1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Tài liệu Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục mới nhất

61 95 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 61
Dung lượng 4,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

INHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC GIÁO DỤC1.1. Một số khái niệm1.1.1. Khoa học“Khoa học là hệ thống tri thức về bản chất, quy luật tồn tại và phát triển của sựvật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy” (Luật Khoa học và Công nghệ 2018) Theo Từ điển Giáo dục, Khoa học là lĩnh vực hoạt động của con người nhằm tạora và hệ thống hóa những tri thức khách quan về thực tiễn, là một trong nhữnghình thái ý thức xã hội bao gồm cả hoạt động để thu hái kiến thức mới lẫn cả kết quả của hoạt động ấy, tức là toàn bộ những tri thức khách quan làm nên nền tảng của một bức tranh về thế giới. Từ khoa học cũng còn dùng để chỉ những lĩnhvực tri thức chuyên ngành. Những mục đích trực tiếp của khoa học là miêu tả,giải thích và dự báo các quá trình và các hiện tượng của thực tiễn dựa trên cơ sởnhững quy luật mà nó khám phá được.Sheldon (1997) cho rằng khoa học là một hoạt động trí tuệ được thực hiện bởi con người, được thiết kế để khám phá cách thức hoạt động, tồn tại của sự vật – hiện tưởng.Theo Vũ Cao Đàm khoa học còn được hiểu là một hoạt động xã hội nhằm tìm tòi, phát hiện quy luật của sự vật và hiện tượng và vận dụng các quy luật ấy đểsáng tạo ra nguyên lý các giải pháp tác động vào sự vật hoặc hiện tượng, nhằm biến đổi trạng thái của chúng.3Đặc điểm của khoa học+ Tính thực tiễn (quan hệ với thực tiễn): Khoa học có nguồn gốc từ thực tiễn; được kiểm nghiệm trong thực tiễn; được vận dụng vào thực tiễn.+ Sản phẩm của khoa học phải được khẳng định (chứng minh) bằng cácphương pháp khoa học.+ Tính tiên đoán (dự báo): Những tư tưởng khoa học tiên tiến thường đi trước thời đại, vượt lên khỏi những yêu cầu trình độ hiện tại.+ Khoa học không có giới hạn trong sự phát triển. Nó luôn vận động và ngày càng hoàn thiện cùng khả năng nhận thức và trình độ phát triển của khoa học.+ Tính phân hóa ngày càng sâu: Phân chia thành những lĩnh vực theochiều sâu (chuyên biệt cao), nhưng lại có sự tích hợp giữa các lĩnh vực.+ Khoa học ngày càng được ứng dụng nhanh trong thực tiễn.1.1.2. Khoa học giáo dụcKhoa học giáo dục là một bộ phận của hệ thống các khoa học nghiên cứu về con người, bao gồm: giáo dục học, tâm lý học sư phạm, lý luận dạy hoccj, phương pháp giảng dạy bộ môn…Khoa học giáo dục có mối quan hệ với các khoa họckhác như: triết học, xã hội học, dân số học, kinh tế học, quản lý học…So với các khoa học khác, khoa học giáo dục có đặc điểm nổi bật là tính phức tạp và tính tương đối. Tính phức tạp thể hiện ở mối quan hệ giao thoa với các khoa học khác, không có sự phân biệt triệt để; Tính tương đối thể hiện các qui luật củakhoa học giáo dục mang tính số đông, tương đối, không chính xác như toán học, hoá học.

Trang 1

HỌC VIỆN QUẢN LÝ GIÁO DỤC

KHOA QUẢN LÝ



TÀI LIỆU HỌC PHẦN PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC GIÁO DỤC (Dùng cho học viên cao học chuyên ngành QLGD) (Tóm

tắt)

Hà Nội, 2020

Trang 2

MỤC LỤC

GIỚI THIỆU HỌC PHẦN

Tài liệu học phần Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục dành cho học viêncao học chuyên ngành quản lý giáo dục của Học viện Quản lý giáo dục, với thờilượng 3 tín chỉ

Nội dung tài liệu bao gồm gồm những điểm cốt lõi về nghiên cứu khoa học giáodục như các khái niệm và trình tự căn bản trong nghiên cứu khoa học, cácphương pháp nghiên cứu định lượng và định tính phổ biến trong khoa học giáodục, các kỹ thuật phân tích số liệu cơ bản và những vấn đề cần quan tâm khi viếthoặc đánh giá các tài liệu khoa học để học viên vận dụng trong thực hiện luậnvăn, luận án, đề tài khoa học trong lĩnh vực giáo dục và quản lý giáo dục

Tài liệu được biên tập dựa trên các tài liệu đã xuất bản với các nội dung cô đọng

để định hướng cho học viên trong quá trình học tập; để hiểu sâu hơn về các vấn

đề liên quan, học viên cần tham dự đầy đủ các buổi học và đọc thêm các tài liệutham khảo được giới thiệu

Rất mong nhận được góp ý của đồng nghiệp và người học để tài liệu được hoànthiện hơn

Trân trọng cảm ơn,

Giảng viên phụ trách học phần

(biên tập dựa trên tham khảo tài liệu đã xuất bản)

Trang 3

I/NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC GIÁO DỤC

1.1 Một số khái niệm

1.1.1 Khoa học

“Khoa học là hệ thống tri thức về bản chất, quy luật tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy” (Luật Khoa học và Công nghệ 2018)

Theo Từ điển Giáo dục, Khoa học là lĩnh vực hoạt động của con người nhằm tạo

ra và hệ thống hóa những tri thức khách quan về thực tiễn, là một trong nhữnghình thái ý thức xã hội bao gồm cả hoạt động để thu hái kiến thức mới lẫn cả kếtquả của hoạt động ấy, tức là toàn bộ những tri thức khách quan làm nên nền tảngcủa một bức tranh về thế giới Từ khoa học cũng còn dùng để chỉ những lĩnhvực tri thức chuyên ngành Những mục đích trực tiếp của khoa học là miêu tả,giải thích và dự báo các quá trình và các hiện tượng của thực tiễn dựa trên cơ sởnhững quy luật mà nó khám phá được

Sheldon (1997) cho rằng khoa học là một hoạt động trí tuệ được thực hiện bởi

con người, được thiết kế để khám phá cách thức hoạt động, tồn tại của sự vật –hiện tưởng

Theo Vũ Cao Đàm khoa học còn được hiểu là một hoạt động xã hội nhằm tìmtòi, phát hiện quy luật của sự vật và hiện tượng và vận dụng các quy luật ấy đểsáng tạo ra nguyên lý các giải pháp tác động vào sự vật hoặc hiện tượng, nhằmbiến đổi trạng thái của chúng.[3]

Đặc điểm của khoa học

+ Tính thực tiễn (quan hệ với thực tiễn): Khoa học có nguồn gốc từ thựctiễn; được kiểm nghiệm trong thực tiễn; được vận dụng vào thực tiễn

+ Sản phẩm của khoa học phải được khẳng định (chứng minh) bằng cácphương pháp khoa học

+ Tính tiên đoán (dự báo): Những tư tưởng khoa học tiên tiến thường đitrước thời đại, vượt lên khỏi những yêu cầu trình độ hiện tại

+ Khoa học không có giới hạn trong sự phát triển Nó luôn vận động vàngày càng hoàn thiện cùng khả năng nhận thức và trình độ phát triển của khoahọc

+ Tính phân hóa ngày càng sâu: Phân chia thành những lĩnh vực theochiều sâu (chuyên biệt cao), nhưng lại có sự tích hợp giữa các lĩnh vực

+ Khoa học ngày càng được ứng dụng nhanh trong thực tiễn

1.1.2 Khoa học giáo dục

Khoa học giáo dục là một bộ phận của hệ thống các khoa học nghiên cứu về conngười, bao gồm: giáo dục học, tâm lý học sư phạm, lý luận dạy hoccj, phươngpháp giảng dạy bộ môn…Khoa học giáo dục có mối quan hệ với các khoa họckhác như: triết học, xã hội học, dân số học, kinh tế học, quản lý học…So vớicác khoa học khác, khoa học giáo dục có đặc điểm nổi bật là tính phức tạp vàtính tương đối Tính phức tạp thể hiện ở mối quan hệ giao thoa với các khoa họckhác, không có sự phân biệt triệt để; Tính tương đối thể hiện các qui luật củakhoa học giáo dục mang tính số đông, tương đối, không chính xác như toán học,hoá học

Trang 4

1.1.3 Nghiên cứu khoa học

Theo Luật Khoa học và Công nghệ (Quốc hội, 2018), Nghiên cứu khoa học làhoạt động khám phá, phát hiện, tìm hiểu bản chất, quy luật của sự vật, hiệntượng tự nhiên, xã hội và tư duy; sáng tạo giải pháp nhằm ứng dụng vào thựctiễn Nghiên cứu cơ bản là hoạt động nghiên cứu nhằm khám phá bản chất, quyluật của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy Nghiên cứu ứng dụng làhoạt động nghiên cứu vận dụng kết quả nghiên cứu khoa học nhằm tạo ra côngnghệ mới, đổi mới công nghệ phục vụ lợi ích của con người và xã hội

Nghiên cứu khoa học là một quá trình nhận thức chân lý khoa học, là một hoạtđộng trí tuệ đặc thù; nó tuân theo những quy luật chung nhất của sự nhận thức,tuân theo những quy luật sáng tạo khoa học và tuân theo những quy luật chung,phổ biến của logic nghiên cứu một đề tài khoa học nói riêng Đồng thời nghiêncứu khoa học cũng chịu sự chi phối của những quy luật đặc thù của việc nghiêncứu đối tượng, chịu sự chi phối của tính chất riêng của đối tượng nghiên cứu

“Nghiên cứu khoa học là sự tìm kiếm những điều mà khoa học chưa biết: hoặc

là phát hiện bản chất sự vật, phát triển nhận thức khoa học về thế giới; hoặc là sáng tạo phương pháp mới và phương tiện kỹ thuật mới để làm biến đổi sự vật phục vụ cho mục tiêu hoạt động của con người” [3]

Như vậy, nghiên cứu khoa học là hoạt động tìm hiểu, xem xét, điều tra hoặc thửnghiệm, dựa trên những số liệu, tài liệu, kiến thức đạt được từ thực nghiệm, đểphát hiện ra cái mới về bản chất sự vật, về thế giới tự nhiên và xã hội

- Bản chất của nghiên cứu khoa học là hoạt động sáng tạo của các nhà khoa họcnhằm nhận thức thế giới, tạo ra hệ thống tri thức có giá trị để sử dụng vào cải tạothế giới

- Chức năng của nghiên cứu khoa học (thể hiện trình độ nhận thức khoa học)

gồm: (i) Mô tả: Trình bày lại những kết quả nghiên cứu một hiện tượng hay một

sự kiện KH làm sao cho đối tượng đó được thể hiện đến mức độ nguyên bản tối

đa (ii) Giải thích: Trình bày một cách tường minh bản chất của đối tượng

nghiên cứu, chỉ ra đối tượng ấy đã tuân thủ một phần hay toàn bộ các quy luậtchung của sự phát triển hiện thực Nghiên cứu khoa học không chỉ phản ánhtrung thực các sự kiện của hiện thực mà còn chỉ ra nguồn gốc phát sinh, pháttriển, mối quan hệ của sự kiện với các sự kiện khác, với môi trường xung quanh,

những điều kiện, nguyên nhân, những hệ quả đã hoặc có thể xảy ra (iii) Phát hiện: Khám phá ra bản chất, các quy luật vận động và phát triển của sự vật hiện

tượng (đối tượng nghiên cứu) Phát hiện đồng nghĩa với phát minh, với quátrình sáng tạo ra chân lý mới làm phong phú thêm kho tàng tri thức nhân loại.Phát hiện khoa học là trình độ nhận thức sáng tạo cao nhất của con người Kếtquả là tạo nên các khái niệm, các phạm trù, các lý thuyết, học thuyết, quy trìnhcông nghệ mới,…Đó là những tri thức có giá trị đối với lý luận và thực tiễn

- Mục đích của nghiên cứu khoa học không chỉ nhằm vào việc nhận thức thếgiới mà còn cải tạo thế giới và một khoa học đích thực thì luôn vì cuộc sống củacon người

1.1.4 Nghiên cứu khoa học giáo dục

Nghiên cứu khoa học giáo dục là hoạt động nghiên cứu khoa học trong lĩnh vựu

về khoa học giáo dục Nghiên cứu khoa học giáo dục là một hoạt động nghiên

Trang 5

cứu khoa học đặc thù trong lĩnh vực giáo dục Nó là một hoạt động có tính hệthống, xuất phát từ khó khăn trong hoạt động giáo dục hay từ nhu cầu nhận thứchoạt động giáo dục nào đấy, cố gắng hiểu biết nhằm tìm ra được cách giải thíchsâu sắc về cấu trúc và cơ chế cùng biện chứng của sự phát triển của một hệthống giáo dục nào đó hay nhằm khám phá ra những khái niệm, những qui luậtmới của thực tiễn giáo dục mà trước đó chưa ai biết đến [6].

Sản phẩm của nghiên cứu khoa học giáo dục là những hiểu biết mới về hoạtđộng giáo dục (những chân lý mới, những phương pháp làm việc mới, những lýthuyết mới, những dữ báo có căn cứ)

Hoạt động nghiên cứu khoa học giáo dục là hoạt động sáng tạo: sáng tạo ra trithức mới, kinh nghiệm mới, phương pháp mới trong lĩnh vực giáo dục

Nghiên cứu khoa học giáo dục là quá trình nhận thức hướng vào việc khám phánhững thuộc tính bản chất của sự vật, sự việc, hiện tượng thuộc lĩnh vực giáodục trong mối quan hệ với các lĩnh vực khác và môi trường nhằm phát triểnnhận thức khoa học về giáo dục Đó là hoạt động trí tuệ nhằm cải tạo hiện thực Nghiên cứu khoa học giáo dục là ứng dụng những phương pháp khoa học haynhững hình thức khác của việc tìm tòi tri thức chuyên môn vào thực tiễn hoạtđộng giáo dục Các nhà nghiên cứu giáo dục tìm kiếm mối quan hệ giữa nhữngtham tố khác nhau trong giáo dục Họ đề nghị những cách lựa chọn hiệu quả hơncho các giáo viên, những người thiết kế chương trình, và những người quản lýlãnh đạo trong việc tác động vào thực tiễn giáo dục Những công trình nghiêncứu có hiệu quả giúp nâng cao chất lượng của các quyết định về giáo dục

Nghiên cứu khoa học giáo dục cũng có các chức năng: mô tả, giải thích và pháthiện các sự việc, hiện tượng, qui luật…trong lĩnh vực giáo dục

Mục đích của nghiên cứu khoa học giáo dục nhằm:

+ Góp phần xây dựng hệ thống lý luận của KHGD;

+ Góp phần nâng cao hiệu quả, chất lượng giáo dục và đào tạo;

+ Góp phần nâng cao trình độ chuyên môn, năng lực cho người nghiên cứu;+ Góp phần làm cơ sở cho việc hoạch định các chính sách giáo dục

1.2 Nghiên cứu khoa học giáo dục

1.2.1 Các quan điểm nghiên cứu khoa học giáo dục

a) Quan điểm hệ thống

Là luận điểm quan trọng chỉ dẫn quá trình nghiên cứu phức tạp, là cách tiếp cậnđối tượng bằng phương pháp hệ thống để tìm ra cấu trúc của đối tượng, pháthiện ra tính hệ thống Khi nghiên cứu hiện tượng trong lĩnh vực giáo dục theoquan điểm hệ thống cấu trúc cần:

- Nghiên cứu hiện tượng đó một cách toàn diện nhiều mặt, dựa vào việc phântích đối tượng thành các bộ phận mà xem xét cụ thể

- Xác định mối quan hệ hữu cơ giữa các yếu tố của hệ thống để tìm quy luật phát triển từng mặt và toàn bộ hệ thống giáo dục

- Nghiên cứu hiện tượng trong lĩnh vực giáo dục cần đặt trong mối tương tácvới các hiện tượng xã hội khác, với toàn bộ nền văn hoá xã hội, tìm môitrường thuận lợi cho sự phát triển

- Trình bày kết quả nghiên cứu KHGD rõ ràng, khúc chiết theo một hệ thống chặt chẽ, có tính lôgíc cao

Trang 6

b) Quan điểm logic - lịch sử

Lôgíc là sự phản ánh trong tư duy của con người quá trình diễn biến lịch sử của

hệ tượng khách quan, lôgíc là kết quả của sự nhận thức của con người, nghiêncứu KHGD chính là sự phát hiện cái lôgíc tất yếu của sự kiện giáo dục Quanđiểm lôgíc – lịch sử trong nghiên cứu KHGD chính là việc thực hiện quá trìnhtìm hiểu, phát hiện sự nảy sinh, phát triển của giáo dục trong những thời gian vàkhông gian cụ thể, với những hoàn cảnh điều kiện cụ thể Lịch sử là sự pháttriển, diễn biến có thật của các hiện tượng và sự vật khách quan Khía cạnh lịch

sử trong quản điểm NCKHGD thể hiện:

- Dùng các sự kiện lịch sử dể minh hoạ, chứng minh, làm sáng tỏ các luậnđiểm khoa học, các nguyên lý hay kết quả công trình NCKHGD Dùngtài liệu lịch sử theo chuẩn mực, để đánh những kết luận, đánh giá chân lýkhoa học

- Dựa vào kết luận lịch sử, với các quy luật tất yếu, các lôgíc khách quan

mà xây dựng các giả thuyết KHGD và chứng minh các giả thuyết đó

- Dựa vào xu thế phát triển của lịch sử giáo dục để nghiên cứu thực tiễngiáo dục, tìm ra những khả năng mới, dự đoán các khuynh hướng pháttriển của hiện tượng giáo dục

- Dựa vào lịch sử thiết kế mô hình các biện pháp, các hình thức giáo dụcmới, thiết kế triển vọng phát triển của quá trình giáo dục

- Sưu tập xử lý thông tin, kinh nghiệm giáo dục để giải quyết các nhiệm

vụ giáo dục, để ngăn ngừa và tránh khỏi những sai lầm khuyết điểm cóthể lặp lại trong tương lai

c) Quan điểm khách quan

Thế giới khách quan tồn tại ở ngoài và không phụ thuộc vào ý thức, do đó cầnđảm bảo tính khách quan khi tiến hành nghiên cứu KHGD Trong nghiên cứuKHGD, chủ thể là người nghiên cứu Khách thể là đối tượng nghiên cứu (đừngnhầm lẫn với đối tượng nghiên cứu của đề tài)

Quan điểm khách quan đòi hỏi người nghiên cứu phải xuất phát từ yêu cầu củahiện thực giáo dục và tôn trọng hiện thực ấy Khi chọn, tìm đề tài nghiên cứuphải căn cứ vào vấn đề mà sự nghiệp giáo dục đặt ra chứ không phải là vấn đềchủ quan ta nêu ra trên cơ sở lợi ích, nguyện vọng của bản thân Các sự vật hiệntượng nghiên cứu cũng phải được tôn trọng “trạng thái vốn có của nó” Ngườinghiên cứu không được sửa đổi, thêm bớt, tô hồng hay bôi đen, phải chú ý sửdụng phương pháp nào để tiếp cận trung thực nhất với hiện thực Quan điểmkhách quan còn đòi hỏi ngưòi nghiên cứu phải tập trung cao độ vào khách thể,phải nắm bắt cụ thể chi tiết, càng có nhiều số liệu, sự kiện thì càng thuận lợitrong quá trình nghiên cứu

Quan điểm khách quan thừa nhận có chân lý khách quan, chân lý con ngườikhám phá ra được với trình độ, phương tiện hiện hữu chỉ là chân lý tương đối

Vì vậy nghiên cứu KHGD cần tôn trọng hiện thực khách quan và không đượctuyệt đối hoá các thành tựu khoa học đã đạt được mà phải tiếp tục khám phá vàphát hiện những cái mới ngay trong những thành tựu đã có

d) Quan điểm thực tiễn

Trang 7

Quan điểm này đòi hỏi trong nghiên cứu KHGD phải bám sát thực tiễn, phục

vụ cho sự nghiệp giáo dục đất nước Thực tiễn rất đa dạng phong phú, nó lànguồn gốc của các đề tài nghiên cứu, là động lực, là tiêu chuẩn và mục đích củatoàn bộ quá trình nghiên cứu KHGD Vì vậy quan điểm thực tiễn có ý nghĩaphương pháp luận to lớn Để thực hiện quan điểm thực tiễn, khi nghiên cứuKHGD cần phải lưu ý những điểm sau đây:

- Đối tượng nghiên cứu của các đề tài phải là một trong những vấn đề củathực tiễn khách quan có nhu cầu cấp thiết phải nghiên cứu giải quyết

- Phân tích sâu sắc những vấn đề của thực tiễn giáo dục, quản lý giáo dụctìm cho được bản chất của chúng

- Luôn bám sát thực tiễn giáo dục, quản lý giáo dục, làm cho lý luận vàthực tiễn luôn gắn bó với nhau

- Lý luận giáo dục, quản lý giáo dục và thực tiễn phải song hành giữa lýluận và thực tiễn phải có mối quan hệ biện chứng

1.2.2 Các đặc trưng của nghiên cứu khoa học giáo dục

Nghiên cứu khoa học giáo dục cũng có những đặc trưng của nghiên cứu khoahọc nói chung, đó là: Tính hướng mục đích; Tính mới mẻ; Tính thông tin; Tínhtin cậy; Tính khách quan; Tính mạo hiểm; Tính kinh tế; và tính kế thừa

Ngoài ra nghiên cứu khoa học giáo dục còn có các đặc điểm cụ thể như: Thuthập, tích luỹ sự kiện mới; Giải quyết một vấn đề cụ thể trong thực tiễn giáo dục,tìm ra mối quan hệ giữa hai hay nhiều biến và quan hệ nhân – quả; Nghiên cứuKHGD nhằm xây dựng những lý thuyết đúng đắn hoặc phát hiện ra những quiluật trong lĩnh vực giáo dục; Phải quan sát mô tả chính xác các sự kiện giáo dục

và các sự kiện liên quan; người nghiên cứu phải tạo ra các dụng cụ thu thập, đođạc và phân tích xử lý số liệu; Nghiên cứu KHGD là một quá trình hệ thống,logic và có mục đích

1.2.3 Các lĩnh vực nghiên cứu khoa học giáo dục

Khoa học giáo dục có rất nhiều lĩnh vực Một số lĩnh vực cần thiết nghiêncứu để phục vụ công tác giáo dục, đó là:

- Nghiên cứu tìm hiểu hệ thống vĩ mô và chính sách giáo dục

- Nghiên cứu tìm hiểu người học, phương pháp, hình thức giáo dục

- Nghiên cứu quá trình dạy học

- Nghiên cứu về người dạy

- Nghiên cứu về hệ thống phương tiện dạy học

- Nghiên cứu hiệu quả giáo dục và đào tạo

- Nghiên cứu quản lý giáo dục…

1.2.4 Các loại hình nghiên cứu khoa học giáo dục

Có thể chia nghiên cứu khoa học giáo dục theo các loại hình khác nhau theocác cách tiếp cận khác nhau

- Căn cứ vào chức năng của nghiên cứu KHGD có thể chia ra:

+ Nghiên cứu mô tả: Mô tả một sự vật là sự trình bày bằng ngôn ngữ hình ảnhchung nhất của sự vật, cấu trúc, trạng thái, sự vận động của sự vật Nhờ nghiêncứu khoa học mà sự vật được mô tả một cách chân xác, phù hợp quy luật vậnđộng như nó tồn tại Mục đích của mô tả là đưa ra một hệ thống tri thức về sự

Trang 8

vật, giúp cho con người có một công cụ nhận dạng thế giới, phân biệt được sựkhác biệt về bản chất giữa một sự vật này với một sự vật khác.

+ Nghiên cứu giải thích: Giải thích một sự vật là sự làm rõ nguyên nhân dẫn đến

sự hình thành và quy luật chi phối quá trình vận động của sự vật Mục đích củagiải thích là đưa ra những thông tin về thuộc tính bản chất của sự vật để có thểnhận dạng không chỉ những biểu hiện bên ngoài, mà còn cả những thuộc tínhbên trong của sự vật

+ Nghiên cứu dự báo: Dự báo một sự vật là sự nhìn trước quá trình hình thành,phát triển và tiêu vong của sự vật, sự vận động và trạng thái của sự vật trongtương lai Với những công cụ về phương pháp luận nghiên cứu, người nghiêncứu thực hiện các dự báo thường khi với độ chuẩn xác rất cao về các hiện tượng

tự nhiên và xã hội, chẳng hạn các hiện tượng thiên văn, kinh tế, thậm chí, cácbiến cố xã hội và chính trị

+ Nghiên cứu giải pháp: Nghiên cứu giải pháp là loại chức năng nghiên cứunhằm làm ra một sự vật mới chưa từng tồn tại Lịch sử phát triển khoa học đãchứng tỏ, khoa học không bao giờ dừng lại ở chức năng mô tả, giải thích và dựbáo Sứ mệnh có ý nghĩa lớn lao của khoa học là sáng tạo các giải pháp cải tạothế giới Giải pháp được nói ở đây chứa đựng một ý nghĩa chung nhất, bao gồmcác phương pháp và phương tiện Đó có thể là nguyên lý công nghệ mới, vậtliệu mới, sản phẩm mới, một phương pháp mới, song vẫn có thể là những giảipháp tác nghiệp trong hoạt động xã hội; chẳng hạn, kinh doanh, tiếp thị, dạyhọc, quản lý,…

- Căn cứ vào tính chất của sản phẩm nghiên cứu có các loại hình :

+ Nghiên cứu cơ bản: Loại hình nghiên cứu nhằm tìm tòi, sáng tạo ra

những tri thức mới, những giá trị mới cho nhân loại Tri thức cơ bản là tri thứcnền tảng cho mọi quá trình nghiên cứu và ứng dụng tiếp theo Trong nghiên cứu

cơ bản có thể chia 2 loại: Nghiên cứu cơ bản thuần túy: Phát hiện ra tri thức mới,những lý thuyết mới dù chưa có địa chỉ ứng dụng và Nghiên cứu cơ bản địnhhướng: Tìm ra tri thức mới, giải pháp mới đã có địa chỉ ứng dụng

+ Nghiên cứu ứng dụng: Loại hình nghiên cứu có mục tiêu là vận dụng

những tri thức cơ bản để tạo ra những quy trình công nghệ mới, những nguyên

lý mới trong quản lý kinh tế - xã hội

+ Nghiên cứu triển khai: Loại hình nghiên cứu có mục tiêu là tìm khả

năng áp dụng đại trà các nghiên cứu ứng dụng vào thực tế sản xuất và đời sốngXH

Trang 9

yêu cầu đ

hực hiện n đức

- Thôn

đầy đủ

b)

Hình 1.1 Mối quan hệ giữa các loại hình nghiên cứu khoa học

Căn cứ vào mục đích nghiên cứu khoa học giáo dục, nhận thấy có hai loại

nghiên cứu chủ yếu là nghiên cứu đánh giá (evaluation research) và nghiên cứu tác động (action research).

+ Nghiên cứu đánh giá: Thuật ngữ nghiên cứu đánh giá dùng để chỉ việc áp

dụng phương pháp nghiên cứu khoa học hoặc những hình thức khác của việc tìmtòi kiến thức chuyên ngành vào quá trình quyết định về chất lượng của quy trìnhgiáo dục, về các sản phẩm hay kết quả Khi đọc tài liệu nghiên cứu về giáo dục,

sẽ thấy có hai loại đánh giá: Đánh giá xây dựng là loại hình thành trong quá

trình lên kế hoạch và vận hành một chương trình hay một sản phẩm giáo dục.Mục đích của nó là mang lại những thông tin có thể dẫn đến kết quả cải thiện

chất lượng một chương trình hay sản phẩm giáo dục nhất định Đánh giá tổng hợp hình thành sau khi một sản phẩm đã được vận hành hay một chương trình

đào tạo đã hoàn tất Mục đích của nó là đưa ra những bằng chứng về chất lượngcủa chương trình hay sản phẩm ấy

+ Nghiên cứu tác động: Nghiên cứu tác động (action research) dùng để chỉ ứng

dụng thực tế của phương pháp nghiên cứu khoa học hay những hình thức kháccủa việc tìm tòi tri thức trong quá trình giải quyết những vấn đề này sinh hàngngày

1.3 Nguyên tắc và ối với nghiên cứu khoa học giáo dục

1.3.1 Nguyên tắc t ghiên cứu khoa học

a) Nguyên tắc đạo

Đạo đức ở đây theo nghĩa đạo đức của người thực hiện nghiên cứu; Nguyên tắcđạo đức bao gồm 2 nguyên tắc nhỏ:

- Trung thực: người thực hiện nghiên cứu không thay đổi dữ liệu thu thập được

và phải chỉ rõ dữ liệu nào là trực tiếp thu thập, dữ liệu nào được trích dẫn từ tàiliệu khác

g báo chính xác: người thực hiện nghiên cứu phải thông báo chính xác vàchi tiết về nghiên cứu của mình

Nguyên tắc triết học:

Nguyên tắc triết học bao gồm 3 nguyên tắc nhỏ:

- Có ý nghĩa: nghiên cứu đóng góp một kiến thức nào đó, hữu ích cho một ai haycho một nơi nào đó

Trang 10

- Tổng quát hóa: kết quả nghiên cứu có thể áp dụng cho một người khác hay chomột hoàn cảnh khác.

- Tính kế thừa: người khác có thể lặp lại nghiên cứu

c) Nguyên tắc về cách thực hiện:

Nguyên tắc về cách thực hiện bao gồm 3 nguyên tắc nhỏ:

- Khả thi: có thể thực hiện được

- Rõ ràng, đơn giản, hiệu quả: cách trình bày và diễn đạt cần rõ ràng, đơn giản,hiệu quả

- Tin cậy, giá trị: dữ liệu đáng tin cậy và kết luận có giá trị

Nếu thực hiện một nghiên cứu giáo dục thì cần bổ sung thêm các nguyên tắc:

- Bảo vệ: người nghiên cứu không làm tổn hại đến thân thể, tình cảm, tinh thầncủa những cá nhân được khảo sát

- Bảo mật: không nêu tên thật của các cá nhân được khảo sát

- Nhân từ: không vùi dập các cá nhân được khảo sát

1.3.2 Yêu cầu đối với nghiên cứu khoa học

Yêu cầu đối với người nghiên cứu

- Phải có trình độ chuyên môn

- Có phương pháp làm việc khoa học

- Có các đức tính của một nhà khoa học chân chính

Câu hỏi và bài tập thảo luận

1.Xây dựng 4 đề tài nghiên cứu, mỗi đề tài thuộc một loại: nghiên cứu mô tả, nghiên cứu giải thích, nghiên cứu dự báo, nghiên cứu sáng tạo.

2 Xây dựng 03 đề tài nghiên cứu thuộc 03 loại: nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng, nghiên cứu triển khai.

II Các phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục

2.1 Phương pháp nghiên cứu khoa học

2.1.1 Khái niệm phương pháp nghiên cứu khoa học

Phương pháp: là con đường đạt mục đích, là cách thức giải quyết công việc

cụ thể

Phương pháp nghiên cứu khoa học: là tổ hợp các thao tác, biện pháp thực

tiễn hoặc lí thuyết mà khoa học sử dụng để nhận thức, khám phá đối tượng,tạo ra hệ thống những kiến thức về đối tượng

2.1.2 Đặc trưng của phương pháp nghiên cứu khoa học

- Phương pháp nghiên cứu khoa học có tính mục đích: mục đích công việcchỉ dẫn việc lựa chọn phương pháp, phương pháp càn chính xác càng sángtạo làm cho công việc đạt tới kết quả nhanh, chất lượng tốt

- Phương pháp là con đường vận dụng của nội dung: nội dung công việc quyđịnh phương pháp và phương pháp là cách thực hiện nội dung là yếu tốquyết định cho chất lượng công việc

- Phương pháp là cách thức làm việc của chủ thể do chủ thể chọn lọc(phương pháp mang tính chủ quan)

- Phương pháp nghiên cứu khoa học phụ thuộc vào đối tượng nghiên cứu(phương pháp mang tính khách quan)

- Phương pháp nghiên cứu khoa học có sự hỗ trợ của phương tiện

Trang 11

2.1.3 Phân loại phương pháp nghiên cứu khoa học

Có nhiều cách phân loại phươg pháp NCKH, chẳng hạn:

- Dựa vào qui trình nghiên cứu, có: PP mô tả, PP giải thích và PP chuẩn đoán

- Dựa vào qui trình nghiên cứu, có: nhóm PP thu nhập thông tin, nhóm PP giacông và xử lí thông tin, nhóm PP trình bày thông tin

- Dựa vào trình độ tiếp cận đối tượng: nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn,nhóm PP nghiên cứu lý thuyết và nhóm phương pháp sử dụng tóan học để xử lý

b) Các phương pháp nghiên cứu lý thuyết

(i)Phân tích và tổng hợp lý thuyết:

Là thao tác phân tích lý thuyết thành các đơn vị kiến thức, tìm những dấuhiệu đặc thù của bản chất cấu trúc bên trong của lý thuyết, trên cơ sở phântích ta tổng hợp lại để tạo ra một hệ thống, từ đó thấy được mối quan hệ biệnchứng của chúng

(ii) Phân loại hệ thống hoá lý thuyết:

Phân loại là thao tác lôgíc sắp xếp tài liệu khoa học theo chủ đề, theo từng mặt,theo từng đơn vị kiến thức có cùng dấu hiệu bản chất, cùng một hướng pháttriển

Nghiên cứu khoa học giáo dục phải phân loại các hiện tượng giáo dục, sắp xếpcác kiến thức thành một hệ thống có thứ bậc, trật tự, giúp ta nghiên cứu chúngđầy đủ theo nguyên lí hệ thống

- Nghiên cứu giáo dục được thực hiện bằng phương pháp mô hình, đó làcon đường dùng cái cụ thể trực quan sinh động để nghiên cứu cái trừutượng từ đó tim ra các quy luật của giáo dục

(iv) Phương pháp giả thuyết:

Nghiên cứu KHGD còn được thực hiện bằng cách xây dựng và chứng minh giảthuyết Giả thuyết có chức năng tiên đoán bản chất sự kiện và dẫn nhà khoa họchướng tới khám phá đối tượng Nhiệm vụ của nhà khoa học là từ giả thuyết đitìm chân lý Giả thuyết ở đây đóng vai trò là phương pháp tư duy

Với tư cách là một phương pháp suy luận, giả thuyết được sử dụng như mộtthực nghiệm, thiết kế các hành động tương lai Suy diễn rút ra các kết quả từ lý

Trang 12

thuyết là bước đi quan trọng của quá trình nghiên cứu khoa học Nghiên cứu líthuyết KHGD giả thuyết có giá trị như một phương pháp quan trọng.

2.2.2 Phương pháp quan sát khoa học

a) Khái niệm

Quan sát khoa học là phương pháp thu nhận thông tin về đối tượng nghiên cứubằng tri giác trực tiếp đối tượng và các nhân tố khác có liên quan đến đối tượng.Quan sát với tư cách là PPNCKH là một hoạt động có mục đích, có kế hoạchđược tiến hành một cách có hệ thống Đây là một trong những hình thức chủ yếucủa nhận thức kinh nghiệm, để tạo ra thông tin ban đầu, nhờ nó mà sau này xâydựng lý thuyết và kiểm tra lý thuyết bằng thực nghiệm và như vậy nó là conđường để gắn nghiên cứu lý thuyết với nghiên cứu hoạt động thực tiễn

Quan sát khoa học được tiến hành trong thời gian dài hay ngắn, không gian rộnghay hẹp, mẫu quan sát nhiều hay ít

Quan sát sư phạm là phương pháp để thu thập thông tin về quá trình giáo dục vàdạy học trên cơ sở tri giác trực tiếp các hoạt động sư phạm, cho ta những tài liệusống và thực tiễn giáo dục để có thể khái quát rút ra những quy luật nhằm chỉđạo quá trình tổ chức giáo dục thế hệ trẻ tốt hơn

Quan sát trong NCKH thực hiện ba chức năng: Chức năng thu thập thông tin

thực tiễn, đây là chức năng quan trọng nhất Chức năng kiểm chứng các lýthuyết, các giả thuyết đã có Chức năng so sánh đối chiếu các kết quả trongnghiên cứu lý thuyết với thực tiễn

Đặc điểm quan sát sư phạm: Bất cứ quan sát nào cũng được tiến hành do một

chủ thể sử dụng để nhận thức một đối tượng xác định, trong một thời gian, mộtkhông gian, với mục đích và bằng một phương tiện nhất định Vì vậy, quan sát

sư phạm có những đặc điểm sau đây: (i) Đối tượng quan sát là hoạt động sưphạm phức tạp của một cá nhân, hay một tập thể Bản thân cá nhân hay tập thể

đó lại có những đặc điểm đa dạng về năng lực hay trình độ phát triển Nội dunghoạt động sư phạm càng phức tạp, có những hình thức phong phú, thì quá trìnhquan sát càng khó khăn, càng phải công phu hơn (ii) Chủ thể quan sát là nhàkhoa học hay cộng tác viên Đã là con người thì đều mang tính riêng tư, đó làtính chủ quan Chủ quan ở trình độ, kinh nghiệm, ở thế giới quan, ở cảm xúctâm lí Sự quan sát bao giờ cũng thông qua lăng kính chủ quan của “cái tôi”ngay cả khi sử dụng kĩ thuật hiện đại để quan sát Mặt khác còn chi phối bởi quyluật ảo giác của cảm giác, tri giác trong hoạt động nhận thức (iii)Kết quả quansát dù khách quan đến mấy vẫn phụ thuộc vào việc xữ lý các thông tin của ngườinghiên cứu, do đó cần được lựa chọn theo các chuẩn nhất định, được xử lí bằngtoán học hay theo một lí thuyết nhất định Để nhận được thông tin theo mục đíchnghiên cứu cần phải lập một kế hoạch và chương trình quan sát tỉ mỉ

b) Các công việc cần tiến hành trong quan sát khoa học

- Xác định đối tượng quan sát, mục đích quan sát

Việc xác định mục đích rõ ràng sẽ làm cho người lập phiếu quan sát cũng nhưngười đi quan sát tập trung hơn vào các nội dung quan sát Nghĩa là cần trả lờicâu hỏi: Quan sát để làm gì ?

- Xác định nội dung quan sát và phương pháp quan sát:

Trang 13

Câu trả lời tiếp câu hỏi: quan sát cái gì, quan sát như thế nào và bằng cái gì Nếumục đích quan sát rõ ràng thì nội dung quan sát sẽ dễ dàng được ấn định Nộidung quan sát thể hiện qua việc lựa chọn đối tượng quan sát (mẫu quan sát), sốlượng mẫu, định thời điểm quan sát và độ dài thời gian quan sát Căn cứ vào qui

mô của đề tài và độ phức tạp của mẫu mà quyết định phương pháp, phương tiệnquan sát

- Lập phiếu quan sát và kế hoạch quan sát

Ðể việc quan sát được chủ động và thống nhất giữa các lần quan sát hoặc giữanhững cộng tác viên quan sát, chủ đề tài phải thiết kế bảng yêu cầu các nội dung

cụ thể khi đi quan sát Bảng này gọi là phiếu quan sát Phiếu quan sát được cấu

trúc thành 3 phần: Phần thủ tục: Ðối tượng, địa chỉ, ngày giờ quan sát, người quan sát Phần nội dung: Ðây là phần quan trọng nhất của phương pháp, nó

quyết định sự thành công của đề tài nghiên cứu Có thể gọi đây là phần yêu cầughi chép, thu hình cụ thể khi đi làm việc Vì vậy các yêu cầu phải thật cụ thể,sao cho người đi quan sát có thể đo, đếm, ghi được bằng số bằng chữ có hoặc

không (không mang tính chất nhận định cá nhân) Phần bổ sung bằng câu hỏi phỏng vấn: Phần này do chủ đề tài quyết định để có thể xác minh, làm rõ hơn

một số thông tin có thể chưa được rõ khi quan sát Ví dụ: Khi quan sát một giờgiảng, để biết được học sinh có ghi chép đầy đủ ý của thầy trên bảng hay không,

có thể hỏi thêm: Em có nhìn rõ chữ trên bảng không? Em nghe thầy giảng có rõkhông (về lời nói, ngữ điệu)

- Tiến hành quan sát

Trước khi tiến hành quan sát, chủ nhiệm đề tài cần tập huấn cho các thành viên

về cách quan sát và ghi chép Ghi chép kết quả quan sát, có thể bằng các cách:

+ Ghi theo phiếu in sẵn

+ Ghi biên bản

+ Ghi nhật kí, theo thời gian, không gian, điều kiện và diễn biến của sựkiện

+ Ghi âm, chụp ảnh, quay phim các sự kiện

Sau khi quan sát xong cân phải kiểm tra lại kết quả quan sát bằng nhiều cách:

+ Trò chuyện vơí những người tham gia tình huống

+ Sử dụng các tài liệu khác liên quan đến diễn biến để đối chiếu

+ Quan sát lặp lại lần thứ hai nhiều lần nếu thấy cần thiết

+ Sử dụng người có trình độ cao hơn quan sát lại để kiểm nghiệm lại kếtquả

Quan sát là phương pháp nghiên cứu các hiện tượng giáo dục Quan sát có thểtiến hành trong điều kiện tự nhiên với hoàn cảnh đang có thường ngày Quan sát

có thể thực hiện bằng cách tạo ra các tình huống khác thường, trong các hoạtđộng được tổ chức có định hướng, qua đó đối tượng tự bộc lộ bản chất rõ rànghơn

- Xử lí

Tập hợp các phiếu quan sát, sắp xếp số liệu mã hóa, phân tích để đi đến mộtnhận định khoa học (phần này được trình bày rõ ở phần phương pháp xữ lýthông tin)

Trang 14

Tóm lại phương pháp quan sát đối tượng giáo dục giúp ta có được những thôngtin thực tiễn có giá trị Quan sát cần được chuẩn bị cẩn thận, các tài liệu cầnđược xử lí khách quan.

2.2.3 Phương pháp điều tra

a) khái niệm

Điều tra giáo dục là phương pháp tác động trực tiếp của người nghiên cứu vàođối tượng nghiên cứu thông qua câu hỏi để có những thông tin cần thiết chocông việc của mình

Điều tra giáo dục là phương pháp nghiên cứu xã hội, khảo sát một số lượng lớncác đối tượng nghiên cứu ở một hay nhiều khu vực, vào một hay nhiều thờiđiểm, nhằm thu thập rộng rãi các số liệu, hiện tượng, sự suy nghĩ, quan điểmv.v để từ đó phát hiện các vấn đề cần giải quyết, xác định tính phổ biến,nguyên nhân,…chuẩn bị cho các bước nghiên cứu tiếp theo

b) Các loại điều tra trong nghiên cứu giáo dục

Điều tra trong nghiên cứu khoa học giáo dục xét về mục đích gồm có hai loại làđiều tra cơ bản và trưng cầu ý kiến

- Điều tra cơ bản trong giáo dục, như điều tra trình độ học vấn của dân cư trongtoàn quốc hay trong một số địa phương, điều tra nhu cầu phát triển giáo dục,điều tra chỉ số thông minh của học sinh

- Trưng cầu ý kiến là phương pháp tìm hiểu nhận thức, tâm trạng, nguyện vọngcủa thầy giáo, học sinh, phụ huynh học sinh và các lực lượng xã hội khác

Trưng cầu ý kiến là phương pháp thu thập thông tin bằng ngôn ngữ dựa trên tácđộng về mặt tâm lí xã hội trực tiếp (phỏng vấn) hoặc gián tiếp thông qua phiếuhỏi (bút vấn hay điều tra viết) giữa người nghiên cứu khoa học và người đượchỏi ý kiến Trưng cầu ý kiến dựa trên những lời phát biểu của các cá nhân đểphát hiện những sắc thái tinh tế nhất về các sự kiện đang xảy ra, đó là nguồnthông tin quan trọng Khi lập kế hoạch thu thập thông tin, người nghiên cứu cốgắng tính đến các điều kiện có thể ảnh hưởng tới chất lượng thông tin kể cảnhững yếu tố ngẫu nhiên khác Độ tin cậy của thông tin là mức độ độc lập củathông tin với những yếu tố ngẫu nhiên, tức là tính ổn định của thông tin ta thuđược

Căn cứ vào hình thức tổ chức người ta chia trưng cầu ý kiến thành các loại:

Điều tra viết: là loại điều tra có chuẩn bị trước (bằng bảng hỏi) Theo phươngcách làm này, nhà nghiên cứu in sẵn bảng câu hỏi rồi giao cho đối tượng (giaotrực tiếp, giao qua cộng tác viên hoặc qua thư tín) Tất nhiên nhà nghiên cứuphải làm sao để đối tượng hiểu được mục đích câu hỏi mà trả lời cho đúng vàđúng sự thật

Điều tra viết là phương pháp nghiên cứu có nhiều ưu điểm và cũng có nhiềunhược điểm Điều tra viết không phải là phương pháp trưng cầu ý kiến vạn năng.Trong một số trường hợp, nhờ có điều tra viết người ta thu được một số thôngtin quan trọng, nhưng trong những tình huống khác Điều tra viết lại chỉ đóng vaitrò là phương pháp hỗ trợ

Điều tra viết là hình thức trưng cầu ý kiến nhanh nhất giúp ta thu được những ýkiến cần thiết của số đông và tiết kiệm được chi phí

Trang 15

Phỏng vấn là phương pháp điều tra hỏi và trả lời trực tiếp Theo cách này, ngườinghiên cứu phải có sẵn chủ đề phỏng vấn để khi làm việc không hỏi lan man.Người phỏng vấn phải là nhà nghiên cứu lão luyện để có thể ứng phó, tự điềuchỉnh hướng trao đổi và đặc biệt là có thể có ngay những câu hỏi sắc bén, khéoléo và tế nhị Phương cách này có thể thực hiện cả bằng điện thoại.

Điều tra viết và phỏng vấn là hai phương pháp trưng cầu ý kiến, nó luôn luôn bổsung, hỗ trợ cho nhau, để cho ta những thông tin xác thực có giá trị Cả haiphương pháp đòi hỏi phải chuẩn bị chu đáo, mục đích, công cụ và kĩ thuậtnghiên cứu Điều đó phụ thuộc vào năng lực của người nghiên cứu khoa họcgiáo dục

c) Kỹ thuật đặt câu hỏi

Điều quan trọng thứ nhất trong trưng cầu ý kiến là đặt câu hỏi Câu hỏi thứ nhất

là công cụ điều tra được sắp xếp theo một trình độ logic nhằm tìm để thu thôngtin Câu hỏi có dạng tìm hiểu sự kiện, kiểm tra nhận thức, để biết ý kiến, quanđiểm hay để tìm hiểu động cơ của các hành vi Câu hỏi có thể kiểm tra lẫn nhau.Loại câu hỏi

Câu hỏi được sử dụng để thu thập thông tin dưới dạng viết gọi là anket (hay còn gọi là phiếu câu hỏi điều tra) Phiếu điều tra là bản in những câu hỏi và cả

những câu trả lời có liên quan đến những nguyên tắc nhất định Bố cục, sự sắpxếp câu hỏi, ngôn ngữ, văn phong diễn đạt, những chỉ dẫn về cách trả lời có ýnghĩa đặc biệt quan trọng Câu hỏi có hai loại: đóng và mở

Câu hỏi đóng là loại câu hỏi mà người trả lời chọn một trong các phương án có

sẵn để đánh dấu

Câu hỏi mở là loại câu hỏi mà người trả lời có thể trả lời tự do để giải trình một

vấn đề gì đó Mục đích của câu hỏi này là bổ sung cho các câu hỏi đóng hoặcnhà nghiên cứu cần hiểu sâu hơn về tâm tư, tình cảm, thái độ của người trả lờiđối với vấn đề đang nghiên cứu

Những chú ý về việc đặt câu hỏi:

Câu hỏi phải đơn giản, thích hợp với mục đích nghiên cứu, dễ trả lời Tránhviệc đặt câu hỏi dài, không cần thiết

Không dùng những từ ngữ, khái niệm khó hiểu, vượt quá khả năng người trảlời, từ ngữ nước ngoài

Câu hỏi phải đơn trị (chỉ có một ý trả lời đúng)

Khi không cần thiết, tránh những câu hỏi đi vào đời tư của người trả lời làmngười ta khó nói

Trong những trường hợp cần biết những vấn đề ấy cần chuẩn bị một số câu hỏicầu vòng làm cơ sở để phán đoán (Làm bài tập dưới đây)

Tránh hỏi những câu mà ta biết chắc câu trả lời

Cấu trúc bảng câu hỏi:

Thông thường, bảng hỏi có hàng chục câu hỏi Bên cạnh các câu hỏi còn cónhững lời giải thích để làm người trả lời hiểu rõ nội dung và cách trả lời Vì vậymỗi bảng hỏi bao gồm nhiều trang Nếu bảng hỏi không sạch, không sáng sủathì nó sẽ làm người trả lời lúng túng, đôi khi bực bội Ðiều đó sẽ ảnh hưởngnhiều đến kết quả của cuộc điều tra Ngoài ra, cần chú ý đến cấu trúc của bảnghỏi Nó gồm có ba phần chính:

Trang 16

- Phần đầu: Gồm những vấn đề chung với nội dung tìm hiểu đối tượng (tên, nơi

ở, năm sinh v.v ) Ngoài ra, phần mở đầu cũng nhằm mục đích khởi động chocuộc giao tiếp, định hướng cho giao tiếp

- Phần chính: Những câu hỏi phục vụ mục đích điều tra.

- Phần kiểm chứng: Phần này có thể bao gồm cả hai loại câu hỏi nhằm mục

đích làm rõ thêm cho phần chính hoặc đôi khi kiểm chứng lại vấn đề nào đó đểxác định đối tượng trả lời thật hay không thật

d) Kỹ thuật chọn mẫu điều tra

Một số khái niệm

Mẫu điều tra (mẫu khách thể) là số lượng cá thể hay đơn vị được chọn để trả lờicâu hỏi của nhà nghiên cứu Vì yêu cầu của việc nghiên cứu là phải khách quan,đảm bảo tin cậy nên mẫu phải thỏa mãn: Chọn phần tử phải thật khách quan.Kích thước mẫu (số phần tử trong mẫu) phải đủ lớn

Một số khái niệm cần biết về mẫu:

Mẫu dân số: Tất cả mọi đối tượng mà nhà nghiên cứu hướng tới Ví dụ: Trongcuộc điều về chất lượng học tập của sinh viên trường Ðại học X thì mọi sinhviên đều nằm trong mẫu tổng

Mẫu tiêu biểu: Mẫu gồm các thành viên được chọn ra từ mẫu dân số để nghiêncứu

Mẫu đặc trưng: Mẫu bao gồm mọi phần tử có nét đặc trưng cần nghiên cứu.Cách chọn mẫu

Lấy mẫu phi xác suất:

Thực tế việc lấy mẫu này chỉ là để thử bảng câu hỏi, nghiên cứu sơ bộ, nên việcchọn mẫu vẫn mang tính chất ngẫu nhiên, số phần tử không nhiều Có các hìnhthức như:

Lấy mẫu thuận tiện: Không chú ý đến tính đại diện, chỉ cần thuận tiện (dễ, gần,nhanh) cho nhà nghiên cứu

Lấy mẫu tích lũy nhanh: chọn một số phần tử ban đầu, từ các phần tử ấy nhân

ra số phần tử thứ cấp Ví dụ: chọn 10 học sinh trong lớp, yêu cầu 10 học sinh

đó, mỗi em chọn thêm 3 em khác Tùy theo số phần tử định nghiên cứu, có thể

số phần tử thứ cấp ấy lại tiếp tục chọn thêm nữa để đủ số lượng phần tử củamẫu

Lấy mẫu xác suất:

Lấy mẫu ngẫu nhiên thông thường: Bằng cách rút thăm và bằng bảng ngẫunhiên Ngày nay, máy tính sẽ cho phép ta dễ dàng chọn mẫu ngẫu nhiên này.Lấy mẫu hệ thống: Trường hợp này dành cho các đối tượng điều tra giống nhau,khác với lấy mẫu theo phân lớp Ðiều tra về học sinh một trường có đối tượng làmọi học sinh đang học trường đó Các bước làm như sau:

- Lập danh sách tất cả các phần tử hiện có

- Tùy kích thước mẫu mà chọn bước nhảy k (tức là: cách mấy số lấy 1 số)

- Lấy các phần tử theo bước nhảy k với phần tử xuất phát là tùy ý, cho đến khi

đủ kích thước mẫu

Lấy mẫu theo nhóm ngẫu nhiên:

Ðôi khi cuộc điều tra trên diện rộng về địa bàn hoặc nhiều đơn vị khác nhau, ta

có thể chọn mẫu theo kiểu này Ví dụ, khi điều tra về học vấn của mọi người dân

Trang 17

của một tỉnh (mẫu tổng thể - MTT), ta không thể phỏng vấn tất cả dân trong tỉnh

đó mà chỉ chọn mẫu ngẫu nhiên (mẫu nghiên cứu - MNC) Nếu chọn như cáckiểu trên thì rất bất tiện Ta có cách chọn khác: Giả sử Tỉnh có 3 Huyện, cácHuyện có số xã khác nhau (sơ đồ) Nếu 3 Huyện có mọi điều kiện tương đươngnhau thì chúng ta có thể chọn 2 hoặc 1 Huyện làm mẫu nghiên cứu Tuy nhiênkhông thể lấy hết tất cả các xã ra NC Vậy là phải chọn ngẫu nhiên các xã Ởmỗi xã cũng chọn ngẫu nhiên ấp rồi tiếp tục chọn ngẫu nhiên gia đình

Qui mô mẫu (kích thước mẫu):

Các nhà thống kê đã đưa ra những bảng tính sẵn (dựa vào độ tin cậy và sai số

ấn định trước) để các nhà nghiên cứu lựa chọn kích thước mẫu phù hợp từng

loại đề tài (xem thêm ở mục IV)

2.2.4 Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động

a) Khái quát:

- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động là phương pháp mà ngườinghiên cứu tiếp cận với các sản phẩm do hoạt động giáo dục hay hoạt độngquản lý giáo dục sản sinh ra Sản phẩm gồm có: hồ sơ sổ sách, bài tập, kếhoach, đồ dùng dạy học,…

b) Kỹ thuật tiến hành: tiến hành các bước

- Xác định mục đích nội dung

- Xác định hệ thống các sản phẩm cần nghiên cứu

- Lập kế hoạch cần nghiên cứu

- Tiến hành theo kế hoạch

Cần chú ý để tiến hành nghiên cứu có hiệu quả phải sử dụng tốt thao tác các tưduy như phân tích, tổng hợp, khái quát hoá,… mới thấy được vấn đề Cần dựnglại quá trình hoạt động đưa đến sản phẩm, có thể tiếp xúc với tác giả của sảnphẩm để hiểu rõ hơn Đặc biệt là phải tôn trọng các yếu cầu của chủ nhân

c) Ưu điểm và hạn chế

- Ưu điểm: Phương pháp này cung cấp những thông tin khá chính xác về đốitượng hoạt động, nên được kết hợp sử dụng trong nhiều phương pháp khácchẳng hạn: quan sát, thực nghiệm,…

- Hạn chế của phương pháp này là các sản phẩm đôi khi bị thất lạc, người thựchiện thiếu trung thực, khi dựng lại không hoàn toàn giống như thực tiễn đã trảiqua

Vì vậy cần lưu ý khắc phục trong quá trình vận dụng

2.2.5 Phương pháp phân tích và tổng kết kinh nghiệm

a) Khái niệm: Phương pháp phân tích và tổng kết kinh nghiệm là phương pháp

nghiên cứu xem xét lại những thành quả của hoạt đông thực tiễn trong quá khứ

để rút ra những kết luận bổ ích cho thực tiễn và cho khoa học Tổng kết kinhnghiệm thường thường hướng vào nghiên cứu diễn biến và nguyên nhân của các

sự kiện và nghiên cứu giải pháp thực tiễn đã áp dụng để tìm ra các giải pháphoàn hảo nhất

b) Mục đích của tổng kết kinh nghiệm trong nghiên cứu khoa học giáo dục

- Tìm hiểu bản chất, nguồn gốc, nguyên nhân và cách giải quyết những tìnhhuống giáo dục, quản lý giáo dục đã xảy ra trong một lớp học, một trườnghay một địa phương

Trang 18

- Nghiên cứu con đường thực hiện có hiệu quả quá trình giáo dục, dạy học,quản lý giáo dục ở các cơ sở.

- Tổng kết các sáng kiến của các nhà sư phạm, nhà quản lý giáo dục tiên tiến

- Tổng kết những nguyên nhân, để loại trừ những sai lầm, thất bại trong hoạtđộng giáo dục, quản lý giáo dục, loại trừ những khuyết điểm có thể lặp lại

- Tổng kết kinh nghiệm giáo dục mang tính quần chúng rộng rãi Tuy nhiêncần chú ý tổng kết các kinh nghiệm giáo dục, quản lý giáo dục tiên tiến để

từ đó kiểm tra lí thuyết và cũng từ đó mà tổng kết để tạo nên những lí thuyếtmới có giá trị

c) Các bước tiến hành

- Chọn điển hình tốt hoặc xấu của thực tiễn giáo dục

- Mô tả sự kiện đó trên cơ sở quan sát, phỏng vấn, toạ đàm, nghiên cứu tàiliệu, sản phẩm của sự kiện để tìm tài liệu về sự kiện

- Khôi phục lại sự kiện đã xảy ra bằng mô hình lý thuyết

- Phân tích từng mặt của sự kiện, phân tích nguyên nhân điều kiện, hoàn cảnhxảy ra và kết quả sự kiện đã xảy ra như thế nào? Phân tích bản chất của từngvấn đề, từng sự kiện xảy ra

- Hệ thống hóa các sự kiện đó, phân loại những sản phẩm, những nguyênnhân, hệ quả, nguồn gốc, sự diễn biến, qui luật diễn biến

- Sử dụng trí tuệ tập thể của nơi xảy ra sự kiện để phân tích trao đổi diễn biến,

hệ quả của sự kiện, những tài liệu của nhân chứng

- Viết thành văn bản tổng kết trên cơ sở đối chiếu với những lí luận giáo dục,quản lý giáo dục tiên tiến Đánh giá những kết quả, kinh nghiệm, bằng đốichiếu với thực tiễn khác, làm sao để tài liệu tổng kết có giá trị về lí luận, có

ý nghĩa thực tiễn

2.2.6 Phương pháp chuyên gia

a) Khái niệm

Phương pháp chuyên gia là phương pháp sử dụng trí tuệ của đội ngũ chuyên gia

có trình độ cao của một chuyên ngành để xem xét, nhận định bản chất một sựkiện khoa học hay thực tiễn phức tạp, để tìm ra giải pháp tối ưu cho các sự kiện

đó hay đánh giá một sản phảm khoa học Trong giáo dục, đó là phương pháp thuthập thông tin khoa học, nhận định, đánh giá một sản phẩm khoa học giáo dục,bằng cách sử dụng trí tuệ một đội ngũ chuyên gia giáo dục có trình độ cao, ýkiến của từng người sẽ bổ sung lẫn nhau, kiểm tra lẫn nhau cho ta một ý kiến đa

số, khách quan về một vấn đề giáo dục

b)Yêu cầu khi sử dụng phưong pháp

Đây là phương pháp tiết kiệm nhất, nhưng sử dụng phương pháp này cần tínhđến các yêu cầu sau đây:

- Chọn đúng chuyên gia, có năng lực chuyên môn theo vấn đề ta đang nghiêncứu Những chuyên gia này phải có phẩm chất trung thực khoa học

- Xây dựng được hệ thống các chuẩn đánh giá cho các tiêu chí cụ thể, dễ hiểu vàtường minh, nếu có thể dùng điểm số để thay thế

- Hướng dẫn kĩ thuật đánh giá, theo các thang điểm với các chuẩn khách quan,giảm tới mức tối thiểu những sai lầm có thể xảy ra

Trang 19

- Hạn chế mức thấp nhất ảnh hưởng qua lại của các chuyên gia về chính kiến,quan điểm, cho nên tốt nhất là không phát biểu công khai hoặc là nếu công khaithì người có uy tín nhất không phải là người phát biểu đầu tiên.

- Có thể tiến hành phương pháp này qua hình thức hội thảo, tranh luận, đánhgiá, nghiệm thu công trình khoa học, lấy ý kiến Người chủ trì phải ghi chép chuđáo các ý kiến của từng người, nếu thấy cần thiết phải ghi âm, quay phim hoặcghi tốc kí Tất cả các tư liệu thu được phải xử lí theo cùng một chuẩn, một hệthống, các ý kiến trùng nhau hay gần nhau của đa số chuyên gia sẽ là kết luậnchung về sự kiện ta cần nghiên cứu

Phương pháp chuyên gia được sử dụng ở giai đoạn cuối cùng, hoặc khi phươngpháp nghiên cứu khác không cho kết quả

2.2.7 Phương pháp thực nghiệm

a) Khái niệm

Thực nghiện khoa học (Experiment) là phương pháp đặc biệt quan trọng, mộtphương pháp chủ công trong nghiên cứu thực tiễn Trong đó người nghiên cứuchủ động tác động vào đối tượng và quá trình diễn biến sự kiện mà đối tượngtham gia, để hướng dẫn sự phát triển của chúng theo mục tiêu dự kiến của mình.Thực nghiệm sư phạm là phương pháp thu nhận thông tin về sự thay đổi sốlượng và chất lượng trong nhận thức và hành vi của các đối tượng giáo dục dongười nghiên cứu tác động đến chúng bằng một số tác nhân điều khiển và đãđược kiểm tra

Thực nghiệm sư phạm được dùng khi đã có kết quả điều tra, quan sát các hiện

tượng giáo dục, cần khẳng định lại cho chắc chắn các kết luận đã được rút ra.Thực nghiệm sư phạm cũng là phương pháp được dùng để kiểm nghiệm khi nhà

khoa học sư phạm, nhà nghiên cứu, đề ra một giải pháp về phương pháp giáo

dục, một phương pháp dạy học mới, một nội dung giáo dục hay dạy học mới,một cách tổ chức dạy học mới, một phương tiện dạy học mới

Thực nghiệm sư phạm là so sánh kết quả tác động của nhà khoa học lên mộtnhóm lớp - gọi là nhóm thực nghiệm - với một nhóm lớp tương đương khôngđược tác động - gọi là nhóm đối chứng Ðể có kết quả thuyết phục hơn, sau mộtđợt nghiên cứu, nhà nghiên cứu có thể đổi vai trò của hai nhóm lớp cho nhau,nghĩa là, các nhóm thực nghiệm trở thành các nhóm đối chứng và ngược lại

Vì là thực nghiệm trên con người nên từ việc tổ chức đến cách thực hiện phươngpháp và lấy kết quả đều mang tính phức tạp của nó

b) Đặc điểm

Thực nghiệm khoa học được tiến hành xuất phát từ một giả thuyết (từ thực tế)hay một phán đoán (bằng tư duy) về một hiện tượng giáo dục để khẳng địnhhoặc bác bỏ chúng Thực nghiệm được tiến hành để kiểm tra, để chứng minhtính chân thực của giả thuyết vừa nêu Như vậy, thực nghiệm thành công sẽ gópphần tạo nên một lý thuyết mới, qui luật mới hoặc một sự phát triển mới tronggiáo dục

Kế hoạch thực nghiệm đòi hỏi phải miêu tả hệ thống các biến số quy định diễnbiến của hiện tượng giáo dục theo một chương trình Đây là những biến số độclập, có thể điều khiển được và kiểm tra được Biến số độc lập là những nhân tốthực nghiệm, nhờ có chúng mà những sự kiện diễn ra khác trước Sự diễn biến

Trang 20

khác trước do các biến số độc lập quy định gọi là biến số phụ thuộc, đó là hệ quảsau tác động thực nghiệm.

Theo mục đích kiểm tra giả thuyết, các nghiệm thể được chia làm hai nhóm:nhóm thực nghiệm và nhóm kiểm chứng (đối chứng) Nhóm thực nghiệm vànhóm đối chứng được lựa chọn ngẫu nhiên có số lượng, trình độ ngang nhau vàđược kiểm tra chất lượng ban đầu để khẳng định điều đó Nhóm thực nghiệm sẽđược tổ chức thực nghiệm bằng tác động của những biến số độc lập hay gọi lànhân tố thực nghiệm, để xem xét sự diễn biến của hiện tượng có theo đúng giảthuyết hay không? Nhóm đối chứng là nhóm không thay đổi bất cứ một điều gìkhác thường, nó là cơ sở để so sánh kiểm chứng hiệu quả những thay đổi ởnhóm bên Nhờ có nó mà ta có cơ sở để khẳng định hay phủ định giả thuyết củathực nghiệm

c) Tổ chức thực nghiệm

Các nội dung thực nghiệm: thực nghiệm các kết luận của quan sát sư phạm.Thực nghiệm các giải pháp sư phạm hay quản lý giáo dục

Qui trình thực nghiệm

- Đề xuất các giả thuyết khoa học

- Trên cơ sở giả thuyết, phân tích các biến số độc lập và chọn các nhóm thựcnghiệm và đối chứng tương đương nhau về mọi phương diện

- Tiến hành thực nghiệm trong điều kiện hoàn toàn giống nhau cho cả hai nhóm

và quan sát thật tỉ mỉ diễn biến và kết quả của hai nhóm một cách thật sự kháchquan theo từng giai đoạn

- Xử lí tài liệu thực nghiệm là giai đoạn phân tích các kết quả khảo sát, theo dõi

sự diễn biến của nhóm thực nghiệm, các tài liệu được phân tích, sắp xếp, phânloại và xử lí theo các công thức toán học, đánh giá trên cơ sở so sánh với kết quảcủa nhóm đối chứng

Nhờ sự thuần nhất trong tiến hành thực nghiệm, sử dụng một cách thích hợp cácphương pháp phân tích, thống kê kết quả thực nghiệm, ta có thể khẳng định mốiliên hệ của các biến số trong nghiên cứu không phải là ngẫu nhiên mà là mốiliên hệ nhân quả, xét theo tính chất của nó

Kết quả xử lí tài liệu cho chúng ta những cơ sở để khẳng định giả thuyết, rút ranhững bài học cần thiết và đề xuất những ứng dụng vào thực tế Để đảm bảotính phổ biến của kết quả thực nghiệm, điều cần chú ý là phải chọn đối tượngtiêu biểu để nghiên cứu, cần tiến hành ở nhiều địa bàn, trên các đối tượng khácnhau, và cần thiết hơn nữa là tiến hành thực nghiệm lặp lại nhiều lần trên cùngmột đối tượng ở các thời điểm

Kết quả thực nghiệm là khách quan nhất so với các kết quả nghiên cứu bằng cácphương pháp khác nhau Phương pháp thực nghiệm là một trong những phươngpháp cơ bản chủ yếu nhất của phương pháp NCKH Khoa học từ khi có phươngpháp này đã có những bước tiến lớn, các quy luật được phát hiện một cáchnhanh chóng và chính xác

Câu hỏi thảo luận và bài tập

1 Để nghiên cứu thực trạng dạy học và quản lý hoạt động dạy học ở một cơ sở giáo dục có thể sử dụng các phương pháp nghiên cứu nào? Hãy nêu cụ thể cách

sử dụng.

Trang 21

2 Lập kế hoạch chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng để tổ chức thăm dò ý kiến khoảng 500 SV trong trường đại học X về một vấn đề nào đó Cho biết nội dung vấn đề cần thăm dò và các yếu tố phân tầng.

3 Chọn một chủ đề để phỏng vấn sâu một học viên cùng lớp Ghi lại nội dung phỏng vấn cùng tất cả các đặc điểm (của người được phỏng vấn và môi trường phỏng vấn) có liên quan Nhận xét về kết quả phỏng vấn.

4 Quan sát một tiết dạy của giáo viên/ giảng viên trong lớp học Ghi lại nội dung quan sát cùng với tất cả đặc điểm của giáo viên, học sinh/SV cũng như các hoạt động xảy ra trong lớp Trao đổi kết quả quan sát được với các thành viên khác để so sánh đối chiếu đánh giá kết quả quan sát

III Logic tiến hành một công trình nghiên cứu khoa học

3.1 Logic tiến trình nghiên cứu

3.1.1 Giai đoạn chuẩn bị (xác định vấn đề, lựa chọn đề tài, chuẩn bị tài liệu, xây

dựng đề cương…)

Giai đọan chuẩn bị nghiên cứu một đề tài, người nghiên cứu cần thực hiệncác công việc:

Xác định đề tài: xây dựng đề cương nghiên cứu và kế hoạch nghiên cứu

xác định đề tài nghiên cứu là tìm ra vấn đề làm đối tượng nghiên cứu Vấn đềcủa khoa học và thực tiễn là vô cùng phong phú, nhưng xác định được một vấn

đề để nghiên cứu là không phải một việc làm đơn giản Xác định vấn đề là mộtkhâu then chốt, có khi còn khó hơn giải quyết vấn đề đó

Đề tài nghiên cứu phải có tính cấp thiết đối với thời điểm mà ta địnhnghiên cứu Vấn đề nghiên cứu là điểm nóng cấn phải giải quyết và giải quyếtđược nó sẽ đêm lại những giá trị thiết thực cho lý luận và thực tiễn

Xây dựng đề cương nghiên cứu: đề cương nghiên cứu là môt văn bản trình

bày cấu trúc nội dung công trình nghiên cứu khoa học trong tương lai gồm cácchi tiết củ thể theo yêu cầu Bản đề cương nghiên cứu thể hiện sự phù hợp vàsáng tạo logíc khoa học của công trình nghiên cứu (sẽ nghiên cứu ở phần sau)

Xây dựng kế hoạch nghiên cứu: Kế hoạch nghiên cứu là văn bản trình bày kế

hoạch dự kiến triển khai đề tài về tất cả các phương diện: Nội dung công việc,thời gian cho từng công việc, nhân lực thực hiện (trong trường hợp đề tài cónhiều người cùng nghiên cứu)

3.1.2 Giai đoạn triển khai nghiên cứu (nghiên cứu lý luận, nghiên cứu thực tiễn,

đề xuất giải pháp/ biện pháp…)

Giai đoạn triển khai thực hiện công trình khoa học là giai đoạn chủ yếu bao gồmcác bước sau đây:

Lập thư mục các tài liệu liên quan đến đề tài nghiên cứu: Để lập thu mục tài

liêu nhanh chóng người ta thường tham khảo tài liệu của các công trình nghiêncứu khác gần với đề tài nghiên cứu

Nghiên cứu tổng quan vấn đề nhiên cứu: Nghiên cứu đầy đủ các tài liệu, công

trình nghiên cứu khoa học liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến đề tài để làmtổng quan về vấn đề nghiên cứu Kết quả là những tổng thuật những gì có liênquan tới vấn đề tác giả nghiên cứu, nhằm khẳng định tính cần thiết và tính mới

mẻ của đề tài nghiên cứu

Trang 22

Xây dựng cơ sở lý thuyết của vấn đề nghiên cứu: Nó là công việc phức tạp và

khó khăn nhất của hoạt động nghiên cứu khoa học Để xây dựng cơ sở lý thuyếtngười nghiên cứu phải phân tích, hệ thống hóa, khái quát hóa tài liệu và bằngsuy luận để tạo ra cơ sở lý luận cho đề tài

Phát hiện thực trạng của đối tượng bằng phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

Các tài liệu, dữ liệu thu thập được từ các phương pháp nghiên cứu thực tiễnđược xử lý cho ra những tài liệu khách quan về đối tượng

Chứng minh giả thuyết: Kết quả nghiên cứu lý thuyết và thực tiễn giúp người

nghiên cứu chứng minh giả thuyết khoa học đã đề xuất ban đầu Lặp đi lặp lạicác thí nghiệm hoặc thực nghiệm để nhằm khẳng định tính chân thực của các kếtluận

3.1.3 Giai đoạn viết công trình nghiên cứu Viết công trình nghiên cứu là trình

bày tất cả các kết quả nghiên cứu bằng một văn bản, báo cáo khoa học, khoáluận/đồ án, luận văn hay luận án Viết công trình nghiên cứu thông thường phảitiến hành nhiều lần và sửa chữa theo bản thảo đề cương chi tiết, trên cơ sở góp ýcủa các chuyên gia và người hướng dẫn

3.1.4 Nghiệm thu, bảo vệ

Giai đoạn nghiệm thu hay bảo vệ là giai đoạn cuối cùng để xác nhận kếtquả nghiên cứu Tùy theo cấp độ nghiên cứu của đề tài (tiểu luận, khoá luận/đồ

án, luận văn, luận án tốt nghiệp, hay đề tài các cấp) mà qui trình và thủ tụcnghiệm thu bảo vệ khác nhau

3.2 Logic nội dung công trình khoa học

Lôgic nội dung công trình khoa học là trật tự các phần của nội dung luậnvăn hay báo cáo khoa học Nội dung của công trình bao gồm các phần sau đây:

(1) Những vấn đề chung

Phần này gọi là phần mở đầu (hay ở một số cơ sở đào tạo qui định đề cậptrong chương 1), trình bày như trong đề cương nghiên cứu, bao gồm:

- Lý do chọn đề tài hay tính cấp thiết của đề tài

- Mục tiêu và nghiệm vụ nghiên cứu

- Khách thể và đối tượng nghiên cứu

- Giả thuyết khoa học

- Giới hạn đề tài

- Các cơ sở phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu tương ứngvới các mục tiêu nhiệm vụ nghiên cứu

- Những đóng góp mới cũng như ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

(2) Các kết quả nghiên cứu

Phần này trình bày toàn bộ các kết quả nghiên cứu lý thuyết và thực tiễncủa đề tài Thông thường một khoá luận/luận văn/ luận án được trình bày gồmcác chương ngoài phần dẫn nhập:

Chương: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu cần trình bày:

- Lịch sử nghiên cứu những vấn đề liên quan tới đề tài Hay tổng quan về vấn

đề nghiên cứu)

- Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu

Chương : là những kết quả nghiên cứu thực tiễn

Chương : Những đề xuất biện pháp/ giải pháp/áp dụng triển khai…

Trang 23

(3) Kết luận

Phần kết luận trình bày các nội dung sau:

- Toàn bộ những tư tưởng kết quả quan trọng nhất mà công trình nghiên cứu

đã nghiên cứu, phát hiện được, bao gồm cả lý thuyết và thực tiễn

- Các đề xuất ứng dụng kết quả nghiên cứu

- Những kiến nghị cho việc nghiên cứu tiếp theo

(4) Danh mục tài liệu tham khảo và phần phụ lục

- Phần cuối cùng của một khoá luận/ đồ án, luận văn, luận án, báo cáo côngtrình nghiên cứu trình bày phần phụ lục để làm rõ thêm các kết quả nghiêncứu, mà trong phần chính không trình bày

- Phần danh mục các tài liệu tham khảo được trình bày theo thứ tự ABC họtên tác giả, nối tiếp là tên tài liệu, nhà xuất bản, nơi xuất bản, năm xuấtbản

Có thể khái quát trình tự thực hiện một nghiên cứu khoa học như sau:

Hình III.1: Trình tự của hoạt động NCKH

3.3 Đề tài nghiên cứu và đề cương nghiên cứu

3.3.1 Xác định đề tài nghiên cứu

Khởi đầu tiên của quá trình NCKH là chọn đề tài nghiên cứu Đối vớingười mới bắt đầu đầu bước vào lĩnh vực NCKH, việc xác định đề tài nghiêncứu là một việc làm rất khó

Đề tài nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu khoa học là một hình thức tổ chức nghiên cứu khoahọc, trong đó có một nhóm người hay một người thực hiện những nhiệm vụnghiên cứu Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài là tìm ra các giải đáp những điềuchưa rõ, đem lại cái hoàn thiện hơn, phát hiện qui luật hoặc những kết luậnmang tính phổ biến, có thể phát hiện cái mới hoặc cách làm nào đó hợp qui luậthơn

Trang 24

Bản chất của đề tài nghiên cứu khoa học là một vấn đề khoa học có chứanội dung thông tin chưa biết, cần phải nghiên cứu làm sáng tỏ, là thiếu hụt của

lý thuyết hay mâu thuẫn của thực tiễn đang cản trở, với kiến thức cũ, kinhnghiệm cũ không giải thích được, đòi hỏi người nghiên cứu phải làm rõ

Vấn đề nghiên cứu

Việc chọn và phát hiện ra vấn đề nghiên cứu là một việc làm hết sức côngphu đòi hỏi người nghiên cứu phải sử dụng tối đa sự hiểu biết và kinh nghiệmcủa mình Các vấn đề nghiên cứu thì thật là phong phú Nhưng đối với ngườimới bắt đầu thì tốn nhiều thời gian và công sức

Sau đây là một số giải thích về vấn đề nghiên cứu:

- Vấn đề nghiên cứu thường diễn đạt dưới dạng một câu phát biểu dưới dạng mô

tả hay một câu hỏi Câu hỏi xuất phát từ những mâu thuẫn nhận thức, hành độngnảy sinh từ lí luận hay thực tiễn giáo dục mà trước đây chưa ai trả lời được Câuhỏi không phải là một câu hỏi thông thường để người ta trả lời vài ba câu làxong mà là một tình huống, một vấn đề đòi hỏi có thời gian nghiên cứu, quansát, tìm hiểu và cuối cùng là một loạt những kết luận được rút ra Cũng có thểcâu hỏi đó đã được giải quyết ở nơi khác, trong điều kiện khác nhưng tại địaphương lại nảy sinh những mâu thuẫn mới cần giải quyết tiếp cho phù hợp điềukiện thực tiễn

- Vấn đề được cấu trúc thành một hệ thống gồm câu hỏi trọng tâm (về bản chấtcủa vấn đề) và những câu hỏi phụ Kết quả kết quả của giải quyết vấn đề là tìm

ra được, hiểu được, mô tả được những điều trước khi nghiên chưa ai biết chínhxác

Đặc trưng của vấn đề nghiên cứu: Khi một vấn đề được chon đề làm vấn đề

khoa học để nghiên cứu, nó có các đặc điểm sau đây:

- Là một sự kiện hay một hiện tượng mới chưa ai biết, một mâu thuậntrong hay một vướng mắc cản trở trong lý luận và thực tiễn, mà đáp sốcủa nó chưa có trong những tri thức của xã hội đã tích lũy cần phải làm

rõ trong quá trình nghiên cứu

- Bằng các kiến thức cũ không thể giải quyết được, đòi hỏi người nghiên cứu giải quyết

- Vấn đề nếu được giải quyết sẽ cho một thông tin mới có giá trị khoa họchoặc làm cơ sở cho các hoạt động thực tiễn

Mối liên hệ giữa đề tài khoa học với vấn đề nghiên cứu

Đề tài khoa học được điễn đạt bằng tên đề tài Tên, hay tựa đề tài nghiên cứu làtên gọi của vấn đề khoa học mà ta cần nghiên cứu Tên gọi là cái vỏ bề ngoài,còn vấn đề khoa học (vấn đề nghiên cứu) là nội dung bên trong Cái vỏ bề ngoàichứa đựng một nội dung, cái vỏ phải phù hợp với nội dung Tên đề tài phải đượctrình bày thể hiện rõ nội dung vấn đề nghiên cứu

Cách phát hiện đề tài nghiên cứu: Ngoại trừ các đề tài được chỉ định, cònhầu như các đề tài nghiên cứu hay các vấn đề nghiên cứu đều do người nghiêncứu tự phát hiện trong hoạt động thực tiễn hay hoạt động lý luận Vấn đề luôntồn tại khách quan Sau đây là một số cách phát hiện ra các vấn đề nghiên cứutrên cơ sở các lĩnh vực nghiên cứu:

(1) Theo dõi các thành tưu nghiên cứu khoa học

Trang 25

(2) Nghiên cứu các phương pháp mới, qui trình mới, nguyên lý mới … ápdụng váo thực tiển giáo dục;

(3) Nghiên cứu đối tượng cũ bằng các phương pháp mới và quan điểm mớivới những điều kiện mới;

(4) Phân tích và tổng hợp các tài liệu như các tài liệu thống kê, tài liệu điềutra đã xuất bản;

(5) Tham khảo các nhà hoạt động khoa học, các nhà nghiên cứu nổi tiếngtrong lĩnh vực chuyên môn;

(6) Nghiên cứu trong lĩnh vực chuyên môn của mình;

(7) Tìm hiểu về những vấn đề thường tạo nên sự bất đồng ý kiến trong tổchức giáo dục…

Đặc điểm của đề tài nghiên cứu khoa học: Một đề tài NCKH có giá trị phải baogồm các đặc điểm sau đây: Tính mới, tính thực tiễn, độ phức tạp và độ khó.Tuy nhiên cũng cần lưu ý rằng: trong NCKH giá trị của đề tài không phụ thuộcvào độ khó và độ phức tạp của nó Đề tài hẹp chưa chắc là một đề tài kém giátrị Mỗi đề tài có một phạm vi nhất định, phạm vi càng hẹp thì nghiên cứu càngsâu Cho nên khi chọn đề tài nghiên cứu, người nghiên cứu phải chọn đề tài vừasức đối với bản thân mình và có thể giới hạn đề tài lại để giảm độ phức tạp và

độ khó

Đặt tên đề tài: tên đề tài nghiên cứu là tên gọi của vấn đề khoa học mà ngườinghiên cứu cần nghiên cứu Tên gọi là cái vỏ bề ngoài, còn vấn đề khoa học lànội dung bên trong Cái vỏ bề ngoài chứa đựng một nội dung, cái vỏ phải phùhợp với nội dung Tên đề tài phải được trình bày thể hiện rõ nội dung vấn đềnghiên cứu Tên đề tài phải phản ánh cô động nội dung của vấn đề cần nghiêncứu Về nguyên tắc chung, tựa đề tài phải ít chữ nhất, nhưng chứa đựng mộtlượng thông tin cao nhất

Một số lưu ý khi đặt tên đề tài:

- Thứ nhất, tên đề tài không sự dụng các cụm từ có độ bất định cao về thông tin.Chẳng hạn: Thử bàn về , Một số giải pháp ; Một vài suy nghỉ về , Một sốvấn đề về

- Thứ hai, cũng cần hạn chế các cụm từ chỉ mục đích để đặt tên đề tài, như: ( )nhằm nâng cao chất lượng ; ( ) góp phần vào

- Thứ ba, không nên diễn đạt quá dễ dãi, không đòi hỏi tư duy sau sắc, kiểu như:

“Quản lý dạy học ở trường THCS theo hướng phát triển năng lực - thực trạng,nguyên nhân và giải pháp”

Khi xét duyệt đề tài ngoài các yếu tố cần xem xét như ở trên đã trình bày,cần phải xem xét sự hợp lý của việc sự dụng phương pháp nghiên cứu tìm hiểuđối tượng nghiên cứu và trên khách thể nghiên cứu không

3.3.2 Xây dựng đề cương nghiên cứu

Khi bắt tay vào nghiên cứu một đề tài khoa học thì thao tác rất quan trọng

là phải xây dựng cho được đề cương nghiên cứu Đề cương nghiên cứu là mộtvăn bản dự kiến các bước đi và nội dung của công trình nghiên cứu Với những

đề tài làm kết quả đánh giá một trình độ đào tạo thạc sĩ thì đề cương nghiên cứugồm các mục sau đây:

Tên đề tài nghiên cứu;

Trang 26

Lý do chọn đề tài: Phần này yêu cầu người nghiên cứu phải trình bày rõ ràng,

tường minh những lý do khách quan và chủ quan nào khiến cho người nghiêncứu chọn vấn đề đó để nghiên cứu Phải làm rõ những lý do này là cấp thiết đốivới lý luận và là một đòi hỏi của thực tiễn

Khi nêu lý do chọn đề tài phải dựa trên việc trả lời câu hỏi tại sao chọn đề tàinày nghiên cứu? Câu hỏi được trả lời trên cơ sở các mâu thuẫn, các thiếu sót của

lí thuyết hay thực tế với yêu cầu bức thiết phải giải quyết

Cũng có thể xác định tầm quan trọng các vấn đề vừa phát hiện Giải quyết đượccác vấn đề này đem lại lợi ích gì và ngược lại nếu vấn đề không được giải quyết

sẽ dẫn đến thiệt hại gì cho tương lai

Xác định mục đích, mục tiêu nghiên cứu:

Mục đích nghiên cứu là cái mà đề tài hướng tới, là định hướng, chiến lượccủa toàn bộ những vấn đề cần giải quyết trong đề tài Mục đích nghiên cứu là cáiđích mà người nghiên cứu vạch ra để thực hiện, để định hướng những nỗ lựcnghiên cứu trong quá trình tìm kiếm Mục đích nghiên cứu do người nghiên cứuđặt ra để thực hiện vì thế nó mang tính chủ quan

Mục tiêu nghiên cứu là kết quả mà người nghiên cứu mong muốn đạt được khitriển khai nghiên cứu đề tài Mỗi đề tài tùy theo phạm vi nghiên cứu mà ngườinghiên cứu cần phải xác định rõ mục đích, mục tiêu nghiên cứu hoặc một hệthống mục tiêu nghiên cứu

Xác định khách thể và đối tượng nghiên cứu

Thế giới khách quan là đối tượng duy nhất của nghiên cứu khoa học Tuynhiên thế giới khách quan vô cùng rộng lớn, mỗi lĩnh vực khoa học phải chọncho mình một bộ phận, một phần nào đó để tập trung khám phá tìm tòi, đó chính

là thao tác xác định khách thể nghiên cứu

Không phải khách thể nghiên cứu được xem xét một cách toàn diện mọikhía cạnh, nó được giới hạn trong phạm vi nghiên cứu nhất định về qui mô,không gian, khu vực hành chính và thời gian

Trong cái khách thể rộng lớn đó, mỗi đề tài cụ thể lại phải chọn cho mìnhmột mặt, một thuộc tính, một quan hệ của khách thể để nghiên cứu Bộ phận đóchính là đối tượng nghiên cứu Mỗi vấn đề nghiên cứu có một đối tượng nghiêncứu Như vậy, xác định đối tượng nghiên cứu là xác định cái trung tâm cầnkhám phá, tìm tòi của đề tài nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là một sự vật, hiện tượng hoặc một mối quan hệđược chọn để tìm tòi nghiên cứu Thông thường được xác định trên cơ sở củavấn đề nghiên cứu hay mục tiêu nghiên cứu

Khách thể và đối tượng nghiên cứu là hai khái niệm có mối quan hệ nhưloài và giống, chúng có thể chuyển hóa cho nhau

Giả thuyết khoa học của đề tài nghiên cứu

Trước khi bắt tay vào việc nghiên cứu tìm tòi, người nghiên cứu thườngphải đặt giả thuyết để định hướng cho việc tìm tòi các giải pháp cho vấn đề,những luận cứ, dữ liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu

Giả thuyết là một sự phỏng đoán, một sự khẳng định tạm thời, bao gồmmối quan hệ giữa hai hay nhiều biến tham gia trực tiếp vào trong đối tượngmuốn nghiên cứu Xét mối quan hệ giữa giả thuyết nghiên cứu và với vấn đề

Trang 27

khoa học thì nếu như vấn đề khoa học là “câu hỏi” thì giả thuyết chính là “câutrả lời”

Một giả thuyết là một phát biểu tạm thời, có thể đúng, về hiện tượng màngười nghiên cứu đang muốn tìm hiểu Nhưng dù sao giả thuyết cũng vẫn chỉ làmột điều ước đoán, còn cần phải kiểm nghiệm để chấp nhận hay bác bỏ Nhiệm

vụ của nghiên cứu là thu thập dữ liệu, luận cứ để chứng minh hoặc bác bỏ giảthuyết đó

Trong một đề tài nghiên cứu có thể có nhiều giả thuyết khác nhau Mỗigiả thuyết được nghiên cứu riêng rẽ và chứng minh bằng các dữ liệu, luận cứ thuthập được trong từng trường hợp

Trước một vấn đề nghiên cứu không bao giờ chỉ tồn tại một câu trả lờiduy nhất Chính vì vậy giả thuyết nghiên cứu có tính đa phương án trước mộtvấn đề nghiên cứu

Người nghiên cứu cần căn cứ vào bản chất của vấn đề nghiên cứu để đưa

ra giả thuyết phù hợp Theo chức năng của nghiên cứu khoa học, giả thuyếtđược phân chia thành các loại: giả thuyết mô tả, giả thuyết giải thích, giả thuyết

dự báo, giải thuyết giải pháp

Xác định phương pháp nghiên cứu: Việc lựa chọn phương pháp được coi như là

tìm kiếm công cụ để đạt tới mục tiêu Phương pháp nghiên cứu do mục tiêu vàđối tượng nghiên cứu quyết định Để tiến hành nghiên cứu một công trình khoahọc, người nghiên cứu phải sử dụng hợp lý các phương pháp nghiên cứu Cácphương pháp được sử dụng hợp lý, phù hợp với đề tài sẽ đảm bảo cho công trìnhnghiên cứu đạt kết quả Cho nên trong đề cương nghiên cứu, người nghiên cứuphải trình bày các phương pháp dự kiến sử dụng, các ý đồ và kỹ thuật sử dụngchúng tương ứng với các mục tiêu nghiên cứu

Dàn ý nội dung công trình nghiên cứu:

Đề cương nghiên cứu khoa học yêu cầu phải trình bày một dàn ý nội dung dựkiến của công trình Để làm được việc này, người nghiên cứu cần nghiên cứunhiều tài liệu tham khảo và đồng thời có khả năng sáng tạo Dàn ý nội dung tùytheo đặc thù của vấn đề nghiên cứu mà có một cấu trúc phù hợp

Tài liệu tham khảo

Người nghiên cứu phải trình bày rõ các tài liệu tham khảo đã đọc để xây dựng

đề cương Các tài liệu được liết kê có chọn lọc phù hợp với phạm vi của đề tàinghiên cứu

Xây dựng kế hoạch nghiên cứu

Kế hoạch nghiên cứu là tiến trình về các công việc cần phải thực hiện đểhoàn thành công trình nghiên cứu trong một thời gian nhất định

Câu hỏi thảo luận và học tập

1.Làm việc cá nhân: xây dựng một đề tài nghiên cứu và xây dựng đề cương nghiên cứu của đề tài đó.

2 Làm việc theo nhóm Mỗi nhóm tìm một bài báo nghiên cứu (trên internet hay tạp chí, tiếng Việt hoặc Anh) trong đó có nêu các câu hỏi nghiên cứu và giả

thuyết ban đầu.

Trang 28

IV Kỹ thuật thu thập, xử lý và phân tích dữ liệu trong nghiên cứu khoa học giáo dục

Bước vận dụng phương pháp là bước quan trọng nhất trong quá trình nghiên cứu

vì nhờ đó sẽ thu thập các sự kiện và tài liệu cho công trình Vì vậy, muốn tiếnhành tốt, ngoài việc nắm chắc nội dung, đặc điểm và tính năng của từng phươngpháp để sử dụng đúng cách, cần chú ý thêm những điểm sau:

4.1 Đo lường và thang đo trong nghiên cứu khoa học giáo dục

4.1.1 Đo lường: Là khái niệm để so sánh một sự vật hiện tượng với một thước

đo hoặc một chuẩn mực mà có khả năng trình bày kết quả về mặt định lượng

Đo lường trong NCKH giáo dục thường có những đặc trưng sau:

- Liên quan đến con người như: Tri thức, kỹ năng, thái độ, hiệu quả công việc

- Thước đo : Chủ yếu là đo gián tiếp

Ex: Để đo tính tích cực học tập phải thông qua các hoạt động học tập như làmbài tập

- Cách đo lường thường khó khăn, phức tạp Vì các hiện tượng giáo dục thường

đa dạng và phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau Các biến số để đo dễ thay đổi,khó kiểm soát

4.1.2.Thang đo

Là tập hợp các con số để có thể đo lường được một biến số nào đó (Ex: đánhgiá bài làm của HS bằng thang điểm từ 0 đến 10); Là cách thức sắp xếp thôngtin theo một trật tự nhất định phản ánh mối quan hệ phụ thuộc

Đặc điểm của thang đo:

- Độ dài của thang đo được xác định bằng điểm cực tiểu và điểm cực đại.

Ex: Về trình độ học vấn: Chưa biết chữ đến tiến sỹ khoa học;

Về mức độ quạn trọng: Hoàn toàn không quan trọng đến rất quan trọng;

Về kỹ năng: Chưa biết đến biết thuần thục

- Đơn vị đo: Là những phần mà theo đó độ dài của thang đo được chia ra

(Với những dấu hiệu định tính thì đơn vị đo thường sử dụng: ít, ít hơn; kém,kém hơn; tốt, tốt hơn;…)

- Chỉ số: chỉ báo về mặt định lượng nào đó để xác định vị trí của từng cá nhânhoặc tổng thể cá nhân được nghiên cứu theo một dấu hiệu nhất định nào đó

- Các loại thang đo:

Khi đo lường, chúng ta đưa ra các nguyên tắc đo, và sau đó, diễn giải các quansát của chúng ta về các chỉ số đại diện cho các tính chất của đối tượng nghiêncứu theo các nguyên tắc đo này Có nhiều thang đo có thể áp dụng được, vàchúng ta sẽ phải chọn các thang đo phù hợp nhất tuỳ theo chúng ta xây dựng cácnguyên tắc như thế nào [2]

Các nguyên tắc đo có 4 đặc tính:

1 Phân loại (Classification) Sử dụng các con số để chia nhóm hoặc sắp

xếp các câu trả lời Không sắp xếp theo trật tự thứ bậc

2 Thứ bậc (Order) Các con số được sắp xếp theo trật tự thứ bậc Một con

số phải lớn hơn, nhỏ hơn hoặc ngang bằng với một con số khác

3 Khoảng cách (Distance) Sự chênh lệch, sai biệt giữa các con số được

xếp theo thứ bậc Sai biệt giữa bất kỳ một cặp số liệu nào đều phải lớn

Trang 29

hơn, nhỏ hơn hoặc ngang bằng với một con số khác với sự sai biệt củamột cặp số bất kỳ khác.

4 Số gốc (Origin) Các dãy số liệu có một số gốc duy nhất là số không.

Sự kết hợp của các đặc tính phân loại, thứ bậc, khoảng cách và gốc sẽ chochúng ta 4 thang đo được sử dụng phổ biến là (1) Thang đo định danh(nominal scale); (2) thang đo thứ bậc (ordinal scale); (3) thang đo khoảng cách(interval scale) và (4) thang đo tỷ lệ (ratio scale)

* Thang đo định danh (Nominal Scale) là một kiểu đánh giá sự vật hiện

tượng hay đặc tính theo tên gọi hay danh hiệu/nhãn hiệu/phạm trù Ví dụ, khimuốn phân loại con người theo giới tính (nam, nữ), theo học lực (kém, yếu,trung bình, khá, giỏi), theo nhóm tuổi (mẫu giáo, tiểu học, THCS, THPT…)hoặc khi muốn phân loại đồ vật theo mầu sắc (đỏ, xanh, tím…) thì người ta sửdụng thang định danh

- Phép đo định danh (Nominal - hay định loại) là tách ra một dấu hiệu nào đó

của đặc điểm được nghiên cứu và đánh dấu mỗi khi gặp dấu hiệu ấy (trong quansát hoặc trong thực nghiệm) Tổng hợp (đếm) các số ghi được sẽ có một biểuhiện đặc trưng của đối tượng hay hiện tượng nghiên cứu (ví dụ, có thể đánh giákhả năng viết đúng các từ của học sinh bằng cách ghi số lỗi mà học sinh mắcphải trong một bài chính tả) Phép đo định danh là phép đo có tính khái quát,không nhằm cung cấp những thông tin chính xác về sự khác biệt cá nhân, mà chỉnhằm đánh giá sự có mặt hay vắng mặt của sự vật hiện tượng hoặc bản chất củathuộc tính Các con số trong thang định danh chỉ đơn thuần là con số mã hóabiểu thị phạm trù (ví dụ, nam = 1, nữ = 2 hay thành thị = 1, nông thôn = 2),không nói lên thứ bậc, mức độ, khối lượng của thuộc tính cần đánh giá Các biếngiới tính, dân tộc, khu vực, thành phần,…là các phép đo định danh

* Thang định hạng (Ordinal Scale) là một kiểu đánh giá phân loại sự vật,

hiện tượng, thuộc tính theo thứ bậc, trật tự Ví dụ, khi muốn phân loại năng lựchọc tập của một nhóm học sinh theo thứ hạng (xếp loại điểm tổng kết môn học

từ cao nhất đến thấp nhât) hoặc muốn phân loại đồ vật theo trọng lượng, kích cỡ(từ nặng nhất/to nhất đến nhẹ nhất/bé nhất) thì sử dụng thang định hạng Thangđịnh hạng là phép đo có tính khái quát, không nhằm cung cấp thông tin chínhxác về mức độ khác biệt giữa các cá nhân, chỉ nhằm chỉ ra vị trí của từng cánhân trong mối tương quan với các cá nhân khác, hoặc vị trí của một sự vật, hiệntượng trong mối tương quan thứ bậc với các sự vật, hiện tượng khác Các con sốtrong phép đo định hạng đơn thuần biểu thị thứ hạng theo một kiểu sắp xếp nào

đó (ví dụ, từ HS có điểm tổng kết môn Văn cao nhất đến HS có điểm thấp nhất).Các con số đó không nói lên mức độ khác biệt, chất lượng cụ thể của thuộc tínhcần đánh giá (ví dụ, khi tuyển sinh)

- Phép đo định hạng (Ordinal) là xếp các hiện tượng, các đối tượng của đặc

điểm được nghiên cứu thành một dãy theo thứ tự giảm dần hoặc tăng dần, và sau

đó gán cho mỗi đối tượng một con số, mà con số đó chỉ rõ vị trí của đối tượngtrong dãy số đó Con số này được gọi là hạng của đối tượng (ví dụ, xếp hạng củahọc sinh một lớp – “nhất”, “nhì”, “ba”…dựa theo kết quả học tập về một mônhọc)

Trang 30

* Thang định khoảng (Interval Scale) là một kiểu đánh giá phân loại sự vật,

hiện tượng, thuộc tính theo những đơn vị phân loại bằng nhau ở bất kì khoảngnào trên thang đo (thước mét) Sự khác nhau theo những khoảng cách bằng nhautrên thang đo là ngầm chỉ sự khác nhau ở những đặc điểm hay thuộc tính được

đo (ví dụ, điểm số ở môn Toán của học sinh A và học sinh B là 8đ và 6đ đượcngầm hiểu là năng lực Toán của học sinh A hơn học sinh B một khoảng tươngđương 2 điểm) Hiện nay, hầu hết các thang đo hành vi, tâm lí hay giáo dụcđược xem như thang đo khoảng mặc dù vẫn có những tranh luận cho rằng cầnxếp chúng vào thang đo định hạng

- Phép đo định khoảng (Interval – đo chính xác) là so sánh đặc điểm nghiên

cứu với các đơn vị đo lường chuẩn Ví dụ, sự khác biệt giữa người cao 170cm và người cao 155cm-165cm đều ở cùng một khoảng như nhau là 10cm…

160cm-* Thang định tỉ lệ (Ratio Scale) là một thang đo khoảng nhưng có điểm 0 tuyệt

đối Một điểm 0 thực sự chỉ ra rằng tại đó thiếu vắng đặc tính được đo (ví dụ,đồng hồ chỉ vận tốc) Sự có mặt của điểm 0 giúp thiết lập được tỉ lệ giữa cácđiểm số thu được, ví dụ, có thể xác định chính xác vận tốc 10km/h là lớn gấp 2lần 5km/h Thang tỉ lệ ít khi được dùng trong các thang đo hành vi hay trong cácphép đo tâm thần vì không thể xác định được điểm 0 thực sự cho hầu hết các đặctính tâm lí Nếu một người có điểm 0 ở một trắc nghiệm trí tuệ nào đó thì nênhiểu rằng người đó đạt điểm 0 ở trắc nghiệm đó chứ không phải đặc tính được

đo bằng 0 điểm Đó là điểm 0 tự đặt ra, võ đoán Ứng với thang tỉ lệ là phép đo

tỉ lệ

- Phép đo định tỉ lệ (tỉ số) Phép đo tỉ lệ ít được dùng trong nghiên cứu

KHGD.

4.1.3.Các đặc điểm của một đo lường tốt

Có ba tiêu chuẩn để đánh giá một công cụ đo lường là: tính hợp lệ của dữliệu, độ tin cậy, và tính thực tế

về vấn đề cần quan tâm, thì sẽ có thể đạt được tính hợp lệ về nội dung

Nhà nghiên cứu có thể đạt được tính hợp lệ về nội dung bằng các cách sau.Thứ nhất, thông qua việc xác định cẩn thận chủ đề nghiên cứu, soạn thảocác hạng mục cần đo lường, và các thang đo cần sử dụng Cách thứ hai làtham vấn các chuyên gia xem liệu các công cụ đã thỏa mãn các tiêu chuẩnhay chưa Và cũng quan trọng là đừng xác định các nội dung nghiên cứuquá hẹp

Ngày đăng: 25/05/2020, 23:48

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2014), thông tư số 15/2014/ TT- BGD ĐT ban hành Quy chế đào tạo trình độ thạc sỹ Khác
2. Nguyễn Thị Kim Dung (2019), Phương pháp nghiên cứu khoa học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Khác
3. Vũ Cao Đàm, (2005), Phương pháp luận nghiên cứu khoa học – NXB Khoa học và kĩ thuật Hà Nội Khác
4. Phạm Minh Hạc (chủ biên), (1991), Phương pháp luận và phương pháp NCKHGD, Viện KHGD Hà Nội Khác
5. Lê Văn Hảo, Nguyễn Thị Ngân (2019), Phương pháp nghiên cứu khoa học, Trường Đại học Nha Trang Khác
6. Võ Quang Phúc, (1998), Giáo trình PPNC KHGD lớp cao học quản lí giáo dục Khác
7. Dương Thiệu Tống, (2005), Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục và tâm lý, nhà xuất bản khoa học xã hội Khác
8. Nguyễn Văn Tuấn (2007), Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục, Trường ĐHSP kỹ thuật TP. Hồ Chí Minh Khác
9. Phạm Viết Vượng, (1998), Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục – NXB Giáo dục, Hà Nội Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w