Lời giới thiệu Trong những năm qua chúng ta đã và đang từng bước thay đổi cách dạy - họcmới, hướng vào học sinh hơn; đó là phương pháp “lấy học sinh làm trung tâm” vớiphương pháp dạy - h
Trang 1MỤC LỤC
BÁO CÁO KẾT QUẢ 3
NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN 3
1 Lời giới thiệu 3
2 Tên sáng kiến: “Nội dung và phương pháp sử dụng bản đồ giáo khoa treo tườngtrong việc dạy học Địa lí lớp 11 cơ bản” 4
3 Tác giả sáng kiến: 4
4 Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Phan Thị Hường 4
5 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: giảng dạy 4
6 Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu: Từ tháng 09/2018 đến tháng 01/2019 4
7 Mô tả bản chất của sáng kiến: 4
7.1 Nội dung sáng kiến 4
7.1.1 Cơ sở lí luận 4
7.1.1.1 Bản đồ giáo khoa treo tường 4
7.1.1.2 Ý nghĩa 6
7.1.2.3 Thực trạng sử dụng bản đồ giáo khoa treo tường 6
7.1.2 Phương pháp sử dụng bản đồ giáo khoa treo tường trong giảng dạy địa lí 6
7.1.2.1 Phương pháp sử dụng bản đồ giáo khoa treo tường trong khi soạn bài giảng 6
7.1.2.3 Phương pháp sử dụng bản đồ trong việc thực hiện các bước lên lớp 12
7.1.3 Một số bản đồ giáo khoa treo tường được sử dụng tỏng chương trình địa lí lớp 11 13
7.1.4 Khai thác nội dung một số bản đồ địa lí treo tường trong Địa lí 11 (Chương trình cơ bản) 15
7.1.4.1 Bản đồ: ĐỊA LÍ TỰ NHIÊN CHÂU PHI 15
7.1.4.2 Bản đồ: KINH TẾ -XÃ HỘI CHÂU PHI 18
7.1.4.3 Bản đồ: BẢN ĐỒ ĐỊA LÍ TỰ NHIÊN CHÂU Á 20
7.1.4.4 Bản đồ: KINH TẾ CHUNG HOA KÌ 23
7.1.4.5 Bản đồ: ĐỊA LÍ TỰ NHIÊN LIÊN BANG NGA 25
7.1.4.6 Bản đồ: KINH TẾ KINH TẾ CHUNG LIÊN BANG NGA 26
7.1.4.7 Bản đồ: KINH TẾ CHUNG ĐÔNG NAM Á 28
7.2 Khả năng áp dụng của sáng kiến 30
8 Những thông tin cần được bảo mật (nếu có): không 32
Trang 29 Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến: 32
10 Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng kiến theo ý kiến của tác giả: 32
11 Danh sách những tổ chức/cá nhân đã tham gia áp dụng thử hoặc áp dụng sáng kiến lần đầu (nếu có): 32
Trang 3BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN
1 Lời giới thiệu
Trong những năm qua chúng ta đã và đang từng bước thay đổi cách dạy - họcmới, hướng vào học sinh hơn; đó là phương pháp “lấy học sinh làm trung tâm” vớiphương pháp dạy - học này đòi hỏi học sinh phải làm việc nhiều hơn, dưới sự hướngdẫn của giáo viên các em tự tìm ra kiến thức trên sách giáo khoa, tranh ảnh, bản đồ vàcác đồ dùng trực quan khác Đặc biệt với bộ môn Địa lí sử dụng bản đồ nói chung vàbản đồ giáo khoa treo tường là một công cụ, một phương tiện cho việc dạy học địa lí.Bản đồ không chỉ là đồ dùng trực quan cũng không chỉ là một phương tiện để minhhọa kiến thức mà chính là nội dung sách giáo khoa được ghi lại bằng kí hiệu thôngqua các phương pháp thể hiện
Là giáo viên giảng dạy địa lí, các giáo viên đều phải luôn luôn ý thức và có thóiquen giảng dạy bằng bản đồ Vì từ quan sát, phân tích hoặc khai thác những màu sắc
và ước hiệu trên bản đồ sẽ tìm ra những kiến thức địa lí, sẽ tìm thấy được các mối liên
lệ giữa các yếu tố địa lí trên bản đồ và từ đó, thấy được quy luật Địa lí tự nhiên cũngnhư Địa lí kinh tế xã hội Do đó, là giáo viên phải dựa vào bản đồ để khai thác nộidung kiến thức
Thực tế hiện nay, với chương trình cải cách sách giáo khoa, cũng như việc ápdụng phương pháp dạy học mới Các phương tiện dạy - học ở các môn học nói chung
và môn Địa lí nói riêng ngày một nhiều Đối với bộ môn Địa lí được trang bị thêmnhiều bản đồ giáo khoa treo tường mới với nhiều nội dung, nhiều nguồn thông tin,kiến thức…được thể hiện trên đó, song việc đưa vào giảng dạy thì chưa được hiệuquả Qua trao đổi, dự giờ với nhiều giáo viên trong trường và đồng nghiệp ở cáctrường bạn thì việc đưa các bản đồ giáo khoa treo tường vào giảng dạy còn nhiều khókhăn, bởi nhiều lí do:
- Số lượng bản đồ lớn trong khi phòng giành cho bộ môn chưa có nên chưađược đưa vào sử dụng
- Có nơi đã được đưa vào sử dụng nhưng hiệu quả chưa được như mong muốnphần lớn là do:
+ Học sinh chưa thực sự hiểu được bản đồ
+ Giáo viên chưa xác định phương pháp phù hợp để truyền thụ thích hợp vớitừng loại bản đồ
+ Bản đồ được treo ở phòng thiết bị đến tiết dạy thì mang lên lớp dạy nên mấtthời gian và giáo viên lúng túng trong khi dạy - học
Trang 4+ Nhiều bản đồ có nội dung, thiết kế hoàn toàn khác so với bản đồ của chươngtrình cũ (đặc biệt là bản đồ về kinh tế - xã hội) khi mới tiếp xúc giáo viên chưa khaithác những nội dung cần truyền đạt của bản đồ.
+ Việc rèn luyện các kỉ năng Địa lí trong các bản đồ cũng chưa đạt hiệu quả,đôi khi còn lơ mơ, việc sử dụng bản đồ chỉ là hình thức
+ Việc đặt câu hỏi để khai thác nội dung bản đồ cũng chưa thật sự phù hợp vớibản đồ được treo
Từ thực tế đó, trong những năm qua bản thân đã được phân công giảng dạychương trình Địa lí lớp 11, tôi đã không ngừng tìm hiểu các loại bản đồ giáo khoatreo tường dùng cho giảng dạy Địa lí lớp 11 xin đưa ra kinh nghiệm trong việc sửdụng bản đồ giáo khoa treo từờng chương trình Địa lí lớp 11 với sáng kiến kinh
nghiệm: “Nội dung và phương pháp sử dụng bản đồ giáo khoa treo tường trong việc
dạy học Địa lí lớp 11 cơ bản”.
2 Tên sáng kiến: “Nội dung và phương pháp sử dụng bản đồ giáo khoa treo
tườngtrong việc dạy học Địa lí lớp 11 cơ bản”.
3 Tác giả sáng kiến:
- Họ và tên: Phan Thị Hường
Địa chỉ tác giả sáng kiến: Trường THPT Nguyễn Viết Xuân – Huyện Vĩnh Tường Tỉnh Vĩnh Phúc
Số điện thoại: 0973643136
4 Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Phan Thị Hường
5 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: giảng dạy
6 Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu: Từ tháng 09/2018 đến tháng 01/2019
7 Mô tả bản chất của sáng kiến:
7.1 Nội dung sáng kiến
7.1.1 Cơ sở lí luận
7.1.1.1 Bản đồ giáo khoa treo tường
Bản đồ giáo khoa treo tường là cuốn sách giáo khoa trực quan chính của lớp học,phục vụ cho việc dạy và học địa lí Giáo viên sử dụng bản đồ treo trên tường, trựcdiện với học sinh làm phương tiện truyền thụ kiến thức, học sinh dùng làm phươngtiện để nhận thức Như vậy, bản đồ giáo khoa treo tường khác với các loại bản đồgiáo khoa khác vì chức năng của nó là dùng để dạy học ở trên lớp, phục vụ cho mụcđích giảng dạy và học tập ở không gian học tập nhất định Mục đích đó chi phốinhững đặc điểm dưới đây của bản đồ giáo khoa treo tường:
- Bản đồ giáo khoa treo tường thể hiện được nội dung địa lí trong các mối quan
Trang 5hệ và cấu trúc không gian, đảm bảo được tính lôgic khoa học của vấn đề mà giáo viên
trình bày: Trên bản đồ, lượng thông tin khoa học phải tương xứng với tỉ lệ bản đồ, cácđối tượng địa lí trên bản đồ được khái quát hoá cao Nhiều kí hiệu tượng trưng tượnghình, nhiều màu sắc đẹp, gần gũi đối tượng đã được sử dụng làm cho bản đồ có tínhtrực quan cao, gây hứng thú cho việc học tập địa lí Bản đồ treo tường có hệ thống kíhiệu lớn, chữ viết to, màu sắc rực rỡ, đẹp, có độ tương phản mạnh Bản đồ treo tườngđược thầy trò cùng sử dụng ở trên lớp để dạy và học bài mới, ôn tập và kiểm tranhững kiến thức cũ Chúng thường được sử dụng kết hợp với các bản đồ, sơ đồ vàlược đồ trong sách giáo khoa, atlas và bản đồ bài tập
- Bản đồ giáo khoa treo tường bao giờ cũng có kích thước lớn Vì bản đồ được
treo trên lớp để học sinh quan sát nên kích thước phải lớn để học sinh ngồi phía cuốilớp cách bản đồ từ 5 – 7m có thể quan sát được những nội dung thể hiện trên bản đồ.Kích thước chung của loại bản đồ này thường 79 x 109cm (Ao) đến 150 – 200cm.Phạm vi lãnh thổ thể hiện trên bản đồ thường lớn như: toàn thế giới, một bán cầu, mộtnước hoặc ít nhất là một khu vực lớn trong một nước Phần lớn các bản đồ giáo khoatreo tường đều có tỉ lệ nhỏ
- Hình thức thể hiện trên các bản đồ giáo khoa treo tường thường mang tính trực
quan và tính mĩ thuật cao Trên bản đồ thường dùng các kí hiệu đủ lớn để học sinh ở xa
cuối lớp cũng có thể đọc được Vì thế chữ trên bản đồ phải viết to, lực nét đậm, các kíhiệu lớn, trực quan, màu sắc mạnh, rõ ràng như hài hoà, một số đối tượng cần đượccường điệu hoá thể hiện ở dạng phi tỉ lệ Cấu trúc hình vẽ kí hiệu đơn giản, dùng nhiều kíhiệu tượng hình nhất là dùng cho các cấp dưới Tính trực quan đòi hỏi trước hết phải cónội dung rõ ràng đầy đủ phản ánh đúng đặc điểm địa phương
- Về nội dung bản đồ giáo khoa treo tường có mức độ khái quát hoá rất cao Vì
có như vậy mới cho học sinh thấy được những đặc điểm chính, chủ yếu của lãnh thổ.Nội dung của bản đồ phải phù hợp với chương trình từng lớp và tâm lí lứa tuổi củahọc sinh Bảng chú giải của bản đồ giáo khoa treo tường phải được sắp xếp một cáchlôgic, chặt chẽ, rõ ràng Bản đồ giáo khoa BĐGK treo tường cũng có các bản đồ phụ,
đồ thị, biểu đồ… để hỗ trợ cho nội dung chính của bản đồ
Bản đồ giáo khoa treo tường có thể được xây dựng cho một phần, một chương,một bài học, nó có thể được sử dụng trong suốt tiết học từ khâu đầu cho đến khâucuối của giờ giảng Trong một tiết học cũng có thể sử dụng nhiều loại bản đồ Tất cảnhững điều đó phụ thuộc vào nội dung bài giảng, phương pháp truyền thụ của giáoviên
Bản đồ giáo khóa treo tường đảm bảo các yêu cầu :
+ Học sinh dễ nhận biết và đọc các đối tượng biểu hiện trên bản đồ
Trang 6+ Được dùng suốt trong quá trình dạy học.
7.1.1.2 Ý nghĩa
Bản đồ giáo khóa nói chung, bản đồ giáo khóa treo tường nói riêng là công cụ
để giáo viên khai thác và truyền đạt kiến thức
- Là phương tiện để giáo viên dẫn dắt học sinh tìm ra những nôi dung chủ yếucủa của bài học
- Bản đồ giáo khóa treo tường là cuốn sách giáo khoa thứ hai cả về phía giáoviên và học sinh (là nội dung sách giáo khoa được viết bằng ước hiệu)
7.1.1.3 Thực trạng sử dụng bản đồ giáo khoa treo tường
Hiện nay khối trung học phổ thông đã qua qua hai năm thực hiện thay đổi sáchgiáo khoa, thực hiện đổi mới phương pháp dạy học hướng tới học sinh tức “ lấy họcsinh làm trung tâm”, các phương tiện, đồ dùng dạy học được nhà nước quan tâm đầu
tư Đối với bộ môn Địa lí các đồ dùng dạy học cũng được tăng lên đáp ứng yêu cầudạy và học Nhưng thực tế hiện nay vẫn còn tồn tại hiện trạng đó là:
- Bản đồ cũng còn nguyên cuộn trong kho chưa được đưa ra sử dụng
- Bên cạnh đó có những trường có phòng bộ môn, phòng thiết bị nhưng do thóiquen không sử dụng bản đồ nên khi sử dụng bản đồ mới được xuất bản khi sử dụngthì gặp phải nhiều khó khăn bởi bản đồ hoàn toàn mới, có những nội dung mới, sốliệu mới, có những kí hiệu thay đổi so với trước dẫn đến lúng túng
- Hơn nữa cũng không ít giáo viên chưa thấy hết vị trí và chức năng của bản đồtrong giờ dạy - học Địa lí: Bởi nhiều giáo viên quan niệm: “Bản đồ chỉ là đồ dùngtrực quan, là phương tiện để minh họa cho nội dung bài giảng” cho nên giáo viên tậptrung giảng xong nội dung rồi mới chỉ bản đồ để minh họa cho nội dung bài giảng
- Việc sử dụng bản đồ giáo khoa treo tường như vậy rất hình thức, chưa đúngvới mục đích và ý nghĩa của việc sử dụng bản đồ trong giảng dạy địa lí
- Có nhiều bản đồ thể hiện nhiều nội dung trong bài học
7.1.2 Phương pháp sử dụng bản đồ giáo khoa treo tường trong giảng dạy địa lí
7.1.2.1 Phương pháp sử dụng bản đồ giáo khoa treo tường trong khi soạn bài giảng
Sau khi xác định mục tiêu và yêu cầu của bài giảng, giáo viên biết được khốilượng kiến thức lý thuyết cũng như những kĩ năng cần trang bị cho học sinh Việcchuẩn bị bản đồ cho bài giảng phải căn cứ vào mục tiêu, nội dung của bài giảng vàđối tượng học sinh Những bản đồ được xác định là cần thiết cho bài giảng không chỉgiới hạn trong những bản đồ đã có trong sách giáo khoa (SGK), mà còn bao gồm cảnhững bản đồ treo tường…
Trang 7Như vậy, việc chuẩn bị bản đồ cho bài giảng phải được tiến hành trên tất cả cácloại hình bản đồ đặc biệt cần phát huy bản đồ treo tường, nhưng nội dung cũng nhưphương pháp phải có sự thống nhất, đáp ứng mục tiêu của bài giảng Số lượng bản đồcần dùng cho một tiết học cũng cần xác định hợp lí, nếu dùng quá nhiều bản đồ chomột tiết học thì không những không phát huy được tác dụng mà đôi khi còn dẫn đếnnhững kết quả ngược lại, dễ làm cho học sinh phân tán tư tưởng, không xác định đượcchủ điểm của bài Vì thế, bài giảng sẽ không đạt được mục tiêu đặt ra
Tuy nhiên cho đến nay, cũng không ai đưa ra số lượng bản đồ cần dùng chomột tiết học là bao nhiêu, tuỳ theo tính chất và yêu cầu của từng bài, từng tiết, từngđiều kiện của mỗi giáo viên và mỗi trường hợp cụ thể mà giáo viên xác định số lượng
và thể loại bản đồ cho thích hợp Khi số lượng và thể loại bản đồ cần cho bài giảng đãđược xác định giáo viên phải tiến hành công tác chuẩn bị cho mỗi bản đồ bao gồm:
- Phân tích và đánh giá bản đồ (về tỷ lệ, về quy luật sai số, về phương phápbiểu hiện nội dung bản đồ )
- Chọn lọc nội dung cần thiết và phù hợp để
sử dụng cho bài giảng
- Xác định phương pháp hướng dẫn học sinh khai thác tri thức từ bản đồ, đáp ứng mục tiêu bài giảng
Ví dụ: Khi dạy bài 5: Một số vấn đề của châu
lục và khu vực
(Tiết 1: Một số vấn đề của châu Phi)
Chúng ta không cần phải đưa thông tin có tất cả ở bản đồ tự nhiên của châu Phi mà chọn lọc những kiến thức quan trọng liên quan đến nội dung của bài học như:
- Khái quát lãnh thổ của châu Phi
- Khí hậu của Châu Phi
- Các hoang mạc
- Tài nguyên khoáng sản và tài nguyên rừng của châu Phi
(Hình 1: Bản đồ địa lí tự nhiên Châu Phi)
Đó là kiến thức trọng tâm mà ta cần khai thác ở bản đồ này Còn các kiến thức khác như địa hình, sông ngòi… ở bài này ta không cần nhắc lại vì đây là kiến thức các em
đã có dịp học ở lớp dưới
7.1.2.2 Một số lưu ý khi sử dụng bản đồ trong việc thực hiện các bước lên lớp.
Trang 8Trong giờ giảng bài ở trên lớp, ngoài việc khai thác kiến thức địa lí trong sáchgiáo khoa, giáo viên còn hướng dẫn học sinh khai thác những kiến thức, kĩ năng từbản đồ thông qua tư duy, phục hồi lại môi trường địa lí trên thực địa đã được thu nhỏ.Giáo viên hướng dẫn học sinh nhận biết, hiểu được những hiện tượng địa lí và khảnăng phân tích các hiện tượng ấy trên bản đồ, đồng thời cũng hướng dẫn các em tiếpnhận các kiến thức địa lí bằng bản đồ.
Trong giờ học tại lớp, nếu bài giảng của giáo viên gắn liền với bản đồ thì họcsinh phải luôn luôn làm việc, vừa nghe, nhìn, suy nghĩ, phát biểu ý kiến và ghi chép.Như vậy mới phát huy được tính tích cực của học sinh và huy động được học sinhtham gia bài giảng một cách hứng thú Giáo viên vừa trang bị kiến thức khoa học địa
lí cho học sinh, vừa rèn luyện cho các em những kĩ năng địa lí, kĩ năng bản đồ, vừahướng dẫn phương pháp học địa lí trên bản đồ Để làm tốt như vậy giáo viên cầnphải:
* Có kế hoạch hướng dẫn học sinh ôn tập và bổ sung những màu sắc, kí hiệu trên bản đồ.
Mặc dù ngay từ đầu năm học cấp II (lớp 6) và đầu năm học của cấp III (lớp 10)các em được trang bị một số kiến thức cơ bản về bản đồ: các kí hiệu về bản đồ, một
số phương pháp thể hiện đối tượng địa lí trên bản đồ… tuy nhiên với số lượng 1 tiếtcho mỗi cấp học thì quá ít, không thể giới thiệu hết tất cả các loại bản đồ, các loại kíhiệu của bản đồ Trong khi đó hiện nay các loại bản đồ giáo khoa treo tường hiện nayđược trang bị nhiều loại, với nội dung được thể hiện đa dạng Do đó các kí hiệu, màusắc cũng được thể hiện nhiều hơn Vì vậy, giáo viên nên dành ít thời gian để bổ sungnhững ước hiệu mới, kí hiệu mới …
Ví dụ : Bảng chú giải bản đồ kinh tế chung Ôxtrâylia bảng có nhiều kí hiệu mới
như: Hóa dầu, chế biến gỗ, giấy, Chuối, Du lịch
Hình 2: Bảng chú giải bản đồ KT chung Ôxtrâylia Hình 3: Bảng chú giải bản đồ tự nhiên Châu Mĩ
Trang 9* Trong quá trình sử dụng bản đồ để khai thác và truyền đạt kiến thức của bài giảng, giáo viên phải luôn có ý thức “làm mẫu”
“ Làm mẫu” trong sử dụng bản đồ nhằm giúp học sinh biết cách tiến hành khaithác kiến thức trên cơ sở bản đồ trong quá trình tự học về sau Sử dụng bản đồ treotường để giảng dạy giáo viên cần ý thức rằng: Những thao tác chỉ bản đồ kết hợp vớinhững lời giảng giải của mình đều là những thao tác khuôn mẫu, nhằm hướng dẫnhọc sinh biết cách đọc và sử dụng bản đồ ngay trong khi nghe giảng bài mới ở lớp từ
đó tạo điều kiện cho bản thân học sinh có thể tự tiến hành học tập môn địa lí bằng bản
đồ ở lớp cũng như ở nhà
Chương trình địa lí lớp 11 không chỉ cung cấp cho học sinh biết: Khái quát tìnhhình kinh tế - xã hội các khu vực hay thế giới mà nó còn cung cấp cung cấp nhữngkiến thức của từng quốc gia về vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên, dân cư và tình hìnhphát triển kinh tế xã hội Từ đó giúp cho các em biết phân tích (giải thích) được từng
sự vật, từng hiện tượng địa lí đang học trong mối quan hệ biện chứng (hữu cơ) giữađiều kiện tự nhiên, dân cư và tình hình phát kinh tế xã hội của các quốc gia và khu
vực Ví dụ: Nhìn vào bản đồ tự nhiên Trung Quốc & bản đồ Kinh tế chung Trung
Quốc:
Hình 4: Bản đồ tự nhiên Trung Quốc Hình 5: Bản đồ kinh tế chung Trung Quốc
Ta chẳng những thấy được vị trí của Trung Quốc tiếp giáp với những nước nào,
vị trí địa lí, sự phân bố các dạng địa hình cũng như sông ngòi của Trung Quốc, màcòn có thể lý giải ảnh hưởng của vị trí địa lí đó trong mối quan hệ phát triển kinh tế -
xã hội, với yếu tố của địa hình đó Trung Quốc có thể phân chia làm mấy miền địahình, dựa vào đó có thể phán đoán đặc điểm khí hậu của từng miền Dựa vào đặcđiểm của địa hình cũng còn có thế lí giải được hướng chảy của mạng lưới sông ngòi,
Trang 10chế độ thủy chế, đặc điểm khí hậu, không những vậy có thể phân tích đánh giá tìnhhình phát triển những ngành kinh tế - xã hội giữa miền Đông và miền Tây…
Cho nên khi sử dụng bản đồ treo tường để khai thác và truyền thụ kiến thứcgiáo viên cần phải có những thao tác “ làm mẫu ”nhằm hình thành cho học sinh biếtcách đọc mối liên hệ hữu cơ giữa các yếu tố tự nhiên với các yếu tố tự nhiên và giữacác yếu tố tự nhiên đối với các yếu tố kinh tế - xã hội trên bản đồ Từ đó, thấy đượctổng thể tự nhiên cũng như tình hình phát triển về kinh tế - xã hội của mỗi quốc giacũng như khu vực Nói một cách khác các nội dung trong từng bài học đều có mốiliên hệ chặt chẽ với nhau và bản đồ cũng có mối liên hệ chặt chẽ ấy Giáo viên cầntranh thủ mọi điều kiện, nêu câu hỏi kiểm tra, câu hỏi phát vấn phát vấn, đặc biệtthông qua thao tác giảng dạy của mình để giúp các em nắm được cách dùng bản đồ(đọc và khai thác bản đồ) với ý nghĩa thực chất của nó
Ví dụ: Qua bản đồ tự nhiên Hoa Kì
Giới thiệu sự phân hóa sự đa dạng của lãnh thổ Hoa Kì, giáo viên nên vừa giảngvừa chỉ bản đồ cho học sinh thấy được: Lãnh thổ Hoa Kì có sự phân hóa thành bavùng tự nhiên khá rõ rệt: (chỉ bản đồ)
hình: Bản đồ địa hình và khoáng sản
Hoa Kì
+ Phía tây là hệ thống núi trẻ Cooc - đi- e bao gồm các dãy núi cao trung bình
trên 2000m chạy song song theo hướng bắc - nam xen giữa là các bồn địa (bồn địalớn) và cao nguyên (cao nguyên Côlôrađô) có khí hậu hoang mạc và bán hoangmạc…Ven Thái Bình Dương có các đồng bằng nhỏ đất tốt, khí hậu cận đới và ôn đớihải dương
+ Phía đông là dãy núi già A-Pha-Lát tương đối thấp Phía bắc A-Pha-Lát chỉ
cao từ 400m-500m, phần phía nam cao hơn có độ cao từ 1000m – 1500m chạy theohướng đông bắc – tây nam, với sườn thoải, với nhiều thung lũng rộng cắt ngang, giao
Trang 11thông thuận lợị Khí hậu ôn đới, có lượng mưa tương đối lớn Nguồn thủy năng phongphú…
+ Ở giữa (vùng Trung tâm) Gồm các bang nằm giữa dãy A-Pha- Lát và dãy
Rốc-Ki, phần phía tây và phía bắc có địa hình gò thấp, nhiều đồng cỏ rộng Phía nam
là đồng bằng phù sa màu mở và rộng lớn có hệ thống sông Mít-Xi-Xi-Pi bồi đắp.Phần lớn các ban ở phía bắc của vùng có khí hậu ôn đới, các bang ở vùng vịnh Mê-hi-
cô có khí hậu cận nhiệt…
* Chú ý sử dụng bản đồ để nêu câu hỏi trong quá trình giảng dạy:
Bản đồ giáo khoa treo tường nói riêng là một công cụ để giáo viên khai thác vàtruyền đạt kiến thức, là một phương tiện để giáo viên dẫn dắt học sinh để tìm ranhững nội dung chủ yếu của bài học, có thể nói hầu như mọi kiến thức cơ bản của bài
giảng địa lí đều có ở trên bản đồ này hay ở bản đồ khác Vì vậy, trong quá trình giảng
bài giáo viên cần chú ý đến phương pháp phát vấn trên cơ sở quan sát bản đồ, làmđược như vậy chẳng những giúp học sinh nắm được nội dung của bài học một cách dễdàng, mà còn tăng cường rèn luyện kĩ năng đọc bản đồ và bồi dưỡng khả năng tư duyđịa lí
Để thực hiện những yêu cầu trên một cách hiệu quả trong quá trình thực hiệnphương phát phát vấn trên cơ sở đọc bản đồ chúng ta cần lưu ý những điểm sau:
+ Đặt câu hỏi từ dễ đến khó:
Ví dụ: Khi giảng bài 5: Một số vấn đề của châu lục và khu vực (tiếp theo)
Tiết 2: Một số vấn đề của Mĩ La Tinh Gíáo viên cũng nên đặt những câu hỏivừa mang tính chất gợi ý vừa có tính chất dẫn dắt để học sinh có thể đi từ nhận xéttrên cơ sở kí hiệu của bản đồ đến những nội dung màu sắc của bản đồ
Ví dụ: Như bài trên và học sinh quan sát bản đồ Các cảnh quan và khoáng sản
chính ở Mĩ La Tinh giáo viên đưa ra câu hỏi:
- Quan sát bản đồ địa lí tự nhiên châu Mĩ, em hãy cho biết Mĩ La Tinh có những cảnh quan và khoáng sản chính nào? (sau khi học sinh trả lời giáo viên bổ
sung và hỏi tiếp)
- Qua bản đồ trên em hãy cho biết cảnh quan và loại khoáng sản nào chiếm tỉ
lệ nhiều nhất ở Mĩ La Tinh?(sau khi học sinh trả lời giáo viên bổ sung và hỏi tiếp)
- Những loại cảnh quan và khoáng sản đó có thuận lợi và khó khăn trong việc phát triển kinh tế của Mĩ La Tinh?
Đây là loại câu hỏi mà nội dung câu trả lời đã có trong bản đồ, cho nên, giáoviên cần chú ý đến cơ sở bản đồ để học sinh sử dụng cho câu trả lời Nếu câu trả lờidựa trên sách giáo khoa, hoặc trong những bản đồ trong sách giáo khoa, thì phần lớnhọc sinh trong lớp đều có khả năng trả lời Nhưng nếu câu hỏi đưa ra đòi hỏi học sinh
Trang 12phải tìm câu trả lời trên bản đồ treo tường, giáo viên cần quan sát xem những học sinhngồi cuối lớp có thể nhìn bản đồ rõ không Có những trường hợp, câu hỏi đưa ra chỉ
10 em học sinh ngồi ở bàn đầu là có khả năng chuẩn bị câu trả lời, còn hầu hết là ngồichơi Phương pháp đàm thoại tiến hành trên cơ sở dùng bản đồ tại lớp rất sinh động,làm cho lớp học có một không khí học tập tự giác, khích lệ các em cùng suy nghĩ vàtham gia bài giảng Tuy nhiên, để đảm bảo thực hiện tốt phương pháp này, những hệthống câu hỏi đặt ra cần tính toán trên cơ sở tư duy, năng lực của học sinh và với thờigian cần thiết cho một câu hỏi, để đảm bảo kế hoạch giảng dạy về mặt thời gian
Những câu hỏi đặt ra trong khi giảng bài, nên dùng những loại câu hỏi đòi hỏingười trả lời chỉ cần đọc bản đồ, thông qua tư duy và tìm ra câu trả lời, không nêndùng những câu hỏi đòi hỏi phải tính toán trên bản đồ mới trả lời được Nếu tính toánchi tiết thì không đủ thời gian mà nếu ước lượng, sẽ gây cho học sinh thói quen làmviệc tùy tiện, đại khái Sau khi những câu hỏi đặt ra đã lần lượt được trả lời, giáo viên
hệ thống hoá và tổng kết vấn đề Kĩ năng đọc bản đồ, phân tích bản đồ, dùng bản đồ
để nhận định khái quát về địa lí tự nhiên một khu vực, một quốc gia các em có thểlàm ngay trên lớp
+ Đặt câu hỏi với yêu cầu trả lời các nội dung từ đơn giản đến phức tạp:
Ví dụ: Khi giảng bài 8 : Liên Bang Nga, phần II/ Điều kiện tự nhiên, dựa vào
bản đồ tự nhiên của Liên Bang Nga, giáo viên có thể nêu ra những câu hỏi :
+ Dựa vào bản đồ địa lí tự nhiên Liên
Bang Nga em nhận xét gì về địa hình của LBN? (cao ở phía đông và thấp dần
về phía đông)
+ Địa hình của Liên Bang Nga được
chia làm mấy phần? (hai phần: Phía
đông và phía tây)
+ Sự phân hoá như vậy ảnh hưởng như
thế nào đến sự phát triển kinh tế và phân bố dân cư giữa phía tây và phía đông? (học sinh phải có sự liên hệ giữa
các yếu tố tự nhiên trên bản đồ để liên
hệ, so sánh trả lời câu hỏi)
7.1.2.3 Phương pháp sử dụng bản đồ trong việc thực hiện các bước lên lớp.
* Trong bước kiểm tra đầu giờ
Khi kiểm tra bài cũ, giáo viên phải treo bản đồ phục vụ bài học trước để họcsinh quan sát và trả lời những câu hỏi của giáo viên đặt ra, mọi câu hỏi kiểm tra được
Trang 13đặt ra cần phải có những yêu cầu buộc học sinh quan sát bản đồ trong quá trình trả lờicâu hỏi.
Ví dụ: Trước khi giảng bài 11: Khu Vực Đông Nam Á (tiếp theo), để tiến hành kiểm
tra bài cũ, giáo viên vừa treo bản đồ tự nhiên khu vực Đông Nam Á, vừa có thể nêu
câu hỏi kiểm tra bài cũ của học sinh như: “Dựa vào bản đồ tự nhiên của khu vực
Đông Nam Á, Em hãy mô tả vị trí địa lí và lãnh thổ của khu vực, vị trí địa lí và lãnh thổ của đó có thuận lợi như thế nào trong phát triển kinh tế- xã hội?
* Trong bước giảng nội dung bài mới
Phải thường xuyên thông qua các thao tác “mẫu” của giáo viên khi sử dụng bản
đồ để khai thác và truyền đạt những nội dung của bài giảng là một yêu cầu rất quantrọng, nhằm hướng dẫn học sinh hình dung được cách đọc bản đồ ngay trong khi nghegiảng, đồng thời cũng là một biện phát rất quan trọng để nâng cao hiệu quả của bàigiảng
Khi sử dụng phương pháp phát vấn trong quá trình giảng dạy và đặt ra các câuhỏi để học sinh suy nghĩ và trả lời, giáo viên cũng đặt biệt lưu ý tới những yêu cầubuộc học sinh quan sát bản đồ để trả lời những nội dung câu hỏi, có như vậy mơíthúc đẩy quá trình rèn luyện kỉ năng đọc bản đồ và phát triển tư duy địa lí cho họcsinh một cách thường xuyên và liên tục trong suốt quá trình giảng dạy
* Trong bước củng cố
Trong bước cũng cố nội dung kiến thức vừa học và những tiết ôn tập giáo viêncần đặt ra những câu hỏi có những yêu cầu rèn luyện kỉ năng về bản đồ
* Trong bước hướng dẫn học sinh học tập ở nhà.
Hướng dẫn học sinh biết cách học mỗi bài địa lí trên cơ sở bản đồ kết hợp vớisách giáo khoa và ghi vở
Những nội dung thường xuyên cần lưu ý hướng dẫn học sinh trong tất cả cáctiết học:
+ Một số kí hiệu của bản đồ trong sách giáo khoa cần học bổ sung để phục vụcho nội dung bài học
+ Cách đọc mối liên hệ giữa các nội dung chủ yếu của bài học thể hiện trongbản đồ sách giáo khoa
+ Những kí hiệu mới (kí hiệu học sinh chưa biết) để phục vụ cho quá trìnhnghe giảng của tiết sau
7.1.3 Mốt số bản đồ giáo khoa treo tường được sử dụng trong chương trình địa
lí lớp 11 – Ban cơ bản
Trang 141 Châu Phi - Bản
Bài 5: Một số vấn đề của châu lục và khu vực
Tiết 1: Một số vấn đề của Châu Phi.(I/Một số
Bài 5: Một số vấn đề của châu lục và khu vực
Tiết 2: Một số vấn đề của Mĩ La Tinh.(I/ Một số
vấn đề về tự nhiên)Bài 6: Hợp chủng quốc Hoa Kì (II/Điều kiện tự nhiên)
Bài 5: Một số vấn đề của châu lục và khu vực
Tiết 3: Một số vấn đề khu vực Tây Nam Ávà
Bài 8: Liên Bang Nga
Tiết 1: Tự nhiên, dân cư và xã hôị.(I Vị trí địa
lí và lãnh thổ và II.Điều kiện tự nhiên)8
LB Nga -Kinh
Bài 8: Liên Bang Nga
Tiết 2: Kinh tế Tiết 3: Thực hành tìm hiểu sự thay đổi GDP và
phân bố Nông nghiệp của Liên Bang Nga.9
Nhật Bản - Địa
Bài 9: Nhật BảnTiết 1: Tự nhiên, dân cư và tình hình phát triển kinh tế.(I Điều kiện tự nhiên)
10
Nhật bản -
Bài 9 : Nhật BảnTiết 1: Tự nhiên, dân cư và tình hình phát triển kinh tế.( III Tình hình phát triển kinh tế)
Trang 15lí và điều kiện tự nhiên)
Bài 12: Ô-Xtrây-Li-ATiết 1: Khái quát về Ô-Xtrây-Li-A (II.Kinh tế)
7.1.4 Khai thác nội dung một số bản đồ địa lí treo tường Địa lí 11 (Chương trình
cơ bản)
7.1.4.1 Bản đồ: ĐỊA LÍ TỰ NHIÊN CHÂU PHI
(Sử dụng cho bài 5 - Tiết 1: Một số vấn đề của Châu Phi – I Một số vấn đề về tự nhiên)
Trang 16Bản đồ lớn Châu Phi :
Châu Mĩ Châu Phi chiếm tới 20% diện tích Trái Đất, là một trong những cái nôi của
nề văn minh nhân loại Châu Phi nằm chủ yếu trong đới nóng, đường Xích đạo chạy
hậu nóng quanh năm
- Bao bọc quanh châu phi là Châu Đại Dương, Ấn Độ Dương, Điạ Trung Hải vàBiển Đỏ Năm 1869 kênh đào được đưa vào sử dụng nối thông đại Tây Dương quađịa Trung Hải sang Biển Đỏ và Ấn Độ Dương Nhờ có kênh đào Xuy-ê con đườngbiển nối châu Á – Châu Âu được rút ngắn được hơn 8000km so với việc việc đi vòngqua cực Nam châu Phi
- Ở các vùng biển sát bờ Châu Phi có nhiều dòng biển khác nhau Các dòng biểnnày có ảnh hưởng quan trọng đến khí hậu ven bờ lục địa Các dòng biển lạnh Ca-na-
ri và Ben – ghê- la làm cho bờ biển Tây Bắc và Tây Nam Châu Phi mát và khô Dòngbiển nóng Ghi –nê làm cho duyên hải phía Bắc vịnh Ghi-nê mưa nhiều Dòng biểnnóng Mô-dăm -bích và Mũi Kim làm cho vùng duyên hải đông nam của lục địa mưanhiều Tuy nhiên, do đường bờ biển bị chia cắt cộng với duyên hải có nhiều núi vàsơn nguyên cao như At-lát, Đông Phi, Đrê-ken- xbec nên ảnh hưởng của biển và đạidương khó thâm nhập vào sâu trong đất liền Bởi vậy, Châu Phi là châu lục khô hơnnhiều so với các châu lục khác (tới 1/3 diện tích lục địa là hoang mạc)
* Câu hỏi và bài tập
Câu hỏi 1: Quan sát bản đồ địa lí tự nhiên Châu Phi cho biết đặc điểm cảnh quan, khoáng sản của Châu Phi ?
Gợi ý trả lời
Châu Phi là châu lục có diện tích hoang mạc chiếm tỉ lệ lớn trong tổng số diệntích tự nhiên: Hoang mạc Xa-ha-ra ở phía bắc, Na- míp và Ca-la-ha-ri ở phía nam,trong đó hoang mạc Xa-ha-ra là hoang mạc lớn nhất thế giới, nhiệt độ trung bình trên
400 C
Địa hình ít bị chia cắt, đồng bằng thấp chỉ chiếm diện tích nhỏ, bề mặt lục địa
chịu quá trình san bằng lâu dài bởi vậy ở đây chủ yếu là các cao nguyên, sơn nguyên,rất ít đồng bằng bồi tụ thấp và các dãy núi đồ sộ
Trong châu lục có các dãy núi: Đrê-ken –bec, các khối núi: khối núi Bi - ê, khốinúi A-ha-ga, khối núi Ti-be-xti, đỉnh núi Ki-li-man-gia-rô
- Các môi trường tự nhiên của Châu Phi:
Trang 17+ Môi trường xích đạo ẩm: Phân bố hai bên đường xích đạo, thuộc bồn địa Công
Gô và một dải hẹp ven vịnh Ghi-nê
+ Môi trường nhiệt đới; bao gồm kiểu rừng gió mùa, rừng thưa và xa-van, xavan là loại phổ biến và lá rộng nhất
+Môi trường hoang mạc: chiếm tỉ lệ lớn trong tổng diện tích tự nhiên
+ môi trường Địa trung Hải phát triển gần cực bắc và cực nam Châu Phi
- Động vật phong phú và đa dạng: Voi, Tê giác, Ngựa vằn, hươu cao cổ, sơndương, sư tử, báo, chó rừng ,
Khoáng sản: Điều kiện kí hậu hoang mạc rất khắc nghiệt nhưng trong lòng đất
thì lại giàu có, theo nghiên cứu chưa đầy đủ nhưng những gì đã biết có thể cho thấyđây là một trong những nơi giàu có về khoáng sản trong đó nhiều nhất là Vàng, Kimcương, Uranium, sắt, đồng dầu mỏ, phi kim loại
+Vàng: Có nhiều mỏ lớn ở Cộng hoà Nam Phi, Cộng hoà dân chủ Công Gô,
Ga-na, Tan –đa-ni- a, Kê-ni- a Trong đó Cộng hoà Nam Phi khai thác nhiều nhất thếgiới năm khai thác cao nhất được 900 tấn
+Uranium: tập trung Cộng hoà Công –Gô Cộng hoà Nam Phi, Ga-Na, Xi- ê-
ra-Lê-On, Trong đó Cộng hoà Công gô có trữ lượng lớn vừa có hàm lượng cao, có mỏđạt tới 7kg uranium trong một tấn quặng
+ Đồng: Các mỏ đồng chạy theo hình vòng cung được gọi là vòng đai quặng
đồng Trung Phi, kéo dài hơn 1000km, từ cộng hoà dân chủ Công Gô qua Mô-dăm- bi–a đến Rô-đê-đi-a Trong đó Cộng hoà dân chủ Cônggô có trữ lượng lớn khoảng 9triệu tấn đồng kim loại
+Kim cương: Kim cương được hình thành ở các vùng có hoạt động núi lửa.
Phân bố ở cộng hoà dân chủ Cônggô Cộng hoà Nam Phi, Na-mi-bi-a, Ăng- gô-la,Ghi-nê, Trong đó, Cộng hoà dân chủ Cônggô có sản lượng đứng đầu thế giới vớikhoảng 14 triệu Cara/ năm
+ Dầu mỏ: Tập trung chủ yếu ở các nước Bắc Phi trong hoang mạc Xa-ha-ra và
một phần vịnh Ghi-Nê Trong đó, các nước có sản lượng cao nhất là Li-bi,
Ni-ghê-ri-a, An-giê-ri Libi và Ni-ghê-ri-a khai thác mỗi nước hơn 100 triệu tấn/năm
Ngoài các khoáng sản nói trên Châu Phi còn có rất nhiều mỏ khoáng sản khácnhư Crôm, plantin, côban, photphorit, than đá
* Biểu đồ phụ:
Bốn biểu đồ nhiệt độ lượng mưa của 4 địa điểm của châu Phi
+ Kếp-tao: lượng mưa trung bình năm 165 mm/ năm
+ In- xa- la: lượng mưa trung bình năm 15mm/năm
+ Ba-ma-cô: lượng mưa trung bình năm 1000 mm/năm