1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quản lý nhà nước về bồi dưỡng tiếng anh cho công chức cơ quan hành chính nhà nước trung ương đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế

202 34 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 202
Dung lượng 1,74 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤHỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA GIÁP THỊ YẾN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BỒI DƯỠNG TIẾNG ANH CHO CÔNG CHỨC CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC TRUNG ƯƠNG ĐÁP ỨNG YÊU CẦU HỘI

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

GIÁP THỊ YẾN

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BỒI DƯỠNG TIẾNG ANH CHO CÔNG CHỨC CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC TRUNG ƯƠNG ĐÁP ỨNG YÊU CẦU HỘI NHẬP QUỐC TẾ

LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ CÔNG

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

GIÁP THỊ YẾN

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BỒI DƯỠNG TIẾNG ANH CHO CÔNG CHỨC CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC TRUNG ƯƠNG ĐÁP ỨNG YÊU CẦU HỘI NHẬP QUỐC TẾ

Chuyên ngành: Quản lý công

Mã số: 62 34 04 03

LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ CÔNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

1 PGS.TS Nguyễn Thị Hồng Hải

2 TS Nguyễn Ngọc Vân

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng cá nhân tác giả;các tài liệu, số liệu trích dẫn hoặc kết quả tự điều tra, khảo sát trong luận án làtrung thực và theo đúng quy định Kết quả nghiên cứu trong luận án chưa đượccông bố trong bất cứ tài liệu nào khác

Tác giả

Giáp Thị Yến

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Lời trước tiên, tôi xin bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc đến hai thày cô hướngdẫn khoa học cho tôi là PGS.TS Nguyễn Thị Hồng Hải và TS Nguyễn NgọcVân đã tận tình hướng dẫn và đóng góp cho tôi nhiều ý kiến khoa học trongquá trình nghiên cứu và thực hiện luận án

Tôi xin chân thành cảm ơn lãnh đạo Học viện Hành chính Quốc gia, BanQuản lý Đào tạo Sau đại học, Khoa Khoa học Hành chính và Tổ chức Nhân sựcùng các thày cô giáo đã nhiệt tình giảng dạy, hướng dẫn và tạo điều kiện chotôi hoàn thành luận án

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới các bộ, ngành Trung ương, đặc biệt là BộNội vụ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Khobạc Nhà nước cùng các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng công chức của các bộ, ngànhTrung ương đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình nghiên cứu vàtìm kiếm tài liệu phục vụ cho luận án

Lời cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn tới cơ quan, gia đình, bạn bè, đồngnghiệp đã tạo điều kiện, động viên tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoànthành luận án này

Hà Nội, ngày tháng năm 2020

Học viên

Giáp Thị Yến

Trang 5

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài ……… 1

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 5

5 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu 6

6 Những đóng góp mới của luận án 9

7 Cấu trúc của luận án 9

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN ……… 10

1.1 Những công trình nghiên cứu có liên quan đến luận án………….… 10

1.1.1 Những công trình nghiên cứu về đào tạo, bồi dưỡng ngoại ngữ cho công chức ……… 10

1.1.2 Những công trình nghiên cứu của quản lý nhà nước về đào tạo, bồi dưỡng ngoại ngữ cho công chức ……… 25

1.2 Nhận xét về tổng quan tài liệu và hướng nghiên cứu tiếp theo của luận án ……… 32

1.2.1 Những kết quả đạt được ……… 32

1.2.2 Những nội dung cần tiếp tục nghiên cứu ……… 33

Kết luận chương 1……… 34

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BỒI DƯỠNG TIẾNG ANH CHO CÔNG CHỨC CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC TRUNG ƯƠNG TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ……… 35

2.1 Công chức cơ quan hành chính nhà nước Trung ương và yêu cầu về bồi dưỡng tiếng Anh trong bối cảnh hội nhập quốc tế……… 35

2.1.1 Công chức cơ quan hành chính nhà nước Trung ương ………… 35

2.1.2 Bối cảnh hội nhập quốc tế và yêu cầu bồi dưỡng tiếng Anh đối với công chức cơ quan hành chính nhà nước Trung ương ……… 44 2.2 Lý luận quản lý nhà nước về bồi dưỡng tiếng Anh cho công chức cơ 52

Trang 6

quan hành chính nhà nước Trung ương………

2.2.1 Khái niệm và chủ thể của quản lý nhà nước về bồi dưỡng tiếng Anh cho công chức cơ quan hành chính nhà nước Trung ương ……… 52

2.2.2 Đặc điểm của quản lý nhà nước về bồi dưỡng tiếng Anh cho công chức cơ quan hành chính nhà nước Trung ương……… 56

2.2.3 Sự cần thiết của quản lý nhà nước về bồi dưỡng tiếng Anh cho công chức cơ quan hành chính nhà nước Trung ương ……… 58

2.2.4 Nội dung quản lý nhà nước về bồi dưỡng tiếng Anh cho công chức cơ quan hành chính nhà nước Trung ương……… 59

2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về bồi dưỡng tiếng Anh cho công chức các cơ quan hành chính nhà nước Trung ương………… 69

2.3.1 Tác động của chủ thể quản lý……… 70

2.3.2 Tác động của đối tượng quản lý……… 71

2.3.3 Tác động của môi trường quản lý ……… 72

Kết luận chương 2……… 75

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BỒI DƯỠNG TIẾNG ANH CHO CÔNG CHỨC CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC TRUNG ƯƠNG Ở VIỆT NAM……… 76

3.1 Khái quát về thực trạng sử dụng tiếng Anh của công chức cơ quan hành chính nhà nước Trung ương ……… 76

3.1.1 Thực trạng về số lượng, chất lượng công chức cơ quan hành chính nhà nước Trung ương ……… 76

3.1.2 Thực trạng sử dụng tiếng Anh của công chức cơ quan hành chính nhà nước Trung ương ……… 80

3.2 Thực trạng nội dung quản lý nhà nước về bồi dưỡng tiếng Anh cho công chức cơ quan hành chính nhà nước Trung ương ở Việt Nam 89

3.2.1 Thực trạng xây dựng và ban hành chính sách, pháp luật về bồi dưỡng ngoại ngữ cho công chức cơ quan hành chính nhà nước Trung ương 89

3.2.2 Thực trạng tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật về bồi dưỡng tiếng Anh cho công chức cơ quan hành chính nhà nước Trung ương… 99 3.2.3 Thực trạng thanh tra, kiểm tra hoạt động bồi dưỡng tiếng Anh cho 116

Trang 7

công chức cơ quan hành chính nhà nước Trung ương…

3.2.4 Thực trạng công tác quản lý chất lượng hoạt động bồi dưỡng tiếng Anh cho công chức cơ quan hành chính nhà nước Trung ương………… 118

3.2.5 Thực trạng về động lực sử dụng tiếng Anh của công chức cơ quan hành chính nhà nước Trung ương……… 120

3.3 Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về bồi dưỡng tiếng Anh cho công chức cơ quan hành chính nhà nước Trung ương thời gian qua…… 122

3.3.1 Ưu điểm……… 122

3.3.2 Hạn chế……… 123

3.3.3 Nguyên nhân của các hạn chế ……… 125

Kết luận chương 3……… 127

CHƯƠNG 4: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BỒI DƯỠNG TIẾNG ANH CHO CÔNG CHỨC CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC TRUNG ƯƠNG ………… 128

4.1 Quan điểm hoàn thiện quản lý nhà nước về bồi dưỡng tiếng Anh cho công chức cơ quan hành chính nhà nước Trung ương ……… 128

4.2 Các giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về bồi dưỡng tiếng Anh cho công chức các cơ quan hành chính nhà nước Trung ương đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế……… 130

4.2.1 Xây dựng và hoàn thiện các quy định pháp luật và chính sách bồi dưỡng và sử dụng tiếng Anh cho công chức cơ quan hành chính nhà nước Trung ương ……… 130

4.2.2 Hoàn thiện tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về bồi dưỡng tiếng Anh cho công chức cơ quan hành chính nhà nước Trung ương ……… 134

4.2.3 Xây dựng chương trình, tài liệu bồi dưỡng tiếng Anh cho công chức cơ quan hành chính nhà nước Trung ương ……… 135

4.2.4 Hoàn thiện công tác tổ chức hoạt động bồi dưỡng tiếng Anh cho công chức cơ quan hành chính nhà nước Trung ương ……… 140

4.2.5 Tăng cường công tác quản lý chất lượng bồi dưỡng tiếng Anh cho công chức cơ quan hành chính nhà nước Trung ương……… 145

4.2.6 Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra hoạt động bồi dưỡng tiếng Anh cho công chức cơ quan hành chính nhà nước Trung ương…… 148

Trang 8

4.2.7 Tạo môi trường, động lực chủ động bồi dưỡng và sử dụng tiếng

Anh cho công chức cơ quan hành chính nhà nước Trung ương ………… 152

4.3 Kiến nghị điều kiện thực hiện các giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với hoạt động bồi dưỡng tiếng Anh cho công chức cơ quan hành chính nhà nước Trung ương……… 156

4.3.1 Kiến nghị với Bộ Nội vụ……… 156

4.3.2 Kiến nghị với Bộ Giáo dục và Đào tạo ……… 159

4.3.3 Kiến nghị với Bộ Tài chính ……… 159

4.3.4 Kiến nghị với các bộ, ngành Trung ương……… 160

Kết luận Chương 4……… 161

KẾT LUẬN……… 162

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ……… 165

TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 167

PHỤ LỤC……… 178

Trang 10

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1: Thực trạng cơ cấu độ tuổi của công chức CQHCNN Trung

ương……… 77Bảng 3.2: Thực trạng trình độ chuyên môn của công chức CQHCNN

Trung ương……… 78Bảng 3.3: Thực trạng trình độ lý luận chính trị của công chức CQHCNN

Trung ương ……… 79Bảng 3.4: Thực trạng trình độ QLNN của công chức CQHCNN Trung

ương……… 80Bảng 3.5: Thực trạng trình độ tiếng Anh và các ngoại ngữ khác của công

chức CQHCNN Trung ương ……… 82Bảng 3.6: Kết quả khảo sát mức độ cần thiết của tiếng Anh với công chức

CQHCNN Trung ương ……… 85Bảng 3.7 Kết quả khảo sát về các hoạt động sử dụng tiếng Anh của công

chức CQHCNN Trung ương……… 87Bảng 3.8 Kết quả khảo sát thực trạng sử dụng tiếng Anh của công chức

CQHCNN Trung ương đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế……… 88Bảng 3.9 Kết quả khảo sát thực trạng số lượng, chất lượng của các chính

sách bồi dưỡng tiếng Anh cho công chức CQHCNN Trung ương đáp ứng

yêu cầu hội nhập quốc tế……… 92Bảng 3.10 Kết quả khảo sát thực trạng số lượng, chất lượng của các văn

bản pháp luật về bồi dưỡng tiếng Anh cho công chức CQHCNN Trung

ương đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế……… 98Bảng 3.11: Kết quả khảo sát thực trạng xây dựng và tổ chức thực hiện

chương trình bồi dưỡng tiếng Anh cho công chức CQHCNN Trung ương 102Bảng 3.12: Kết quả khảo sát thực trạng xây dựng và tổ chức thực hiện tài 104

Trang 11

liệu bồi dưỡng tiếng Anh cho công chức CQHCNN Trung ương………

Bảng 3.13: Kết quả khảo sát thực trạng đơn vị thực hiện bồi dưỡng tiếng

Anh cho công chức CQHCNN Trung ương ……… 105Bảng 3.14: Kết quả khảo sát về tính kế tiếp của các khóa bồi dưỡng tiếng

Anh cho công chức CQHCNN Trung ương……… 106Bảng 3.15 Kết quả khảo sát thực trạng số lượng, chất lượng bồi dưỡng

tiếng Anh cho công chức CQHCNN Trung ương trong thời gian vừa qua 107 Bảng 3.16: Kết quả khảo sát thực trạng nội dung bồi dưỡng tiếng Anh

cho công chức CQHCNN Trung ương ……… 108Bảng 3.17: Kết quả khảo sát thực trạng hình thức bồi dưỡng tiếng Anh

cho công chức CQHCNN Trung ương ……… 109Bảng 3.18: Kết quả khảo sát thực trạng phương pháp bồi dưỡng tiếng

Anh cho công chức CQHCNN Trung ương ……… 110Bảng 3.19: Kết quả khảo sát thực trạng đội ngũ giảng viên bồi dưỡng

tiếng Anh cho công chức CQHCNN Trung ương……… 113Bảng 3.20: Kết quả khảo sát thực trạng trang thiết bị phục vụ hoạt động

tiếng Anh cho công chức CQHCNN Trung ương ……… 115Bảng 3.21: Kết quả khảo sát thực trạng kinh phí bồi dưỡng tiếng Anh cho

công chức CQHCNN Trung ương……… 116Bảng 3.22: Kết quả khảo sát thực trạng công tác thanh tra, kiểm tra hoạt

động bồi dưỡng tiếng Anh cho công chức CQHCNN Trung ương……… 117Bảng 3.23: Kết quả khảo sát thực trạng công tác quản lý chất lượng bồi

dưỡng tiếng Anh cho công chức CQHCNN Trung ương……… 119Bảng 3.24 Kết quả khảo sát thực trạng về động lực sử dụng tiếng Anh

của công chức CQHCNN Trung ương……… 121

Trang 12

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1: Trình độ tiếng Anh và các ngoại ngữ khác của công chức

CQHCNN Trung ương ……… 83Biểu đồ 3.2: Kết quả khảo sát về mức độ sử dụng tiếng Anh của công

chức CQHCNN Trung ương ……… 86

Trang 13

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong hệ thống cơ quan nhà nước, đội ngũ công chức là lực lượng nòngcốt, là nhân tố chính quyết định đến hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thốngnày Để xây dựng được đội ngũ công chức tận tụy với nhân dân, nâng cao năngsuất, chất lượng thực thi công vụ, đáp ứng yêu cầu của công dân, tổ chức vàthực hiện tốt chương trình cải cách nền hành chính, thì đào tạo, bồi dưỡng côngchức có vai trò hết sức quan trọng

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng hiện nay, bên cạnhviệc trau dồi kiến thức và chuyên môn, công tác bồi dưỡng nâng cao năng lựcngoại ngữ cho đội ngũ công chức là một yêu cầu cấp thiết để họ chủ động tiếpcận và trao đổi thông tin phục vụ cho công vụ, từng bước đưa đất nước ta hòanhập với khu vực và thế giới

Trước yêu cầu đó, việc đào tạo và bồi dưỡng ngoại ngữ, nhất là tiếngAnh cho đội ngũ cán bộ, công chức đã được Đảng và Nhà nước ta quan tâm chỉđạo thực hiện từ rất sớm, nhất là khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới Ngay

từ năm 1968, Thủ tướng Chính phủ đã ra Chỉ thị số 43-TTg/VG ngày 11 tháng

4 năm 1968 về việc đẩy mạnh công tác dạy và học ngoại ngữ trong các trườngphổ thông, các trường chuyên nghiệp, trong cán bộ khoa học, kỹ thuật, nhàquản lý kinh tế và trong công nhân kỹ thuật Đến năm 1972 Thủ tướng Chínhphủ ra Quyết định số 251-TTg ngày 07 tháng 9 năm 1972 về việc cải tiến vàtăng cường công tác dạy học ngoại ngữ trong các trường phổ thông; năm 1994Thủ tướng Chính phủ ra Chỉ thị số 422-TTg ngày 15 tháng 8 năm 1994 về việctăng cường bồi dưỡng ngoại ngữ cho cán bộ quản lý và công chức nhà nướcnhằm nâng cao năng lực ngoại ngữ của cán bộ, công chức trên mức hiện có, tự

sử dụng được ngoại ngữ để giao dịch và nghiên cứu tài liệu trong phạm vichuyên môn Những năm sau đó, Thủ tướng Chính phủ

Trang 14

đã ban hành kế hoạch về đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ, công chức theo giaiđoạn 5 năm như: Quyết định số 874-TTg ngày 20 tháng 11 năm 1996, Quyếtđịnh số 74/2001/QĐ-TTg ngày 07 tháng 4 năm 2001, Quyết định số40/2006/QĐ-TTg ngày 15 tháng 02 năm 2006, Quyết định số 1374/2011/QĐ-TTg ngày 12 tháng 8 năm 2011 Các quyết định nêu rõ việc tổ chức bồi dưỡngngoại ngữ trước hết tập trung cho đối tượng công tác trong các lĩnh vực hợp tácquốc tế và hội nhập kinh tế, các ngành, nghề mũi nhọn phục vụ trực tiếp cho sựnghiệp cải cách hành chính và công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đấtnước Nghị định số 101/NĐ-CP ngày 01/9/2017 của Chính phủ về đào tạo, bồidưỡng kiến thức, chuyên môn, nghiệp vụ và kỹ năng thực thi công vụ, trong đó

có qui định bồi dưỡng ngoại ngữ là nội dung bồi dưỡng trong nước cho cán bộ,công chức, viên chức Gần đây nhất, Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 19 tháng

5 năm 2018 của Ban chấp hành Trung ương khóa XII đã chủ trương xây dựngđội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý các cấp từ cấp chiến lược đến cấp cục, vụ,phòng ở Trung ương đến năm 2030 có đủ khả năng làm việc trong môi trườngquốc tế

Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước, Bộ Giáo dục và Đào tạo

đã ban hành “Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam” (Thông tư

số 01/2014/TT-BGDĐT ngày 24/01/2014 của Bộ Giáo dục và Đào tạo) để làmcăn cứ thống nhất về năng lực ngoại ngữ, đặc biệt là tiếng Anh ở Việt Nam Bộ

Giáo dục và Đào tạo hiện đang triển khai các Đề án “Dạy và học ngoại ngữ

trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2008-2020” (gọi tắt là đề án

2020), Đề án “Xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2012- 2020” Mục tiêu đến

năm 2020 sẽ có 40% cán bộ, công chức, viên chức có trình độ ngoại ngữ bậc 2(A2) và 20%- 30% có trình độ bậc 3 (B1); Bộ Nội vụ đã ban hành Thông tư số11/2014/TT-BNV trong đó quy định tiêu chuẩn ngoại ngữ cho các ngạch côngchức hành chính dựa trên Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc

Trang 15

dùng cho Việt Nam của Bộ Giáo dục và Đào tạo Thông tư này bắt đầu có hiệulực từ ngày 01 tháng 12 năm 2014.

Tuy nhiên, thực tế hiện nay, công tác QLNN về bồi dưỡng tiếng Anhcho đội ngũ công chức chưa được quan tâm đúng mức, hiện đã có một số chínhsách buộc công chức có chứng chỉ tiếng Anh theo tiêu chuẩn ngạch, chức danhcông chức, chưa có chính sách khuyến khích hay bắt buộc công chức phải bồidưỡng tiếng Anh và sử dụng được tiếng Anh trong công việc, chưa đưa ra lộtrình bắt buộc công chức phải bồi dưỡng nâng cao năng lực tiếng Anh, chưađưa ra quy trình bồi dưỡng, sát hạch và phân loại năng lực tiếng Anh của côngchức… Công tác bồi dưỡng tiếng Anh cho đội ngũ công

chức còn phân tán tùy thuộc vào từng bộ, ngành, tùy thuộc vào ý thức tự giáccủa công chức và cơ quan quản lý và sử dụng công chức Các lớp bồi dưỡngtiếng Anh không có tính bắt buộc và chủ yếu tổ chức theo nhu cầu của ngườihọc nên trong quá trình tổ chức thực hiện vẫn chú trọng đến số lượt bồi dưỡng

mà chưa chú trọng đến chất lượng, hiệu quả của các lớp bồi dưỡng Khâu thanhtra, giám sát, quản lý chất lượng các khóa bồi dưỡng và cấp chứng chỉ tiếngAnh cho công chức còn lỏng lẻo nên chưa đánh giá được thực chất trình độ vànăng lực sử dụng tiếng Anh của công chức Các học viên chưa thực sự đầu tưthời gian, tâm huyết vào việc học Nhiều công chức được tham gia các khóabồi dưỡng tiếng Anh, được cấp chứng chỉ bồi dưỡng nhưng năng lực tiếng Anhchưa đủ để làm việc trong môi trường hợp tác quốc tế hoặc có kiến thức nhưng

do không có môi trường sử dụng nên kiến thức dần mai một…

Trước tình hình đó, nghiên cứu sinh đã lựa chọn nghiên cứu đề tài

“Quản lý nhà nước về bồi dưỡng tiếng Anh cho công chức cơ quan hành chính

nhà nước Trung ương đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế” làm luận án tiến sĩ

chuyên ngành quản lý công nhằm góp phần nâng cao hiệu quả QLNN, đồngthời cải thiện tình trạng hạn chế năng lực sử dụng tiếng Anh của đội ngũ côngchức hiện đang làm việc trong các CQHCNN Trung ương hiện nay

Trang 16

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án là xây dựng các luận cứ khoa học củaQLNN về bồi dưỡng tiếng Anh cho công chức CQHCNN Trung ương đáp ứngyêu cầu hội nhập quốc tế, từ đó đề xuất quan điểm và giải pháp hoàn thiệnQLNN về bồi dưỡng tiếng Anh cho đội ngũ công chức này để nâng cao nănglực sử dụng tiếng Anh trong giao tiếp, học tập, nghiên cứu và thực thi công vụđáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quanđến đề tài làm cơ sở xác định những nội dung cần tiếp tục nghiên cứu vềQLNN đối với bồi dưỡng tiếng Anh cho công chức;

- Nghiên cứu, hệ thống hóa cơ sở lý luận của QLNN về bồi dưỡng tiếngAnh cho công chức CQHCNN Trung ương đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế;

- Phân tích, đánh giá thực trạng QLNN về bồi dưỡng tiếng Anh chocông chức CQHCNN Trung ương thời gian qua từ đó chỉ ra kết quả, hạn chế,

và nguyên nhân dẫn đến hạn chế trong QLNN về bồi dưỡng tiếng Anh chocông chức CQHCNN Trung ương đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế

- Đề xuất giải pháp hoàn thiện QLNN về bồi dưỡng tiếng Anh cho côngchức CQHCNN Trung ương để nâng cao năng lực sử dụng tiếng Anh tronggiao tiếp, học tập, nghiên cứu và thực thi công vụ đáp ứng yêu cầu hội nhậpquốc tế

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động QLNN về bồi dưỡng tiếngAnh cho công chức CQHCNN Trung ương đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế

Trang 17

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: nghiên cứu các nội dung QLNN về bồi dưỡng tiếng Anhcho công chức CQHCNN Trung ương, bao gồm: xây dựng, ban hành chínhsách, pháp luật về bồi dưỡng tiếng Anh; tổ chức triển khai chính sách, phápluật về bồi dưỡng tiếng Anh; thanh tra, kiểm tra, quản lý chất lượng bồi dưỡng

và tạo động lực sử dụng tiếng Anh cho đội ngũ công chức CQHCNN Trungương

- Về không gian: nghiên cứu hoạt động QLNN về bồi dưỡng tiếng Anh cho công chức ở các bộ, cơ quan ngang bộ

- Về thời gian: nghiên cứu hoạt động QLNN về bồi dưỡng tiếng Anh cho công chức trong thời gian gần đây

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

4.1 Phương pháp luận

Luận án sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và lịch sử củaChủ nghĩa Mác - Lê nin làm cơ sở nghiên cứu đối tượng thông qua các phươngpháp nghiên cứu cụ thể Đồng thời dựa vào tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dụcđào tạo cán bộ, công chức và quan điểm, chủ trương của Đảng, Nhà nước vềQLNN đối với đào tạo, bồi dưỡng công chức nói chung và bồi dưỡng tiếngAnh cho công chức CQHCNN nói riêng

4.2 Phương pháp nghiên cứu

4.2.1 Phương pháp khảo cứu tài liệu

Luận án sử dụng các nguồn tài liệu bao gồm: các văn bản pháp luật; vănkiện của Đảng; các số liệu thống kê chính thức của các cơ quan QLNN; sách,báo, tạp chí và các kết quả, phân tích đã được các tác giả khác ở trong và ngoàinước thực hiện Phương pháp này được sử dụng để học hỏi từ những nghiêncứu có sẵn, tìm cách phát triển nội dung nghiên cứu, và tạo động lực nghiêncứu Phương pháp này được sử dụng đồng thời trong cả bốn chương của luậnán

Trang 18

4.2.2 Phương pháp điều tra xã hội học (sử dụng phiếu điều tra) Phương

pháp này được sử dụng để cung cấp các số liệu minh chứng

cho thực trạng bồi dưỡng tiếng Anh và QLNN về bồi dưỡng tiếng Anh chocông chức CQHCNN Trung ương Tác giả đã phát phiếu khảo sát, lấy ý kiếnđánh giá của 700 công chức (lựa chọn ngẫu nhiên) hiện đang làm việc tại các

bộ, cơ quan ngang bộ Số phiếu thu về là 670 phiếu (Phiếu khảo sát xem phụlục số 01)

4.2.3 Phương pháp phỏng vấn sâu

Nghiên cứu sinh phỏng vấn trực tiếp công chức làm việc trong lĩnh vựchợp tác quốc tế, đào tạo, bồi dưỡng ở một số bộ, ngành Trung ương Phươngpháp này được sử dụng ở chương 3 của đề tài luận án

4.2.4 Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, hệ thống hóa, khái quát hóa

Luận án dùng các phương pháp này để xử lý các số liệu, kết quả nghiêncứu có từ tài liệu, phiếu khảo sát, phỏng vấn,…Những phương pháp này được

sử dụng nhằm mục đích đưa ra các luận giải, nhận xét và đề xuất cho luận án.Các phương pháp này được dùng cho cả bốn chương của luận án

5 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu

5.1 Câu hỏi nghiên cứu

Sử dụng Tiếng Anh độc lập trong học tập, nghiên cứu, giao tiếp và thựcthi công vụ là hết sức cần thiết đối với đội ngũ công chức CQHCNN Trungương Hiện tại, hầu hết công chức có bằng, chứng chỉ tiếng Anh đạt chuẩn theoyêu cầu ngạch, chức danh công chức nhưng năng lực sử dụng tiếng Anh cònkhá thấp, không đồng đều và chưa đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế Câu hỏiđặt ra là:

1 Hội nhập quốc tế đặt ra những yêu cầu về tiếng Anh đối với đội ngũcông chức CQHCNN Trung ương như thế nào? Khả năng sử dụng tiếng Anhcủa đội ngũ công chức CQHCNN Trung ương hiện nay đã đáp ứng được yêu

Trang 19

cầu hội nhập quốc tế chưa? Để công chức đáp ứng được yêu cầu tiếng Anh,QLNN về bồi dưỡng tiếng Anh cho công chức CQHCNN Trung ương cần phảiđáp ứng được những yêu cầu nào?

2 Hoạt động QLNN về bồi dưỡng tiếng Anh cho công chức CQHCNNTrung ương đang được thực hiện như thế nào? Những hạn chế cơ bản vànguyên nhân của những hạn chế này là gì?

3 Cần hoàn thiện QLNN về bồi dưỡng tiếng Anh cho công chứcCQHCNN Trung ương như thế nào để nâng cao chất lượng bồi dưỡng tiếngAnh và góp phần nâng cao năng lực sử dụng tiếng Anh cho đội ngũ công chứcCQHCNN Trung ương đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế?

5.2 Giả thuyết nghiên cứu

1 Hội nhập quốc tế đặt ra yêu cầu bắt buộc công chức CQHCNN Trungương phải sử dụng được tiếng Anh để giao tiếp, trực tiếp làm việc với đối tácnước ngoài; học tập, nghiên cứu, nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ Tuy nhiêntrong thực tiễn, đại đa số công chức CQHCNN Trung ương có bằng, chứng chỉtiếng Anh, đáp ứng tiêu chuẩn ngạch, chức danh công chức, nhưng rất ít người

sử dụng được tiếng Anh để giao tiếp, học tập, nghiên cứu, và làm việc độc lậptrong môi trường hợp tác quốc tế Để đạt được những yêu cầu trên, Nhà nướccần xây dựng cơ chế đặc thù; chủ động, linh hoạt trong quản lý, điều hành,phát huy tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các cơ sở đào tạo, bồi dưỡngtrong quá trình bồi dưỡng tiếng Anh cho công chức; quản lý chất lượng bồidưỡng và tạo động lực sử dụng tiếng Anh thường xuyên tại cơ quan, đơn vịcho công chức CQHCNN Trung ương

2 QLNN về bồi dưỡng tiếng Anh cho công chức CQHCNN Trung ươngmặc dù đã được quan tâm và thực hiện nhưng còn nhiều hạn chế Những hạnchế này xuất phát từ nhiều nguyên nhân Nguyên nhân do cơ quan QLNN xâydựng và ban hành các chính sách, pháp luật về bồi dưỡng tiếng Anh còn chungchung, chưa có chế tài buộc công chức CQHCNN Trung ương phải có

Trang 20

bằng cấp, chứng chỉ tương đương với năng lực sử dụng tiếng Anh trong côngviệc đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế; Quá trình tổ chức triển khai chủ yếuchú trọng đến hình thức, đến số lượng, chưa thực sự quan tâm đến chất lượngbồi dưỡng; Công tác thanh tra, kiểm tra, quản lý chất lượng bồi dưỡng tiếngAnh còn lỏng lẻo dẫn đến nhiều công chức CQHCNN Trung ương có bằng,chứng chỉ tiếng Anh nhưng không sử dụng được trong thực tế công việc khiđược yêu cầu.

3 Để đáp ứng được yêu cầu sử dụng tiếng Anh của đội ngũ công chứctrong bối cảnh hội nhập quốc tế, hoàn thiện QLNN về bồi dưỡng tiếng Anh chocông chức CQHCNN Trung ương cần được thực hiện theo hướng: (i) Nhànước cần xây dựng và hoàn thiện các quy định pháp luật, chính sách về bồidưỡng năng lực sử dụng tiếng Anh cho công chức CQHCNN theo vị trí việclàm và chức danh công chức theo hướng vừa có tính bắt buộc, vừa có tínhkhuyến khích, tạo điều kiện cho công chức chủ động tham gia bồi dưỡng và tựbồi dưỡng tiếng Anh; (ii) Hoàn thiện tổ chức bộ máy các cơ quan QLNN vềbồi dưỡng tiếng Anh; (iii) Hoạt động tổ chức bồi dưỡng tiếng Anh cho côngchức cần chú trọng đầu tư cơ sở vật chất, phát triển đội ngũ giảng viên vừa cótrình độ tiếng Anh giao tiếp tốt, vừa có trình độ tiếng Anh chuyên ngành liênquan đến chuyên môn, nghiệp vụ của công chức, đặc biệt là phát huy tính tựchủ, tự chịu trách nhiệm về chất lượng bồi dưỡng Tiếng Anh của cơ sở đào tạo,bồi dưỡng; (iv) Nhà nước tăng cường quản lý chất lượng bồi dưỡng, thanh tra,kiểm tra hoạt động bồi dưỡng tiếng Anh cho công chức CQHCNN Trung ươngcủa các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng; (v) Xây dựng chương trình, tài liệu bồidưỡng tiếng Anh phù hợp với yêu cầu của công chức CQHCNN trung ươngtrong bối cảnh hội nhập quốc tế; (vi) xây dựng môi trường thuận lợi cho dạy,học và sử dụng tiếng Anh của công chức CQHCNN Trung ương và tạo độnglực để công chức chủ động tham gia vào

Trang 21

bồi dưỡng và tự bồi dưỡng, tích cực sử dụng tiếng Anh phục vụ công vụ trong bối cảnh hội nhập quốc tế.

6 Những đóng góp mới của luận án

- Về lý luận: Luận án là công trình nghiên cứu toàn diện, sâu sắc cơ sở

lý thuyết về QLNN đối với hoạt động bồi dưỡng tiếng Anh cho công chứcCQHCNN ở Việt Nam Kết quả nghiên cứu này sẽ bổ sung, hoàn thiện cáckhái niệm, các yêu cầu bồi dưỡng, đặc điểm, chủ thể và nội dung của QLNN

về bồi dưỡng tiếng Anh cho công chức CQHCNN Trung ương; các yếu tố tácđộng đến công tác QLNN về bồi dưỡng tiếng Anh đối với công chứcCQHCNN Trung ương trong bối cảnh hội nhập quốc tế

- Về thực tiễn: Luận án cung cấp những thông tin chính xác, kịp thời vàđầy đủ của công tác QLNN về bồi dưỡng tiếng Anh cho công chức CQHCNNTrung ương ở Việt Nam hiện nay Những thông tin này có thể giúp các nhàhoạch định chính sách, nhà quản lý hoàn thiện các chính sách và phối hợp thựchiện chức năng QLNN về bồi dưỡng ngoại ngữ cho công chức Đồng thời phục

vụ việc nghiên cứu, giảng dạy, học tập trong lĩnh vực quản lý công tại các cơ

sở đào tạo trên cả nước

7 Cấu trúc của Luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo,Luận án được kết cấu thành 04 chương:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến luận án;

Chương 2: Cơ sở lý luận của QLNN về bồi dưỡng tiếng Anh cho công chức CQHCNN ở Trung ương trong bối cảnh hội nhập quốc tế;

Chương 3: Thực trạng QLNN về bồi dưỡng tiếng Anh cho công chức CQHCNN Trung ương ở Việt Nam;

Chương 4: Quan điểm và giải pháp hoàn thiện QLNN về bồi dưỡng tiếng Anh cho công chức CQHCNN Trung ương

Trang 22

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

1.1 Những công trình nghiên cứu có liên quan đến luận án

1.1.1 Những công trình nghiên cứu về đào tạo, bồi dưỡng ngoại ngữ cho công chức

1.1.1.1 Các công trình nghiên cứu trong nước

Các công trình nghiên cứu về đào tạo, bồi dưỡng ngoại ngữ cho côngchức khá khiêm tốn, có một số nghiên cứu tiêu biểu sau:

Trong quá trình Việt Nam đang mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế quốc tếvới các nước trên thế giới và khu vực Với tiêu chí nâng cao chất lượng nguồnnhân lực, đáp ứng yêu cầu của công cuộc hiện đại hóa, hội nhập quốc tế, bêncạnh những yêu cầu về kỹ năng, chuyên môn, nghiệp vụ, kiến thức QLNN,kiến thức hợp tác quốc tế, tin học…, thì yêu cầu về ngoại ngữ, đặc biệt là tiếngAnh với công chức CQHCNN Trung ương là vô cùng quan trọng Trong nội

dung bài viết “Sử dụng tiếng Anh đối với công chức cơ quan hành chính nhà

nước Trung ương trong bối cảnh hội nhập quốc tế” của tác giả Giáp Thị Yến

(2017), công chức CQHCNN Trung ương cần nâng cao trình độ ngoại ngữ lêntrên mức hiện có và sử dụng được tiếng Anh để tự giao dịch, nghiên cứu tàiliệu trong phạm vi chuyên môn của mình Tác giả đã phát phiếu khảo sát đểđánh giá về mức độ sử dụng tiếng Anh của công chức, kết quả khảo sát chothấy chỉ có 25,7% công chức sử dụng được tiếng Anh thành thạo, rơi chủ yếuvào Bộ Ngoại giao, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Giao thông Vận tải, BộGiáo dục và Đào tạo …., có đến 67% công chức khẳng

định chỉ sử dụng tiếng Anh được ở mức trung bình, có nghĩa chỉ đủ giao tiếptrong tình huống thông thường, chưa đủ khả năng làm việc trực tiếp với đối tácnước ngoài và thực hiện các công việc chuyên môn, và có 7,3% công chức

Trang 23

tự đánh giá là tiếng Anh sử dụng kém Tác giả cũng đưa ra một số kiến nghịnâng cao khả năng sử dụng tiếng Anh trong công việc như sau: Thứ nhất, bảnthân công chức cần đầu tư thời gian và chú tâm đến việc bồi dưỡng nâng caonăng lực tiếng Anh lên trên mức hiện có Thứ hai, cơ quan quản lý và sử dụngcông chức tổ chức điều tra, đánh giá, rà soát lại năng lực, trình độ tiếng Anhcủa đội ngũ công chức; tạo điều kiện về thời gian, kinh phí và chú ý đến môitrường sử dụng tiếng Anh sau bồi dưỡng Thứ ba, cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cầnban hành chương trình, giáo trình bồi dưỡng tiếng Anh phù hợp với mục tiêubồi dưỡng và yêu cầu sử dụng tiếng Anh của công chức, bố trí cơ sở vật chấtphù hợp Thứ tư, đưa ra yêu cầu về trình độ, yêu cầu sử dụng tiếng Anh phùhợp với từng vị trí việc làm của công chức, từ đó đưa ra lộ trình bồi dưỡng, đềxuất kinh phí, khảo thí, kiểm định chất lượng sau bồi dưỡng [58]

Một bài viết khác của tác giả Giáp Thị Yến về “Nâng cao hiệu quả

phương pháp học ngoại ngữ đối với cán bộ, công chức” (2015) Trong bài viết,

tác giả đã phân tích và làm rõ vai trò quan trọng của ngoại ngữ đối với cán bộ,công chức trong việc tiếp cận tri thức, văn hóa thế giới, trong đàm phán, cậpnhật thông tin, và mang lại cơ hội thăng tiến trong công việc Bên cạnh đó, tácgiả cũng nêu ra một số lý do khiến cán bộ, công chức chưa học tốt ngoại ngữ,

từ đó đưa ra sáu đề xuất nâng cao hiệu quả việc học ngoại ngữ: thứ nhất, động

cơ học tập rõ ràng; thứ hai, giáo trình, chương trình học phù hợp; thứ ba, họccác cụm từ, câu hoàn chỉnh; thứ tư, kết hợp các kỹ năng trong quá trình học;thứ năm, học cách ghi nhớ và thứ sáu, tạo môi trường học tập và giao tiếp chochính bản thân mình [57]

Bài viết “Một số giải pháp về đào tạo, bồi dưỡng ngoại ngữ cho cán bộ,

công chức, viên chức hiện nay” (2013) của tác giả Giáp Thị Yến, tác giả đã

khái quát về công tác đào tạo, bồi dưỡng ngoại ngữ trong thời gian vừa qua, vàcũng nhận định giữa bằng cấp và năng lực thực tế khác nhau quá xa, nhiều cán

bộ, công chức có bằng cấp chứng chỉ nhưng lại không dùng được

Trang 24

ngoại ngữ, có người có ngoại ngữ nhưng do được bố trí ở những vị trí côngviệc ít yêu cầu năng lực ngoại ngữ nên dần mai một đi….Để công tác quản lý,đào tạo, bồi dưỡng ngoại ngữ cho cán bộ, công chức đạt hiệu quả, tác giả đã đềxuất một số giải pháp cơ bản sau: Thứ nhất, nâng cao nhận thức của các cấplãnh đạo quản lý và đội ngũ cán bộ, công chức về việc học tập nâng cao trình

độ ngoại ngữ Đối với cán bộ lãnh đạo quản lý nên xây dựng chiến lược nângcao trình độ ngoại ngữ cho nguồn nhân lực của cơ quan đơn vị bằng cách, yêucầu trình độ ngoại ngữ chuẩn ngay từ khi tuyển dụng, đưa ra các chính sáchlinh hoạt vừa mang tính khuyến khích vừa mang tính bắt buộc Tạo điều kiệncho cán bộ, công chức học ngoại ngữ thông qua các phương pháp đa dạng,phong phú, tiện lợi phù hợp với điều kiện của từng cơ quan, đơn vị, ví dụ: cáckhóa học trực tuyến, từ xa…và công chức phải cam kết sử dụng được ngoạingữ trong công việc; Thứ hai, cần đổi mới tổng thể trong công tác đào tạo, bồidưỡng, học tập và giảng dạy ngoại ngữ như xây dựng chương trình, giáo trìnhphù hợp, sắp xếp thời lượng đào tạo, bồi dưỡng hợp lý, đầu tư cơ sở vật chất,trang thiết bị, xây dựng chuẩn đầu ra đáp ứng yêu cầu của đơn vị chủ quản, tạomôi trường tự học, tự sử dụng ngoại ngữ cho cán bộ, công chức Bên cạnh đó,cần chuẩn hóa đội ngũ giảng viên, điều chỉnh phương pháp cho phù hợp vớiđội ngũ cán bộ, công chức; Thứ ba, cơ quan, đơn vị bố trí sử dụng ở vị trí phùhợp với đội ngũ cán bộ, công chức có trình độ ngoại ngữ đạt chuẩn sau đào tạo,bồi dưỡng, đồng thời tạo môi trường thuận lợi cho họ có điều kiện phát huy tốtnhất những kiến thức đã học vào công việc và mang lại lợi ích thiết thực cho

cơ quan đơn vị.[56]

Ngoài ra còn một số công trình nghiên cứu trong hệ thống giáo dục quốcdân, các bài viết đề cập đến các góc độ khác nhau trong đào tạo, bồi dưỡng

ngoại ngữ Bài viết “Bàn thêm về cái đích của dạy- học ngoại ngữ theo quan

điểm giao tiếp- cá thể hóa” đăng trên Tạp chí Khoa học & Công nghệ, Đại học

Đà Nẵng của tác giả Nguyễn Văn Tụ khẳng định: Năng lực ngôn ngữ

Trang 25

cho dù có tốt thì cũng chưa phải là mục đích của việc dạy- học tiếng mà cáiđích của dạy- học ngoại ngữ là giúp cho người học hình thành và phát triểnnăng lực giao tiếp trong từng giai đoạn học tập, cho từng dạng hoạt động củalời nói Nên muốn để hoạt động dạy - học ngoại ngữ đáp ứng được nhu cầuphát triển của xã hội cũng như nhu cầu hội nhập trong khu vực và thế giới thìcác giáo viên và các nhà giáo học pháp cần làm rõ tính giao tiếp và tính hệthống, vai trò của người học trong cả quá trình học tập, nội dung dạy - học,việc lựa chọn và dạy ngữ liệu, phương thức giới thiệu, phương thức luyện tập

và kiểm tra, đánh giá [49]

Tác giả Cao Thị Thanh Hương (2005) cũng đồng quan điểm như vậy

Trong bài viết “Đào tạo ngoại ngữ nhằm phục vụ quá trình hội nhập và phát

triển của đất nước”, tác giả đã nhấn mạnh đến một thực tế là việc dạy ngoại

ngữ hiện nay vẫn chú trọng nhiều đến năng lực ngôn ngữ, cụ thể là những yếu

tố cấu trúc ngôn ngữ như: ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp mà chưa chú trọng đếnphát triển năng lực giao tiếp, và kiến thức ngoại ngữ chuyên ngành Để ngoạingữ thực sự phục vụ quá trình hội nhập và phát triển thì người lao động bắtbuộc phải làm việc trong một môi trường vừa hợp tác, vừa cạnh tranh với laođộng nước ngoài nên bên cạnh năng lực ngoại ngữ giao tiếp thì phải đáp ứngđược kiến thức chuyên ngành Từ đó, tác giả cũng đưa ra một số đề xuất nhưsau: nên điều tra về nhu cầu của sinh viên, nhu cầu của thị trường lao động đểthiết kế chương trình đào tạo cho phù hợp; nên có sự phối hợp chặt chẽ giữađơn vị chuyên môn và đơn vị đào tạo ngoại ngữ để có một quy trình đào tạongoại ngữ chất lượng và sát với thực tế sử dụng; nên có sự phối kết hợp trongviệc xây dựng chương trình khung hoặc chương trình chi tiết, trong công tácbiên soạn một số giáo trình ngoại ngữ chuyên ngành để dùng chung cho nhiềutrường có chung môn học [25]

Cũng trong bài viết khác “Đào tạo ngoại ngữ theo hướng chuyên ngành

không còn là sự lựa chọn mà là cấp bách”, tác giả Cao Thị Thanh Hương

Trang 26

(2004) khẳng định đào tạo ra một nguồn nhân lực vừa có kiến thức chuyênngành vừa có kiến thức về ngoại ngữ là hợp với xu hướng đào tạo trên thế giớinên “chỉ đào tạo cử nhân chuyên ngoại ngữ ở các trường chuyên ngữ hoặc chỉđào tạo ngoại ngữ cơ sở ở các trường đại học không chuyên ngữ là cần thiếtnhưng chưa đủ” [28, tr.399] mà đào tạo ngoại ngữ chuyên ngành “phải đượcgắn với môi trường làm việc nên không thể nằm ở trường đào tạo chuyên ngữ

mà phải nằm ở trường đào tạo chuyên ngành” [24, tr.401]

Cùng chung quan điểm đó, trong bài viết “Về vấn đề phát triển ngoại

ngữ chuyên ngành trong quá trình hội nhập quốc tế”, tác giả Đào Hồng Thu

(2002) cho rằng ngoại ngữ chuyên ngành như “chiếc cầu nối kinh tế và văn hóaViệt Nam với thế giới bên ngoài” [42, tr.1] nên vai trò của ngoại ngữ chuyênngành và giáo viên dạy ngoại ngữ chuyên ngành là vô cùng to lớn và mang tínhchất quyết định chất lượng của quá trình hội nhập Vì vậy giảng viên phải nắmđược phương pháp giảng dạy và đưa ra các biện pháp giúp người học thực hiệnđược mục tiêu đề ra, tự lực thực hiện hành động học của mình, đặc biệt trongmôi trường xã hội không có giao tiếp hàng ngày bằng ngôn ngữ được học nhưhiện nay

Phương pháp dạy- học ngoại ngữ là vấn đề được rất nhiều học giả trongnước quan tâm Giảng viên cần vận dụng các phương pháp dạy học ngoại ngữmột cách sáng tạo, phù hợp với các điều kiện và đối tượng cụ thể để phát huy

được tính độc lập, tự chủ của người học ngoại ngữ Đề tài “Nghiên cứu tiến

triển của giáo học pháp ngoại ngữ từ năm 1945 đến nay nhằm đổi mới quy trình đào tạo ngoại ngữ tại trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc Gia Hà Nội” do tác giả Cao Thị Thanh Hương (2004) làm chủ nhiệm

đã hệ thống hóa các trường phái giáo học pháp cơ bản trên thế giới Các giảngviên ngoại ngữ có thể dựa vào đó nhìn nhận lại phương pháp giảng dạy hàngngày của họ và tùy vào từng đối tượng cụ thể để áp dụng phương pháp phùhợp Bên cạnh đó, giáo học pháp ngoại ngữ cũng phải chú trọng đến

Trang 27

yếu tố văn hóa vì đây là yếu tố quan trọng trong giao tiếp ngoại ngữ Để nângcao năng lực ngoại ngữ cho người Việt Nam, nhóm tác giả cho rằng phải cóchiến lược nâng cao năng lực sử dụng ngoại ngữ cho sinh viên trước khi quámuộn Qua nghiên cứu, phân tích chương trình đào tạo, quá trình đào tạo ngoạingữ với sinh viên không chuyên ngữ ở Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn-ĐHQGHN, nhóm tác giả đã thể hiện rõ quan điểm của họ là nên đào tạo ngoạingữ theo hướng chuyên ngành và từ đó đưa ra các đề xuất: Ở giai đoạn cơ sở

và đối với người học ngoại ngữ từ đầu, mục tiêu đào tạo rõ ràng phải đạt bốn

kỹ năng cơ bản là: nghe, nói đọc viết Ngữ liệu cần cung cấp là ngữ âm, ngữpháp, từ vựng Tuy nhiên, với các trường không chuyên ngữ thì nên lồng ghépcác khái niệm, thuật ngữ chuyên ngành vào dạy ở giai đoạn này; Ở giai đoạnnâng cao, bên cạnh hoàn thiện các kỹ năng cơ bản, thì phải cung cấp các thuậtngữ chuyên ngành, cấu trúc ngữ pháp đặc thù giúp người học hiểu và vận dụngđược sâu hơn kiến thức đã học vào điều kiện thực tế Vì vậy việc dạy học hếtsức quan trọng, nên có sự liên kết của giáo viên các trường không chuyên ngữ

và kết hợp với giáo viên dạy các môn chuyên ngành để nâng cao chất lượngdạy ngoại ngữ [27] Các đối tượng khác nhau sẽ có mục đích học ngoại ngữkhác nhau nhưng tất cả đều có mục đích chung là biết sử dụng ngoại ngữ đểgiao tiếp dưới dạng nghe, nói, đọc viết ở các cấp độ khác nhau [23]

Trong cuốn sách “Phương pháp dạy học ngoại ngữ theo đường hướng

thực hành giao tiếp (trên ngữ liệu tiếng Anh)” của tác giả Dương Đức Niệm đã

khái quát những vấn đề về lý luận cơ bản về phương pháp dạy học và trình bàymột số phương pháp, thủ thuật dạy học trên ba bình diện ngôn ngữ là ngữ âm,ngữ pháp, từ vựng và bốn kỹ năng thực hành là nghe, nói, đọc viết Đây là mộttài liệu hữu ích cho các sinh viên, giảng viên ngoại ngữ, các nhà nghiên cứu vềphương pháp giảng dạy ngoại ngữ Tùy theo thực tế dạy- học,

Trang 28

các phương pháp nên được vận dụng một cách sáng tạo cho phù hợp với cácđiều kiện, đối tượng cụ thể [30]

Tác giả Lê Văn Canh (2003) trong bài viết “Những vấn đề về phương

pháp trong trào lưu đổi mới giáo dục ngoại ngữ của thế kỷ XXI” đã khẳng định

“đổi mới thực chất là bước phát triển cao hơn của những gì thuộc về truyềnthống” và “để đổi mới phương pháp dạy học thành công, thì nội dung đổi mớiphải phù hợp với bối cảnh chung của đời sống văn hóa, xã hội và quan trọnghơn là phải được người sử dụng chấp nhận” [8, tr.11] Tác giả cũng đưa ranhận xét: “các phương pháp dạy ngoại ngữ từ trước đến nay tuy có những nétkhác nhau về nội dung, mục đích và con đường đưa người học đến trình độ sửdụng ngoại ngữ thành thạo, nhưng các phương pháp đó không loại trừ lẫn nhau

mà bổ sung cho nhau trong quá trình phát triển đi lên của khoa học giáo dục,ngôn ngữ học và tâm lý học” [8, tr.12-13] và dựa trên khung lý thuyết về cáchdạy ngoại ngữ của Krashen (1982), tác giả đã đưa ra 09 nguyên tắc dạy ngoạingữ theo trào lưu của thế kỷ XXI như sau: Đề cao vai trò tự định hướng củangười học; Học thông qua sự hợp tác hay cộng tác với người khác; Phát triển

kỹ năng tư duy cho người học; Phát triển kỹ năng cảm thụ ngôn ngữ có phêphán; Kết hợp giữa dạng thức (cấu trúc), nghĩa và cách sử dụng của ngôn ngữ;Nâng cao hiểu biết về văn hóa và phát triển kỹ năng giao tiếp liên văn hóa chongười học; Sử dụng tiếng mẹ đẻ của người học một cách hợp lý; Đổi mớiphương pháp đánh giá và người dạy đồng thời là người học Vì vậy, tùy theođiều kiện, mục tiêu và đối tượng cụ thể mà giảng viên sẽ vận dụng các nguyêntắc này cho linh hoạt và đảm bảo được chất lượng giảng dạy [8]

Tác giả Phạm Thị Hòa (2006) trong bài viết “Phát huy tính độc lập, tự

chủ của người học- nhìn từ góc độ dạy và học ngoại ngữ ở ĐHNN- ĐHQG Hà Nội và ở Khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Anh- Mỹ”, cũng đồng quan điểm như

vậy Theo tác giả, để nâng cao chất lượng dạy và học ngoại ngữ thì việc

Trang 29

phát huy được tính độc lập, tự chủ của người học ngoại ngữ là hết sức cầnthiết Giảng viên phải “xác định được vai trò là người tạo điều kiện, hướng dẫnsinh viên học tập với các chiến lược phù hợp, giúp họ tích cực tham gia vàocác tiến trình học trên lớp, biết vận dụng các phương tiện học tập để học tốt cảngoài giờ trên lớp” [21,tr.124] Tác giả đưa ra đề xuất: chương trình, thờilượng chương trình phải phù hợp để không tạo áp lực cho người học, ngườidạy; chất lượng của các phương tiện phục vụ học tập cả trên lớp học cũng nhưngoài giờ lên lớp như: thư viện, trung tâm học liệu, phòng học tiếng, phòngđọc, sách báo nước ngoài, internet… phải được nâng cao Hơn thế nữa, các cấpđào tạo và các cơ sở phục vụ đào tạo phải được đổi mới đồng bộ, tạo điều kiệnthuận lợi cho việc dạy và học [21] Hơn thế nữa, các phương pháp dạy học sẽphát huy được tác dụng khi có sự hỗ trợ của công nghệ.

Tác giả Nguyễn Lân Trung trong bài viết “Công nghệ thông tin với việc

dạy- học ngoại ngữ” đăng trên Tạp chí Khoa học, ĐHQGHN khẳng định vai

trò quan trọng của công nghệ thông tin trong việc đổi mới phương pháp học ngoại ngữ Khi ứng dụng phương pháp lấy người học làm trung tâm, thàygiáo sẽ chỉ là người hỗ trợ học tập và học trò sẽ là người chủ động trong quátrình học của mình Với sự hỗ trợ của công nghệ, người học sẽ chủ động họctập tùy theo điều kiện, năng lực và thời gian của mình; kho tài liệu phong phú,cập nhật; kiểm tra, đánh giá năng lực của mình và tự hoàn thiện….Vì vậythông qua sự phát triển có tính chất đột phá của các phương tiện dạy-học cùngvới sự góp mặt của công nghệ thông tin để nêu lên những đổi thay cơ bản trongkhu vực giáo học pháp ngoại ngữ, nhằm hướng tới một lớp học mới, lớp họconline [47]

dạy-Nội dung bài viết “Đánh giá năng lực ngoại ngữ theo đường hướng

giao tiếp hành động” của tác giả Trần Đình Bình (2012) trình bày về đánh giá

năng lực ngoại ngữ theo đường hướng giao tiếp hành động dựa trên cơ sở lýluận và thực tiễn của Khung tham chiếu châu Âu về ngoại ngữ Trong quá

Trang 30

trình đánh giá phải xem xét cả hai bình diện là ngôn ngữ và sử dụng ngôn ngữthích ứng với các trình độ ngoại ngữ của người học Cách đánh giá mới nàycho phép người học nhận ra những điểm mạnh để phát huy và những khiếmkhuyết cần khắc phục nhằm đạt tới trình độ cao hơn Vì vậy “nhiệm vụ thiếtyếu của giáo viên ngoại ngữ là dạy cho học sinh học và nắm vững, sử dụng,giao tiếp thành thạo ngoại ngữ” và “kiến thức ngôn ngữ phải được sử dụng chomục đích giao tiếp để hoàn thành các nhiệm vụ bằng các hành động cụ thể.”[1,tr.98] Tác giả cũng khẳng định “cách đánh giá này là đòi hỏi khách quantrước xu thế hội nhập với khu vực và quốc tế nhằm nâng cao chất lượng dạy-học-đánh giá trình độ ngoại ngữ hiện nay…” [1,tr.90].

Bài viết “Tính tất yếu của việc xây dựng một hệ thống thi, kiểm tra,

đánh giá ngoại ngữ ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới phục vụ cho mục đích hòa nhập và phát triển” của tác giả Vũ Văn Phúc (2004) đăng trong Tuyển tập

các bài báo khoa học năm 1995-2005 của ĐHNN- ĐHQGHN Theo tác giả,trong thời kỳ hội nhập và phát triển, năng lực ngoại ngữ của nguồn nhân lực,đặc biệt là năng lực giao tiếp có vai trò đắc lực phục vụ cho mục tiêu hội nhập.Vậy cần phải có chuẩn mực, tiêu chí làm thước đo đánh giá năng lực ngoại ngữchính xác, có hệ thống phù hợp với sự phát triển kinh tế- xã hội Bước sangthời kỳ đổi mới đòi hỏi phải có một cách nhìn mới về việc đánh giá năng lựcngoại ngữ, thông qua đánh giá năng lực giao tiếp hay thực hành ngoại ngữ.Đánh giá năng lực giao tiếp nghĩa là đánh giá các kỹ năng sử dụng kiến thứcngôn ngữ một cách phù hợp trong các hoàn cảnh giao tiếp cụ thể Đánh giánăng lực ngôn ngữ nghĩa là đánh giá mức độ nắm kiến thức ngôn ngữ trên cácbình diện khác nhau (ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng…) Kiểm tra, đánh giá là mộtkhâu quan trọng trong quá trình dạy-học Hệ thống thi, kiểm tra, đánh giá ngoạingữ ở Việt Nam cần được thay đổi và tuân thủ các nguyên tắc sau: “phải lấynăng lực giao tiếp làm trọng tâm; phải thể hiện nét đặc trưng của tiêu chí đánhgiá ở từng cấp độ nhưng liên quan chặt chẽ, đồng bộ

Trang 31

giữa các cấp độ với nhau; phải được trình bày rõ ràng, cụ thể các thông tin tớimọi đối tượng: người biên tập, người xử lý, thí sinh, học viên; phải đi với yêucầu về nhân lực, điều kiện vật chất ổn định để có thể đáp ứng được bất cứ yêucầu thi- kiểm tra nào.” [35,tr.359] Để làm được điều này thì cần phải triển khaiđồng bộ nhiều khâu khác như chương trình, giáo trình, phương pháp giảng dạy,điều kiện cơ sở vật chất, tổ chức dạy- học, quản lý dạy- học… thì mới mongnâng cao được chất lượng đào tạo [35]

1.1.1.2 Các công trình nghiên cứu ngoài nước

Hệ thống các công trình nghiên cứu ngoài nước chủ yếu tập trung vàochính sách đào tạo, bồi dưỡng ngoại ngữ cho nguồn nhân lực nói chung và bồidưỡng ngoại ngữ, đặc biệt là tiếng Anh cho đội ngũ công chức của họ nóiriêng Các nghiên cứu đã làm nổi bật lên được vai trò quan trọng, và ảnh hưởngcủa ngoại ngữ đối với nguồn nhân lực và sự phát triển kinh tế - xã hội của đấtnước vì vậy cần có các chính sách thúc đẩy học tiếng Anh và tạo môi trườngdùng tiếng Anh cho nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của cơ quan, đơn vị sửdụng:

Cuốn sách “Language Education in Human Resources Development” do

tác giả Bikram K Das biên tập là tuyển tập bài viết của các tác giả đến từ một

số nước khác nhau đã trình bày trong Hội nghị chuyên đề về ngôn ngữ Khuvực Đông Nam Á năm 1987 với chủ đề “Giáo dục ngôn ngữ trong việc pháttriển nguồn nhân lực” Theo tác giả thì tất cả các hoạt động có liên quan đếnngôn ngữ thì đều là giáo dục ngôn ngữ và tất cả các hoạt động như vậy đều cóảnh hưởng đến sự phát triển nguồn nhân lực Phát triển nguồn nhân lực là hoạtđộng được thực hiện để thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa, thẩm

mỹ, đạo đức, và trí tuệ của cá nhân và cũng giúp cá nhân đạt được tiềm năngcon người cao nhất của mình Mục tiêu của Hội nghị chuyên đề lần này là bằngnhững cách khác nhau, các hoạt động liên quan đến ngôn ngữ sẽ giúp để phát

triển nguồn nhân lực [64] Trong bài viết của Trim (1987) “Planning

Trang 32

the Development of Multilingualism as a Human Resource”, theo tác giả, môi

trường đa ngôn ngữ ở Hội đồng Châu Âu đã làm nổi bật lên vai trò quan trọngcủa ngôn ngữ trong việc phát triển kinh tế xã hội cũng như phát triển văn hóa

xã hội Khi biết thêm ngoại ngữ, hiểu văn hóa của nước khác sẽ là công cụgiúp các công dân châu Âu giao tiếp với nhau, tiếp cận thông tin, trao đổithông tin và đây là khía cạnh chính của việc phát triển nguồn nhân lực [63]

Tác giả David E Ingram (1987) trong bài viết “Language Policy and Economic

and social Development” cũng có đồng quan điểm như vậy Tác giả cho rằng:

“Nếu một quốc gia muốn phát triển kinh tế và duy trì mối quan hệ bình đẳngvới các nước láng giềng, thì người dân của nước đó phải thành thạo các ngônngữ trong khu vực và tất nhiên phải hiểu về văn hóa của nước họ Hơn nữa,ngày nay tiếng Anh có vị thế quốc tế và là công cụ cần thiết để giúp tiếp cậnkiến thức và công nghệ hiện đại.” [60,tr.47 - 48] Nội dung của bài viết nói đếncác khía cạnh ảnh hưởng của chính sách ngôn ngữ của Úc đã giúp đất nước nàyphát triển kinh tế, xã hội như thế nào Và đó chính là yếu tố để phát triển nguồnnhân lực cho các nước… Nước Úc là đất nước nói tiếng Anh lớn nhất khu vựcChâu Á- Thái Bình Dương Trong quá trình buộc phải vật lộn với hiện tượng

đa ngôn ngữ, Nước Úc đã phát hiện ra tiềm năng to lớn của ngôn ngữ trongviệc phát triển xã hội và kinh tế của đất nước Chính sách ngôn ngữ quốc gia ở

Úc được bắt nguồn từ: nhu cầu đánh giá kỹ năng ngôn ngữ; nhu cầu “xuất khẩugiáo dục” của nước Úc (các khóa học tiếng Anh và các khóa học ngôn ngữ ứngdụng); và vai trò của các tổ chức giáo viên dạy ngôn ngữ chuyên nghiệp.Những chính sách này đã góp phần phát triển nguồn nhân lực cho các nước ởkhu vực Châu Á- Thái Bình Dương [60]

Ian G Malcolm (1987) là một nhà giáo dục ngôn ngữ và là nhà ngôn ngữhọc người Úc, người đã may mắn được chứng kiến và được tham gia vào côngcuộc đổi mới và xây dựng lại đất nước Trung Quốc đã cho chúng ta thấy vaitrò quan trọng của giáo dục ngôn ngữ (ngôn ngữ bản địa: tiếng Trung, và

Trang 33

ngôn ngữ nhập khẩu: tiếng Anh) trong việc phát triển nguồn nhân lực của

Trung Quốc qua bài viết “The Role of language Education in Developing

China’s Human Resourses” Trong thời kỳ hiện đại hóa, đất nước này đã đặt ra

bốn mục tiêu, đó là: hiện đại hóa nông nghiệp, công nghiệp, quốc phòng, vàkhoa học, kỹ thuật điều này có nghĩa rằng hiện đại hóa đòi hỏi phải có một kếhoạch duy trì và phát triển ngôn ngữ tiếng Trung Quốc để sử dụng cho nhu cầutrong nước, và ngôn ngữ tiếng Anh để sử dụng trên trường quốc tế Vậy nênviệc giáo dục ngôn ngữ tiếng Anh ở Trung Quốc đã góp phần phát triển mộtnguồn nhân lực lớn của quốc gia để thực hiện 4 mục tiêu hiện đại hóa, và đưađất nước này tiến vào thế kỷ 21 [62]

Trong bài viết “Challenges of Adults in learning English as a Second

Language in China”, ở Tạp chí Nghiên cứu và Giảng dạy Ngôn ngữ (Journal

of Language Teaching and Research), các tác giả Ruijuan Wu, Ruiting Wu vàVan Tai Le (2014) đã khẳng định: tiếng Anh có vị trí hết sức quan trọng vớingười trưởng thành ở Trung Quốc bởi vì tiếng Anh là bài thi bắt buộc và phảiđạt 50/100 điểm với sinh viên ở các cấp học: trung học phổ thông, cao học,nghiên cứu sinh và cũng là bài thi bắt buộc và phải đạt 60/100 điểm với cácgiáo viên khi họ muốn nâng ngạch, bậc Mặc dù họ có một số lợi thế về kiếnthức và trải nghiệm hơn trẻ con khi học ngôn ngữ thứ hai này nhưng họ cũnggặp không ít khó khăn do những nghĩa vụ với gia đình, thiếu tự tin, thiếu thờigian… từ đó các tác giả đưa ra một số giải pháp để giúp người lớn Trung Quốctiếp thụ ngôn ngữ thứ hai này tốt hơn: Nên tự tin hơn khi học tiếng Anh; Nêncoi sự cạnh tranh trên thị trường lao động là động lực để học tốt hơn; Phối hợpvới các thành viên khác trong gia đình, thu xếp thời gian học và làm việc hợplý; Cố gắng hết sức để thích nghi với cách tư duy bằng tiếng Anh trong suốtquá trình học [70]

Tác giả David Koh (2014) trong bài viết “Tiếng Anh ở Singapore” truy cập vào ngày 02 tháng 3 năm 2015 từ http://tuoitre.vn/tin/tuoi-tre-cuoi-

Trang 34

tuan/van-de-su-kien/20140715/tieng-anh-o-singapore/622309.html, cho biết:

Singapore đang sử dụng 4 thứ tiếng: tiếng Anh, tiếng Mã Lai, tiếng Hoa vàtiếng Tamil, nhưng ưu tiên dùng tiếng Anh trên các lĩnh vực Trong Quốc hội,đại đa số các nghị sĩ phát biểu bằng tiếng Anh Khi nghị sĩ phát biểu bằng cácthứ tiếng khác thì bài phát biểu sẽ được dịch cabin sang tiếng Anh Học sinhphải học các môn khoa học, xã hội, toán bằng tiếng Anh, riêng môn tiếng Anhthì hầu như ngày nào cũng phải học một tiết Khi tuyên thệ trước cờ, học sinhcũng dùng tiếng Anh là chính Người Singapore bắt buộc sử dụng tiếng Anhtrong giao dịch công thương, luật pháp, khoa học, hội nhập quốc tế,… Tuynhiên khi cần tuyển dụng người nói tiếng Anh giỏi thì rất ít người Singaporenếu chỉ học trong hệ thống trường của Singapore đạt được trình độ chuẩn màcác ngành yêu cầu Họ đều phải trải qua một số lớp đào tạo và rèn luyện để đạtchuẩn Vì vậy, những người Singapore xuất hiện trên các đài truyền thông củaSingapore làm công việc phát ngôn đều nói tiếng Anh khác hẳn ngườiSingapore bình thường Tác giả cũng nhận thấy việc áp dụng “mô hìnhSingapore” vào Việt Nam là rất khó và tác giả cũng nhận thấy có rất nhiều bấtcập, trong đó có sự bất lực của các cấp chính quyền trong việc thúc đẩy họctiếng Anh Để có một chương trình tiếng Anh mà người dân có thể học và cạnhtranh với thế giới thì cần phải để tâm đến những yếu tố phát triển kinh tế đikèm việc giữ gìn bản sắc dân tộc Tác giả đề xuất: Bộ Giáo dục - đào tạo ViệtNam nên tổ chức những hội thảo hoặc trưng cầu lớn để tiếp thu ý kiến của cácchuyên gia và xã hội, vạch ra những kiến nghị về một kế hoạch lâu dài và nêncho học sinh học tiếng Anh càng sớm càng tốt, mang tính bắt buộc, coi đó làngôn ngữ thứ hai của nền giáo dục; cho học sinh học các môn khoa học và toánbằng tiếng Anh, nhưng tiếp tục dạy các môn lịch sử, địa lý, văn học bằng tiếngViệt Nhà nước nên tạo dựng một môi trường thuận lợi hơn, toàn diện hơn, chohọc sinh tiếp xúc với tiếng Anh nhiều hơn Cụ thể là nên chiếu nhiều phimtiếng Anh trên truyền thông cho trẻ, cho học sinh có nhiều

Trang 35

cơ hội để đọc sách tiếng Anh và nói tiếng Anh, nhưng luôn giúp các em cónhiều dịp học giá trị cuộc sống của Việt Nam [9]

Trong cuốn sách “Problems of learning English as a Second Language”, tác giả Antonia Chandrase (1981) đã xem xét ba yếu tố ảnh hưởng đến việc

học tiếng Anh như ngoại ngữ thứ hai ở Malaysia: thái độ và động cơ học tập;chiến lược học; và cách tiếp cận với tiếng Anh Từ đó tác giả đưa ra một sốkiến nghị cho việc dạy học như sau: Để sinh viên có thái độ và động cơ họctiếng Anh, Giáo viên phải làm nổi bật giá trị thực dụng của tiếng Anh tronggiáo dục và trong công việc qua bài tập và các hoạt động diễn ra trong lớp họcbằng cách thực hành các tình huống phản ánh thực tế việc dùng tiếng Anh ởthế giới bên ngoài lớp học; Giáo viên hướng dẫn sinh viên tìm nghĩa của từbằng phương pháp gợi ý qua ngữ cảnh; thực hành tình huống bằng các kỹ thuậthọc từ vựng qua ngữ cảnh và mẫu thực hành; và học theo phương pháp quynạp sẽ giúp sinh viên đạt kết quả học tập tốt hơn; Có rất nhiều phương tiệngiúp sinh viên tiếp cận với tiếng Anh hiệu quả như phim ảnh, các buổi nóichuyện được ghi âm lại, truyện hoặc bài hát, báo, truyện tranh, các tạp chí nổitiếng về bóng đá, ngôi sao điện ảnh hay tạp chí dành cho phụ nữ Các phươngtiện này không cần mang tính học thuật miễn là nó gây hứng thú và tạo cơ hộitiếp thụ ngôn ngữ thứ hai cho sinh viên [59]

Trong bài viết “The History and the Policy of English Education in

Singapore” hai tác giả Phyllis Ghim và Lian Chew (2007) đã khái quát các giai

đoạn lịch sử dạy và học tiếng Anh ở Singapore Tiếng Anh bắt đầu được dạy ởSingapore là vào năm 1945 Thời kỳ đó họ dùng hoàn toàn sách giáo khoa doOxford biên soạn, và trọng tâm vào ngữ pháp, từ vựng, âm vị và chính tả Khidạy kỹ năng đọc là đọc to và dạy viết là dựa trên các kỹ năng và bài mẫu Tuynhiên, Giai đoạn sau năm 1985, phương pháp dạy trọng tâm vào giao tiếp.Chính tả, nhận dạng từ ngữ, âm vị và ngữ pháp bị hạ thấp Trong quá trình dạyđọc viết, trọng tâm vào quá trình học hơn là kết quả của việc

Trang 36

học Thời kỳ này, học sinh dùng sách giáo khoa do người Singapore biên soạn.Bước vào thế kỷ 21, các nhà lãnh đạo singapore đã nhận ra rằng “Ngôn ngữkhông chỉ được xem như là biểu tượng của văn hóa, của chủ quyền quốc gia

mà còn là nguồn lực kinh tế quan trọng Ngôn ngữ, giống như các loại hànghóa khác, sở hữu một giá trị đặc biệt Nó là một dạng của nguồn vốn, có tiềmnăng tạo ra lợi nhuận và có thể tái sản xuất Nó là phương tiện mà khi dùng nó,một quốc gia có thể đạt được các mục tiêu khác nhau liên quan đến nghiên cứu,tài chính, sản xuất và các mối liên hệ công khác.” [68,tr.162] Với xu hướng

đó, vào năm 2000, ông Colonel David Wong, chủ tịch của “Phong trào Nóitiếng Anh tốt” đã phát biểu: “Cá nhân tôi mơ rằng tiếng Anh Singapore sẽ trởthành biểu tượng hay là tiêu chuẩn cho tiếng Anh được nói ở các nước ChâuÁ” [68,tr.163] Tuy nhiên vẫn có khoảng trống giữa lý tưởng và thực tế, bởi vìhầu hết người dân singapore đều mong những cái gì mình học được ở trường

sẽ đáp ứng được yêu cầu của thị trường việc làm nên nhu cầu của thị trườngcông việc sẽ quyết định nhà trường dạy cái gì và dạy như thế nào Ngày nayphần lớn các trường của Singapore chỉ dạy một ca thay cho học hai ca nhưnhững năm trước Giáo viên làm việc cùng các trang thiết bị tiên tiến hiện đại

Số lượng các trường có giáo viên dạy tiếng Anh soạn bài theo chương trình họcvào năm 2001 và dựa trên các nguyên tắc chung do Bộ Giáo dục và Đào tạođưa ra nhưng nội dung biên soạn sao cho phù hợp với thời gian, đối tượngngười học (người lớn hay trẻ em, người bắt bầu học hay đã học tốt…) và kiếnthức của giáo viên Điều này khuyến khích giáo viên sáng tạo và đạt chất lượnggiảng dạy [68]

Trong bài nghiên cứu của tác giả Lap Tuen Wong (2001), Khoa tiếng

Anh, Trường Đại Học Lingnan, Hong Kong “The Needs Analysis and

Characteristics of Chinese- Speaking Adult ESL Learners”, tác giả đã phân

tích về nhu cầu và các đặc điểm của người lớn Trung Quốc khi học tiếng Anhnhư ngoại ngữ thứ hai và từ đó đưa ra phương pháp dạy tiếng Anh cho các

Trang 37

lớp học của người lớn là phương pháp giải thích ngữ pháp, phương pháp trựctiếp, phương pháp nghe nói, phương pháp tình huống, phương pháp giao tiếp.Giáo viên phải biết kết hợp tất cả các phương pháp này và sử dụng một cáchhợp lý để đáp ứng được nhu cầu học tập khác nhau của người học [65]

Cuốn sách “Teaching Adult Second Language Learners” được Heather

McKay và Abigail Tom viết vào năm 1999 Cuốn sách này là một tài liệu hữuích cho các giáo viên ngoại ngữ khi dạy ngôn ngữ thứ hai cho đối tượng ngườihọc là nguời trưởng thành Trong cuốn sách này, các tác giả cung cấp cácthông tin liên quan đến nội dung, cách tổ chức bài học cũng như đưa ra cáchoạt động cụ thể để có những giờ dạy thành công Bên cạnh việc giảng dạythông thường, một số giáo viên luôn mong muốn có thể hiểu, đánh giá đượcsinh viên và thiết kế được chương trình giảng dạy của riêng mình, thì cuốnsách này cũng cung cấp cho giáo viên những thông tin thêm để làm công việc

đó [66]

Nhìn chung, các tài liệu nước ngoài tập trung làm nổi bật vai trò quantrọng của ngoại ngữ, nhất là tiếng Anh trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiệnnay, và chính sách ngôn ngữ ở các nước đã cung cấp cho tác giả những thôngtin gợi mở cho đề tài luận án của mình

1.1.2 Những công trình nghiên cứu của quản lý nhà nước về đào tạo, bồi dưỡng ngoại ngữ cho công chức

Các nghiên cứu của QLNN về đào tạo, bồi dưỡng ngoại ngữ cho côngchức chưa được quan tâm và chú ý của các nhà nghiên cứu, hiện có một số ítnghiên cứu liên quan đến chính sách ngoại ngữ ở các nước Đông Nam á và cácnước trong khu vực Các quốc gia này dùng tiếng Anh như một ngôn ngữ thứhai và đề cao vai trò của tiếng Anh trong các quan hệ đối ngoại với các quốcgia khác trên thế giới Từ đó các tác giả nhận định, chính sách về ngoại ngữ ởViệt Nam chưa phù hợp nên chưa mang lại hiệu quả cho nguồn nhân lực Tiêu

biểu như, đề tài nghiên cứu khoa học “Một số vấn đề về bối cảnh và

Trang 38

chính sách ngôn ngữ ở các quốc gia Đông Nam Á hải đảo” do tác giả Nguyễn

Thị Vân (2006) làm chủ nhiệm đề tài đã đi sâu nghiên cứu chính sách ngônngữ, và các yếu tố ảnh hưởng đến chính sách ngôn ngữ ở một số quốc giaĐông Nam Á- Hải đảo như Cộng hòa Indonesia, Liên bang Malaysia, Cộnghòa Singapore, Vương quốc Brunei Darussalam và Cộng hòa Philippines Cácquốc gia này đều lựa chọn ngôn ngữ bản địa làm ngôn ngữ quốc gia, đồng thời

đề cao vai trò của tiếng Anh như ngôn ngữ quan trọng thứ hai, đặc biệt tiếngAnh đã được dùng như ngôn ngữ chính thức ở Cộng hòa Singapore Ở cácnước này, tiếng Anh được sử dụng trong quan hệ đối ngoại, tiếp xúc với cácchuyên gia nước ngoài cũng như trên thị trường thế giới và hội nghị quốc tế

Từ đó, tác giả đã đưa ra nhận xét về chính sách ngôn ngữ của Việt Nam, trong

đó có chính sách về ngoại ngữ: “Mặc dù nhà nước ta đã chú ý đến việc đưangoại ngữ vào giảng dạy từ bậc phổ thông đến đại học nhưng thực ra chưađược sự quan tâm đầy đủ và có hệ thống Xác định lại vai trò của ngoại ngữnhư tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Nga, tiếng Trung… là rất cần thiết trong cảicách giáo dục” [52,tr.113] Tác giả khẳng định, chính sách về dạy-học ngoạingữ trong thời kỳ mở cửa đã thể hiện việc thay đổi cách nhìn của lãnh đạo củaĐảng và Nhà nước ta về vai trò của ngoại ngữ trong thời đại mới: tiếng Anh làngoại ngữ số một, tiếng Trung, Pháp, Nga là các ngoại ngữ quan trọng ở ViệtNam Để ngoại ngữ trở thành công cụ hữu ích của người làm công tác khoahọc thì “Bộ Giáo dục và Đào tạo nên ban hành các quy chế nhằm đưa việc dạy

và học ngoại ngữ vào hệ thống và làm cho nó có hiệu quả” [52,tr.114] vì hiệntại người Việt Nam sử dụng thành thạo một trong những ngoại ngữ (Anh,Pháp, ) còn rất ít [52]

Nội dung bài viết “Nhu cầu ngoại ngữ và thái độ của công chức đối với

chính sách ngoại ngữ hiện nay ở Việt Nam (nghiên cứu trường hợp công chức tỉnh Thái Bình và thành phố Đà Nẵng)” của tác giả Vũ Thị Thanh Hương

(2012) Qua nghiên cứu 285 công chức ở tỉnh Thái Bình và thành phố Đà

Trang 39

Nẵng để đánh giá về nhu cầu ngoại ngữ và thái độ của công chức với chínhsách ngoại ngữ hiện nay, kết quả cho thấy đa số công chức biết một ngoại ngữ,chủ yếu là tiếng Anh; họ nhận thấy có ngoại ngữ là hết sức cần thiết nhưng đa

số công chức không bao giờ sử dụng ngoại ngữ cho công việc, nếu có sử dụngthì chỉ giới hạn trong một số lĩnh vực nhất định và gặp rất nhiều khó khăn Từ

đó tác giả nhận định rằng “nếu không có những chính sách dạy-học ngoại ngữthực sự hiệu quả thì cái đích 30% công chức có trình độ ngoại ngữ bậc 3 vàonăm 2020 sẽ khó trở thành hiện thực” [26, tr.24] Tác giả cũng đề xuất “phải cóchính sách ngoại ngữ cởi mở, linh hoạt, tạo điều kiện cho việc học tập ngoạingữ thiết thực với nhu cầu công việc của cá nhân và tập thể” và “chính sáchvừa khuyến khích vừa bắt buộc công chức học ngoại ngữ, cần tạo môi trườngcông việc thuận lợi cho việc sử dụng ngoại ngữ, và cần có hình thức đào tạo đadạng, phương pháp dạy học phù hợp với đặc trưng lứa tuổi công việc”.[26,tr.24]

Trong bài viết “Một số chiến lược nhằm nâng cao chất lượng dạy và học

tiếng Anh cho học viên lớn tuổi ở Khoa tiếng Anh, Trường Đại học Đà Nẵng”

của tác giả Nguyễn Thị Mỹ Phượng (2006), các học viên lớn tuổi là các học

viên có độ tuổi trung bình từ 25 đến 45, hiện đang theo học hệ cử nhân tiếngAnh vừa học vừa làm và cử nhân bằng hai tiếng Anh vừa học vừa làm Tác giả

đã nêu ra một số khó khăn vướng mắc của người lớn tuổi trong việc học tiếngAnh: người lớn tuổi đều đã đi làm nên chưa đầu tư đúng mức vào việc học;chuyên cần thấp; trình độ không đồng đều; tiếp thu chậm và trì trệ hơn trẻ em;chưa có nhiều cơ hội tiếp xúc với giáo viên bản ngữ; điều kiện về cơ sở vậtchất như phòng học tiếng, địa điểm học vẫn còn nhiều bất cập Để nâng caochất lượng dạy và học ngoại ngữ cho người lớn tuổi, tác giả có đưa ba chiếnlược liên quan đến đội ngũ giảng dạy, phương pháp giảng dạy và giáo trìnhgiảng dạy: (1) Về đội ngũ giảng dạy: phải có năng lực chuyên môn tốt, phươngpháp sư phạm vững vàng; tận tụy, nhiệt tình, động viên, khích lệ

Trang 40

người học, có trang phục và thái độ đúng mực trên lớp; nắm bắt được tâm lý,mục đích học tập và nhu cầu sử dụng tiếng Anh của người học; (2) Về phươngpháp: tạo môi trường thoải mái, an toàn cho người học; tạo cơ hội cho ngườihọc nắm vững kiến thức và thực hành kiến thức đã học ngay trên lớp học; tăng

cơ hội thực hành tiếng cho người học; thiết kế bài giảng có các hoạt động tạohứng thú cho người học; phân chia trình độ của học viên và có biện pháp giúp

họ nâng cao trình độ một cách hiệu quả; (3) Về giáo trình: phải được thiết kếgắn với thực tế công việc của người học; và tăng thời lượng thực hành tiếng đểhọc viên thấy hứng thú và hữu dụng hơn sau lớp học [36]

Trong bối cảnh Việt Nam đang mở cửa và hợp tác với tất cả các nướctrên thế giới thì theo tác giả Nguyễn Trọng Do (2003), Việt Nam rất cần mộtnguồn nhân lực là các cán bộ biết sử dụng ngoại ngữ và các chuyên gia hàng

đầu về ngoại ngữ Ở bài viết “Đào tạo chuyên gia ngoại ngữ hàng đầu ở Việt

Nam”, tác giả cho rằng: chuyên gia ngoại ngữ hàng đầu “phải đạt mức ngang

bằng người bản ngữ trong việc nắm vững tiếng nước ngoài như một công cụgiao tiếp hữu hiệu và đại diện của cộng đồng ngôn ngữ văn hóa thuộc mộtquốc gia khác; về mặt văn bằng phải có bằng thạc sĩ trở lên, ngoại trừ những

cử nhân có tài năng, trải qua quá trình tự học thành công” [10,tr.9] Chuyên giangoại ngữ phải thực hiện ba công việc chính như: “giảng dạy tiếng nước ngoài,chuyển ngữ (biên và phiên dịch), nghiên cứu ngôn ngữ, văn hóa các nướckhác” [10,tr.9] Từ đó, tác giả có đưa ra một số giải pháp như: Xây dựng quyhoạch Nhà nước về đào tạo chuyên gia ngoại ngữ hàng đầu Đó chính là cơ sởpháp lý để triển khai xây dựng hệ thống đào tạo trong hệ thống giáo dục quốcdân trên quy mô toàn quốc, vì lợi ích quốc gia, tiến hành các chương trình tổngthể, đồng bộ từ Trung ương đến địa phương; Xây dựng chuẩn chuyên gia đầungành; Kết hợp sử dụng với bồi dưỡng; Phát triển và hoàn chỉnh hệ thống giáodục ngoại ngữ chất lượng cao xuyên suốt các bậc học; Tăng cường hợp tácquốc tế trong đào tạo chuyên gia hàng đầu [10]

Ngày đăng: 26/05/2020, 06:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w