Quá trình chứng minh đối tượng chứng minh là quá trình nhận thức chân lý về vụ án, trong đó những vấn đề cốt lõi cần phải được giải quyết là có hay không sự kiện phạm tội xảy ra, ai là n
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Ngọc Chí
HÀ NỘI - 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận
án đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận án chưa từng được ai công
bố trong bất kỳ công trình nào khác
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Vũ Xuân Thao
Trang 4MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG THỐNG KÊ SỐ LIỆU
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 10
1.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 10
1.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 24
1.3 Đánh giá tình hình nghiên cứu 38
1.4 Những vấn đề luận án tiếp tục nghiên cứu 44
1.5 Câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu 46
Kết luận Chương 1 47
Chương 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐỐI TƯỢNG CHỨNG MINH TRONG VỤ ÁN HÌNH SỰ 49
2.1 Khái niệm, cơ sở và ý nghĩa của đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự 49
2.2 Nội dung đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự 73
2.3 Phân loại đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự 101
Kết luận chương 2 108
Chương 3 SỰ THỂ HIỆN ĐỐI TƯỢNG CHỨNG MINH TRONG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM 111
3.1 Đối tượng chứng minh trong pháp luật tố tụng hình sự một số nước trên thế giới 111
Trang 53.2 Đối tượng chứng minh trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam 126 Kết luận Chương 3 154
Chương 4 THỰC TIỄN VÀ CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ XÁC ĐỊNH ĐỐI TƯỢNG CHỨNG MINH TRONG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT GIẢI QUYẾT VỤ ÁN HÌNH SỰ 156
4.1 Thực tiễn xác định đối tượng chứng minh trong quá trình chứng minh vụ
án hình sự (2009 - 2018) 156 4.2 Hoàn thiện pháp luật và các giải pháp nâng cao hiệu quả xác định đối tượng chứng minh trong quá trình chứng minh vụ án hình sự 174 Kết luận Chương 4 191
KẾT LUẬN 192 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN
ĐỀ TÀI LUẬN ÁN ĐÃ CÔNG BỐ DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC
Trang 6: Tòa án nhân dân tối cao : Tiến hành tố tụng
VKSNDTC : Viện Kiểm sát nhân dân tối cao
Trang 7DANH MỤC BẢNG THỐNG KÊ SỐ LIỆU
4.4 Tổng số vụ án và tổng số bị can bị Viện Kiểm sát trả hồ sơ để
4.5 Tổng số vụ án và tổng số bị can bị Tòa án trả hồ sơ để điều tra
4.6 Tổng số vụ án và bị cáo bị Tòa án cấp phúc thẩm hủy án để điều
Trang 81
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việc xác định đối tượng chứng minh có ý nghĩa quan trọng trong quá trình chứng minh, nó không chỉ định hướng cho hoạt động điều tra, thu thập chứng cứ
mà còn quyết định đến việc sử dụng biện pháp chứng minh nào với mức độ, phạm vi ra sao, cũng như trong việc xác định giá trị chứng minh của chứng cứ đối với việc chứng minh những vấn đề cần phải chứng minh trong vụ án
Đối tượng chứng minh, hiểu theo nghĩa khái quát nhất là tất cả những gì chưa biết nhưng cần phải biết về VAHS Nói cách khác, tất cả những dấu vết của tội phạm để lại bên ngoài thế giới khách quan và những vấn đề khác có liên quan đến tội phạm là đối tượng chứng minh của quá trình tố tụng Làm rõ đối tượng cần phải chứng minh trong VAHS là quá trình nhận thức chân lý Ở phương diện chung nhất thì toàn bộ thực tiễn khách quan là đối tượng của nhận thức nhằm tìm ra những quy luật của thế giới tự nhiên, xã hội và của chính bản thân con người Đối tượng chứng minh trong VAHS là tất cả sự thật khách quan, mọi diễn biến của tội phạm mà các chủ thể tố tụng có trách nhiệm chứng minh làm
rõ Quá trình chứng minh đối tượng chứng minh là quá trình nhận thức chân lý
về vụ án, trong đó những vấn đề cốt lõi cần phải được giải quyết là có hay không
sự kiện phạm tội xảy ra, ai là người bị nghi thực hiện tội phạm và hành vi của họ
có thỏa mãn các yếu tố CTTP là cơ sở của việc truy cứu TNHS hay không cũng như những tình tiết khác có liên quan đến vụ án Vì vậy, đối tượng chứng minh
trong VAHS có thể hiểu là: “Đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự là tất cả
những vấn đề chưa biết nhưng cần phải biết để làm sáng tỏ bản chất của vụ án, trên cơ sở đó các cơ quan tiến hành tố tụng ra các quyết định phù hợp trong quá trình giải quyết vụ án hình sự” [23, tr 233 - 234]
Tuy nhiên, cách hiểu này về đối tượng chứng minh còn mang tính khái quát, cần phải tiếp tục nghiên cứu, chỉ rõ những vấn đề cụ thể phải chứng
Trang 9và những vấn đề có liên quan đến vụ án Nói cách khác, phải làm rõ các vấn đề như: Sự kiện phạm tội, người thực hiện tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS đối với người phạm tội, nhân thân người phạm tội, v.v bởi lẽ, chính những vấn đề này là cơ sở để xác định tội phạm, xác định TNHS đối với người phạm tội, việc áp dụng biện pháp ngăn chặn cũng như xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra của người phạm tội…Việc giải quyết VAHS chỉ phát sinh sau khi có tội phạm xảy ra, vì vậy để xác định được bản chất diễn biến của vụ án, các cơ quan có thẩm quyền THTT phải tiến hành thu thập chứng cứ và sử dụng chứng cứ để chứng minh làm rõ các vấn đề trong vụ án, mà các vấn đề cần phải chứng minh trong VAHS này được khoa học luật TTHS gọi là đối tượng chứng minh trong VAHS
Mặc dù tội phạm và diễn biến của hành vi phạm tội mang tính khách quan nhưng quy định nội dung, phạm vi đối tượng chứng minh trong VAHS lại có sự khác nhau trong pháp luật của mỗi quốc gia và mỗi thời kỳ lịch sử
Vì vậy, khi xác định đối tượng chứng minh của VAHS cần phải căn cứ vào quy định của PLHS, pháp luật TTHS đang có hiệu lực thi hành Đối tượng chứng minh trong VAHS ở nước ta thường được cụ thể hóa bằng một điều luật riêng với tên gọi “Những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự” (Điều 63 Bộ luật TTHS năm 2003; Điều 85 Bộ luật TTHS năm 2015) liệt kê những tình tiết cần phải chứng minh, làm rõ trong quá trình chứng minh VAHS, đó là: Có hành vi phạm tội xảy ra hay không, thời gian, địa điểm và những tình tiết khác của hành vi phạm tội; Ai là người thực hiện hành vi
Trang 103
phạm tội, có lỗi hay không có lỗi, do lỗi cố ý hay vô ý, có năng lực TNHS hay không, mục đích, động cơ phạm tội; Những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS của bị can, bị cáo và những đặc điểm về nhân thân của bị can, bị cáo; Tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra; Nguyên nhân và điều kiện phạm tội; Những tình tiết khác liên quan đến việc loại trừ TNHS, miễn TNHS, miễn hình phạt Bên cạnh đó, nhà làm luật nước ta còn dành một điều luật quy định những nội dung phải chứng minh trong VAHS có chủ thể bị buộc tội là người chưa thành niên hay người dưới 18 tuổi (Điều 302 Bộ luật TTHS năm 2003; Điều 416 Bộ luật TTHS năm 2015) Bộ luật TTHS năm 2015 còn quy định thêm một số nội dung chứng minh đối với vụ án là PNTM bị cáo buộc phạm tội trên cơ sở quy định của BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung) Những quy định về đối tượng chứng minh đã tạo ra cơ sở pháp lý, làm định hướng cho quá trình chứng minh VAHS góp phần xử lý đúng người, đúng tội, không bỏ lọt tội phạm và làm oan người vô tội Tuy nhiên, thực tiễn chứng minh đã chỉ ra những hạn chế và những vấn đề cần phải được tiếp tục nghiên cứu để hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả chứng minh khi tiến hành tố tụng giải quyết vụ án Đó là các vấn đề sau:
- Đối tượng chứng minh và các vấn đề khác trong quá trình chứng minh phụ thuộc vào chính sách pháp luật TTHS, vào việc xác định mô hình TTHS, do vậy, khi thay đổi theo định hướng cải cách tư pháp thì các quy định của pháp luật về đối tượng chứng minh đã đáp ứng được yêu cầu của định hướng đó chưa, cần loại bỏ hoặc bổ sung nội dung đối tượng chứng minh nào của VAHS
- Thực tiễn cho thấy, trong một số vụ án việc xác định đối tượng chứng minh không chính xác, thiếu căn cứ dẫn đến việc Toà án hoặc VKS phải trả
hồ sơ cho CQĐT để điều tra bổ sung hoặc dẫn đến việc giải quyết vụ án sai sót, không phù hợp với quy định của pháp luật, ảnh hưởng tới quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức trong quá trình giải quyết vụ án
Trang 114
- Những bất cập về trình độ nhận thức, năng lực, kinh nghiệm công tác,
ý thức chấp hành pháp luật chưa nghiêm của người có thẩm quyền THTT cần được nghiên cứu khắc phục…
Bởi vậy, việc nghiên cứu một cách toàn diện những vấn đề lý luận về đối tượng chứng minh trong VAHS, đánh giá thực trạng quy định của luật TTHS Việt Nam về đối tượng chứng minh và thực tiễn hoạt động của các cơ quan có thẩm quyền THTT liên quan đến vấn đề này là rất cần thiết Từ đó, đề ra giải pháp hoàn thiện pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng nó trong giải quyết VAHS có ý nghĩa quan trọng và mang tính cấp thiết, góp phần nâng cao chất lượng giải quyết VAHS Đây cũng là lý do tác giả chọn đề tài
“Đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự theo pháp luật tố tụng hình sự
Việt Nam” làm luận án tiến sĩ
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1 Mục đích nghiên cứu của luận án
- Nghiên cứu làm rõ đối tượng chứng minh trong VAHS trên phương diện lý luận; nghiên cứu thực trạng các quy định của pháp luật TTHS Việt Nam về đối tượng chứng minh
- Nghiên cứu thực tiễn xác định đối tượng chứng minh trong VAHS của các cơ quan THTT nước ta từ năm 2009 đến năm 2018; từ thực tiễn đó chỉ ra những hạn chế, thiếu sót trong việc xác định đối tượng chứng minh, đồng thời chỉ ra nguyên nhân của những thiếu sót, hạn chế đó
- Đưa ra các giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật TTHS Việt Nam về đối tượng chứng minh
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
Để đạt được những mục tiêu nêu trên, luận án có những nhiệm vụ sau:
Trang 125
- Phân tích tổng quan về tình hình nghiên cứu ở trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài luận án, trên cơ sở đó xác định những vấn đề luận án cần tiếp tục nghiên cứu
- Phân tích làm sáng tỏ một cách cơ bản, có hệ thống những quan điểm, học thuyết về đối tượng chứng minh trong VAHS; nghiên cứu lý luận và thực trạng pháp luật một số nước trên thế giới về đối tượng chứng minh trong VAHS, trên cơ sở đó đánh giá và rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc hoàn thiện pháp luật về đối tượng chứng minh
- Nghiên cứu quy định về đối tượng chứng minh trong pháp luật TTHS Việt Nam, thông qua đó làm rõ tính khoa học, vai trò, giá trị pháp lý của nó đối với việc chứng minh VAHS trong xã hội đương đại, đồng thời rút ra bài học kinh nghiệm cho việc hoàn thiện, áp dụng pháp luật về đối tượng chứng minh ở nước ta trong giai đoạn cải cách tư pháp hiện nay
- Nghiên cứu thực tiễn xác định đối tượng chứng minh trong VAHS của các cơ quan có thẩm quyền THTT cũng như ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực của nó đối với việc làm rõ sự thật khách quan vụ án, chỉ ra những bất cập, hạn chế của các quy định pháp luật làm cơ sở cho các đề xuất, kiến nghị hoàn thiện và áp dụng pháp luật TTHS về đối tượng chứng minh
- Trên cơ sở lý luận và thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật về đối tượng chứng minh, luận án đặt ra nhiệm vụ đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật và các giải pháp tăng cường hiệu quả xác định đối tượng chứng minh trong việc áp dụng pháp luật giải quyết VAHS
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1 Đối tượng nghiên cứu của luận án
Đối tượng nghiên cứu của luận án là những vấn đề lý luận về đối tượng chứng minh trong VAHS, các quy định của pháp luật TTHS Việt Nam và một
Trang 136
số nước trên thế giới về đối tượng chứng minh, thực tiễn xác định đối tượng chứng minh trong VAHS của các chủ thể có thẩm quyền THTT nước ta
3.2 Phạm vi nghiên cứu của luận án
Luận án có phạm vi nghiên cứu là những quan điểm, học thuyết về đối tượng chứng minh trong VAHS và thực tiễn xác định đối tượng chứng minh trong VAHS của các cơ quan có thẩm quyền THTT trên phạm vi toàn quốc từ năm 2009 đến năm 2018 cũng như thực trạng pháp luật của một số quốc gia trên thế giới
4 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
4.1 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp tiếp cận
- Các nội dung của luận án được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng; tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước
và pháp luật; các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng nhà nước pháp quyền, chính sách hình sự và cải cách tư pháp; các luận điểm chung của khoa học pháp lý TTHS về đối tượng chứng minh
- Luận án sử dụng phương pháp tiếp cận quyền khi phân tích, đánh giá các vấn đề về đối tượng chứng minh trong VAHS, thông qua đó góp phần thực hiện định hướng của Hiến pháp năm 2013 đối với việc tôn trọng, ghi nhận, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong quá trình chứng minh giải quyết VAHS
4.2 Các phương pháp được sử dụng trong quá trình thực hiện đề tài luận án
- Phương pháp phân tích: Được sử dụng để làm sáng tỏ các vấn đề lý
luận, thực trạng quy định của pháp luật TTHS về đối tượng chứng minh, lập luận đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật TTHS về đối tượng chứng minh
Trang 147
- Phương pháp tổng hợp: Được sử dụng chủ yếu trong việc hệ thống hóa
các nội dung liên quan đến đề tài luận án theo các nhóm vấn đề trong tổng quan tình hình nghiên cứu; hệ thống hóa các quan điểm, học thuyết của các tác giả trong và ngoài nước về đối tượng chứng minh trong VAHS
- Phương pháp thống kê và nghiên cứu điển hình: Được sử dụng để làm
rõ diễn biến tình hình tội phạm xảy ra cũng như thực tiễn xác định đối tượng chứng minh trong VAHS của các cơ quan có thẩm quyền THTT nước ta từ năm 2009 đến năm 2018
- Phương pháp so sánh luật học: Được sử dụng trong việc làm rõ sự kế
thừa và phát triển của các quy định về đối tượng chứng minh trong pháp luật TTHS Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử; đồng thời, làm rõ những điểm tương đồng cũng như khác biệt giữa pháp luật TTHS của nước ta với pháp luật TTHS của một số nước trên thế giới về đối tượng chứng minh
- Phương pháp hệ thống: Được sử dụng để làm rõ các vấn đề lý luận,
thực tiễn xác định đối tượng chứng minh của các cơ quan chức năng, thực trạng pháp luật TTHS Việt Nam về đối tượng chứng minh và những vấn đề
khác thuộc phạm vi nghiên cứu trong luận án
- Phương pháp lịch sử: Được sử dụng trong việc làm rõ quá trình hình
thành và phát triển của các quy định về đối tượng chứng minh trong pháp luật TTHS nước ta qua các thời kỳ lịch sử, đặc biệt là từ khi có Bộ luật TTHS năm
Trang 158
trong VAHS theo pháp luật TTHS Việt Nam Những đóng góp mới của luận
án bao gồm các nội dung dưới đây:
- Một là, phân tích, làm rõ những vấn đề lý luận về đối tượng chứng
minh trong VAHS như: Khái niệm, đặc điểm của đối tượng chứng minh trong VAHS; cơ sở, ý nghĩa của việc xác định đối tượng chứng minh trong VAHS; nội dung, phân loại đối tượng chứng minh trong VAHS;
- Hai là, nghiên cứu pháp luật TTHS của một số nước trên thế giới về
đối tượng chứng minh, trên cơ sở đó có những nhận xét và rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc hoàn thiện pháp luật TTHS về đối tượng chứng minh;
- Ba là, nghiên cứu, đánh giá thực trạng xác định đối tượng chứng minh
trong VAHS của các cơ quan có thẩm quyền THTT nước ta từ năm 2009 đến năm 2018, trên cơ sở đó chỉ ra những kết quả đã đạt được và những tồn tại, hạn chế cần khắc phục cũng như nguyên nhân của những bất cập, hạn chế đó; trong đó, xác định rõ những bất cập, hạn chế trong các quy định của pháp luật TTHS về đối tượng chứng minh ở Việt Nam hiện nay là gì;
- Bốn là, đề xuất các giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả thực thi pháp
luật TTHS Việt Nam về đối tượng chứng minh ở nước ta trong giai đoạn hiện nay;
- Năm là, kết quả nghiên cứu và các giải pháp đề xuất trong luận án sẽ
là tài liệu tham khảo có giá trị đối với việc hoàn thiện pháp luật TTHS Việt Nam về đối tượng chứng minh; đồng thời, là tài liệu để các cơ quan chức năng tham khảo, lựa chọn và áp dụng các giải pháp nhằm khắc phục những thiếu sót, hạn chế trong thực tiễn xác định đối tượng chứng minh của các chủ thể có thẩm quyền THTT giai đoạn hiện nay, trên cơ sở đó góp phần nâng cao hiệu quả chứng minh VAHS nói chung và xác định đối tượng chứng minh trong VAHS nói riêng
Trang 169
6 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, luận
án được kết cấu thành bốn chương, gồm:
Chương 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án Chương 2: Những vấn đề lý luận về đối tượng chứng minh trong vụ án
hình sự
Chương 3: Sự thể hiện đối tượng chứng minh trong pháp luật tố tụng
hình sự một số nước trên thế giới và Việt Nam
Chương 4: Thực tiễn và các giải pháp nâng cao hiệu quả xác định đối
tượng chứng minh trong áp dụng pháp luật giải quyết vụ án hình sự
Trang 1710
Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
1.1.1 Những công trình nghiên cứu đề cập đến vấn đề chứng minh trong vụ án hình sự
Chứng minh là một trong những chế định quan trọng của TTHS, vì thế đã
có khá nhiều các công trình nghiên cứu về vấn đề này, ở các cấp độ, các hình thức khác nhau như: Đề tài nghiên cứu khoa học, giáo trình, sách chuyên khảo, bài đăng trên các tạp chí chuyên ngành luật học, chuyên ngành điều tra tội phạm, luận án tiến sĩ…Những công trình này đã đề cập đến các nội dung sau:
- Về khái niệm, ý nghĩa của chứng minh trong tố tụng hình sự
+ Các nghiên cứu về khái niệm chứng minh trong tố tụng hình sự
Ở mức độ khái quát nhất, chứng minh được các tác giả đề cập đến như
là một quá trình nhận thức chân lý khách quan của vụ án, đi từ chưa biết đến biết; từ biết hiện tượng đến biết bản chất vụ án, từ biết đơn giản đến biết sâu sắc về vụ án “Là nhận thức chân lý về vụ án nên quá trình chứng minh phải tuân theo những quy luật của nhận thức khách quan từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ việc thu thập, kiểm tra chứng cứ đến việc đánh giá tổng hợp các chứng cứ đã thu thập nhằm là rõ các tình tiết của vụ án” [23, tr 239] Trong khoa học luật TTHS, nhiều tác giả (GS.TS Đỗ Ngọc Quang, PGS.TS Trần Văn Độ, TS Đỗ Văn Đương, v.v ) có sự đồng tình với quan điểm này và đã có những phân tích, lập luận, đánh giá làm sâu sắc thêm trong các công trình nghiên cứu [5, tr 205 - 206], [75, tr 157 - 158], [81, tr 211 - 212], v.v Quá trình chứng minh, thường trải qua ba bước: Thu thập chứng
cứ, kiểm tra chứng cứ, đánh giá và sử dụng chứng cứ; Mỗi bước có vị trí, vai trò, ý nghĩa ở mức độ nhất định trong quá trình chứng minh VAHS Giáo
Trang 1811
trình của các cơ sở đào tạo luật ở nước ta như giáo trình Luật TTHS Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội (PGS.TS Hoàng Thị Minh Sơn chủ biên) [75, tr 187], giáo trình Luật TTHS Việt Nam của Khoa luật Đại học Quốc gia
Hà Nội (PGS.TS Nguyễn Ngọc Chí chủ biên) [23, tr 240], giáo trình Luật TTHS Việt Nam của Học viện Tư pháp (PGS.TS Nguyễn Văn Huyên chủ biên) [46, tr 135], giáo trình Luật TTHS Việt Nam của Viện Đại học Mở Hà Nội (TS Đỗ Thị Phượng chủ biên) [58, tr 80], v.v…nêu rõ: Thu thập chứng
cứ là bước đầu tiên của quá trình chứng minh, nhằm thu thập tất cả các dấu vết của tội phạm để lại bên ngoài thế giới khách quan cũng như trong nhận thức của con người Các chủ thể TTHS, nhất là chủ thể buộc tội phải thu thập được những dấu vết tội phạm theo thủ tục quy định của pháp luật TTHS thì mới có chứng cứ làm cơ sở chứng minh tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội Vì vậy, thu thập chứng cứ có ý nghĩa hết sức quan trọng, làm tiền
đề cho việc chứng minh VAHS Kiểm tra chứng cứ là đòi hỏi tất yếu của quá trình chứng minh, mà bản chất của nó là kiểm tra tính xác thực của chứng cứ, kiểm tra xem tài liệu thu thập được đã thỏa mãn các thuộc tính khách quan, liên quan và hợp pháp của chứng cứ hay chưa Đánh giá chứng cứ là việc xác định giá trị chứng minh của từng chứng cứ và toàn bộ chứng cứ thu thập được đối với những vấn đề cần phải chứng minh trong VAHS Việc đánh giá chứng
cứ phải khách quan, toàn diện trên quan điểm biện chứng, lịch sử, cụ thể…
Trong các công trình nghiên cứu, tuy cách thể hiện có sự khác nhau nhưng khái niệm chứng minh trong TTHS được các tác giả đưa ra đều thống
nhất các nội hàm sau: i) Chứng minh VAHS là quá trình nhận thức chân lý
khách quan của vụ án, tuân theo các quy luật của quá trình nhận thức khách
quan; ii) Quá trình chứng minh VAHS là quá trình nhận thức khách quan về
tội phạm, về hành vi của người phạm tội và những tình tiết khác có liên quan
đến vụ án; iii) Quá trình chứng minh VAHS được trải qua các bước: Thu thập
Trang 1912
chứng cứ, kiểm tra chứng cứ và đánh giá chứng cứ; mỗi bước có vị trí, tầm quan trọng khác nhau nhưng có mối quan hệ chặt chẽ, hỗ trợ lẫn nhau trong quá trình chứng minh
+ Các nghiên cứu về ý nghĩa của chứng minh trong tố tụng hình sự
Các nghiên cứu đã chỉ ra ý nghĩa của chứng minh trong TTHS, trong
đó nêu bật ý nghĩa xác định sự thật khách quan vụ án của quá trình chứng minh Các nghiên cứu cho rằng: Quá trình chứng minh VAHS là quá trình nhận thức chân lý, mà thực chất của quá trình đó là đi tìm chứng cứ của vụ
án Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại ở việc tìm ra chứng cứ mà không thực hiện việc chứng minh tội phạm thì không thể làm sáng tỏ toàn bộ vụ án đúng như những gì nó đã diễn ra trong thực tế khách quan “Việc chứng minh tội phạm
là nhằm làm sáng tỏ các tình tiết khác nhau của vụ án phục vụ cho việc định tội, quyết định trách nhiệm hình sự và hình phạt cũng như giải quyết các vấn
đề khác liên quan của vụ án” [75, tr 164] Chia sẻ với quan điểm này, một số tác giả đã đưa ra những nhận định cụ thể để làm rõ hơn vị trí, ý nghĩa của chứng minh trong TTHS, chẳng hạn như: Khi đánh giá về tổng quan những nội dung lớn sửa đổi, bổ sung trong Bộ luật TTHS năm 2015, PGS TS Nguyễn Hòa Bình đã chỉ ra: “Chứng cứ và chứng minh là một trong những vấn đề quan trọng nhất của tố tụng hình sự Toàn bộ quá trình giải quyết vụ
án hình sự thực chất là quá trình thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ, mặc
dù cách thức tiến hành ở mỗi giai đoạn có khác nhau” [5, tr 27]; hoặc trong công trình nghiên cứu về chứng minh và chứng cứ, GS TS Đỗ Ngọc Quang đưa ra nhận định: “Chứng minh, chứng cứ trong tố tụng hình sự là một trong những chế định quan trọng nhất, xuyên suốt toàn bộ quá trình tố tụng kể từ khi khởi tố, điều tra đến truy tố, xét xử vụ án hình sự” [5, tr 205]; v.v Như vậy, chứng minh VAHS có vị trí, ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong TTHS, có vai trò làm sáng tỏ toàn bộ VAHS đúng như những gì nó đã diễn ra trong thực
Trang 2013
tế khách quan Chứng minh VAHS còn có ý nghĩa trong việc đánh giá giá trị chứng minh của các chứng cứ, đồng thời là căn cứ để đánh giá năng lực, trách nhiệm và hiệu quả thực thi nhiệm vụ của chủ thể chứng minh Ý nghĩa sâu xa hơn, chứng minh VAHS còn góp phần vào việc thực hiện công cuộc cải cách
tư pháp ở nước ta trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền đã được GS TSKH Lê Văn Cảm đề cập đến trong một công trình nghiên cứu [17, tr 214]
- Về nghĩa vụ chứng minh
Chứng minh VAHS là việc làm sáng tỏ bản chất và các tình tiết của vụ
án bằng chứng cứ [19, tr 30], tuy nhiên để thực hiện nhiệm vụ này thì cần phải có lực lượng chuyên trách đảm nhiệm Do đó, ở bất kì quốc gia nào trên thế giới đều phải thành lập các cơ quan chuyên trách và quy định nghĩa vụ chứng minh tội phạm cho các cơ quan này Nghiên cứu về nghĩa vụ chứng minh trong pháp luật TTHS của các nước phương Tây, TS Đỗ Văn Đương có nhận xét: “Trong pháp luật tố tụng hình sự của các nước phương Tây, nghĩa
vụ chứng minh do lực lượng cảnh sát chuyên nghiệp (cơ quan điều tra) và cơ quan công tố thực hiện, có những nước do thẩm phán tiến hành (chẳng hạn ở Italia) Nhiệm vụ của cảnh sát là thu thập tài liệu, chứng cứ và lập hồ sơ về vụ
án xảy ra dưới sự chỉ đạo trực tiếp của công tố viên (ở Cộng hòa Pháp), hoặc độc lập không chịu ràng buộc bởi công tố viên (ở Anh)” [36, tr 27] Ở nước
ta, các nghiên cứu đều chỉ ra, việc chứng minh tội phạm chủ yếu thuộc về các
cơ quan có thẩm quyền THTT, đó là: Cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát và Tòa
án [23, tr 238], [75, tr 168] Do chức năng, nhiệm vụ của mỗi cơ quan có sự khác nhau nên phạm vi trách nhiệm chứng minh tội phạm của mỗi cơ quan cũng khác nhau “Ở giai đoạn khởi tố, điều tra, chủ thể chứng minh tội phạm
là Điều tra viên, Kiểm sát viên; còn ở giai đoạn xét xử, trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về Hội đồng xét xử” [23, tr 238] Để thực hiện nghĩa vụ chứng minh tội phạm thì các chủ thể có thẩm quyền THTT phải phát hiện, thu
Trang 2114
thập, đánh giá và sử dụng chứng cứ để chứng minh tội phạm trước pháp luật [36, tr 32] Ngoài các cơ quan có thẩm quyền THTT có nghĩa vụ chứng minh VAHS thì “bị can, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác có quyền xuất trình chứng cứ, đưa ra những đồ vật, những yêu cầu thu thập chứng cứ nhưng không buộc phải thực hiện nghĩa vụ chứng minh là mình vô tội” [36, tr 32] Trên cơ sở các quy định của pháp luật TTHS và thực tiễn chứng minh VAHS của các chủ thể có thẩm quyền THTT, PGS TS Trần Văn Độ đã có nhận định: “Trách nhiệm chứng minh thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng; cho nên đa số các trường hợp Cơ quan điều tra, Viện Kiểm sát chỉ thu thập chứng cứ buộc tội, không chú trọng thu thập chứng cứ gỡ tội; trong khi đó bên bào chữa (người bào chữa, bị can, bị cáo) không được quyền chủ động thu thập chứng cứ làm hạn chế khả năng tranh tụng của họ tại phiên tòa” [133, tr 4]
- Về căn cứ chứng minh
Trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, để làm sáng tỏ về một vấn đề nào đó thì cần phải dựa trên những căn cứ chứng minh và trong VAHS, căn cứ để chứng minh các sự kiện, tình tiết của vụ án chính là chứng
cứ “Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, các cơ quan tiến hành tố tụng chỉ có thể ra các quyết định hoặc bản án dựa trên cơ sở các chứng cứ chứng minh về sự việc phạm tội cũng như con người thực hiện tội phạm và những tình tiết có liên quan” [23, tr 217] Như vậy, chứng cứ là phương tiện duy nhất để các chủ thể có thẩm quyền THTT dựng lại toàn bộ diễn biến của vụ
án đúng như những gì nó đã diễn ra ở hiện thực khách quan và cũng là căn cứ duy nhất để các chủ thể này ra các quyết định hoặc bản án phù hợp với quy định của pháp luật Vì được quy định trong pháp luật TTHS nên chứng cứ mang bản chất giai cấp và vì thế, ở mỗi nhà nước hay mỗi chế độ khác nhau thì quan niệm về chứng cứ cũng có sự khác nhau Do vai trò và tầm quan
Trang 2215
trọng của chứng cứ đối với việc làm sáng tỏ bản chất VAHS nên đã có nhiều công trình nghiên cứu về chứng cứ trong TTHS như giáo trình Luật TTHS của các cơ sở đào tạo luật, sách chuyên khảo về “Chế định chứng cứ trong luật tố tụng hình sự Việt Nam” và các bài viết đăng tải trên các tạp chí chuyên ngành luật của TS Trần Quang Tiệp, sách chuyên khảo về “Chứng cứ và chứng minh trong vụ án hình sự” và luận án tiến sĩ luật học của tác giả Đỗ Văn Đương, luận án tiến sĩ luật học của tác giả Vương Văn Bép, bài viết đăng trên Tạp chí Kiểm sát số 9&10/2008 của TS Mai Thế Bày, bài viết đăng trên Tạp chí Kiểm sát số 7/2013 của Ths Lê Minh Long, v.v Ở các công trình này, các tác giả chủ yếu đi sâu nghiên cứu các vấn đề lý luận về chứng cứ, như: Khái niệm chứng cứ [23, tr 217], [75, tr 157], lịch sử hình thành chứng
cứ [4, tr 35], [19, tr 10], [89, tr 16 - 21], các thuộc tính của chứng cứ, phân loại chứng cứ, nguồn chứng cứ [23, tr 218], [75, tr 159], v.v…Trên cơ sở đó, mỗi công trình nghiên cứu đã góp phần làm sáng tỏ lý luận chứng cứ ở nhiều khía cạnh khác nhau, có những công trình đã đưa ra những kiến nghị hoàn thiện pháp luật TTHS về chứng cứ [4, tr 154]
1.1.2 Những công trình nghiên cứu đối tượng chứng minh trong vụ
án hình sự
Đối tượng chứng minh trong VAHS, thường được nghiên cứu cùng với các nội dung khác của vấn đề chứng minh trong VAHS, rất ít công trình nghiên cứu độc lập về đối tượng chứng minh, ngoại trừ một vài luận văn ở các cơ sở đào tạo luật ở nước ta những năm gần đây như luận văn thạc sĩ luật học của tác giả Tô Hữu Thông với đề tài “Đối tượng chứng minh trong tố tụng hình sự”, bảo vệ tại Khoa luật Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2004 [84], luận văn thạc sĩ luật học của tác giả Vũ Xuân Thao với đề tài “Nghiên cứu so sánh về đối tượng chứng minh trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam và liên bang Nga”, bảo vệ năm 2014 tại Khoa luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Trang 2316
[78], v.v Đối tượng chứng minh được đề cập, với tư cách một phần trong các công trình nghiên cứu tổng thể về chứng cứ, chứng minh trong TTHS như giáo trình Luật TTHS Việt Nam của Khoa luật Đại học Quốc gia Hà Nội [23], sách chuyên khảo về “Chứng cứ và chứng minh trong vụ án hình sự” của TS
Đỗ Văn Đương [36], sách chuyên khảo về “Chế định chứng cứ trong luật tố tụng hình sự Việt Nam” của TS Trần Quang Tiệp [89], luận án tiến sĩ luật học của tác giả Nguyễn Văn Du [25], v.v…nên không có điều kiện nghiên cứu chuyên sâu mà chủ yếu dừng lại ở việc nêu ra các vấn đề cần phải chứng minh của vụ án trong mối liên hệ với các công cụ, phương tiện chứng minh và nghĩa vụ chứng minh, hoặc phân tích điều luật quy định đối tượng chứng minh trong các Bộ luật TTHS (Bộ luật TTHS năm 1988, Bộ luật TTHS năm
2003 và Bộ luật TTHS năm 2015) Từ nội dung các công trình này cho thấy, một số vấn đề được đề cập, nghiên cứu, đó là:
- Về khái niệm đối tượng chứng minh và mối liên hệ giữa đối tượng chứng minh với chủ thể và biện pháp chứng minh
+ Về khái niệm đối tượng chứng minh
Ở phương diện chung nhất, đối tượng chứng minh trong VAHS được quan niệm “là tất cả những vấn đề chưa biết nhưng cần phải biết để làm sáng
tỏ bản chất của vụ án, trên cơ sở đó các cơ quan tiến hành tố tụng ra các quyết định phù hợp trong quá trình giải quyết vụ án hình sự” [23, tr 234] Cùng với quan điểm này thì một số tác giả: PGS.TS Trần Văn Độ [75, tr 164], TS Trần Quang Tiệp [89, tr 84], TS Đỗ Văn Đương [35, tr 22], TS Đỗ Thị Phượng [58, tr 78], v.v đã bằng những cách tiếp cận, lý giải khác nhau, đưa ra quan điểm của mình về khái niệm đối tượng chứng minh trong VAHS Từ các quan điểm cho thấy, các tác giả có sự thống nhất về bản chất của khái niệm đối tượng chứng minh trong VAHS, mặc dù cách dùng thuật ngữ có thể khác nhau, chẳng hạn: “Đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự là tất cả những
Trang 2417
vấn đề chưa biết…” [23, tr 234]; hay: “Đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự là tất cả các tình tiết phải được xác định…” [58, tr 78], [75, tr 164]; hoặc “đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự bao gồm những sự kiện và tình tiết khác nhau…” của TS Trần Quang Tiệp trong sách chuyên khảo
“Chế định chứng cứ trong luật tố tụng hình sự Việt Nam” [89, tr 84]; v.v…Nội dung của khái niệm đối tượng chứng minh trong VAHS mà các
công trình nghiên cứu chỉ ra là: i) Đó là tất cả những gì chưa biết nhưng cần phải biết trong quá trình giải quyết VAHS; ii) Những vấn đề chủ yếu phải
chứng minh trong VAHS bao gồm: Sự việc phạm tội; người thực hiện hành
vi phạm tội; thiệt hại do tội phạm gây ra; những vấn đề có ảnh hưởng tới
TNHS; những vấn đề khác liên quan đến vụ án…; iii) Đối tượng chứng
minh được quy định và cụ thể hóa trong pháp luật TTHS Một số tác giả còn đưa ra kiến nghị bổ sung khái niệm đối tượng chứng minh vào quy định của pháp luật TTHS [89, tr 91]
+ Về mối liên hệ giữa đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự với
chủ thể chứng minh và biện pháp chứng minh
Chủ thể chứng minh VAHS ở mỗi nước là do mô hình TTHS của nước
đó quy định và được cụ thể hóa trong pháp luật TTHS Do đó, để xác định mối liên hệ giữa đối tượng chứng minh với chủ thể chứng minh và biện pháp chứng minh thì cần phải thông qua pháp luật TTHS của mỗi nước để xác định chủ thể chứng minh Ở nước ta, cơ quan lập pháp đã quy định rõ trong pháp luật TTHS: “Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải áp dụng các biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội, tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người bị buộc tội” [68, tr 17] Từ quy định này cho thấy, ở nước ta, chủ thể được trao nghĩa vụ chứng minh VAHS là các cơ
Trang 2518
quan có thẩm quyền TTHT Về chủ thể chứng minh VAHS, TS Trần Quang Tiệp đã nghiên cứu và chỉ ra, chủ thể chứng minh VAHS không chỉ có các cơ quan có thẩm quyền THTT mà còn có các chủ thể khác, như: Người làm chứng; người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo (luật sư); bị can, bị cáo [89, tr 95 - 98], v.v…Các chủ thể có nghĩa vụ chứng minh theo luật định, cụ thể là các cơ quan có thẩm quyền THTT buộc phải áp dụng các biện pháp hợp pháp do luật TTHS quy định, như: Hỏi cung bị can; Lấy lời khai người làm chứng; Lấy lời khai của bị hại; Đối chất; Nhận dạng, Nhận biết giọng nói; Khám xét người; Khám xét chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện; Thu giữ phương tiện điện tử, dữ liệu điện tử; Khám nghiệm hiện trường; Khám nghiệm tử thi; Xem xét dấu vết trên thân thể; Thực nghiệm điều tra, v.v…[68] để thu thập chứng cứ chứng minh đối tượng chứng minh của vụ án Về nội dung này, GS TS Đỗ Ngọc Quang cũng có những nghiên cứu và đưa ra nhận định: “…chứng cứ luôn tự phát ra những “tín hiệu” để những người có thẩm quyền tiến hành tố tụng và những chủ thể khác của quá trình tố tụng biết được, từ đó, thực hiện các phương pháp, biện pháp thu thập chứng minh những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự” [5, tr 217]
Từ quy định của pháp luật và các nhận định nêu trên cho thấy, mối liên hệ giữa đối tượng chứng minh với chủ thể chứng minh và biện pháp chứng minh
là mối liên hệ do pháp luật TTHS quy định, theo đó các chủ thể có nghĩa vụ chứng minh VAHS phải áp dụng các biện pháp chứng minh được quy định trong pháp luật TTHS để xác định đối tượng chứng minh trong VAHS
- Những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự
Các nghiên cứu đều thống nhất rằng, những vấn đề phải chứng minh trong VAHS chính là nội dung của đối tượng chứng minh trong VAHS Vì vậy, khi trình bày đối tượng chứng minh trong VAHS, các công trình như giáo trình Luật TTHS Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội (PGS.TS
Trang 2619
Hoàng Thị Minh Sơn chủ biên) [75, tr 165], giáo trình Luật TTHS Việt Nam của Khoa luật Đại học Quốc gia Hà Nội (PGS TS Nguyễn Ngọc Chí chủ biên) [23, tr 234], giáo trình Luật TTHS Việt Nam của Học viện Tư pháp (PGS.TS Nguyễn Văn Huyên chủ biên) [46, tr 136 - 137], v.v thường đề cập, phân tích điều luật của Bộ luật TTHS quy định về những vần đề phải chứng minh trong VAHS Ngoài ra, một số công trình còn đề cập đến những quy định khác của Bộ luật TTHS về đối tượng chứng minh, chẳng hạn như đề cập đến quy định về thủ tục giải quyết vụ án là người chưa thành niên tại Điều
302 Bộ luật TTHS năm 2003 hay Điều 416 Bộ luật TTHS năm 2015
Về vai trò của đối tượng chứng minh đối với việc giải quyết VAHS,
GS TS Đỗ Ngọc Quang chỉ ra: “Đối với bất kì vụ án hình sự nào, vấn đề đầu tiên đặt ra cho các chủ thể có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải xác định được những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự để từ đó có hướng thu thập chứng cứ” [5, tr 206] Nhận định này cho thấy rằng, những vấn đề phải chứng minh trong VAHS có vai trò định hướng cho hoạt động thu thập chứng cứ chứng minh tội phạm và vì thế, cùng với chứng cứ, những vấn đề phải chứng minh trong VAHS được quy định trong pháp luật TTHS Nhìn chung, pháp luật các nước đều quy định những vấn đề phải chứng minh trong VAHS nhưng “nội dung, thành phần của đối tượng chứng minh được xác định trong luật các nước cũng không giống nhau Có nước, luật pháp quy định khá cụ thể các vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự, có nước luật pháp chỉ quy định khái quát những tình tiết phải chứng minh liên quan đến việc giải quyết vụ án…” [36, tr 17 - 18] Ở nước ta, đối tượng chứng minh được cụ thể hóa bằng một điều luật riêng trong luật TTHS với tên gọi “Những vấn đề phải chứng minh trong VAHS” (Điều 85) [68, tr 88]; ngoài ra, một số tình tiết
là đối tượng chứng minh có tính đặc thù với mỗi loại chủ thể tương ứng (người dưới 18 tuổi, PNTM) (Điều 416; Điều 441) [68] Vì là một trong
Trang 27“Chế định chứng cứ trong luật tố tụng hình sự Việt Nam” của TS Trần Quang Tiệp [89, tr 90 - 91], luận án tiến sĩ luật học với đề tài “Quá trình chứng minh trong điều tra các vụ án xâm phạm An ninh quốc gia” của tác giả Nguyễn Ngọc Hà [39, tr 42], bài viết với đề tài “Giới hạn chứng minh trong tố tụng hình sự” đăng trên Tạp chí Luật học số 4/1997 của Ths Bùi Kiên Điện [33, tr
16 - 18], v.v…và trong số những công trình kể trên, có những công trình đã
đề cập đến việc hoàn thiện pháp luật TTHS về đối tượng chứng minh [39, tr 119], [89, tr 91] Tuy nhiên, cũng từ nội dung của các công trình đã liệt kê cho thấy, những vấn đề phải chứng minh trong VAHS chưa thật sự đầy đủ, chính xác Chẳng hạn như, có sự kiện phạm tội xảy ra hay không là vấn đề đầu tiên cần phải làm rõ khi chứng minh VAHS nhưng vấn đề này lại chưa được các tác giả quan tâm nghiên cứu hoặc những tình tiết chứng minh cho các căn cứ chứng minh cũng là đối tượng chứng minh trong VAHS nhưng những tình tiết này chưa được các tác giả đề cập, nghiên cứu một cách thỏa đáng, v.v…
- Phân loại và ý nghĩa của việc xác định đối tượng chứng minh trong
vụ án hình sự
+ Về phân loại đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự
Đối tượng chứng minh trong VAHS không phải là tập hợp của những
Trang 2821
sự kiện, tình tiết rời rạc, đơn lẻ mà là một hệ thống thống nhất và giữa chúng
có mối liên hệ chặt chẽ, có sự tác động, hỗ trợ lẫn nhau trong việc dựng lại toàn bộ diễn biến của vụ án cho nên không thể coi tình tiết nào quan trọng hơn tình tiết nào [75, tr 167] Tuy nhiên, để có nhận thức sâu sắc và đầy đủ về
vị trí, ý nghĩa của mỗi tình tiết cũng như của mỗi nhóm tình tiết phải chứng minh thì cần phải phân loại đối tượng chứng minh thành những nhóm theo những tiêu chí khác nhau và sự phân loại này chỉ có ý nghĩa về mặt khoa học Trong khoa học luật TTHS, hiện nay đã có nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu
và đưa ra quan điểm phân loại đối tượng chứng minh trong VAHS dựa trên những căn cứ nhất định, có thể kể đến một số tác giả: PGS TS Nguyễn Ngọc Chí [23, tr 235], PGS TS Trần Văn Độ [75, tr 166], TS Trần Quang Tiệp [89,
tr 92], TS Đỗ Thị Phượng [58, tr 79], v.v Về căn cứ phân loại đối tượng chứng minh, từ các công trình cho thấy, các tác giả đã phân loại đối tượng chứng minh trong VAHS thành những nhóm khác nhau dựa trên một trong
những căn cứ sau: i) Vị trí, ý nghĩa của những tình tiết phải chứng minh trong mối quan hệ với bản chất vụ án [19, tr 25], [84, tr 43]; ii) Vị trí, ý nghĩa của
các tình tiết cần phải chứng minh đối với việc giải quyết VAHS [58, tr 79];
iii) Ý nghĩa pháp lý hình sự của các tình tiết phải chứng minh đối với việc giải
quyết VAHS [75, tr 166]; iv) Mối quan hệ đối với bản chất vụ án [89, tr 92];
v.v…Ngoài những căn cứ trên, còn một số căn cứ khác có thể sử dụng để phân loại đối tượng chứng minh trong VAHS nhưng chưa thấy các tác giả đề cập đến trong các công trình nghiên cứu, như: Sự ghi nhận về mặt pháp lý; trách nhiệm của chủ thể tiếp cận đối tượng chứng minh; vai trò của đối tượng chứng minh trong việc làm sáng tỏ những vấn đề của vụ án; tính chất phổ biến của đối tượng chứng minh; v.v
+ Về ý nghĩa của việc xác định đối tượng chứng minh trong vụ án
hình sự
Trang 2922
Đối tượng chứng minh trong VAHS có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng đối với việc chứng minh tội phạm, được thể hiện ở chỗ, đối tượng chứng minh là công cụ định hướng cho hoạt động thu thập chứng cứ của các chủ thể có thẩm quyền THTT, đặc biệt là CQĐT (CQĐT căn cứ vào đối tượng chứng minh để xây dựng giả thuyết điều tra, xác định hướng thu thập chứng cứ của vụ án) Điều này đã được TS Đỗ Văn Đương chỉ ra: “Trong quá trình thu thập, đánh giá và sử dụng chứng cứ không phải ngay từ đầu chứng
cứ tự nó xác định đối tượng cần tìm mà chính những vấn đề phải chứng minh
sẽ quyết định phương hướng thu thập, đánh giá và sử dụng chứng cứ” [36, tr 20] Như vậy, có thể thấy, đối tượng chứng minh trong VAHS giúp cho hoạt động thu thập chứng cứ của các chủ thể tố tụng đi vào trọng tâm, đúng hướng, tránh việc thu thập chứng cứ bị lan man, mất phương hướng dẫn đến tình trạng vừa thừa, vừa thiếu chứng cứ hoặc chứng cứ không có giá trị chứng minh Qua
đó, giúp cho việc giải quyết VAHS được thực hiện nhanh chóng, kịp thời, đúng thời gian luật định, tránh hiện tượng bỏ lọt tội phạm và làm oan người vô tội, đồng thời còn giúp tiết kiệm tiền bạc của Nhà nước, thời gian, công sức của các chủ thể có thẩm quyền THTT, v.v…Vì vậy, để bảo đảm cho việc xác định đối tượng chứng minh trong VAHS thì đối tượng chứng minh cần phải được quy định trong luật TTHS Trong khoa học luật TTHS, có những tác giả đã nghiên cứu khá sâu sắc về ý nghĩa của việc xác định đối tượng chứng minh trong VAHS và đưa ra những nhận định cụ thể, chẳng hạn như: Khi nghiên cứu các quy định của pháp luật TTHS Việt Nam về đối tượng chứng minh, PGS.TS Nguyễn Ngọc Chí đã chỉ ra: “Đối tượng chứng minh được xác định là cơ sở của trách nhiệm hình sự” [23, tr 233], PGS.TS Trần Văn Độ đưa ra nhận định:
“Việc làm rõ đối tượng chứng minh có ý nghĩa quan trọng trong xác định đúng đắn phạm vi, giới hạn chứng minh” [75, tr 165] Hoặc trong công trình nghiên cứu “Chế định chứng cứ trong luật tố tụng hình sự Việt Nam”, TS Trần Quang
Trang 30Xác định đối tượng chứng minh trong VAHS là việc đầu tiên cần làm
và cũng là mục đích cuối cùng mà các chủ thể có thẩm quyền THTT mong muốn đạt được trong quá trình chứng minh VAHS Nói cách khác, việc xác định đúng và đầy đủ những vấn đề phải chứng minh trong VAHS vừa là mục tiêu, vừa là kết quả cần phải đạt được trong quá trình chứng minh vụ án Nếu xác định đúng và đầy đủ những vấn đề phải chứng minh thì việc giải quyết VAHS được khách quan, đúng quy định của pháp luật, trên cơ sở đó bảo vệ được quyền cũng như lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo và các chủ thể khác Trái lại, nếu xác định không đúng hoặc không đầy đủ đối tượng chứng minh trong vụ án thì việc giải quyết VAHS có thể dẫn đến sai sót, thậm chí làm oan người vô tội, bỏ lọt tội phạm Vì vậy, cần phải nghiên cứu thực tiễn xác định đối tượng chứng minh của các chủ thể có thẩm quyền THTT, qua đó thấy được những bất cập, hạn chế của việc xác định đối tượng chứng minh trong giai đoạn hiện nay và chỉ ra những nguyên nhân của sự bất cập, hạn chế đó Trong đó, những thiếu sót của pháp luật TTHS về đối tượng chứng minh đã dẫn đến những bất cập, hạn chế trong việc xác định đối tượng chứng minh trong VAHS như thế nào
Khi nghiên cứu về chứng cứ và chứng minh trong VAHS, đã có những tác giả nghiên cứu, xác định thực trạng quá trình chứng minh VAHS [25, tr 119], [39, tr 78]; thực trạng thu thập, đánh giá và sử dụng chứng cứ trong điều tra VAHS [35, tr 77]; thực tiễn hoạt động của các cơ quan THTT Việt Nam liên quan đến đối tượng chứng minh [84, tr 85] hoặc thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật TTHS về chứng cứ [4, tr 112]; v.v…Tác
Trang 3124
giả của những công trình này đã chỉ ra các nguyên nhân khác nhau, trong
đó có nguyên nhân do thiếu sót của pháp luật TTHS về chứng cứ và chứng minh đã dẫn đến những bất cập, hạn chế trong hoạt động chứng minh VAHS, trên cơ sở đó đưa ra những kiến nghị, giải pháp hoàn thiện pháp luật TTHS về chứng cứ và chứng minh Trong số các công trình kể trên, có luận văn thạc sĩ luật học của tác giả Tô Hữu Thông đề cập, nghiên cứu thực tiễn xác định đối tượng chứng minh trong quá trình giải quyết VAHS của các chủ thể tố tụng [84, tr 85], tuy nhiên công trình này nghiên cứu thực tiễn xác định đối tượng chứng minh ở cấp độ, phạm vi của một luận văn thạc sĩ, thời điểm nghiên cứu ngay sau khi Bộ luật TTHS năm 2003 có hiệu lực thi hành nên có những nguyên nhân chỉ ra không còn phù hợp trong giai đoạn hiện nay Do đó, vấn đề này cần phải tiếp tục được nghiên cứu để đưa ra kiến nghị, giải pháp định hướng hoàn thiện pháp luật TTHS Việt Nam về đối tượng chứng minh
1.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
1.2.1 Những công trình nghiên cứu đề cập đến vấn đề chứng minh trong vụ án hình sự
Ở bất kì quốc gia nào trên thế giới thì việc giải quyết VAHS đều phải được tiến hành thông qua hoạt động chứng minh Vì vậy, chứng minh VAHS không chỉ được quy định trong pháp luật các quốc gia mà còn được các nhà khoa học luật, luật gia ở các nước quan tâm nghiên cứu ở những cấp độ và hình thức khác nhau, như: Giáo trình, sách chuyên khảo, bài đăng trên các tạp chí chuyên ngành luật học, chuyên ngành điều tra tội phạm, v.v…Các công
trình này đề cập đến các nội dung sau:
- Về khái niệm, vị trí, ý nghĩa của chứng minh trong tố tụng hình sự
+ Về khái niệm của chứng minh trong tố tụng hình sự
Trang 3225
Về chứng minh trong TTHS, trên thế giới đã có nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu và bày tỏ quan điểm của mình ở những khía cạnh khác nhau Ở Trung Quốc, một nhà khoa học luật - GS.TS XiongQiuHong đã đưa ra khái niệm chứng minh trong TTHS như sau: Chứng minh trong tố tụng hình sự là hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng nhà nước và đương sự căn cứ vào thủ tục và yêu cầu theo quy định của pháp luật để đưa ra chứng cứ, sử dụng chứng
cứ để làm sáng tỏ sự việc thực tế, trình bày về chủ trương tố tụng với thẩm phán [142, tr 2] Quan điểm này được đông đảo các nhà luật học trong nước đồng tình, ủng hộ Ngoài quan điểm nêu trên, còn có những quan điểm khác về chứng minh trong TTHS, chẳng hạn như: Trong công trình nghiên cứu về luật học chứng cứ, GS TS BianJianLin đưa ra khái niệm chứng minh trong TTHS như sau: Chứng minh tố tụng giống như hoạt động khảo cổ ngược dòng thời gian, chỉ khác là công việc khảo cổ không bị hạn chế về thời gian còn chứng minh tố tụng bị giới hạn về thời hiệu tố tụng [129, tr 223] Bên cạnh đó, vấn đề chứng minh trong TTHS còn được một số tác giả Đài Loan, Trung Quốc (như: WuXunLong, ZhuShiYan) bàn luận ở những công trình nghiên cứu khác [130], [131] Ở Liên Xô cũ (liên bang Nga ngày nay), việc chứng minh VAHS bị chi phối bởi quan điểm biện chứng của chủ nghĩa Mác xít, theo đó chứng minh VAHS là quá trình nhận thức chân lý của vụ án Cụ thể, trong công trình nghiên cứu “Lý luận về chứng cứ tư pháp trong pháp luật Xô Viết”, GS.TS A.I.Vư-sin-xki viết: “Trong trình tự tố tụng, và cụ thể là trong trình tự chứng minh, có một phạm vi rộng lớn áp dụng những quy tắc của phương pháp biện chứng mác xít Việc điều tra nghiên cứu và giải quyết án kiện hình sự hoặc án kiện dân sự có quan hệ hữu cơ với việc nghiên cứu và nhận thức toàn diện các hiện tượng, các mối quan hệ giữa những hiện tượng ấy với nhau, những nguyên nhân đẻ ra những hiện tượng ấy ” [122, tr 343] Ở Anh, Mĩ và một số quốc gia khác đã có những công trình nghiên cứu về chứng cứ hình sự [125],
Trang 3326
[126], [127], [128] Trong các công trình này, các tác giả chủ yếu đề cập đến các nội dung như: Khái niệm chứng cứ, ý nghĩa của chứng cứ, phân loại chứng
cứ, đặc điểm của chứng cứ, sự phát triển của luật chứng cứ, vai trò của chứng
cứ, tiêu chuẩn của chứng cứ; chức năng của thẩm phán, bồi thẩm đoàn và tòa
án trong việc giải quyết VAHS, v.v Và trong số những công trình này, chưa thấy công trình nào đề cập, bàn luận về khái niệm chứng minh trong TTHS
+ Về vị trí, ý nghĩa của chứng minh trong tố tụng hình sự
Trong số các tác giả nước ngoài quan tâm nghiên cứu về chứng cứ và chứng minh trong TTHS, đã có những tác giả nghiên cứu khá sâu sắc về vị trí,
ý nghĩa của chứng minh trong TTHS Chẳng hạn như, trong công trình nghiên cứu luật học chứng cứ, GS TS luật học Trung Quốc BianJianLin cho rằng, chứng minh trong hoạt động tố tụng có một vị trí, ý nghĩa đặc biệt quan trọng
trong TTHS, được thể hiện ở những phương diện sau: Thứ nhất, nếu không có
hoạt động chứng minh thì những chứng cứ thu thập được sẽ mất đi ý nghĩa của nó và không có cách nào phát huy tác dụng của nó để giải quyết vụ án;
Thứ hai, chứng minh là phương pháp duy nhất để xác định sự thật của vụ án
đã phát sinh trong quá khứ thông qua các hoạt động cụ thể như thu thập, thẩm
tra, xác minh sự thật về vụ án; Thứ ba, nếu không có hoạt động chứng minh
thì không thể xác định được sự thật của vụ án, bởi vì chứng minh vụ án hình
sự chính là việc dùng chứng cứ để làm sáng tỏ mọi sự thật về vụ án; Thứ tư,
chứng minh là một bộ phận để hình thành nên hoạt động tố tụng, bởi nếu không có hoạt động chứng minh thì sẽ không xác định được sự thật của vụ án
và vì thế, hoạt động tố tụng của các cơ quan sau đó không thể tiến hành được [129, tr 219]
- Về nghĩa vụ chứng minh
Nghĩa vụ chứng minh VAHS cũng là một trong những vấn đề được nhiều tác giả nước ngoài quan tâm nghiên cứu Trên cơ sở các quy định của
Trang 3427
pháp luật TTHS và thực tiễn TTHS ở Trung Quốc, GS.TS XiongQiuHong cho rằng, nghĩa vụ chứng minh VAHS thuộc về cơ quan tố tụng nhà nước (cơ quan Công an tư pháp, Viện Kiểm sát và Tòa án) và đương sự tố tụng [142, tr 2] Cùng với quan điểm này, GS.TS WuXunLong (Đài Loan, Trung Quốc) cũng đưa ra nhận định rằng, ngoài phía chủ thể chứng minh là các cơ quan tố tụng đại diện cho nhà nước do pháp luật TTHS quy định thì bị cáo cũng có nghĩa vụ chứng minh VAHS [130, tr 327] Ở Liên Xô cũ, khi nghiên cứu lý luận về chứng cứ tư pháp trong pháp luật Xô Viết, GS.TS A.I.Vư-sin-xki cũng có nhận định tương tự: “Nếu nghĩa vụ chứng minh việc
tố cáo có đúng hay không là do người tố cáo đảm nhiệm, thì bị cáo hoặc người bị xét xử cũng không được miễn nghĩa vụ tương tự đối với những luận điểm do mình nêu lên để bào chữa cho mình” [122, tr 385] Ở Anh, quốc gia được coi là cái nôi của mô hình TTHS tranh tụng, vì vậy nghĩa vụ chứng minh VAHS thuộc về bên buộc tội Về nội dung này, một tác giả Liên Xô cũ khi nghiên cứu về lý luận chứng cứ của Vương quốc Anh đã đưa ra nhận định: “Ở Anh từ xưa trình tự tố tụng đã được tiến hành theo trình tự tranh luận, theo trình tự này người tố cáo có nghĩa vụ thu thập chứng cứ và đề xuất chứng cứ cho tòa án” [122, tr 383] Bên cạnh đó, tác giả cũng chỉ ra những trường hợp ngoại lệ, yêu cầu người bị buộc tội phải chứng minh: “Bị cáo phải chứng minh những sự việc mà mình đã viện dẫn để biện hộ cho mình, chẳng hạn như phải xác minh việc mình không có mặt ở hiện trường” [122, tr 195] Như vậy, từ các công trình cho thấy, các tác giả đều có điểm chung rằng, nghĩa vụ chứng minh VAHS thuộc về bên buộc tội Ngoài ra, người bị tình nghi hoặc bị cáo cũng có nghĩa vụ chứng minh đối với những vấn đề của vụ án mà mình đưa ra
- Về căn cứ chứng minh
Căn cứ chứng minh là một trong những nội dung chủ yếu được đề cập đến trong các công trình nghiên cứu của tác giả nước ngoài với những cấp độ
Trang 3528
và hình thức khác nhau Có thể kể đến một số công trình như: “The Law of Evidence” (sách) của tác giả I.H Dennis [125, tr 360]; “Criminal Evidence” (sách) của nhóm tác giả Richard May & Steven Powles [127, tr 3]; “Lý luận
về chứng cứ tư pháp trong pháp luật Xô Viết” (sách) của tác giả A.I.Vư-sin-xki [122, tr 352]; Luật học chứng cứ (sách) của tác giả BianJianLin [129, tr 228];
Tư duy lại về đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự (bài viết) của tác giả XiongQiuHong [142, tr 2]; v.v Từ nội dung các công trình cho thấy, các tác giả đều thống nhất rằng, chứng cứ là căn cứ để chứng minh đối tượng chứng minh trong VAHS Do vai trò và tầm quan trọng của chứng cứ đối với việc giải quyết VAHS mà vấn đề này đã được một số tác giả nước ngoài nghiên cứu khá sâu sắc Ở Liên Xô cũ, trong công trình nghiên cứu “Lý luận về chứng cứ tư pháp trong pháp luật Xô Viết”, GS TS A.I.Vư-sin-xki đã nghiên cứu, làm rõ chứng cứ trên phương diện lý luận với những nội dung sau: Khái niệm chứng cứ [122, tr 352], phân loại chứng cứ [122, tr 398], các loại chứng
cứ riêng biệt do pháp luật quy định [122, tr 410], trách nhiệm chứng minh trong TTHS [122, tr 381], v.v Ở Anh, Mĩ và một số nước khác, chứng cứ cũng đã được một số tác giả (I.H Dennis; Richard May; Steven Powles; Jean Francois Blanchette; v.v ) quan tâm nghiên cứu và làm rõ trên phương diện
lý luận, chỉ ra: Đặc điểm của chứng cứ [125, tr 11], [127, tr 135]; ý nghĩa và phân loại chứng cứ [127, tr 3]; vai trò và tiêu chuẩn của chứng cứ [125, tr 341], [127, tr 55]; sự phát triển của luật chứng cứ [125, tr 15]; v.v Ở Trung Quốc, vấn đề chứng cứ trong TTHS cũng đã có những tác giả đi sâu nghiên cứu và làm rõ trên phương diện lý luận với những nội dung chủ yếu sau: Lịch
sử phát triển của luật chứng cứ [129, tr 34]; khái niệm chứng cứ [129, tr 1 - 2]; phân loại chứng cứ [129, tr 190]; thẩm tra, đánh giá chứng cứ [129, tr 326]; v.v Từ các công trình này cho thấy, các tác giả đều có sự thống nhất rằng, chứng cứ là phương tiện (căn cứ) duy nhất để chứng minh đối tượng chứng minh Bên cạnh đó, các công trình này còn cho thấy, quan điểm về
Trang 3629
chứng cứ của tác giả các nước còn có sự khác nhau mà nguyên nhân là do họ sống dưới những chế độ chính trị khác nhau và theo những quan điểm chính trị khác nhau
1.2.2 Những công trình nghiên cứu đối tượng chứng minh trong vụ
án hình sự
Đối tượng chứng minh trong VAHS là một trong những nội dung đã được khá nhiều nhà khoa học luật, luật gia nước ngoài quan tâm nghiên cứu ở các cấp độ, các hình thức khác nhau như: Giáo trình, sách chuyên khảo, bài đăng trên các tạp chí chuyên ngành luật học, chuyên ngành điều tra tội phạm…Những công trình này đã đề cập đến các nội dung sau:
- Khái niệm và mối liên hệ giữa đối tượng chứng minh với chủ thể và biện pháp chứng minh
+ Về khái niệm đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự
Ở Trung Quốc, đã có một số tác giả quan tâm nghiên cứu và đưa ra quan điểm về đối tượng chứng minh trong VAHS, tiêu biểu là một số quan điểm sau: Tác giả BianJianLin cho rằng, TTHS dùng để truy cứu TNHS của
bị cáo Còn về sự thật là hành vi của bị cáo có CTTP hay không, tội này hay tội kia, tội nhẹ hay tội nặng, thì chính là đối tượng chứng minh trong TTHS Đối tượng chứng minh trong TTHS được quy định trong luật nội dung và luật hình thức [129, tr 231] Tác giả ChenYiYun và một số tác giả khác cho rằng, đối tượng chứng minh trong VAHS chỉ là sự thật được quy định trong luật nội dung
mà không bao gồm sự thật trong luật hình thức Nếu coi sự thật trong luật hình thức là đối tượng chứng minh thì trong luật TTHS, có thể tạo thành hậu quả là gán ghép nghĩa vụ chứng minh cho bị cáo đảm nhận, bởi vì có một số sự thật trong luật hình thức, chỉ bị cáo mới có thể tìm chứng cứ [129, tr 224] Từ các quan điểm nêu trên cho thấy, ở Trung Quốc các tác giả chưa có sự thống nhất về khái niệm đối tượng chứng minh và điều này đã được một tác giả khác của Trung Quốc, GS.TS XiongQiuHong xác nhận: Đối tượng chứng minh trong
Trang 3730
VAHS là vấn đề gây tranh cãi trong giới nghiên cứu về luật TTHS ở Trung Quốc, điểm tập trung tranh luận nằm trong phạm vi của đối tượng chứng minh trong VAHS Có học giả cho rằng, đối tượng chứng minh trong vụ án bao gồm
sự thật trong pháp luật nội dung, pháp luật thủ tục và luật chứng cứ; có học giả khác lại nhận định rằng, đối tượng chứng minh trong VAHS bao gồm sự thật trong pháp luật nội dung và pháp luật thủ tục; cũng có học giả lại thu hẹp phạm
vi của đối tượng chứng minh trong VAHS là chỉ bao gồm sự thật trong luật nội dung Trong đó, quan điểm thứ hai dường như đã trở lên thông dụng [142, tr 1]
Vì vậy, tác giả cho rằng, cần phải tư duy lại, nhận thức lại một cách nghiêm túc
về đối tượng chứng minh trong VAHS Với tư duy đó, tác giả đã chỉ ra, đối tượng chứng minh trong VAHS là “sự việc pháp luật quan trọng” Sự việc pháp luật quan trọng không chỉ là toàn bộ các sự kiện khách quan có liên quan đến vụ
án, phạm vi cụ thể của nó mà còn chịu sự chi phối bởi các chế định quan trọng,
có liên quan do luật nội dung, luật thủ tục và luật chứng cứ quy định để quy tội, đồng thời chịu sự kìm hãm của chủ trương tố tụng của hai bên tham gia tố tụng, hơn nữa còn phải chịu ảnh hưởng của cách thức tố tụng hình sự, v.v [142, tr 3]
Ở Liên Xô cũ, nội dung này cũng đã được một số tác giả quan tâm nghiên cứu Trong công trình nghiên cứu “Lý luận chứng cứ”, GS.TS M.X.X.trôgôvích đưa ra quan điểm về đối tượng chứng minh như sau: “Đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự là tổng hợp những sự kiện và tình tiết của vụ án phải được xác định bằng chứng cứ, để vụ án được giải quyết đúng đắn” [89, tr 83] Một tác giả khác đưa ra quan điểm về đối tượng chứng minh trong VAHS như sau: “Đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự là tất cả những gì phải xác định bằng chứng cứ để giải quyết đúng đắn vụ án” [39, tr 14] Từ các quan điểm nêu trên cho thấy, về khái niệm đối tượng chứng minh trong VAHS, các tác giả đã có sự thống nhất về các nội dung
sau: Thứ nhất, thống nhất về nội dung của đối tượng chứng minh, theo đó
Trang 3831
nội dung của đối tượng chứng minh trong VAHS “là tổng hợp những sự kiện, tình tiết” của vụ án hoặc “là tất cả những gì” của vụ án cần phải xác
định; Thứ hai, thống nhất về vị trí, vai trò của chứng cứ đối với việc làm
sáng tỏ VAHS, theo đó chứng cứ là phương tiện duy nhất để chứng minh đối
tượng chứng minh; Thứ ba, thống nhất về mục đích của việc xác định đối
tượng chứng minh, theo đó mục đích của việc xác định đối tượng chứng minh là nhằm giải quyết đúng đắn VAHS
Ở Anh, Mĩ đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về chứng cứ trong TTHS ở nhiều cấp độ, khía cạnh khác nhau, nội dung nghiên cứu chủ yếu là các nội dung như đặc điểm của chứng cứ, ý nghĩa và phân loại chứng cứ, vai trò và tiêu chuẩn của chứng cứ, sự phát triển của luật chứng cứ, v.v Tuy nhiên, do mục đích nghiên cứu, quan điểm chính trị, truyền thống pháp luật, thực tiễn TTHS nên các tác giả không đi sâu nghiên cứu đối tượng chứng minh trong VAHS và cũng vì thế, các tác giả không bận tâm nhiều đến việc xây dựng khái niệm đối tượng chứng minh trong VAHS
+ Về mối liên hệ giữa đối tượng chứng minh với chủ thể chứng minh và biện pháp chứng minh
Mối liên hệ giữa đối tượng chứng minh với chủ thể và biện pháp chứng minh đã được một số tác giả nước ngoài quan tâm nghiên cứu Cụ thể, trong công trình nghiên cứu về Luật học chứng cứ, GS TS BianJianLin (Trung Quốc) đưa ra nhận định: Đối tượng chứng minh có thể thành khái niệm trong luật tố tụng, đồng thời do luật chứng cứ điều chỉnh, là vì trong các mắt xích chứng minh tố tụng, nó có thể kết nối chủ thể chứng minh với các loại biện pháp chứng minh, làm cho toàn bộ các hoạt động chứng minh được tiến hành một cách có trật tự [129, tr 222] Trong công trình nghiên cứu “Tư duy lại về đối tượng chứng minh trong VAHS”, GS.TS XiongQiuHong đã chỉ ra: Cần phải cân nhắc mối quan hệ
Trang 3932
giữa nghiên cứu đối tượng chứng minh và các phạm trù khác của chứng minh tố tụng, đồng thời phải xem xét mối quan hệ với việc sử dụng hợp lý pháp luật trong quá trình tố tụng để nhận thức đúng đắn về đối tượng chứng minh Đối tượng chứng minh trong VAHS có thể phân thành ba bộ phận là sự việc thực tế của pháp luật nội dung, sự việc thực tế của pháp luật thủ tục và sự việc thực tế của luật chứng cứ, phân biệt riêng rẽ với luật hình sự, luật tố tụng hình sự và luật chứng cứ hình sự Tương ứng, chúng ta có thể biểu đạt đối tượng chứng minh là chủ thể chứng minh vận dụng phương pháp chứng minh nhất định để chứng minh sự việc pháp luật quan trọng cần phải chứng minh [142, tr 9] Từ các quan điểm này cho thấy, mối liên hệ giữa đối tượng chứng minh với chủ thể và biện pháp chứng minh là mối liên hệ do pháp luật quy định, trong đó chủ thể chứng minh sử dụng các biện pháp chứng minh để xác định đối tượng chứng minh trong VAHS
- Những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự
Là một trong những vấn đề quan trọng của TTHS nên những vấn đề phải chứng minh trong VAHS đã được nhiều nhà khoa học luật, luật gia nước ngoài quan tâm nghiên cứu, có thể kể đến một số công trình như: Lý luận chứng cứ (sách) của tác giả M.X.X.trôgôvích [89, tr 84], Chứng cứ luật học (sách) của tác giả BianJianLin [129], Đối tượng chứng minh trong luật TTHS (bài viết) của nhóm tác giả ChenGuangZhong và ZhuGuoYun [139], Đối tượng chứng minh quá trình gây án và CTTP (bài viết) của tác giả SunYuan [141], Tư duy lại về đối tượng chứng minh (bài viết) của tác giả XiongQiuHong [142], v.v
Ở Liên Xô cũ, trong công trình nghiên cứu Lý luận chứng cứ, GS.TS M.X.X.trôgôvích đã nghiên cứu, xác định: Đối tượng chứng minh trong VAHS bao gồm những sự kiện và tình tiết khác nhau, mà mỗi sự kiện, tình
Trang 4033
tiết nói riêng và tổng thể của chúng nói chung, đều phải được nghiên cứu, làm sáng tỏ một cách khách quan, đầy đủ, toàn diện và chính xác Nội dung chủ yếu của đối tượng chứng minh trong VAHS trước hết là CTTP Chính CTTP
cụ thể được quy định trong luật hình sự xác định ranh giới những sự kiện, tình tiết chủ yếu phải chứng minh của VAHS [89, tr 84] Ở Trung Quốc, những vấn đề phải chứng minh trong VAHS đã có một số tác giả quan tâm nghiên cứu và đưa ra những nhận định cụ thể Theo GS.TS BianJianLin, tố tụng hình
sự dùng để truy cứu TNHS đối với bị cáo Còn về sự thật là hành vi của bị cáo có CTTP hay không, tội này hay tội kia, tội nhẹ hay tội nặng, thì chính
là đối tượng chứng minh trong TTHS Đối tượng chứng minh trong TTHS được quy định trong luật nội dung và luật hình thức [129, tr 231] Một tác giả khác của Trung Quốc - GS.TS XiongQiuHong khi bàn luận về đối tượng chứng minh trong VAHS, từ phương diện pháp luật và những lập luận khoa học, tác giả đã đưa ra quan điểm của mình về những sự thật cần vận dụng chứng cứ để chứng minh là: Hành vi tố cáo có tồn tại hay không, có CTTP hay không, có đúng là bị cáo thực hiện hay không; Thời gian, địa điểm, phương thức, thủ đoạn, kết quả của hành vi thực tế, giữa hành vi và kết quả
có tồn tại quan hệ nhân quả hay không; Nhân thân bị cáo; Bị cáo có năng lực trách nhiệm hay không, hành vi của bị cáo là cố tình hay vô ý, động cơ và mục đích của hành vi; Khả năng miễn truy cứu TNHS có tồn tại hay không; Các tình tiết phạm tội nặng, nặng hơn, nhẹ, giảm nhẹ hoặc miễn xử phạt như thế nào; Các sự thật khác theo pháp luật quy định [142, tr 10] Ở Anh, Mĩ: Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu về lý luận chứng cứ [125], [126], [127], [128], v.v nhưng chưa thấy công trình nào đề cập đến những vấn đề phải chứng minh trong VAHS
Như vậy, những vấn đề phải chứng minh trong VAHS đã được khá nhiều tác giả nước ngoài quan tâm nghiên cứu, bàn luận ở những cấp độ và