Để trả lời câu hỏi này, tôi xin được đưa ra kinh nghiệm của mình chia sẻ với các bạn đồng nghiệp thông qua đề tài: “Tích hợp kiến thức văn thơ, tục ngữ, ca dao vào giảng dạy một số bài
Trang 1SỞ GD & ĐT TỈNH VĨNH PHÚC TRƯỜNG THPT TAM ĐẢO 2
TÍCH HỢP KIẾN THỨC VĂN THƠ, TỤC NGỮ, CA DAO
VÀO GIẢNG DẠY MỘT SỐ BÀI PHẦN TỰ NHIÊN ĐỊA LÍ 10 – THPT THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC VÀ PHẨM CHẤT HỌC SINH
Tác giả sáng kiến: Nguyễn Thị Mai
Mã sáng kiến: 11.58.02
Vĩnh Phúc, năm 2020
Trang 2MỤC LỤC
Trang
1 Lời giới thiệu……….……… 1
1.1 Lí do chọn đề tài………….….………….….………….….………….….…… 1
1.2 Mục đích………….….………….….………….….………….….………….…. 3
1.3 Điểm mới của sáng kiến ………….….………….….………….….…………. 3
2 Tên sáng kiến……….……… 4
3 Tác giả sáng kiến………….……….……… 4
4 Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến……… … 4
5 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến ……….… 4
6 Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử……….… 4
7 Mô tả bản chất của sáng kiến……….……… 4
7.1 Về nội dung sáng kiến ………….….………….….………….….………….…. 5
7.1.1 Cơ sở lý luận và thực tiễn ….….………….….………….….………… 5
a Dạy học tích hợp, liên môn ……….……….……… 5
b Dạy học theo định hướng phát triển năng lực ……….……….… 6
c Thực trạng tích hợp kiến thức ……….……….………… 7
d Những điều kiện cho việc nghiên cứu……….……… …. 9
7.1.2 Các bước thực hiện giải pháp……….……….……… 9
a Bước 1 - Xây dựng hệ thống nội dung cần tích hợp……….……. 10
b Bước 2 - Biên soạn hệ thống văn thơ ……….……….…. 15
c Bước 3 – Cách khai thác nội dung ……… 37
d Bước 4 - Thiết kế giáo án, dạy thực nghiệm………. 41
e Bước 5 - Kiểm tra, đánh giá……….……… 53
7.1.3 Ý nghĩa ……….……….……… 54
7.2 Tính khả thi và khả năng áp dụng của sáng kiến……… ……. 55
8 Những thông tin cần được bảo mật: ………
56 9 Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến……….
56 9.1 Điều kiện cần thiết………….….………….….………….….………….….… 56
9.2 Một số vấn đề cần lưu ý………….….………….….………….….……… 57
9.3 Bài học kinh nghiệm………….….………….….………….….………….….… 58
10 Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến ……… 58
10.1 Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng kiến theo ý kiến của tác giả………….….………….….………….….………….….………
58 10.2 Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng sáng kiến theo ý kiến của tổ chức, cá nhân………….….………….….………….….………….…
61 11 Danh sách những tổ chức/cá nhân đã tham gia áp dụng thử ……… … 64
TÀI LIỆU THAM KHẢO ……… 65
Trang 3PHỤ LỤC……… 66
DANH MỤC VIẾT TẮT
DTNT Dân tộc nội trúGDPT Giáo dục phổ thông
GV Giáo viên
HS Học sinh SGK Sách giáo khoa THPT Trung học phổ thông
Trang 4BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN
1 Lời giới thiệu
Thơ, ca dao, tục ngữ là những sáng tác văn học có vần, nhạc điệu, giàu hìnhảnh, kết cấu ngắn gọn dễ nhớ phản ánh nhận thức tâm tư của con người trước cáchiện tượng đời sống trong đó có các hiện tượng tự nhiên Việc sử dụng kiến thứcvăn học, thơ, ca dao, tục ngữ vào bài dạy là một công cụ để tạo hứng thú cho họcsinh, để minh họa cho bài học, để củng cố, kiểm tra kiến thức và đánh giá khảnăng vận dụng của các em vào những tình huống cụ thể, phù hợp với quan điểm
“học đi đôi với hành” lý thuyết gắn với thực tiễn cuộc sống
Việc sử dụng thơ, ca dao, tục ngữ trong dạy học Địa lí cũng mang nhiều ýnghĩa tích cực với việc học môn Ngữ văn, làm cho các em hiểu được phần hiệnthực cuộc sống phản ánh trong thơ, trong ca dao tục ngữ Hơn nữa, việc sử dụngvăn thơ, ca dao, tục ngữ trong dạy học Địa lí cũng hoàn toàn phù hợp với quanđiểm tích hợp liên môn của Bộ giáo dục và Đào tạo hiện nay
1.1 Lí do chọn đề tài
Nghị quyết Đại hội XII của Đảng đã xác định một trong những nhiệm vụtrọng tâm "đột phá chiến lược" đó là: “Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đàotạo; phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao” Đổi mớinền giáo dục theo hướng tiếp cận năng lực, phù hợp với xu thế phát triển chươngtrình giáo dục của thế giới và bắt kịp nền giáo dục của các nước tiên tiến
Chính vì thế, việc đổi mới tư duy giáo dục trong thời đại tri thức nhằm đáp
ứng sự thay đổi của cuộc sống phát triển không ngừng là một tất yếu. Đổi mới phương pháp dạy học trước hết là đáp ứng yêu cầu cần đạt về phẩm chất, năng lực người học và cuối cùng là vì mục tiêu đáp ứng bối cảnh của thời đại, nhu cầu
phát triển đất nước
Có thể xem đây là một điều kiện tiên quyết trong việc thực hiện Nghị quyết số
88/2014/QH13 ngày 28/11/2014 của Quốc hội khóa 13: "Tạo chuyển biến căn bản, toàn diện về chất lượng và hiệu quả giáo dục phổ thông; kết hợp dạy chữ, dạy người
và định hướng nghề nghiệp; góp phần chuyển nền giáo dục nặng về truyền thụ kiến thức sang nền giáo dục phát triển toàn diện cả về phẩm chất và năng lực, hài hòa trí, đức, thể, mỹ và phát huy tốt nhất tiềm năng của mỗi học sinh".
Đổi mới phương pháp dạy học Địa lí là một nhiệm vụ quan trọng của ngườigiáo viên Địa lí trong nhà trường phổ thông, góp phần vào việc vào việc thực hiệnthành công công cuộc đổi mới giáo dục cả nước
Trang 5Dạy học từng môn riêng rẽ như hiện nay có tác dụng cung cấp kiến thứckhoa học, loogic, có hệ thống của từng lĩnh vực vào điều kiện phân hóa theo địnhhướng nghề nghiệp của học sinh Tuy nhiên điều này cũng nảy sinh những bất cậpnhư khó phát triển năng lực học sinh dẫn đến tâm lí giáo viên nào cũng coi môncủa mình là quan trọng, môn nào cũng muốn đưa nhiều kiến thức vào sách giáokhoa dẫn đến quá tải đối với học sinh Tích hợp và dạy học tích hợp sẽ khắc phụcđược những bất cập trên.
Địa lí học là môn học có tính khái quát cao và kiến thức địa lí có mối liên
hệ, sử dụng các thành tựu của các môn học khác như toán học, hóa học… trong đóthơ, tục ngữ, ca dao có mối quan hệ chặt chẽ với địa lí học Chính vì vậy, sử dụngthơ, tục ngữ, ca dao trong giảng dạy địa lí giúp cho giáo viên và học sinh chủđộng trong quá trình dạy và học, đem lại hiệu quả tích cực, nâng cao chất lượnggiáo dục bộ môn
Tục ngữ, ca dao, dân ca - Một loại hình văn hóa độc đáo của người dân Việt
Nam; là những sáng tác dân gian được truyền miệng, phổ biến rộng rãi từ đời nàyqua đời khác Nó thể hiện mọi mặt của cuộc sống Trong quá trình lao động, lý trícủa con người, cảm quan thẩm mỹ được tôi luyện, thể hiện những quan sát, nhữngkinh nghiệm về sản xuất, về thời tiết, về trồng trọt, chăn nuôi Mặc dù cho đếnnay với sự phát triển của khoa học, kỹ thuật công nghệ hiện đại, sự hiểu biết củaloài người về thế giới đã có nhiều tiến bộ, song những câu tục ngữ, ca dao vẫn cònnguyên giá trị đối với môn Địa lí
Việc sử dụng thơ, ca dao, tục ngữ trong dạy học Địa lí tự nhiên là hoàn toàn
có cơ sở lí luận và thực tiễn Điểm giao hòa giữa thơ, ca dao tục ngữ và Địa lí tựnhiên là đều phản ánh đặc điểm của tự nhiên, mối quan hệ giữa tự nhiên với tựnhiên, ảnh hưởng của tự nhiên đến đời sống kinh tế xã hội So với Địa lí thì thơ,
ca dao, tục ngữ mô tả tự nhiên mang tính chất hình ảnh, nghệ thuật làm cho ngườiđọc, người nghe dễ nhớ hơn
Nói cách khác, vận dụng văn thơ, ca dao, tục ngữ trong dạy học Địa lí bảnchất là việc dạy học tích hợp, liên môn theo định hướng phát triển năng lực vàphẩm chất người học Vấn đề đặt ra là sử dụng văn thơ, ca dao, tục ngữ trong dạyhọc Địa lí như thế nào, sao cho hiệu quả?
Để trả lời câu hỏi này, tôi xin được đưa ra kinh nghiệm của mình chia sẻ với
các bạn đồng nghiệp thông qua đề tài: “Tích hợp kiến thức văn thơ, tục ngữ, ca dao vào giảng dạy một số bài phần tự nhiên Địa lí 10 - THPT theo hướng phát triển năng lực và phẩm chất học sinh”.
Trang 61.2 Mục đích
- Tìm hiểu, nghiên cứu những vấn đề cốt lõi trong dạy học tích hợp, liênmôn kiến thức văn thơ, tục ngữ, ca dao vào giảng dạy phần tự nhiên Địa lí 10 –THPT để dạy học theo hướng tích cực, nhằm định hướng phát triển năng lực vàphẩm chất cho học sinh
- Với học sinh:
+ Giúp học sinh hình thành, phát triển các năng lực và phẩm chất cốt lõi.Giáo dục sâu sắc thái độ, hành vi tích cực cho học sinh, giáo dục lòng nhân ái,tình yêu quê hương đất nước, sống có lí tưởng, hoài bão và trách nhiệm
+ Các chủ đề tích hợp, liên môn có tính thực tiễn nên sinh động, hấp dẫn, sẽtạo ra động cơ, hứng thú học tập cho học sinh Đồng thời, phẩm chất vànăng lực của người học cũng được hình thành và phát triển quacác hoạt động giao lưu, kết nối, tương tác với thực tiễn đời sống
để khơi dậy hứng thú học tập, rèn luyện kỹ năng sống, nâng caohiểu biết về các giá trị văn hóa truyền thống dân tộc và tinh hoavăn hóa thế giới…
+ Học sinh được tăng cường vận dụng kiến thức tổng hợp vào giải quyếtcác tình huống thực tiễn, ít phải ghi nhớ kiến thức một cách máy móc
- Đối với giáo viên:
+ Dạy học theo các chủ đề tích hợp, liên môn không những giảm tải chogiáo viên trong việc dạy các kiến thức liên môn trong môn học của mình mà còn
có tác dụng bồi dưỡng, nâng cao kiến thức và kĩ năng sư phạm cho giáo viên
+ Cung cấp cho giáo viên các tư liệu về văn học, thơ, ca dao, tục ngữ liênquan đến dạy học Địa lí tự nhiên, giải thích nội dung Địa lí chứa đựng trong cáccâu thơ, câu ca dao tục ngữ đó
+ Làm đa dạng, sử dụng linh hoạt các phương pháp, kĩ thuật dạy học tíchcực nhằm giúp người học chủ động, tích cực khai thác kiến thức
+ Đề tài là kinh nghiệm quý báu để chia sẻ, trao đổi với đồng nghiệp mởrộng sử dụng kiến thức liên môn, môn văn học, ca dao, tục ngữ, thành ngữ trongnhiều bộ môn, giúp giáo viên sưu tầm, sáng tác văn học vào mục đích giảng dạy
1.3 Điểm mới của sáng kiến
- Tìm ra một trong những giải pháp để dạy học tích cực, nhằm hình thành,phát triển được năng lực và phẩm chất cho học sinh theo định hướng của chươngtrình GDPT mới
Trang 7- Đổi mới theo hướng này sẽ giúp các em có thể vận dụng được kiến thức
để giải quyết các vấn đề thực tiễn trong cuộc sống Giúp học sinh hình thành, pháttriển các năng lực và phẩm chất cốt lõi mà thực tế xã hội yêu cầu Giáo dục sâusắc thái độ, hành vi tích cực, giáo dục lòng nhân ái, tình yêu quê hương đất nước,sống có lí tưởng, hoài bão và trách nhiệm cho học sinh
- Việc sử dụng văn thơ, ca dao, tục ngữ trong giảng dạy Địa lí 10 – nhất
là phần Địa lí tự nhiên giúp cho giáo viên có nhiều lựa chọn trong khâu thiết
kế bài dạy, đa dạng hình thức tổ chức và phương pháp dạy học Vai trò củangười thầy trong tiết dạy được nâng cao, dẫn dắt học sinh tìm tòi, khám phákiến thức, nhớ bài lâu hơn
2 Tên sáng kiến
“Tích hợp kiến thức văn thơ, tục ngữ, ca dao vào giảng dạy một số bài phần tự nhiên Địa lí 10 - THPT theo hướng phát triển năng lực và phẩm chất học sinh”
3 Tác giả sáng kiến
- Họ và tên: Nguyễn Thị Mai
- Địa chỉ tác giả sáng kiến: Trường THPT Tam Đảo 2, huyện Tam Đảo
- Số điện thoại: 0986310299
- Email: nguyenthimai.gvtamdao2@vinhphuc.edu.vn
4 Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến
Tác giả cùng với sự hỗ trợ của các tổ nhóm chuyên môn, Trường THPTTam Đảo 2, trường THPT DTNT Tỉnh về kinh phí, đầu tư cơ sở vật chất - kỹthuật trong quá trình viết sáng kiến và dạy thực ngiệm sáng kiến
5 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến
Dạy học tích hợp liên môn theo định hướng phát triển năng lực và phẩm chất người học
6 Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử
“Tích hợp kiến thức văn học, ca dao, tục ngữ vào giảng dạy một số bài phần tự nhiên Địa lí 10 - THPT để dạy học theo định hướng phát triển năng lực
và phẩm chất học sinh” được dạy thực nghiệm:
- Ở trường THPT Tam Đảo 2 từ năm học 2017-2018
- Ở trường THPT DTNT Tỉnh từ năm học 2018-2019
Trang 87 Mô tả bản chất của sáng kiến
- Nội dung: Đề tài tập trung tìm hiểu các tác phẩm văn thơ, ca dao, tục ngữ
có giá trị kiến thức Địa lí áp dụng cụ thể vào các tiết dạy trong phần tự nhiênchương trình Địa lí 10 – THPT để dạy học theo định hướng phát triển năng lực vàphẩm chất người học Từ đó đưa ra những cách tiếp cận, giảng dạy có hiệu quảlàm tiền đề áp dụng rộng rãi hơn trong các trường bạn, trong toàn tỉnh và chonhững năm học sau
- Phạm vi: Đề tài tập trung tìm hiểu các tác phẩm văn thơ, ca dao, tục ngữ
có giá trị kiến thức Địa lí áp dụng cụ thể vào các tiết dạy trong chương trình Địa lí
10 – THPT ban cơ bản phần Địa lí tự nhiên
- Đối tượng: Chương trình Địa lí lớp 10 – THPT ban cơ bản, giúp học sinhhọc tập tích cực, biết vận dụng kiến thức vào giải quyết các vấn đề thực tiến trongcuộc sống
7.1 Về nội dung của sáng kiến
7.1.1 Cơ sở lí luận và thực tiễn
a Dạy học tích hợp, liên môn
* Cơ sở lý luận
Dạy học tích hợp, liên môn là một trong những nguyên tắc quan trọngtrong dạy học Đây được coi là một quan niệm dạy học hiện đại, nhằm phát huytính tích cực của học viên, đồng thời nâng cao chất lượng giáo dục trong cácnhà trường
Dạy học tích hợp, liên môn là hình thức tìm tòi những nội dung giao thoagiữa các môn học với nhau, những khái niệm, tư tưởng chung giữa các môn học,tức là con đường tích hợp những nội dung từ một số môn học có liên hệ với nhau.Tích hợp là một khái niệm của lí thuyết hệ thống, nó chỉ trạng thái liên kết cácphần tử riêng rẽ thành cái toàn thể, cũng như quá trình dẫn đến trạng thái này
Việc sử dụng kiến thức liên môn có vai trò quan trọng trong giảng dạy giữamôn Văn học, ca dao, tục ngữ và Địa lí cũng có mối quan hệ rất chặt chẽ
“Địa lí thể hiển toàn bộ hoặc một phần bề mặt tự nhiên của Trái Đất và các hiện tượng tự nhiên, kinh tế, dân cư cùng tình hình phân bố của chúng trên bề mặt đó Địa lí học là là môn học về sự biến đổi vị trí không gian về hiện tượng tự nhiên và con người trên Trái Đất”.
Trang 9“Văn học là một loại hình sáng tác, tái hiện những vấn đề của đời sống xã hội và con người Phương thức sáng tạo của văn học được thông qua sự hư cấu, cách thể hiện nội dung các đề tài được biểu hiện qua ngôn ngữ”
Văn học có vô vàn chức năng: "văn dĩ tải đạo", văn thơ làm vũ khí chiến đấuchống lại cường quyền, chức năng "mua vui", chức năng nhận thức, giáo dục, chứcnăng thẩm mĩ
Từ việc trình bày hai khái niệm và chức năng của 2 bộ môn ta thấy giữamôn Văn học, ca dao, tục ngữ và Địa lí có mối quan hệ chặt chẽ về kiến thức Cảhai bộ môn đều có chức năng nhận thức và giáo dục thái độ hành vi cho ngườihọc Trong quá trình phát triển môn Văn học và Địa lí đều tồn tại và phát triểnsong song trước nhu cầu tìm tòi, khám phá cái mới, trước nhu cầu của cuộc sống.Trong kiến thức văn học có kiến thức địa lí và ngược lại Chúng ta có thể minhchứng bằng các ví dụ sau:
Đời Lê có câu ca dao:
Đường lên Mường Lễ bao xa Trăm bảy mươi thác, trăm ba mươi ghềnh
Để phản ánh về sự xa xôi, hiểm trở, nguy hiểm khi lên Mường Lễ (thị xãMường Lay ngày nay) tác giả dân gian đã sử dụng hình ảnh trăm bảy mươi thác,trăm ba mươi ghềnh Kiến thức địa lí trong câu ca dao đề cập cụ thể tới một địadanh, đặc điểm địa hình của vùng Tây Bắc hiểm trở
* Cơ sở thực tiễn
Trong thực tế, việc sử dụng văn học trong giảng dạy địa lí đòi hỏi người giáoviên phải tâm huyết với nghề, sáng tạo trong dạy học, luôn tìm tòi, mở rộng kiếnthức đặc biệt phải nghiên cứu và có lý luận về việc tích hợp Do hạn chế về công tácbồi dưỡng chủ đề sử dụng kiến thức liên môn nên việc đổi mới phương pháp dạyhọc, đặc biệt sử dụng thơ, tục ngữ, ca dao trong giảng dạy địa lí còn hạn chế
Sử dụng văn học trong giảng dạy địa lí giáo viên học cách phát âm, đọcbiểu cảm các bài thơ, văn, ca dao, tục ngữ chính vì vậy sử dụng văn học tronggiảng dạy địa lí còn mang tính chất minh họa và chưa được sử dụng để học sinhkhai thác kiến thức và chưa được sử dụng vào nhiều khâu của quá trình dạy học
Quá trình thiết kế bài dạy khi sử dụng kiến thức liên môn văn học, tục ngữ,
ca dao… người giáo viên phải đầu tư thời gian nhiều hơn và nắm vững kiến thứcchuyên môn nên không nhiều giáo viên có thể thể sử dụng văn học trong giảngdạy địa lí một cách có hiệu quả
Trang 10b Dạy học theo định hướng phát triển năng lực và phẩm chất người học
Chương trình giáo dục định hướng phát triển năng lực hay còn gọi là dạyhọc định hướng kết quả đầu ra được bàn đến nhiều từ những năm 90 của thế kỷ 20
và ngày nay đã trở thành xu hướng giáo dục quốc tế Giáo dục định hướng pháttriển năng lực nhằm mục tiêu phát triển năng lực người học
Giáo dục định hướng năng lực nhằm đảm bảo chất lượng đầu ra của việcdạy học, thực hiện mục tiêu phát triển toàn diện các phẩm chất nhân cách, chútrọng năng lực vận dụng tri thức trong những tình huống thực tiễn nhằm chuẩn bịcho con người năng lực giải quyết các tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp.Chương trình này nhấn mạnh vai trò của người học với tư cách chủ thể của quátrình nhận thức
Xuất phát từ bối cảnh của thời đại, từ nhu cầu phát triển đất nước, nhu cầuphát triển nguồn nhân lực để xác định mục tiêu giáo dục phổ thông, từ đó xác địnhyêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực người học, nội dung dạy học, phươngpháp dạy học và phương pháp đánh giá kết quả giáo dục
Theo đó, các phẩm chất chủ yếu cần được hình thành và phát triển ở ngườihọc bao gồm: Yêu nước, Nhân ái, Chăm chỉ, Trung thực, Trách nhiệm; và cácnăng lực cũng được xác định bao gồm các năng lực cốt lõi (gồm năng lực chung:
Tự chủ và tự học, Giao tiếp và hợp tác, Giải quyết vấn đề và sáng tạo; các nănglực chuyên môn: Năng lực ngôn ngữ, Năng lực tính toán, Năng lực tìm hiểu tựnhiên và xã hội, Năng lực công nghệ, Năng lực tin học, Năng lực thẩm mỹ, Nănglực thể chất) và các năng lực đặc biệt (năng khiếu)
Từ những lí do nêu ra ở trên, có thể khẳng định:
- Xây dựng, thiết kế chương trình giáo dục theo hướng tiếp cận năng lựcngười học là một xu thế tất yếu Nó giúp người học có khả năng giải quyết cácvấn đề thực tiễn ngay khi rời ghế nhà trường Nói cách khác, đào tạo phù hợp vớinhu cầu xã hội
- Với tiếp cận năng lực, người học sẽ được trang bị kỹ năng để có thể học
cả đời Đây là điều bắt buộc trong bối cảnh khối lượng tri thức tăng lên nhanhchóng như hiện nay
- Thực hiện dạy học theo định hướng phát triển năng lực, phẩm chất ngườihọc là yêu cầu cấp bách và một nội dung quan trọng trong đổi mới căn bản, toàndiện nền giáo dục
Trang 11c Thực trạng tích hợp kiến thức văn học, tục ngữ, ca dao vào giảng dạy phần tự nhiên Địa lí 10 – THPT theo định hướng phát triển năng lực và phẩm chất người học ở các trường THPT tỉnh Vĩnh Phúc
* Thuận lợi
Sở giáo dục hàng năm đều mở các lớp tập huấn, bồi dưỡng trao đổi chuyênmôn, báo cáo chuyên đề cấp cụm và cấp Tỉnh cho giáo viên các môn học nóichung và giáo viên môn Địa lí nói riêng về cách tiếp cận, xây dựng cũng như thựchiện các bài dạy tích hợp liên môn trong giảng dạy
Các nhà trường có cơ sở vật chất khá đảm bảo cho việc dạy và học Các phòngđều được trang bị máy chiếu, có phòng học máy tính kết nối internet tạo điều kiệnthuận lợi cho giáo viên và học sinh khai thác thông tin, tri thức cập nhật phục vụ choviệc dạy và học
Đội ngữ giáo viên các trường trong toàn tỉnh nhìn chung đều có năng lựcchuyên môn tốt, tâm huyết tận tụy với nghề, luôn tìm tòi, sáng tạo, áp dụng nhiềuphương pháp giảng dạy tích cực nhằm giúp học viên nắm kiến thức có hệ thống,trọng tâm
Chương trình Địa lí 10 – Phần tự nhiên đề cập đến các vấn đề về Trái Đất,hiện tượng ngày đêm, nhiệt độ, gió mưa Nội dung rất gần gũi với học sinh, kiếnthức thực tế và được trình bày lôgic trong từng phần và từng bài học cụ thể
Nội dung của chương trình Chương trình Địa lí 10 – Phần tự nhiên chứađựng nhiều trong các thể loại văn học, ca dao, tục ngữ tạo điều kiện thuận lợicho giáo viên chắt lọc sử dụng có hiệu quả để giảng dạy từng tiết học cụ thể
* Khó khăn
Nhìn chung, ở các trường – nhất là các trường huyện xa trung tâm; công tácbồi dưỡng đặc biệt công tác bồi dưỡng tích hợp các môn học, sử dụng kiến thứcliên môn trong giảng dạy còn hạn chế, chủ yếu giáo viên tự bồi dưỡng nên trongquá trình nhận thức và áp dụng vào giảng dạy của giáo viên còn nhiều bỡ ngỡ
Việc sử dụng văn học trong giảng dạy địa lí nếu giáo viên thiếu kỹ năngthiết kế bài dạy sẽ dẫn đến những tri thức địa lí được ẩn chứa trong các tác phẩmvăn học đơn thuần là những ví dụ minh họa
Đối tượng học sinh đầu vào trong tỉnh – đặc biệt là các trường vùng xa,miền núi còn thấp nên khả năng tiếp thu kiến thức, ý thức học tập còn nhiều hạn
Trang 12chế; kinh nghiệm cuộc sống còn ít nên việc giảng dạy tích hợp kiến thức gây khókhăn trong quá trình nhận thức của học sinh.
Số lượng giáo viên bộ môn của mỗi trường ít nên việc trao đổi, học tập kinhnghiệm chuyên môn hạn chế
* Nguyên nhân
- Về phía giáo viên
Trong các buổi tập huấn, bồi dưỡng trao đổi chuyên môn, báo cáo chuyên
đề cấp cụm và cấp Tỉnh, giáo viên trong quá trình bồi dưỡng chuyên môn chưachú trọng đến công tác bồi dưỡng kiến thức liên môn, tích hợp kiến thức nhiềumôn học vào dạy học
Giáo viên tâm lý còn e ngại, không mạnh dạn sử dụng văn học trong giảngdạy, e ngại trước đánh giá của đồng nghiệp Trong trường hợp giáo viên thiếukinh nghiệm giảng dạy, chuyên môn yếu việc sử dụng kiến thức liên môn tronggiảng dạy sẽ đem lại kết quả không mong muốn
Việc tìm hiểu tâm lý học sinh, đặc biệt là học sinh yếu kém của giáo viêncòn hạn chế Giáo viên chưa gắn bài học với thực tế cuộc sống, nặng về cung cấpkiến thức bộ môn cũng là một trong những nguyên nhân việc sử dụng kiến thứcliên môn, môn văn học vào giảng dạy địa lí còn ít
- Về phía học sinh
Đa số học sinh ở các trường huyện là con em nông thôn, miền núi, đời sốnggặp nhiều khó khăn, nhận thức chậm nên việc áp dụng kiến thức liên môn là trởngại đối với giáo viên để hoàn thành mục tiêu bài dạy Trở ngại trong khâu thiết
kế bài dạy và truyền đạt kiến thức cho học sinh
Một số học sinh chưa xác định được mục tiêu học tập đúng đắn nên lườihọc, thời gian đầu tư cho việc học còn ít
d Những điều kiện cho việc nghiên cứu
Tôi lựa chọn trường THPT Tam Đảo 2 và THPT DTNT Tỉnh vì trường cónhững điều kiện thuận lợi cho việc nghiên cứu:
+ Lãnh đạo nhà trường luôn quan tâm, sát sao chuyên môn, nỗ lực trong bốicảnh đổi mới căn bản toàn diện ngành giáo dục
+ Nhà trường có đủ cơ sở vật chất, thiết bị dạy học cần thiết
+ Giáo viên: Hiện đang dạy lớp 10, là giáo viên dạy giỏi cấp Tỉnh, nhiềunăm liền đạt danh hiệu trong cuộc thi Dạy học theo chủ đề tích hợp do Sở giáo
Trang 13dục tổ chứ và là chiến sĩ thi đua cấp cơ sở trong nhiều năm, có lòng nhiệt tình vàtrách nhiệm cao trong công tác giảng dạy và giáo dục học sinh.
+ Học sinh: Học sinh được chọn tham gia nghiên cứu đều tích cực chủđộng Thành tích học tập của năm trước ở mức trung bình, khá trở lên
7.1.2 Các bước thực hiện giải pháp
- Bước 1: Xây dựng hệ thống nội dung cần tích hợp.
- Bước 2: Biên soạn hệ thống thơ, ca dao, tục ngữ phục vụ dạy học Địa lí
lớp 10 phần tự nhiên, giải thích nội dung Địa lí chứa đựng trong các câu thơ, câu
ca dao tục ngữ đó
- Bước 3: Cách khai thác khía cạnh nội dung địa lí của văn thơ, ca dao, tục
ngữ phục vụ dạy học một số bài phần tự nhiên Địa lí lớp 10 –THPT
- Bước 4: Thiết kế giáo án, dạy thực nghiệm.
- Bước 5: Kiểm tra, đánh giá.
a Bước 1 - Xây dựng hệ thống nội dung cần tích hợp
Bài Nội dung
tích hợp
Hệ thống văn thơ, tục ngữ, ca dao
cần sử dụng
Giúp học sinh phát triển Năng
lực
Phẩm chất
“Ông trời nổi lửa đằng đông
Bà sân vấn chiếc khăn hồng đẹp thay”
(Thơ: Buổi sáng nhà em – Trần Đăng Khoa)
Toán học, tìm hiểu tự nhiên và
xã hội, giao tiếp,ngôn ngữ.
Yêu nước, chăm chỉ
“Con sông bên lở bên bồi.
Bên lở thì đục bên bồi thì trong”
Tháng ba cày vỡ ruộng ra Tháng tư làm mạ, mưa sa đầy đồng”
Tìm hiểu
tự nhiên
và xã hội, sáng tạo,
Chăm chỉ, nhân ái
Trang 14năm “Đông qua Xuân lại đến liền,
Hè về rực rỡ, êm đềm Thu sang”
(Thơ:“Truyện Kiều”- Nguyễn Du)
“Nắng chóng trưa mưa chóng tối”
Trách nhiệm, yêu nước
- Mục 4 Quá
trình bồi tụ.
“Thương em anh cũng muốn vô
Sợ truông Nhà Hồ, sợ phá Tam Giang”
(Thơ: Hạt gạo làng ta - Trần Đăng Khoa)
Tính toán, giải quyết vấn đề, tìm hiểu
tự nhiên
và xã hội.
Chăm chỉ, yêu nước.
(Thơ: Sóng-Xuân Quỳnh)
“Gió nam thổi kiệt bảy ngày Ruộng đồng nứt nẻ, cỏ cây úa tàn”
Thuyền ta lái gió với buồm trăng
Tự chủ,
tự học, thẩm mĩ, tính toán, tìm hiểu
tự nhiên
và xã hội.
Chăm chỉ, yêu nước
Trang 15Đêm thở sao lùa nước Hạ Long”
(Thơ: Đoàn thuyền đánh cá - Huy Cận)
Yêu nước, chăm chỉ
(Thơ: Thề non nước -Tản Đà)
Thẩm
mĩ, giao tiếp, ngôn ngữ, sáng tạo, giải quyết vấn đề
Yêu nước, nhân ái, trách nhiệm
Ai đem tai ách cho dân nghèo?
Bởi vì rừng phá sông khô cạn Nên cá, cua, người mới ốm teo!
Phải có rễ cây mới giữ nước Cũng như qua núi ta cần đèo
Ai ơi nuôi dưỡng môi trường sống Nuôi dưỡng màu xanh sự sống leo!
(Thơ: Hãy bảo vệ rừng)
(Thơ: Sóng-Xuân Quỳnh)
Thẩm
mĩ, tính toán, ngôn ngữ, giao tiếp
Yêu nước, trách nhiệm, chăm chỉ
“Mồng một lưỡi trai, mồng hai lá lúa Mồng ba câu liêm, mồng bốn lưỡi liềm Mồng năm liềm giật, mồng sáu thật trăng
Ba mươi chẳng thấy, mặt mày trăng đâu”
Trang 16(Thơ:Trăng khuyết - Phi Tuyết Ba) “Hôm nay chỉ có nửa trăng thôi
Một nửa trăng ai cắn vỡ rồi”
(Thơ: Một nửa trăng – Hàn Mặc Tử)
“Trăng tròn như cái đĩa
Lơ lửng mà không rơi.
Những hôm nào trăng khuyết Trông giống con thuyền trôi”
(Thơ: Trăng sáng - Nhược Thủy)
“Mồng một lưỡi trai, mồng hai lưỡi hái Mồng ba câu liêm, mồng bốn liềm cụt”
“Cận nhiệt ẩm gió mùa nghe quen quen thế nhỉ?
Hè nóng và đông ấm, tuyết rơi cũng hiếm khi Mưa nhiều vào mùa hạ, em nhớ liền, khó chi.”
(Giáo viên Địa lí sưu tầm)
Thẩm
mĩ, sáng tạo, giao tiếp, tìm hiểu tự nhiên và
xã hội
Trách nhiệm, chăm chỉ, yêu nước.
“Đất nào cây ấy”
“Mây xanh thì nắng, mây trắng thì mưa”
“ Trăng quầng thì hạn, trăng tán thì mưa”
“Dày sao thì nắng, vắng sao thì mưa”
“Mặt trăng má đỏ, trời đã sắp mưa”
(Tục ngữ)
“Rừng nay chừng đã lụi tàn Nhạc mưa lỡ nhịp, suối đàn còn đâu?
Tháng ba mây vắng, trời cao Lửa nung rừng cháy một màu hồng hoang
Trách nhiệm, chăm chỉ, yêu nước.
Trang 17vỏ địa
lí
Tán xanh bát ngát, chim mừng hót ca Mạch ngầm chảy bốn mùa hoa Gầu thăm, giếng gửi đầy quà nước
Muốn gửi ra em một chút nắng vàng Thương cái rét của thợ cày, thợ cấy Nên cứ muốn chia nắng đều cho ngoài ấy
Có tình thương tha thiết của trong này”
(Thơ: Gửi nắng cho em -Bùi Lê Dung)
Thẩm
mĩ, ngôn ngữ, giao tiếp.
Nhân ái, yêu nước, chăm chỉ
- Mục II.2.b
Quy luật địa
ô.
“Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây
Bên nắng đốt, bên mưa quây”
(Thơ: Sợi nhớ, sợi thương – Thúy Bắc)
“Gió heo may, chuồn chuồn bay thì bão”
“Tháng bảy kiến đàn, đại hàn hồng thủy”
“Cơn đàng Đông vừa trông vừa chạy”
“Cơn đàng Nam vừa làm vừa chơi”
xã hội, công nghệ, tin học, thẩm mĩ, thể chất
Nhân ái, yêu nước, chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm
“Mồng chín, tháng chín có mưa Thì con sắm sửa cày bừa làm ăn.
Mồng chín, tháng chín không mưa Thì con bán cả cày bừa đi buôn.”
“Đói thì ăn ráy, ăn khoai Chớ thấy lúa trổ tháng hai mà mừng”
“Trời nồm tốt mạ, trời giá tốt rau”
(Tục ngữ)
Khi liên hệ “Con trâu là đầu cơ nghiệp”
Trang 18Trâu ra ngoài ruộng, trâu cày với ta”
“Ai ơi đừng bỏ ruộng hoang Bao nhiêu tấc đất, tấc vàng bấy nhiêu”.
“Hải Vân bát ngát ngàn trùng Hòn Hồng ở đấy là trong Vịnh Hàn”
“Xứ Cần Thơ nam thanh nữ tú
Xứ Rạch Giá vượn hú, chim kêu”
“Đồng Tháp Mười cò bay thẳng cánh Nước Tháp Mười lóng lánh cá tôm”
“Áo rách, chi lắm áo ơi !
Áo rách trăm mảnh, không nơi rận nằm”
“Anh đi anh nhớ quê nhà Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương”
“Cầu cho mưa thuận, gió hòa
Để tôi đi cấy, trẻ nhà nó chơi”
“Muốn nói gian, làm quan mà nói”
“Miệng quan, trôn trẻ”
“ Ai ơi nhớ lấy câu này Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan”
(Tục ngữ)
Trang 19Lưu ý rằng mỗi câu ca dao tục ngữ hay trích đoạn thơ có thể sử dụng ởnhiều bài khác nhau.
Cụ thể:
b.1 Để sử dụng cho nội dung bài dạy
Bài 5: Vũ trụ Hệ Mặt trời và Trái Đất Hệ quả chuyển động tự quay quanh trục của Trái Đất
Ví dụ 1: Trong bài “Buổi sáng nhà em” Trần Đăng Khoa viết:
“Ông trời nổi lửa đằng đông
Bà sân vấn chiếc khăn hồng đẹp thay”
Câu thơ “Ông trời nổi lửa đằng đông” phản ánh hiện tượng hàng ngày Mặt
Trời mọc phía Đông
Tại sao? Vì Trái Đất tự quay theo chiều từ Tây sang Đông nên ta nhìn thấyMặt Trời mọc phía Đông và lặn phía Tây (chuyển động biểu kiến hàng ngày củaMặt Trời)
Ví dụ 2: Ca dao có câu:
“Thời giờ ngựa chạy, tên bay, Hết trưa lại tối, hết ngày lại đêm”.
Cụm từ “hết ngày lại đêm” phản ánh hiện tượng luân phiên ngày đêm
Lí do: Trái Đất có dạng hình cầu, Mặt Trời chỉ chiếu sáng được một nửa TráiĐất nên sinh ra hiện tượng ngày đêm Tuy nhiên do Trái Đất tự quay quanh trục nênmọi địa điểm trên Trái đất đều lần lượt được đưa ra ánh sáng (ngày) rồi lại khuất vàotrong bóng tối (đêm)
Ví dụ 3: Ca dao Việt Nam có câu:
“Con sông bên lở bên bồi.
Bên lở thì đục bên bồi thì trong”
Trang 20Câu thơ “Con sông bên lở bên bồi” phản ánh hệ quả sự chuyển động lệch
hướng của các vật thể trên Trái Đất Các sông chảy theo phương kinh tuyến ở BắcBán Cầu các dòng sông có bờ phải bị xói lở nhiều hơn (tương ứng, ở Bán CầuNam – bờ trái) và ngược lại ở Bắc Bán Cầu các dòng sông có bờ trái được bồinhiều hơn (tương ứng, ở Bán Cầu Nam – bờ phải) Hiện tượng dòng sông bên lởbên bồi làm cho sông ngòi không chảy thẳng mà thường uốn khúc quanh co nhất
là ở Đồng bằng
Dưới góc độ khoa học, các dòng sông chảy không thẳng mà uốn khúc là do 2nguyên nhân chính: địa hình và lực Côriôlit Dòng sông có xu hướng chảy từ nơi cóđịa hình cao đến nơi có địa hình thấp, những nơi có địa hình gồ ghề thì dòng sông sẽuốn lượn Lực Côriôlit là hệ quả của sự tự quay quanh trục của Trái Đất
Khi Trái Đất quay quanh trục, mọi địa điểm thuộc các vĩ độ khác nhau ở bềmặt Trái Đất (trừ 2 cực) đều có vận tốc dài khác nhau và hướng chuyển động từTây sang Đông
Do vậy các vật thể chuyển động trên Trái Đất sẽ bị lệch hướng so với
ban đầu (vì phải giữ nguyên chuyển động thẳng hướng theo quán tính)
Hình mô phỏng tác dụng làm lệch hướng của lực Côriolit
Sự chuyển động lệch huớng của các
Trang 21và sẽ chảy theo ngược chiều kim đồng hồ Nhưng tình hình trên, ở nam bán cầu sẽngược lại hoàn toàn
Lực Côriôlit tác động mạnh đến hướng chuyển động không chỉ của dòngsông mà còn của các khối khí, các dòng biển, đường đạn bay
Bài 6: Hệ quả chuyển động xung quanh Mặt Trời của Trái Đất
Ví dụ 1: Để khắc sâu kiến thức về hiện tượng “Ngày đêm, dài ngắn theo
mùa” Tôi đọc câu tục ngữ sau:
“Đêm tháng năm chưa nằm đã sáng Ngày tháng mười chưa cười đã tối”
Yêu cầu học sinh vận dụng kiến thức mới học để giải thích Học sinh vẽ hình
Giải thích: Mùa hè ở nửa cầu Bắc (Tháng 5 Việt Nam)
- Ý nghĩa của câu nói: Ở nước ta vào khoảng tháng 6 dương lịch (thángnăm trong câu ca dao theo âm dương lịch) có đêm ngắn hơn ngày (hay ngày dàiđêm ngắn) nên mới nói “chưa nằm đã sáng”
Còn khoảng tháng 11, 12 dương lịch (tháng mười trong câu ca dao theo âmdương lịch) lại có ngày ngắn hơn đêm (hay đêm dài ngày ngắn) nên mới nói
“chưa cười đã tối”
- Những nơi đúng: Bắc bán cầu
- Những nơi không đúng:
+ Xích đạo: luôn có ngày đêm dài bằng nhau
+ Nam bán cầu: hiện tượng ngược lại Khi Bắc bán cầu là mùa hạ thì Nambán cầu là mùa đông, khi Bắc bán cầu là mùa đông thì Nam bán cầu là mùa hạ.Tháng 6 dương lịch (tháng năm âm dương lịch) Mặt Trời chuyển động biểu kiếnlên vùng nội chí tuyến Bắc bán cầu nên thời gian chiếu sáng ở nửa cầu Bắc (ViệtNam) dài nên có hiện tượng ngày dài, đêm ngắn
Trang 22Vào tháng 11, 12 dương lịch (tháng 10 âm dương lịch), Mặt trời chuyểnđộng biểu kiến xuống vùng nội chí tuyến Nam bán cầu nên Nam bán cầu lúc nàyngày dài đêm ngắn và ở Bắc bán cầu (Việt Nam) hiện tượng ngày ngắn - đêm dài.
Hay nói cách khác: Ngày 22/6 hàng năm, tia bức xạ mặt trời chiếu vuônggóc với tiếp tuyến bề mặt trái đất tại chí tuyến bắc (230 27B) nên thời gian chiếusáng ở nửa cầu Bắc (Việt Nam) dài Càng về phía Cực Bắc ngày càng dài, nênhiện tượng ngày dài, đêm ngắn
Vào ngày 22/12, Mặt trời chuyển động biểu kiến về chí tuyến Nam và vuông góctại bề mặt đất tại tiếp tuyến 230 27N (Chí tuyến Nam) thì ở Việt Nam hiện tượngđêm dài ngày ngắn do đó có câu “Ngày tháng Mười chưa cười đã tối”
Ví dụ 2: Trong “Truyện Kiều”, Nguyễn Du viết:
“Sen tàn cúc lại nở hoa Sầu dài ngày ngắn đông đà sang xuân”
Các hiện tượng tự nhiên được nhắc đến trong hai câu thơ trên phản ánh 2 hệ quảcủa Trái Đất chuyển động quanh Mặt Trời:
Các mùa trong năm
- Hệ quả mùa trênTrái Đất Lưu ý rằnghiện tượng 4 mùa chỉ thểhiện rõ ở vùng ôn đới Ởmiền Bắc nước ta mùaxuân thu không rõ, mangtính chất chuyển tiếpgiữa hai mùa nóng lạnh
- Hệ quả ngày đêm dài ngắn theo mùa ”Sầu dài ngày ngắn” ý nói mùa đôngngày ngắn đêm dài Nguyên nhân là do trục Trái Đất nghiêng với mặt phẳng quĩ đạocủa Trái Đất và trong suốt năm trục của Trái Đất không đổi phương trong không giannên có thời kì bán cầu Bắc hoặc bán cầu Nam ngả về phía Mặt Trời Điều đó làm thờigian chiếu sáng và sự thu nhận bức xạ Mặt Trời ở mỗi bán cầu đều thay đổi trong năm
Ví dụ 3: Ca dao có câu:
Trang 23“Tháng chạp là tháng trồng khoai, Tháng giêng trồng đậu, tháng hai trồng cà.
Tháng ba cày vỡ ruộng ra Tháng tư làm mạ, mưa sa đầy đồng”.
Đây là câu ca dao, sử dụng khi dạy phần “các mùa trong năm” Mỗi mùa,
có đặc điểm riêng về thời tiết khí hậu thích nghi với sự phát triển của từng loạicây trồng nên có câu ca trên Hiện nay sự tác động của khoa học, việc ứng dụngcác kỹ thuật trong sản xuất có thể làm thay đổi cơ cấu mùa vụ, tuy nhiên “mùanào, thức nấy” vẫn rất đặc trưng
Mối quan hệ giữa các thành phần tự nhiên rất khăng khít, chúng hoạt độngtheo một quy luật thống nhất và hoàn chỉnh Chỉ một thành phần tự nhiên thay đổi
sẽ làm cả tổng hợp thể tự nhiên thay đổi theo, mà nguyên nhân sâu xa là sự thayđổi của bức xạ Mặt trời, do “chuyển động biểu kiến” từ nửa cầu này sang nửa cầukia của Mặt trời: Khi Mặt trời chuyển động về phía cầu nào thì các yếu tố: nhiệt
độ, khí áp, hướng gió, mưa, sự phát triển của sinh vật sẽ thay đổi tạo ra cảnh quanđịa lý đặc trưng theo mùa
Ví dụ 4: Ca dao có câu:
“Đông qua Xuân lại đến liền,
Hè về rực rỡ, êm đềm Thu sang”
Câu ca dao phản ánh hiện tượng mùa trên Trái Đất Một năm chia thành 4 mùaxuân, hạ, thu, đông
Mùa là một phần thời gian của năm có những đặc điểm riêng về thời tiết khíhậu Nguyên nhân là do trục Trái Đất nghiêng với mặt phẳng quĩ đạo của Trái Đất vàtrong suốt năm trục của Trái Đất không đổi phương trong không gian nên có thời kìbán cầu Bắc hoặc bán cầu Nam ngả về phía Mặt Trời Điều đó làm thời gian chiếusáng và sự thu nhận bức xạ Mặt Trời ở mỗi bán cầu đều thay đổi trong năm
Ví dụ 5: Tục ngữ có câu:
“Nắng chóng trưa mưa chóng tối”
Vì trời nóng cường độ bức xạ Mặt Trời trực tiếp cung cấp cho mặt đất lớn,
vì bầu trời không mây nên ta cảm thấy ngày dài ra, ánh sáng Mặt Trời chói changhơn, còn bầu trời mưa thì âm u, nhiều mây, lượng bức xạ Mặt Trời cung cấp chomặt đất giảm và chủ yếu là bức xạ khuếch tán, nên ta cảm thấy thời gian đượcchiếu sáng hầu như ngắn lại (mưa chóng tối)
Trang 24Như vậy độ dài ngày đêm ngoài phụ thuộc vào đặc điểm thời tiết địaphương (mây, mưa )
Bài 9: Tác động của ngoại lực đến địa hình bề mặt Trái Đất
Ví dụ 1: Tục ngữ có câu “Nước chảy đá mòn”
Hiện tượng trên phản ánh tác động của ngoại lực đến địa hình bề mặt TráiĐất Cụ thể “Nước chảy đá mòn” là kết quả của quá trình mài mòn do dòng nước.Nước chảy tạo ra năng lượng làm phá hủy đá và cuốn đi nên “đá mòn” Lưu ýrằng quá trình mài mòn diễn ra chủ yếu trên bề mặt đá nên tốc độ chậm
Ví dụ 2: Ca dao có câu:
“Thương em anh cũng muốn vô
Sợ truông Nhà Hồ, sợ phá Tam Giang”
Đầm phá ven bờ biển là một dạng địa hình có hình dáng kéo dài, được ngăncách với biển bởi hệ thống đê cát và có cửa thông nối với biển Cửa đầm phá cóthể một hoặc nhiều, mở thường xuyên hoặc định kỳ về mùa mưa lũ, thậm chí bịđóng kín nhưng vẫn trao đổi với biển phía ngoài nhờ thẩm thấu hay chảy thấmqua thân đê cát chắn
Đầm phá được hình thành ở nơi giàu nguồn bồi tích cát ven bờ, động lựcsóng mạnh và thuỷ triều không lớn
Đầm phá ven bờ có mặt ở nhiều nơi, chiếm khoảng 13% chiều dài đường bờđại dương thế giới Ở Việt nam, các đầm phá tập trung ở Miền Trung Từ ThừaThiên - Huế tới Ninh Thuận, có 12 đầm phá tiêu biểu với tổng diện tích khoảng458km2, phân bố trên khoảng 21% chiều dài bờ biển Việt Nam Hệ đầm phá TamGiang - Cầu Hai ở Thừa Thiên - Huế dài 70 km, rộng 216 km2 thuộc loại lớn nhấtĐông Á và loại lớn trên thế giới Phá Tam Giang ngày xưa hai bên bờ là những đầmlầy đầy lau lách - nơi có sào huyệt của một nhóm cướp khét tiếng vào thời kỳ bấy giờ
- cho nên thương em mà không dám vô cớ là vậy
Bài 11: Khí quyển Sự phân bố nhiệt độ không khí trên Trái Đất
Ví dụ 1: Ca dao Việt Nam có câu:
“Bao giờ cho đến tháng ba Hoa gạo rụng xuống bà già cất chăn”
Ý nghĩa câu ca dao: ở Bắc Bộ nước ta tháng 3 (tức tháng 4 dương lịch) thời tiếtnóng lên
Trang 25Nguyên nhân là do Mặt trời chuyển động biểu kiến lên Bắc bán cầu nênlượng bức xạ nhận được lớn Hơn nữa gió mùa đông bắc xuất phát từ áp cao Xibiathổi yếu nên nhiệt độ tăng cao Do vậy “bà già cất chăn”.
Ví dụ 2: Trong bài thơ “Hạt gạo làng ta” của Trần Đăng Khoa có đoạn:
“Những trưa tháng sáu Nước như ai nấu Chết cả cá cờ Cua ngoi lên bờ”
Tháng 6 ở đồng bằng Bắc Bộ nhiệt độ thường cao
Nguyên nhân là bởi khoảng thời gian này đồng bằng có hiện tượng MặtTrời lên thiên đỉnh, góc nhập xạ lớn, thời gian chiếu sáng dài nên nhiệt độ củanước thường cao vì vậy nước như được nấu sôi rất nóng khiến chết cá cờ, cua ởtrong hang phải ngoi lên bờ
Bài 12: Sự phân bố khí áp Một số loại gió chính
Ví dụ 1: Trong bài thơ “Sóng” Xuân Quỳnh viết:
“Từ nơi nào sóng lên Sóng bắt đầu từ gió Gió bắt đầu từ đâu?”
“Gió bắt đầu từ đâu” Gió là sự chuyển động của không khí từ nơi áp cao (trị
Khi không khí vượt sang sườn bên kia, hơi nước đã giảm nhiều Nhiệt độtăng lên theo tiêu chuẩn không khí khô khi xuống núi, trung bình là 100m tăng
Trang 26Ví dụ 3: Trong bài thơ “Đoàn thuyền đánh cá”, Huy Cận viết:
“Mặt trời xuống biển như hòn lửa Sóng đã cài then, đêm sập cửa Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi
Thuyền ta lái gió với buồm trăng
Đêm thở sao lùa nước Hạ Long
Ta hát bài ca gọi cá vào
Gõ thuyền đã có nhịp trăng sao
Sao mờ kéo lưới kịp trời sáng”
Tàu buồm thường ra khơi đánh cá vào ban đêm do ban đêm có hoạt động của gió đất
Ban đêm mặt đất tỏa nhiệt và lạnh đi nhanh chóng, hình thành khu áp cao tạmthời ở đất liền Đại dương toả nhiệt chậm nên hình thành áp thấp Gió có hướng thổi
từ đất liền ra biển gọi là Gió đất Vì vậy, tàu buồm ra khơi vào lúc đêm theo hướnggió đất thổi mạnh nhất
Bài 13: Ngưng đọng hơi nước trong khí quyển Mưa
Ví dụ 1: Tục ngữ có câu: “Trăng quầng thì hạn trăng tán thì mưa”
Dự báo hiện tượng mưa
Mỗi khi quanh mặt trời hoặc mặt trăng xuất hiện những vòng ánh sáng khálớn màu trắng hoặc nhiều màu, ông bà lại nhắc con cháu thu dọn thóc đang phơi,cất quần áo, đóng cửa sổ Họ bảo nhau sắp có mưa gió đến Vầng sáng ấy đượcgọi là tán hay quầng
Quầng ánh sáng xuất hiện xung quanh mặt trời phần lớn là có màu sắc theothứ tự từ trong ra ngoài là hồng, da cam, vàng, lục, lam, chàm, tím Quầng xuấthiện quanh mặt trăng phần lớn là màu trắng
“Quầng” xuất hiện khi bầu trời có mây ti tầng Lớp mây này là những mây ở tầngcao do vô vàn tinh thể băng li ti tạo thành, đáy lớp mây cách mặt đất khoảng hơn
6 km Không khí ở đây lúc này vẫn còn lạnh, thời tiết vẫn tốt
Tuy nhiên, ở nơi xa (cách đó khoảng mấy trăm km), luồng không khí nóng
ẩm đang giao tranh với luồng không khí lạnh Không khí dần ấm nóng và bay lêntheo mặt nghiêng của khối không khí lạnh Trong quá trình không khí nóng lêncao, nhiệt độ của khối khí bị giảm dần, hơi nước ngưng đọng thành tầng mây
Trang 27Vì mây ti tầng hình thành ở độ cao trên 6 km, nhiệt độ không khí lúc này đã
hạ xuống khoảng - 20 độ C, do đó có thể tạo thành những tinh thể băng hình trụhoặc hình lục lăng Khi tia nắng mặt trời và ánh trăng chiếu qua tinh thể băng này
sẽ tạo ra quầng mặt trời hoặc quầng mặt trăng
Khi ta nhìn thấy quầng mặt trời hoặc quầng mặt trăng chứng tỏ mặt đất nơi
ta đứng tuy vẫn có không khí lạnh khống chế, thời tiết vẫn bình thường, nhưng ởtrên cao đã xuất hiện không khí nóng, và khi hơi nóng từ mặt đất bốc lên ngàycàng lan đến gần nơi ta đứng hơn, thì ảnh hưởng tiếp theo sẽ là mây ngày càngthấp, gió mạnh dần lên Cuối cùng là những giọt mưa rơi Vì vậy, quầng là dấuhiệu đầu tiên cho thấy sẽ có mưa gió
Ngoài ra, tại khu vực ngoại vi của bão cũng thường có lớp mây cuốn vàquầng, sau quầng các đám mây dần dần dày lên và đen đặc, tiếp đó sẽ có mưa
to gió lớn
Nhưng, không có nghĩa là hễ mặt trời có quầng, vầng trăng có tán thì nhấtđịnh có mưa gió Chủ yếu ở đây là thời tiết sẽ xấu đi, còn mưa gió hay không lạiphụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nữa
Ví dụ 2: Tục ngữ có câu:
“Dày sao thì nắng Vắng sao thì mưa”
Về mùa hè vào ban đêm nhìn thấy sao mọc dày và sáng ta có thể biết đượctrời còn có thể nắng và ngược lại sao mọc thưa là báo hiệu trời có thể mưa
Cơ sở khoa học: lớp không khí chứa ít hơi nước thì bầu trời mới quang mây
và đó là điềm trời nắng cho nên mới nhìn thấy sao mọc dày và sáng
Ngược lại không khí có dộ ẩm cao, bầu trời sẽ nhiều mây và đục mờ, đó làđiềm trời dễ có mưa cho nên mới thấy sao thưa
Câu ca dao sau cũng có ý nghĩa tương tự như câu tục ngữ trên:
“Đêm trời tang, trăng sao không tỏ,
Ấy là điềm mưa gió tới nơi.
Đêm nào sao sáng xanh trời,
Ấy là nắng ráo yên vui suốt ngày.”
Ví dụ 3: Tục ngữ có câu:
“Mặt trăng má đỏ Trời đã sắp mưa”
Trang 28Dự báo hiện tượng mưa.
Cơ sở khoa học: Ánh sáng Mặt Trời là dãy ánh sáng quang phổ gồm 7 màu.Mặt Trăng không phát ánh sáng mà phản chiếu ánh sáng Mặt Trời Nếu không khítrong sạch tia xanh và tia tím sẽ bị khuếch tán nhiều hơn, bầu trời có màu xanh vàlúc ta nhìn thấy đĩa mặt trăng hay mặt trời có màu vàng Trong trường hợp bầutrời có nhiều nước, nhiều bụi, từ đó nhìn từ dưới đất nhìn lên bầu trời ta thấy MặtTrăng hay Mặt Trời có màu đỏ (Trăng má đỏ) bởi vì tia bức xạ bị khuếch tánnhiều hơn cả Như vậy khi thấy Mặt Trăng màu đỏ chứng tỏ không khí ẩm ướt vàvẫn đục, tình trạng thường thấy khi thời tiết chuyển xấu nên “Trăng má đỏ” trời
đã sắp mưa
Ví dụ 4: Ca dao có câu:
“Rễ Si đâm ra trắng xóa Mưa to gió lớn hẳn là tới nơi”
Dự báo hiện tượng mưa
Mỗi khi thời tiết thay đổi thì một số loại thực vật như cây Si (Sanh) rất nhạycảm với thời tiết nên các hoạt động sinh lý của nó biến đổi Si là loại cây to, lánhỏ, rậm cành, có nhiều rễ phụ xuống, thường mọc ở bờ nước nên rất nhạy cảmvới độ ẩm không khí, khi độ ẩm không khí tăng lên rễ Si sinh ra trắng xoá vì hútnhiều nước Như vậy thời tiết rất dễ mưa nên nhân dân ta có cách dựa vào đó để
dự báo thời tiết
Bài 15: Thủy quyển Một số nhân tố ảnh hưởng đến chế độ nước sông
Ví dụ 1: Trong bài thơ Thề non nước, nhà thơ Tản Đà có viết:
“Dù cho sông cạn đá mòn Còn non còn nước hãy còn thề xưa Non cao đã biết hay chưa Nước đi ra bể lại mưa về nguồn”
Trong thơ trên của Tản Đà, “biển” đã được thay bằng “nước” - hai hình ảnh
“non” và “nước” không còn đơn giản là đối tượng để so sánh trong thế bất động,
mà quan trọng hơn nhiều là mối tương quan khăng khít keo sơn giữa chúng Câutrên là con người mượn non và biển để thề, còn ở đây là non và nước thề với nhau
Cả bài thơ do vậy được xây dựng trên một cái tứ chung: “nước đi ra bể lạimưa về nguồn” - vòng lưu chuyển của nước từ ruột đất chảy thành sông suối, tuôn
ra biển, rồi biển lại bốc hơi thành mây, mây hoá thành mưa, mưa lại rơi xuốngđất Đó là quy luật của trời đất
Trang 29“Dòng Cửu Long xuôi chảy dịu dàng” hay “Bạc Liêu nước chảy lờ đờ”
phản ánh tốc độ chảy của sông Cửu Long (sông này chảy qua địa phận tỉnh BạcLiêu) chậm, nước sông lên chậm rút chậm
Nguyên nhân: Lưu vực dạng lông chim, diện tích lớn, độ dốc nhỏ, lưu vựcchảy qua địa hình đồng bằng Vai trò của Biển Hồ điều tiết chế độ nước sông.Mùa lũ từ tháng 7 đến 12 lũ lên chậm và xuống chậm bởi khi sông thoát lũ ra biển
đổ theo 9 cửa khiến cho lũ thoát nhanh Đồng bằng địa hình thấp cộng với hệthống kênh rạch chằng chịt có tác dụng phân lũ nhanh sang các khu vực xungquanh
Bài 16: Sóng Dòng biển Thủy triều
Ví dụ 1: Trong bài thơ “Sóng” Xuân Quỳnh viết:
“Từ nơi nào sóng lên Sóng bắt đầu từ gió Gió bắt đầu từ đâu?”
Sóng biển là một hình thức dao động của nước biển theo chiều thẳng đứngnhưng lại cho người ta có cảm giác là nước biển chuyển động theo chiều ngang từngoài khơi xô vào bờ Nguyên nhân chủ yếu tạo nên sóng là gió Ngoài ra còn một
số nguyên nhân khác như do động đất, núi lửa dưới đáy biển, đại dương
Như vậy câu thơ “Sóng bắt đầu từ gió” là đúng nhưng chưa đầy đủ
Ví dụ 2: Đọc bài đồng dao sau:
“Mồng một lưỡi trai, mồng hai lá lúa Mồng ba câu liêm, mồng bốn lưỡi liềm Mồng năm liềm giật, mồng sáu thật trăng Mồng bảy thượng huyền, mười rằm trăng náu Mười sáu trăng treo, mười bảy sảy giường chiếu Mười tám rám trấu, mười chín đụn dịn Hăm mươi giấc tốt, hăm mốt nửa đêm Hăm hai hạ huyền, hăm ba gà gáy
Trang 30Hăm sáu đã vậy, hăm bảy làm sao Hăm tám thế nào, hăm chín thế ấy
Ba mươi chẳng thấy, mặt mày trăng đâu”
Bài đồng dao nói về các pha của Mặt Trăng cũng như thời gian trăng mọc(theo âm dương lịch)
Mặt Trăng là một thiên thể có dạng hình cầu, không tự phát sáng Ánh sáng
mà ta nhìn thấy là nhờ sự phản chiếu ánh sáng Mặt Trời Như vậy khi phần MặtTrăng được chiếu sáng quay về phía chúng ta thì ta mới nhìn thấy Mặt Trăng.Song phần nhìn thấy này luôn thay đổi, có lúc tròn lúc khuyết Sự thay đổi tuầnhoàn này trong một tháng âm dương lịch chính là các tuần trăng Như vậy tuầntrăng là chu kì biến đổi các pha nhìn thấy Trăng
Nguyên nhân do Trái Đất chuyển động xung quanh Mặt Trời còn MặtTrăng lại quay xung quanh Trái Đất nên vị trí tương đối của Mặt Trăng đối vớiMặt Trời và Trái Đất thay đổi
Ngày cuối tháng âm dương lịch, Mặt Trăng ở giữa Mặt Trời và Trái Đất,phía Mặt Trăng quay về Trái Đất không được Mặt Trời chiếu sáng lúc đó ta khôngthấy có trăng
Ngày đầu tháng Trăng ở chếch một chút so với Mặt Trời do đó một phầnđược chiếu sáng, trăng hình lưỡi liềm (trăng non)
Tiếp đó Mặt Trăng đến vị trí vuông góc với đường nối tâm Trái Đất và tâmMặt Trời, nó quay một nửa phần được Mặt Trời chiếu sáng về phía Trái Đất và tanhìn thấy Trăng có hình bán nguyệt, đó là trăng thượng huyền (ngày 7 tháng âmdương lịch)
Khi Mặt Trăng ở vị trí đối diện với Mặt Trời thì Mặt Trăng hướng toàn bộphần được chiếu sáng về phía Trái Đất nên ta thấy trăng tròn (ngày vọng-ngày15,16 tháng âm dương lịch)
Khi Mặt Trăng di chuyển đến vị trí vuông góc với đường nối tâm Trái Đất vàtâm Mặt Trời, ta lại thấy trăng hình bán nguyệt đó là trăng hạ huyền (ngày 22 tháng
âm dương lịch)
Qua ngày hạ huyền Trăng lại tiếp tục nhỏ dần thành hình lưỡi liềm rồi cuốitháng lại không có Trăng
Ví dụ 3: Các trích đoạn thơ sau cũng nhắc đến các pha nhìn thấy Trăng
Trong bài thơ “Trăng khuyết” Phi Tuyết Ba viết:
“Em vui lúc trăng tròn
Trang 31Chạnh lòng khi trăng khuyết Anh ơi anh có biết Trăng hay tình lứa đôi?”
Hàn Mặc Tử viết trong bài “Một nửa trăng”:
“Hôm nay chỉ có nửa trăng thôi Một nửa trăng ai cắn vỡ rồi”
Trong bài thơ “Trăng sáng” Nhược Thủy viết:
“Trăng tròn như cái đĩa
Lơ lửng mà không rơi.
Những hôm nào trăng khuyết Trông giống con thuyền trôi”
Giáo viên có thể khai thác thêm nội dung vì sao trăng “Lơ lửng mà khôngrơi.” Mọi thiên thể trong Vũ trụ đều hấp dẫn nhau Mặt Trăng là thiên thể gần TráiĐất nhất (khoảng cách trung bình 384000 km), giữa chúng có lực hấp dẫn khámạnh Song Mặt Trăng không rơi vào Trái Đất vì lực hấp dẫn giữa chúng cânbằng với lực li tâm khi Mặt Trăng quay quanh Trái Đất
Ví dụ 4: Để giải thích hiện tượng con nước triều “cường”, “kém” liên quan
đến vị trí của mặt trăng, mặt trời và trái đất trong không gian, liên hệ hiện tượngtrăng khuyết thời kỳ triều “kém”, ca dao có câu:
“Mồng một lưỡi trai, mồng hai lưỡi hái Mồng ba câu liêm, mồng bốn liềm cụt”
Mối quan hệ giữa các thành phần tự nhiên rất khăng khít, chúng hoạt độngtheo một quy luật thống nhất và hoàn chỉnh Chỉ một thành phần tự nhiên thay đổi
sẽ làm cả tổng hợp thể tự nhiên thay đổi theo, mà nguyên nhân sâu xa là sự thayđổi của bức xạ Mặt trời, do “chuyển động biểu kiến” từ nửa cầu này sang nửa cầukia của Mặt trời: Khi Mặt trời chuyển động về phía cầu nào thì các yếu tố: nhiệt
độ, khí áp, hướng gió, mưa, sự phát triển của sinh vật sẽ thay đổi tạo ra cảnh quanđịa lý đặc trưng theo mùa
Bài 18: Sinh quyển Các nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển và phân bố sinh vật
Tục ngữ có câu: “Đất nào cây ấy” Câu tục ngữ trên nói về vai trò của đất
đối với thực vật mà theo nghĩa hẹp là với cây trồng Mỗi loại đất thích hợp với 1hay một nhóm thực vật nào đấy
Trang 32Hay Tục ngữ có câu: “Nhất đất, nhì phân, tam cần, tứ giống” Điều này
cho thấy vai trò quan trong của đất đối với sự phát triển của sinh vật (cây trồngtrong nông nghiệp)
Bài 19: Sự phân bố sinh vật và đất trên Trái Đất
Để xử lí các đoạn thông tin kiến thức khó nhớ về việc nhận dạng môi
trường địa lý, thầy/cô có thể viết thành những đoạn thơ ngắn để nhằm giúp các
em dễ nhớ và nhớ được lâu các kiến thức
Chẳng hạn: Môi trường hoang mạc:
“Châu Phi nhiều hoang mạc Nắng nóng và hiếm mưa Một vùng mênh mông cát Xương rồng – loài cây vua”.
Hay môi trường cận nhiệt đới ẩm và cận nhiệt đới gió mùa:
“Cận nhiệt ẩm gió mùa Nghe quen quen thế nhỉ?
Hè nóng và đông ấm Tuyết rơi cũng hiếm khi Mưa nhiều vào mùa hạ
Em nhớ liền, khó chi.”
Bài 20: Lớp vỏ Địa lí Quy luật thống nhất và hoàn chỉnh của lớp vỏ Địa lí
Ví dụ 1: Quy luật thống nhất và hoàn chỉnh của lớp vỏ Địa lí là qui luật về
mối quan hệ qui định lẫn nhau giữa các thành phần tự nhiên, giữa các bộ phận củalãnh thổ địa lí Một số câu tục ngữ thể hiện mối quan hệ qui định lẫn nhau đó như:
“Đất nào cây ấy” (Ảnh hưởng của đất đến thực vật)
“Mây xanh thì nắng
Mây trắng thì mưa” (Ảnh hưởng của mây đến hiện tượng mưa)
Nguyên nhân dẫn đến các thành phần tự nhiên có mối quan hệ qui định lẫnnhau là do các thành phần thường xuyên xâm nhập và tác động qua lại lẫn nhau,đều đồng thời chịu tác động của nội lực và ngoại lực
Ví dụ 2: Đọc những câu thơ sau của nhà thơ Cù Thâm:
Rừng nay chừng đã lụi tàn Nhạc mưa lỡ nhịp, suối đàn còn đâu?
Tháng ba mây vắng, trời cao Lửa nung rừng cháy một màu hồng hoang
Trang 33Suối khe nằm thở khô khan Bụi đường xe quấn khăn tang trắng đầu
Mưa về, núi lở rừng dâu Phù sa lót biển ghi màu tang thương
Ai ơi, trả lại cho rừng Tán xanh bát ngát, chim mừng hót ca Mạch ngầm chảy bốn mùa hoa Gầu thăm, giếng gửi đầy quà nước trong…
Những câu thơ phản ánh hiện trạng rừng của nước ta đã bị lụi tàn và hậuquả của việc phá rừng Trong thiên nhiên nếu 1 thành phần tự nhiên thay đổi sẽkéo theo sự thay đổi của các thành phần khác theo quy luật thống nhất và hoànchỉnh của lớp vỏ Địa lí Qua đó nhà thơ cũng kêu gọi cần bảo vệ rừng
Bài 21: Quy luật địa đới và phi địa đới
Ví dụ 1: Đọc trích đoạn thơ “Gửi nắng cho em” của Bùi Lê Dung:
“Anh ở trong này chưa thấy mùa đông Nắng vẫn đỏ, mận hồng đào cuối vụ Trời Sài Gòn xanh cao như quyến rũ Thật diệu kỳ là mùa đông phương Nam Muốn gửi ra em một chút nắng vàng Thương cái rét của thợ cày, thợ cấy Nên cứ muốn chia nắng đều cho ngoài ấy
Có tình thương tha thiết của trong này”
Đoạn thơ nói về sự phân hóa khí hậu theo chiều Bắc – Nam ở nước ta (vĩđộ-địa đới) Vào mùa đông miền Bắc nước ta (Bạch mã trở ra Bắc) lạnh nhưngmiền Nam nóng
Nguyên nhân lãnh thổ nước ta trải dài trên nhiều vĩ độ, miền Nam gần Xíchđạo hơn nên góc nhập xạ và thời gian chiếu sáng lớn hơn Ở nước ta sự phân hóaBắc nam còn được tăng cường do gió mùa đông bắc lạnh xuất phát từ áp caoXibia chỉ hoạt động ở miền Bắc mà không hoạt động ở miền Nam
Ví dụ 2: Đọc câu thơ sau của nhà thơ Thúy Bắc trong bài “Sợi nhớ, sợi thương”:
“Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây Bên nắng đốt, bên mưa quây”
Câu thơ nói về sự phân hóa của thiên nhiên theo chiều Đông Tây của Đông
Trang 34Đông đối lấp với sườn Tây “Bên nắng đốt, bên mưa quây” Nguyên nhân là do
tác động của nội lực hình thành các dãy núi chạy theo phương kinh tuyến kết hợpvới hoạt động của gió mùa
b.2 Để mở rộng, nâng cao, liên hệ thực tế cho bài dạy
Trong một bài giảng, để học sinh có thể vận dụng các kiến thức được họcvào giải quyết các vấn đề thực tế trong cuộc sống đòi hỏi người giáo viên phảibiết mở rộng, liên hệ kiến thức bài dạy đến kiến thức thực tế một cách linh hoạt,sinh động Vậy trong dạy học Địa lí người giáo viên cần làm gì để học sinh có thểvận dụng và liên hệ kiến thức ấy vào cuộc sống hàng ngày, để chiêm nghiệm vớinhững điều tai nghe mắt thấy? Việc đưa ca dao, tục ngữ vào giảng dạy có giảiquyết được vấn đề đó không? Có thực sự mang lại hiệu quả không?
Ta có thể lí giải cho các câu hỏi ấy rằng: Trong thực tế, Địa lý đã có trongnhững câu tục ngữ, ca dao, dân ca Ở đó các mối quan hệ giữa tự nhiên với tựnhiên, giữa thiên nhiên với con người, với sản xuất, giữa con người với conngười được thể hiện rất tinh tế Do vậy, nếu giáo viên biết cách chọn lọc, sửdụng tục ngữ, ca dao để liên hệ, kết nối kiến thức Địa lí với thực tế một cách linhhoạt sẽ giúp học sinh có cái nhìn trực quan, đa chiều, dễ hiểu, dễ nhớ Cụ thể:
1 – Khi mở rộng về mối quan hệ giữa tự nhiên với tự nhiên
Trong các câu tục ngữ, ca dao đã thể hiện những quan sát tinh tế về mốiquan hệ giữa thời tiết với sinh vật:
“Chuồn chuồn bay thấp thì mưa Bay cao thì nắng, bay vừa thì râm”
Người nông dân chỉ đúc kết kinh nghiệm về thay đổi thời tiết của độ baycao, thấp của con chuồn chuồn Còn học sinh khi học phần khí hậu (khí quyển,khí áp, gió, mưa ) sẽ giải thích độ cao, thấp của chuồn chuồn khi bay với hiệntượng “mưa, nắng” là do yếu tố áp suất không khí và độ ẩm
Cũng là hiện tượng thời tiết:
“Gió heo may, chuồn chuồn bay thì bão”
Hiện tượng “gió heo may” loại gió nhẹ, hơi lạnh và khô thường thổi vàomùa thu (đầu đông) ở vùng Bắc Bộ Thời gian từ tháng 9, 10 dương lịch Mùa nàythường không có mưa, nên để chỉ tính chất của thời tiết này ông cha ta xưa mới cócâu trên
Hay chỉ cần quan sát sự xuất hiện của những đàn kiến di chuyển cùng với
“lương thực, thực phẩm ” từ dưới đất lên cao thì sẽ có mưa bão lớn
Trang 35Với câu: “Tháng bảy kiến đàn
Đại hàn hồng thủy”
Vào tháng 7, mùa hè của nửa cầu bắc (Việt Nam), nhiệt độ không khí ở trênlục địa cao trở thành khu áp thấp hút gió (khối khí ẩm) từ Thái Bình dương vàogây nên những trận mưa lớn cùng với sự xuât hiện của các khí áp thấp gây nênmưa bão ở Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ
Cũng là khối khí ẩm từ cao áp Thái Bình Dương gây nên kiểu thời tiết mưalớn bằng thực tế trong dân gian có câu:
“Cơn đàng Đông vừa trông vừa chạy”
Nhưng nếu thấy: “Cơn đàng Nam vừa làm vừa chơi” (dị bản)
Hay: “Cơn đàng Bắc đổ thóc ra phơi”
Là do ảnh hường của địa hình: dãy Hoàng Liên Sơn ở Bắc Bộ, dãy TrườngSơn Bắc (Bắc Trung Bộ) nên khi có gió Tây Nam (gió Nam) chỉ gây mưa ở Nam
Bộ và Tây Nguyên Còn ở vùng đồng bằng Sông Hồng, Bắc Trung Bộ và ven biểnNam Trung Bộ không có mưa
Tương tự “cơn đàng Bắc ” là ảnh hưởng của khối khí ôn đới xuất phát từ
cao áp lục địa (Xibêri) tính chất lạnh và khô nên không gây mưa
Hay “tháng tám nắng rám trái bưởi”
Do đặc điểm lãnh thổ nước ta trải dài trên nhiều vĩ độ (150 vĩ tuyến) lưngdựa vào dãy Trường Sơn mặt hướng ra biển Đông hùng vĩ nên cảnh quan thiênnhiên chịu ảnh hưởng sâu sắc của biển
“Mây kéo xuống biển thì nắng chang chang Mây kéo lên ngàn, thì mưa như trút”
Khi dạy bài “Sóng Thủy triều Dòng biển” giảng đến phần các dạng địahình bờ biển, ngoài dạng địa hình Fiô ở Bắc Âu, bải biển đẹp nổi tiếng, với nhữngvũng, vịnh nước sâu để xây dựng các hải cảng Để liên hệ với dạng địa hình, cảnhquan độc đáo của Bắc Trung Bộ có thể giới thiệu câu:
“ Thương anh, em cũng muốn vô
Sợ Truông nhà Hồ, sợ phá Tam Giang”
“Truông”- địa hình đồi cỏ cằn cỗi ở Bắc Trung Bộ (Hà Tĩnh) rất phổ biến PháTam Giang, vùng nước biển ăn sâu vào lục địa thông với cửa biển hẹp (CửaThuận An, cửa Tư Hiền) thuộc tỉnh Thừa Thiên-Huế Phá được 3 con sông đổnước ngọt vào: sông Ô Lâu, sông Bồ, sông Hương, tạo một vùng nước lợ với quần
Trang 36thể thủy sinh độc đáo như: cá hanh, cá dìa, cá đối, cá liệt, tôm rằn, đặc biệt dướiđáy của phá Tam Giang thảm rong phát triển rất dày; nguồn phân hữu cơ đượcngười dân khai thác bón cho hoa màu.
2- Khi mở rộng về mối quan hệ giữa tự nhiên với hoạt động sản xuất
Người nông dân Việt Nam trải qua bao khó khăn gian khổ, chống chọi vớithiên nhiên khắc nghiệt (thiên tai) để sản xuất nông nghiệp; Họ đã có những kinhnghiệm được đúc kết thể hiện tính mùa vụ khắt khe Để nhắc nhở đã có câu:
“Tháng Một là tháng trồng khoai Tháng Hai trồng đậu, tháng Ba trồng cà”
Đây là câu tục ngữ-ca dao, tôi chỉ sử dụng khi dạy phần “các mùa trong năm” Dotrái đất là hình quả cầu, cùng một lúc thực hiện 2 chuyển động (tự quay) vàchuyển động quay xung quanh Mặt trời Quỹ đạo chuyển động xung quanh mặttrời là đường Elíp, từ đó sinh ra hiện tượng các mùa trong năm
+ Từ 21-3 đến 22-6: Mùa xuân
+ Từ 22-6 đến 23-9: Mùa hạ
+ Từ 23-9 đến 22-2: Mùa thu
+ Từ 22-12 đến 22-3: Mùa đông
(Trong thực tế các mùa thường sớm hơn 40-45 ngày).
Mỗi mùa, điều kiện bức xạ mặt trời, nhiệt độ không khí, khí áp, gió, mưa(nhiệt,ẩm) thích nghi với sự phát triển của từng loại cây trồng nên có câu ca trên.Hiện nay sự tác động của khoa học, việc ứng dụng các kỹ thuật trong sản xuất;con người có thể làm thay đổi cơ cấu mùa vụ, song ấn tượng “mùa nào, thức nấy”vẫn thơm, ngon hơn Đặc điểm phụ thuộc vào diễn biến của tự nhiên trong sảnxuất nông nghiệp được thể hiện qua con mắt của người nông dân với câu hátmong mùa:
“Mồng chín, tháng chín có mưa Thì con sắm sửa cày bừa làm ăn.
Mồng chín, tháng chín không mưa Thì con bán cả cày bừa đi buôn.”
Tháng 9, người nông dân bắt tay vào cày bừa vụ đông xuân (vụ Chiêm),nếu có mưa thường là do hoạt động của loại gió mậu dịch (Khối khí- chí tuyếnkhô -T) từ biển vào nên thường có mưa (gió Đông Bắc)
Trang 37Từ kinh nghiệm thực tế có câu:
“Đói thì ăn ráy, ăn khoai Chớ thấy lúa trổ tháng hai mà mừng”
Lúa trổ vào tháng hai (âm lịch) thời kỳ hoạt động mạnh của các đợt giómùa Đông Bắc (gió bấc) gió to, khô nên lúa sẽ “ngậm đòng, đứng bông”
“Trời nồm tốt mạ, trời giá tốt rau”
Mùa hè ở Việt Nam thì chịu tác động của gió mùa mùa hạ: Đông-Nam có mưa,Tây-Nam khô nóng (trừ Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long cómưa) Khi gieo mạ có gió Đông-Nam (gió nồm) nhiệt, ẩm phong phú, cây mạ pháttriển xanh tốt Thời tiết lạnh (giá) lại phù hợp với các loại cây thực phẩm ôn đới, cậnnhiệt được trồng nhiều ở vùng Bắc Bộ: bắp cải, su hào, cà chua, súp lơ, cà rốt và cảcác loại cây ăn quả: đào, lê, mận đặc sản vùng miền Bắc
3 Khi dạy liên hệ đến tình cảm của người nông dân với công cụ lao động
Với công cụ lao động thô sơ, năng suất thấp Người nông dân coi “cày, bừa,con trâu, bò” là những người bạn thân thiết
“Con trâu là đầu cơ nghiệp”
Nên: “Trâu ơi ta bảo trâu này
Trâu ra ngoài ruộng, trâu cày với ta”
Đất là tư liệu sản xuất chính trong hoạt động sản xuất nông nghiệp nên đất với