1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực hiện quy trình phòng và điều trị bệnh cho lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ tại trại lợn việt anh, xã hiệp hòa, huyện vĩnh bảo, thành phố hải phòng

60 41 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 60
Dung lượng 1,66 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BÙI THỊ TRANG Tên chuyên đề: THỰC HIỆN QUY TRÌNH PHÒNG VÀ ĐIỀU TRỊ BỆNH CHO LỢN NÁI SINH SẢN VÀ LỢN CON THEO MẸ TẠI TRẠI LỢN VIỆT ANH, XÃ HIỆP HÒA, HUYỆN VĨNH BẢO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Trang 1

BÙI THỊ TRANG

Tên chuyên đề:

THỰC HIỆN QUY TRÌNH PHÒNG VÀ ĐIỀU TRỊ BỆNH CHO LỢN NÁI SINH SẢN VÀ LỢN CON THEO MẸ TẠI TRẠI LỢN VIỆT ANH,

XÃ HIỆP HÒA, HUYỆN VĨNH BẢO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Chăn nuôi thú y

Giảng viên hướng dẫn: TS Trần Văn Thăng

Thái Nguyên – năm 2019

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Sau một thời gian học tập tại trường và thực tập tại cơ sở, đến nay em

đã hoàn thành khóa luận tốt nghiệp của mình Để có được kết quả này ngoài

sự nỗ lực của bản thân, em luôn nhận được sự giúp đỡ chu đáo, tận tình của Nhà trường, các thầy cô giáo trong khoa Chăn nuôi Thú y, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, trang trại chăn nuôi Việt Anh

Nhân cơ hội này em xin được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới: Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa cùng toàn thể các thầy giáo, cô giáo trong khoa Chăn nuôi Thú y đã tận tình dạy dỗ, dìu dắt em trong suốt quá trình học tập tại trường

Trang trại chăn nuôi lợn Việt Anh, xã Hiệp Hòa, huyện Vĩnh Bảo, Thành phố Hải Phòng đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong suốt quá trình thực tập, giúp em hoàn thành tốt công việc trong thời gian thực tập tại cơ sở

Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo TS Trần Văn Thăng đã luôn động viên, giúp đỡ và hướng dẫn, chỉ bảo em tận tình trong suốt quá trình TTTN và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp đại học này

Để góp phần cho việc thực tập và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp đạt kết quả tốt, em đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ và động viên của gia đình, bạn

bè Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành trước mọi sự giúp đỡ quý báu đó

Thái Nguyên, ngày tháng 6 năm 2019

Sinh viên

Bùi Thị Trang

Trang 3

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 4.1 Quy mô và cơ cấu đàn lợn của trại Việt Anh qua 2 năm (2017 -

5/2018) 34

Bảng 4.2 Số lượng lợn nái, lợn con trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng tại trại qua 6 tháng thực tập 35

Bảng 4.3 Tình hình sinh đẻ của đàn lợn nái nuôi tại trại 37

Bảng 4.4 Kết quả công tác vệ sinh sát trùng chuồng trại 39

Bảng 4.5 Kết quả theo dõi tình hình mắc bệnh trên đàn lợn nái của trại 40

Bảng 4.6 Kết quả trực tiếp điều trị bệnh trên đàn nái sinh sản tại trại 41

Bảng 4.8 Kết quả điều trị bệnh trên lợn con 46

Bảng 4.9 Kết quả thực hiện công việc khác 47

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC CÁC BẢNG ii

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT iii

MỤC LỤC iv

Phần 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích và yêu cầu của chuyên đề 2

1.2.1 Mục đích của chuyên đề 2

1.2.2 Yêu cầu của chuyên đề 2

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3

2.1.1 Điều kiện tự nhiên 3

2.1.2 Cơ sở vật chất và hoạt động sản xuất kinh doanh của trại lợn Việt Anh 4

2.2 Tổng quan tài liệu và những kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước 8

2.2.1 Những hiểu biết về phòng và trị bệnh cho vật nuôi 8

2.2.2 Những bệnh thường gặp ở lợn nái sinh sản 11

2.2.3 Những bệnh thường gặp ở lợn con theo mẹ 22

2.2.4 Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước 24

Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 30

3.1 Đối tượng nghiên cứu 30

3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 30

3.3 Nội dung tiến hành 30

3.4 Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp thực hiện 30

3.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi 30

3.4.2 Phương pháp thực hiện 31

Trang 6

3.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 33

Phần 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 34

4.1 Cơ cấu đàn lợn của trang trại Việt Anh qua 2 năm (2017 - 5/2018) 34

4.2 Kết quả thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ 35

4.2.1 Số lượng lợn nái và lợn con trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 35

4.2.2 Tình hình sản xuất của đàn lợn nái nuôi tại trại 37

4.3 Kết quả thực hiện các biện pháp phòng và trị bệnh cho đàn lợn nái sinh sản trại lợn Việt Anh 38

4.3.1 Kết quả thực hiện biện pháp vệ sinh phòng bệnh trên đàn lợn nái tại trại 38

4.3.2 Kết quả chẩn đoán và điều trị bệnh cho đàn lợn nái sinh sản nuôi tại trại 39

4.4 Thực hiện chăm sóc nuôi dưỡng lợn con 42

4.5 Điều trị một số bệnh trên lợn con 46

4.6 Kết quả thực hiện công việc khác 47

Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 47

5.1 Kết luận 47

5.2 Đề nghị 48

TÀI LIỆU THAM KHẢO

MỘT SỐ HÌNH ẢNH TRONG QUÁ TRÌNH THỰC TẬP

Trang 7

Trước đây, năng suất chăn nuôi còn thấp là do người chăn nuôi chỉ quen với tập quán chăn nuôi lợn nội và tận dụng các phụ phẩm trong nông nghiệp để nuôi Hiện nay năng suất chăn nuôi lợn tăng lên gấp nhiều lần là do người chăn nuôi đã biết nuôi lợn ngoại theo phương thức chăn nuôi công nghiệp Để lợn ngoại đạt hiệu quả kinh tế cao, bên cạnh yếu tố về thức ăn, chuồng trại, kỹ thuật chăn nuôi… thì yếu tố đầu tiên cần đảm bảo là có đàn giống tốt Điều này phụ thuộc rất lớn vào năng suất sinh sản của đàn lợn nái Theo tính toán của các nhà kinh tế, năng suất của lợn nái được tính bằng số lợn con sinh ra, số lợn con còn sống đến lúc cai sữa, thời gian động dục trở lại sau cai sữa, tỷ lệ thụ thai…

Để đạt được hiệu quả kinh tế cao trong chăn nuôi lợn cần phải có quy trình chăn nuôi phù hợp với từng giống vật nuôi, từng thời điểm và từng giai đoạn cụ thể khác nhau Xuất phát từ thực tế trên, được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y cùng giảng viên hướng dẫn và cơ sở thực tập, em

đã tiến hành thực hiện chuyên đề : “Thực hiện quy trình phòng và điều trị bệnh

cho lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ tại trại lợn Việt Anh, xã Hiệp Hòa, huyện Vĩnh Bảo, Thành phố Hải Phòng”

Trang 8

1.2 Mục đích và yêu cầu của chuyên đề

1.2.1 Mục đích của chuyên đề

- Đánh giá được tình hình chăn nuôi tại trang trại lợn nái sinh sản Việt Anh

- Thực hiện quy trình phòng bệnh cho lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ

- Đánh giá được tình hình mắc bệnh ở lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ tại

trang trại liên kết với tập đoàn BMG

- Đề xuất được các biện pháp điều trị bệnh hiệu quả cho lợn nái sinh sản và

lợn con theo mẹ

1.2.2 Yêu cầu của chuyên đề

- Vận dụng được các kiến thức đã học vào thực tiễn sản xuất, đồng thời học

tập bổ sung thêm kiến thức mới từ thực tiễn sản xuất

- Ứng dụng các biện pháp điều trị cho lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ có

hiệu quả vào thực tiễn chăn nuôi tại trang trại

Trang 9

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập

2.1.1 Điều kiện tự nhiên

2.1.1.1.Vị trí địa lý

Hiệp hòa là một xã thuộc huyện Vĩnh Bảo, Thành phố Hải Phòng với diện tích tự nhiên 5,05 km2 Trang trại Việt Anh thuộc xã Hiệp Hòa có vị trí địa lý như sau:

- Phía Đông giáp xã Hồng Hưng, huyện Vĩnh Bảo, TP Hải Phòng

- Phía Tây giáp xã Lê Lợi, huyện Vĩnh Bảo, TP Hải Phòng

- Phía Nam giáp xã Đoàn Thượng, huyện Vĩnh Bảo, TP Hải Phòng

- Phía Bắc giáp Thị trấn Vĩnh Bảo, huyện Vĩnh Bảo, TP Hải Phòng

2.1.1.2 Điều kiện khí hậu và thời tiết

- Thời tiết Hải phòng mang tính chất đặc trưng của thời tiết miền Bắc Việt Nam: nóng ẩm, mưa nhiều, có 4 mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông tương đối rõ rệt Trong

đó, từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau là khí hậu của một mùa đông lạnh và khô, mùa đông là 20,3°C; từ tháng 5 đến tháng 10 là khí hậu của mùa hè, nồm mát và mưa nhiều, nhiệt độ trung bình vào mùa hè là khoảng 32,5°C

- Lượng mưa trung bình từ 1.600 – 1.800 mm/năm Do nằm sát biển nên vào mùa đông, Hải Phòng ấm hơn 1oC và mùa hè mát hơn 1oC so với Hà Nội Nhiệt độ trung bình trong năm từ 23°C – 26oC, tháng nóng nhất (tháng 6 và 7) nhiệt độ có thể lên đến 44oC và tháng lạnh nhất (tháng 1 và 2), nhiệt độ có thể xuống dưới 5oC Độ

ẩm trung bình vào khoảng 80 – 85%, cao nhất vào tháng 7, 8, 9 và thấp nhất là tháng 11 và tháng 12

2.1.1.3 Điều kiện giao thông

- Hệ thống giao thông qua xã Hiệp Hòa rất thuận lợi vì có quốc lộ 10 và quốc

lộ 37 chạy qua huyện Vĩnh Bảo Đây là hệ thống giao thông huyết mạch để đi lại, giao lưu buôn bán hàng hóa với các địa phương lân cận và thành phố Hải Phòng

Trang 10

- Đoạn đường liên thôn chạy qua gần khu vực trại đã được bê tông hóa, lòng đường rộng thuận lợi cho ô tô có thể ra vào vận chuyển con giống, thức ăn, vật tư thú y cũng như các sản phẩm chăn nuôi

- Trại có hệ thống ống thoát nước thải đã qua xử lý xuống ao thả cá để kết hợp nuôi lợn với nuôi cá, từ đó nâng cao hiệu quả kinh tế của trại và hạn chế chất thải trong chăn nuôi thải ra ngoài môi trường ảnh hưởng đến con người và môi trường xung quanh

2.1.2 Cơ sở vật chất và hoạt động sản xuất kinh doanh của trại lợn Việt Anh

2.1.2.1 Quá trình thành lập

Trại lợn Việt Anh được xây dựng và đi vào hoạt động năm 2010, là trại liên kết với Công ty CP Việt Nam với quy mô 600 lợn nái sinh sản Trại được xây dựng tại xã Hiệp Hòa, huyện Vĩnh Bảo, Thành phố Hải Phòng

2.1.2.2 Cơ cấu tổ chức của trang trại

Cơ cấu tổ chức gồm 3 nhóm:

- Nhóm quản lý có 01 người là chủ trang trại

- Nhóm kỹ thuật có 01 người là kỹ sư phụ trách kỹ thuật của trại

- Nhóm công nhân gồm 01 người nấu ăn, 01 người làm vườn, 01 người tổ trưởng phụ trách chuồng bầu, 01 người tổ trưởng phụ trách chuồng đẻ, 02 người phụ trách điện và nước, 07 công nhân và 06 sinh viên thực tập tốt nghiệp

Với đội ngũ nhân công như trên, quản lý trại chia lực lượng lao động thành các tổ khác nhau để có thể thuận lợi cho việc quản lý công việc hiệu quả như tổ chuồng nái đẻ, tổ chuồng nái chửa Các tổ có bảng chấm công riêng cho từng công nhân trong tổ Các tổ trưởng có nhiệm vụ đôn đốc, quản lý các thành viên trong tổ thực hiện tốt mọi công việc được giao

2.1.2.3 Cơ sở vật chất của trang trại

+ Tổng diện tích trại khoảng 46.000 m2

Trong đó:

- Diện tích chuồng: 13.000 m2

- Diện tích đất trồng cây: 5.000 m2

Trang 11

- Diện tích đất xây dựng: 2.000 m2

- Ao hồ chứa nước và nuôi cá: 25.000 m2

Trang trại đã dành 2.000 m2 đất để xây dựng nhà điều hành, nhà ở cho công nhân, bếp ăn và các các công trình phục vụ cho công nhân và các hoạt động khác của trang trại Các khu nhà này được trang bị đầy đủ các thiết bị cần thiết như TV, tủ lạnh, máy giặt, …phục vụ cho sinh hoạt và ăn ở của công nhân

Khu chăn nuôi có hàng rào bao bọc xung quanh và có cổng vào riêng Chuồng trại được quy hoạch, bố trí xây dựng phù hợp với hướng chăn nuôi công

nghiệp, hệ thống chuồng nuôi lồng, nền sàn bê tông cho lợn nái, lợn đực, sàn nhựa

cho lợn con cùng với hệ thống vòi nước tự động và máng ăn Chuồng nuôi được xây

dựng đảm bảo đủ cho 600 nái cơ bản, bao gồm:

+ 3 chuồng nái đẻ: mỗi chuồng gồm khu A và khu B, mỗi khu có 2 dãy, mỗi dãy có 28 ô chuồng được thiết kế sàn nhựa cho lợn con và sàn bê tông cho lợn mẹ

+ 1 chuồng nái chửa: Chuồng gồm 6 dãy, mỗi dãy có 89 ô để nuôi và chăm sóc lợn nái trong thời gian mang thai, được sắp xếp theo các kỳ mang thai khác nhau: Dãy 1 được thiết kế cho lợn nái chờ phối, có khu thử lợn, ép lợn và dãy 2 có khu làm nơi thụ tinh nhân tạo cho lợn nái

+ 1 chuồng cách ly: dùng để nuôi lợn hậu bị được nhập từ các trại gia công lợn hậu bị của Công ty cổ phần Chăn nuôi CP Việt Nam, mỗi ô chuồng có thể nuôi

được từ 30 - 40 lợn hậu bị Lợn được nuôi ở đây trong thời gian 3 tháng, thời gian

này lợn được sử dụng vắc xin đầy đủ trước khi được đưa lên làm lợn nái sinh sản

Hệ thống chuồng được xây dựng khép kín hoàn toàn Phía đầu chuồng là hệ

thống giàn mát, cuối chuồng được thiết kế quạt hút gió, có hệ thống điện chiếu sáng

và bóng đèn hồng ngoại để sưởi ấm, úm lợn con, đảm bảo thoáng mát về mùa hè,

ấm áp về mùa đông bằng cách điều chỉnh hệ thống quạt, giàn mát và bóng đèn sưởi

ấm trong chuồng Mỗi chuồng được lắp đặt máy bơm nước để tắm cho lợn và vệ sinh chuồng trại hằng ngày, cuối chuồng có hệ thống thoát phân và nước thải Bên cạnh chuồng lợn đực có xây dựng phòng pha chế tinh, với đầy đủ dụng cụ và thiết

bị như: kính hiển vi, nhiệt kế, đèn cồn, máy ép ống tinh, tủ lạnh bảo quản tinh, nồi hấp, panh, kéo…

Trang 12

Trong khu chăn nuôi, đường đi lại giữa các ô chuồng, các khu khác đều được

đổ bê tông và có các chậu nước sát trùng để trước cửa ra vào chuồng Nhìn chung khu vực chuồng nuôi được xây dựng khá hợp lý, thuận lợi cho việc chăm sóc, đi lại, đuổi lợn giữa các dãy chuồng

Ngay tại cổng vào khu chăn nuôi có xây dựng 3 phòng tắm sát trùng cho cán

bộ kỹ thuật và công nhân trước khi ra, vào chuồng chăm sóc lợn, 1 kho thuốc, 1 kho cám, 1 phòng ăn và 2 phòng nghỉ trưa cho công nhân

Một số thiết bị khác cũng được trang bị đầy đủ: tủ lạnh bảo quản vắc xin, tủ

thuốc để bảo quản và dự trữ thuốc của trại, xe chở cám từ nhà kho xuống các dãy

chuồng, máy nén khí phun sát trùng di động khu vực trong và ngoài chuồng nuôi

2.1.2.4 Tình hình sản xuất của trang trại

* Công tác chăn nuôi:

Nhiệm vụ chính của trang trại là sản xuất con giống và chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật Hiện nay, trung bình lợn nái của trại sản xuất được 2,45 lứa/năm

Số con sơ sinh là 12,69 con/đàn, số con cai sữa là 11,56 con/đàn lợn con theo mẹ

được nuôi đến 21 ngày tuổi, chậm nhất là 26 ngày thì tiến hành cai sữa và chuyển sang các trại chăn nuôi lợn giống của công ty CP Theo đánh giá của công ty cổ

phần Chăn nuôi CP Việt Nam thì mức độ sản xuất của trại vào loại trung bình khá

Trang trại có 13 con lợn đực giống Các lợn đực giống này được nuôi nhằm mục đích kích thích động dục cho lợn nái và khai thác tinh để thụ tinh nhân tạo Tinh lợn được khai thác từ 2 giống lợn là Landrace và Yorkshire Lợn nái được phối

3 lần và được luân chuyển giống cũng như lợn đực

Thức ăn cho lợn nái là thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh có chất lượng cao, được Công ty cổ phần Chăn nuôi CP Việt Nam cung cấp cho từng đối tượng lợn của trại

* Công tác vệ sinh thú y của trại:

Quy trình phòng bệnh cho đàn lợn tại trang trại luôn được thực hiện nghiêm ngặt, với sự giám sát chặt chẽ của kỹ thuật viên Công ty Chăn nuôi CP

- Công tác vệ sinh: Chuồng trại được xây dựng thoáng mát về mùa hè, ấm áp

về mùa đông, xung quanh các chuồng nuôi được trồng cây xanh nhằm tạo sự thoáng mát tự nhiên Hằng ngày luôn có công nhân quét dọn vệ sinh chuồng trại, thu gom

Trang 13

phân, nước tiểu, khơi thông cống rãnh, đường đi trong trại được quét dọn, phun thuốc khử trùng tiêu độc, hành lang đi lại được quét dọn và rắc vôi theo quy định Công nhân, kỹ sư, khách tham quan trước khi vào khu chăn nuôi đều phải sát trùng tắm rửa sạch sẽ, thay quần áo bảo hộ lao động

- Công tác phòng bệnh: Trong khu vực chăn nuôi, hành lang giữa các chuồng và bên ngoài chuồng đều được rắc vôi bột, các phương tiện vào trại được sát trùng một cách nghiêm ngặt ngay tại cổng trại

Quy trình phòng bệnh bằng vắc xin luôn được trang trại thực hiện nghiêm túc, đầy đủ và đúng kỹ thuật Đối với từng loại lợn có quy trình tiêm riêng, từ lợn nái, lợn hậu bị, lợn đực và lợn con Lợn được tiêm vắc xin ở trạng thái khỏe mạnh, được chăm sóc nuôi dưỡng tốt, không mắc các bệnh truyền nhiễm và các bệnh mãn tính khác để tạo được trạng thái miễn dịch tốt nhất cho đàn lợn Tỷ lệ tiêm phòng vắc xin cho đàn lợn luôn đạt 100%

- Công tác trị bệnh: Cán bộ kỹ thuật có nhiệm vụ theo dõi, kiểm tra đàn lợn thường xuyên, các bệnh xảy ra ở lợn nuôi tại trại luôn được kỹ thuật viên phát hiện sớm, cách ly, điều trị ngay ở giai đoạn đầu Vì vậy hiệu quả điều trị thường cao (80

- 90%) trong một thời gian ngắn, không gây thiệt hại nhiều cho trang trại

2.1.2.5 Đánh giá chung

* Thuận lợi

Được sự quan tâm, tạo điều kiện và có các chính sách hỗ trợ đúng đắn của UBND xã Hiệp Hòa, Trạm Thú y huyện Vĩnh Bảo

Được Công ty cổ phần Chăn nuôi CP Việt Nam cung cấp về con giống, thức

ăn và thuốc thú y có chất lượng tốt

Chuồng trại được trang bị bằng các thiết bị hiện đại, điện lưới và hệ thống nước sạch luôn cung cấp đầy đủ cho sinh hoạt và chăn nuôi

Chủ trại có năng lực, năng động, nắm bắt được tình hình xã hội, luôn quan

tâm đến đời sống vật chất, tinh thần của cán bộ kỹ thuật và công nhân

Đội ngũ cán bộ kỹ thuật có chuyên môn vững vàng; đội ngũ công nhân rất nhiệt tình, năng động và có tinh thần trách nhiệm cao trong công việc Do đó đã mang lại hiệu quả chăn nuôi cao cho trang trại

Trang 14

2.2 Tổng quan tài liệu và những kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước

2.2.1 Những hiểu biết về phòng và trị bệnh cho vật nuôi

2.2.1.1 Phòng bệnh

Với phương châm “Phòng bệnh hơn chữa bệnh”, nên khâu phòng bệnh được đặt lên hàng đầu, nếu phòng bệnh tốt thì có thể hạn chế hoặc ngăn chặn được bệnh xảy ra Do vậy, việc phòng bệnh cũng như trị bệnh phải kết hợp với nhiều biện pháp khác nhau

- Phòng bệnh bằng vệ sinh và chăm sóc nuôi dưỡng tốt:

Theo Nguyễn Ngọc Phụng (2004) [28], bệnh xuất hiện trong một đàn lợn thường do nhiều nguyên nhân phức tạp, có thể là bệnh truyền nhiễm, hoặc không truyền nhiễm hoặc có sự kết hợp cả hai Có rất nhiều biện pháp đã đưa ra áp dụng nhằm kiểm soát các khả năng xảy ra bệnh trên đàn lợn Phần lớn các biện pháp này đều nhằm làm giảm khả năng lây truyền tác nhân gây bệnh và nâng cao sức đề kháng của đàn lợn

Theo Trần Văn Phùng và cs, (2004) [27], trong chăn nuôi việc đảm bảo đúng quy trình kỹ thuật là điều rất cần thiết, chăm sóc nuôi dưỡng tốt sẽ tạo ra những gia súc khoẻ mạnh, có khả năng chống đỡ bệnh tật tốt và ngược lại Ô chuồng lợn nái phải được vê ̣sinh tiêu độc trước khi vào đẻ Nhiệt độ phải phù hợp, đối với lợn mẹ nhiệt độ thích hợp dao động từ 15 - 24oC, nhiệt độ lợn con theo mẹ dao động từ 21 -

31oC Việc giữ gìn chuồng trại sạch sẽ kín, ấm áp vào mùa đông và đầu xuân là rất quan trọng Nên dùng các thiết bị sưởi điện hoặc đèn hồng ngoại trong những ngày

Trang 15

thời tiết lạnh ẩm để đề phòng bệnh lợn con phân trắng mang lại hiệu quả cao trong chăn nuôi Từ 3 - 5 ngày trước dự kiến đẻ, ô chuồng lợn nái đã được cọ rửa sạch, phun khử trùng bằng hóa chất như crezin 5% hoặc bằng loại hóa chất khác nhằm tiêu độc khử trùng chuồng lợn nái trước khi đẻ

- Phòng bệnh bằng vắc xin là biện pháp phòng bệnh chủ động có hiệu quả nhất

Theo Nguyễn Bá Hiên và cs, (2012) [15], vắc xin là một chế phẩm sinh học

mà trong đó chứa chính mầm bệnh cần phòng cho một bệnh nào đó (mầm bệnh này

có thể là vi khuẩn, virus, độc tố hay vật liệu di truyền như ARN, ADN…) đã được làm giảm độc lực hay vô hoạt bằng các tác nhân vật lý, hóa học, sinh học hay phương pháp sinh học phân tử (vắc xin thế hệ mới - vắc xin công nghệ gen) Lúc đó chúng không còn khả năng gây bệnh cho đối tượng sử dụng, nhưng khi đưa vào cơ thể động vật nó sẽ gây ra đáp ứng miễn dịch làm cho động vật có miễn dịch chống lại sự xâm nhiễm gây bệnh của mầm bệnh tương ứng

Khi đưa vắc xin vào cơ thể vật nuôi, chưa có kháng thể chống bệnh ngay mà phải sau 7 - 21 ngày (tùy theo từng loại vắc xin) mới có miễn dịch

2.2.1.2 Điều trị bệnh

Theo Nguyễn Bá Hiên và cs, (2012) [15], nguyên tắc để điều trị bệnh là: + Toàn diện: phải phối hợp với nhiều biện pháp như hộ lý, dinh dưỡng, dùng thuốc

+ Điều trị sớm trên cơ sở chẩn đoán đúng bệnh để dễ lành bệnh và hạn chế lây lan

+ Diệt căn bệnh là chủ yếu kết hợp với chữa triệu chứng

+ Tiêu diệt mầm bệnh phải đi đôi với tăng cường sức đề kháng của cơ thể, làm cho cơ thể tự nó chống lại mầm bệnh thì bệnh mới chóng khỏi, ít bị tái phát và biến chứng, miễn dịch mới lâu bền

+ Phải có quan điểm khi chữa bệnh, chỉ nên chữa những gia súc có thể chữa lành mà không giảm sức kéo và sản phẩm Nếu chữa kéo dài, tốn kém vượt quá giá trị gia súc thì không nên chữa

Trang 16

+ Những bệnh rất nguy hiểm cho người mà không có thuốc chữa thì không nên chữa

Theo Nguyễn Bá Hiên và cs, (2012) [15], các biện pháp chữa bệnh truyền nhiễm là:

+ Hộ lý: cho gia súc ốm nghỉ ngơi, nhốt riêng ở chuồng có điều kiện vệ sinh tốt (thoáng mát, sạch sẽ, yên tĩnh) Theo dõi thân nhiệt, nhịp tim, hô hấp, phân, nước tiểu Phát hiện sớm những biến chuyển của bệnh để kịp thời đối phó Cho gia súc ăn, uống thức ăn tốt và thích hợp với tính chất của đối tượng bệnh

+ Dùng kháng huyết thanh: chủ yếu dùng chữa bệnh đặc hiệu vì vậy thường được dùng trong ổ dịch, chữa cho gia súc mắc bệnh Chữa bệnh bằng kháng huyết thanh là đưa vào cơ thể những kháng thể chuẩn bị sẵn, có tác dụng trung hòa mầm bệnh hoặc độc tố của chúng (huyết thanh kháng độc tố)

+ Dùng hóa dược: phần lớn hóa dược được dùng để chữa triệu chứng, một số hóa dược dùng để chữa nguyên nhân vì có tác dụng đặc hiệu đến mầm bệnh Dùng hóa dược chữa bệnh phải tác động mạnh và sớm, vì nhiều loài vi khuẩn có thể thích ứng với liều lượng nhỏ Chúng có thể chống lại thuốc và tính chất quen thuốc được

di truyền cho thế hệ sau Khi cần, có thể phối hợp nhiều loại hóa dược để tăng hiệu quả điều trị, vì nếu một loại thuốc chưa có tác dụng đến mầm bệnh thì có loại thuốc khác tác dụng tốt hơn

+ Dùng kháng sinh: kháng sinh là những thuốc đặc hiệu có tác dụng ngăn cản sự sinh sản của vi khuẩn hoặc tiêu diệt vi khuẩn Tuy nhiên sử dụng kháng sinh

có thể gây nhiều tai biến do thuốc có tính độc, do phản ứng dị ứng, do một lúc tiêu diệt nhiều vi khuẩn làm giải phóng một lượng lớn độc tố, làm giảm phản ứng miễn dịch của cơ thể Việc dùng kháng sinh bừa bãi còn gây nên hiện tượng kháng thuốc, làm giảm thấp tác dụng chữa bệnh của kháng sinh Vì vậy, khi dùng thuốc cần theo nguyên tắc sau đây:

- Phải chẩn đoán đúng bệnh để dùng đúng thuốc, dùng sai thuốc sẽ chữa không khỏi bệnh mà làm cho việc chẩn đoán bệnh về sau gặp khó khăn

- Chọn loại kháng sinh có tác dụng tốt nhất đối với mầm bệnh đã xác định

Trang 17

Dùng liều cao ngay từ đầu, những lần sau có thể giảm liều lượng

- Không nên vội vàng thay đổi kháng sinh mà phải chờ một thời gian để phát huy tác dụng của kháng sinh

Phải dùng phối hợp nhiều loại kháng sinh để làm giảm liều lượng và độc tính của từng loại, làm diện tác động đến vi khuẩn rộng hơn, tác dụng điều trị và hạn chế hiện tượng vi khuẩn kháng thuốc

- Phải tăng cường sức đề kháng của cơ thể gia súc như nuôi dưỡng tốt, dùng thêm vitamin, tiêm nước sinh lý…

2.2.2 Những bệnh thường gặp ở lợn nái sinh sản

2.2.2.1 Bệnh viêm tử cung

a Nguyên nhân bệnh viêm tử cung

Theo Trần Tiến Dũng và cs, (2002) [9], viêm tử cung là một quá trình bệnh

lý thường xảy ra ở gia súc cái sau sinh sản Quá trình viêm phá hủy các tế bào tổ chức của các lớp hay các tầng tử cung gây rối loạn sinh sản ở gia súc cái làm ảnh hưởng lớn, thậm chí làm mất khả năng sinh sản ở gia súc cái

Theo Bilken (1994) [2], viêm tử cung thường xảy ra trong lúc sinh do nhiễm

khuẩn E.coli gây dung huyết và các vi khuẩn gram dương

Theo Urban và cs, (1983) [52], Bilken (1994) [2], các vi khuẩn gây nhiễm trùng tử cung có nguồn gốc từ nước tiểu, các tác giả đã phân lập vi khuẩn từ mẫu

nước tiểu lợn nái sắp sinh thường chứa các vi khuẩn E coli, Staphylococcus aureus,

Streptococcus spp Tuy nhiên, các nghiên cứu của tác giả khác lại ghi nhận các vi

khuẩn gây nhiễm trùng tử cung là các vi khuẩn cơ hội thuộc nhóm vi sinh vật hiếu khí có mặt ở nền chuồng, lúc lợn nái sinh cổ tử cung mở, vi khuẩn xâm nhập và gây bệnh

Theo tác giả Nguyễn Xuân Bình (2000) [3], Phạm Sỹ Lăng và cs (2002) [17], Lê Minh và cs (2017) [22], bệnh viêm tử cung ở lợn nái thường do các nguyên nhân sau:

+ Cơ quan sinh dục lợn nái phát triển không bình thường gây khó đẻ hoặc lợn nái khó đẻ do thai quá to, thai ra ngược, thai phát triển không bình thường,

Trang 18

+ Phối giống quá sớm đối với lợn đẻ lứa đầu hoặc lợn nái già mang nhiều thai Khi đẻ tử cung co bóp yếu, do lứa đẻ trước đã bị viêm tử cung làm cho niêm mạc tử cung biến đổi nên nhau thai không ra gây sát nhau, thối rữa tạo điều kiện cho sự phát triển của vi khuẩn

+ Trong quá trình có thai, lợn nái ăn uống nhiều chất dinh dưỡng, tinh bột, protein và ít vận động cơ thể nên cơ thể béo dẫn đến khó đẻ Hoặc do thiếu dinh dưỡng lợn nái sẽ ốm yếu, sức đề kháng giảm nên không chống lại vi trùng xâm nhập cũng gây viêm

+ Do dụng cụ thụ tinh nhân tạo cứng, gây xây sát sẽ tạo ra các ổ viêm nhiễm trong âm đạo hoặc tử cung hoặc do tinh dịch bị nhiễm khuẩn Những thao tác đỡ đẻ không đúng kỹ thuật, đưa dụng cụ vào cổ tử cung không an toàn, không đảm bảo vệ sinh

+ Kế phát từ các bệnh khác như bệnh viêm âm đạo, tiền đình, bàng quang hoặc các bệnh truyền nhiễm: sảy thai truyền nhiễm, phó thương hàn, bệnh lao thường gây ra các bệnh viêm tử cung

+ Bệnh còn xảy ra khi chăm sóc, nuôi dưỡng, quản lý kém hoặc do thời tiết khí hậu thay đổi đột ngột, thời tiết quá nóng, quá lạnh, ẩm ướt kéo dài

Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng Minh (2014) [21], yếu tố thời tiết, khí hậu, ảnh hưởng rõ rệt đến tỷ lệ mắc hội chứng viêm tử cung: mùa hạ có

tỷ lệ phần trăm nhiễm cao nhất 53,37%, mùa đông 46,05%, mùa thu 43,70%

Theo Đoàn Thị Kim Dung và Lê Thị Tài (2002) [6], nguyên nhân gây viêm

tử cung là do vi khuẩn tụ cầu vàng (Stphylococcus aureus), Liên cầu dung huyết (Streptococcus hemolitycus) và các loại Proteus vulgaris, Kleriella, E coli…

Theo Nguyễn Văn Thanh (2014) [33], tỷ lệ lợn nái mắc viêm tử cung tương đối cao, bệnh thường tập trung ở lợn nái đẻ lứa đầu hoặc đã đẻ nhiều lứa

Khảo sát tình hình viêm nhiễm đường sinh dục lợn nái sau khi sinh và hiệu quả điều trị của một số loại kháng sinh trên 143 lợn nái sau khi sinh đã phát hiện

106 con tiết dịch nghi viêm đường sinh dục, chiếm tỷ lệ 74,13% (Trần Ngọc Bích

và cs, 2016) [1]

Trang 19

b.Triệu chứng

Sản dịch của lợn nái bình thường kéo dài trong vòng 4 - 5 ngày, cá biệt tới 6

- 7 ngày, sản dịch có màu sắc hơi đỏ do lẫn máu, sau chuyển dần sang vàng hay trắng và trong Trong trường hợp viêm thì sản dịch có màu đen hôi thối, mùi tanh rất khó chịu

Bệnh viêm tử cung ở lợn nái được chia làm hai thể:

+ Thể cấp tính: Con vật sốt 41 – 42 °C trong vài ngày đầu âm môn sưng tấy đỏ, dịch xuất tiết từ trong âm đạo chảy ra trắng đục đôi khi có máu lờ nhờ

+ Thể mãn tính: Không sốt, âm môn không sưng đỏ nhưng vẫn có dịch nhầy trắng đục chảy ra từng đợt từ vài ngày đến 1 tuần Lợn nái thường thụ tinh không có kết quả hoặc khi đã có thai sẽ bị tiêu thai vì quá trình viêm nhiễm niêm mạc âm đạo

tử cung lan sang thai làm chết thai

c Hậu quả của viêm tử cung

Tử cung là một trong những bộ phận quan trọng nhất trong cơ quan sinh dục của lợn nái, nếu tử cung xảy ra bất kỳ quá trình bệnh lý nào thì đều ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sinh sản của lợn mẹ và sự sinh trưởng, phát triển của lợn con

Theo Trần Tiến Dũng và cs, (2002) [9], Trần Thị Dân (2004) [5], khi lợn nái

bị viêm tử cung sẽ dẫn tới một số hậu quả chính sau:

- Khi lợn bị viêm tử cung dễ dẫn tới sảy thai

- Lợn mẹ bị viêm tử cung bào thai cũng phát triển kém hoặc chết lưu

- Sau khi sinh con lượng sữa giảm hoặc mất hẳn sữa nên lợn con trong giai đoạn theo mẹ thường bị tiêu chảy

- Lợn nái bị viêm tử cung mãn tính sẽ không có khả năng động dục trở lại

- Tỷ lệ phối giống không đạt tăng lên ở đàn lợn nái viêm tử cung sau khi sinh

đẻ

Nguyễn Văn Thanh và cs, (2013) [32], cho rằng: bệnh viêm tử cung, viêm vú

là nguyên nhân chính gây ra mất sữa ở lợn nái nuôi con, làm lợn nái đau đớn, giảm sút cân nhanh

d.Chẩn đoán lâm sàng bệnh viêm tử cung

Trang 20

Xuất phát từ quan điểm lâm sàng thì bệnh viêm tử cung thường biểu hiện vào lúc đẻ và thời kỳ tiền động đực, vì đây là thời gian cổ tử cung mở nên dịch viêm có thể chảy ra ngoài Số lượng mủ không ổn định, từ vài ml cho tới 200 ml hoặc hơn nữa Tính chất mủ cũng khác nhau, từ dạng dung dịch màu trắng loãng cho tới màu xám hoặc vàng, đặc như kem, có thể màu máu cá Người ta thấy rằng thời kỳ sau sinh đẻ hay xuất hiện viêm tử cung cấp tính, viêm tử cung mãn tính thường gặp trong thời kỳ cho sữa Hiện tượng chảy mủ ở âm hộ có thể cho phép nghi viêm nội mạc tử cung

Tuy nhiên, cần phải đánh giá chính xác tính chất của mủ, đôi khi có những mảnh trắng giống như mủ đọng lại ở âm hộ nhưng lại có thể là chất kết tinh của nước tiểu từ trong bàng quang chảy ra Các chất đọng ở âm hộ lợn nái còn có thể là

do viêm bàng quang có mủ gây ra

Khi lợn nái mang thai, cổ tử cung sẽ đóng rất chặt vì vậy nếu có mủ chảy ra thì có thể là do viêm bàng quang Nếu mủ chảy ra ở thời kỳ động đực thì có thể bị nhầm lẫn

Như vậy, việc kiểm tra mủ chảy ra ở âm hộ chỉ có tính chất tương đối Với một trại có biểu hiện mủ chảy ra ở âm hộ, ngoài việc kiểm tra mủ nên kết hợp xét nghiệm nước tiểu và kiểm tra cơ quan tiết niệu sinh dục Mặt khác, nên kết hợp với đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn nái để chẩn đoán cho chính xác Mỗi thể viêm khác nhau biểu biện triệu chứng khác nhau và có mức độ ảnh hưởng khác nhau tới khả năng sinh sản của lợn nái Để hạn chế tối thiểu hậu quả do viêm tử cung gây ra cần phải chẩn đoán chính xác mỗi thể viêm từ đó đưa ra phác đồ điều trị tối ưu nhằm đạt được hiệu quả điều trị cao nhất, thời gian điều trị ngắn nhất, chi phí điều trị thấp nhất

đ.Phòng bệnh

Theo Gardner (1990) [42], Smith (1995) [50], Taylor (1995) [51], tăng cường vệ sinh chuồng trại, vệ sinh thân thể lợn nái là yếu tố quan trọng trong việc phòng ngừa nhiễm trùng sau khi sinh

Theo Nguyễn Tài Năng và cs, (2016) [26], vệ sinh chuồng trại sạch sẽ một

Trang 21

tuần trước khi lợn đẻ, rắc vôi bột hoặc nước vôi 20% sau đó rửa sạch bằng nước thường, tắm cho lợn trước khi đẻ, vệ sinh sạch sẽ bộ phận sinh dục và bầu vú

Theo Lê Văn Năm (2009) [24], trong khi đỡ đẻ bằng tay phải sát trùng kĩ bằng cồn, xoa trơn tay bằng vaselin hoặc dầu lạc

Cho lợn nái chửa vận động, đảm bảo ăn uống đầy đủ, vệ sinh sạch sẽ

Kiểm tra nghiêm ngặt đảm bảo dụng cụ dẫn tinh đúng quy định và không để nhiễm khuẩn

Không sử dụng lợn đực bị nhiễm khuẩn đường sinh dục để nhảy trực tiếp hoặc lấy tinh

Phòng bệnh truyền nhiễm Leptospirosis, Brucellosis….bằng cách dùng vắc

xin đúng quy định, đúng thời gian cho đàn lợn sinh sản tránh những trường hợp bị sốt đột ngột gây sẩy thai

e Điều trị

Theo tác giả Trần Tiến Dũng và cs, (2002) [9], khi gia súc bị bệnh viêm tử cung ở thể viêm cơ, viêm tương mạc thì không nên tiến hành thụt rửa bằng các chất sát trùng với thể tích lớn Vì khi bị tổn thương nặng, cơ tử cung co bóp yếu, các chất bẩn không được đẩy ra ngoài, lưu trong đó làm cho bệnh nặng thêm Các tác giả đề nghị nên dùng oxytoxin kết hợp PGF2α hoặc kết hợp với kháng sinh điều trị toàn thân và cục bộ

Bơm rửa tử cung ngày 1 - 2 lần, mỗi lần 2 - 4 lít nước đun sôi để nguội pha cồn iod 10%

Tiêm oxytocin 2 ml/con/ngày, acimoxyl 20 ml/con/ngày

Tiêm thuốc trợ sức: B - complex, vitamin ADE

Theo Nguyễn Văn Điền (2015) [12], đối với lợn nái viêm nhẹ, điều trị bằng cách đặt viên thuốc kháng sinh oxytetracyclin vào âm đạo từ 5 - 7 ngày Tiêm amoxicillin 15% 3 lần liên tiếp, mỗi lần cách nhau 48 giờ Đây là dạng viêm có kết quả điều trị khỏi bệnh cao

2.2.2.2 Bệnh viêm vú

a Nguyên nhân gây bệnh viêm vú

Trang 22

+ Khi nghiên cứu về mô học và vi khuẩn học từ mẫu mô vú bị viêm cho thấy,

vi khuẩn chính gây viêm vú là Staphylococcus spp và Arcanobacterium pyogenes

(Christensen và cs, 2007) [41]

+ Khi lợn nái đẻ nếu nuôi không đúng cách, chuồng bẩn thì các vi khuẩn,

Mycoplasma, các cầu khuẩn, vi khuẩn đường ruột xâm nhập gây ra viêm vú

+ Thức ăn không phù hợp cho lợn nái, không giảm khẩu phần ăn cho lợn nái trước khi đẻ một tuần làm cho lượng sữa tiết ra quá nhiều gây tắc sữa Sau vài ngày

đẻ mà lợn con không bú hết, sữa lưu là môi trường tốt cho vi khuẩn xâm nhập gây

viêm như: E coli, Streptoccocus, Staphylococus, Klebsiella, (Duy Hùng, 2011)

[55]

+ Lợn con mới đẻ có răng nanh mà không bấm khi bú làm xây sát vú mẹ tạo điều kiện cho vi trùng xâm nhập tạo ra các ổ viêm nhiễm bầu vú

+ Chỉ cho lợn con bú một hàng vú, hàng còn lại căng quá nên viêm

+ Do thời tiết thay đổi đột ngột, lạnh quá hoặc nóng quá hay thức ăn khó tiêu cũng ảnh hưởng đến cảm nhiễm vi trùng

b Triệu chứng

Theo White (2013) [58], biểu hiện rõ tại vú viêm với các đặc điểm: Bầu vú căng cứng, nóng đỏ, có biểu hiện đau khi sờ nắn, không xuống sữa, nếu vắt mạnh sữa chảy ra có nhiều con lẫn máu, sau 1 - 2 ngày thấy có mủ, lợn mẹ giảm ăn hay

bỏ ăn, sốt cao 40 - 41,5 oC Tùy số lượng vú bị viêm mà lợn nái có biểu hiện khác nhau Nếu do nhiễm trùng trực tiếp vào bầu vú, thì đa số trường hợp chỉ một vài bầu

vú bị viêm Tuy vậy, lợn nái cũng lười cho con bú, lợn con thiếu sữa nên liên tục đòi bú, kêu rít, đồng thời do bú sữa bị viêm, gây nhiễm trùng đường ruột, lợn con bị tiêu chảy, thiếu máu

c Hậu quả của bệnh viêm vú

Khi lợn nái bị viêm vú sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sữa, từ đó sẽ ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng phát triển của lợn con theo mẹ

- Theo Nguyễn Đức Lưu và Nguyễn Hữu Vũ, (2004) [20]: Bệnh viêm tử cung và viêm vú là hai nguyên nhân trực tiếp gây ra sự giảm và mất sữa ở lợn nái

Trang 23

nuôi con

d Điều trị

Trekaxova và cs, (1983) [39], cho biết: Chữa bệnh viêm vú cho lợn nái hướng vào việc đưa ra các phương pháp chữa kết hợp Dùng novocain phong bế phối hợp với điều trị bằng kháng sinh cho kết quả tốt Để phong bế thần kinh tuyến sữa, tác giả đã dùng dung dịch novocain 0,5% liều từ 30 - 40 ml cho mỗi túi vú Thuốc tiêm vào mỗi thuỳ vú bệnh, sâu 88 - 10 cm Dung dịch novocain còn được bổ sung 100 - 200 ngàn đơn vị penicillin hay kháng sinh khác Đồng thời, lợn nái còn được tiêm bắp cùng một loại kháng sinh trong novocain này, từ 400 - 600 đơn vị, mỗi ngày 2 - 3 lần

Các loại kháng sinh thường dùng: acimoxyl, pen-strep, ampicillin, gentamycin, norfloxacin, và có thể dùng corticoide để giảm viêm kết hợp với vitamin Ngoài ra trong trường hợp nái đẻ bị viêm nặng chúng ta có thể chườm cát nóng kết hợp xoa bóp bầu vú

2.2.2.3 Hiện tượng đẻ khó

a Nguyên nhân

- Đẻ khó do nguyên nhân cơ thể mẹ: Khi chăm sóc, nuôi dưỡng không tốt, thức ăn không đầy đủ, chất dinh dưỡng thiếu so với nhu cầu của lợn mang thai dẫn đến cơ thể mẹ suy nhược, sức khỏe kém

Lợn ăn quá nhiều tinh bột, protein dẫn đến béo cũng gây ra đẻ khó Lợn quá gầy cũng dẫn đến đẻ khó

Do cấu tạo tổ chức các phần mềm như: Cổ tử cung, âm đạo giãn nở không bình thường có chỗ giãn quá mạnh, chỗ lại không giãn nên việc đẩy con ra ngoài gặp khó khăn

Khung xoang chậu bị biến dạng, khớp bán động háng phát triển không bình thường, vôi hóa cột sống hay xoang chậu hẹp Trong quá trình đẻ độ giãn nở kém, thai bị mắc trước cửa xoang chậu không ra được

Ở thời gian có thai kỳ cuối, thai quá to, lợn nái vận động mạnh, chèn ép tử cung làm tử cung bị xoắn vặn lại, tư thế tử cung thay đổi, đường sinh dục trở nên

Trang 24

không bình thường cũng gây đẻ khó

Do rối loạn hormone tuyến sinh dục cái: Kích tố nhau thai Relaxin lúc đẻ tiết

ra ít nên không làm mất lớp canxi ở bán động háng, không giãn dây chằng xương

chậu (không sụt mông) hoặc Prostagladin tiết ít không đủ gây co bóp tử cung nên

không tống thai ra ngoài được

- Đẻ khó do nguyên nhân bào thai

Chiều hướng, tư thế của thai lúc đẻ không bình thường Theo Nguyễn Huy Hoàng (1996) [16], các trường hợp lợn con nằm không đúng tư thế Bốn chân lợn con hướng về xương sống lợn mẹ, lợn con nằm đưa vai ra trước, lợn con đầu ngước

ra sau lưng, lợn con đầu quẹo sang một bên, lợn con đưa đầu và bốn chân ra một lượt, lợn con mõm ra trước, hai chân trước co xuống bụng, lợn con đầu cúp xuống ngực

Chế độ dinh dưỡng không phù hợp hoặc do quá ít thai, làm thai quá to không phù hợp với kích thước của xương chậu và đường sinh dục của lợn mẹ Thai bị dị hình hay quái thai

b Triệu chứng

Lợn nái đến ngày đẻ, nước ối vỡ ra, trong nước ối có lẫn phân su nhưng không thấy thai ra Lợn nái có biểu hiện rặn nhiều lần, rặn mạnh, thậm chí lợn nái còn rặn căng bụng, cong lưng, chân đạp vào thành chuồng để rặn nhưng thai vẫn không ra Do thời gian rặn đẻ mạnh và kéo dài mà thai vẫn không ra làm cho lợn nái mệt mỏi Nếu để lâu có thể dẫn đến hiện tượng thai bị ngạt mà chết Khi đưa tay vào đường sinh dục thấy khung xoang chậu hẹp, thai to hoặc ở tư thế không bình thường nằm kẹt ở trước cửa xoang chậu

Trang 25

sức co bóp của tử cung giảm, gây ra hiện tượng sót nhau, sót con dẫn đến viêm đường sinh dục

Lợn bị nhiễm một số bệnh: viêm tử cung, viêm vú, sảy thai truyền nhiễm,…khi đó, niêm mạc sẽ có những vết sẹo gây cản trở cho quá trình thụ thai, thai làm tổ,…dẫn đến xảy thai, tiêu thai, đẻ non ở những lần sinh sản tiếp theo, thậm trí là vô sinh

d Cách can thiệp

Xác định nguyên nhân đẻ khó để đề ra biện pháp can thiệp thích hợp

- Do khô đường sinh dục: dùng vaseline, nước xà phòng ấm đặc bôi trơn âm đạo

- Do hẹp âm môn: giải phẫu mở rộng âm môn lôi thai ra

- Do rặn đẻ yếu: tiêm VTM B1, VTM C, cafein trợ sức, đồng thời tiêm oxytoxin kích thích co bóp

- Do vị trí, tư thế thai không thuận: dùng tay đẩy thai vào trong, xoay thai đúng tư thế từ từ lôi thai ra theo nhịp rặn của lợn nái

Viêm âm môn, tiền đình và âm đạo

Trong quá trình sinh đẻ, niêm mạc âm môn, tiền đình và âm đạo bị xây xát, tổn thương do bào thai hay do can thiệp các trường hợp đẻ khó Do trong quá trình

đỡ đẻ thao tác kỹ thuật không đúng, dụng cụ đỡ đẻ không vô trùng gây tổn thương các bộ phận sinh dục bên ngoài Ngoài ra, bệnh có thể kế phát từ hiện tượng sảy thai, thai thối rữa trong tử cung hoặc từ bệnh sát nhau

Lúc đầu niêm mạc bộ phận bị viêm xung huyết nhẹ, có nhiều dịch thẩm xuất Kiểm tra âm đạo bằng mỏ vịt, con vật không có phản xạ đau, không có triệu chứng toàn thân Con vật rặn vặt, đi đái rắt Nhiều dịch viêm lẫn tổ chức hoại tử màu trắng chảy ra ngoài

2.2.2.4 Bệnh bại liệt sau đẻ

a Nguyên nhân

Bệnh thường xuất hiện do giảm canxi huyết mất nhiều khi nái tập chung vào sữa, mà khi thành phần sữa chứa nhiều canxi thai quá to, tư thế chiều hướng của

Trang 26

thai không bình thường hoặc do quá trình thủ thuật kéo dài làm cho lợn nái bị tổn thương các dây thần kinh

Một phần do điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc kém dẫn đến lợn mẹ gầy yếu, gây bại liệt

b Triệu chứng

Ban đầu lợn nái không có triệu chứng toàn thân, không thấy vết thương cục

bộ nhưng đi lại khó khăn hay nằm bẹp một chỗ Nếu bệnh kéo dài thì lợn mẹ không đứng dậy được rất có thể bị loét da do tiếp xúc với nền chuồng, nếu kéo dài 3 - 4 tuần lợn gầy dần rồi chết

c Hậu quả

Làm cho lợn nái đi lại khó khăn hoặc mất đi khả năng vận động, nếu bệnh kéo dài có thể loét từng mảng da do tiếp xúc lâu với nền chuồng Lợn sẽ lâu động dục hoặc không động dục trở lại và có khả năng gây chết lợn

a Nguyên nhân

Theo Trịnh Đình Thâu và cs, (2010) [36], sau khi tử cung co bóp yếu trong thời gian mang thai nhất là giai đoạn cuối con vật không được vận động thỏa đáng Trong thức ăn thiếu các khoáng chất, nhất là canxi và phospho Hoặc tử cung bị sa liệt, con vật quá gầy yếu hoặc quá béo, chửa quá nhiều thai, thai quá to, khó đẻ, nước

ối quá nhiều làm tử cung giãn nở quá mức Do viêm niêm mạc tử cung trước lúc đẻ làm dính nhau với tử cung hoặc nhau chưa ra hết thì người đỡ đẻ đã kéo đứt còn lại một ít sót lại trong tử cung Do lợn con còn sót lại ở trạng thái nằm sai vị trí làm tắc đường ra của nhau

Trang 27

Can thiệp kịp thời ngay khi nái có biểu hiện bệnh, không để quá muộn sẽ gây

ra viêm tử cung, can thiệp đúng kỹ thuật, không quá mạnh tay, tránh gây tổn thương Tiêm oxytoxin để kích thích co bóp tử cung cho nhau còn sót lại đẩy ra ngoài hết Sau khi nhau thai ra dùng nước muối sinh lý 0,9% để rửa tử cung trong

ba ngày liên tục (Trịnh Đình Thâu và Nguyễn Văn Thanh, 2010) [35]

2.2.2.6 Bệnh viêm phổi

a Nguyên nhân

Tìm hiểu nguyên nhân lợn triệu chứng và kinh nghiệm chăm sóc ta phân lập viêm phổi của lợn do đâu và nguyên nhân gì, kiểm tra lại hệ thống thức ăn, các vận hành: quạt, giàn mát, nhiệt độ, vệ sinh, độ đồng đều nhằm đưa ra biện pháp điều trị đúng bệnh, đúng thuốc, khắc phục kịp thời, tránh tình trạng bệnh của lợn kéo dài làm nặng thêm đi đến nhờn thuốc khó điều trị Khống chế, cách ly khoanh vùng từ công nhân giữa các chuồng, dụng cụ chăm sóc giữa các chuồng tránh lây lan bệnh trong trại và giữa các trại Tìm mọi biện pháp nâng cao sức đề kháng của lợn kích

ăn cho lợn

Nguyên nhân là do Mycoplasma hyopneumoniae gây ra, bệnh xâm nhập chủ

yếu qua đường hô hấp Bệnh cũng có thể do điều kiện chăn nuôi vệ sinh chuồng trại kém, thời tiết thay đổi, do sức đề kháng của con lợn giảm Bệnh thường lây lan do nhốt chung với gia súc nhiễm bệnh

b Triệu chứng

Lợn bệnh sốt nhẹ 40,1 - 41°C, bắt đầu từ những hắt hơi chảy nước mũi, sau

đó chuyển thành dich nhầy Lợn thở khó, ho nhiều, sốt ngắt quãng, ăn kém Lúc đầu

ho khan từng tiếng, ho chủ yếu về đêm, sau đó chuyển thành ho cơn, ho ướt nghe rõ nhất là vào sáng sớm đặc biệt là các buổi khi trời se lạnh, gió lùa đột ngột, nước mũi

Trang 28

nước mắt chảy ra nhiều Vì phổi bị tổn thương nên lợn thở thể ngực phải chuyển sang thở thể bụng, nhiều con thở ngồi như chó Rõ nhất là sau khi bị xua đuổi

c Điều trị

Theo Lê Văn Năm (2013) [25]: Đến nay chưa có phương pháp gì đặc biệt thông dụng để chẩn đoán bệnh viêm phổi truyền nhiễm khi lợn đang sống Bởi vậy cần dựa vào kết quả nghiên cứu dịch tễ, triệu chứng lâm sàng, kết quả mổ khám và chẩn đoán cơ sở chuyên ngành

2.2.3 Những bệnh thường gặp ở lợn con theo mẹ

2.2.3.1 Bệnh phân trắng lợn con

Tiêu chảy là biểu hiện lâm sàng của quá trình bệnh lý ở đường tiêu hóa, là hiện tượng con vật đi ỉa nhanh, nhiều lần trong ngày, phân có nhiều nước do rối loạn chức năng tiêu hóa, ruột tăng cường co bóp và tiết dịch hoặc chỉ phản ánh đơn thuần sự thay đổi tạm thời của phân gia súc đang thích ứng với những thay đổi trong khẩu phần ăn Tiêu chảy xảy ra ở nhiều bệnh và bản thân nó không phải là bệnh đặc thù

Theo Trần Đức Hạnh (2013) [13]: lợn con ở 1 số tỉnh phía bắc mắc tiêu chảy

và chết với tỷ lệ trung bình là 31,84% và 5,37%, tỷ lệ mắc tiêu chảy và chết giảm dần theo lứa tuổi, cao nhất ở lợn con giai đoạn từ 21 – 40 ngày ( 30,97 và 4,93%) và giảm ở giai đoạn 41 - 46 ngày

Theo Nguyễn Chí Dũng (2013) [8] kết luận: Tháng có nhiệt độ thấp và ẩm

độ cao, tỷ lệ mắc tiêu chảy cao (26,98 – 38,18%)

a Nguyên nhân

- Do thời tiết khí hậu: các yếu tố nóng, lạnh, mưa, nắng, hanh, ẩm thay đổi thất thường và điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng ảnh hưởng trực tiếp đến cơ thể lợn, nhất là cơ thể lợn con chưa phát triển hoàn chỉnh, các phản ứng thích nghi của cơ thể (Đoàn Thị Kim Dung, 2004) [7]

- Lợn con bị nhiễm khuẩn:Bệnh tiêu chảy ở lợn có nguyên nhân do vi khuẩn

E.coli, Salmonella, trong đó: Salmonella là vi khuẩn có vai trò quan trọng trong

quá trình gây ra hội chứng tiêu chảy

Trang 29

- Nguyên nhân gây bệnh tiêu chảy ở lợn con chủ yếu là do vệ sinh chuồng trại kém, thức ăn thiếu dinh dưỡng, chăm sóc quản lý không tốt

- Lợn mẹ bị viêm vú, viêm tử cung

- Lợn mẹ ăn không đúng khẩu phần

- Bệnh tiêu chảy trên lợn con do E coli có thể xảy ra ở bất kỳ độ tuổi theo

mẹ nào nhưng thường có hai thời kỳ cao điểm là 0-5 ngày tuổi và 7-14 ngày tuổi

b Triệu chứng

- Sàn chuồng có phân lợn lỏng, màu vàng hoặc màu trắng

- Trong chuồng có hiện tượng lợn nôn ra sữa

- Người lợn con bị bẩn do dính phân

- Bệnh viêm phổi là bệnh do Mycoplasma hyopneumoniae gây ra, bệnh xảy

ra trên lợn con ngay từ khi mới sinh ra, bệnh xâm nhập chủ yếu qua đường hô hấp Bệnh cũng có thể do điều kiện chăn nuôi vệ sinh chuồng trại kém, thời tiết thay đổi… do sức đề kháng của lợn giảm Bệnh thường lây lan do nhốt chung với con nhiễm bệnh

- Viêm phổi thường xuất hiện ở giai đoạn sau của quá trình chăn nuôi, nhất là khi heo sắp xuất chuồng dẫn đến thiệt hại nặng nề về kinh tế cho bà con

b Triệu chứng

Với bệnh viêm phổi ở heo, thời gian ủ bệnh thường kéo dài từ 1 – 3 ngày nhưng cũng có thể kéo dài lên đến vài tháng và phổ biến ở heo sau khi cai sữa và

Trang 30

trong thời gian vỗ béo chuẩn bị xuất chuồng

Khi mắc bệnh, heo thường xuất hiện một số biểu hiện như chết đột ngột, có bọt và máu tươi xuất hiện ở mồm Với những con còn sống sót, chúng thường bỏ

ăn, sốt cao, khó thở

c Điều trị

Bệnh viêm phổi có thể sử dụng nhiều loại thuốc khác nhau để điều trị, ở trong trại thường sử dụng phác đồ sau để điều trị:

Tylogenta: 1,5ml/con Tiêm bắp ngày/lần

Hitamox LA: 1,5ml/con Tiêm bắp ngày/lần

Nếu lợn có hiện tượng ho nhiều, thở gấp thì tiêm Bromhexine (HCl): 2ml/con

Điều trị trong 3 - 6 ngày

2.2.3.3 Bệnh viêm khớp

a Nguyên nhân

Streptococcus suis là vi khuẩn gram (+), Streptococcus suis gây viêm khớp

lợn cấp và mãn tính ở mọi lứa tuổi Bệnh này thường gây ra trên lợn con 1 - 6 tuần tuổi Vi khuẩn xâm nhập qua đường miệng, cuống rốn, vết thương khi cắt đuôi, bấm

nanh, các vết thương trên da, đầu gối khi chà sát trên nền chuồng, qua vết thiến

b Triệu chứng

Lợn con đi khập khiễng từ 3 - 4 ngày tuổi, khớp chân sưng lên vào ngày 7 -

15 sau khi sinh nhưng tử vong thường xảy ra lúc 2 - 5 tuần tuổi Thường thấy viêm khớp cổ chân, khớp háng và khớp bàn chân Lợn ăn ít, hơi sốt, chân lợn có hiện tượng què, đi đứng khó khăn, chỗ khớp viêm tấy đỏ

c Điều trị

Tiêm vetrimoxin 1 ml/10 kgTT/1lần/2 ngày

Hoặc tiêm pendistrep L.A 1 ml/10 kg TT/1 ngày/1lần

Điều trị liên tục trong 3 - 5 ngày

2.2.4 Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước

2.2.4.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước

Ngày đăng: 26/05/2020, 14:53

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w