1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vận dụng mô hình kim cương trong xây dựng định hướng chiến lược phát triển ngành du lịch của CHDCND Lào

117 97 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 831,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, trong những năm gần đây việc nghiên cứu phát triển du lịch tại Lào chỉ mới dừng lại trên phạm vi một tỉnh hay một vùng kinh tế của Lào, chưa có công trình nghiên cứu nào dưới dạng luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ đề cập đến định hướng phát triển của cả ngành du lịch của đất nước Lào. Do đó, tác giả lựa chọn đề tài: “Vận dụng mô hình kim cương trong xây dựng định hướng chiến lược phát triển ngành du lịch của CHDCND Lào” cho luận văn thạc sỹ của mình là không trùng lặp với bất kỳ nghiên cứu nào trước đó và thực sự cần thiết trong thực tế. Một là, hệ thống hóa lý luận về chiến lược phát triển ngành du lịch của một quốc gia. Kế thừa và làm rõ thêm lý luận về sự cần thiết của việc áp dụng lý thuyết “mô hình kim cương” trong xây dựng định hướng phát triển ngành du lịch. Hai là, Nghiên cứu, phân tích đánh giá thực trạng môi trường ngành du lịch tại Lào dựa trên “mô hình kim cương” trong thời gian qua. Để chỉ ra được những cơ hội, thách thức, điểm mạnh, điểm yếu từ đó xây dựng đính hướng chiến lược phát triển ngành du lịch Ba là, Đề xuất các giải pháp thực hiện định hướng chiến lược phát triển ngành du lịch Lào

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan các kết quả nghiên cứu của luận văn là của riêng tôidưới sự chỉ đạo của người hướng dẫn khoa học Các tư liệu, tài liệu sử dụngtrong luận văn đều có nguồn gốc rõ ràng

Hà Nội, tháng 4 năm 2017

Học viên thực hiện

SOULIVONG Lattanaphone

Trang 3

MỤC LỤC

MỤC LỤC

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ VÀ BẢNG BIỂU

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG ĐỊNH HƯỚNG CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN NGÀNH DU LỊCH 8

1.1 Một số khái niệm cơ bản 8

1.1.1 Chiến lược phát triển 8

1.1.2 Chiến lược phát triển ngành 10

1.1.3 Chiến lược phát triển ngành du lịch 11

1.2 Mô hình kim cương trong xây dựng định hướng chiến lược phát triển ngành du lịch 13

1.2.1 Khái niệm mô hình kim cương 13

1.2.2 Vận dụng mô hình kim cương trong xây dựng định hướng chiến lược .17

1.2.2.1 Điều kiện các yếu tố sản xuất 17

1.2.2.2 Điều kiện về cầu 22

1.2.2.3 Các ngành hỗ trợ và liên quan 24

1.2.2.4 Chiến lược, cơ cấu và cạnh tranh ngành 25

1.2.2.5 Vai trò của Chính phủ 26

1.3 Các điều kiện để phát triển ngành du lịch tại một quốc gia 27

1.3.1 Các điều kiện khách quan 27

1.3.1.1 Môi trường kinh tế quốc tế 27

1.3.1.2 Môi trường vĩ mô trong nước 29

1.3.2 Các điều kiện chủ quan 31

1.3.2.1 Các nguồn lực phục vụ xây dựng định hướng chiến lược 31

1.3.2.2 Vai trò của chính phủ 33

1.4 Kinh nghiệm xây dựng định hướng chiến lược phát triển ngành du lịch tại một số nước Đông Nam Á và bài học kinh nghiệm rút ra 33

1.4.1 Kinh nghiệm xây dựng định hướng chiến lược phát triển ngành du lịch tại một số nước Đông Nam Á 33

1.4.1.1 Tại Thái Lan 33

Trang 4

1.4.1.2 Tại Singapore 36

1.4.1.3 Tại Malaysia 37

1.4.2 Bài học kinh nghiệm rút ra trong việc xây dựng định hướng chiến lược phát triển ngành du lịch tại nước CHDCND Lào 38

CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH CHIẾN LƯỢC NGÀNH DU LỊCH CHDCND LÀO 41

2.1 Tổng quan về ngành du lịch Lào 41

2.1.1 Giới thiệu về ngành du lịch Lào 41

2.1.2 Thực trạng phát triển du lịch Lào trong những năm vừa qua 44

2.3 Phân tích môi trường chiến lược ngành du lịch Lào theo mô hình kim cương 47

2.3.1 Điều kiện các yếu tố sản xuất của ngành du lịch 47

2.3.1.1 Nguồn tài nguyên thiên nhiên 47

2.3.1.2 Nguồn tài nguyên nhân văn 50

2.3.1.3 Nguồn vốn và cơ sở hạ tầng 54

2.3.1.4 Nguồn nhân lực du lịch 56

2.3.2 Điều kiện về cầu du lịch 60

2.3.3 Các ngành hỗ trợ và liên quan: 61

2.3.3.1 Ngành giao thông vận tải 61

2.3.3.2 Ngành thông tin và truyền thông 67

2.3.4 Chiến lược, cơ cấu và cạnh tranh nội địa của các doanh nghiệp du lịch Lào 69

2.3.4.1 Cấu trúc ngành du lịch Lào 69

2.3.4.2 Môi trường pháp lý đối với hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực du lịch tại Lào 71

2.3.4.3 Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp du lịch trong nước và chiến lược phát triển chung của ngành du lịch 72

2.3.5 Vai trò của Chính phủ 73

2.3 Đánh giá môi trường du lịch tại CHDCND Lào theo các nhân tố của môi trường kim cương 76

2.3.1 Điểm mạnh 76

2.3.2 Điểm yếu 78

Trang 5

2.3.3 Cơ hội 83

2.3.4 Thách thức 85

CHƯƠNG 3 ĐỊNH HƯỚNG CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN NGÀNH DU LỊCH TẠI CHDCND LÀO GIAI ĐOẠN 2016 - 2020 87

3.1 Căn cứ xây dựng định hướng chiến lược phát triển ngành du lịch Lào 87

3.1.1 Quan điểm phát triển quốc gia 87

3.1.2 Quan điểm phát triển ngành du lịch 90

3.2 Định hướng chiến lược phát triển ngành du lịch nước CHDCND Lào 92

3.3 Các giải pháp xây dựng định hướng chiến lược phát triển ngành du lịch Lào trong thời gian tới 96

3.3.1 Nhóm giải pháp đối với điều kiện các yếu tố sản xuất 96

3.3.1.1 Khai thác hiệu quả và bền vững nguồn tài nguyên du lịch 96

3.3.1.2 Huy động và sử dụng hiệu quả nguồn vốn đầu tư nhằm nâng cao chất lượng toàn diện của hạ tầng du lịch 98

3.3.1.3 Chú trọng công tác đào tạo nguồn nhân lực du lịch chất lượng cao 99

3.3.2 Nhóm giải pháp đối với điều kiện về cầu du lịch 101

3.3.2.1 Phát triển thị trường du lịch trong nước 101

3.3.2.2 Đẩy mạnh quảng bá hình ảnh quốc gia 102

3.3.3 Nhóm giải pháp đối với các ngành hỗ trợ và có liên quan 104

3.3.3.1 Nâng cao vai trò của Tổng cục Du lịch trong chủ trương liên kết ngành du lịch với các bộ, ngành liên quan 104

3.3.3.2 Phát huy mô hình cụm du lịch (cluster) 104

3.3.4 Nhóm giải pháp đối với chiến lược, cơ cấu và cạnh tranh ngành du lịch 106

3.3.4.1 Nâng cao vai trò của Tổng cục Du lịch trong liên kết nội bộ ngành 106

3.3.4.2 Đổi mới cơ chế xúc tiến du lịch 107

3.4 Một số kiến nghị 108

3.4.1 Đối với Chính phủ 108

3.4.2 Đối với ngành du lịch 109

Trang 6

KẾT LUẬN 111

Trang 7

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Trang 8

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ VÀ BẢNG BIỂU

Hình 1.1: Mô hình kim cương 14

Biểu đồ 2.1: Lượng khách quốc tế đến Lào giai đoạn 2011-2015 44

Biểu đồ 2.2: Cơ cấu FDI đầu tư vào lĩnh vực bất động sản 55

Bảng 2.1: Thống kê cơ sở lưu trú ở Lào năm 2015 56

Biểu đồ 2.3: Chất lượng đào tạo của nguồn nhân lực du lịch Lào 58

Bảng 2.2: Đánh giá năng lực cạnh tranh về nguồn nhân lực của ngành du lịch Lào 59

Biểu đồ 2.4: Phân loại doanh nghiệp lữ hành quốc tế theo loại hình DN .70

Biểu đồ 2.5: Mô hình tổng quát về các nhân tố tác động tới lợi thế cạnh tranh quốc gia của ngành du lịch Lào 75

Biểu đồ 2.6: Cơ cấu chi tiêu bình quân một ngày của khách du lịch quốc tế đến Lào 81

Trang 9

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Cùng với sự phát triển của lịch sử loài người, các hoạt động kinh tếdiễn ra với quy mô ngày càng lớn, phạm vi các quan hệ kinh tế rộng, tính chấtphức tạp và trình độ phát triển ngày càng cao Ngày nay, trên thế giới du lịchtrở thành hiện tượng kinh tế - xã hội (KT-XH) phổ biến, là cầu nối tình hữunghị, là phương tiện gìn giữ hoà bình và hợp tác giữa các quốc gia, dân tộc Ởnhiều quốc gia, du lịch là một trong những ngành kinh tế hàng đầu, phát triểnvới tốc độ cao, đem lại những lợi ích to lớn về kinh tế - xã hội

Trong thời gian qua, nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào(CHDCND Lào) đã và đang thực hiện đường lối đổi mới toàn diện, phát triểnkinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường, có sựquản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN), bước đầu

đã đạt được những thành tựu hết sức quan trọng

Trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, Chính phủ cũng nhưngành du lịch CHDCND Lào chưa xây dựng được định hướng chiến lượcphát triển ngành du lịch một cách đồng bộ, khoa học và phù hợp với tình hìnhthực tế của đất nước Nguyên nhân là do CHDCND Lào mới bắt đầu hội nhập

và hợp tác, đang trong quá trình tìm hiểu cơ chế và luật lệ quốc tế, nên khảnăng chủ động đưa ra các dự án hợp tác du lịch trong nước và quốc tế cònnhiều hạn chế Bên cạnh đó, những yếu tố như dịch vụ chưa đa dạng, cơ sở hạtầng chưa theo kịp tốc độ phát triển, chất lượng dịch vụ thấp, giá cả cao, sảnphẩm chưa phong phú… là những thách thức lớn đối với ngành du lịch nóichung và đối với các doanh nghiệp du lịch nói riêng Thực tế này dẫn tới nănglực cạnh tranh của ngành và các sản phẩm du lịch thấp Trong những năm tới,

xu hướng cạnh tranh ngành sản phẩm du lịch sẽ ngày càng gay gắt, đã vàđang đặt ra những thách thức ngày càng lớn đối với du lịch của CHDCND

Trang 10

Để tồn tại trong môi trường quốc tế khắc nghiệt, cạnh tranh với nhữngngành du lịch phát triển trong khu vực và trên thế giới, vấn đề đặt ra đối vớingành du lịch Lào là phải xác lập được cho mình những thế mạnh nhất địnhtrên cơ sở nâng cao những lợi thế cạnh tranh quốc gia bền vững song song vớiviệc không ngừng tư duy, định vị những lợi thế cạnh tranh quốc gia mới vàtìm cách khắc phục những bất lợi thế cạnh tranh quốc gia của ngành Chỉbằng cách đó, ngành du lịch Lào mới có thể phát triển trong dài hạn và bắt kịpvới tốc độ phát triển của các quốc gia có ngành du lịch tiến bộ hơn trong khuvực, từng bước đưa du lịch Lào trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của cảnước

Du lich Lào đã chưa được đánh giá đúng tiềm năng, thực trạng pháttriển trong những năm qua Do vậy, việc vận dụng mô hình mô hình kimcương của Michael Porter để đánh giá đúng tiềm năng và năng lực cạnh tranhngành du lịch của một quốc gia, từ đó xây dựng được định hướng chiến lượcphát triển ngành du lịch của CHDCND Lào là hết sức cần thiết

2 Tổng quan nghiên cứu đề tài

Các công trình nghiên cứu trong nước

Ở nước CHDCND Lào đã có một số công trình nghiên cứu về du lịch

kể cả đề tài quốc gia như: Chương trình du lịch Cánh Đồng Chum, tỉnh XiêngKhoảng, du lịch Vắt Phu, tỉnh Chăm Pa Sắc (Chùa trên đồi), du lịch Năm TốcTạt, Khon Pha Phêng (Thac Khon) Công trình nghiên cứu tiêu biểu của tácgiả Lào là Hụm Phăn Khưa Pa Sít (2008), Phát triển du lịch trên địa bàn tỉnhLuang Pha Bang trong giai đoạn hiện nay, Luận văn thạc sĩ kinh tế,HVCTHCQG HCM Luận văn đã nêu tình hình phát triển du lịch trong thờigian qua và chiến lược phát triển trong tương lai

- Khay khăm Văn-nạ-vông-sỷ (10-1999), “Phát triển ngành du lịch ởCHDCND Lào”, Tạp chí nghiên cứu lý luận, số (4)

- Hum phăn Khua-pa-sit (2008), “Phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh

Trang 11

Luang Pra Bang trong giai đoạn hiện nay”, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Học việnChính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh

Các công trình nghiên cứu quốc tế

Các công trình nghiên cứu của tác giả Việt Nam khá đồ sộ, trong đóphải kể đến một số công trình tiêu biểu sau: Luận án của Nguyễn Đức Lợi:Những điều kiện và giải pháp chủ yếu để phát triển du lịch Việt Nam thànhngành kinh tế mũi nhọn, luận án tiến sỹ, Hà Nội 1996 Trên cơ sở phân tích cơ

sở lý luận và thực tiễn đưa du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn, tiềm năng

và thực trạng ngành du lịch Việt Nam, tác giả luận án đã nêu định hướng

và đề xuất những giải pháp chủ yếu để phát triển du lịch Việt Nam thànhngành kinh tế mũi nhọn

Ngô Tuấn Anh với đề tài: “Định hướng chiến lược phát triển ngành dulịch tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đến năm 2020”, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Họcviện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, 2014 Luận văn đã hệthống hóa các lý luận cơ bản về du lịch, một số lý luận về chiến lược, xâydựng và lựa chọn chiến lược Phân tích thực trạng của ngành du lịch của tỉnh,phân tích các yếu tố khác trong môi trường hoạt động của ngành này, nhậnđịnh những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội cũng như thách thức đối với ngành

du lịch của tỉnh Qua đó, tác giả đã đưa ra các giải pháp xây dựng định hướngphát triển du lịch của Bà Rịa – Vũng Tàu giai đoạn 2015 – 2020

Bùi Thuý Hạnh với luận án Đánh giá và khai thác điều kiện tự nhiên vàtài nguyên Ba Vì phục vụ mục đích du lịch, luận án tiến sỹ, Hà Nội 1996 Nộidung luận án này tập trung khai thác các điều kiện tự nhiên sẵn có ở khu vực

Ba Vì (Hà Tây cũ) để phát triển du lịch nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái và dulịch khám phá

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Hạnh: Những đặc điểm tài nguyên

du lịch Thủ đô Hà Nội phục vụ khai thác hoạt động kinh doanh du lịch, HàNội 1997 Luận án đã làm rõ những vấn đề lý luận chung về tài nguyên dulịch, đánh giá thực trạng những đặc điểm tài nguyên du lịch của Thủ đô Hà

Trang 12

Nội và khai thác tài nguyên du lịch phục vụ kinh doanh du lịch, đế xuất cácgiải pháp để khai thác tài nguyên du lịch phục vụ kinh doanh du lịch một cách

có hiệu quả

Luận văn thạc sĩ của Trần Mạnh Chí (2007) với chủ đề Giải pháp pháttriển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn ở Hà Nội, Học viện Chính trị -Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội tập trung nghiên cứu, định hướng

và tìm kiếm giải pháp nhằm phát triển ngành này theo hướng mở rộng các sảnphẩm du lịch, tăng đầu tư kết cấu hạ tầng du lịch từng bước mở rộng quy

mô, lĩnh vực và đóng góp của du lịch vào sự phát triển chung của Thủ đô

Tuy nhiên, trong những năm gần đây việc nghiên cứu phát triển du lịchtại Lào chỉ mới dừng lại trên phạm vi một tỉnh hay một vùng kinh tế của Lào,chưa có công trình nghiên cứu nào dưới dạng luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ

đề cập đến định hướng phát triển của cả ngành du lịch của đất nước Lào

Do đó, tác giả lựa chọn đề tài: “Vận dụng mô hình kim cương trong xây dựng định hướng chiến lược phát triển ngành du lịch của CHDCND Lào” cho luận văn thạc sỹ của mình là không trùng lặp với bất kỳ nghiên cứu

nào trước đó và thực sự cần thiết trong thực tế

3 Mục đích nghiên cứu

Một là, hệ thống hóa lý luận về chiến lược phát triển ngành du lịch của

một quốc gia Kế thừa và làm rõ thêm lý luận về sự cần thiết của việc áp dụng

lý thuyết “mô hình kim cương” trong xây dựng định hướng phát triển ngành

du lịch

Hai là, Nghiên cứu, phân tích đánh giá thực trạng môi trường ngành du

lịch tại Lào dựa trên “mô hình kim cương” trong thời gian qua Để chỉ rađược những cơ hội, thách thức, điểm mạnh, điểm yếu từ đó xây dựng đínhhướng chiến lược phát triển ngành du lịch

Ba là, Đề xuất các giải pháp thực hiện định hướng chiến lược phát triển

ngành du lịch Lào

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Trang 13

Định hướng chiến lược phát triển ngành du lịch của một quốc gia.

+ Về nội dung: vận dụng mô hình kim cương để xây dựng định hướngphát triển ngành du lịch Lào, cụ thể luận văn sử dụng mô hình kim cương đểđánh giá nội lực phát triển, khả năng cạnh tranh và tiềm năng phát triển

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp thu thập dữ liệu

+ Dữ liệu thứ cấp: được thu thập thông qua tổng Cục thống kê củangành, theo trang web chính thức của Cục thống kê CHDCND Lào và thamkhảo tại các luận văn thạc sỹ

+ Dữ liệu sơ cấp: được thu thập từ phòng phát triển du lịch Lào, Cục dulịch quốc gia, bộ báo cáo, văn hóa và du lịch của Lào

- Phương pháp phân tích dữ liệu

Luận văn sử dụng các tiếp cận nghiên cứu định tính sau:

+ Phân tích xử lý số liệu: Các dữ liệu thu thập được tiến hành kiểm tra

và chỉ theo 3 yêu cầu: đầy đủ, chính xác và logic

+ Phân tích phân tích, tổng hợp: Phân tích và tổng hợp để làm rõ cáckhía cạnh định hướng phát triển ngành du lịch tại CHDCND Lào; thống kê

mô tả nhằm cung cấp số liệu phản ánh nội dung và vấn đề nghiên cứu

+ Phương pháp so sánh: Dựa trên các chỉ tiêu xây dựng, tiến hành sosánh giữa các thời kỳ, các năm và các ngành, lĩnh vực liên quan đến ngành dulịch của CHDCND Lào

+ Phương pháp chuyên gia: Tác giả sẽ xin ý kiến và trao đổi với cácchuyên gia trong cơ quan, các lĩnh vực và Nhà quản lý Từ đó, tổng hợp các ýkiến, bài học của các chuyên gia đã được trao đổi để rút ra những kinh

Trang 14

nghiệm nhằm xây dựng định hướng chiến lược phát triển ngành du lịch tạiCHDCND Lào giai đoạn 2016 - 2020.

6 Đóng góp và ý nghĩa khoa học của luận văn

- Phân tích đánh giá được lợi thế cạnh tranh du lịch Lào Khẳng địnhphát triển du lịch là tất yếu khách quan, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế -

xã hội của CHDCND Lào

- Chỉ rõ những kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân của việc xâydựng định hướng phát triển ngành du lịch Lào thời gian qua

- Đề xuất một số giải pháp xây dựng định hướng phát triển ngành dulịch Lào trong thời gian tới

- Làm tài liệu tham khảo, là cơ sở góp phần xây dựng các quy hoạchphát triển du lịch, các chủ trương biện pháp phát triển du lịch tại CHDCNDLào

7 Kết cấu của Luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo,luận văn được kết cấu trong 3 chương:

Chương 1: Một số lý luận về xây dựng định hướng chiến lược phát

triển ngành du lịch

Chương 2: Phân tích chiến lược ngành du lịch CHDCND Lào.

Chương 3: Định hướng chiến lược phát triển ngành du lịch tại

CHDCND Lào giai đoạn 2016 - 2020

Trang 15

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG ĐỊNH HƯỚNG CHIẾN LƯỢC

PHÁT TRIỂN NGÀNH DU LỊCH

1.1 Một số khái niệm cơ bản

1.1.1 Chiến lược phát triển

Hiện tại có nhiều định nghĩa khác nhau về chiến lược phát triển,nguyên nhân cơ bản có sự khác nhau này là do có các hệ thống quan niệmkhác nhau về tổ chức nói chung và các phương pháp tiếp cận khác nhau vềchiến lược phát triển của tổ chức nói riêng

Về mặt bản thể học, tùy theo quan điểm của chủ nghĩa thực chứng(positivism) hay theo xu hướng tạo dựng (constructivism) mà bản chất củachiến lược phát triển được xác định theo quy luật tự nhiên hoặc có sự tác động

có ý nghĩa của chủ thể Trên thực tế, chiến lược phát triển thường được địnhnghĩa theo hướng thực tiễn nhằm làm dễ dàng các quá trình thực hành trong

tổ chức

Theo Johnson và Scholes, chiến lược phát triển được định nghĩa nhưsau: “Chiến lược phát triển là việc xác định định hướng và phạm vi hoạt độngcủa một tổ chức trong dài hạn, ở đó tổ chức phải giành được lợi thế thông quaviệc kết hợp các nguồn lực trong một môi trường nhiều thử thách, nhằm thỏamãn tốt nhất nhu cầu của thị trường và đáp ứng mong muốn của các tác nhân

có liên quan đến tổ chức”

Theo định nghĩa này, chiến lược phát triển của một doanh nghiệp đượchình thành để trả lời các câu hỏi sau :

- Hoạt động kinh doanh sẽ diễn ra ở đâu trong dài hạn? (định hướng)

- Hoạt động kinh doanh sẽ cạnh tranh trên thị trường sản phẩm nào vàphạm vi các hoạt động? (thị trường, phạm vi hoạt động)

- Bằng cách nào hoạt động kinh doanh được tiến hành tốt hơn so vớiđối thủ cạnh tranh trên thị trường? (lợi thế)

- Nguồn lực nào (kỹ năng, tài sản, tài chính, nhân sự, công nghệ,

Trang 16

thương hiệu…) cần thiết để tạo ra lợi thế cạnh tranh? (nguồn lực).

- Các nhân tố thuộc môi trường bên ngoài tác động đến khả năng cạnhtranh của doanh nghiệp? (môi trường)

Theo Michael Porter (1996), “Chiến lược phát triển là việc tạo ra một

sự hài hòa giữa các hoạt động của một công ty Sự thành công của chiến lượcchủ yếu dựa vào việc tiến hành tốt nhiều việc… và kết hợp chúng với nhau…cốt lõi của chiến lược là “lựa chọn cái chưa được làm”

Theo cách tiếp cận này, chiến lược là tạo ra sự khác biệt trong cạnhtranh, tìm và thực hiện cái chưa được làm (what not to do) Bản chất củachiến lược là xây dựng được lợi thế cạnh tranh (competitive advantages),chiến lược chỉ tồn tại trong các hoạt động duy nhất (unique activities) Chiếnlược là xây dựng một vị trí duy nhất và có giá trị tác động một nhóm các hoạtđộng khác biệt

Để có được chiến lược cũng như để tạo ra được lợi thế cạnh tranh, có

ba dạng định vị cơ bản:

- Định vị dựa trên sự đa dạng các hoạt động (varieties based) : Đó là sựlựa chọn một hay một nhóm các hoạt động trong một ngành kinh doanh trên

cơ sở việc phân đoạn các hoạt động kinh doanh

- Định vị dựa trên nhu cầu (needs based) : Đó là việc lựa chọn nhómkhách hàng có nhu cầu đồng nhất trên cơ sở việc phân đoạn thị trường

- Định vị dựa trên khả năng tiếp cận của khách hàng đối với một mặthàng hay lĩnh vực kinh doanh (access based) : Đó là cách định vị dựa trên tiêuchí vị trí địa lý hoặc khả năng thanh toán của khách hàng

Việc kết hợp hài hòa giữa các hoạt động cho phép tạo ra lợi thế cạnhtranh và khả năng bảo vệ lợi thế này trong dài hạn Có ba dạng liên kết cơbản:

- Sự liên kết giản đơn giữa từng hoạt động đơn lẻ với tổng thể chiếnlược

- Sự liên kết khi các hoạt động được củng cố và tăng cường

- Sự liên kết khi tối ưu hóa các nỗ lực

Vị trí chiến lược chỉ có thể được bảo vệ lâu dài khi có sự khác biệt

Trang 17

được tạo ra: Chính sự khác biệt trong các hoạt động, trong việc đáp ứng nhucầu hay trong cách thức tiếp cận khách hàng cho phép doanh nghiệp luôn tìmđược những định vị mới.

Tóm lại, “chiến lược phát triển là chương trình hành động, kế hoạch

hành động được thiết kế để đạt được một mục tiêu cụ thể, là tổ hợp các mụctiêu dài hạn và các biện pháp, các cách thức, con đường đạt đến các mục tiêuđó” một chiến lược phải giải quyết tổng hợp các vấn đề sau:

+ Xác định chính xác mục tiêu cần đạt

+ Xác định con đường, hay phương thức để đạt mục tiêu

+ Và định hướng phân bổ nguồn lực để đạt được mục tiêu lựa chọn.Trong ba yếu tố này, cần chú ý, nguồn lực là có hạn và nhiệm vụ củachiến lược là tìm ra phương thức sử dụng các nguồn lực sao cho nó có thể đạtđược mục tiêu một cách hiệu quả nhất

1.1.2 Chiến lược phát triển ngành

Khái niệm “Ngành” của một quốc gia là một bộ phận của nền kinh tếchuyên tạo ra hàng hóa và dịch vụ Trong nền kinh tế phong kiến, cơ cấu nềnkinh tế còn nghèo nàn, các hoạt động kinh tế ở quy mô nhỏ, manh mún.Ngành kinh tế chủ yếu khi đó là nông nghiệp và thương mại Các ngành kinh

tế được đa dạng hóa và hình thành như hiện nay bắt đầu từ những năm 1800(hơn 2 thế kỷ trước), và kể từ đó liên tục phát triển cho đến ngày nay với sựtrợ giúp bởi tiến bộ công nghệ Rất nhiều nước phát triển (như Hoa Kỳ, Anhquốc, Canada) phụ thuộc sâu sắc vào khu vực sản xuất Các quốc gia, các nềnkinh tế và các ngành công nghiệp của các quốc gia đó đan xen, liên kết, tươngtác nhau trong một mạng lưới phức tạp mà không dễ hiểu biết tường tận nếuchỉ nghiên cứu sơ sài

Một xu hướng gần đây là sự thay đổi cơ cấu ngành kinh tế khi các quốcgia công nghiệp tiến tới xã hội hậu công nghiệp Điều này thể hiện ở sự tăngtrưởng của lĩnh vực dịch vụ trong khi tỷ lệ của công nghiệp trong cơ cấu kinh

tế giảm xuống, và sự phát triển của nền kinh tế thông tin, còn gọi là cuộc cách

Trang 18

mạng thông tin Ở xã hội hậu công nghiệp, lĩnh vực chế tạo được tái cơ cấu,điều chỉnh thông qua quá trình "offshoring" (chuyển dần các giai đoạn sảnxuất ít giá trị gia tăng ra nước ngoài).

1.1.3 Chiến lược phát triển ngành du lịch

Du lịch là một ngành kinh tế dịch vụ Ngành du lịch được định nghĩa

theo nghĩa rộng là khu vực kinh tế bao gồm tất cả các ngành phục vụ khách

du lịch Do đó, ngành kinh doanh này được định nghĩa gắn liền với thị trườngriêng biệt của nó và bao gồm tất cả các hoạt động cung cấp dịch vụ du lịch vànhững nguồn thu từ khách du lịch

Là một ngành kinh tế dịch vụ, ngành du lịch cũng có những đặc điểmchung như những ngành dịch vụ khác

+ Tính vô hình

Về cơ bản, sản phẩm du lịch không phải là sản phẩm cụ thể, không tồntại dưới dạng vật thể Sản phẩm du lịch là loại sản phẩm vô hình, không thểnhận biết bằng thị giác, khứu giác, vị giác, xúc giác Do đó, việc đánh giá chấtlượng sản phẩm du lịch không hề đơn giản vì thường mang tính chủ quan vàphần lớn không phụ thuộc vào người kinh doanh mà phụ thuộc vào khách dulịch Chất lượng của sản phẩm du lịch được xác định dựa vào chênh lệch giữamức độ kỳ vọng và mức độ cảm nhận về chất lượng của khách du lịch

+ Tính không đồng nhất

Sản phẩm du lịch chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố tác động bao gồmnguồn cung cấp, dịch vụ (cung), người mua dịch vụ (du khách), và cả yếu tốthời gian ở thời điểm mua bán dịch vụ du lịch Dịch vụ du lịch có tính phi tiêuchuẩn hóa cao nên muốn có dịch vụ tốt cần phải có sự thực hiện tốt của cả haiphía người cung cấp và khách hàng cũng như các nguồn cung khác

Trang 19

Chúng không thể tồn kho hay cất đi như các hàng hóa thông thường khác Do

đó, một vấn đề đặt ra là phải tạo ra được sự ăn khớp giữa sản xuất và tiêudùng

Ngoài những đặc điểm chung của ngành dịch vụ, ngành du lịch còn cónhững nét đặc thù:

+ Sản phẩm du lịch được tạo ra thường gắn với yếu tố tài nguyên dulịch - bao gồm cả tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên văn hóa Sản phẩm dulịch là dạng sản phẩm không dịch chuyển được Khách du lịch muốn thỏamãn nhu cầu của mình phải thông qua việc tiêu dùng sản phẩm du lịch tại địađiểm du lịch Chính vì vậy, muốn tiêu thụ sản phẩm du lịch, bài toán đặt racho cá nhân kinh doanh du lịch là phải tìm cách thu hút khách du lịch tới địabàn du lịch của mình

+ Hoạt động kinh doanh du lịch thường mang tính thời vụ: Việc tiêudùng sản phẩm du lịch tập trung vào những thời gian nhất định trong ngày(đối với nhóm sản phẩm ở bộ phận nhà hàng), trong tuần (với gói du lịch cuốituần), và trong năm (với sản phẩm của một số loại hình du lịch như du lịchbiển, du lịch leo núi…) Tính mùa vụ trong sản phẩm du lịch gây ra không ítkhó khăn cho việc tổ chức hoạt động kinh doanh và từ đó ảnh hưởng tới kếtquả kinh doanh của các nhà kinh doanh du lịch

Do có những đặc điểm đặc thù như trên, nên chiến lược phát triển ngành du lịch là loại chiến lược mà nội dung của nó bao gồm các yếu tố chịu

ảnh hưởng của chế độ chính trị, xã hội, cách thức phát triển của một đất nước,hoàn cảnh lịch sử và trình độ phát triển của ngành du lịch Chiến lược pháttriển ngành du lịch cũng phải xác định mục tiêu chính cần đạt đến dựa trênnguồn lực, cơ cấu kinh tế, phương thức và cơ chế quản lý kinh tế, trong đóphải xem xét con người là nhân tố quan trọng mang tính quyết định

1.2 Mô hình kim cương trong xây dựng định hướng chiến lược phát triển ngành du lịch

1.2.1 Khái niệm mô hình kim cương

Trang 20

Vào năm 1990, giáo sư Michael Porter của Trường Kinh doanhHarvard đã cho xuất bản những kết quả của một nỗ lực nghiên cứu chuyênsâu nhằm tìm hiểu tại sao một số nước lại thành công còn một số khác lại thấtbại trong cạnh tranh quốc tế Porter và các cộng sự đã nghiên cứu tổng cộng

100 ngành tại 10 quốc gia khác nhau Giống như những người ủng hộ thuyếtthương mại mới, công trình của Porter được định hướng bởi niềm tin rằng các

lý thuyết hiện tại về thương mại quốc tế chỉ chỉ ra được một phần của câuchuyện Đối với Porter, nhiệm vụ cốt yếu là giải thích được tại sao một quốcgia đạt được sự thành công quốc tế trong một ngành cụ thể Tại sao Nhật Bảnrất giỏi trong ngành chế tạo ô tô? Tại sao Thụy sĩ xuất sắc trong sản xuất vàxuất khẩu các thiết bị chính xác và các loại dược phẩm? Tại sao Đức và Hoa

Kỳ làm rất tốt trong ngành công nghiệp hóa chất? Những câu hỏi này khó thểtrả lời được một cách dễ dàng bằng lý thuyết H-O, và lý thuyết về lợi thế sosánh sẽ nói rằng Thụy Sĩ xuất sắc về sản xuất và xuất khẩu các thiết bị chínhxác bởi vì nước này sử dụng các nguồn lực của mình rất hiệu quả trong nhữngngành đó Mặc dù điều này có thể là chính xác, nhưng lại không giải thíchđược tại sao Thụy Sĩ năng suất hơn về ngành đó so với các nước khác nhưAnh, Đức, hoặc Tây Ban Nha Porter đã cố gắng giải vấn đề nan giải này

Mô hình kim cương được trình bày trong lý thuyết lợi thế cạnh tranhquốc gia của M Porter bao gồm bốn nhân tố chính và hai biến số bổ sung.Bốn nhân tố này, với vai trò là những yếu tố riêng lẻ, hoặc hệ thống tạo ra môitrường kinh doanh trong đó các doanh nghiệp của quốc gia đó thành lập vàcạnh tranh

Trang 21

Hình 1.1: Mô hình kim cương

Theo đó, có bốn yếu tố chính tạo nên lợi thế cạnh tranh quốc gia là:

(1) Điều kiện các yếu tố sản xuất: Nhân tố này được hiểu là vị thế của

quốc gia về các yếu tố sản xuất đầu vào như lao động được đào tạo hay cơ sở

hạ tầng, cần thiết cho cạnh tranh trong một ngành công nghiệp nhất định

(2) Điều kiện về cầu: Nhân tố này còn được hiểu là đặc tính của cầu

trong nước đối với sản phẩm hoặc hàng hoá của ngành đó

(3) Các ngành hỗ trợ và liên quan: Nhân tố này có thể hiểu theo góc

độ sự tồn tại hay thiết hụt những ngành công nghiệp liên quan và hỗ trợ cótính cạnh tranh quốc tế ở quốc gia đó

(4) Chiến lược, cơ cấu và cạnh tranh ngành: Đây là những điều kiện

trong một quốc gia liên quan tới việc thành lập, tổ chức và quản lý doanhnghiệp, cũng như những đặc tính của cạnh tranh trong nước

Hai biến số bổ sung khác có thể ảnh hưởng đến hệ thống quốc gia theonhững cách rất quan trọng và chúng cần thiết để hoàn thành lý thuyết này, đó

Trang 22

là Cơ hội và Chính phủ Có thể nói, cơ hội là những sự phát triển nằm ngoài

tầm kiểm soát của các doanh nghiệp, các Chính phủ của các quốc gia nhưchiến tranh, sự phát triển chính trị bên ngoài Yếu tố cuối cùng hoàn thànhbức tranh là chính phủ Chính phủ ở mọi cấp độ, có thể cải thiện hoặc làmgiảm lợi thế quốc gia Có thể nhìn thấy rõ nhất khi xem xét ảnh hưởng chínhsách lên mỗi nhân tố

Thêm vào đó, mô hình kim cương là một hệ thống có khả năng tươngtác, củng cố lẫn nhau Tác động của một yếu tố sẽ phụ thuộc vào trạng tháicủa các yếu tố khác Lợi thế trong một yếu tố cũng có thể tạo ra hoặc pháttriển lợi thế ở các yếu tố khác Tuy nhiên, lợi thế trong mỗi yếu tố không phải

là điều kiện tiên quyết để có lợi thế cạnh tranh trong một ngành

Theo đó, sự hiện diện của tất cả bốn thuộc tính là yêu cầu để hình thànhlên mô hình kim cương nhằm thúc đẩy năng lực cạnh tranh (mặc dù vẫn tồntại những ngoại lệ) và ông cũng khẳng định rằng chính phủ có thể can thiệptới từng thuộc tính trong số bốn thuộc tính thành phần của mô hình kim cương– một cách tích cực hoặc tiêu cực Điều kiện về yếu tố sản xuất có thể bị ảnhhưởng bởi các khoản trợ cấp, các chính sách đối với thị trường vốn, các chínhsách đối với giáo dục, v.v… Chính phủ có thể xác lập nhu cầu nội địa thôngqua các tiêu chuẩn sản phẩm nội địa hoặc bằng các quy định bắt buộc hoặcảnh hưởng tới nhu cầu của người mua hàng Chính sách của chính phủ có thểtác động tới các ngành hỗ trợ và liên quan thông qua các quy định và ảnhhưởng tới đối thủ cạnh tranh thông qua các công cụ như quy định trên thịtrường vốn, chính sách thuế, và luật chống độc quyền Do đó để xây dựngđịnh hướng chiến lược cho một ngành kinh tế, các quốc gia cần xây dựng dựatrên lý thuyết về mô hình kim cương

Những nhân tố quyết định của lợi thế cạnh tranh định hình môi trườngcạnh tranh trong những ngành cụ thể Tuy nhiên, cơ hội là những sự kiện xảy

ra ít liên quan tới tình trạng hiện tại của quốc gia và thường nằm ngoài phạm

Trang 23

ảnh hưởng của các công ty (và thường cả của Chính phủ) Những cơ hội đặcbiệt quan trọng, có sức ảnh hưởng đến lợi thế cạnh tranh có thể kể đến như sự

ra đời của các phát minh thuần túy, những đột phá về công nghệ, những thayđổi về chi phí đầu vào (như giá dầu mỏ), sự dịch chuyển lớn của thị trường tàichính thế giới, sự bùng nổ nhu cầu trong khu vực hoặc trên thế giới, nhữngquyết định chính trị của Chính phủ nước ngoài hay chiến tranh

Với ngành du lịch, một ngành kinh tế dịch vụ chịu ảnh hưởng trực tiếp

từ sự thay đổi nhu cầu khách hàng, vai trò của cơ hội càng trở nên rõ nét Tuynhiên cần lưu ý, trong mô hình kim cương, cơ hội chỉ đóng vai trò là một biến

số, ảnh hưởng lên lợi thế cạnh tranh quốc gia thông qua ảnh hưởng của nó lêncác nhân tố chính của mô hình Rõ ràng, một quốc gia có tài nguyên du lịchphong phú đến đâu chăng nữa cũng không thể cải thiện các điều kiện về cầunội địa cho sản phẩm du lịch nếu quốc gia đang xảy ra chiến tranh Haynhững thay đổi về giá thành các yếu tố đầu vào cũng tạo ra những bất lợi thế

về điều kiện yếu tố sản

Ảnh hưởng quan trọng của yếu tố cơ hội còn vì chúng tạo ra sự thay đổibất ngờ, cho phép dịch chuyển vị thế cạnh tranh Chúng có thể xóa đi lợi thếcủa những công ty thành lập trước đó và tạo ra tiềm năng mà các công ty mới

có thể khai thác để có được lợi thế đáp ứng những điều kiện mới và khác biệt.Thêm vào đó, các nhân tố quyết định đối với lợi thế quốc gia cũng vận hànhnhư một hệ thống nhằm duy trì lợi thế Tuy nhiên, hệ thống này thường được

“điều chỉnh” theo một cấu trúc ngành cụ thể Do đó, cần phải có sự đột biến

đủ để thay đổi những cơ sở của những lợi thế, đủ để cho phép “mô hình kimcương mới” thay thế mô hình kim cương trước đó

Phân tích lợi thế cạnh tranh quốc gia của ngành du lịch để xây dựngđịnh hướng chiến lược dưới lăng kính của mô hình kim cương, ta cần lưu ýlựa chọn và lồng ghép tính đặc thù của ngành kinh tế dịch vụ này vào cácnhân tố cơ bản của mô hình

Trang 24

1.2.2 Vận dụng mô hình kim cương trong xây dựng định hướng chiến lược

1.2.2.1 Điều kiện các yếu tố sản xuất

Theo lý thuyết thương mại trước đây, các yếu tố sản xuất bao gồm laođộng, đất đai, tài nguyên thiên nhiên, vốn, cơ sở hạ tầng sẽ quyết định quan hệbuôn bán giữa các nước, mang lại sự thịnh vượng cho một quốc gia trongthương mại quốc tế Lập luận này không còn đầy đủ trong thời đại hội nhậpngày nay, nhưng không thể phủ nhận vai trò của các điều kiện về yếu tố sảnxuất trong cạnh tranh dịch vụ, đặc biệt là một ngành dịch vụ mà người muađược thu hút đến một địa điểm như ngành du lịch Yếu tố then chốt trong cácđiều kiện về yếu tố đầu vào là nguồn lực đầu vào sẵn có và việc hoàn thiện,nâng cấp lâu dài nguồn lực đó Không thể phủ nhận tính sẵn có của nhómnguồn lực này bởi nếu không có những nguồn lực đầu vào và những điểm thuhút du khách nói riêng - các nguồn tài nguyên thiên nhiên, văn hoá và do conngười tạo ra thì sẽ không có hoạt động du lịch

Tuy nhiên, không phải những đầu vào sẵn có mà là những yếu tố đầuvào do mỗi quốc gia tự tạo ra trong quá trình phát triển của mình mới chính làcác yếu tố đầu vào tác động mạnh nhất tới lợi thế cạnh tranh của hầu hết cácngành, đặc biệt là ngành du lịch Do đó, số lượng các đầu vào không quantrọng bằng hiệu quả và hiệu suất sử dụng chúng Đánh giá các vai trò của cácđiều kiện đầu vào đối với hoạt động của ngành du lịch, cần thiết phải xem xétcác nhóm nhân tố: Nguồn tài nguyên thiên nhiên; nguồn tài nguyên lịch sử,văn hóa; nguồn vốn và cơ sở hạ tầng; nguồn nhân lực

Thứ nhất, Nguồn tài nguyên thiên nhiên

Sản phẩm du lịch được tạo ra thường gắn với yếu tố tài nguyên thiênnhiên Chính vì vậy, khi đánh giá các điều kiện đầu vào tác động tới lợi thếcạnh tranh quốc gia của ngành du lịch, trước tiên cần đánh giá lợi thế cạnhtranh về tài nguyên thiên nhiên, đây chính là điều kiện cốt yếu tạo ra các sản

Trang 25

phẩm du lịch.

Tài nguyên thiên nhiên trong du lịch thể hiện rõ nét qua lợi thế so sánh

về vị trí địa lý và địa hình Lợi thế về vị trí địa lý chính là thành tố góp phầngia tăng hiệu quả cho chuyến đi, tạo điều kiện thuận lợi cho du khách trongviệc tiếp cận điểm đến du lịch Sự đa dạng của bề mặt địa hình có ý nghĩa rấtlớn đối với hoạt động du lịch, tạo nên sự phong phú của loại hình du lịch.Trong đó, mỗi dạng địa hình với đặc điểm riêng biệt tạo nên những loại hìnhdịch vụ đặc trưng

Nhân tố thứ hai trong nhóm tài nguyên thiên nhiên phải kể tới là khíhậu Hoạt động du lịch, nhất là du lịch nghỉ ngơi tham quan và thể thao chịuảnh hưởng trực tiếp về khí hậu và đặc biệt là diễn biến của thời tiết Vớinhững điều kiện khí hậu điều hoà thì hoạt động du lịch diễn ra quanh năm.Ánh nắng mặt trời, bầu không khí trong lành cũng là các yếu tố quan trọngcùng với các dạng địa hình, núi non hiểm trở góp phần tạo nên một sản phẩm

du lịch độc đáo, hấp dẫn du khách trong nước và quốc tế

Ngoài ra, khi đánh giá các yếu tố sản xuất của ngành du lịch, một nhân

tố không thể bỏ qua đó là hệ động thực vật Thế giới động thực vật đóng vaitrò quan trọng trong sự phát triển của du lịch chủ yếu nhờ sự đa dạng và tínhđặc hữu Cuộc sống hiện đại của con người ngày càng xa rời thiên nhiên.Chính vì vậy, trong đời sống hiện đại, con người lại muốn quay trở về gần vớithiên nhiên Do đó, các loại hình du lịch về với thiên nhiên đang trở thành một

xu thế và nhu cầu phổ biến Du khách luôn có cảm giác tò mò, thích thú trướcnhững loại động, thực vật không có ở đất nước họ

Cuối cùng, không thể không nói tới một nhân tố quan trọng đối vớinhóm nhân tố tài nguyên thiên nhiên là nguồn nước Một nguồn nước đảmbảo không những là liều thuốc tạo sự an tâm về thực phẩm cho du khách màcòn quyết định chất lượng môi trường sinh thái Thêm vào đó, nguồn nướckhoáng cũng là tiền đề không thể thiếu được đối với việc phát triển loại hình

Trang 26

du lịch chữa bệnh

Thứ hai, Nguồn tài nguyên nhân văn

Cùng với các tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên nhân văn cũng có sựhấp dẫn không kém với du khách Tài nguyên nhân văn bao gồm các giá trịlịch sử và các giá trị văn hoá

Các giá trị lịch sử bao gồm những địa điểm sự kiện lịch sử đã diễn rahoặc các di vật để lại sau sự kiện đó Đó cũng có thể là những nơi sinh và lớnlên của các vị anh hùng dân tộc, danh nhân thế giới, những nơi là cố đô cũ,những thánh địa là nơi sinh ra của các trường phái tôn giáo Đặc biệt, với mộtđất nước đã trải qua hai cuộc kháng chiến cứu nước như CHDCND Lào, cụm

du lịch di tích lịch sử phát triển khá phổ biến

Các giá trị văn hoá bao gồm các giá trị vật thể và phi vật thể Các giá trịvăn hoá vật thể là toàn bộ công trình kiến trúc, bảo tàng, tác phẩm nghệ thuật.Bên cạnh những giá trị vật thể là những giá trị phi vật thể bao gồm các phongtục tập quán, các lễ hội, các loại hình nghệ thuật, văn hoá ẩm thực… Du lịch

và thưởng thức nét đẹp văn hóa của các vùng miền đang là xu hướng pháttriển khá mạnh trên trị trường du lịch khi mà nhu cầu hiểu biết và tiếp cận cácnền văn hóa của con người ngày một mở rộng Nắm bắt được nhu cầu đó, việcphát huy màu sắc văn hóa, lưu giữ và phát triển truyền thống trong sản phẩm

du lịch đang là vấn đề đặt ra đối với mỗi đối tượng kinh doanh du lịch

Thứ ba, Nguồn vốn và cơ sở hạ tầng

Một trong những thành phần quan trọng của môi trường du lịch là mức

độ phát triển hạ tầng du lịch bao gồm hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật ngànhvới các cơ sở lưu trú, các cơ sở dịch vụ cùng những hạ tầng khác như hệthống giao thông, y tế, du lịch, hệ thống an ninh quốc phòng… Đây là điềukiện cần thiết, đảm bảo những dịch vụ cơ bản trong hoạt động du lịch Do đó,vấn đề đặt ra là cần thu hút ngày một nhiều hơn và có hệ thống các nguồn vốnđầu tư vào mở rộng và nâng cao chất lượng hạ tầng du lịch

Nguồn vốn đầu tư chủ yếu bao gồm vốn đầu tư trực tiếp ngân sách nhà

Trang 27

nước, nguồn vốn đầu tư của khu vực dân cư, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

và nguồn vốn ODA là không thể thiếu được trong nhu cầu phát triển của nềnkinh tế nói chung và ngành du lịch nói riêng Các dự án đầu tư liên quan tới

du lịch có phạm vi ngày càng rộng và hình thức ngày càng phong phú Tuynhiên, cũng cần chú ý, lượng vốn và quy mô vốn đầu tư là cần thiết nhưnghiệu quả sử dụng vốn đầu tư đóng một vai trò quyết định Nếu hiệu quả đầu tưthấp và lãng phí thì việc tăng lượng vốn đầu tư cũng không đem lại kết quả

Thứ tư, Nguồn nhân lực

Nguồn nhân lực là toàn bộ trình độ chuyên môn mà con người tích lũyđược, có khả năng đem lại thu nhập trong tương lai Nguồn nhân lực, theogiáo sư Phạm Minh Hạc là “tổng thể các tiềm năng lao động của một nướchay một địa phương sẵn sàng tham gia một công việc lao động nào đó”.Nguồn nhân lực, cùng với tài nguyên thiên nhiên, vốn và công nghệ đã trởthành một trong những yếu tố cơ bản nhất cho sự phát triển Đây cũng là mộttrong những yếu tố quan trọng nhất quyết định sự phát triển của mỗi doanhnghiệp cũng như toàn thể xã hội

Với một ngành mang đậm tính giao tiếp như du lịch, khả năng ngônngữ của lực lượng lao động được đặt lên hàng đầu Trong Lý thuyết lợi thếcạnh tranh quốc gia, đề cập tới lợi thế cạnh tranh quốc gia trong các ngànhdịch vụ, M Porter đã khẳng định rằng “ngôn ngữ của một quốc gia và các kỹnăng ngôn ngữ của công dân nước đó có thể đóng một vai trò quan trọngtrong nhiều ngành dịch vụ” Thiếu hiểu biết về ngoại ngữ sẽ là một trở ngạirất lớn, thậm chí làm cho các chức danh trong lao động không thể hoàn thànhđược nhiệm vụ của mình Việc thông thạo ít nhất một trong các ngôn ngữthông dụng quốc tế là cần thiết không chỉ đối với ngành du lịch mà còn đốivới tất cả các ngành kinh tế trong giai đoạn hiện nay

Thêm vào đó, trình độ hiểu biết về kinh tế cũng có ý nghĩa quan trọngđối với mọi chức danh trong hoạt động du lịch Mỗi doanh nghiệp được thành

Trang 28

lập đều có chung mục đích nhằm tăng nguồn thu, lợi nhuận Trong công tác tổchức kinh doanh và quản lý tồn tại hàng loạt những hoạt động có nội dungkinh tế đòi hỏi mọi chức danh lao động cần được bồi dưỡng, đào tạo về trình

độ nghề nghiệp chuyên môn và tư duy kinh tế Những kiến thức này sẽ gópphần đẩy nhanh tiến độ và nâng cao hiệu quả công việc trong các hoạt động tổchức, thực hiện các quá trình thiết lập, cải tạo, duy trì, hiện đại hóa cơ sở vậtchất và ứng dụng công nghệ trong kinh doanh, giúp doanh nghiệp tổ chứchoạt động kinh doanh đạt hiệu quả kinh tế cao nhất

Không chỉ những hiểu biết về kinh tế mà những hiểu biết về các vấn đềchính trị, xã hội, văn hóa, lịch sử cũng đem lại lợi thế về nhân lực Du lịch làmột ngành kinh tế tổng hợp, mang nội dung văn hóa sâu sắc, có tính liên vùng

và xã hội hóa cao Khách du lịch có thể đến từ nhiều vùng miền khác nhautrên lãnh thổ một đất nước, từ nhiều quốc gia khác nhau trên thế giới Hiểubiết về nhiều nền văn hóa khác nhau sẽ mang lại lợi thế trong mối quan hệ vớikhách hàng, giúp nắm bắt tâm lý và tiếp cận gần hơn với nhu cầu của dukhách

Ngoài ra, đội ngũ lao động cần có tâm lý thoải mái, nhiệt tình, sẵn sàngphục vụ du khách trong mọi điều kiện Sự thân thiện và thái độ nhiệt tình sẽtạo tâm lý thoải mái với khách du lịch, giúp người làm du lịch có thể hoànthành tốt công việc

Tóm lại, vai trò của các điều kiện về yếu tố sản xuất là vô cùng quan

trọng trong việc xác lập lợi thế cạnh tranh quốc gia của một ngành Tuy nhiên,khi xem xét các yếu tố về điều kiện sản xuất cần thiết phải xét đến vấn đề giáthành các yếu tố đầu này Yếu tố giá thành là một trong những yếu tố cơ bảnkhi đánh giá lợi thế cạnh tranh của một quốc gia trong việc khai thác các yếu

tố sản xuất Mặc dù vậy, cần lưu ý, lợi thế cạnh tranh từ các yếu tố sản xuấtkhông chỉ phụ thuộc vào số lượng, giá thành của bản thân các yếu tố mà chủyếu được đánh giá qua hiệu quả và hiệu suất sử dụng chúng Nói một cách

Trang 29

khác, các yếu tố sản xuất không còn đơn thuần mang tính “tĩnh”, sẵn có màluôn “động”, luôn được tạo mới và phát huy trong quá trình tạo lập và pháthuy lợi thế cạnh tranh quốc gia Đây chính là nét mới trong lý thuyết lợi thếcạnh tranh quốc gia về du lịch của M Porter.

1.2.2.2 Điều kiện về cầu

Nhân tố thứ hai của lợi thế cạnh tranh trong một ngành công nghiệp làđiều kiện về cầu, đặc biệt là cầu trong nước đối với sản phẩm và dịch vụ củangành này Các điều kiện cầu trong nước có ảnh hưởng lên gần như tất cả cácngành công nghiệp, giúp định hình tốc độ và đặc điểm đổi mới và cải tiến củacác công ty trong một quốc gia Theo quan điểm của M Porter, những điềukiện về cầu có thể là nhân tố quyết định có tác động mạnh mẽ nhất tới lợi thếcạnh tranh quốc gia trong các dịch vụ ngày nay, giống như vai trò của chúngđối với hàng hóa tiêu dùng từ những năm 1950 và đầu những năm 1960

Để lý giải vai trò đóng góp của cầu trong nước đối với lợi thế cạnhtranh quốc gia của một ngành, đặc biệt là ngành dịch vụ du lịch, trước tiên tacần tìm hiểu kết cấu của cầu trong nước Tác động quan trọng nhất của cầutrong nước đối với lợi thế cạnh tranh là thông qua kết cấu và tính chất của nhucầu khách hàng trong nước, các công ty có thể nắm bắt, nhận biết, giải thích

và phản ứng với nhu cầu khách hàng Các nước sẽ chỉ có được lợi thế cạnhtranh trong những ngành hoặc phân ngành mà cầu trong nước dự báo đượcnhu cầu của những nước khác Các nước cũng có được những lợi thế cạnhtranh nếu khách hàng trong nước nằm trong số những khách hàng khó tính đốivới sản phẩm hay dịch vụ đó Khi đó, những nhu cầu trong nước sẽ gây áp lựcvới các công ty để đổi mới nhanh hơn và đạt được những lợi thế cạnh tranhcao cấp hơn so với các đối thủ cạnh tranh nước ngoài Và đặc biệt khi có dấuhiệu bão hòa đối với nhu cầu trong nước, các doanh nghiệp không còn lựachọn nào khác ngoài đổi mới, cải tiến, tạo ra các đặc tính mới của sản phẩm,

Trang 30

nâng cao hiệu quả sản xuất, giảm giá thành… Kết quả là các doanh nghiệp cókhả năng cạnh tranh yếu hơn sẽ bị loại bỏ, chỉ còn lại các doanh nghiệp mạnh

và đổi mới hơn

Ngoài ra, khi xem xét các điều kiện về cầu, không thể bỏ qua quy môlựa chọn và thời điểm của cầu dịch vụ Các quốc gia khác nhau có sự khácbiệt lớn về mức độ nhu cầu với các dịch vụ cụ thể Sự tăng trưởng của mộtngành dịch vụ chịu ảnh hưởng rất lớn từ nhu cầu của đối tượng khách hàngtiêu thụ dịch vụ đó Ví dụ như các quốc gia giàu có có nhu cầu cao đối với cácgói du lịch cao cấp, còn đối với các quốc gia đang phát triển, nhu cầu của dukhách đa phần hướng tới gói sản phẩm du lịch vừa túi tiền, mang tính kinh tếcao Chính vì vậy, khi xây dựng chiến lược kinh doanh cho một sản phẩm dulịch, cần thiết phải khoanh vùng nhóm khách hàng mục tiêu, phân tích nhucầu về sản phẩm du lịch của nhóm khách hàng này, lựa chọn phương thứckinh doanh và loại sản phẩm phù hợp

Cuối cùng phải kể tới sự quốc tế hóa cầu dịch vụ trong nước Cấu thànhcầu trong nước là gốc rễ của lợi thế cạnh tranh quốc gia Sự quốc tế hóa cầutrong nước đặc biệt quan trọng đối với nhiều dịch vụ xuất phát từ nhiềunguyên nhân Người tiêu dùng trong nước cơ động, những người mà thườngxuyên di chuyển rất nhiều lần tới các quốc gia khác, tạo nên một lợi thế rất tolớn cho các doanh nghiệp dịch vụ của quốc gia Cơ hội để thiết lập những địađiểm kinh doanh ở nước ngoài nhanh chóng xuất hiện và các doanh nghiệpcũng có được một nền tảng những người mua trung thành ở nước ngoài Hiệuứng này khá rõ ràng trong những ngành liên quan đến du lịch Ví dụ tiêu biểunhất là khi người Nhật bắt đầu đi du lịch ngày càng nhiều hơn thì sự hiện diệnđáng kể của các nhà hàng và khách sạn Nhật càng trở nên rõ ràng

Tóm lại, các điều kiện cầu đa dạng có thể củng cố cho nhau và có ý

nghĩa lớn trong các giai đoạn khách nhau của quá trình phát triển của mộtngành Nhất là một ngành kinh tế dịch vụ đặc thù như du lịch với những hoạt

Trang 31

động kinh doanh hướng tới thỏa mãn nhu cầu đa dạng và phong phú củakhách hàng, thì việc tìm hiểu, tiếp cận và phát huy các điều kiện cầu là vôcùng quan trọng trong định hình sản phẩm kinh doanh.

1.2.2.3 Các ngành hỗ trợ và liên quan

Vai trò ngày càng gia tăng của các ngành hỗ trợ và liên quan đối vớiviệc xác lập và duy trì lợi thế cạnh tranh quốc gia của một ngành đòi hỏi phảitách riêng chúng thành một nhóm nhân tố riêng, với mức độ ảnh hưởng khôngchỉ dừng lại ở phạm vi là một yếu tố cấu thành trong nhóm các điều kiện yếu

tố sản xuất

Các công ty nằm trong các ngành có khả năng cạnh tranh cao của quốcgia không hề tồn tại biệt lập Sự đóng góp của những ngành hỗ trợ và liênquan là vô cùng thiết yếu trong quá trình xác lập và phát huy lợi thế cạnhtranh quốc gia của một ngành, đặc biệt là ngành kinh tế dịch vụ du lịch Dođặc tính liên ngành mà các hoạt động kinh doanh du lịch chủ yếu sử dụng sảnphẩm của các ngành hỗ trợ và liên quan để nâng cao thế mạnh sản phẩm củamình

Thế mạnh trong một số ngành như ngành giao thông (bao gồm cácphương tiện vận chuyển, hệ thống bến bãi, đường xá), ngành công nghệ thôngtin, ngành viễn thông, các ngành cung cấp phương tiện văn hóa, giải trí và thểthao, những ngành công nghiệp hàng lưu niệm, ngành y tế hay ngành công angóp phần rất lớn trong việc đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách du lịch Trong

đó, một nhóm đặc biệt quan trọng những ngành hỗ trợ cho nhiều dịch vụ, nhất

là dịch vụ du lịch là các ngành liên quan tới công nghệ thông tin Nhiều ngànhdịch vụ đang được cách mạng hóa bởi công nghệ mới, nhiều trong số đó liênquan tới hệ thống cung cấp thông tin Công nghệ làm giảm thành phần laođộng trong các dịch vụ và giúp cho đội ngũ nhân viên cung cấp dịch vụ nângcao hiệu quả hoạt động, nói một cách khác là nâng cao năng suất hoạt động

Trang 32

Đây chính là điểm mới và một trong những thước đo đánh giá lợi thế cạnhtranh quốc gia mà M Porter muốn nhấn mạnh Đổi mới công nghệ kết hợpvới đổi mới phương thức sản xuất, kinh doanh chính là chìa khóa thành côngcho nhiều ngành, và du lịch không phải là một ngoại lệ.

1.2.2.4 Chiến lược, cơ cấu và cạnh tranh ngành

Nhân tố lớn thứ tư trong số các nhân tố tác động tới lợi thế cạnh tranhquốc gia của một ngành là bối cảnh mà các công ty trong ngành được thànhlập, tổ chức và quản trị cũng như bản chất cạnh tranh của ngành đó trongnước Cạnh tranh trong hầu hết các ngành dịch vụ, nhất là dịch vụ du lịch liênquan tới sự tinh tế nắm bắt nhu cầu đa dạng của khách hàng, tinh tế trong chitiết và không ngừng cải tiến các loại hình dịch vụ đã và đang hoạt động cũngnhư nghiên cứu cho ra đời những sản phẩm dịch vụ du lịch mới Cạnh tranhngành trong nước không chỉ giới hạn ở cạnh tranh giá cả Trên thực tế, cạnhtranh dưới những hình thức khác như cạnh tranh về công nghệ cũng dẫn đếnnhững lợi thế quốc gia bền vững hơn

Về mặt chiến lược hình thành và phát triển, các ngành dịch vụ cókhuynh hướng đi lên từ những doanh nghiệp nhỏ hơn là doanh nghiệp có quy

mô lớn ngay từ đầu Các quốc gia sẽ chiếm được một lợi thế đặc biệt trongcác dịch vụ nếu việc khởi đầu một doanh nghiệp mới dễ dàng và được thừanhận tại những quốc gia đó Thêm vào đó, khu vực dịch vụ với đa số nhữngcông ty nhỏ và cơ cấu phân khúc rất dễ bị Chính phủ can thiệp Các quy địnhbảo hộ những doanh nghiệp nhỏ hoặc tác động đến các hoạt động kinh doanhnhỏ rất phổ biến Nếu những quy định này cản trở sự áp dụng công nghệ, trìhoãn hoặc ngăn cản sự sáng tạo ra các dịch vụ mới, làm chậm sự thống nhấtcủa các ngành dịch vụ địa phương, ngăn cản cạnh tranh nước ngoài hoặc cạnhtranh trong nước, chúng sẽ gần như phá hủy khả năng của quốc gia đạt đượclợi thế cạnh tranh quốc tế trong các ngành dịch vụ bị ảnh hưởng

Trang 33

1.2.2.5 Vai trò của Chính phủ

Biến số cuối cùng quyết định lợi thế cạnh tranh quốc gia là vai trò củaChính phủ Chính phủ được bàn luận kỹ càng trong trong nghiên cứu cạnhtranh quốc tế và được cho là đóng vai trò thiết yếu, ảnh hưởng tới cạnh tranhquốc tế hiện đại Nhiều người có xu hướng coi Chính phủ là nhân tố thứ năm.Tuy nhiên, điều này không đúng cũng như không phải là cách thức tốt nhất đểhiểu vai trò của Chính phủ trong cạnh tranh quốc tế khi mà vai trò thực tế củachính phủ là tác động gián tiếp tới lợi thế cạnh tranh quốc gia của ngànhthông qua những tác động trực tiếp hoặc gián tiếp tới bốn nhóm nhân tố quyếtđịnh

Điều kiện yếu tố sản xuất có thể chịu ảnh hưởng thông qua trợ cấp, cácchính sách liên quan tới thu hút nguồn vốn đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng dulịch, chính sách giáo dục phát triển nguồn nhân lực phục vụ trong ngành dulịch hay những chính sách tương tự Chính phủ cũng có thể tác động lên cácđiều kiện cầu trong nước, trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua việc xây dựng cáctiêu chuẩn sản phẩm hay những quy định về sản phẩm trong nước Dưới tácđộng trực tiếp hoặc gián tiếp của chính phủ, những ngành công nghiệp hỗ trợ

và liên quan cũng có thể được kiến tạo theo nhiều cách như các quy định vềkiểm soát các phương tiện bến bãi, phương tiện vận tải, phương tiện thông tinliên lạc Chính sách của Chính phủ cũng ảnh hưởng đáng kể tới chiến lược,

cơ cấu và cạnh tranh nội địa thông qua những công cụ như các điều khoảnluật ban hành, các quy định về thị trường vốn, chính sách thuế hay việc cấpphép đầu tư vào các dự án kinh doanh Cũng cần lưu ý là các tác động củachính phủ lên mỗi nhân tố trong số bốn nhân tố có thể là tác động tích cựchoặc tiêu cực Và ngược lại, Chính phủ cũng có thể chịu ảnh hưởng từ nhữngnhân tố quyết định Chính vì vậy, mối quan hệ giữa Chính phủ và các nhómnhân tố chính quyết định lợi thế cạnh tranh quốc gia của một ngành là mối

Trang 34

quan hệ hai chiều.

1.3 Các điều kiện để phát triển ngành du lịch tại một quốc gia

1.3.1 Các điều kiện khách quan

1.3.1.1 Môi trường kinh tế quốc tế

Xu thế vận động và phát triển của nền kinh tế Thế giới một cách liêntục và sôi động luôn là nguồn động lực cho sự phát của nền kinh tế của tất cảcác nước trên thế giới Ngày nay, xu thế hội nhập và Quốc tế hoá diễn ra trêntoàn thế giới, nó tạo ra sự mở cửa giao thương giữa các nước, tạo sự chuyểnbiến liên tục về chuyển giao công nghệ, khoa học kỹ thuật cũng như hợp tácphát triển song phương và đa phương

Việc tìm hiểu và phân tích sự phát triển của các nước cũng như sự pháttriển ngành của các nước sẽ giúp ta rút ra được các bài học kinh nghiệm choviệc xây dựng chiến lược phát triển ngành Trong đó, việc nghiên cứu các yếu

tố như khoa học công nghệ, quan hệ thương mại, thị trường, đầu tư, môitrường văn hóa xã hội, chính trị của các nước cũng là căn cứ quan trọng choviệc hoạch định chiến lược phát triển ngành Qua đó giúp tránh được nhưngsai lầm cũng như tìm ra được hướng phát triển đúng đắn và phù hợp nhất vớikhả năng thực tế của ngành trong nước

Từ việc phân tích bối cảnh Quốc tế cũng như các nước trong khu vực,

ta sẽ nhận ra được các cơ hội và thách thức của việc phát triển trong bối cảnhquốc tế và khu vực

Những cơ hội đặt ra trong bối cảnh hiện nay là cần tận dụng lợi thế vềđiều kiện phát triển ổn định của khu vực, tình hình chính trị khu vực bình ổn

là cơ hội thuận lợi cho sự phát triển so với nhiều khu vực khác trên thế giới

Vì việc ổn định về chính trị tạo cơ hội thu hút đầu tư trong nước cũng nhưquốc tế vào trong nước, tạo cơ hội hội nhập và thu hút chuyển giao tiến bộcông nghệ Qua đó nâng cao sức cạnh tranh các mặt hàng trong nước và mởrộng được thị trường trên thế giới

Trang 35

Tuy nhiên những khó khăn đặt ra cũng không phải là nhỏ Việc thu hútcông nghệ và vốn đầu tư nước ngoài tuy tạo điều kiện phát triển trong nướcnhưng bên cạnh đó nó cũng gây ra sự phụ thuộc và chịu những điều kiện ràngbuộc cho nước nhận chuyển giao công nghệ và vốn đầu tư Việc không tựphát triển được khoa học công nghệ trong nước sẽ dần dẫn đến tình trạng luôntụt hậu so với trình độ phát triển công nghệ trên thế giới, đây là một trongnhững khó khăn cần giải quyết Ngoài ra, việc hội nhập trong xu thế toàn cầuhoá hiện nay tạo cơ hội phát triển nhưng cũng là thách thức không nhỏ vì hợptác quốc tế tạo ra sức ép cạnh tranh thị trường thế giới rất lớn.

1.3.1.2 Môi trường vĩ mô trong nước

Mỗi ngành khi phát triển đều phải phụ thuộc vào tác động của nền kinh

tế tại nước mà nó đang phát triển cũng như sự tác động của tất cả các yếu tốtới nền kinh tế đó Nó bao gồm tác động của các môi trường kinh tế, chính trị,pháp luật, văn hoá xã hội, khoa học kỹ thuật,…

- Môi trường kinh tế:

Các nhân tố thuộc môi trường kinh tế vĩ mô có ảnh hưởng rất mạnh đến

sự phát triển của các ngành nghề, lĩnh vự Nó có thể mang lại cơ hội hoặcnhững thách thức tiềm ẩn Các yếu tố như lãi suất, tốc độ tăng trưởng, cácchính sách tài chính tiền tệ, … là những yếu tố gây ra những tác động đó

Môi trường kinh tế phát triển ổn định sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sựphát triển của ngành, lĩnh vực Nó tạo điều kiện nâng cao hiệu quả kinh tế, mởrộng thị trường đầu vào và cả thị trường đầu ra cho ngành hay lĩnh vực đó

- Môi trường chính trị pháp luật:

Nó bao gồm các vấn đề: tình hình chính trị quốc gia, các vấn đề điềuhành của chính phủ, các hệ thống luật pháp, các thông tư chỉ thị và vai trò củacác nhóm xã hội Do vậy những diễn biến của các yếu tố này ảnh hưởng rấtmạnh và cũng rất trực tiếp đến các quyết định xây dựng chiến lược phát triểnngành

Nếu môi trường chính trị pháp luật ổn định, công bằng thì sẽ tạo điều

Trang 36

kiện cho nền kinh tế nói chung phát triển cũng như sự phát triển của từngngành nói riêng.

- Môi trường văn hoá:

Con người sống trong bất kì xã hội nào cũng mang bản sắc văn hoátương ứng với xã hội đó Nền văn hóa có thể ảnh hưởng theo rất nhiều chiều

và đa dạng Văn hoá có thể tạo nên cơ hội hấp dẫn cho cả một ngành nghềkinh doanh Văn hoá tạo điều kiện cho sự phát triển của ngành nghề hay lĩnhvực này nhưng có thể lại tạo ra sự cản bước phát triển của một ngành nghềnào đó

Để có thể tạo được sự phát triển thuận lợi thì việc nghiên cứu kỹ nềnvăn hoá của thị trường đang hướng tới là điều rất quan trọng Nó quyết địnhtới sự phát triển thành công hay không của ngành nghề, lĩnh vực đó

- Môi trường tự nhiên:

Môi trường tự nhiên có tác động quan trọng đến nguồn thị trường đầuvào cũng như thị trường đầu ra của nhiều ngành nghề lĩnh vực Môi trườngtác động đến việc sản xuất các nguyên vật liệu, các nguồn năng lượng chonhiều ngành nghề, đặc biệt là các ngành nghề thuộc lĩnh vực sản xuất và chếbiến nông lâm thuỷ sản

Tính chất của khí hậu thời tiết sẽ tác động nhiều đến việc hình thànhđặc tính sản phẩm của từng ngành, lĩnh vực Qua đó sẽ tạo cơ hội và nhữngthách thức cho ngành

- Môi trường khoa học kỹ thuật:

Khoa học kỹ thuật và khoa học ứng dụng mang đến cho con ngườinhững bước tiến vượt bậc trong cuộc sống, ngày càng tạo ra sự thoải máitrong nhu cầu ngày càng cao của con người Do vậy, việc bắt kịp với nhịp độphát triển của khoa học kỹ thuật trên thế giới sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sựphát triển ngành, năng suất cao hơn, hiệu quả sản xuất kinh doanh cao hơn,sản phẩm làm ra đáp ứng nhu cầu thị trường nhanh nhạy hơn,…Yêu cầu đặt

ra là luôn theo sát trình độ phát triển khoa học kỹ thuật trên thế giới mới cóthể đẩy mạnh được sự phát triển ngành, lĩnh vực so với mặt bằng chung cả

Trang 37

trong nước và quốc tế.

1.3.2 Các điều kiện chủ quan

1.3.2.1 Các nguồn lực phục vụ xây dựng định hướng chiến lược

- Nguồn lực con người

Xây dựng được một chiến lược sâu sát phù hợp đạt hiệu quả và có tínhkhả thi cho việc thực hiện đòi hỏi các cán bộ thực thi phải có tinh thần tráchnhiệm, có trình độ kiến thức, hiểu biết sâu sắc về ngành du lịch, nhiệt tình vớicông việc đồng thời nắm vững mọi hoạt động của du lịch quốc gia Khi đó độingũ cán bộ này sẽ tạo ra chiến lược phát triển du lịch mang tính thực tế cao.Còn ngược lại sự yếu kém, thái độ quan liêu, chủ quan duy ý chí của đội ngũcán bộ sẽ dẫn đến việc xây dựng chiến lược xa vời mang tính lý thuyết Hiệnnay khái niệm định hướng chiến lược vẫn còn tương đối mới mẻ với chúng ta,

vì vậy để xây dựng chiến lược sao cho hợp lý hóan toàn không dễ dàng Nhậnthức đúng vấn đề, sử dụng đúng công cụ với phương pháp phù hợp hóan toànphụ thuộc vào trình độ của đội ngũ cán bộ thực hiện nhiệm vụ

- Nguồn lực về tài chính

Nguồn lực về tài chính là một yếu tố tối quan trọng cho việc xây dựng

và thực hiện thành công một chiến lược phát triển ngành Đối với các nướcphát triển có tiềm lực tài chính mạnh, để xây dựng định hướng phát triểnngành đối với họ không phải là điều khó khăn Nhưng ngược lại, đối với cácnước nhỏ, ngân sách Nhà nước còn yếu, việc xây dựng định hướng đúng đắn

là một vấn đề không hề đơn giản Nguồn lực tài chính sẽ buộc các quốc giađang phát triển như CHDCND Lào phải có sự lựa chọn cẩn thận sao cho hiệuquả đạt được là tối ưu so với lượng chi phí bỏ ra Với nguồn lực có hạn nênxây dựng chiến lược phải tính toán kỹ càng Ý thức được xây dựng địnhhướng phát triển du lịch là cần thiết và quan trọng và có quyết tâm thực hiện

là rất tốt nhưng không thể thực hiện bằng mọi giá, vượt quá điều kiện hiện cócủa đất nước Chiến lược đó đất nước có đủ khả năng thực hiện hay không?

Trang 38

Đây là câu hỏi mà các nhà hoạch định, xây dựng chiến lược cần đặt ra trướckhi lựa chọn chiến lược.

- Cơ sở vật chất, kỹ thuật

Kết cấu hạ tầng phục vụ du lịch bao gồm hạ tầng giao thông và điểmđến của du khách (nhà hàng, khách sạn, khu giải trí, khu thể thao, các dịch vụgia tăng khác như chăm sóc sức khoẻ, làm đẹp…) Có thể nói, hạ tầng kỹthuật là cầu nối giữa du khách với các sản phẩm du lịch, tạo điều kiện để biếntài nguyên du lịch của một vùng, một địa phương nhất định thành sản phẩm

du lịch hoàn chỉnh phục vụ du khách

Yếu tố hạ tầng kỹ thuật có tác động mạnh đến phát triển du lịch củamỗi địa phương cũng như một quốc gia Nếu giao thông quá khó khăn, hạtầng điểm đến không đảm bảo yêu cầu nhất định sẽ rất khó thu hút đượckhách du lịch

Trong những yếu tố cấu thành kết cấu hạ tầng, hệ thống mạng lưới giaothông đóng vai trò đặc biệt quan trọng, là cấu nối cho du khách tiếp cận đượcvới các điểm du lịch Có nhiều loại hình giao thông cho du lịch như giaothông vận chuyển hành khách, giao thông tại điểm du lịch

Ngoài kết cấu hạ tầng "cứng", hạ tầng kinh tế xã hội cũng có ảnh hưởngquan trọng đến phát triển du lịch: Văn hóa, xã hội, an ninh ở các điểm đến; hệthống thương mại dịch vụ phát triển, internet, sóng điện thoại di động, hệthống thanh toán qua thẻ, rút tiền tự động là một trong những yếu tố màkhách hàng sẽ xem xét khi quyết định lựa chọn tiêu dùng một sản phẩm dulịch nhất định

Như vậy, phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng sẽ vừa là đòn bẩy, vừa làđiều kiện để phát triển du lịch, thu hút du khách, tăng doanh thu…

Một địa điểm du lịch không thể hấp dẫn du khách nếu nó xảy ra chiếntranh Du lịch chỉ có thể phát triển mạnh trong điều kiện hòa bình, ổn định.Ngoài ra, trật tự an toàn xã hội và sự an toàn của du khách cũng ảnh hưởngtrực tiếp đến sự lựa chọn của người tiêu dùng Nếu một địa danh đẹp nhưng

Trang 39

hay xảy ra các hiện tượng trộm đồ, móc túi sẽ khó thu hút được du khách.Điểm đến an toàn còn được hiểu là nơi đó không xảy ra các loại dịch có thểlây nhiễm như tả, cúm gia cầm hay tiêu chảy cấp Trong bối cảnh toàn cầuhóa du lịch hiện nay, điểm đến an toàn ở cấp độ quốc gia (ổn định chính trị)

và cấp độ địa phương đối với du khách có tác động trực tiếp đến sự lựa chọncủa họ

1.3.2.2 Vai trò của chính phủ

Chính sách phát triển du lịch ảnh hưởng mang tính quyết định đối vớiphát triển du lịch một địa phương, một quốc gia Nếu một địa phương, mộtquốc gia nhất định sở hữu nhiều tài nguyên du lịch nhưng không lựa chọnchính sách phát triển đúng, không quan tâm đến du lịch thì ngành này khôngthể phát triển Chính sách phát triển du lịch là bộ phận trong chiến lược tổngthể phát triển kinh tế xã hội của quốc gia, vùng hay địa phương Nhiều quốcgia, địa phương đã lựa chọn du lịch như một lĩnh vực trọng điểm, mũi nhọnnhưng không tách rời, biệt lập với các chính sách khác mà có quan hệ mậtthiết, gắn kết trong chiến lược tổng thể Hệ thống chính sách phát triển du lịchkhá phong phú, từ chiến lược tổng thể phát triển của ngành đến các chính sách

bộ phận nhằm thực hiện chiến lược phát triển chung

1.4 Kinh nghiệm xây dựng định hướng chiến lược phát triển ngành du lịch tại một số nước Đông Nam Á và bài học kinh nghiệm rút ra 1.4.1 Kinh nghiệm xây dựng định hướng chiến lược phát triển ngành du lịch tại một số nước Đông Nam Á

1.4.1.1 Tại Thái Lan

Thái Lan là nước có ngành du lịch phát triển mạnh ở châu Á Truyềnthống văn hóa và sự mến khách của nhân dân Thái Lan là yếu tố quan trọnggóp phần tăng cường thu hút khách du lịch đến với đất nước này Ngành du

Trang 40

lịch là ngành thu được nguồn ngoại tệ chủ yếu và cao hơn các ngành sản xuấtkhác của Thái Lan Thị trường khách quốc tế chủ yếu của Thái Lan là cácnước trong khối ASEAN, châu Á, châu Âu như Pháp, Đức, Bỉ…

Cơ quan Du lịch Quốc gia Thái Lan, gọi tắt là TAT là cơ quan quản lýnhà nước cao nhất, có trách nhiệm xúc tiến và phát triển du lịch Thái Lan.TAT là cơ quan trực thuộc Chính phủ, hoạt động độc lập Đứng đầu Cơ quan

Du lịch Quốc gia là Thống đốc Giúp việc cho Thống đốc có Văn phòngThống đốc, Hội đồng Tư vấn, Viện Đào tạo Khách sạn và Du lịch, Văn phòngKinh doanh Du lịch Bangkok, Ban Quản lý hoạt động khu du lịch và Thanhtra Tài chính nội bộ… Sự hoạt động của TAT rất đạt hiệu quả, bởi có chiếnlược và biết tập trung vào lĩnh vực nghiên cứu thị trường và xúc tiến quảng

bá, sau đó đưa ra định hướng và những giải pháp cụ thể cho các doanh nghiệpthực hiện TAT luôn phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành có liên quan đến dulịch để chỉ đạo các doanh nghiệp triển khai các hoạt động du lịch; qua đó, liêntục đề xuất, trình Chính phủ phê duyệt từ các chính sách, chiến lược cho đếncác chiến dịch, chương trình xúc tiến quảng bá từng thị trường khách cụ thể,trong từng giai đoạn nhất định

Trong nhiều năm liên tục, một trong những yếu tố quan trọng đã giúpngành Du lịch Thái Lan mang lại lợi nhuận cao nhất cho quốc gia này là cácchiến dịch quảng bá và xúc tiến đa dạng như: Năm 1982 là RattanakosinBicentennial; 1987 và năm 1992 đều có chủ đề là Năm Du lịch Thái Lan; hainăm liền 1998 - 1999 là Chiến dịch Amazing Thailand… Năm 1997, khi TháiLan rơi vào cuộc khủng hoảng kinh tế thì chính du lịch là ngành kinh tế chủđạo góp phần đưa nền kinh tế Thái Lan từ chỗ thâm hụt, giảm sút đến mức ổnđịnh và dần tăng trưởng trở lại

Tuy nhiên, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Thái Lan về du lịch

là tăng cường, tập trung thu hút khách, tăng nguồn thu cho ngân sách, nhưng

sự bùng nổ du lịch đó đã mang đến cho Thái Lan những tác động tiêu cực đối

Ngày đăng: 26/05/2020, 14:05

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Mạnh Chi (2009), Giải pháp phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn ở Hà Nội, Luận văn thạc sĩ kinh doanh và quản lý, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Khác
2. Vũ Đức Cường (2013), Phát triển du lịch ở Quảng Ninh, thực trạng, phương hướng và giải pháp, Luận văn thạc sĩ kinh tế chính trị, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Khác
3. Dung Văn Duy (2014), Du lịch trong chuyến dịch cơ cấu kinh tế ở tỉnh Bình Thuận, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Khác
4. Giáo trình kinh tế du lịch (2014), Nxb Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội Khác
5. Hum Phăn Khưa Pa Sít (2008), Phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh Luang Pra bang trong giai đoạn hiện nay, Luận văn thạc sĩ sĩ kinh tế, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh Khác
6. Kham Kâng Phiu Van Na (2006), Đổi mới quản lý nhà nước đối với hoạt động thương mại trên địa bàn tỉnh Bo Kẹo CHDCND Lào, Luận văn thạc sĩ kinh doanh và quản lý, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Khác
7. Kham Xome KẸO PA SEUTH (2009), Nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý khai thác hệ thống tưới vùng Đồng bằng Thông Phào Hạo tỉnh Bo Kẹo, Luận văn Thạc sĩ kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Khác
8. Nguyễn Thị Hồng Lâm (2005), Kinh tế du lịch ở tỉnh Thanh Hoá, thực trạng và giải pháp phát triển, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Khác
9. Trần Hữu Nam (2003), Những giải pháp chủ yếu phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn Khác
10. Trần Quốc Nhật (1996), Phát triển du lịch ở Bà Rịa – Vũng Tàu, Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Khác
11. Nguyễn Quốc Tuấn (2008), Quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch tỉnh Kiên Giang hiện nay, Luận văn thạc sĩ kinh doanh và quản lý, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh Khác
12. Trần Ngọc Tư (2000), Phát triển du lịch ở tỉnh Vĩnh Phúc Tiềm năng và giải pháp, Luận văn thạc sĩ khoa học kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.B. Tiếng Lào Khác
13. Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV Đảng nhân dân cách Mạng Lào năm 2001 Khác
14. Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII Đảng nhân dân cách Mạng Lào năm 2006 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w