi có lỗi Với ý nghĩa đó, khái niệm lỗi dân sự trong luật của Pháp tương đương với cả hai khái niệm là lỗi và hành vi trái pháp luật – hai trong những yếu tố làm phát sinh trách nhiệm BTTHNHĐ theo pháp luật Việt Nam [16, tr 64]

Luật dân sự Pháp cũng có quy định chỉ những người chưa thành niên chưa

đủ mười sáu tuổi hoặc chưa kết hôn mới được miễn trách nhiệm dân sự, và trong trường hợp này cha, mẹ hoặc người có trách nhiệm trông nom giám sát phải bồi thường thiệt hại: Cha, mẹ phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cùng với người con nếu người con có lỗi gây ra thiệt hại đang sống với họ vào thời điểm gây ra thiệt hại Theo đó, lỗi của cha, mẹ trong trường hợp này là lỗi suy đoán [14]

Có thể thấy, quy định về năng lực BTTHNHĐ của cá nhân trong các Bộ luật của Việt Nam đều có nét tương đồng BLDS Pháp, bởi các quy định trên là hoàn toàn phù hợp, đảm bảo tính công bằng, khách quan trong quá trình xác định về năng lực BTTHNHĐ của cá nhân

Trang 32

1.3.3 Pháp luật Cộng hòa Liên bang Đức về năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân

Tùy thuộc vào điều kiện phát triển kinh tế - chính trị - xã hội ở từng Quốc gia

mà Nhà nước đưa ra những chính sách pháp luật phù hợp Pháp luật dân sự Đức quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại khá rõ ràng, chi tiết tại phần các hành vi trái phép từ Điều 823 đến Điều 853 Liên quan đến năng lực BTTHNHĐ của cá nhân tại BLDS Đức so với pháp luật dân sự Việt Nam cũng có sự giao thoa, thể hiện ở một số nội dung sau đây:

BLDS Đức quy định: Người có lỗi cố ý hoặc vô ý gây xâm phạm trái pháp luật đến tính mạng, thân thể, sức khỏe, tự do, tài sản hoặc một quyền khác của người khác thì có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại phát sinh cho người kia [14, Điều 823] Và Người cố ý gây thiệt hại cho người khác theo một cách thức vi phạm truyền thống đạo đức có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho người kia [14, Điều 826]

Về năng lực bồi thường thiệt hại của cá nhân, tại Điều 828 BLDS Đức có quy định: Người dưới 7 tuổi không chịu trách nhiệm về tổn thất gây ra cho người khác Người trên 7 tuổi đến dưới 10 tuổi không phải chịu trách nhiệm đối với tổn thất gây ra cho người khác đối với các sự cố liên quan đến ô tô, đường sắt, đường điện hoặc tàu trên cao, trừ trường hợp người này gây ra việc xâm hại do cố ý Người dưới 18 tuổi, nếu trách nhiệm của họ không được loại trừ theo quy định vừa nêu trên thì không phải chịu trách nhiệm đối với thiệt hại gây ra cho người khác nếu khi thực hiện hành vi gây thiệt hại người đó không có năng lực biện giải cần thiết để nhận thức về trách nhiệm khi thực hiện hành vi gây hại [14, Điều 828]

Trường hợp người trong tình trạng vô thức hoặc trong tình trạng rối loạn tâm thần bệnh lý làm không thể hình thành ý chí tự do gây ra thiệt hại cho một người khác thì không chịu trách nhiệm đối với thiệt hại đó Nếu người đó dùng đồ uống có cồn hoặc các loại tương tự mà tạm thời rơi vào tình trạng dạng như vậy thì chịu trách nhiệm đối với thiệt hại gây ra trái pháp luật trong tình trạng này như thế người

đó gây ra do lỗi vô ý Trách nhiệm không phát sinh nếu người đó không có lỗi khi rơi vào tình trạng đó [14, Điều 827]

Trang 33

Có thể thấy pháp luật Đức quy định về các điều kiện để xác định năng lực bồi thường thiệt hại có sự khác biệt với pháp luật Việt Nam về độ tuổi, nhận thức, điều này là phù hợp với sự phát triển về kinh tế - xã hội cũng như điều kiện phát triển, khả năng nhận thức, tâm sinh lý của con người ở Quốc gia này

Trang 34

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Với nội dung Chương 1: Lý luận chung về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân, đã làm rõ những nội dung chính sau:

Thứ nhất, khái quát được về khái niệm, ý nghĩa, đặc điểm, điều kiện cấu

thành của trách nhiệm BTTHNHĐ

Thứ hai, phân tích về những nội dung pháp lý chủ yếu về năng lực

BTTHNHĐ của cá nhân Tác giả đưa ra khái niệm về năng lực BTTHNHĐ của cá nhân, từ đó làm rõ khái niệm, điều kiện cũng như ý nghĩa lý luận, hậu quả pháp lý của chế định này

Thứ ba, tác giả đã nêu ra được một số nét tương đồng cũng như những điểm

khác biệt về năng lực BTTHNHĐ của cá nhân trong pháp luật Nhật Bản, Pháp, Đức

so với pháp luật Việt Nam

Cơ sở lý luận về năng lực BTTHNHĐ của cá nhân là tiền đề để làm rõ những nội dung sẽ được phân tích ở chương tiếp theo

Trang 35

Chương 2 PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ NĂNG LỰC BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI

NGOÀI HỢP ĐỒNG CỦA CÁ NHÂN

Cá nhân là chủ thể đầu tiên mà pháp luật điều chỉnh và các chủ thể khác tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự cũng thông qua hành vi của cá nhân trong các quan

hệ tài sản và quan hệ nhân thân Để tham gia vào quan hệ pháp luật thì cá nhân phải

có năng lực chủ thể, bao gồm năng lực pháp luật và năng lực hành vi Việc tìm hiểu năng lực chủ thể của cá nhân đặc biệt là năng lực hành vi dân sự có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định năng lực BTTHNHĐ của cá nhân, xác định tư cách chủ thể của cá nhân đó khi tham gia quan hệ pháp luật bồi thường thiệt hại, xác định cá nhân nào có trách nhiệm bồi thường trong từng quan hệ bồi thường thiệt hại cụ thể

Trên thực tế, người nào gây ra thiệt hại thì người đó có trách nhiệm bồi thường thiệt hại đã xảy ra, nhưng về nguyên tắc pháp lý, một người chỉ phải chịu trách nhiệm đối với hành vi của mình khi họ có nhận thức để làm chủ và điều khiển được hành vi đó Vậy người gây ra thiệt hại chỉ phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi họ có năng lực hành vi dân sự Điều 586 BLDS 2015 đã quy định năng lực BTTHNHĐ của cá nhân với các mức độ khác nhau căn cứ vào độ tuổi, nhận thức, và khả năng tạo dựng tài sản của cá nhân

2.1 Lị h sử quy định ph p luật Việt Nam về năng lự ồi thường thiệt hại ngo i hợp đồng ủa nhân qua thời kỳ

Trách nhiệm BTTHNHĐ nói chung và năng lực BTTHNHĐ của cá nhân nói riêng xuất hiện từ rất sớm trong hệ thống pháp luật Việt Nam Do sự phát triển của kinh tế - xã hội mà chế định này thay đổi sao cho phù hợp qua từng thời kỳ, từ bộ luật thành văn xưa nhất còn lưu giữ như Quốc triều hình luật cho đến BLDS 2015

2.1.1 Năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân thời kỳ phong kiến

Thời phong kiến, vấn đề luật lệ được coi trọng và đề cao bởi nó là một công

cụ để bảo vệ vương quyền, củng cố địa vị và quyền lợi của giai cấp thống trị Pháp

Trang 36

luật giai đoạn này chưa có sự tách biệt rõ ràng thành các ngành luật riêng biệt luật dân sự và luật hình sự, các quan hệ xã hội được điều chỉnh chủ yếu bằng luật hình Triều đại nhà Lê và nhà Nguyễn là hai triều đại có bộ luật riêng và cũng là hai bộ luật tiêu biểu trong lịch sử lập pháp của nước ta, đó là Bộ Quốc triều Hình Luật (còn được gọi là Luật Hồng Đức) của nhà Lê và Hoàng Việt Luật lệ (còn được gọi là Bộ Luật Gia Long) dưới thời nhà Nguyễn Hai bộ luật này không chỉ có quy định về các hành vi phạm tội, hình phạt mà còn có thể tìm thấy trong đó các quy định về dân sự, bao gồm cả những quy định về bồi thường thiệt hại cũng như năng lực bồi thường thiệt hại

Luật Hồng Đức tiếp thu nhiều những thành tựu lập pháp của Trung Hoa, chịu ảnh hưởng của luật pháp nhà Đường và nhà Minh, được ghi chép thành 06 quyển, gồm 13 chương, 722 Điều, trong đó quy định những vấn đề liên quan đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại do lỗi của người thứ ba Cụ thể tại Điều 457 quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cha đối với con:

Các con còn ở nhà với cha mẹ mà đi ăn trộm thì cha bị xử tội biếm; ăn cướp thì cha bị xử tội đồ; nặng thì bị xử tăng thêm tội; và đều phải bồi thường thay cho con những tang vật ăn trộm, ăn cướp Nếu con đã ở riêng thì cha bị

xử tội phạt hay biếm; cha đã báo quan thì không phải tội; nhưng đã báo quan rồi mà còn để con ở nhà thì cũng xử tội như là chưa báo

Trong trường hợp này có thể hiểu lỗi của cha, mẹ là không giáo dục, dạy dỗ con đang sống với mình đến nơi đến chốn Người con đó đã thành niên hay chưa thành niên phải sống chung với cha mẹ là điều kiện dẫn đến trách nhiệm dân sự này Nếu đi so sánh với trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong BLDS hiện hành, chúng

ta thấy pháp luật phong kiến và pháp luật hiện đại đều quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp này dựa trên cơ sở lỗi của cha mẹ trong việc chăm sóc, giáo dục con cái Điểm khác biệt là đối với luật dân sự hiện hành thì cha, mẹ hay người giám hộ chỉ phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người chưa thành niên, người bị mất hay hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi gây thiệt hại Tuy nhiên, trong pháp luật phong

Trang 37

kiến người cha phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với hành vi của các con sống chung với mình bất kể người con dù đã thành niên hay chưa Hơn nữa, phạm vi chịu trách nhiệm của người cha dưới thời phong kiến cũng rất hẹp, chỉ trong trường hợp con cái ăn trộm, ăn cướp, còn pháp luật dân sự hiện đại quy định phạm vi rộng hơn Pháp luật phong kiến chỉ đặt ra trách nhiệm của cha đối với con của mình, trong khi lại không quy định trách nhiệm của người mẹ, điều này xuất phát từ tư tưởng lạc hậu trọng nam khinh nữ của xã hội phong kiến thời đó, quyền hành của người con trai, người cha trong gia đình là rất lớn

Thêm nữa, Điều 456 Quốc triều hình luật còn quy định trách nhiệm bồi

thường thiệt hại của chủ nhà đối với đầy tớ: “Đày tớ đi ăn trộm mà chủ nhà không

trình báo quan thì…phải bồi thường thay những tang vật đã ăn trộm hay ăn cướp”

Như vậy, pháp luật phong kiến việc quy định lỗi của người thứ ba có một số khác biệt với pháp luật hiện nay, nhưng có thể thấy ngay từ khi các quy định về dân sự và hình sự còn chưa có sự tách biệt rõ ràng mà các nhà làm luật đã ý thức được trách nhiệm bồi thường thiệt hại do lỗi của người thứ ba [9, tr 148]

Hoàng Việt Luật lệ là Bộ luật chính thức của nước ta thời đầu nhà Nguyễn, được ban hành năm 1815, gồm 22 quyển, 398 điều Mặc dù quyển 6 đưa ra quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại, tuy nhiên chỉ đối với trường hợp gây thiệt hại

về tài sản của giai cấp thống trị là vua quan triều đình, mà không có bồi thường thiệt hại đối với tài sản của người dân trong xã hội Điều này cho thấy pháp luật nhà Nguyễn thể hiện sự phân biệt đẳng cấp, mang tính chất chuyên chế, cực đoan đối với nhân dân, bảo vệ quyền lợi của giai cấp thống trị một cách tuyệt đối

2.1.2 Năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân thời kỳ thực dân – phong kiến

Dưới thời kỳ thực dân - phong kiến, nhất là khoảng thời gian sau khi thực dân Pháp xâm chiếm thành công Đông Dương, trong đó có Việt Nam, Pháp đã chia Việt Nam thành ba xứ: Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ Nền kinh tế - xã hội Việt Nam giai đoạn này có sự biến chuyển sâu sắc, kéo theo sự thay đổi hệ thống các quy định pháp luật Bộ luật dân sự được áp dụng riêng rẽ ở ba kỳ lần lượt xuất hiện:

Trang 38

Bộ dân luật Nam kỳ giản yếu ban hành ngày 10/03/1883, Bộ dân luật Bắc kỳ ban hành ngày 01/04/1931 và Bộ dân luật Trung kỳ (Hoàng Việt Trung Kỳ hộ luật) ban hành ngày 31/10/1936 Lần đầu tiên pháp luật ghi nhận các nguyên lý chung về trách nhiệm bồi thường thiệt hại dân sự một cách cụ thể tại các Điều 712 đến Điều

716 (Bộ Dân luật Bắc kỳ) Điều 761 đến Điều 767 (Bộ Dân luật Trung kỳ)

Các quy định về trách nhiệm BTTHNHĐ được quy định trong các Bộ luật này chưa thực rõ nét mà mới chỉ mang tính chất định hướng về trách nhiệm Bồi thường dân sự nói chung Điều 711 Bộ Dân luật Bắc Kỳ và Điều 763 Bộ Dân luật

Trung Kỳ quy định nguyên tắc chung để xác định trách nhiệm BTTH: “Người ta

phải chịu trách nhiệm không những tổn hại tự mình làm ra mà cả về sự tổn hại do những người mà mình phải bảo lãnh hay do những vật mình phải trông coi nữa”

Quy định này thể hiện nguyên tắc người nào gây thiệt hại thì phải chịu trách nhiệm bồi thường, trường hợp một người bảo lãnh cho người khác nhưng để người được bảo lãnh gây thiệt hại, thì người bảo lãnh phải bồi thường thiệt hại do không thực hiện tốt nghĩa vụ bảo lãnh của mình Đối với trường hợp tài sản do mình quản lý, trông coi gây thiệt hại cũng phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại

2.1.3 Năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân thời kỳ sau cách mạng tháng tám năm 1945 đến trước năm 1995

Cách mạng tháng tám thành công và sự ra đời của Nhà nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa là một bước ngoặt lớn trong lịch sử nước ta, chấm dứt hoàn toàn chế

độ thực dân, phong kiến mở ra con đường độc lập tự do tiến lên xã hội chủ nghĩa Trước tình hình Nhà nước mới ra đời phải đối mặt với nhiều thử thách, thù trong, giặc ngoài, nạn đói, giặc dốt hoành hành, việc xây dựng, ban hành một hệ thống pháp luật hoàn chính là điều rất khó khăn Do vậy, để điều chỉnh kịp thời các quan

hệ xã hội diễn ra hàng ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 47/SL ngày 10/10/1954 về việc tạm thời giữ các luật lệ hiện hành ở Bắc, Trung, Nam bộ cho đến khi ban hành những bộ luật mới áp dụng thống nhất trên cả nước Sắc lệnh số 97/SL ngày 22/5/1950 về sửa đổi một số quy lệ và chế định trong dân luật cũng quy

định: “Tất cả các điều khoản trong dân pháp điển Bắc kỳ, dân pháp điển Trung kỳ,

Trang 39

pháp quy giản yếu 1883 thi hành ở Nam kỳ (sắc lệnh ngày 03/10/1883) và những luật lệ theo sau trái với những điều khoản trên này đều bị bãi bỏ” Trong giai đoạn

này phần lớn các văn bản ban hành đều thừa nhận luật lệ cũ hoặc hủy bỏ quy định của chế độ thực dân cũ, những quy định về dân sự nói chung và quy định về trách nhiệm BTTHNHĐ khá mờ nhạt

Cho đến năm 1970 đã có một số văn bản pháp luật hướng dẫn giải quyết những tranh chấp về bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật gây ra với các quy định khá cụ thể Trong đó vấn đề bồi thường thiệt hại được quy định rõ nét hơn

cả tại Thông tư 173 – Hội đồng Thẩm phán ngày 23/03/1972 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn xét xử về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng (Thông tư 173/TANDTC) Đây là thông tư có nội dung khá đầy đủ hướng dẫn giải quyết về BTTHNHĐ: Đường lối chung về BTTHNHĐ, cơ sở xác định, mức bồi thường, người được hưởng bồi thường, trách nhiệm bồi thường liên đới, trách nhiệm hỗn hợp, trách nhiệm của người không trực tiếp gây ra thiệt hại, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người vị thành niên, người mới trưởng thành gây ra, phân biệt trách nhiệm của pháp nhân và cá nhân, hơn nữa thông tư còn hướng dẫn cách tính toán thiệt hại và mức bồi thường sức khỏe, tính mạng bị xâm phạm…

Theo mục 2, phần B của Thông tư 173, đối với trường hợp người vị thành niên gây ra thiệt hại, họ không có trách nhiệm bồi thường vì họ chưa hiểu được ý nghĩa hành vi dân sự của mình nên họ không có năng lực hành vi dân sự, do vậy trong trường hợp này cha mẹ (hay người giám hộ) phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do con cái còn vị thành niên gây ra Tuy nhiên trong trường hợp một tổ chức rõ ràng có lỗi đối với thiệt hại xảy ra trong thời gian quản lý người vị thành niên thì tổ chức đó sẽ chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người vị thành niên

đó gây ra Trường hợp người vị thành niên vào khoảng mười sáu tuổi đã có sức lao động sản xuất, có công việc làm, phần nào hiểu được ý nghĩa hành vi dân sự của mình, do đó họ phải chịu trách nhiệm bằng tài sản riêng của họ Nếu họ bồi thường không đủ thì cha mẹ (hay người giám hộ) phải bù phần còn thiếu

Vẫn theo Thông tư này, người đã đủ mười tám tuổi, người mới trưởng thành

Trang 40

gây ra thiệt hại có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật của mình gây ra Nếu họ chưa có việc làm, hay thu nhập hay tài sản đáng kể thì Tòa án vẫn xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của họ nhưng cho hoãn việc thi hành án cho đến khi có việc làm, có thu nhập Ngoài ra, trường hợp người thành niên gây thiệt hại có thu nhập, còn ở chung và chung kinh tế với cha, mẹ, thì họ phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại bằng phần thu nhập thường xuyên của bản thân và phần tài sản chung với cha mẹ Tòa án cần triệu tập cha mẹ họ đến phiên tòa với tư cách là dự sự

Thông tư 173/TANDTC đã phân biệt trách nhiệm của cá nhân và pháp nhân: Nếu công nhân, viên chức hay người đại diện hợp pháp của xí nghiệp, cơ quan trong khi thi hành nhiệm vụ, do hành vi liên quan chặt chẽ đến công tác, được xí nghiệp, cơ quan phân công mà gây thiệt hại cho người khác thì xí nghiệp, cơ quan phải bồi thường thiệt hại theo chế độ trách nhiệm dân sự, rồi sau đó, có quyền đòi hỏi họ hoàn trả việc bồi thường đó theo quan hệ lao động Nếu công nhân, viên chức hoặc đại diện hợp pháp của xí nghiệp, cơ quan lợi dụng nhiệm vụ, và do hành

vi không liên quan chặt chẽ đến công việc được phân công, rõ ràng để mưu cầu lợi ích riêng, mà gây thiệt hại cho người khác thì chính cá nhân họ phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại

Như vậy, thông tư 173/TANDTC đã có những quy định tương đối cụ thể, chi tiết về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người chưa thành niên, người mới trưởng thành, của cá nhân, pháp nhân Và đặc biệt là so với quy định hiện hành tại Điều 586 BLDS 2015, thông tư 173 không có sự khác biệt nhiều Thông tư này đã trở thành văn bản quan trọng cho việc xét xử các vụ án dân sự về BTTHNHĐ tại Việt Nam trong một thời gian dài, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho người bị thiệt hại và làm nền tảng để xây dựng BLDS sau này

2.1.4 Năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân thời kỳ

từ năm 1995 đến trước năm 2005

Năm 1995, Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua

Bộ luật Dân sự đầu tiên có hiệu lực từ ngày 01 tháng 07 năm 1996, đánh dấu một bước phát triển trong quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật phục vụ cho sự nghiệp

Ngày đăng: 26/05/2020, 16:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w