1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đạo tin lành ở vùng tây nam bộ hiện nay

266 22 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 266
Dung lượng 23,54 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những vấn đề lý luận và thực tiễn đặt ra từ đạo Tin Lành đối với nhậnthức xã hội và với hệ thống chính trị Tây Nam Bộ như nêu trên, trở thành vấnđề cấp bách để nghiên cứu sinh triển khai

Trang 2

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

1 PGS, TS Ngô Hữu Thảo

2 TS Trần Hữu Hợp

HÀ NỘI - 2020

Trang 3

Đây là công trình nghiên cứu khoa học của cá nhântôi Các kết quả, thông tin, số liệu trong luận án là có xuất

xứ rõ ràng và trung thực

Tác giả luận án

Lê Hùng Yên

Trang 4

MỞ ĐẦU 1

1.2 Giá trị của các công trình nghiên cứu và những vấn đề đặt ra 24

Chương 3: THỰC TRẠNG VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐẠO TIN LÀNH 69

VÙNG TÂY NAM BỘ HIỆN NAY

3.1 Thực trạng đạo Tin Lành vùng Tây Nam Bộ hiện nay 693.2 Thực trạng đạo Tin Lành trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã

3.3 Đặc điểm của đạo Tin Lành vùng Tây Nam Bộ hiện nay 97

Chương 4: XU HƯỚNG, NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ KHUYẾN NGHỊ 1074.1 Xu hướng phát triển của đạo Tin Lành vùng Tây Nam Bộ 1074.2 Những vấn đề đặt ra từ đạo Tin Lành vùng Tây Nam Bộ đối

4.3 Khuyến nghị đối với hệ thống chính trị nhằm nâng cao hiệu

lực, hiệu quả công tác với đạo Tin Lành vùng Tây Nam Bộ 123

DANH SÁCH CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ

Trang 5

GHBTVN : Giáo hội Báp-tít Việt Nam

Hội TGPÂLH : Hội Truyền giáo Phúc âm Liên hiệp

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của luận án

Đạo Tin Lành ra đời ở Châu Âu đầu thế kỷ XVI và đã có ảnh hưởng rấtlớn tới đời sống chính trị, xã hội và văn hoá, tới cả tâm lý, lối sống, phong tụctập quán của nhiều quốc gia, nhất là quốc gia tư bản, cho đến tận ngày nay.Đạo Tin Lành chính thức truyền vào Việt Nam năm 1911, với mốc đánh dấuviệc thành lập Hội thánh Tin Lành đầu tiên ở Đà Nẵng

Đến trước năm 2004, khi có Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo, đạo Tin Lành

có khoảng 40 vạn tín đồ Nhưng đến năm 2017, theo Vụ Tin Lành, thuộc BanTôn giáo Chính phủ, tôn giáo này đã có 10 tổ chức hệ phái được Nhà nước côngnhận, với 1,4 triệu tín đồ (tăng hơn 3 lần chỉ sau 13 năm), 4.000 điểm nhóm, hơn

600 chi hội, hơn 900 mục sư, hơn 600 mục sư nhiệm chức, khoảng 1.000 truyềnđạo, với hơn 300 nhà thờ Vậy đây là một tôn giáo phát triển nhanh và mạnh vàobậc nhất, trong 16 tôn giáo được Nhà nước công nhận Lý giải về việc đạo TinLành tăng mạnh đến như vậy, các nhà tôn giáo học Việt Nam thường chú ý tớiyếu tố tự thân, rằng nó là hiện thân của phong trào cải cách tôn giáo ở Châu Âu,tiếp thu được tính dân chủ, hiện đại của chính trị - văn hoá Hoa Kỳ, hội nhậpquốc tế cao và phương thức truyền giáo rất linh hoạt Nghiên cứu về đạo TinLành ở Tây Nam Bộ, nghiên cứu sinh sẽ có cơ sở bổ sung cho kết luận trên, từphương diện yếu tố môi trường của tôn giáo này, đó là nền tảng kinh tế - xã hội -văn hoá của vùng đất, con người Tây Nam Bộ Việt Nam

Đạo Tin Lành ở vùng Tây Nam Bộ, theo báo cáo của 13 tỉnh, đến năm

2016, có 08 hệ phái được công nhận tổ chức và được cấp đăng ký hoạt động;ngoài ra còn nhiều hệ phái, điểm nhóm Tin Lành chưa được công nhận, chưacấp đăng ký hoạt động, với tổng số 86.684 tín đồ, chiếm tỉ lệ 1,45% so vớitổng số tín đồ các tôn giáo vùng Tây Nam Bộ, là 5.944.807 người và bằng0,49% tổng dân số của vùng, là 17.594.400 người Vậy, đạo Tin Lành không

Trang 7

phải là tôn giáo có số lượng tín đồ đông ở vùng Tây Nam Bộ, song tôn giáonày lại có nhiều đặc điểm tiêu biểu cả về phương diện tôn giáo học và thựctiễn xã hội - chính trị, đòi hỏi phải được nghiên cứu làm rõ.

Đạo Tin Lành từ lâu đã tồn tại như một thực thể tôn giáo - văn hoá - xãhội của vùng Tây Nam Bộ, song đang còn nhiều vấn đề đặt ra Như: Tin Lành

có các yếu tố tích cực và tiêu cực đang được các cộng đồng xã hội Tây Nam

Bộ thừa nhận đến mức độ nào; có ảnh hưởng ra sao đến đời sống xã hội ởvùng Tây Nam Bộ; có sự phát triển, biến đổi mang tính phổ biến, hoặc tínhđặc thù ra sao ở Tây Nam Bộ, một địa bàn rất đa dạng về tôn giáo và rấtphong phú về dân tộc… Vậy, việc nghiên cứu là cấp thiết nhằm phát triểnnhận thức xã hội và đóng góp cho chuyên ngành tôn giáo học

Hơn nữa, thời gian qua, Đảng và Nhà nước Việt Nam, với tinh thần đổimới sâu sắc, đã ban hành chính sách, pháp luật về công tác tôn giáo, trong đó cóchủ trương riêng đối với đạo Tin Lành Theo đó, ở vùng Tây Nam Bộ, đạo TinLành đã trực tiếp chịu sự điều chỉnh bởi Chỉ thị số 01/2005/CT-TTg, của Thủ

tướng Chính phủ (2005), về một số công tác đối với đạo Tin Lành, và đã phát

triển rất nhanh, thậm chí đột biến Sự phát triển như vậy, một mặt, làm cho sinhhoạt của tôn giáo này thuận lợi hơn trước rất nhiều; nhưng mặt khác, đã làm nảysinh nhiều vấn đề phức tạp mới về văn hoá, xã hội, kể cả ở phương diện an ninhchính trị - xã hội trên địa bàn Tây Nam Bộ Giải quyết tình hình này theo chủtrương của Đảng và Luật Tín ngưỡng, tôn giáo, chủ thể công tác tôn giáo ở TâyNam Bộ còn vẫn chưa có sự nhất quán; định kiến đối với đạo Tin Lành do lịch sử

để lại đã ảnh hưởng không ít đến nhận thức của cả chủ thể và khách thể công táctôn giáo Điều này khiến một bộ phận tín đồ, chức sắc Tin Lành nhận thức saihoặc chưa đầy đủ về chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng vàNhà nước, nên việc thực hiện chủ trương phát huy nguồn lực của đạo Tin Lànhcòn nhiều khó khăn Đó cũng là vấn đề để các nhà lãnh đạo, quản lý xã hội vàgiới khoa học quan tâm nghiên cứu, giải quyết

Trang 8

Những vấn đề lý luận và thực tiễn đặt ra từ đạo Tin Lành đối với nhậnthức xã hội và với hệ thống chính trị Tây Nam Bộ như nêu trên, trở thành vấn

đề cấp bách để nghiên cứu sinh triển khai đề tài: "Đạo Tin Lành ở vùng Tây Nam Bộ hiện nay", làm luận án Tiến sĩ chuyên ngành Tôn giáo học.

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích

Luận án làm rõ thực trạng và những vấn đề đặt ra từ đạo Tin Lành ởvùng Tây Nam Bộ, từ đó khuyến nghị đối với công tác tôn giáo nhằm tôntrọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, để đồng bào theo đạo Tin

Lành đóng góp nhiều hơn cho sự phát triển bền vững vùng Tây Nam Bộ.

2.2 Nhiệm vụ

Để đạt mục đích trên, luận án thực hiện các nhiệm vụ sau:

- Nghiên cứu quá trình phát triển của đạo Tin Lành ở vùng Tây Nam Bộ

- Làm rõ thực trạng, đặc điểm của đạo Tin Lành trên địa bàn vùng Tây Nam Bộ và những vấn đề đặt ra hiện nay

- Dự báo tình hình và đề xuất khuyến nghị nhằm đảm bảo quyền tự dotín ngưỡng, tôn giáo, để tín đồ, chức sắc, chức việc của đạo Tin Lành đồnghành cùng sự phát triển bền vững vùng Tây Nam Bộ

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu: Đạo Tin Lành ở vùng Tây Nam Bộ.

3.2 Phạm vi nghiên cứu: Đạo Tin Lành ở vùng Tây Nam Bộ hiện nay.

Thời gian: Từ năm 2004 đến nay, sau khi có Thông báo số 160-TB/TW

của Ban Bí thư Khóa IX "Về chủ trương công tác đối với đạo Tin Lành"

Không gian: Do địa bàn vùng Tây Nam Bộ rộng lớn, có nhiều hệ phái Tin

Lành hoạt động, có hệ phái đã hoạt động lâu năm, cũng có một số hệ phái mớihoạt động, có hệ phái đã được nhà nước công nhận tổ chức, có hệ phái chưađược công nhận tổ chức, Vì vậy khi nghiên cứu về đạo Tin Lành vùng này,nghiên cứu sinh tập trung chủ yếu vào địa phương có đông tín đồ, có nhiều hệphái Từ đó, nghiên cứu sinh nhận thấy: trong số 13 tỉnh, thành phố vùng

Trang 9

Tây Nam Bộ của Việt Nam (TNB), thành phố Cần Thơ và tỉnh Vĩnh Long làhai địa phương có đông tín đồ, nhiều hệ phái Tin Lành và các hệ phái thườnglấy Cần Thơ làm trung tâm để phát triển và lan tỏa ra các tỉnh, thành khác.Vậy nên, nghiên cứu sinh chọn Cần Thơ và Vĩnh Long là hai địa phươngchính để thực hiện điền dã, khảo sát, thống kê

Ở Cần Thơ nghiên cứu sinh tập trung vào các địa phương mang tính đạidiện như: Quận Ninh Kiều là nơi có hai Ban Đại diện của hai hệ phái đông tín đồnhất vùng TNB, với nhiều cơ sở tôn giáo, nhiều chi hội và điểm nhóm HuyệnPhong Điền, Thới Lai là nơi Giáo hội Báp-tít Việt Nam phát triển mạnh, đông tín

đồ Quận Ô Môn là nơi điểm nhóm có đông tín đồ là người dân tộc Khmer

Còn về hệ phái, nghiên cứu sinh tập trung vào hai hệ phái có tính đại diện cao, là:

- Tin lành Việt Nam miền Nam (TL VNMN): là hệ phái hoạt động ổn định lâu dài, có đông tín đồ và cơ sở tôn giáo

- Giáo hội Báp-tít Việt Nam: là hệ phái phát triển khá nhanh, đại diện cho các hệ phái mới được công nhận tổ chức

Về số liệu, nghiên cứu sinh khảo sát và sử dụng số liệu thống nhất của Ban Tôn giáo 13 tỉnh, thành vùng Tây Nam Bộ

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

4.1 Câu hỏi nghiên cứu

Triển khai luận án, nghiên cứu sinh đặt một số câu hỏi nghiên cứu như sau:

Câu hỏi 1: Thực trạng tình hình và đặc điểm của đạo Tin Lành ở vùng

Tây Nam Bộ hiện nay ra sao, tại sao đạo Tin Lành có thể phát triển nhanh,mạnh ở vùng đa tôn giáo - Tây Nam Bộ?

Câu hỏi 2: Đạo Tin Lành ở vùng Tây Nam Bộ hiện nay, từ yếu tố cộng

đồng, đức tin cho đến hành vi tôn giáo, có những đặc điểm và những vấn đề

gì đặt ra cần quan tâm?

Câu hỏi 3: Trách nhiệm trực tiếp của chủ thể công tác đối với đạo Tin

Trang 10

Lành - hệ thống chính trị các cấp vùng Tây Nam Bộ, phải như thế nào để đạoTin Lành hoạt động tuân thủ pháp luật, hài hòa cùng xã hội?

4.2 Giả thuyết nghiên cứu

Giả thuyết 1: quá trình đạo Tin Lành truyền giáo vào vùng Tây Nam

Bộ với những khó khăn nhiều hơn thuận lợi, nhưng đạo Tin Lành vẫn trụvững ở vùng đất này

Giả thuyết 2: đạo Tin Lành ở vùng Tây Nam Bộ hiện nay đang thể hiện

như một thực thể tôn giáo và cùng các tôn giáo khác tạo nên sự đa dạng hóatôn giáo vùng Tây Nam Bộ

Giả thuyết 3: chủ thể công tác đối với đạo Tin Lành - hệ thống chính trị

các cấp vùng Tây Nam Bộ, cần chủ động tác động để đạo Tin Lành phát triểnhài hòa cùng xã hội Tây Nam Bộ

4.3 Cơ sở lý luận

- Về lý luận: Đề tài luận án được triển khai dựa trên cơ sở lý luận của

Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo và công tác tôngiáo; đồng thời có sự tham khảo một số cơ sở lý luận khác về tôn giáo

4.4 Phương pháp nghiên cứu

- Về phương pháp nghiên cứu: Đề tài sử dụng những phương pháp luận

chung nhất của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; sửdụng các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành tôn giáo học; đồng thời sửdụng các phương pháp nghiên cứu liên ngành, như xã hội học tôn giáo, nhânhọc tôn giáo, văn hoá tôn giáo, chính trị học và kết hợp phương pháp lịch sửvới phương pháp logic Trong đó, các phương pháp của xã hội học như: xử lý

tư liệu, khảo sát, phỏng vấn sâu và phỏng vấn bằng bảng hỏi, được coi trọng

Nghiên cứu sinh phỏng vấn sâu, điều tra bằng bảng hỏi với 200 đốitượng [Bảng 16, 17, 18, 19, 20, 21] ở 50 điểm nhóm và chi hội Tin Lành; 30chức sắc các hệ phái Tin Lành; 20 công chức làm công tác tôn giáo tại cơ sởcủa hệ thống chính trị; lấy ý kiến bằng bảng hỏi được thực hiện với 100 chứcsắc, tín đồ Tin Lành, trong đó có 30 tín đồ người dân tộc Khmer

Trang 11

Các phương pháp xã hội học đó giúp cho nghiên cứu sinh trong việcđịnh lượng và định tính kết quả nghiên cứu và đánh giá sát, đúng mức độ hiệuquả của công tác tôn giáo đối với đạo Tin Lành vùng TNB ở cả phương diệnchủ thể công tác và đối tượng - khách thể công tác.

5 Đóng góp mới của luận án

- Lần đầu tiên, đề tài luận án nghiên cứu một cách hệ thống và toàndiện quá trình truyền giáo, phát triển của đạo Tin Lành ở vùng Tây Nam Bộ,

từ năm 1919 cho đến nay

- Từ phương diện tôn giáo học, đề tài luận án nghiên cứu khảo sát làm

rõ thực trạng của đạo Tin Lành ở Tây Nam Bộ, với hơn 10 hệ phái, từ đó kháiquát vấn đề đặt ra đối với công tác tôn giáo của hệ thống chính trị và với các

tổ chức hệ phái Tin Lành trên địa bàn

- Đề tài luận án khuyến nghị đối với hệ thống chính trị vùng Tây Nam

Bộ, nhằm tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tôn giáo và để tín đồ, chức sắc,chức việc đạo Tin Lành đóng góp tích cực vào sự phát triển toàn diện, bềnvững vùng Tây Nam Bộ hiện nay và mai sau

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

Về lý luận, luận án góp phần bổ sung, làm phong phú lý luận chuyên

ngành tôn giáo học và làm rõ thêm tính quy luật của mối quan hệ giữa đạo TinLành với đời sống xã hội, qua thực tiễn tôn giáo - xã hội vùng Tây Nam Bộ

Về thực tiễn, luận án từ việc làm rõ thực trạng đạo Tin Lành vùng Tây Nam

Bộ, đã đề xuất khuyến nghị có tính giải pháp đối với việc đổi mới công tác đối với đạo Tin Lành của hệ thống chính trị Tây Nam Bộ.

Luận án còn là một nguồn tài liệu tham khảo quý đối với công tácgiảng dạy tôn giáo học của các trường đại học và trường chính trị của cáctỉnh, thành vùng Tây Nam Bộ hiện nay

7 Cấu trúc của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận án

có kết cấu gồm 4 chương, 12 tiết

Trang 12

Chương 1 TỔNG QUAN

1.1 CÁC TƯ LIỆU LIÊN QUAN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1.1.1 Các công trình nghiên cứu về vùng đất và cư dân vùng Tây Nam Bộ

Nghiên cứu về vùng đất và con người Tây Nam Bộ, đã có nhiều công trình khoa học và tiêu biểu là:

Sơn Nam với sách Đồng bằng sông Cửu Long: Nét sinh hoạt xưa và

văn hóa miệt vườn [99], đã hệ thống quá trình khai khẩn vùng đất Tây Nam

Bộ thuở xa xưa, nơi "rừng thiêng, nước độc", song được cư dân nơi đây dàycông biến thành vùng đất trù phú, thành vựa lúa lớn nhất Việt Nam Cũng ởnơi đây, cư dân đã lập nên những "miệt vườn" với những nét riêng có ở vùngTây Nam Bộ Môi trường sống được cải thiện, dưới nước có cá, có lúa, trên

bờ có cây trái, chim, thú Tất cả tạo ra môi trường sống khá thuận lợi, từ đócũng dần tạo nên đời sống tinh thần phong phú và phóng khoáng của cư dân ởđây

Cuốn sách là tài liệu có ý nghĩa giúp nghiên cứu sinh đưa ra nhận định

và giải pháp nhằm hài hòa các giá trị văn hóa trong đời sống tinh thần ngườidân vùng Tây Nam Bộ với văn hóa đạo Tin Lành

Phạm Văn Búa, "Tìm hiểu đặc điểm cư dân và tâm lý người dân đồngbằng sông Cửu Long nhằm thực hiện có hiệu quả chiến lược đại đoàn kết toàn

dân tộc" [15] Bài viết nghiên cứu nhiều tài liệu lịch sử, như: "Văn hóa và cư

dân đồng bằng sông Cửu Long" của các tác giả Nguyễn Công Bình, Lê Xuân

Diệm, Mạc Đường; "Phủ Biên Tạp Lục" của Lê Quý Đôn; quyển "Lịch sử

khẩn hoang Nam Bộ" của nhà Sử học Huỳnh Lứa;… Qua đó, bài viết đúc kết:

4 cộng đồng dân tộc chính ở TNB, mặc dù có lịch sử hình thành, ngôn ngữ vàmột số nét văn hóa khác nhau nhưng qua quá trình cộng cư, đã đoàn kết hỗ trợnhau vượt qua thiên tai, dịch họa, tạo nên điều kiện tự nhiên, xã hội, con

Trang 13

người, dân tộc, tôn giáo mang nét riêng ở vùng Tây Nam Bộ, đặc biệt là cácđức tính quí báu của cư dân: tự lực, tự cường, phóng khoáng, chịu thương,chịu khó, sáng tạo, năng động, kiên cường, bất khuất.

Phan Huy Lê, Chủ nhiệm đề tài: Quá trình hình thành và phát triển

vùng đất Nam Bộ [86] đã hệ thống hóa khá đầy đủ về quá trình hình thành,

phát triển, cùng các thiết chế văn hóa, đặc điểm dân cư, dân tộc, tín ngưỡng,tôn giáo vùng TNB Sự hấp dẫn của vùng đất mới TNB đã thu hút nhiều dântộc, mà nhiều nhất là 4 dân tộc Kinh, Khmer, Chăm, Hoa Sự giao thoa vănhóa là một nguyên nhân để vùng này trở thành cái nôi hình thành nhiều tôngiáo bản địa mang bản sắc khu vực, ít lan tỏa sang khu vực khác, đã tạo nênbức tranh phong phú, đa sắc màu tâm linh của cư dân vùng TNB

Qua tác phẩm này, tác giả thấy mối quan hệ giữa đời sống vật chất vớiđời sống tinh thần của cư dân vùng TNB, từ đó làm rõ hơn ảnh hưởng của đạoTin Lành đến đời sống tinh thần, tôn giáo của cư dân TNB hiện nay

Trần Ngọc Thêm, Văn hóa người Việt vùng Tây Nam Bộ [126] Tác giả

đặt TNB là một vùng văn hóa riêng biệt thuộc "miền văn hóa Nam Bộ", nơi

có sự hòa nhập văn hóa Việt - Khmer - Hoa - Chăm, nơi có sự giao thoa, hộinhập với văn hóa Phật giáo, văn hóa Nho giáo, nơi có sự ứng xử với văn hóaphương Tây Tác giả đã hệ thống nét văn hóa đặc trưng qua tính cách conngười, văn hóa nhận thức, văn hóa tổ chức, văn hóa ứng xử, tín ngưỡng, tôngiáo của người Việt ở TNB

Cuốn sách giúp nghiên cứu sinh nhận thức rõ hơn về văn hóa truyền thống

và khuynh hướng biến đổi ở TNB hiện nay, từ đó có khuyến nghị sát hợp

Nhóm tác giả thuộc Hội Khoa học lịch sử Việt Nam do Vũ Minh Giangchủ biên, cùng với Nguyễn Quang Ngọc, Lê Trung Dũng, Cao Thanh Tân,

Nguyễn Sĩ Tiến, có sách Lược sử vùng đất Nam Bộ Việt Nam [105] Nội dung

cuốn sách khái quát những nét cơ bản nhất của vùng đất và con người Nam

Bộ, từ thế kỷ thứ I đến nay

Trang 14

Cuốn sách có giá trị tham khảo, giúp nghiên cứu sinh cập nhật thêmnhững vấn đề cơ bản về quá trình hình thành và phát triển của vùng TNB và

là cơ sở để giải quyết các vấn đề xã hội liên quan của đạo Tin Lành

Kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học nêu trên là nguồn tưliệu liên quan trực tiếp đến đề tài luận án Qua đó, nghiên cứu sinh có cơ sởkhoa học để so sánh, đánh giá, khuyến nghị một cách khách quan về mối quan

hệ biện chứng, quyết định của tồn tại xã hội đối với ý thức xã hội khi nhậnthức về xã hội, con người vùng TNB với sự phát triển của đạo Tin Lành

1.1.2 Các công trình nghiên cứu về đạo Tin Lành

1.1.2.1 Các công trình nghiên cứu liên quan đến đạo Tin Lành trên thế giới và ở Việt Nam nói chung

Nguyễn Thanh Xuân, Bước đầu tìm hiểu đạo Tin Lành trên thế giới và

ở Việt Nam [143]; Nguyễn Thanh Xuân (chủ biên), Tôn giáo và chính sách

tôn giáo ở Việt Nam [146] Qua 02 công trình này, tác giả đã trình bày bao

quát quá trình ra đời và phát triển của đạo Tin Lành ở Việt Nam và trên thếgiới; giáo lý, giáo luật, tổ chức giáo hội; sự giống và khác nhau giữa Tin Lành

và Công giáo, cung cấp cho đọc giả kiến thức cơ bản về đạo Tin Lành trên thếgiới và ở Việt Nam

Với hai công trình này, nghiên cứu sinh hiểu thêm về đạo Tin Lành; về

sự hình thành, du nhập, phát triển của đạo Tin Lành ở Việt Nam; về chínhsách, pháp luật đối với tôn giáo nói chung và với Tin Lành nói riêng

Hoàng Minh Đô - Chủ nhiệm đề tài, Đạo Tin Lành ở Việt Nam - Thực

trạng, xu hướng phát triển và những vấn đề đặt ra trong lãnh đạo, quản lý

[35] Chủ nhiệm đề tài khái quát tương đối đầy đủ về đạo Tin Lành ở ViệtNam, thực trạng hoạt động, nguyên nhân, ảnh hưởng, xu hướng phát triển vàvấn đề đặt ra cho công tác đối với đạo Tin Lành ở Việt Nam

Kết quả nghiên cứu của đề tài giúp nghiên cứu sinh khái quát về nhữngvấn đề đặt ra cho công tác đối với đạo Tin Lành ở Việt Nam, từ đó có cơ sở đểnhận định về vấn đề đặt ra cho công tác đối với đạo Tin Lành ở TNB

Trang 15

Phạm Hồng Thái (chủ biên), Sự truyền bá và phát triển của đạo Tin

Lành ở một số nước và vùng lãnh thổ Đông Bắc Á [119] Đề tài chỉ rõ, đạo

Tin Lành có mặt tại vùng Đông Bắc Á gắn liền với hoạt động củng cố địa bànthực dân và mở rộng thị trường của các Đế quốc phương Tây, điển hình là

Mỹ, Anh, Hà Lan Tin Lành có đóng góp nhất định vào đời sống văn hóa xãhội Quan hệ của đạo Tin Lành với nhà nước ở từng nước cũng có nét đặc thù

Ở các nước theo mô hình tư bản chủ nghĩa, các tổ chức Tin Lành dù chưa cóxung đột với chính quyền, nhưng cũng không đơn giản xuôi chiều Tại cácnước theo mô hình xã hội chủ nghĩa, đạo Tin Lành nhiều khi bị lợi dụng làmcông cụ gây chia rẽ dân tộc, làm mất ổn định xã hội, can dự vào đời sốngchính trị âm mưu lật đổ chính quyền do Đảng Cộng Sản lãnh đạo Vậy, cácnhà nước vẫn kiểm soát các hoạt động tôn giáo nói chung và hoạt động củađạo Tin Lành nói riêng

Công trình này là cơ sở để nghiên cứu sinh nhận xét về mặt tích cựccủa đao Tin Lành trong đời sống xã hội vùng TNB, đồng thời quan tâm đếnvấn đề đạo Tin Lành bị chính trị lợi dụng

Đỗ Quang Hưng, "Vài nhận xét về Tin Lành Mỹ'' [70], tác giả đã chỉ ramột số nhận xét và một số đặc trưng của Tin Lành Mỹ Điều đó đã giúpnghiên cứu sinh có thêm cơ sở để nhận định sâu sắc hơn về ảnh hưởng củaTin Lành đối với vùng TNB, nơi có nhiều hệ phái Tin Lành xuất thân từ Mỹ

Trần Hồng Liên "Sự chuyển đổi tôn giáo trong người Khmer ở TràVinh hiện nay'' [88, tr.47-52 ] Trần Hữu Hợp, "Sự cải giáo của một bộ phậnngười Khmer vùng Tây Nam Bộ" [65, tr.98-107] Hai tác giả đã khái quát sựchuyển đổi tôn giáo sang đạo Tin Lành trong người Khmer, nhất là từ 10 nămtrở lại đây, nêu một số nguyên nhân từ những biến đổi trong sinh hoạt của tu

sĩ Phật giáo Nam tông Khmer đưa đến tình trạng cải đạo, dự báo xu hướngtruyền đạo vào cộng đồng người Khmer trong thời gian tới

Trang 16

Hai bài viết có giá trị tham khảo cho tác giả luận án khi viết về vấn đềđạo Tin Lành phát triển vào dân tộc Khmer ở vùng TNB.

Vũ Thị Thu Hà, "Nguyên nhân Tin Lành phát triển nhanh trong vùngdân tộc đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên hiện nay [42, tr.112-122].Bài viết đã khái quát một số nguyên nhân Tin Lành phát triển nhanh trongvùng dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên Đó là: sự thay đổi thể chế chính trị, hoàncảnh sống, phương thức truyền giáo, giá trị đạo đức của đạo Tin Lành và một

Trần Thị Phương Anh, "Quan niệm của Tin Lành về các mối quan hệgia đình qua Kinh Thánh'' [1, tr.99-110] Bài viết đã tìm hiểu các qui tắc ứng

xử liên quan đến mối quan hệ trong gia đình của đạo Tin Lành được thể hiệntrong Kinh Thánh như: hôn nhân, cha mẹ - con cái, anh chị em, qua đó chỉ rayếu tố tích cực của các mối quan hệ đó Bài viết cung cấp thêm thông tin chophần nội dung đánh giá liên quan đạo đức Tin Lành của luận án

Đỗ Quang Hưng, Tôn giáo và tính hiện đại [77] Tác giả nhận định: đạo

Tin Lành chính là tôn giáo của tính hiện đại Công trình bao quát về đạo TinLành ở Việt Nam từ nguồn gốc, diện mạo, quá trình xâm nhập, phát triển, đặcđiểm thần học, đời sống đạo, hoạt động truyền giáo, tính hiện đại và sựchuyển biến thần học Tin Lành ở Việt Nam Nghiên cứu trường hợp Tin

Trang 17

Lành ở Tây Nguyên, tác giả nhận định việc giải quyết vấn đề Tin Lành ở đâykhi chính trị đã ổn định, thì vấn đề văn hóa trở thành vấn đề phức tạp và đángquan tâm cả ở trước mắt và lâu dài.

Những nhận định này là cơ sở đối chiếu cho nhận định về đạo Tin Lànhđối với vùng TNB hiện nay trong luận án

Luận văn Thạc sĩ triết học của Nguyễn Lương Chung, Công tác tôn

giáo đối với đạo Tin Lành ở tỉnh Đồng Nai hiện nay [18] Công trình đã

nghiên cứu quá trình hình thành, phát triển của đạo Tin Lành, thực trạng côngtác tôn giáo đối với đạo Tin Lành tại tỉnh Đồng Nai, đưa ra những giải pháp,kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả công tác đối với đạo Tin Lành tại tỉnhĐồng Nai

Lê Minh Quang, "Đạo Tin Lành ở Lâm Đồng giai đoạn 1929-1975''[112] Tác giả viết về phương thức truyền giáo và tác động của việc truyền giáo vào vùng dân tộc thiểu số

Thi Tú , Thúy Ly, Ngô Đại Đức; Thảo Nguyên cùng viết về: "Kết quảthực hiện Chỉ thị 01/2005/CT-TTg" Những bài viết này đề cập sâu đến côngtác tôn giáo đối với hoạt động của đạo Tin Lành qua kết quả thực hiện Chỉ thị01/2005/CT-TTg từ năm 2005 - 2011, chỉ ra thành tựu, hạn chế và nguyênnhân, đồng thời có một số đề nghị nhằm nâng cao hiệu quả công tác tôn giáo

ở các tỉnh Đắk Lắk, Đắk Nông, Kon Tum, Tây Ninh

Nghiên cứu sinh tham khảo các bài viết trong công tác về đạo Tin Lành Các tư liệu nước ngoài, có:

Jean Bau Bérot, Lịch sử đạo Tin Lành [10], tác giả tìm hiểu sự ra đời và

tính phân ly, hiện đại, cải cách và đa giáo phái của đạo Tin Lành Công trìnhnày góp phần để nghiên cứu sinh lý giải về thực trạng đạo Tin Lành đã, đang

và sẽ diễn ra ở Việt Nam và ở vùng TNB

Cuốn sách Modernity and Re - enchantment in Post - revolutionary Việt Nam (Tính hiện đại và niềm say mê tìm hiểu thời kì hậu cách mạng Việt Nam)

Trang 18

của P.Taylor [107] Tác giả viết về thực trạng đời sống tín ngưỡng, tôn giáo ởViệt Nam hiện nay, qua đó, nhận xét: Tôn giáo ở Việt Nam đang hồi sinh vàphát triển theo chiều hướng đổi mới Nhận xét đó cho luận án tham khảo khinhận xét về chiều hướng phát triển của đạo Tin Lành.

Cuốn The Emergence of a Nonprofit Sector and Philanthropy in the

Socialist Republic of Vietnam (Sự xuất hiện của các tổ chức phi lợi nhuận và các tổ chức từ thiện tại Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) của Mark Sidel

[96] đã nghiên cứu về vai trò của các nhóm xã hội trong đó có tôn giáo, mốiquan hệ của nhà nước với các đoàn thể, các tổ chức tôn giáo ở Việt Nam lànăng động và đầy triển vọng Nghiên cứu này có thể tham khảo cho công táctôn giáo đối với đạo Tin Lành hiện nay

Chang-Yau Hoon, "Truyền bá phúc âm và đa văn hóa: sự năng động

của Tin Lành ở Indonesia" [50, tr.58-78] Bài viết khảo sát người Tin Lành ở

Indonesia đã vượt qua môi trường đa văn hóa ra sao và làm thế nào để điềuchỉnh sự đa dạng Tin Lành Bài viết có một số thông tin có thể đối chiếu vàođặc thù Tin Lành vùng TNB

Marion Aubree (Lê Văn Tuyên dịch), "Tân Tin Lành ở Châu Á và MỹLatinh: Nghiên cứu so sánh" [97, tr.110-123] Theo tác giả, sự năng động củaphong trào Ngũ Tuần ngày nay ở các nền văn hóa Đông Nam Á có thể tạo ra

sự so sánh giữa Mỹ Latinh và Đông Nam Á bằng cách xem xét các khái niệm

và phương pháp khác nhau đã phát triển hơn 70 năm qua trong nghiên cứucác phong trào Phúc âm mới

Nhận định về sự năng động đó của phong trào Ngũ Tuần là cơ sở đểnghiên cứu sinh lý giải tại sao phong trào này phát triển khá mạnh ở TNB hiệnnay

Các công trình nước ngoài liên quan đến luận án được xem là nhữnggợi ý mới để tác giả tham khảo và sử dụng như là một trong những cái phổbiến được đặt trong cái đặc thù là đạo Tin Lành vùng TNB

Trang 19

1.1.2.2 Các công trình nghiên cứu liên quan đến đạo Tin Lành ở vùng Tây Nam Bộ

Luận văn Thạc sĩ Tôn giáo học của Lê Hùng Yên, Quản lý nhà nước

đối với hoạt động của đạo Tin Lành ở thành phố Cần Thơ hiện nay [147].

Luận văn đã làm rõ quản lý nhà nước đối với hoạt động của đạo Tin Lành trênđịa bàn thành phố Cần Thơ thời gian qua có nhiều thành tựu, nhưng cũng bộc

lộ những hạn chế, bất cập và từ đó đề xuất khuyến nghị Tư liệu này là một cơ

sở đánh giá tình hình chung của công tác tôn giáo đối với đạo Tin Lành vùngTây Nam Bộ

Luận văn Thạc sĩ Triết học của Phạm Châu Hải, Đạo Tin Lành và ảnh

hưởng của nó trong đời sống xã hội tỉnh Vĩnh Long hiện nay [44] Tác giả tìm

hiểu những vấn đề chung và đặc điểm quá trình du nhập, phát triển của đạoTin Lành ở tỉnh Vĩnh Long; phân tích tình hình đạo Tin Lành ở Vĩnh Longhiện nay và ảnh hưởng của nó trong đời sống xã hội, rút ra vấn đề đặt ra vàkhuyến nghị Tác giả nhận định: đạo Tin Lành đã vào tỉnh Vĩnh Long dướithời thực dân Pháp, với nhiều hạn chế, khó khăn, song với sức sống của mộttôn giáo cách tân, nó vẫn lan tỏa, ảnh hưởng rộng ra mọi tầng lớp dân cư VĩnhLong Thời đế quốc Mỹ xâm lược miền Nam, đạo Tin Lành ở Vĩnh Long cónhiều điều kiện thuận lợi để phát triển Từ khi Việt Nam bước vào thời kỳ đổimới, với những thành tựu kinh tế xã hội được khẳng định, cùng với chính sáchđổi mới về tôn giáo và công tác tôn giáo của Đảng, Nhà nước, đạo Tin Lành ởVĩnh Long phát triển rất thuận lợi Đạo Tin Lành thể hiện cả đặc điểm truyềnthống và mới hình thành, do tính quy định của đời sống xã hội ở Việt Nam,trong đó có Vĩnh Long thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Luận văn cũng là một cơ sở khoa học cho luận án khi viết về đạo TinLành ở vùng Tây Nam Bộ

Nguyễn Mạnh Cường, Nguyễn Minh Ngọc, Tôn giáo - Tín ngưỡng của

các cư dân vùng đồng bằng sông Cửu Long [19] Nội dung sách khái quát về

Trang 20

tôn giáo, tín ngưỡng ở vùng TNB, trong đó có đạo Tin Lành Hai tác giả chỉ ra

ba nguyên nhân quan trọng dẫn đến việc theo đạo Tin Lành của cư dân vùngTNB, vì vậy có thể kế thừa

Nguyễn Xuân Hùng, "Đạo Tin Lành tại Tây Nam Bộ: Lịch sử, hiện

trạng và những vấn đề đặt ra'' [69, tr.59-72]; Nguyễn Khắc Đức, Một số vấn

đề về đạo Tin Lành ở Việt Nam [39] Hai bài viết trên đã nghiên cứu khái quát

về quá trình truyền giáo của của đạo Tin Lành tại vùng TNB từ ngày khởi đầuđến nay và những vấn đề đặt ra

Các bài viết có nhiều nội dung liên quan trực tiếp đến nội dung luận án,

vì vậy cần tham khảo để củng cố thêm tính khoa học cho luận án

Trần Hữu Hợp, "Tin Lành vùng đồng bằng sông Cửu Long - hiện trạng

và vài vấn đề đặt ra trong quá trình phát triển", Kỷ yếu tọa đàm về đạo Tin

Lành ở Việt Nam giai đoạn 1976-2011, do Viện Nghiên cứu tôn giáo, Hội Việt

- Mỹ và Viện Liên kết toàn cầu tổ chức tại Hà Nội [61] Tác giả Trần HữuHợp có một số khái quát về vùng TNB, về lịch sử phát triển và hiện trạng đạoTin Lành trên địa bàn, một số vấn đề đặt ra đối với chính sách, pháp luật vềtôn giáo và với sự phát triển bền vững vùng TNB

Bài viết giúp nghiên cứu sinh thêm cơ sở để có những đề xuất cho đạoTin Lành phát triển hài hòa trong sự phát triển bền vững vùng Tây Nam Bộ

Trần Hữu Hợp, Việc đào tạo giáo sĩ của Tin Lành - Trường hợp Báp-tít

Việt Nam (Nam Phương) và những vấn đề đặt ra cho công tác quản lý nhà nước, Kỷ yếu: biến động tín ngưỡng, tôn giáo vùng đồng bằng sông Cửu

Long trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, do Ban Chỉ đạo TNB,Viện Nghiên cứu tôn giáo và Sở Nội vụ Thành phố Cần Thơ phối hợp tổ chức[62] Theo tác giả, vẫn còn có nhiều bất cập, nhiều vấn đề đặt ra cho quản lý nhà nước về công tác đào tạo của hệ phái Báp-tít Việt Nam (Nam Phương)

Đây là cơ sở để luận án đề xuất cho công tác quản lý nhà nước, đặc biệt

là tạo điều kiện cho đạo Tin Lành có thêm trường đào tạo

Trang 21

Nguyễn Văn Diệu, "Tìm hiểu quá trình truyền giáo Kitô giáo vào cácdân tộc thiểu số thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khmer ở đồng bằng sông CửuLong và Đông Nam Bộ'' [20, tr.61] Tác giả đã tóm tắt kết quả truyền giáo vàovùng dân tộc Khmer: "Năm 1922, có một mục sư đã đến truyền đạo tại vùng

cư trú người Khmer Nam Bộ dọc theo biên giới Campuchia, thuộc tỉnh ChâuĐốc Trong nhiều năm nỗ lực rất lớn, cuối cùng mục sư đã đưa được một sốngười Khmer tại địa phương nguyên là những tín đồ Phật giáo Tiểu thừa chịucải đạo để gia nhập đạo Tin Lành Nhưng sau đó do sức đề kháng khá mạnh

mẽ của Phật giáo, số tín đồ đạo Tin Lành người Khmer không phát triển thêmđược và ngày một rơi rụng"

Bài viết giúp tác giả luận án lý giải tại sao gần 100 năm nhưng đạo TinLành chưa thể phát triển mạnh ở vùng dân tộc Khmer TNB như ý muốn

Ngoài các tài liệu trên còn có các nghiên cứu, báo cáo tổng kết của Ủyban nhân dân, Ban Dân vận, Ban Tôn giáo, Công an các tỉnh vùng TNB vềtình hình và hoạt động của đạo Tin Lành; về kết quả thực hiện Thông báo160-TB/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khoá IX) về chủ trương đốivới đạo Tin Lành; kết quả thực hiện Chỉ thị 01/2005/CT-TTg, 04/02/2005 củaThủ tướng Chính phủ đối với đạo Tin Lành Đó cũng là nguồn tài liệu quí

Các công trình nêu trên là nguồn tài liệu phong phú, toàn diện liên quanđến luận án, là cơ sở để luận án kế thừa, phát triển và làm rõ thêm

1.1.3 Một số công trình nghiên cứu liên quan đến chính sách, pháp luật và giải pháp đối với đạo Tin Lành

Lê Quang Vịnh trong bài viết "Đằng sau việc vu cáo Việt Nam đàn áp

tôn giáo", được đăng trong công trình Nhận dạng các quan điểm sai trái, thù địch, của Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương (lưu hành nội bộ) [140] Chứng

minh qua thực tế tôn giáo ở Việt Nam, tác giả khẳng định: Nhà nước ViệtNam không chống hoạt động thuần túy tôn giáo, không thành kiến với đạo TinLành, pháp luật Việt Nam chỉ xử lý những hành vi lợi dụng tôn giáo

Trang 22

gây tổn hại đến lợi ích quốc gia, dân tộc và cộng đồng Đây là tham khảo đểtác giả luận án nhận định về âm mưu thủ đoạn lợi dụng đạo Tin Lành.

Ngô Hữu Thảo, Công tác tôn giáo - Từ quan điểm Mác-Lênin đến thực

tiễn Việt Nam [124] Trên cơ sở bàn về nội hàm, ngoại diên khái niệm "Công

tác tôn giáo", tác giả đã khái quát kết quả công tác tôn giáo ở Việt Nam, luậngiải và khuyến nghị một số vấn đề của công tác tôn giáo trong thời gian tới.Tác giả khẳng định, công tác tôn giáo ở Việt Nam hiện nay cần phải trở về vớichủ nghĩa Mác-Lênin về vấn đề tôn giáo, coi đó là kim chỉ nam chứ không

phải giáo điều Tư liệu này bổ sung cho cơ sở lý luận, phương pháp luận cho

nghiên cứu đạo Tin Lành ở TNB

Ngô Hữu Thảo, Công tác tôn giáo hiện nay - một số vấn đề đặt ra từ hệ

thống chính trị ở nước ta [125], đã khẳng định thành tựu trong công tác tôn

giáo ở Việt Nam những năm qua Song, thực tiễn công cuộc đổi mới công táctôn giáo cho thấy cần phát huy có hiệu quả sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, cầnquán triệt sâu sắc hơn quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng HồChí Minh về tôn giáo và công tác tôn giáo; cần có căn cứ lý luận chính xác, cóchiều sâu và phải được vận dụng sáng tạo vào thực tiễn công tác tôn giáo.Phải quy định rõ chức năng, nhiệm vụ của công tác tôn giáo cho từng cấp,từng ngành, từng tổ chức, tạo ra sự phối hợp thống nhất, tránh tình trạng đùnđẩy trách nhiệm, gây phiền hà Phải quan tâm củng cố bộ máy, xây dựng độingũ chuyên trách làm công tác tôn giáo mang tính ổn định, chiến lược, chuyênnghiệp; phải coi công tác đối ngoại tôn giáo có vai trò quan trọng cho sựthành công của công tác tôn giáo Công tác tôn giáo cần phải đi đôi với côngtác dân tộc

Nghiên cứu của tác giả có nhiều ý nghĩa tham khảo cho luận án khi đề cập đến công tác tôn giáo nói chung và đối với đạo Tin Lành nói riêng

Tác giả Phạm Dũng, Tiếp tục đổi mới công tác tôn giáo đáp ứng yêu

cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới [21] Tác giả phân tích tình hình tôn giáo ở

Trang 23

Việt Nam, chỉ ra sự đa dạng và những vấn đề phức tạp nảy sinh trong tôngiáo, như: tình trạng chuyển nhượng, hiến tặng đất, mở rộng cơ sở thờ tự, xâydựng nhà thờ, nhà nguyện trái phép, không phép diễn ra ở nhiều địa phương;các hoạt động tôn giáo trái pháp luật, lợi dụng tôn giáo vào mục đích ngoàitôn giáo; mâu thuẫn nội bộ ở một số tổ chức tôn giáo; hoạt động phức tạp củamột số tôn giáo trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số; hoạt động chống đốichính quyền của các phần tử phản động; các hiện tượng tín ngưỡng, tôn giáomới, đạo lạ và tà đạo Từ đó, tác giả khái quát một số vấn đề đặt ra đối vớicông tác tôn giáo hiện nay.

Bài viết có thể tham khảo cho công tác tôn giáo nói chung và quản lýnhà nước đối với hoạt động của đạo Tin Lành nói riêng

Tác giả Nguyễn Hồng Dương với các công trình, Quan điểm đường lối

của Đảng về tôn giáo và những vấn đề tôn giáo ở Việt Nam hiện nay [32]; Tiếp tục đổi mới chính sách về tôn giáo ở Việt Nam hiện nay - Những vấn đề

lý luận cơ bản [29] và Quan điểm, chính sách của Đảng và nhà nước Việt Nam về tôn giáo [31] Trong ba công trình này, tác giả đã nghiên cứu từng

giai đoạn lịch sử, hệ thống các văn kiện, nghị quyết của Đảng, việc thể chếhóa quan điểm của Đảng về tôn giáo, nhất là từ đổi mới đến nay Tác giả đãnhấn mạnh ý nghĩa to lớn mang tính bước ngoặt của Nghị quyết số 24 trongnhận thức mới về tôn giáo và công tác tôn giáo Tác giả cũng khẳng định bứctranh tôn giáo đa dạng và sôi động hiện nay có được là từ sự đổi mới quanđiểm, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước Việt Nam đối với tôn giáo,đồng thời đề cập đến vấn đề đặt ra cho chính sách, pháp luật về tôn giáo Tácgiả cũng đúc kết kinh nghiệm ứng xử với tôn giáo ở một số nước, làm luận cứkhoa học để hoàn thiện chính sách đối với tôn giáo ở Việt Nam

Tác giả đã giúp nghiên cứu sinh thấy được quyền tự do tín ngưỡng, tôngiáo ngày càng được bảo đảm đầy đủ hơn ở Việt Nam, mặt khác cũng thấynhững bất cập trong quá trình tổ chức thực hiện, để điều chỉnh

Trang 24

Tác giả Đỗ Quang Hưng với hai công trình Vấn đề tôn giáo trong cách

mạng Việt Nam - Lý luận và thực tiễn [71]; Chính sách tôn giáo và nhà nước pháp quyền [76], đã đúc kết quá trình phát triển tư duy lý luận của Đảng Cộng

sản Việt Nam về tôn giáo và vấn đề tôn giáo, vai trò quan trọng của Nhà nướcViệt Nam trong việc thể chế hóa đường lối, chính sách tôn giáo qua các thời

kỳ, đặc biệt là thực tiễn tôn giáo và kết quả thực hiện chính sách tôn giáo ởnước ta hiện nay Vấn đề về mối quan hệ Nhà nước và các Giáo hội cũngđược đề cập Tác giả Đỗ Quang Hưng nhận định: Là một lực lượng xã hội, tôngiáo chịu sự tác động xã hội cụ thể và là tất yếu khách quan; Đảng, Nhà nướccần tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật đối với tôn giáo

Hai công trình này giúp người đọc định hình rõ nét hơn về mối quan hệNhà nước pháp quyền thế tục với các giáo hội tôn giáo ở Việt Nam

Công trình do Hoàng Minh Đô, Lê Văn Lợi (Đồng chủ biên), 10 năm

thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ VII Ban chấp hành Trung ương khóa

IX về công tác dân tộc và tôn giáo [36] Công trình gồm nhiều bài chuyên

khảo khẳng định Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng và bảo hộ quyền

tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân Công trình cũng đánh giá thực trạng

về tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo; khẳng định mặtthành tựu và mặt còn tồn tại trong công tác tôn giáo từ nhận thức và hànhđộng

Ở đây, nghiên cứu sinh có thêm cơ sở đánh giá thực trạng bộ máy, con người làm công tác tôn giáo và ảnh hưởng đến công tác tôn giáo

Công trình của tác giả Hoàng Minh Đô - Đỗ Lan Hiền, Quan điểm,

đường lối của Đảng và chính sách của Nhà nước về tôn giáo và Công giáo, những vấn đề lý luận và thực tiễn ở Việt Nam hiện nay [37], đã đánh giá kết

quả thực hiện và hoàn thiện chính sách, pháp luật về tôn giáo và Công giáo.Riêng đối với đạo Công giáo, các tác giả đã làm rõ quan điểm của Đảng vềcông tác vận động chức sắc, tín đồ và khẳng định mấu chốt của công tác tôn

Trang 25

giáo là công tác vận động chức sắc, tín đồ tôn giáo Công trình này có ý nghĩatham khảo về công tác vận động quần chúng Kitô giáo.

Tác giả Nguyễn Thanh Xuân (chủ biên), Tôn giáo và chính sách tôn

giáo ở Việt Nam [146] Công trình trình bày khá toàn diện về chính sách tôn

giáo của Đảng, Nhà nước qua các thời kỳ và việc thực hiện chính sách đó,nhất là từ khi đổi mới Tác giả khẳng định, công tác tôn giáo đã làm thay đổiđời sống tôn giáo ở Việt Nam theo hướng tích cực và tiến bộ, góp phần quantrọng vào sự phát triển của đất nước

Tác giả Phạm Huy Thông trong bài "Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo:gần 10 năm nhìn lại" [127, tr.3-5, tr.26], ngoài việc khẳng định những thànhquả trong thực hiện Pháp lệnh, tác giả chỉ ra những vấn đề cần phải khắcphục, như: tư cách pháp nhân tôn giáo, xã hội hóa tôn giáo, chồng chéo, lấnsân của các cơ quan làm công tác tôn giáo Tác giả khuyến nghị cần điềuchỉnh pháp luật sát hơn với thực tế tôn giáo ở Việt Nam

Luận án Tiến sĩ Tôn giáo học của Bùi Hữu Dược, Quản lý nhà nước về

tôn giáo ở Việt Nam từ năm 1975 đến nay [25] Tác giả trình bày cơ sở lý luận

và thực tiễn cho quản lý nhà nước về tôn giáo ở Việt Nam là Chủ nghĩa Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam trongviệc giải quyết vấn đề tôn giáo; khảo sát thực tiễn ứng xử với tôn giáo củamột số nước trên thế giới Từ đó, tác giả khẳng định quản lý nhà nước về tôngiáo là một trong những yêu cầu cấp thiết, quan trọng trong hiện tại và lâu dài

Mác-ở Việt Nam Luận án có nhiều ý nghĩa tham khảo cho nghiên cứu sinh

Tác giả Phạm Dũng trong bài viết "Thành tựu và bài học kinh nghiệmtrong đổi mới công tác tôn giáo gần 30 năm qua" [22, tr.60-67] đã khẳng địnhthành tựu của công tác tôn giáo ở Việt Nam và đưa ra luận điểm: "trong tổngthể công tác tôn giáo, đổi mới công tác vận động quần chúng tín đồ và quản lýnhà nước về tôn giáo là trọng tâm"

Tác giả Hồ Tấn Sáng, "Bàn thêm về ứng xử với tôn giáo và đạo đức tôn

Trang 26

giáo trong đời sống xã hội Việt Nam hiện đại" [114, tr.14-20] Bài viết thểhiện cách tiếp cận dung hợp về tôn giáo và đạo đức tôn giáo ở Việt Nam hiệnnay và nhận định, đến nay, mọi nhận thức đơn giản về tôn giáo, mọi ý địnhchủ quan muốn nhanh chóng xóa bỏ tôn giáo trên thực tế đều có kết quảkhông như ý.

Tác giả Nguyễn Quang Hưng, "Chính sách tôn giáo của Việt Nam trongbối cảnh khu vực (qua so sánh với Hàn Quốc)" [78, tr.21-35] Bài viết phântích chính sách tôn giáo của Việt Nam trong sự so sánh với Hàn Quốc đã chothấy khác biệt trong chính sách tôn giáo chủ yếu do khác biệt về thể chế chínhtrị hai nước Vấn đề căn bản là hai thập niên gần đây, Hàn Quốc đã thànhcông trong việc phát huy vai trò của tôn giáo trong đời sống xã hội

Bài viết có thể tham khảo cho nhận định về vai trò của đạo Tin Lànhtrong phát triển xã hội Việt Nam, cũng như ở TNB hiện nay

Phạm Thanh Hằng, "Về chính sách tôn trọng và bảo vệ quyền tự do tôngiáo ở Trung Quốc" [46, tr.16-25] Bài viết đã trình bày cơ sở, nội dung vàbản chất của chính sách tôn trọng và bảo vệ quyền tự do tôn giáo của ĐảngCộng Sản Trung Quốc Tôn trọng quyền tự do tôn giáo ở Trung Quốc thựcchất là làm cho vấn đề tự do tôn giáo trở thành vấn đề tự do lựa chọn của cánhân người dân, đó hoàn toàn là việc riêng tư của mỗi cá nhân

Tác giả Chu Văn Tuấn, "Sự biến đổi của tôn giáo ở Việt Nam trong bốicảnh hội nhập quốc tế" [133, tr.30-39] Tác giả cung cấp thông tin về sự tácđộng của toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế đã dẫn đến những biến đổi đờisống tôn giáo ở Việt Nam, trên ba phương diện là niềm tin, thực hành niềm tin

và cộng đồng niềm tin Tác giả cũng chỉ ra một số vấn đề, trong đó có vấn đềgiữ gìn, bảo tồn những giá trị của văn hóa truyền thống Việt Nam nói chung,của tôn giáo nói riêng

Bài viết này được nghiên cứu sinh tham khảo cho khuyến nghị để đạo đức Tin Lành có thể lan tỏa hài hòa trong môi trường văn hóa vùng TNB

Trang 27

Huỳnh Ngọc Thu, "Chuyển đổi tôn giáo: sự lựa chọn duy lý của ngườiMnông'' [129, tr.126-136] Dựa vào lý thuyết sự lựa chọn duy lý, kết hợp vớiphương pháp quan sát tham dự và phỏng vấn sâu tại cộng đồng người Mnông

ở Đắk Liên Qua đó đã chỉ ra sự chuyển đổi tôn giáo của cộng đồng ngườiMnông ở Đắk Liên là sự lựa chọn duy lý, đó chính là lựa chọn tính hiện đạitrong niềm tin tôn giáo, là sự gia tăng sinh hoạt cộng đồng và nghỉ ngơi để táitạo sức lao động

Bài viết giúp nghiên cứu sinh nhận định sâu hơn về sự phát triển của đạo Tin Lành vào vùng dân tộc ở TNB

Nguyễn Thị Minh Ngọc, "Niềm tin tôn giáo trong mối quan hệ vớiniềm tin xã hội" [104, tr.73-89] Bài viết góp phần làm sáng tỏ thực trạngniềm tin tôn giáo tại Việt Nam hiện nay; bước đầu lý giải mối quan hệ giữaniềm tin tôn giáo và niềm tin xã hội giữa góc độ niềm tin giữa cá nhân với cánhân và niềm tin cá nhân đối với các vấn đề xã hội

Bài viết giúp nghiên cứu sinh nghiên cứu về đạo Tin Lành vùng TNB theo sát mã số chuyên ngành tôn giáo học

Nguyễn Quang Hưng, "Quan niệm của Christopher Dawson về tôn giáo

và văn hóa'' [79, tr.3-23] C.Dawson khảo cứu quan hệ giữa văn hóa và tôngiáo Tôn giáo là một thành tố của một nền văn hóa tùy thuộc vào từng tôngiáo cụ thể và từng giai đoạn lịch sử cụ thể Các giá trị văn hóa thể hiện trongmọi thành tố cấu thành tôn giáo như một thực thể và thiết chế xã hội Tôngiáo và văn hóa tựa như hai vòng tròn giao nhau ở những điểm căn bản nhất

và sự giao nhau này luôn biến đổi Đó là luận điểm trung tâm xuyên suốt củaC.Dawson Bài viết này giúp nghiên cứu sinh khẳng định đạo Tin Lành ởTNB là nhân tố làm phong phú hoá văn hoá TNB

Nguyễn Văn Bắc, "Quyền thể nhân và pháp nhân tôn giáo" [9, tr.3-15].Tác giả phân tích sự khác nhau của quyền thể nhân - pháp nhân tôn giáo.Quyền này phải được khẳng định đối với tổ chức tôn giáo, vì là vấn đề tự do

Trang 28

tôn giáo, tài sản tôn giáo và tôn giáo tham gia vào các quan hệ pháp luật mộtcách độc lập Nghiên cứu này giúp tác giả luận án có cái nhìn đầy đủ hơn vềpháp nhân của đạo Tin Lành ở TNB hiện nay.

Nguyễn Xuân Nghĩa, "Không gian công và tôn giáo" [102, tr.20-38].Bài viết trình bày khái niệm không gian công để phân tích sự biến đổi vai tròtôn giáo trong những thập niên gần đây

Như vậy, dưới các góc độ, lĩnh vực nghiên cứu khác nhau, các nhàkhoa học đã luận giải, chỉ ra những bất cập, hạn chế, đưa ra những giải pháp,khuyến nghị hoặc bài học kinh nghiệm trong nhận thức và giải quyết các vấn

đề đặt ra từ đạo Tin Lành nói chung và đạo Tin Lành ở TNB nói riêng Tất cả,

do đó đều có ý nghĩa quý giá đối với nghiên cứu sinh, để có cơ sở lý luận vàthực tiễn kế thừa, phát triển sáng tạo trong luận án của mình

+ Các tư liệu của Hội thánh TL VNMN và các công trình nghiên cứu

của chức sắc và tín đồ Tin Lành

Luận án sử dụng bộ Thánh Kinh Báo từ số 01 đến số 19 (1931-1975);

Mục sư Lê Hoàng Phu, Ph.D, Lịch sử Hội thánh Tin Lành Việt Nam

(1911-1965) [109; 110]; Mục sư Phạm Xuân Tín (1960), Đời tận tụy, Sài Gòn [131];

Mục sư Thái Phước Trường (2011), Hội thánh Tin Lành Việt Nam 100 năm

hình thành và phát triển [132];… Các tài liệu này cung cấp một số nội dung

về sự khởi đầu, hoạt động và phát triển của đạo Tin Lành ở vùng TNB trước1975

Luận án sử dụng tư liệu của Hội thánh Tin Lành Việt Nam (MiềnNam), của các hệ phái Tin Lành và một số tài liệu khác viết về đạo Tin Lành

để tìm hiểu nguyên tắc hoạt động, đặc điểm từng hệ phái, mặt tích cực và hạnchế của đạo Tin Lành trong môi trường xã hội vùng TNB, như: Hiến chương,Điều lệ, Nội quy, Quy định , các báo cáo tổng kết hoạt động, bản tin mục vụ

từ 2005 đến nay; Luận án Triết học của Mục sư Mã Phúc Thanh Tươi, Đạo

đức Tin Lành và lối sống đạo đức của tín đồ tại Việt Nam hiện nay [134].

Trang 29

Luận án Tiến sĩ Thần học của Mục sư Nguyễn Võ Khánh Giám, Mục vụ

truyền giảng di động cho người Việt Nam [40];…

Các công trình nghiên cứu trên giúp nghiên cứu sinh chọn lọc được nhữngthông tin về đạo Tin Lành hình thành; về hệ thống giáo lý, giáo luật, lễ nghi, hệphái, tổ chức giáo hội; về quá trình xâm nhập vào Việt Nam, thực trạng, ảnhhưởng, nguyên nhân, xu hướng phát triển, vấn đề đặt ra và giải pháp nâng caohiệu quả công tác tôn giáo đối với đạo Tin Lành ở Việt Nam Các công trình đãchỉ ra một số nguyên nhân Tin Lành phát triển trong vùng dân tộc thiểu số ở TâyNguyên và vùng dân tộc Khmer Nam Bộ có đặc thù riêng

1.2 GIÁ TRỊ CỦA CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VẤN

ĐỀ ĐẶT RA

1.2.1 Giá trị của các công trình nghiên cứu

Thứ nhất, các công trình về vùng đất và con người TNB đã nghiên cứu

khá kỹ điều kiện tự nhiên, xã hội, con người, dân tộc, tôn giáo vùng TNB

Các công trình nhìn chung khẳng định: dân cư vùng đồng bằng sôngCửu Long sinh sống tập trung vùng ven sông Tiền, sông Hậu và thưa dần ởcác vùng U Minh, Đồng Tháp Mười Họ đều rất chịu khó, vượt qua nhữngcảnh ngộ bất trắc; tự chủ, tự lực, tự cường, năng động, sáng tạo, kiên cường,bất khuất, hy sinh vì đại nghĩa, luôn coi trọng tình nghĩa trong mối quan hệgiữa người với người; có phong cách thực tế, minh bạch, cởi mở, phóngkhoáng; có tình, có nghĩa, bình dị, chất phác trong sinh hoạt và có tình yêuthiên nhiên thật sâu đậm

Về văn hoá - tôn giáo - dân tộc ở TNB, các dân tộc có những nét vănhóa đặc sắc riêng và vẫn được bảo tồn, phát huy Vùng TNB là vùng đa vănhóa, hội tụ nhiều cộng đồng dân cư với nhiều tôn giáo du nhập từ bên ngoài,trong đó có đạo Tin Lành Đặc biệt là, sự ra đời của nhiều tôn giáo nội sinhvới đặc thù ảnh hưởng sâu sắc của văn hóa vùng, mà rõ nhất là tính mởthoáng của cư dân vùng TNB

Trang 30

Thứ hai, những nghiên cứu về đạo Tin Lành trên thế giới và ở Việt

Nam là tương đối hệ thống, phản ánh cơ bản được quá trình truyền giáo vàcác giai đoạn phát triển của Tin Lành Một số công trình nghiên cứu có tínhchuyên sâu Những kết quả nghiên cứu khá chuyên sâu này giúp cho nghiêncứu sinh có thể sử dụng thuận lợi trong quá trình thực hiện luận án của mình

Thứ ba, các công trình viết về đạo Tin Lành đã đúc kết rằng, đạo Tin

Lành khởi đầu, tồn tại và phát triển ở Việt Nam đầy khó khăn, nhưng ở vùngTNB nó có một số điều kiện thuận lợi hơn Quá trình truyền giáo có nhữngkhó khăn và thuận lợi khác nhau, theo từng giai đoạn lịch sử, nhưng nhìnchung là đạo Tin Lành phát triển khá chậm so với các tôn giáo khác có mặt tạivùng TNB

Thứ tư, nghiên cứu về đạo Tin Lành ở vùng TNB, các công trình tỏ ra

còn khá khiêm tốn về số lượng Hơn nữa, các công trình còn chưa khắc đậmtính hệ thống, tính toàn diện và mức độ chuyên sâu

Vậy có thể khẳng định: việc nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống về đạoTin Lành ở vùng TNB cần thiết được thực hiện với tính chất là một đề tài mớicủa chuyên ngành tôn giáo học và với một quy mô lớn

1.2.2 Những vấn đề luận án cần tiếp tục nghiên cứu

Từ các kết quả nghiên cứu đã được đúc kết và cùng với tính cấp thiết

về lý luận, thực tiễn, đề tài luận án tiếp tục làm rõ những nội dung:

Một là, làm rõ quá trình khởi đầu, tồn tại và phát triển hiện nay của đạo

Tin Lành ở vùng TNB trên nền tảng địa văn hóa, địa chính trị và địa tôn giáovùng TNB

Hai là, khảo sát, luận giải và khái quát về sự tác động, những ảnh

hưởng qua lại giữa đời sống tôn giáo của tín đồ, chức sắc đạo Tin Lành tạivùng TNB hiện nay với các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội và chính trị củavùng TNB, từ đó rút ra những vấn đề đặt ra hiện nay

Ba là, nghiên cứu chỉ ra xu hướng vận động, phát triển của đạo Tin

Trang 31

Lành ở TNB và khuyến nghị về sự ứng xử của hệ thống chính trị đối với đạoTin Lành và của đạo Tin Lành đối với xã hội, nhằm phát triển hài hòa đạo -đời trong sự ổn định và phát triển bền vững của cả vùng TNB.

1.3 LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU

1.3.1 Khung lý thuyết

Nghiên cứu sinh trong khi vận dụng quan điểm duy vật lịch sử để thấyyếu tố vật chất xã hội là tính thứ nhất của mối quan hệ với đạo Tin Lành, thìđồng thời sử dụng một số lý thuyết khác Đó là:

1.3.2 Lý thuyết văn hóa vùng

Khái niệm Vùng văn hoá được hai nhà nghiên cứu người Nga N.N.Trêbôcxarôp, I A Trêbôcxarôpva định nghĩa: Vùng văn hoá là một vùng mà

ở đó có những tộc người sinh sống Trong quá trình lịch sử lâu dài, họ giaolưu, ảnh hưởng khăng khít với nhau, từ đó hình thành nên những yếu tố vănhoá chung và mới

Theo lý thuyết này, ở vùng TNB, ngoài các yếu tố khác tác động tạonên nét văn hóa vùng, thì còn một yếu tố quan trọng khác là ở vùng này, dântộc Kinh là dân tộc đa số, sinh sống đan xen với các dân tộc thiểu số khác,trong đó đông nhất, và đặc biệt hơn cả, là người dân tộc Khmer Quá trìnhgiao thoa văn hóa giữa các dân tộc ở TNB đã tạo nên một nét văn hóa đặctrưng cho văn hóa vùng TNB Nét văn hóa đặc trưng đó có ảnh hưởng mạnh

mẽ đến văn hóa phương Tây do đạo Tin Lành mang đến Vậy nghiên cứu vềđạo Tin Lành ở vùng TNB nhất định phải coi trọng tới khung lý thuyết này

Lý thuyết văn hoá vùng được nghiên cứu sinh sử dụng trong nghiêncứu chương 2 (Quá trình truyền giáo của đạo Tin Lành ở vùng TNB) vàchương 3 (Thực trạng và đặc điểm của đạo Tin Lành vùng TNB hiện nay)

1.3.3 Lý thuyết đa dạng tôn giáo

Lý thuyết đa dạng tôn giáo (Religious diversity) xuất hiện cùng với xuthế toàn cầu hóa vào cuối thế kỷ XX Trong đó, Diana L.Eck quan niệm: sự

Trang 32

đa dạng văn hóa và tôn giáo là đặc điểm cơ bản của mọi khu vực trên thế giới.

Đa dạng tôn giáo thể hiện ở 04 chiều kích: (1) Đa dạng không phải là sự đơngiản, mà là sự tham gia mạnh mẽ vào sự đa dạng; nó là một thành tựu (2) Đadạng không chỉ là sự khoan dung, mà còn là việc chủ động tìm kiếm sự hiểubiết lẫn nhau giữa các hệ phái trong một tôn giáo, hoặc giữa các tôn giáo khácnhau (3) Đa dạng là sự đối thoại và gặp gỡ của các cam kết; thâu tóm mọi sựkhác biệt trong mối quan hệ qua lại (4) Đa dạng dựa trên đối thoại, là gặp gỡ,cho và nhận, phê bình và tự phê bình

Harold Coward quan niệm: sự thống nhất mà không có đa dạng sẽ dẫnđến việc chối bỏ tự do tôn giáo Ông đưa ra ba chủ đề: (1) đa dạng tôn giáotheo nghĩa cái Một được phóng chiếu ra cái Nhiều; (2) có sự thừa nhận chung

về giá trị, phẩm chất của mỗi tôn giáo cụ thể; (3) tâm linh được nhận diện,đánh giá không được áp đặt tiêu chuẩn riêng của tôn giáo này lên tôn giáokhác Về cơ bản, lý thuyết đa dạng tôn giáo bàn về mối quan hệ hài hòa giữacác tôn giáo; là xác nhận và chấp nhận tính đa dạng của nhiều loại hình tôn

giáo Ở Việt Nam, Nguyễn Thị Minh Ngọc (2016) trong công trình Đa dạng

hóa tôn giáo ở Việt Nam, những vấn đề lý luận và thực tiễn, cho biết đa dạng

tôn giáo thể hiện ở ba cấp độ: Tôn giáo, xã hội và thể chế [92, tr.10]

Đa dạng tôn giáo đòi hỏi phải có nhận thức mới về tôn giáo và chínhtrị, tôn giáo và kinh tế, xã hội, tôn giáo và văn hóa Hiện nay, sự phát triểnmạnh của đạo Tin Lành có tác động không nhỏ đến đa dạng tự thân tôn giáo

và đến các tôn giáo, tín ngưỡng khác, cũng như đến văn hóa truyền thống củadân tộc Việt Nam, của các dân tộc vùng TNB và ngược lại

Lý thuyết Đa dạng tôn giáo, trong luận án được nghiên cứu sinh sửdụng nghiên cứu toàn bộ chương 3 và một phần chương 4, để khẳng định sựphát triển của đạo Tin Lành như là kết quả của sự đa dạng tự thân, từ đó đạoTin Lành góp phần quan trọng trong đa dạng tôn giáo ở vùng TNB hiện nay

Trang 33

1.3.4 Lý thuyết sự lựa chọn hợp lý

Lý thuyết lựa chọn duy lý (Rational Choice), hay hợp lý, xuất phát từkinh tế học do Adam Smith (1732-1776) khởi xướng Thuyết lựa chọn hợp lýcho rằng: hành vi của con người luôn có sự tính toán, cá nhân có tình cảm tôngiáo sẽ kích hoạt lựa chọn tôn giáo như bất cứ lựa chọn nào khác, để đạt lợiích, như là mục đích cao nhất, trong mối quan hệ với xã hội

Lý thuyết lựa chọn duy lý đã đem lại một cách tiếp cận mới về tôn giáotrong xã hội hiện đại, khi thấy con người luôn có lý trí khi lựa chọn niềm tintôn giáo để nhận được phần thưởng từ tôn giáo với chi phí thấp Lý thuyết nàygiả định nhu cầu tôn giáo không thay đổi, mà thị hiếu mới thay đổi, "nguồncung" sản phẩm tôn giáo mới giữ vai trò làm cho tôn giáo phát triển hay suytàn, nguồn cung do chức sắc, tổ chức tôn giáo cung cấp sản phẩm Nhu cầu tôngiáo không thay đổi qua lịch sử, hay các nền văn hóa và các quốc gia khácnhau; sự thịnh suy tôn giáo chủ yếu do người cung ứng tôn giáo và các quyđịnh của nhà nước về nguồn cung Cạnh tranh thúc đẩy tôn giáo phát triển đadạng và chính sách của chính phủ nuôi dưỡng sự cạnh tranh cũng làm lợi cho

"người tiêu dùng tôn giáo"

Lý thuyết sự lựa chọn hợp lý được tác giả luận án sử dụng nghiên cứuchương 3 và cả chương 4 của luận án, nhằm rút ra tính hợp lý trong lựa chọnniềm tin của người dân TNB khi theo đạo Tin Lành, rằng đó là sự lựa chọn cóđộng cơ và chủ đích rõ ràng Đạo Tin Lành ở vùng TNB với tính hiện đạitrong niềm tin tôn giáo, qua các yếu tố tổ chức, thế tục hóa trong hành vi, vàduy lý hóa mà người dân đã thấy lợi ích khi chọn tôn giáo này Vậy, chủ thểcông tác tôn giáo ở vùng TNB phải coi trọng đến yếu tố lợi ích của đồng bàođạo Tin Lành, có thế mới không bị rơi vào tình trạng chủ quan, duy ý chí

1.3.5 Lý thuyết cấu trúc - chức năng

Đặt nền móng khởi nguồn cho phương pháp nghiên cứu cấu trúc - chứcnăng là Durkheim, E.Tylor và B.Malinowski Lý thuyết cấu trúc - chức năng

Trang 34

coi tôn giáo như là yếu tố hạt nhân với vai trò quyết định của yếu tố tinh thần,tác động đến sự phát triển xã hội.

Lý thuyết cấu trúc - chức năng được sử dụng để nghiên cứu các chương

2, chương 3 và chương 4 của luận án, góp phần làm rõ: Quá trình du nhập,phát triển của Tin Lành trong mối quan hệ với các yếu tố vùng TNB; đời sốngtôn giáo của người Tin Lành vùng TNB, với mỗi bộ phận hợp thành có chứcnăng riêng nhưng luôn gắn kết với nhau; công tác đối với đạo Tin Lành của

hệ thống chính trị TNB cần phát huy chức năng cùng các yếu tố hợp thành

1.4 MỘT SỐ KHÁI NIỆM SỬ DỤNG CHO LUẬN ÁN

Trước hết cần xác định tên gọi "Tin Lành" Tên đó được các dịch giảnhư W.C.Cardman, J.D.Olsen, Trần Văn Dõng, Phan Khôi, dùng để dịch thuậtngữ Phúc âm (Evangelical) trong Kinh Thánh Cách gọi này cũng để phânbiệt Tin Lành với Công giáo Trên thế giới, Tin Lành còn được gọi bằng nhiềutên như Protestantisme (Tôn giáo phản kháng), Reformism (Tôn giáo cảicách), với nghĩa là một tôn giáo đã phản đối những qui định truyền thốngrườm rà, khắt khe hoặc cấu trúc nhà thờ Thiên Chúa giáo La Mã

Ở vùng TNB trước năm 1975, đạo Tin Lành thường được người dângọi là "đạo bỏ Ông Bà: hay "đạo Mỹ", "đạo Hoa Kỳ (Huê kỳ)", vì giai đoạnđầu truyền giáo vào đây hầu hết là do các giáo sĩ Mỹ đảm trách và chínhquyền Mỹ đã hỗ trợ tích cực cho đạo Tin Lành

Nghiên cứu sinh, một mặt dựa vào chuẩn nhận thức của đạo Tin Lành

và mặt khác, tuân theo Luật Tín ngưỡng, tôn giáo để nêu ra những khái niệmcông cụ của đề tài luận án này, như sau:

1) Tín đồ Tin Lành

Tín đồ (Tín hữu) Tin Lành hay Người Tin Lành (Cơ Đốc nhân), được

hiểu là người tin theo đạo Tin Lành và được tổ chức Tin Lành thừa nhận (khi

đã đến tuổi trưởng thành) Theo Hiến chương của Hội thánh TL VNMN, thì

có tín hữu đã Báp-tem và tín hữu chưa Báp-tem

Trang 35

2) Chức sắc của đạo Tin Lành

Chức sắc Tin Lành gồm Mục sư, Mục sư nhiệm chức, Truyền đạo.3) Chức việc của đạo Tin Lành

Chức việc của đạo Tin Lành gồm Quản nhiệm Hội Thánh, các thànhviên Ban Chấp sự, Ban Trị sự của các hệ phái Tin Lành

4) Tổ chức Tin Lành

Tổ chức Tin Lành là tập hợp tín đồ, chức sắc, chức việc của một hệphái Tin Lành được tổ chức theo một cơ cấu nhất định được Nhà nước côngnhận nhằm thực hiện các hoạt động đạo Tin Lành

Đạo Tin Lành xây dựng giáo hội độc lập với hình thức cơ cấu khácnhau, tuỳ thuộc vào từng hệ phái và hoàn cảnh Có hệ phái có cơ cấu 2 cấpTrung ương và hội thánh cơ sở (chi hội); có hệ phái thêm cấp trung gian làGiáo khu hay Địa hạt Nhân sự lãnh đạo các cấp theo nhiệm kỳ qua bầu cửdân chủ (trực tiếp, bằng phiếu kín, từng chức danh) Thành phần lãnh đạo giáohội không chỉ có mục sư, truyền đạo mà có cả tín đồ Các hệ phái trao quyền

tự quản cho hội thánh cơ sở để tự lập, tự dưỡng, tự truyền Các hệ phái khôngngăn cản tín đồ, chức sắc tách ra nhập hệ phái khác hoặc đứng độc lập

5) Cơ sở tôn giáo của đạo Tin Lành

Cơ sở tôn giáo của đạo Tin Lành bao gồm nhà thờ và các cơ sở hợppháp khác phục vụ hoạt động của đạo Tin Lành

6) Hội Thánh Tin Lành

Là một tổ chức hệ phái hay một đoàn truyền giáo Tin Lành có cơ cấu tổchức riêng Ở Việt Nam, Hội Thánh Tin Lành còn có các tên gọi khác nhưGiáo hội Tin Lành, Tổng hội Tin Lành,

7) Hội thánh độc lập

Cụm từ thường được Hội Thánh TL VNMN sử dụng trước năm 1975,được quản trị phần chính bởi các Mục sư, Truyền đạo bản xứ, đôi khi có sựgiúp đỡ của các tín hữu Gọi là Hội thánh độc lập để phân biệt với các Hộithánh do các Mục sư người nước ngoài quản trị

Trang 36

10) Hệ phái (giáo phái)

"Giáo phái" được dùng để gọi tên các nhóm Tin Lành hình thành mới,hoặc tách ra từ Công giáo Cụm từ "giáo phái" được dịch từ tiếng La-tinh là

secta (tiếng Pháp là "secte" và tiếng Anh là "sect"), với ý nghĩa "secta" gốc

bởi động từ secari, có nghĩa là "cắt đứt, chặt lìa" Nhóm nào ly khai khỏi Giáo

hội Công giáo thì gọi là "secta" Hiện nay một số hệ phái Tin Lành cũng dùng

từ "giáo phái" để gọi các hệ phái mới

11) Địa hạt

Là một cấp trung gian của đạo Tin Lành, được hình thành gồm nhiều chihội (Hội Thánh cơ sở) trong một giới hạn địa lý do tổ chức hệ phái qui định

12) Đời sống tôn giáo của đạo Tin Lành

Đời sống tôn giáo, theo nghĩa rộng nhất, đó là toàn bộ những hoạt độngcủa tôn giáo để duy trì sự tồn tại của tôn giáo với tính chất là một thực thể(sống), bao gồm những hoạt động vật chất và tinh thần của tôn giáo

Từ đó, khái niệm "đời sống tôn giáo của đạo Tin Lành" (viết tắt: đờisống Tin Lành), đó là toàn bộ những hoạt động tôn giáo thuần tuý (bên trong,nội bộ của đạo Tin Lành) và những hoạt động xã hội (những hoạt động liênquan đến các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội và chính trị), được quy định bởigiáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức của Tin Lành

Trang 37

14) Bồi Linh và Đại Hội đồng

Bồi linh còn gọi là Hội đồng linh tu, được tổ chức hàng năm theo cáccấp giáo hội để nâng cao trình độ giáo lý, thần học cho tín đồ, mục sư, truyềnđạo Bồi linh cấp trung ương chỉ có các mục sư, truyền đạo và những chức vụchủ chốt của các chi hội; còn bồi linh ở cấp chi hội thì mở rộng đến tín đồ

Đại hội đại biểu cấp chi hội họp mỗi năm/lần Hội đồng chi hội cónhiệm vụ tổng kết công việc trong năm, bàn chương trình hoạt động năm tới,bầu ban chấp sự; bỏ phiếu tín nhiệm mục sư, truyền đạo chủ tọa và bầu đạibiểu đi dự Đại hội đồng cấp trên (nếu trùng nhiệm kỳ) Đại hội đồng là Đạihội đại biểu trên cấp chi hội, tham dự gồm các mục sư, truyền đạo, đại biểutín đồ Đại hội đồng tổ chức theo nhiệm kỳ để giải quyết việc nội bộ, xâydựng, sửa đổi Hiến chương, Điều lệ, bầu nhân sự lãnh đạo giáo hội

15) Hội truyền giáo Phúc âm Liên hiệp (CMA): Theo Bách khoa toàn

thư mở Wikipedia, Hội Truyền giáo Phúc âm Liên hiệp là một cộng đồng cácgiáo hội Cơ Đốc thuộc trào lưu Tin Lành Thành lập năm 1887 bởi: AlbertBenjamin Simpson

16) Baptist (Báp-tít): Theo từ điển Bách khoa toàn thư mở Wikipedia,Báp-tít là một nhóm các giáo hội Cơ Đốc giáo cho rằng phép báp têm chỉ nênđược cử hành cho những người tự tuyên xưng đức tin Họ được xem là mộttrong những giáo phái thuộc cộng đồng Kháng Cách, và về mặt giáo lý, hầuhết có quan điểm theo phong trào Tin Lành

Trang 38

17) Phong trào Ngũ Tuần: Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia,Phong trào Ngũ Tuần là một trào lưu Tin Lành tập chú vào trải nghiệm cánhân nhận lãnh báp têm bằng Chúa Thánh Linh như được ký thuật trong TânƯớc về ngày Lễ Ngũ Tuần (Ngũ Tuần - Hi văn: πεντηκοστή [ήμέρα],pentekostē [hēmera] - nghĩa là năm mươi ngày [sau Lễ Vượt qua]).

Có những tương đồng giữa Phong trào Ngũ Tuần và Phong trào Ân tứ,trong khi tín hữu Phong trào Ân tứ vẫn duy trì sinh hoạt tại các giáo đoàn cũ,thì tín hữu Ngũ Tuần tách ra để thành lập các giáo phái Ngũ Tuần Đa số tínhữu Ngũ Tuần tin theo giáo lý Ba Ngôi (Tam vị nhất thể), số còn lại là các tínhữu thuộc phong trào Ngũ Tuần Nhất thể (Oneness Pentecostalism)

Trang 39

Chương 2 QUÁ TRÌNH TRUYỀN GIÁO CỦA ĐẠO TIN LÀNH Ở VÙNG TÂY NAM BỘ

2.1 KHÁI QUÁT NHỮNG TÁC NHÂN ẢNH HƯỞNG ĐẾN ĐẠO TIN

Vùng TNB là vùng đất được thiên nhiên ưu đãi, đất đai màu mỡ, sinh thái

đa dạng Người dân TNB trong mọi sinh hoạt luôn gắn bó với các dòng sông,con rạch chằng chịt Tất cả đã không chỉ tác động đến kinh tế, mà còn ảnh hưởngđến hình thái cư trú cư dân, đến sự giao lưu, tiếp xúc tộc người, đến việc hìnhthành đặc trưng văn hóa vùng, gồm cả đời sống tôn giáo, tín ngưỡng

Dân cư TNB cư trú gần sông nước, phương tiện đi lại chủ yếu bằng ghe,tàu và điều này là sự lạ lẫm với các Mục sư Tin Lành trẻ tuổi, lại chưa thạo tiếngViệt, nên họ phải vừa theo ghe, tàu truyền giáo vừa học tiếng bản địa Khó khănhơn, họ từ nước ngoài mới đến Việt Nam chưa am hiểu tường tận về văn hóa, tôngiáo, tín ngưỡng bản địa Theo Mục sư (Ms) Ms Lê Hoàng Phu:

"Những bài viết của họ, kể cả các vị lãnh đạo ưu việt đôi khi cũng để lộmột số thiếu sót trong sự thông hiểu cơ cấu xã hội, giáo dục thực hành của cáctôn giáo, cả đến những biến cố quan trọng nhất của sự phát triển Giáo hộiCông giáo La Mã tại Việt Nam" [110, tr.108]

Trang 40

Hiện nay, điều kiện tự nhiên, địa lý và xã hội của TNB đã có thay đổi,phát triển nhanh về mọi mặt, mà với đạo Tin Lành là thuận lợi nhiều cho sựphát triển Lực lượng chức sắc, chức việc hiện nay đều là người bản địa, amhiểu về phong tục tập quán, văn hóa vùng Trình độ nhận thức của dân cưvùng TNB được nâng cao, họ không còn bị bó buộc theo truyền thống tôngiáo của gia đình, vốn gò bó, rườm rà, mất thời gian, thậm chí là lạc hậu và

mê tín - điều mà đạo Tin Lành có thể bù đắp, thay thế Điều kiện giao thông,phương tiện đi lại thuận lợi hơn, đồng thời phương tiện truyền thông cũngphù hợp với tôn giáo hiện đại như đạo Tin Lành

Xã hội vùng TNB hiện nay là xã hội đa dạng giai cấp, tầng lớp, dân tộc,trong mối quan hệ không thể tách rời, song có sự chênh lệch, phân hoá xã hộikhác nhau Sự chênh lệch giàu nghèo ngày càng xa; chênh lệch khá cao về thunhập giữa khu vực kinh tế nông nghiệp - nơi duy trì các tôn giáo truyền thống,với khu vực kinh tế công nghiệp, dịch vụ - nơi đạo Tin Lành có lợi thế

Vậy, một bộ phận người dân TNB dù muốn hay không thì cũng phảithích nghi với điều kiện sống mới và môi trường tôn giáo mới Vì thế, dấu ấntôn giáo truyền thống trong họ theo thời gian, có phần phai nhạt, thay vào đó

là tình cảm nảy sinh với các tôn giáo hiện đại, phù hợp với môi trường côngnghiệp như đạo Tin Lành

2.1.1.2 Kinh tế

Những năm 20 của thế kỷ XX đời sống của cư dân vùng Tây Nam Bộhết sức bần cùng, nhưng các Giáo sĩ Tin Lành đã không giúp đỡ tín đồ vềphần tài chánh, mà còn dạy họ dâng hiến, đóng góp cho công cuộc truyềngiảng Tin Lành, tổ chức bán Kinh Thánh Nhiều tín đồ đem 1/10 thu nhậpdâng vào Hội thánh và tổng số tiền dâng hiến lên tới 5.432,98 Mỹ kim vàonăm 1925; 7.882,93 Mỹ kim vào năm 1926 và 7.217 Mỹ kim vào năm 1927[110, tr.119-120] Đây là một nguyên nhân dẫn đến đạo Tin Lành khó pháttriển trong tầng lớp nông dân vùng TNB

Ngày đăng: 26/05/2020, 08:54

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w