Đóng góp của luận án Luận án có những đóng góp sau đây: + Góp phần nhận diện một cách hệ thống, toàn diện các nguồn sử liệu hóa về quy mô, cấu trúc của HTTL một cách tương đối đầy đủ tr
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của GS TS Nguyễn Quang Ngọc và TS Nguyễn Văn Sơn, các số liệu, kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận án là trung thực, khách quan và chưa từng được bảo vệ ở bất cứ học vị nào Tôi cũng xin cam đoan, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện Luận án đã được cảm ơn, các thông tin trích dẫn trong luận án đều rõ ràng về nguồn gốc
Hà Nội, ngày 10/12/2018
Tác giả luận án
Nguyễn Quang Hà
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trịnh thực hiện Luận án, tôi đã được GS.TS NGND Nguyễn Quang Ngọc và TS Nguyễn Văn Sơn hỗ trợ và tạo điều kiện cho công tác nghiên cứu tại Khu di sản Hoàng Thành Thăng Long - Hà Nội cũng như những chỉ dẫn quý báu
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến các thầy, cô, các nhà khoa học: PGS.TS Hoàng Hồng, PGS.TS Trần Kim Đỉnh, PGS.TS Phan Phương Thảo và nhiều thầy,
cô thuộc Khoa Lịch sử - Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội - nơi tôi được vinh dự làm nghiên cứu sinh
Tôi xin được tri ân đến các thầy PGS.TS Tống Trung Tín, PGS TS Bùi Văn Liêm (Viện Khảo cổ học), PGS.TS Trần Thị Vinh, PGS.TS Nguyễn Đức Nhuệ, PGS.TS Nguyễn Thị Phương Chi (Viện Sử học), thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam; PGS TS Vũ Văn Quân, TS Đỗ Thuỳ Lan, TS Đinh Thị Thuỳ Hiên (Khoa Lịch sử, Đại học Khoa học xã hội và Nhân Văn, ĐHQGHN); PGS TS Đào
Tố Uyên (Đại học Sư Phạm Hà Nội) và nhiều thầy, cô khác đã đóng góp cho tôi nhiều ý kiến quý báu Để hoàn thành luận án này, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến lãnh đạo Trung tâm bảo tồn di sản Thăng Long - Hà Nội - đơn vị nơi tôi được gắn bó suốt hơn mười năm qua đã tạo điều kiện cho tôi công tác nghiên cứu
và học tập
Đặc biệt, từ đáy lòng, tôi xin được cảm ơn đến Bố, Mẹ, anh, em ruột cùng
vợ, con - những người thân yêu nhất trong gia đình luôn động viên tinh thần to lớn cho tôi trong cuộc sống và công tác, học tập
Hà Nội, ngày 10/9/2019
Nguyễn Quang Hà
Trang 5CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN
ANCN An Nam chí nguyên
CMCB Cương mục chính biên tiết yếu
ĐHKHXHVN-
ĐHQGHN Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn - ĐHQGHN
ĐNTLCB Đại Nam thực lục chính biên
ĐVSKTB Đại Việt sử kí tiền biên
ĐVSKTT Đại Việt sử kí toàn thư
HTTL- HN Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội
KĐVSTGCM Khâm định Việt sử thông giám cương mục
LTHCLC Lịch triều hiến chương loại chí
VHLKHXHVN Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
VNCHN Viện nghiên cứu Hán Nôm
VSCB Việt sử chính biên
Trang 6VSL Việt sử lược
Trang 7MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 1
LỜI CẢM ƠN 2
CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN 3
MỤC LỤC 5
MỞ ĐẦU 9
1 Lý do chọn đề tài 9
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 10
2.1 Mục đích nghiên cứu 10
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 10
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10
3.1 Đối tượng nghiên cứu 10
3.2 Phạm vi nghiên cứu 10
4 Nguồn tài liệu 12
5 Phương pháp nghiên cứu 13
6 Đóng góp của luận án 14
7 Bố cục của luận án 15
Chương 1 17
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 17
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 17
1.1.1 Các nghiên cứu trước năm 2002 18
1.1.2 Các nghiên cứu từ năm 2002 đến nay 20
1.2 Khát quát kết quả của các công trình nghiên cứu và những vấn đề luận án tập trung nghiên cứu 35
1.2.1 Kết quả của các công trình nghiên cứu trước 35
1.2.2 Những vấn đề luận án cần tập trung nghiên cứu 37
Tiểu kết 37
Chương 2 40
Trang 8PHÂN LOẠI CÁC NGUỒN SỬ LIỆU VỀ QUY MÔ VÀ CẤU TRÚC HOÀNG
THÀNH THĂNG LONG THỜI LÝ - TRẦN - LÊ 40
2.1 Một số thuật ngữ, khái niệm 40
2.1.1 Khái niệm sử liệu 40
2.1.2 La Thành , thành Đại La , Kinh phủ , Đô hộ phủ , Cựu kinh 46
2.1 3 Đại Nội 47
2.1.4 Thăng Long thành (Long thành) 48
2.1.5 Long trì 49
2.1.6 Long thành và Phượng Thành 51
2.1.7 Cấm đình: 53
2.1.8 Cấm Thành , Cấm Nội , Cung Cấm 54
2.2 Nguồn sử liệu chữ viết 56
2.2.1 Nguồn sử liệu tử sử cũ 63
2.2.2 Nguồn sử liệu từ các nguồn thư tịch cổ khác 2.2.3 Nguồn sử liệu văn bia 70
2.2.4 Sử liệu địa chí 79
2.3 Nguồn sử liệu bản đồ 82
2.3.1 Bản đồ thời Lê 82
2.3.2 Bản đồ thời Nguyễn 84
2.4 Sử liệu vật thực 88
2.5 Nguồn sử liệu dân gian 103
Tiểu kết 109
Chương 3 112
Trang 9QUY MÔ VÀ CẤU TRÚC CỦA HOÀNG THÀNH THĂNG LONG THỜI LÝ
- TRẦN - LÊ QUA CÁC NGUỒN SỬ LIỆU 112
3.1 Vài nét về thành Đại La thuộc thời Đường 112
3.2 Quy mô, cấu trúc Hoàng thành Thăng Long thời Lý 113
3.2.1 Quy hoạch Kinh thành Thăng Long buổi đầu mới dời đô (1010) 114
3.2.2 Quy hoạch Hoàng thành Thăng Long vào thế kỷ XI, XII 117
3.2.3 Quy hoạch “Tân cung” năm 1203 - 1216 121
3.2.4 Chức năng của các điện thời Lý, “Điện” gắn với các nghi lễ, lễ hội tôn giáo 122
3.2.5 Thảo điện triều Lý 127
3.2.6 Chế độ Đông Cung Thái Tử và Đông Cung Thái Tử thời Lý 129
3.2.7 Chức năng của các công trình trong Cấm thành Thăng Long 130
3.2.8 Thiên tai và nguyên nhân của sự bị phá hủy các công trình kiến trúc trong Hoàng thành Thăng Long 135
3.2.9 Số lượng, loại hình các công trình khác trong Cấm thành và Hoàng thành Thăng Long 137
3.2.10 Sân Long Trì và việc thiết kế không gian 145
3.2.11 Các công trình phục vụ tín ngưỡng, tôn giáo và văn hóa tinh thần 148
3.2.12 Không gian sinh thái và cảnh quan thời Lý 150
3.3 Quy mô, cấu trúc Hoàng thành Thăng Long thời Trần (1225 - 1400) 158
3.3.1 Quy mô Hoàng thành Thăng Long thời Trần qua các lần trùng tu, xây dựng 158
3.3.2 Đông Cung Thái Tử thời Trần 161
3.3.3 Điện thời Trần 164
3.3.4 “Cung” thời Trần 166
3.3.5 Các “Cửa” thời Trần 170
3.3.6 Không gian sinh thái: Ao, hồ, cầu, vườn trong Cấm Thành thời Trần 171 3.4 Quy mô và cấu trúc của Hoàng Thành Thăng Long thời Lê 172
3.4.1 Khu vực chính điện của Hoàng thành Thăng Long 173
Trang 103.4.2 Khu vực trong Cấm thành 175
3.4.3 Các điện thời Lê 177
3.4.4 Các “cung” thời Lê 181
3.4.5 “Cửa” trong Hoàng thành Thăng Long thời Lê 183
3.4.6 Các công trình kiến trúc, xây dựng trước sự tàn phá của chiến tranh và thiên tai 184
4.7.7 Khu vực phía Tây Hoàng thành 186
Tiểu kết 189
KẾT LUẬN 194
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ 198
LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 198
TÀI LIỆU THAM KHẢO 199
PHẦN PHỤ LỤC 237
Phụ lục I: Hệ thống bảng thống kê số liệu các công trình thời Lý - Trần - Lê 241
Phụ lục II: Sơ đồ về quy mô, cấu trúc thời Lý - Trần - Lê 284
Phụ lục III: Sử liệu thư tịch Hán nôm cổ 298
Phụ lục 4: Sử liệu ảnh 307
Phụ lục V: Sử liệu ảnh di tích, di vật Khảo cổ học 312
Phụ lục VI: Sử liệu thư tịch cổ ghi về điển chế trong HTTL 316
Phụ lục VII: Văn bia đề cập đến Tứ trấn, Kinh thành và Hoàng thành Thăng Long thời Lý - Trần - Lê 322
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hoàng Thành Thăng Long (HTTL) có giá trị nổi bật toàn cầu bởi chính nơi đây là sự hiện diện của sự hài hòa các phong cách kiến trúc châu Á, các kỹ thuật xây dựng, quy hoạch đô thị, của sự kết nối, giao lưu văn hóa của nhiều nước trong khu vực Đông Nam Á, của sự giao lưu giữa phương Đông và phương Tây Trải qua hơn 1.300 năm lịch sử, kinh đô Thăng Long giữ vai trò gần như liên tục của một trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa kể từ thời thuộc Đường với tên gọi Đại La - thuộc An Nam đô hộ phủ cho đến suốt thời Lý - Trần - Lê kể cả thời thuộc Pháp và thời đại Hồ Chí Minh HTTL từ nhiều thập kỷ nay đã được giới nghiên cứu quan tâm, lý giải dưới nhiều giác độ khác nhau: như nghiên cứu về quy mô, giới hạn, vật liệu kiến trúc, về các di tích thời thuộc Pháp, về mỹ thuật Lý, Trần, Lê…
Tuy nhiên với mỗi một vấn đề nghiên cứu, các tác giả chưa có điều kiện quan tâm, nghiên cứu và đánh giá toàn diện về nguồn sử liệu, đặc biệt là tiến hành nghiên cứu một cách toàn diện, liên ngành qua các nguồn sử liệu như: Nguồn sử liệu khảo cổ, nguồn sử liệu thư tịch Hán Nôm cổ, nguồn tư liệu bản đồ cổ, nguồn tư liệu thực địa gắn liền với các di tích hiện còn trên mặt đất Nghiên cứu về HTTL tuy
đã có nhiều đề tài đề cập, nhưng tiến hành tìm hiểu một cách quy mô, trên nhiều giác độ thì ít có công trình nào nghiên cứu toàn diện Như vậy, HTTL cần được nghiên cứu nhiều hơn, công phu hơn nhằm làm sáng tỏ nhiều vấn đề khoa học và phát huy giá trị của di sản Đề tài của chúng tôi sẽ cố gắng khắc phục những vấn đề
mà những người đi trước chưa có điều kiện đi sâu tìm hiểu, phê phán, phân tích, đánh giá nguồn sử liệu về HTTL một cách đầy đủ, chính xác Đặc biệt, chúng tôi đặt các nguồn sử liệu bên cạnh nhau để tiến hành đối chiếu, so sánh, trực tiếp khai thác những tư liệu gốc là tư liệu thư tịch cổ, bản đồ cổ, bi ký và đặc biệt là đối chiếu với nguồn sử liệu vật thực thu thập được trong quá trình khai quật khảo cổ để đi đến những nhận xét khoa học, khách quan về những vấn đề sử liệu liên quan đến Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội (HTTL - HN)
Trang 122 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
- Khảo sát toàn bộ các nguồn sử liệu về quy mô, cấu trúc của HTTL được sản sinh trong các triều đại Lý - Trần - Lê và các thời kỳ sau có liên quan
- Phân loại các nguồn sử liệu về quy mô, cấu trúc của HTTL Phân tích các đặc điểm bên ngoài của sử liệu, chỉ rõ: niên đại, địa điểm hình thành, tác giả và vật mang tin, qua đó xác định về tính xác thực của nguồn sử liệu
- Khái quát các thông tin lịch sử về quy mô, cấu trúc HTTL thời Lý, Trần, Lê trong các nguồn sử liệu
- Nhận xét, đánh giá các nguồn sử liệu về quy mô, cấu trúc của HTTL, từ đó đưa ra các kiến nghị và giải pháp để phát huy giá trị nguồn sử liệu
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là các nguồn sử liệu về quy mô, cấu trúc của HTTL thời Lý - Trần - Lê gồm:Tư liệu thư tịch cổ, bản đồ cổ, tư liệu Khảo cổ học, các tư liệu điền dã dân gian, thực địa Các sử liệu được sản sinh trong thời kỳ Lý - Trần -
Lê là đối tượng nghiên cứu chính Ngoài ra, một số sử liệu ra đời ở giai đoạn sau nhưng quan tọng trong việc nghiên cứu quy mô, cấu trúc HTTL thời Lý - Trần - Lê thì cũng được luận án tiếp cận
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Giới hạn thời gian nghiên cứu
Trang 13Luận án tiếp cận chủ yếu đến các nguồn sử liệu sản sinh trogn thời gian tồn tại của các triều đại Lý- Trần- Lê (Thế kỷ XI - XVIII) Ngoài ra, trong một số trường hợp để làm rõ nội dung nghiên cứu, luận án sẽ mở rộng nghiên cứu của một
số sử liệu xuất hiện đến thời kỳ Cận đại Việt Nam
Giới hạn không gian nghiên cứu
Không gian nghiên cứu chính của luận án là khu vực HTTL, nơi phát lộ nhiều sử liệu quan trọng góp phần quyết định nhận diện cấu trúc Hoàng thành Thăng Long thời kỳ Lý- Trần- Lê
Ngoài ra, một số sử liệu phản ánh trực tiếp hoặc gián tiếp quy mô, cấu trúc Hoàng thành Thăng Long nằm rải rác trong các địa điểm khác nhau trên đất nước Việt Nam được đề cập đến
Giới hạn nội dung nghiên cứu
Đề tài “Các nguồn sử liệu về quy mô cấu trúc của Hoàng thành Thăng Long” thời Lý - Trần - Lê bao gồm các nguồn sử liệu: Nguồn sử liệu chữ viết (bao gồm sử liệu thư tịch, sử liệu bi kí (kim thạch học); sử liệu bản đồ, sử liệu dân gian và nguồn
sử liệu vật thực Trong nguồn sử liệu vật thực cũng bao gồm rất nhiều loại khác
nhau như: nghiên cứu về nguồn sử liệu chữ viết (bao gồm sử liệu sử cũ, nguồn sử
liệu thác bản, văn khắc);
Trong nghiên cứu về nguồn sử liệu chữ viết, chúng tôi chú trọng đến nguồn thư tịch cổ, nguồn sử liệu văn bia cũng là một trong những nguồn sử liệu chữ viết tin cậy để so sánh, đối chiếu và bổ sung cho nguồn sử liệu chữ viết trong thư tịch cổ còn thiếu sót hoặc chưa có điều kiện đề cập
Nghiên cứu nguồn sử liệu vật thực: di tích, di vật (vật liệu kiến trúc, đồ sinh
hoạt như đồ ngự dụng (mang tính chất hoàng cung), và vật dụng dân gian, nghiên cứu di cốt người, di cốt động vật, nghiên cứu cổ sinh vật, môi trường, nghiên cứu nguồn sử liệu bản đồ và các nguồn sử liệu dân gian
Tất nhiên, thao tác phân chia nguồn sử liệu chữ viết và nguồn sử liệu vật thực chỉ có ý nghĩa tương đối Có những sử liệu vừa là chữ viết vừa là vật thực như những bài văn được khắc trên bia đá hay những thông tin về tên của các cung điện
Trang 14được ghi trên đồ gốm sứ thời Lý, thời Lê sơ hay tên của các phiên đội thời Lê được ghi trên gạch vồ thời Lê Trung hưng đều là nguồn sử liệu chữ viết đồng thời cũng là
sử liệu vật thực
4 Nguồn tài liệu
Để nghiên cứu đề tài này, chúng tôi tập trung vào hai nguồn sử liệu chính là: nguồn sử liệu chữ viết và nguồn sử liệu vật thực
Về nguồn sử liệu chữ viết, chúng tôi tập trung vào các tác phẩm cổ sử do các
nhà sử học thời Trần và thời Lê biên soạn như: Việt sử lược (khuyết danh đời Trần), Đại Việt sử kí toàn thư (của Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê), Đại Việt sử kí tiền biên và các tác phẩm khác của các nhà sử học thời Lê và thời Nguyễn như: Lê Quý
Đôn, Phan Huy Chú
Trong nguồn sử liệu chữ viết nguồn sử liệu văn bia cũng được coi là một trong những nguồn sử liệu quan trọng trong nghiên cứu về quy mô và cấu trúc về HTTL Nguồn sử liệu này tuy không trực tiếp đề cập đến quy mô, cấu trúc của HTTL nhưng đã gián tiếp đề cập đến 2 phương diện: Phương diện thứ nhất là xác định vị trí của Hoàng thành (trong tương quan với các di tích xung quanh) và tên của một số cung điện trong Cấm thành Thăng Long từng là nơi diễn ra các cuộc thi Điện thí, Đình thí thời Lê (ghi trên bia Đề danh tiến sĩ tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám Hà Nội)
Nguồn tài liệu nghiên cứu về HTTL là những vật thực rất đa dạng, phong phú: hiện vật gạch, ngói, đất nung, gốm sứ, gỗ, di cốt người, xương động vật, các tài liệu về địa chất, môi trường được tác giả sử dụng từ kết quả khai quật KCH từ HTTL Đây là những tài liệu không thể thiếu được để nghiên cứu về HTTL một cách toàn diện Các nguồn sử liệu này có vai trò dùng để so sánh và kiểm chứng lẫn nhau, bổ sung cho nhau
Bên cạnh nguồn sử liệu chữ viết và nguồn sử liệu vật thực, nguồn sử liệu bản
đồ và nguồn sử liệu dân gian cũng góp phần quan trọng trong việc nghiên cứu về quy mô và cấu trúc của HTTL Nếu như các nguồn sử liệu chữ viết miêu tả về quy
mô, cấu trúc HTTL một cách trừu tượng, khó hiểu thì sử liệu bản đồ lại hiện hữu
Trang 15với những hình khối, đường nét cụ thể Người đọc có thể căn cứ vào đó để dễ dàng hình dung được quy mô, cấu trúc Hoặc nguồn sử liệu vật thực nhiều khi không kèm theo những thông tin cụ thể nên khó có thể đưa đến một cách hiểu duy nhất Tuy nhiên, với mỗi một nguồn sử liệu lại có những ưu điểm và nhược điểm khác nhau, không một nguồn sử liệu nào có thể thay thế cho nguồn sử liệu nào, chúng đều có vai trò nhất định và bổ sung cho nhau Người nghiên cứu rất cần khai thác tối đa các thế mạnh của các nguồn sử liệu này để so sánh, đối chiếu nhằm đưa lại kết quả nghiên cứu một cách khách quan và khoa học
5 Phương pháp nghiên cứu
Tác giả tiến hành phương pháp nghiên cứu sử liệu học, nghiên cứu tổng hợp, kết hợp nhiều phương pháp khác nhau như: Phương pháp phân tích, đối chiếu, phương pháp nghiên cứu văn bản học, phương pháp thống kê, định lượng, phương pháp nghiên cứu liên ngành, liên văn bản và phương pháp nghiên cứu khu vực học
Phương pháp nghiên cứu văn bản cũng là một phương pháp quan trọng không thể thiếu trong luận án như so sánh tư liệu văn bia với tư liệu trong sử cũ; so sánh giữa các tài liệu sử cũ với nhau và thậm chí so sánh giữa nguyên bản với bản dịch tiếng Việt để thấy được sự tương đồng hay độ chênh giữa nguyên bản chữ Hán
Trang 16với bản dịch tiếng Việt Phương pháp so sánh giữa các nguồn sử liệu với nhau cũng được áp dụng như: nghiên cứu bản đồ với sử liệu thư tịch, nghiên cứu sử liệu thư tịch với nghiên cứu so sánh sử liệu vật thực
Phương pháp thống kê cũng là một phương pháp tối ưu để nghiên cứu những tài liệu số đông như: Tên các cung, điện, lầu, gác, vườn, ao, cửa của HTTL Đặc biệt những công trình này thường xuyên được trùng tu, xây dựng với số lượng lên đến hàng trăm công trình, trải dài suốt mấy thế kỷ, lại ghi chép rất tản mát, rời rạc trong các bộ chính sử nên rất khó theo dõi Vì thế, việc thống kê thành các biểu bảng như: Tên gọi, năm xây dựng, trùng tu, xuất xứ nguồn, sự kiện, bối cảnh, nguồn trích dẫn không thể thiếu được Qua bảng thống kê, có thể nắm bắt được quá trình, diễn biến của việc xây dựng trùng tu các công trình trong HTTL
Những phương pháp trên đều phải tuân thủ theo phương pháp thực chứng (Positivisme), tiệm cận chân lý khách quan Tất cả các phương pháp này được xây dựng trên cơ sở lý thuyết chung của phương pháp duy vật biện chứng và phương pháp duy vật lịch sử, tức là đặt đối tượng trong một bối cảnh cụ thể, trong một sự vận động và phát triển cụ thể của Lịch sử Việt Nam, của HTTL trong suốt chiều dài lịch sử từ thời Lý - Trần - Lê
6 Đóng góp của luận án
Luận án có những đóng góp sau đây:
+ Góp phần nhận diện một cách hệ thống, toàn diện các nguồn sử liệu hóa về quy mô, cấu trúc của HTTL một cách tương đối đầy đủ trên nhiều giác độ: Sử liệu chữ viết, sử liệu vật thực, bản đồ, địa chất, văn hóa dân gian (Folklore)…
+ Phân loại, chỉ rõ giá trị của từng nguồn sử liệu trong nghiên cứu về quy
mô, cấu trúc của HTTL thời Lý - Trần - Lê
+ Phân tích các nguồn sử liệu gốc, xác định độ tin cậy của các nguồn, đánh giá vai trò của chúng trong việc nghiên cứu quy mô, cấu trúc của HTTL dưới thời đại Lý - Trần - Lê;
+ Luận án cung cấp những thông tin đa chiều từ nhiều nguồn cho việc nghiên cứu, đánh giá về HTTL nói chung và việc nghiên cứu về quy mô và cấu trúc của
Trang 17HTTL nói riêng Các tư liệu của luận án góp phần trực tiếp cho việc nghiên cứu, tìm hiểu, thuyết minh trong di tích HTTL cũng như việc quảng bá di sản
+ Từ việc nghiên cứu, đánh giá các nguồn sử liệu, đưa ra nhận xét về những nguồn sử liệu liên quan đến quy mô, cấu trúc của HTTL thời Lý - Trần - Lê Từ những nghiên cứu về sử liệu HTTL, luận án góp phần nhận diện về quy mô, cấu trúc của HTTL thời Lý - Trần- Lê
7 Bố cục của luận án
Luận án ngoài phần Mở đầu và Kết luận gồm có 3 chương:
Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương này, tác giả tập trung phân tích những quan điểm chính nhận thức về Hoàng Thành, Cấm Thành Thăng Long qua các giai đoạn lịch sử của các nhà khoa học trong nước cũng như ngoài nước Tác giả chia làm 2 chặng đường nghiên cứu - nhận thức về Hoàng Thành Thăng Long thông qua thời điểm phát lộ Hoàng Thành Thăng Long năm 2002 của giới Khảo cổ học đồng thời cũng trình bày về các hướng nghiên cứu Hoàng Thành Thăng Long của một số nhà sử học, khảo cổ học…Chương này cũng đã trình bày về các phương pháp nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu một cách rành mạch, rõ ràng được thể hiện trong luận án
Chương 2: Phân loại các nguồn sử liệu về quy mô và cấu trúc Hoàng Thành Thăng Long thời Lý - Trần - Lê;
Trong chương này, luận án sẽ đi vào việc phân tích khái niệm sử liệu, cách phân chia các nguồn sử liệu cụ thể đối với các nguồn sử liệu ở HTTL: Sử liệu vật thực, sử liệu chữ viết, sử liệu dân gian Do HTTL là di tích đặc biệt, từng là trung tâm quyền lực, kinh tế, chính trị của nhiều triều đại nên tại đây đã tập trung các nguồn sử liệu chữ viết trong đó có nguồn sử liệu trong chính sử, thư tịch cổ Hán Nôm, bản đồ; nguồn sử liệu vật thực được phân chia thành nhiều chủng loại: nguồn
sử liệu vật thực có chữ viết, nguồn sử liệu vật thực không có chữ viết, vật thực có văn tự, vật thực có hoa văn, biểu tượng; hiện vật lại được phân chia theo chất liệu:
gỗ, di cốt người, xương động vật, địa chất, môi trường, cảnh quan và cuối cùng là nguồn sử liệu dân gian với truyền thuyết, thơ văn, câu đối
Trang 18Chương 3: Quy mô và cấu trúc Hoàng Thành Thăng Long thời Lý - Trần -
Lê qua các nguồn sử liệu
Trong chương này, luận án tập trung trình bày về quá trình xây dựng, trùng
tu của Hoàng thành và Cấm Thành Thăng Long từ thời Lý qua thời Trần và đến thời
Lê Phần này đã tập hợp, phân tích về số lượng, sự phân bố vị trí, công năng sử dụng của hầu hết các công trình trong Cấm Thành và Hoàng Thành như: Các Cung, điện, lầu, gác, cổng, cửa, vườn, ao, hồ Các công trình tâm linh như: Đền, đài, chùa, quán Đạo Việc nghiên cứu về quy mô, cấu trúc cũng không thể không trình bày về việc xây dựng khu vực “Tân cung” gắn liền với nhiều biến cố lịch sử Bên cạnh đó, luận án cũng phân tích, chứng minh về sự hiện diện của các cung “Quan Triều”, cung “Thánh Từ”, “Đông Cung Thái Tử” mang đặc trưng độc đáo thời Trần Điểm nổi bật và ấn tượng là các công trình trong Hoàng Thành và Cấm thành phần lớn đều gắn với môi trường thiên nhiên, ao, hồ, vườn tược rất hài hòa mang phong cách kinh thành phương Đông cổ truyền
Thời Lê với nhiều điện lớn được xây dựng trong khoảng từ thời Lê Nhân Tông đến thời Lê Thánh Tông Tác giả cũng đã trình bày về sự tàn phá của một
số cung điện vào thời Lê Trung hưng và khu vực phía Tây của Hoàng Thành Thăng Long Qua việc nghiên cứu các nguồn sử liệu Hoàng Thành Thăng Long thời Lý - Trần - Lê cho thấy, HTTL trải qua nhiều biến cố với biết bao thăng thầm và có sự đổi thay nhiều về quy mô, cấu trúc với những đặc điểm riêng của mỗi thời kỳ lịch sử
Trang 19Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Từ lâu, HTTL đã được giới nghiên cứu quan tâm, tìm hiểu Việc nghiên cứu
về HTTL đã được đặt ra từ rất sớm Ngay từ những thập kỷ 60 - 70 của Tk XX, nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam và nước ngoài đã đặt vấn đề về vị trí, quy mô, giới hạn của HTTL, nghiên cứu về vị trí của núi Nùng, núi Sưa ở đâu… đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm lý giải Cuối thập kỷ 90 của Tk XX, các nhà khảo cổ học
đã tiến hành khai quật với quy mô nhỏ ở các vị trí Đoan Môn, Hậu Lâu bước đầu tìm thấy di tích kiến trúc cổ thời Lý - Trần - Lê Di tích khai quật với diện tích nhỏ này hiện nay vẫn được bảo tồn để trưng bày ngoài trời phục vụ khách tham quan và các nhà nghiên cứu Kể từ cuối thập kỷ 90 của Tk XX, di tích Thành cổ bắt đầu được giới khoa học và dư luận quan tâm Nhưng phải đến khi thực sự phát lộ khu di tích 18 Hoàng Diệu (2002), thì vấn đề nghiên cứu về HTTL mới trở thành một đề tài thu hút sự quan tâm của đông đảo các nhà sử học nói riêng và các nhà văn hóa học, khoa học xã hội nói chung
Cho đến nay, số lượng các công trình khoa học nghiên cứu về HTTL lên đến hàng trăm bài, liên quan đến nhiều lĩnh vực nghiên cứu như: Khảo cổ học, Hán Nôm học, Sử học, Văn hóa học, Môi trường học, Sử liệu học, Kiến trúc, Điêu khắc
…Tuy nhiên, những lĩnh vực nghiên cứu trên hầu hết được tiến hành theo phương pháp của một chuyên ngành chuyên biệt nhất định mà chưa có những nghiên cứu về
sử liệu học về quy mô cấu trúc HTTL
HTTL nằm trong một vùng đất cổ của vùng đồng bằng châu thổ Sông Hồng
có lịch sử định cư, khai phá của con người cách đây mấy ngàn năm Tại khu vực Đàn Xã Tắc, gần HTTL đã từng phát hiện dấu tích cư trú của cư dân văn hóa Phùng Nguyên Theo GS Phan Huy Lê: “Khu di tích nằm trong địa bàn trung tâm lịch sử
và văn hóa thủ đô Hà Nội Trong khu vực này, khảo cổ học đã phát hiện dấu tích cư trú sớm nhất của con người qua di tích văn hóa Phùng Nguyên tại lớp dưới của di tích đàn Xã Tắc (Đống Đa, Hà Nội) có niên địa khoảng giữa thiên niên kỳ II BC,
Trang 20trên một gò đất cao” [111 ; 11] Trải qua nhiều giai đoạn lịch sử, khu vực Hà Nội là nơi tụ cư, sinh sống của nhiều tầng lớp cư dân Thăng Long - Hà Nội cũng là cái nôi của nền văn minh Sông Hồng TRong giai đoạn 1000 năm Bắc thuộc, Thăng Long-
Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của nhà nước độc lập thời Lý Nam Đế với thành Vạn Xuân, rồi phủ thành Tống Bình, An Nam Đô Hộ Phủ thời
Đường (Tk VII - IX) và trực tiếp là thành Đại La của Cao Biền Chiếu dời đô của
Lý Thái Tổ đã viết: Hống chi thành Đại La ở vào vị trí trung tâm của trời đất, đúng
vị trí Nam, Bắc, Đông, Tây, tiện thế rồng cuộn hổ ngồi…
Quá trình sử dụng các nguồn sử liệu để nghiên cứu về quy mô kiến trúc HTTL có thể chia làm 2 giai đoạn: Giai đoạn trước khi phát lộ lớn về khu khai quật
18 Hoàng Diệu (trước 2002) và giai đoạn 2 sau khi phát hiện khu vực 18 Hoàng Diệu (từ 2002 đến nay)
- Các nghiên cứu từ đầu cho đến trước 2002
- Các nghiên cứu từ năm 2002 đến nay
1.1.1 Các nghiên cứu trước năm 2002
Các nghiên cứu về quy mô, cấu trúc của HTTL có thể kể đến những nghiên cứu tương đối sớm thuộc về các học giả người Pháp Như chúng ta đã biết, thành
Hà Nội bị phá hủy để xây dựng các khu phố xung quanh như đường Hoàng Diệu (Khi đó là đường VictoHuygo), đường Phan Đình Phùng (khi đó là đường Casno),
để rồi các dấu tích của thành Hà Nội vĩnh viễn không còn nữa ngoài một vài điểm
di tích như Cột cờ (phía Nam) và dấu tích thành Cửa Bắc đường Phan Đình Phùng (phía Bắc) Trong thời gian nửa đầu Tk XX có các nghiên cứu của Barbonneau, L
Bezacier trong cuốn sách nổi tiếng Le Art Vietnamien - Nghệ thuật Việt Nam, xuất
bản năm 1955, tác giả đã so sánh những di vật tìm thấy trong Nội thành Hà Nội và khu vực Quần Ngựa với những hiện vật thời Lý được tìm thấy tại một số địa điểm ở tỉnh Bắc Ninh Song, tác giả có một nhầm lẫn về mặt thuật ngữ và niên đại, các sản phẩm thời Lý - Trần tìm thấy ở khu vực thành Hà Nội nhưng L Bezacier đã gọi bằng thuật ngữ chung là “Nghệ thuật Đại La” (Tk IX - XI) Riêng về vị trí cung điện của triều Lý và triều Trần, các ý kiến của Parmentier và Mercier cho rằng các
Trang 21cung điện thời Lê được làm chồng lên trên các di tích cung điện thời Lý, Trần Còn khu vực phía Tây HTTL là khu vực Quần Ngựa có thể là các cung (Hí cung) (Palais
de Plaisance) của Hoàng đế
Tiếp sau các nhà nghiên cứu người Pháp, GS Trần Quốc Vượng trogn bài viết: “Địa lý lịch sử miền Hà Nội (trước thế kỷ XI) [216] đăng trên tạp chí NCLS đã nghiên cứu một loạt các thành Long Biên, Tống Bình, Đại La của Cao Biền Riêng
về quy mô thành Đại La, GS Trần Quốc Vượng cho rằng: “Chu vi của thành khoảng
6 km2, vậy nó chiếm một diện tích vào khoảng trên dưới 2 km², trung tâm đại để có thể là miền Quần Ngựa, mặt Tây giáp sông Tô Lịch, mặt Bắc giáp sông Hồng, phía Đông có thể tới gần vườn Bách Thảo ngày nay, phía Nam có thể tới đường Đội Cấn ngày nay [216; 47- 57] Như vậy, vào thời điểm năm 1959, GS Trần Quốc Vượng cho rằng trung tâm của thành Đại La có thể là khu vực Quần Ngựa chứ không phải
là khu vực HTTL hiện nay Về vị trí của trung tâm thành Lũy thời thuộc Đường, GS Trần Quốc Vượng viết: “Trong tình hình hiện nay, chưa có thể xác định một cách chắc chắn các thành lũy nói trên của đời thuộc Đường” Cuối bài viết, GS Trần Quốc Vượng cho rằng: Để việc giao thông cho thuận tiện, đặc biệt sau khi sông Tô Lịch bị cạn… “Cuối cùng đến đời Lê người ta đã phải dời thành về phía Đông thành Đại La (Thăng Long) cũ, tức là thành ngày nay, góc Đông Bắc của thành cắt với con đê cũ của Hà Nội Như vậy, để cho Kinh thành ở ngay cạnh sông, giao thông cho dễ dàng” [216; 47- 57 ]
Trong những năm đầu thập kỷ 60 của Tk XX, nhiều nhà nghiên cứu như: Biệt Lam Trần Huy Bá, Trần Quốc Vượng, Vũ Tuấn Sán… đã để tâm nghiên cứu
về vị trí Thành Hà Nội và các di tích núi Cung, núi Nùng, Núi Sưa… tạo cho không khí học thuật khá sôi nổi
Các cuộc khai quật khảo cổ học tại các địa điểm khác thuộc khu vực ngoài HTTL (hiện nay) đã được các nhà khảo cổ học tiến hành ở nhiều nơi như ở Tây Nam núi Cung (1970- 1971); Đồng Gạch - Đồng Giếng (1972); khu vực Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh (1973), thám sát khu vực chùa Chân Giáo (1978), khai quật chữa cháy ở khu vực Ngọc Khánh … Đặc biệt là khai quật thăm dò với
Trang 22diện tích nhỏ khu vực Đoan Môn, Hậu Lâu, Bắc Môn đã tìm thấy nhiều hiện vật quý thời Lý - Trần - Lê với chân tảng, đồ gốm sứ, đường đi lát gạch hoa chanh gây sự quan tâm cho các nhà nghiên cứu Tuy nhiên, về quy mô, cấu trúc HTTL chưa được nghiên cứu nhiều
1.1.2 Các nghiên cứu từ năm 2002 đến nay
Ngay từ khi phát lộ khu di tích HTTL, các cơ quan chức năng đã tổ chức nhiều cuộc Tọa đàm, Hội thảo tập trung đông đảo các nhà Khoa học của cả nước đầu tư công sức, trí tuệ nghiên cứu Các cuộc hội thảo do Viện Khoa học xã hội Việt Nam, Bộ Văn hóa Thông tin và Bộ Xây dựng tổ chức Đặc biệt là Hội nghị Khoa học Toàn quốc do Viện Khoa học Xã hội Việt Nam tổ chức ngày 19 - 20/8/2004, Hội thảo Tư vấn Quốc tế do Viện Khoa học Xã hội Việt Nam phối hợp với Ủy ban Quốc gia UNESCO Việt Nam và Văn phòng UNESCO tại Hà Nội tổ chức ngày 10 - 11/8/2004 và Hội nghị ngày 18/2/2006 do Bộ Văn hóa Thông tin tổ chức…
Tuy phát hiện từ 2002 nhưng để có được nhận định khoa học thì phải đợi thêm một thời gian sau khi đã phát lộ khai quật được một không gian rộng, đồng thời cần phải có thời gian chỉnh lý, nghiên cứu tư liệu Vì vậy, phải đến khoảng năm
2007 trở đi những nghiên cứu bước đầu về quy mô, cấu trúc HTTL mới được công
bố, đánh giá, nhận định Thậm chí, những nghiên cứu công bố mới chỉ là những tiếp cận ban đầu, đúng như lời mở của Tòa soạn Tc KCH đặt lời dẫn cho bài viết:
“Bước đầu nghiên cứu trang trí trên ngói ở Hoàng thành Thăng Long qua tư liệu hố D4- D5- D6 (khu D) ở 18 Hoàng Diệu- Hà Nội”: “Nghiên cứu chỉnh lý khu di tích
HTTL tại 18 Hoàng Diệu do viện Khảo cổ học chủ trì là một công trình tiến hành lâu dài trong nhiều năm tới ( ) Đây chỉ là một diện tích nhỏ đối với một khối tư liệu khổng lồ mà cuộc khai quật đạt được Cho nên, kết quả này chắc chắn sẽ thay đổi khi toàn bộ công tác chỉnh lý được hoàn tất [101; 88] Trong kết luận, các tác giả viết: “Kết quả khai quật ở các hố D4, D5, D6 đã tìm thấy ngói và các bộ phận trang trí trên ngói số lượng nhiều, loại hình khá phong phú ( ) Trang trí trên ngói ở
ba hố D4 - D5 - D6 góp phần tìm hiểu kiến trúc Thăng Long, mỹ thuật Thăng Long
Trang 23và góp phần định vị vị trí của địa điểm khảo cổ học 18 Hoàng Diệu trong quy hoạch tổng thể của Kinh Thành Thăng Long xưa” [101; 107]
Nghiên cứu trực tiếp nhận định về quy mô, cấu trúc HTTL trong suốt các triều đại, Lý - Trần - Lê sơ - Mạc và Lê Trung Hưng GS Phan Huy Lê trong bài: “ Càng nghiên cứu, càng nhận thức sâu sắc hơn giá trị khu di tích Hoàng thành Thăng Long tại 18 Hoàng Diệu” đăng trên tạp chí Khảo cổ học, cho rằng quy mô La Thành
và HTTL suốt các thời kỳ từ Lý đến Trần và Lê có sự thay đổi nhưng về Cấm thành hầu như không có sự thay đổi: “Khu di tích ngay từ khi mới phát hiện được xác định nằm trong HTTL thì dần dần được xác định cụ thể hơn là nằm trong Cấm thành tức trung tâm của Hoàng thành, Kinh thành Thăng Long gồm ba vòng thành: Đại La, Hoàng thành (tên dùng từ thời Lê sơ) và Cấm thành Thành Đại La và Hoàng Thành có những thay đổi từ thời Lý, Trần sang Lê sơ, từ thời Lê sơ sang thời Mạc và Lê Trung hưng nhưng vị trí và quy mô của Cấm thành thì hầu như không thay đổi, chỉ có các cung điện thì trải qua nhiều lần xây dựng, tu sửa, phá dỡ, hủy hoại… Cấm thành là nơi tập trung những cung điện tiêu biểu nhất của các vương triều, những sản phẩm cao cấp nhất của nền kinh tế, văn hóa của đất nước qua các thời kỳ lịch sử” [106; 56] Qua nghiên cứu nguồn sử liệu khảo cổ (di tích và di vật), thông qua các nghiên cứu về số đo của kiến trúc và mặt bằng kiến trúc, các nhà nghiên cứu Nhật Bản và Việt Nam cho biết, quy mô của các cung, điện thời Lý, Trần trong Cấm thành khá bề thế: “Kết quả nghiên cứu các di tích kiến trúc tại hiện trường cho phép các chuyên gia Nhật Bản và Việt Nam đưa ra những nhận xét kiến trúc và lập bản vẽ mặt bằng một số kiến trúc thời Lý, Trần với những số liệu đo đạc
cụ thể Thông tin này càng cho thấy quy mô khá to lớn của các cung điện trong Cấm thành xưa” [106; 56] Khi nghiên cứu về quy mô, cấu trúc HTTL, PGS TS Tống Trung Tín, PGS TS Bùi Minh Trí cho rằng: Hai khó khăn trong nghiên cứu quy
mô, cấu trúc HTTL về mặt sử liệu, đặc biệt là về mặt sử liệu bản đồ cổ và nghiên cứu trên mặt bằng di tích do các di tích bị cắt phá hoặc khai quật còn nhỏ lẻ nên khó
có thể có được nhận định chính xác: “Thứ nhất, hiện nay không có một nguồn tư
Trang 24liệu lịch sử và bản vẽ cổ nào mô tả về hình dáng, quy mô, kích thước của các công trình kiến trúc trong HTTL và Cấm thành Thăng Long xưa
Thứ hai, các dấu tích kiến trúc còn lại chủ yếu là phần nền móng, lại rất phức tạp bởi có rất nhiều loại hình kiến trúc của nhiều thời kỳ nằm chồng xếp hoặc cắt phá lên nhau Mặt khác, quy mô mặt bằng của các kiến trúc thường rất lớn nhưng phạm vi khai quật còn nhỏ, nên nhiều dấu tích chưa xuất lộ hết, vì thế chưa thể đưa ra được nhận thức chung về mặt bằng của các di tích kiến trúc đang xuất lộ” [177; 59]
Các nhà Khảo cổ học cũng đã quan tâm nhiều đến nguồn sử liệu trong sử cũ
để nghiên cứu, đối sánh nhưng đã chỉ ra những miêu tả trong sử cũ với những kiến trúc thật tìm được qua kết quả Khảo cổ rất khó hình dung vì trong sử cũ đề cập đến các lầu, gác, cung, điện miêu tả tráng lệ đó không thể tìm thấy nhiều trong các di tích Khảo cổ học mà chỉ có thể tìm thấy qua một bộ phận nào đó như nền móng kiến trúc Tuy nhiên, chỉ cần qua nguồn sử liệu vật thật là nền móng kiến trúc cũng
có thể hình dung được phần nào về quy mô kiến trúc HTTL Các tác giả viết: “… Nhưng nếu nghiên cứu kỹ hệ thống nền móng đó ta có thể hiểu được mặt bằng của từng loại đơn nguyên kiến trúc cũng như diện mạo tổng thể chung của các kiến trúc trong khu vực Lý do đơn giản là các kiến trúc cung điện trong HTTL và Cấm thành Thăng Long xưa, cũng như di tích kinh đô của nhiều nước châu Á như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc trong cùng bối cảnh, thường là khu nhà bằng gỗ chịu lực và thành phần chịu lực chủ yếu là các cột nhà Vì vậy, các chân cột thường được chú ý
kê đỡ và gia cố với hai thành phần chính là chân tảng và móng trụ” [177; 59]
Nghiên cứu về quy mô kiến trúc của HTTL cũng như của các công trình kiến trúc, các nhà KCH không thể bỏ qua những nguồn sử liệu vật thực có giá trị đưa lại thông tin sát thực được tìm thấy trong các hố khai quật như kỹ thuật gia cố, hệ thống cột trụ và hệ thống khung gỗ Đặc biệt những kiến trúc này được xây dựng trên một môi trường đồng bằng châu thổ có nhiều hồ ao dày đặc và khí hậu nóng,
ẩm, lụt, bão thường xuyên xảy ra nhiều thì việc gia cố lại rất quan trọng: “Tại nhiều khu vực trong khu di tích HTTL đã tìm thấy nhiều cột gỗ đang còn nguyên ở vị trí
Trang 25ban đầu Ví dự như ở khu B16 đã tìm thấy hệ thống cột gỗ thời Tiền Thăng Long nằm dưới lớp kiến trúc Lý - Trần Tại khu B11 - B13, nhiều cột gỗ thời Lê cũng được tìm thấy Đáng chú ý là ở khu B3 và A16 tìm thấy các hàng cột gỗ nằm ở độ sâu 3,5m - 4,0m (so với lớp đất mặt) đang đứng nguyên trên chân tảng đá Các cột
gỗ này có thể thuộc niên đại Trần” [177; 59]
Tại khu A, B, C, D các nhà KCH đã phát hiện được hàng chục dấu tích kiến trúc gỗ có quy mô lớn thời Lý - Trần - Lê với mặt bằng 5 đơn nguyên kiến trúc Căn
cứ vào các trụ móng sỏi có kích thước lớn 1,3m x 1,3 m xuất lộ ở các hố A11, được xếp thành 11 hàng, mỗi hàng có 4 móng trụ, chạy theo chiều Bắc - Nam Chiều rộng của công trình này là 17,65m, khoảng cách giữa các cột là 3,0 m, khoảng cách giữa các cột Cái trong lòng nhà là 6,0 m, chiều rộng của các bước gian cũng rất lớn từ 5,8 - 6,0 m Theo các nhà KCH, công trình này có 11 gian (9 gian và 2 chái), độ dài khoảng 70 m, rộng gần 18 m (diện tích khoảng 1.200m2), mặt hướng về phía Đông Hai bên phía Đông và phía Tây của dãy nhà có hai đường thoát nước lớn được xây bằng gạch Nghiên cứu về mối quan hệ giữa các công trình dinh thự với hệ thống thoát nước và các nguồn thông tin về sử liệu khác mới có thể góp phần phục dựng được phần nào diện mạo quy mô và cấu trúc HTTL Cũng trong khu A - B, các nhà nghiên cứu đã tìm thấy mặt bằng kiến trúc lớn nhiều gian ở khu A (A20 + 5), khu B với một số kiến trúc nhỏ và một số kiến trúc lớn thậm chí rất lớn mà các nhà nghiên cứu gọi là: Kiến trúc “nhà dài” 13 gian ở giữa khu B; Mặt bằng kiến trúc 5 gian ở khu D (D4 + 5) và có cả kiến trúc lục giác Tại khu (A1 + 11) cũng phát hiện thấy
di tích lục giác Các nhà Khảo cổ học cũng đã gắn kết, liên hệ giữa các nguồn sử liệu khảo cổ với nguồn sử liệu sử cũ đồng thời nghiên cứu độ kiên cố của di tích kiến trúc và đã đưa ra giả thuyết: Có thể đây là lầu được dùng để Thưởng Trà hay còn gọi là “điện Hô Trà” trong chính sử “Căn cứ vào sự kiên cố của móng trụ, các nhà KCH Nhật Bản suy đoán rằng, kiến trúc lầu lục giác này có thể được làm nhiều tầng mái và có hình dáng rất đẹp Những kiến trúc lầu này có niên đại vào khoảng thời Lý, cùng thời với kiến trúc nhiều gian A1 + 11, được xây dựng
Trang 26nhằm phục vụ cho nhu cầu thưởng ngoạn trong Hoàng cung khi đó Trong VSL cũng ghi chép về loại hình kiến trúc này gọi là Trà Đình (nhà/lầu để thưởng trà) [177; 59] Qua kết quả khai quật KCH các năm 2005, 2006 ở khu A,B,C,D, PGS TS Tống Trung Tín và PGS TS Bùi Minh Trí cho rằng: Tại vị trí này thuộc khu vực Cấm Thành Thăng Long, ở đây tồn tại một số cung điện thuộc khu vực
“Tân cung” xây dựng cuối thời Lý (1203)
Tác giả bài viết: “Về một số dấu tích kiến trúc trong Cấm thành Thăng Long thời Lý - Trần qua kết quả nghiên cứu khảo cổ học năm 2005 - 2006” tại khu vực khảo cổ khu A, B, C, D cho rằng: với nguồn sử liệu vật thật đặc biệt là hệ thống chân tảng, gia cố trụ móng cho biết nơi đây chủ yếu là các kiến trúc có niên đại thời
Lý - Trần, các di tích thời Lê và Nguyễn còn lại ít hơn và bị phá hủy khi nhà Nguyễn xây dựng thành Hà Nội Các kiến trúc có trụ móng lớn chứng tỏ công trình quy mô lớn, kiên cố và khu vực 18 Hoàng Diệu có một hệ thống các cung điện thuộc Cấm Thành Thăng Long [177; 70 - 71]
Nghiên cứu nguồn sử liệu vật thật ở HTTL không thể không đề cập đến vật liệu gạch xây dựng Điều độc đáo là, có một số loại gạch có khắc chữ Hán Gạch thời Lý - Trần thường có thông điệp niên hiệu vua hay tên của một bộ phận
giúp việc của triều đình hoặc có một số tên địa danh như: Vĩnh Ninh trường , Thu Vật huyện, Thu Vật hương , Tuy nhiên, vật thực có khắc chữ mang tên địa danh không nhiều như đã phát hiện được trong thành nhà Hồ (Thanh Hóa) Ở HTTL cũng như ở Thành nhà Hồ (Thanh Hóa) đều phát hiện được hiện vật gạch khắc chữ “Vĩnh Ninh trường” , đối chiếu với nguồn sử liệu thư tịch cho biết, cuối thời Trần (1397), Hồ Quý Ly cho dời đô từ Ly Cung vào thành mới và làm lễ khánh thành ngày 15 tháng 3 năm 1398) (Xem
ĐVSKTT) PGS TS Đặng Hồng Sơn cho rằng: “Việc nghiên cứu vật liệu xây
dựng thành nhà Hồ vừa có giá trị nghiên cứu nghệ thuật và lịch sử thời Hồ Quý
Trang 27Long” [154; 53] Như thế, việc nghiên cứu các nguồn không chỉ dừng lại ở công tác so sánh giữa các nguồn sử liệu vật thật và thư tịch mà cần phải nghiên cứu so sánh trên phạm vi rộng ở các di tích khác nhau có xuất hiện vật thật có cùng một loại hình hoặc cùng chứa đựng một nội dung thông tin
Là một chuyên gia nghiên cứu về các kiến trúc cổ, GS Kazuto Inoue lại chú
ý đến việc thiết lập hệ tọa độ và nghiên cứu thước đo được dùng để thiết kế Hoàng Thành Thăng Long trước khi đi vào việc nghiên cứu cụ thể Về việc thiết lập hệ lưới tọa độ chung cho cả khu vực HTTL, GS Kazuto Inoue đã chọn điểm Điện Kính Thiên làm vật chuẩn và khi nghiên cứu tìm thước đo cho HTTL, GS Kazuto Inoue
đã liên hệ, gắn kết giữa thực địa với nguồn sử liệu thư tịch Trung Hoa ghi về thước
đo thời Tống: “Hơn nữa, về thước đo chuẩn xây dựng (chiều dài của đơn vị kích thước thực tế) có nhiều tính khả năng, nhưng vì trong các thư tịch cổ có nhắc đến một đơn vị là “thước” và qua thời kỳ suy đoán thước của Trung Quốc (nhà Tống)
mà thời kỳ đầu tiên đưa vào sử dụng (ở Việt Nam) là nhà Lý, thường có kích thước
là 30,0 cm nên trước tiên, chúng tôi sẽ lấy chiều dài này làm chuẩn và thử kiểm tra theo chiều dài này [82; 45]
Để nghiên cứu quy mô công trình và các bước gian, các nhà KCH đã dựa vào hiện trạng các hàng chân cột được phát hiện trong quá trình khai quật rồi quy đổi số
đo được ghi trong thư tịch cổ để tính ra đơn vị “thước” cổ; GS Kazuto Inoue viết:
“Chỉ có thể lấy vị trí của chân tảng hiện còn làm điểm mốc và từ đó xác định khoảng cách tương đối giữa các trụ móng sỏi gia cố khác bằng phương pháp đổi kích thước giữa các cột đó ra thước với tỷ lệ 1 thước = 29,9 cm và làm trong số” [82;49] Cũng nhờ có sự quy đổi thước cổ được ghi chép trong thư tịch, sau đó so sánh và ứng đổi với mặt bằng khai quật, tác giả tính toán được chiều Đông - Tây của thiết kế cung điện thời Lý của dãy kiến trúc lục giác là 209,4m tương ứng với khoảng 700 thước “ (…) Nếu chúng ta sử dụng phương vị đã nêu ở trên để tính khoảng cách giữa kiến trúc SB 04 - 8 và SB 008 - 2, tức là khoảng cách từ Đông sang Tây theo thiết kế cung điện thời Lý của dãy kiến trúc lục giác ở hai phía Đông
- Tây thì có được con số 209,4m, bằng đúng khoảng cách tính trên trục tọa độ
Trang 28HTTL (số tính chính xác là 209,38 m) Nếu lấy một thước chuẩn khi xây dựng ban đầu là 29,9cm thì sẽ được 700,3 thước, tức là chúng ta đã được thiết kế, tính toán bằng thước một cách chuẩn mực với khoảng cách Đông - Tây là 700 thước” [82;49] Từ những thông tin trên, GS Kazuto Inoue cũng đã cho rằng, có một hệ thống cung điện nằm theo hướng Đông - Tây
Về quy mô kiến trúc ở khu A và B, tính đến năm 2010, chỉ tính các kiến trúc thời Lý, có đến 20 đơn vị kiến trúc (bao gồm 11 kiến trúc chân tảng xếp thành hình lục giác có nhiều tầng), 2 con đường và 2 bức tường Theo nhận định, đánh giá của
GS Kazuto Inoue thì đây là một kiến trúc được xây dựng theo một quy hoạch khá nghiêm ngặt: “…Nhưng trên thực tế phải hiểu rằng toàn bộ bước gian khu di tích này đã khai quật như những đường rãnh nước men theo kiến trúc và con đường, hay những bước gian có (mặt ?) lát gạch giữa các tòa nhà đều là vết tích nào đó Những vết tích kiến trúc này như chúng tôi đã nhắc đến được xây dựng theo một quy hoạch khá nghiêm ngặt” [82; 49] Từ việc phân tích, nghiên cứu khu A - B, GS Kazuto Inoue đã phán đoán kiến trúc phía Nam khu A - B (kí hiệu SB020): “Phía sau kiến trúc này, ở phía Bắc có hành lang SC020 và có thể phỏng đoán hành lang này được
bố trí để bao quanh kiến trúc SB022 và ở phía Tây lại bẻ ngoặt về phía sau Quy mô của toàn bộ khu nam chưa rõ ràng, nhưng có thể nghĩ rằng, kiến trúc SB022 là có chức năng quan trọng như kiến trúc trung tâm khu vực này, và nằm ở mép phía Bắc” [82; 62]
Bằng việc quy đổi đơn vị số đo với thực địa của khu SB004 với nền móng tháp lục giác, GS Kazuto Inoue cho rằng: hiện trạng của những trụ móng sỏi dùng
để đặt chân tảng lên trên, khả năng đó là những ngôi tháp nhiều tầng nhỏ, mặt bằng hình lục giác (lầu nhiều tầng) Và từ những hiện vật tháp (mô hình) nhiều tầng được khắc trên những viên gạch tìm thấy trong HTTL, theo tác giả có thể phục nguyên như hình lục giác với 9 tầng
Về những hiện vật chân tảng gắn với kiến trúc lục giác ở khu vực SB001 theo hướng Bắc - Nam của khu A, nhà khảo cổ học cho rằng, có thể nó liên quan đến kiến trúc Phật giáo: “Nếu đặt một tiền đề giả sử những kiến trúc với chân tảng
Trang 29xếp thành hình lục giác có nhiều tầng đó ít nhiều mang sắc thái của đạo Phật thì có thể phán đoán kiến trúc SB001 là nơi tiến hành các nghi lễ tôn giáo Hơn nữa, cùng với điều đó, nếu chúng ta cho rằng lối đi SF026 chạy xuyên qua tòa nhà là lối đi với chức năng hơn những lối đi bình thường, mà là lối đi mang tính nghi lễ thì việc đánh giá quần thể các kiến trúc SF026, SB001, SB004 - 1- 11 có những chức năng liên quan trực tiếp phong kiến (Vương triều hay quyền lực của hoàng tộc) không phải là mâu thuẫn Đặc biệt, việc phần giữa con đường SF026 theo hướng Đông - Tây này được làm cao hơn hẳn là yếu tố quan trọng để xem xét cách thức sử dụng con đường này của người xưa Và chúng ta cũng có thể thấy rằng, con đường đặc biệt này là con đường dành riêng cho bậc Thiên Tử (hay hoàng đế) gọi là Trì - Đạo () hay Liễn - Lộ ( ) trong các hệ thống đô thành khu vực Đông Á thời tiền cận đại” [82; 62] Từ đặc trưng của các dấu vết kiến trúc trong khu vực các di tích thời Lý tìm thấy trong khu vực D4, D5, D6, GS Inoue cho rằng, những công trình này khó có thể được xây dựng trên một bản thiết kế và phương vị của các công trình sau được thiết kế khác với những công trình trước đó: “Nếu so sánh với tọa độ của (C) thì sẽ thấy độ chênh lệch góc là 0độ 36 phút 47 giây, tức là cứ 100m thì chênh 1,07m Đây là con số có thể nói khá lớn Tức là, qua đó, chúng ta khó có thể cho rằng chúng được xây dựng theo cùng một bản thiết kế Hơn nữa, cũng có thể phán đoán rằng, có khả năng phương vị đó đã được lựa chọn sao cho khác với phương vị trong thiết kế của quần thể các cung điện vương triều trước đó” [82; 69] Những nhận định trên của GS Kazuto Inoue đưa ra sau khi nghiên cứu, khai thác từ một thông tin duy nhất từ nguồn sử liệu KCH, vì thế, GS Kazuto Inoue cho rằng, nếu chỉ
có duy nhất từ nguồn sử liệu khảo cổ thì thông tin rất hạn chế, cần phải có sự tích tụ của các nguồn sử liệu khác: “… Như vậy, ở đây chúng ta có thể chỉ ra khả năng ở di tích HTTL phương vị của các kiến trúc khác nhau tùy thuộc vào thời kỳ mà chúng được xây dựng Tuy nhiên, những dấu vết kiến trúc mà chúng ta có thể lấy làm đối tượng phân tích rất hạn chế, nên đòi hỏi phải nghiên cứu sâu hơn nữa nhờ vào sự tích tụ thông tin trong các cuộc khai quật từ nay về sau” [82; 69]
Trang 30Tuy không trực tiếp nghiên cứu về quy mô, cấu trúc HTTL, nhưng qua việc nghiên cứu về vật liệu kiến trúc cũng có thể biết được quy mô của công trình Quy
mô của dấu vết kiến trúc có sự liên hệ mật thiết giữa các bộ phận mái che, tường chịu lực hoặc cột trụ và móng trụ Đây cũng được coi là một trong những nguồn
sử liệu vật thật trong nghiên cứu lịch sử “Một trong những di tích kiến trúc tiêu biểu ở HTTL là hệ thống các trụ móng cột, các trụ móng này được gia cố chống sụt lún cho kiến trúc, quy mô của các trụ móng phần nào phản ảnh quy mô của kiến trúc Từ việc nghiên cứu các vật liệu kiến trúc cũng góp phần lý giải về các móng trụ này Chúng tôi cho rằng, móng trụ phải được gia cố chắc chắn xuất phát từ yêu cầu trọng lượng bên trên của kiến trúc, tức là móng trụ là một giải pháp kỹ thuật nhằm tăng cường độ cứng của nền đất phía dưới giúp nó gánh được khối kiến trúc ở bên trên mà trọng lượng chính của kiến trúc cung điện ở Thăng Long là trọng lượng của bộ mái” [3;78] Để chứng minh trọng lượng đồ
sộ của một bộ mái, các nhà khảo cổ học đã dùng phương pháp toán học tính trọng lượng của một viên ngói lợp còn nguyên vẹn phát hiện ngay trên dấu tích của công trình rồi (x) với m² cần phải lợp sau đó tiếp tục (x) với số m² được che phủ của công trình (Tất nhiên, các nhà nghiên cứu đã đưa ra giả thiết về độ dốc của mái) từ đó tính được trọng lượng mái của công trình lên đến hàng trăm tấn Đây là trường hợp tiêu biểu ở hố khai quật ở khu A, có 1 tầng được các nhà nghiên cứu khảo cổ học tính như sau: “Giả sử kiến trúc A1 có 1 tầng và được lợp bằng loại ngói cánh sen có kích thước (40 x 25 x 2,5) cm, trọng lượng trung bình mỗi viên là 6 kg Kiến trúc A1 có kích thước mặt bằng là 60,3m x 12m, về lý thuyết mái có thể đua ra khỏi mặt bằng không quá 1,2 m (ở đây, chúng tôi tính 1,2m) tức là chiều rộng của khu vực có mái che phủ là 14,4m; độ dốc mái không quá 450 (chúng tôi tạm tính là 300), như vậy, chiều cao từ giọt ngói đến đỉnh mái (c) là 4,14 m; chiều rộng của 1 mái là cạnh huyền của tam giác (a) là 8,314 Với các thông số như trên, chúng ta có diện tích mỗi mái là 501,334 m²; Tổng diện tích 2 mái là 1002.668 m² Nếu lợp ngói cánh sen cỡ (40 x 25 x 2,5) cm với cách thức lợp viên trên lệch viên dưới 25 cm thì 1m² hết 16 viên, trọng lượng trung
Trang 31bình mỗi viên là 6 kg Như vậy 1m² có trọng lượng khoảng 96 kg Với tổng diện tích 2 mái là 1002,668 m² thì tổng trọng lượng mái của kiến trúc A1 (chưa kể các trang trí gắn kèm) là: 102,668 m² x 96 kg = 96.192 kg (96, 192 tấn) [3; 78 - 79]
Với cách tính trên đã có thể phác họa, giúp hình dung được phần nào về sự
đồ sộ của một công trình kiến trúc trong Hoàng Cung Thăng Long Tuy nhiên, đây
là một giả thiết về một kiến trúc công trình đơn giản chỉ có 1 tầng, 2 mái, chưa tính đến công trình được thiết kế theo kiểu từ 2 tầng trở lên với kiểu chồng diêm 4 mái vẫn thường thấy ở các công trình kiến trúc cổ Ngoài ra cũng cần phải tính đến phần các vật liệu dùng làm giá đỡ như: rui, mè, xà, đấu trụ… thuộc kết cấu phần trên Như thế, có thể hình dung trọng lượng của một cung điện ở hố khai quật khu A với diện tích khoảng 1000 m² thì rất đồ sộ
Nếu như nhiều nghiên cứu đi sâu về các lĩnh vực như địa tầng kiến trúc, quy
mô của một công trình kiến trúc hay từ quy mô của hố khai quật của một nền công trình cung điện với những hiện vật khảo cổ có thể hình dung được quy mô công trình thì GS TS Nguyễn Quang Ngọc đã trực tiếp nghiên cứu về không gian “Long Trì - Đan Trì trong cấu trúc khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long - Đông Kinh” [140; 87] Nội dung bài viết đã đi sâu nghiên cứu về chức năng của Long Trì - Đan Trì trong sử cũ (chính sử) đồng thời gắn kết không gian này với không gian của Điện Kính Thiên tới khu vực Đoan Môn Từ đó, tác giả khẳng định: Nghi lễ quan trọng của triều đình ở sân Long Trì - Đan Trì đồng thời khẳng định di tích điện Càn Nguyên (thời Lý), điện Thiên An (thời Trần) và di tích điện Kính Thiên (thời Lê) cùng với không gian sân Long Trì - Đan Trì, sân Đoan Môn từ thời Lý - Trần - Lê
là không hề thay đổi, vẫn ở một vị trí
Nghiên cứu quy mô, cấu trúc của HTTL, bằng việc căn cứ vào các nguồn sử
liệu chữ viết như Đại Việt sử kí toàn thư (ĐVSKTT), Quốc triều hình luật, GS
Nguyễn Quang Ngọc so sánh quy mô, cấu trúc Hoàng thành thời Lý - Trần với thời
Lê, đặc biệt là đến thời Lê Thánh Tông có sự tu sửa bề thế, chia làm nhiều khu nhưng tính đến trước thời Lê Thánh Tông, tòa Hoàng thành hầu như không có sự thay đổi Hay nói cách khác, phải đến thời Lê Thánh Tông trở đi, quy mô Hoàng
Trang 32thành mới thay đổi, được mở rộng hơn: “Quy mô và cấu trúc thành Đông Kinh các đời vua Lê Thái Tổ, Lê Thái Tông và Lê Nhân Tông hầu như không có sự thay đổi
so với Thành Thăng Long thời Lý, Trần Đến Lê Thánh Tông tòa thành giữa được chính thức gọi là Hoàng thành với các quy định bảo vệ chặt chẽ và được thể chế hóa
trong Quốc triều hình luật Lê Thánh Tông đồng thời cho xây dựng lại tòa thành bề
thế hơn, mở rộng ra bao lấy toàn bộ khu vực Tổng Nội mà dấu tích đến nay vẫn còn
có thể hình dung được tương đối cụ thể Tòa thành bên trong cũng được xây dựng lại trên quy mô tòa Cấm thành Thăng Long xưa, nhưng có nhiều lớp, nhiều cửa, tạo thành nhiều ô ngăn cách hơn, gọi là Cung thành, với quy chế bảo vệ hết sức nghiêm ngặt” [140; 91]
Trong nghiên cứu về không gian Long Trì - Đan Trì và điện Kính Thiên của
GS TS Nguyễn Quang Ngọc đề cập đến những hạng mục công trình quan trọng trong khu vực Cấm Thành Thăng Long thuộc không gian điện Kính Thiên bao gồm: Cổng Chu Tước, Đoan Môn, đường “Ngự đạo” chạy thẳng vào khu vực chính điện Kính Thiên, Điện Thị Triều, Đông Tràng An, Tây Tràng An…Cổng Chu Tước, cùng với điện Càn Nguyên (thời Lý), Thiên An (thời Trần) và Kính Thiên (thời Lê) được so sánh với Đại Cực Điện và cổng Chu Tước của Nhật Bản, nhưng theo tác giả, sự khác biệt của các công trình này ở trong Cấm thành Thăng Long không hề thay đổi vị trí còn ở Nhật Bản nó chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn rồi bị chuyển dời sang vị trí bên cạnh: “Cổng chính Nam của Nara cũng là cổng Chu Tước”
Về cấu trúc bên trong khu vực sân Đoan Môn, trước điện Kính Thiên trước thời Lê Thánh Tông chỉ có hai dãy hành lang dài thì đến giờ có thêm điện Thị Triều
để cho các quần thần vào chầu vv…
GS Phan Huy Lê trong bài viết: Càng Nghiên cứu càng nhận thức sâu sắc hơn giá trị khu di tích Hoàng Thành Thăng Long tại 18 Hoàng Diệu) nhận xét: “…
nhận thức chung tương đối đồng thuận về giá trị của Khu di tích Hoàng thành Thăng Long 18 Hoàng Diệu có thể tóm lược như sau: Khu di tích ngay khi mới phát hiện được xác định nằm trong HTTL thì dần dần được xác định cụ thể hơn là nằm trong Cấm thành tức Trung tâm của Hoàng thành Kinh thành Thăng Long gồm ba
Trang 33vòng thành: Đại La, Hoàng thành (tên dùng từ thời Lê sơ) và Cấm thành Thành Đại
La và Hoàng thành có những thay đổi từ thời Lý, Trần sang Lê sơ, từ thời Lê sơ sang Mạc và Lê Trung hưng, nhưng vị trí và quy mô của Cấm thành thì hầu như không thay đổi, chỉ có các cung điện thì trải qua nhiều lần xây dựng, tu sửa, phá dỡ, hủy hoại Cấm thành là nơi tập trung những cung điện tiêu biểu nhất của các vương triều, những sản phẩm cao cấp nhất của nền kinh tế, văn hóa của đất nước qua các thời kỳ lịch sử (106; 54 - 55)
Nghiên cứu trực tiếp các di tích trong HTTL phải kể đến LATS của Phạm
Văn Triệu, Bảo vệ tại Trường ĐHKHXHNV, ĐHQGHN: “Di tích kiến trúc thời Lý tại Hoàng thành Thăng Long, Hà Nội” Luận án đã nghiên cứu hàng loạt các di tích
thời Lý phát hiện trong Hoàng thành Thăng Long kể từ khi phát lộ năm 2002 cho đến 2015 trên các khu vực khai quật 62 - 64 Trần Phú, khu vực khảo cổ học 18 Hoàng Diệu và khu vực không gian điện Kính Thiên - Đoan Môn (1998 - 2015) Trong luận án Phạm Văn Triệu mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu thuần túy các di tích đã được khai quật ở khu vực 18 Hoàng Diệu và 62 - 64 Trần Phú, chưa tập hợp một số di tích thời Lý ở khu vực nhà Quốc Hội đồng thời cũng chưa tập hợp hết các
di tích đã phát hiện trong khu vực số 9 Hoàng Diệu (giai đoạn 2011 - 2017) Qua nghiên cứu các di tích khảo cổ học thời Lý, tác giả đã cho người đọc hình dung được mật độ di tích thời Lý dày đặc với quy mô đồ sộ gồm 54 di tích, kiến trúc phức tạp Tuy nhiên, việc xác định vị trí công năng, tên gọi của nhiều di tích thời Lý trong khu vực Hoàng thành Thăng Long vẫn là một vấn đề cần phải được nghiên
cứu tiếp tục trong tương lai…
Vấn đề đặt ra là di tích thời Lý - Trần có được xây dựng trên chính nền cũ của di tích thời Đại La - Trị sở của An Nam Đô Hộ Phủ thời thuộc Đường hay không và nếu có thì di tích thời Lý - Trần được xây dựng lên di tích thời Đại La với
vị trí và quy mô có trùng lên nhau không (?) Đây là một vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu hết sức quan tâm Nhưng có lẽ, trong tất cả các nguồn sử liệu chứng minh về sự tồn tại của tòa Thành Đại La thì nguồn sử liệu vật thực có ý nghĩa quan trọng bậc nhất Kết quả chứng minh qua vật thực như: nền móng kiến trúc, cột âm
Trang 34bằng gỗ có niên đại thời Đại La và nhiều hiện vật gạch, ngói nung có khắc chữ đặc trưng thời Đại La Tại khu B, khu D khai quật khảo cổ học Hoàng Thành Thăng
Long đã tìm thấy các viên gạch có chữ như Giang Tây quân , Giang Tây chuyên , những mảnh bình gốm Islam vùng Tây Á, những di vật gốm men xanh thời Đường, những viên gạch màu xám tro xuất hiện trong những chiếc giếng thời Lý - Trần (tái sử dụng lại) Các di tích thời Đại La nằm dưới tầng văn hóa thời
Lý - Trần nên nhiều khi rất khó nghiêm cứu Theo PGS TS Bùi Minh Trí, trong toàn bộ 4 khu A, B, C, D: Do phát hiện kiến trúc Đại La còn quá đơn lẻ của từng bộ phận kiến trúc lại nằm ở tầng dưới của văn hóa thời Lý nên rất khó khăn trong việc nhận diện về quy mô, cấu trúc Hơn nữa, những di tích kiến trúc thời Lý rất quan trọng cần phải được bảo tồn nên khó có điều kiện đào sâu xuống dưới được Vì vậy,
cơ hội để tìm kiếm các di tích thời Đại La khó thực hiện được Đây cũng là lý do vì sao trong toàn bộ 4 khu khai quật A, B, C D, chưa có nơi nào tìm được trọn vẹn mặt bằng một đơn nguyên kiến trúc thời Đại La, ngoại trừ một số đoạn nền nhà hay một số móng trụ cột gỗ là những bộ phận của công trình kiến trúc đã nêu ở trên Về mặt kiến trúc, tác giả đã đi đến nhận định: “Phát hiện về kỹ thuật có tính chất quan trọng hơn, đó là thời kỳ này các công trình kiến trúc chủ yếu được xây dựng bằng cách chôn cột xuống lòng đất, tạo ra sự vững chắc cho công trình Để phân biệt với
kỹ thuật xây dựng cột đặt trên nền nhà (cột dương), chúng tôi tự đưa ra khái niệm gọi là “cột âm”
Sau khi khai quật khu vực xây dựng nhà Quốc hội (Tháng 3 năm 2008 - đến tháng 7 năm 2009), các nhà khai quật khảo cổ học đã phát hiện được một quần thể kiến trúc gồm 17 công trình kiến trúc thời Đại La cung cấp những tư liệu hoàn toàn chính xác để khẳng định điều nhận xét trên, nghĩa là phần lớn các công trình kiến trức thời Đại La được xây dựng bằng “cột âm”, tức là chôn cột xuống lòng đất Kỹ thuật làm móng trụ của thời kỳ này chủ yếu là dùng ngói vỡ và gỗ để kê chân cột
Kỹ thuật dùng sỏi để gia cố móng cũng đã bắt đầu xuất hiện nhưng chủ yếu là loại sỏi nhỏ pha cát và dùng để lót đáy móng chứ không đầm nén như kỹ thuật gia cố trụ
Trang 35sỏi thời Lý Từ những kết quả nghiên cứu về di tích thời Đại La và thực tiễn quá trình khai quật di tích Đại La trong khu vực khu B, D và khu vực nhà Quốc Hội, tác giả đi đến 2 nhận xét:
+ Việc tìm thấy các di tích kiến trúc thời Đại La nằm dưới tầng văn hóa thời
Lý đã góp phần xác định rõ, vị trí của tòa thành Đại La không có ở nơi nào khác mà chính ở ngay trong khu trung tâm của Cấm Thành - Hoàng Thành Nói cách khác Cấm Thành Thăng Long được xây dựng đúng vị trí của tòa thành Đại La cũ, trên cơ tầng của lị sở An Nam Đô Hộ Phủ
+ Sự sầm uất, trù phú và địa thế thuận lợi của vùng đất An Nam Đô Hộ Phủ khi đó là lý do quan trọng thôi thúc vua Lý Công Uẩn chọn làm nơi định đô, biến vùng đất đồn trú của người Hoa trở thành trung tâm chính trị, văn hóa lớn của nước Đại Việt, mở ra kỷ nguyên mới cho nền Văn minh Đại Việt, đặt nền móng cho sự
phát triển của kinh đô Thăng Long dưới các triều đại tiếp theo
Tập sách chuyên khảo và cập nhật những thành tựu nghiên cứu của toàn bộ giới khoa học lịch sử, khảo cổ trong những năm gần đây và được coi là một bước tiến vượt bậc trong nghiên cứu, nhận thức về quy mô, cấu trúc HTTL phải kể đến
công trình Không gian khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long tư liệu và nhận thức
do GS Nguyễn Quang Ngọc (Chủ biên) Tập sách đã tập hợp 16 bài nghiên cứu của
15 tác giả chia làm 4 chủ đề nghiên cứu chính:
+ Chủ đề nghiên cứu về vị trí Cấm thành của HTTL có các bài viết: Cấm thành Thăng Long qua các thời kỳ lịch sử (GS Phan Huy Lê); Góp phần nhận diện không gian khu trung tâm Cấm thành Thăng Long (GS Nguyễn Quang Ngọc); Cung Thánh Từ, chế độ Thượng Hoàng và khu cung cấm của Thăng Long thời Trần (GS Momoki Shiro); Những trục chính tâm của đô thị Thăng Long - Hà Nội (GS TS Yumio Sakurai); Hoàng thành Thăng Long triều Lê Thánh Tông (1460- 1497) của
TS Đỗ Thùy Lan;
+ Nghiên cứu tư liệu Khảo cổ học: Tổng quan về Khảo cổ học Thăng Long
từ cuối thế kỷ XIX đến nay của PGS TS Tống Trung Tín; Kiến trúc thời Lý ở khu A-
B khu di tích Hoàng thành Thăng Long: Những thành tựu sau 10 năm nghiên cứu
Trang 36của PGS TS Bùi Minh Trí; Những nét chính trong đợt khai quật Trung tâm Hoàng thành Thăng Long 2011- 2013 của TS Hà Văn Cẩn;
+ Nghiên cứu tư liệu thư tịch và bản đồ: Khảo sát Hồng Đức bản đồ của GS Ueno Kunikazu; Thành Thăng Long đầu thế kỷ XX của Ths Tống Văn Lợi; Dấu tích Hoàng thành thăng Long và thành Hà Nội qua khảo sát địa bạn hai huyện Thọ Xương, Vĩnh thuận (Ths Vũ Đường Luân);
+ Nghiên cứu so sánh: Ảnh hưởng mô hình Lạc Dương và Khai Phong đến quy hoạch Hoàng thành Thăng Long thời Lý - Trần (TS Phạm Lê Huy);
Nghiên cứu di tích văn hóa có: Di tích tâm linh đặc biệt thời Lý phát hiện tại
Lô E - Khu di sản Hoàng thành Thăng Long GS TS Bùi Văn Liêm) Bên cạnh đó,
có bài viết về sự biến đổi của Hoàng thành Thăng Long thời Nguyễn và Pháp thuộc
của TS Olivier Tassier: “Từ lúc chiếm thành Hà Nội (1873) cho đến khi phá bỏ thành 1897: Phá hủy và biến đổi không gian đô thị”…
Ngoài các sách chuyên khảo, các bài báo khoa học ít nhiều đề cập trực tiếp hoặc gián tiếp đến các nguồn sử liệu về quy mô, cấu trúc của HTTL như đã đề cập đến ở trên còn có một số luân án tiến sĩ, luận văn Thạc sĩ đề cập đến quy mô, cấu trúc của Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội như một số công trình sau:
Sau khi phát lộ khu vực khảo cổ học HTTL - HN, nhiều luận văn Ths đã
quan tâm nghiên cứu Chẳng hạn: Ngô Thị Lan (2006), Trang trí trên ngói ở Hoàng
Thành Thăng Long qua tư liệu hố D4 - D5 - D6 (Khu D) ở 18 Hoàng Diệu - Hà Nội (ĐHKHXH và NV, ĐHQGHN); Bùi Văn Hiếu (2011), Móng kiến trúc thời Lý - Trần - Hồ qua tư liệu khảo cổ học, Luận văn Ths Lịch sử, Đại học Quốc gia Hà Nội; Phạm Văn Triệu (2011), Di tích kiến trúc Hoàng thành Thăng Long hố D4- D5- D6 (18 Hoàng Diệu, Hà Nội), Luận văn Ths Lịch sử, Đại học Quốc gia Hà
Nội; Vũ Đường Luân (Khoa Lịch sử, ĐHKHXH và NV, ĐHQGHN): Nghiên cứu
về Kinh Thành Thăng Long thời Lý - Trần; Tống Văn Lợi (Viện Việt Nam học và
Khoa học Phát triển, ĐHQGHN): Nghiên cứu về hệ thống bản đồ Thăng Long từ thế kỷ XV đến thế kỷ thứ XIX; Chu Thị Hiền (HVKHXH, VHLKHXHVN): “Di tích kiến trúc Cột Cờ, Bắc Môn, Đoan Môn và nền điện Kính Thiên tại Khu di sản trung
Trang 37tâm Bảo tồn di sản Thăng Long - Hà Nội (2017); Đỗ Đức Tuệ (ĐHKHXH và NV, ĐHQGHN): Dấu tích kiến trúc thời Lê ở khu vực chính điện Kính Thiên thời Lê (Qua các đợt khai quật 2011- 2013), (2017).…
Có thể nói rằng, khi nghiên cứu về HTTL, các luận văn Ths chủ yếu nghiên cứu từ một vài di tích cụ thể được khai quật trong thời gian qua hoặc nghiên cứu về lĩnh vực bản đồ ở một giai đoạn lịch sử nhất định chứ chưa phải là về mô mô, cấu trúc của HTTL trong lịch sử nói chung và nghiên cứu về các nguồn sử liệu về quy
mô, cấu trúc của HTTL thời Lý - Trần - Lê nói riêng
1.2 Khát quát kết quả của các công trình nghiên cứu và những vấn đề luận án tập trung nghiên cứu
1.2.1 Kết quả của các công trình nghiên cứu trước
Có thể thấy rằng sử liệu về HTTL rất đồ sộ và thành tựu nghiên cứu của giới nghiên cứu Lịch sử nói riêng và Khoa học xã hội nói chung về HTTL cũng rất lớn được thể hiện dưới nhiều hình thức như: Luận án tiến sĩ, luận văn Thạc sĩ, các sách chuyên khảo, sách tham khảo, các công trình nghiên cứu trên các tạp chí chuyên ngành, kỷ yếu hội thảo quốc gia, quốc tế; Các tập san khoa học … Lĩnh vực nghiên cứu cũng khá đa dạng như: Nghiên cứu di tích, nghiên cứu di vật, văn hóa vật thể, phi vật thể, vật liệu kiến trúc, nghiên cứu sử liệu bản đồ, thư tịch, văn bia… trên các lĩnh vực: Khảo cổ, lịch sử, Hán Nôm, địa chất, môi trường… được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, lý giải Có thể nói một cách chính xác, những công trình nghiên cứu đó được đề cập đến ở trên thực chất là lịch sử vấn đề nghiên cứu HTTL chứ chưa phải hoàn toàn là lịch sử nghiên cứu về Các nguồn sử liệu về quy mô, cấu trúc HTTL thời Lý - Trần - Lê Có thể khẳng định rằng, cho đến hiện nay dường như rất ít công trình sử học nghiên cứu về các nguồn sử liệu về quy mô, cấu trúc của HTTL thời Lý - Trần - Lê Mặc dù các nhà nghiên cứu từ trước đến nay không đặt vấn đề nghiên cứu các nguồn sử liệu về quy mô và cấu trúc của HTTL qua các thời kỳ Lý - Trần - Lê nhưng trên thực tế đã có nhiều nhà nghiên cứu đặt các giả thuyết và tiến hành nghiên cứu, nhận định về vị trí và quy mô của Hoàng thành và Cấm thành Thăng Long Chung quy lại có thể chia giai đoạn nghiên cứu thành hai
Trang 38chặng đường: Chặng đường đầu là các nghiên cứu của các học giả Pháp (đầu Tk
XX đến khoảng trước năm 2002); Giai đoạn thứ hai từ năm 2002 đến nay Giai đoạn thứ nhất được bắt đầu bằng những nghiên cứu do các học giả Pháp thực hiện (chủ yếu trên cơ sở thu lượm, sưu tầm các hiện vật phát hiện lẻ tẻ ở khu vực Quần Ngựa) nên các học giả Pháp đã cho rằng, phải chăng khu vực Quần Ngựa là khu di tích HTTL xưa Tiếp sau những học giả người Pháp nghiên cứu về HTTL là các học giả là người Việt Nam như Trần Huy Bá (1959), Trần Huy Liệu (1960), Trần Quốc Vượng, Vũ Tuấn Sán (1975), Phạm Hân … hầu hết các ý kiến đều cho rằng HTTL nằm ở phía Tây thành Hà Nội (tức phía tây của HTTL) ngày nay Trong các nghiên cứu của các học giả Việt Nam đáng chú ý là các quan điểm được trình bày sau năm
1954 tiêu biểu như ý kiến của GS Trần Quốc Vượng, Vũ Tuấn Sán cho rằng Long thành, Phượng thành hay Long Phượng thành thực chất là Hoàng thành HTTL được bao quanh bởi 4 cổng chính: Tường Phù (phía Đông), cửa Đại Hưng (phía Nam), cửa Quảng Phúc (phía Tây), cửa Diệu Đức (phía Bắc) và điện Kính Thiên được xây dựng trên núi Nùng, núi Nùng này thuộc Cấm thành Thăng Long Vị trí điện Kính Thiên không thay đổi qua các thời kỳ lịch sử Theo chúng tôi cũng như nhiều nhà nghiên cứu khác đều thống nhất cho rằng Long thành/ Phượng thành/ Long Phượng thành chính là Hoàng thành chứ không phải Cấm thành
Sau năm 2002, những nhận thức về HTTL đã có những bước đột phá bởi thành quả của những phát hiện mới về khảo cổ học trong lòng đất Các nhà nghiên cứu đã có những nhận thức đầy đủ về quy mô, cấu trúc, về trục chính tâm, về “Tân cung” cuối triều đại nhà Lý, về cảnh quan môi trường với hệ thống cơ sở hạ tầng, trục tâm linh, về tôn giáo, tín ngưỡng… qua việc nghiên cứu các nguồn sử liệu thư tịch với các nguồn sử liệu khác…
Vì thế, trong chương Tổng quan này, khi trình bày về lịch sử vấn đề nghiên cứu, tác giả chỉ có thể bước đầ hệ thống được quá trình nghiên cứu về HTTL trên các lĩnh vực nghiên cứu cụ thể và tạm thời chia thành các lĩnh vực để
dễ theo dõi, hệ thống Tuy nhiên, ở một chừng mực nào đó, việc phân chia thành những lĩnh vực nhỏ như trên chỉ có ý nghĩa tương đối vì có những vấn đề đặc thù
Trang 39lại bao gồm nhiều lĩnh vực mang tính chất liên ngành, xuyên ngành, có nhiều bài viết, công trình nghiên cứu, nhiều tác giả đã sử dụng kỹ thuật và phương pháp nghiên cứu tổng hợp Tác giả cũng bước đầu khảo sát các thuật ngữ liên quan đến đối tượng nghiên cứu như: La Thành, Hoàng Thành, Cấm Thành, Phượng Thành, Long Phượng Thành … là những thuật ngữ thường xuất hiện trong các nguồn sử liệu từ thời Lý đến thời Lê Từ những nghiên cứu mang tính tổng quan, tác giả sẽ triển khai giải quyết các vấn đề nghiên cứu đánh giá cụ thể, chi tiết về nguồn sử liệu HTTL ở các chương tiếp theo
1.2.2 Những vấn đề luận án cần tập trung nghiên cứu
Có thể nói rằng, các nhà nghiên cứu từ lâu đã quan tâm tìm hiểu về quy mô, cấu trúc HTTL thời Lý - Trần - Lê qua các nguồn sử liệu của sử cũ hoặc qua bản đồ hay qua dấu tích khảo cổ học … Tuy nhiên, việc tập trung tìm hiểu, phân tích các nguồn sử liệu để đi đến những nhận định về vai trò, chức năng của các công trình quan trọng trong khu vực HTTL chỉ được tiến hành một cách chi tiết, cụ thể kể từ khi phát lộ HTTL (2002) cho đến nay Chính vì thế, Luận án tập trung vào việc kết hợp sưu tầm, phân tích từ nhiều nguồn, so sánh, đối chiếu giữa các nguồn sử liệu về quy mô, cấu trúc HTTL thời Lý - Trần - Lê Tác giả luận án sẽ tiếp tục đi sâu nghiên cứu nhằm làm sáng tỏ hơn về quy mô và cấu trúc HTTL trong lịch sử vương triều Lý - Trần - Lê
Tiểu kết
Nghiên cứu về Hoàng Thành Thăng Long nói chung và nghiên cứu về quy mô
và cấu trúc của Cấm Thành và Hoàng Thành Thăng Long nói riêng cho đến nay đã được gần một thế kỷ nếu tính từ các học giả người Pháp Trước đây, khi nghiên cứu
về quy mô và cấu trúc của HTTL, các nhà nghiên cứu tuy đã cố gắng kết hợp giữa các nguồn sử liệu với nhau nhằm tìm hiểu về vị trí, cấu trúc, quy mô về HTTL nhưng kết quả còn hạn chế vì thiếu nguồn sử liệu Chính vì thế, việc tìm hiểu vị trí trung tâm của Hoàng Thành và Cấm Thành Thăng Long ở đâu cũng không tránh khỏi sự
võ đoán Nhiều nhà nghiên cứu Pháp và Việt Nam đoán định Hoàng Thành ở vị trí khu vực Quần Ngựa, có người lại đoán định nó ở khu vực phía Tây của thành Hà
Trang 40Nội thời Nguyễn… hoặc có người chỉ chú ý dùng sử liệu bản đồ hoặc quan tâm nhiều đến các di tích tâm linh hiện tồn trên mặt đất để từ đó suy ra vị trí của HTTL… Công việc nghiên cứu này chỉ được thuận lợi hơn tính từ khi phát lộ khu vực khai quật khảo cổ 18 Hoàng Diệu (năm 2002) cho tới nay Tuy nhiên, không phải vì thế
mà việc xác định trục chính tâm - trung tâm quyền lực của mỗi một thời kỳ cụ thể của mỗi triều đại đã trở lên dễ dàng Trên thực tế, nhiều công trình, tên gọi được đề cập trên các nguồn sử liệu chữ nhưng để tìm hiểu về chức năng và vị trí của chúng trên thực địa như thế nào vẫn là điều hết sức khó khăn, nan giải Vì thế, nên việc tổng hợp các kết quả nghiên cứu, các phương pháp nghiên cứu của các nhà nghiên cứu đi trước là một việc làm hết sức cần thiết Tác giả luận án nhận thức được rằng, việc nghiên cứu về quy mô, cấu trúc của HTTL cần phải có sự kết hợp triệt để của nhiều nguồn sử liệu bên cạnh các nguồn sử liệu như thư tịch, bản đồ, tư liệu dân gian… còn có thêm nguồn sử liệu từ vật thực Việc định hướng nghiên cứu về quy
mô và cấu trúc của HTTL từ đây như được “định hướng đúng” bởi những “chỉ dẫn” của nhiều nguồn sử liệu mới trong đó có sử liệu khảo cổ Chính vì thế, công việc nghiên cứu, so sánh các loại sử liệu với nhau như: nghiên cứu so sánh sử liệu vật thực với vật thực, sử liệu vật thực với sử liệu chữ viết, giữa sử liệu chữ viết với nhau… và tất cả phải đặt trong một phương pháp liên ngành mới có thể từng bước lý giải được một số vấn đề về quy mô, cấu trúc của HTTL trong lịch sử
Từ năm 2002 cho đến nay, thời gian đối với công việc nghiên cứu chưa phải
là dài, hơn nữa nhiều vấn đề khoa học cũng cần phải tiếp tục nghiên cứu, thêm vào
đó là nhiều địa điểm trong khu vực HTTL chưa tiến hành khai quật, do đó các vấn đề
về quy mô, cấu trúc của HTTL vẫn còn cần phải được tiếp tục nghiên cứu trong tương lai Tuy nhiên, với những thành quả nghiên cứu của giới khoa học xã hội nói chung và giới nghiên cứu khảo cổ, sử học nói riêng trong suốt gần hai thập kỷ qua việc nghiên cứu về HTTL đã đạt được nhiều kết quả vượt bậc so với thời gian trước
đó
Trong luận án, tác giả đã sử dụng các phương pháp chuyên ngành và phương pháp nghiên cứu liên ngành, nhiều nguồn sử liệu chữ viết và nguồn sử liệu vật thực