Bộ môn phụ sản ĐH Y HN đưa ra mức tăng cân trung bình của ngườiphụ nữ trong quá trình thai nghén cần đạt từ 9 -12kg [1].. Tại sao người phụ nữ trong thời kỳ mang thai cần đạt mức tăng câ
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Khi có thai cơ thể người phụ nữ có nhiều thay đổi lớn về giải phẫu, sinh
lý, sinh hóa để đáp ứng với kích thích sinh lý do thai và phần phụ của thai gây
ra Trọng lượng cơ thể người phụ nữ tăng dần và không đều trong suốt quátrình thai nghén [1]
Theo Abram: trong 3 tháng đầu, sự tăng cân là không thường xuyên,hiếm khi tăng quá 1000g hay 1500g, đôi khi còn sụt cân Trong quý 2, tăngcân đều đặn, đến tháng thứ 6 tăng được 6kg so với bình thường Trong quý 3,tiếp tục tăng cân và đạt 12 đến 13 kg [11]
Bộ môn phụ sản ĐH Y HN đưa ra mức tăng cân trung bình của ngườiphụ nữ trong quá trình thai nghén cần đạt từ 9 -12kg [1] Tiêu chuẩn được tổchức nông lương Liên hiệp quốc khuyến cáo đối với bà mẹ trong thời kì mangthai cần tăng trung bình 12,5kg [8]
Tại sao người phụ nữ trong thời kỳ mang thai cần đạt mức tăng cân như vậy?Như chúng ta đều biết khi người phụ nữ mang thai bản thân họ cũng như giađình đều mong mỏi chờ đợi và hi vọng sẽ sinh ra một em bé lành lặn, khỏemạnh Trong khi đó nhiều công trình nghiền cứu trên thế giới cũng như tạiViệt Nam đã chứng minh rằng tăng cân của mẹ trong thời kỳ mang thai cóliên quan chặt chẽ với cân nặng của trẻ sơ sinh khi đẻ Chính vì vậy trong khimang thai người mẹ cần ăn uống lao động, nghỉ ngơi và sinh hoạt hợp lý đểđạt mức tăng cân cần thiết, tối thiểu là 9kg Chế độ dinh dưỡng của người mẹtrong khi có thai có vai trò quan trọng quyết định sự tăng cân của mẹ và sựphát triển của thai Trong những năm gần đây ở Việt Nam nói chung đặc biệt
là các thành phố lớn điều kiện về kinh tế xã hội có nhiều phát triển tiến bộ,
Trang 2đời sống của người dân đã được cải thiện đáng kể nên chế độ dinh dưỡng chocác bà mẹ mang thai ngày càng tốt hơn Bên cạnh đó do thực hiện tốt công tácsinh đẻ kế hoạch đã làm giảm số con của mỗi bà mẹ Mỗi bà mẹ chỉ đẻ từ 1đến 2 con nên họ càng có điều kiện để quan tâm đến kết quả thai nghén củamình Đó có thể là nguyên nhân làm thay đổi mức tăng trọng lượng cơ thể củangười phụ nữ trong quá trình thai nghén và cân nặng của trẻ sơ sinh khi đẻ
Vậy cụ thể mức tăng trọng lượng cơ thể thai phụ và cân năng của trẻ sơsinh khi đẻ hiện tại là bao nhiêu? Mối quan hệ giữa tăng cân của mẹ và cânnặng của con khi đẻ như thế nào? Để tìm hiểu vấn đề này chúng tôi thực hiện
đề tài: “Mức tăng cân của sản phụ và cân nặng của trẻ sơ sinh tại bệnh viện phụ sản Trung Uơng từ 01/4/2009 – 30/6/2009” với mục tiêu là:
1 Xác định mức tăng cân trung bình của sản phụ đến đẻ tại BV PS TƯ từ 1/4/2009 – 30/06/2009.
2 Xác định cân nặng trung bình của trẻ sơ sinh khi đẻ là con của các sản phụ trên.
3 Mô tả mối liên quan giữa tăng cân của mẹ trong quá trình mang thai và cân nặng của trẻ sơ sinh khi đẻ.
Trang 3Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Tăng cân của mẹ trong thời kỳ mang thai
Mức độ tăng cân của mẹ trong quá trình thai nghén phụ thuộc vàonhiều yếu tố như: di truyền, tuổi, tình trạng sức khỏe của mẹ, chế độ dinhdưởng, điều khiện lao động sinh hoạt… Chính vì vậy, ở các quốc gia khácnhau các vùng miền có điều kiện kinh tế xã hội khác nhau, thậm chí ở cùngmột nơi nhưng vào các thời điểm nghiên cứu khác nhau cũng cho kết quảkhông giống nhau Theo tiêu chuẩn quốc tế mà tổ chức nông lương Liên hiệpquốc đưa ra thì người phụ nữ trong thời kỳ có thai cần tăng trung bình 12,5kg[7] Sự tăng trọng lượng này diền ra không đều 3 tháng đầu tăng ít do nghén,tăng khoảng 1,5kg 3 tháng giữa tăng nhiều nhất, khoảng 6kg 3 tháng cuốităng ít hơn, khoảng 4-5kg
Nghiên cứu của Phạm Duy Tường ở quận Đống Đa Hà Nội (2002) cókết quả mức tăng cân trung bình của người phụ nữ trong thời kỳ mang thai là8,6kg [10]
Vậy tại sao khi có thai cơ thể người mẹ lại có sự thay đổi về trọnglượng? Như chúng ta đã biết sự phát triển của thai nhi đòi hỏi sự gia tăng vềmáu, huyết tương, cơ, xương, nội tạng và các tổ chức khác cũng phát triểnkhông ngừng Do đó cùng với thời gian mang thai tăng dần thì trọng lượng cơthể của bà mẹ cũng tăng lên theo, trong đó ngoài thai nhi ra còn có rau thai,nước ối, tử cung, bầu ngực và những thay đổi khác nhằm thích ứng với quátrình thai nghén
Trang 4Nếu trọng lượng cơ thể của bà mẹ tăng dưới mức trung bình sẽ tăngnguy cơ thai chậm phát triển trong tử cung, và nguy cơ sảy thai thai chết lưucũng tăng Nếu trọng lượng tăng nhiều quá, thì có khả năng do đa ối hoặc docác bệnh lý khác của mẹ, thai hay phần phụ của thai.
1.2 Cân nặng của trẻ sơ sinh
Theo định nghĩa của tổ chức y tế thế giới [19]
- Trẻ sơ sinh bình thường: 2500g-3500g
- Thai nhẹ cân: <2500g
- Thai to: >= 3500g
Theo bộ môn Nhi trường ĐH Y HN, cân nặng sơ sinh trung bình khi đẻ
là 3070g đối với trẻ trai và 3020 đối với trẻ gái [3] Bộ môn Sản phụ trường
ĐH Y HN đưa ra tiêu chuẩn cân nặng trung bình của trẻ sơ sinh khi đẻ là3000g chung cho cả thai trai và gái [2]
Theo nghiên cứu của Currnigham [15] và Spellacy [18] thai to đượcđịnh nghĩa là thai có cân nặng ít nhất 4000g hoặc hơn
Trên thế giới có nhiều nghiên cứu về trọng lượng trẻ sơ sinh được tiếnhành ở nhiều vùng khác nhau, dựa trên những tiêu chuẩn chọn mẫu khác nhau
và cho những kết quả rất khác nhau Tuy nhiên, các tác giả đều nhận thấyrằng, thông thường con dạ nặng hơn con so, trẻ sơ sinh trai nặng hơn trẻ sơsinh gái
1.3 Mối liên quan giữa tăng cân của mẹ và cân nặng của thai
Từ lâu người ta đã biết có mối liên quan chặt chẽ giữa tăng cân của mẹtrong quá trình thai nghén và cân nặng của trẻ sơ sinh khi đẻ Năm 1982,Kremer và cộng sự đã đưa ra mô hình biểu thị sự liên quan chặt chẽ giữa tăngcân của mẹ, khẩu phần của mẹ trong thời kỳ có thai và cân nặng khi sinh củatrẻ [17]
Trang 5Tăng cân của mẹ
Không ít nghiên cứu trên thế giới đã chứng minh được một số yếu
tố ảnh hưởng xấu tới tình trạng dinh dưỡng của người phụ nữ trong thời
kỳ mang thai được biểu hiện qua mức tăng cân kém, người ta còn có thểgọi là “suy kiệt dinh dưỡng mẹ” đã dẫn tới tình trạng trẻ sinh ra có cânnặng thấp [17]
Theo Phạm Duy Tường, trẻ được sinh ra ở các bà mẹ có mức tăng cân trongquá trình mang thai ít nhất 9kg có cân nặng sợ sinh trung bình lớn hơn những trẻđược sinh ra của các bà mẹ có mức tăng cân dưới 9kg với p<0,05 [10]
1.4 Một số yếu tố liên quan đến tăng cân của mẹ và cân nặng của trẻ sơ sinh
1.4.1 Chế độ dinh dưỡng
Khi có thai, nhu cầu về năng lượng và các chất dinh dưỡng đòi hỏi caohơn ở mức bình thường vì nhu cầu này ngoài đảm bảo cung cấp cho các hoạtđộng của mẹ còn cần thiết cho sự phát triển của thai nhi Căn cứ vào nhu cầucủa bà mẹ có thai, người ta khuyến nghị ở thời kỳ 6 tháng cuối, nhu cầu vềnăng lượng là 2550Kcal/ngày, như vậy năng lượng tăng thêm hơn người bìnhthường mỗi ngày là 350Kcal Để đạt được mức tăng này người mẹ cần ănthêm 1 đến 2 bát cơm Nhu cầu về protein là 70g/ngày Nhu cầu về vitamin,khoáng chất và các yếu tố vi lượng cũng tăng Chính vì vậy trong thời kỳ cóthai, cần khuyên người mẹ nên ăn các loại thức ăn, thực phẩm có chứa nhiềuvitamin C, Canxi, Phosphor…
Theo Phạm Thị Quỳnh Hoa, những bà mẹ có chế độ ăn bình thường,không thay đổi chế độ ăn trong khi mang thai thì tỉ lệ sơ sinh quá cân theo
Trang 6tuổi thai chỉ chiếm 7,55%, trong khi đó nhóm các bà mẹ có chế độ ăn tănghơn khi mang thai thì tỉ lệ sơ sinh quá cân theo tuổi thai chỉ chiếm 19,21% vànhóm các bà mẹ này có nguy cơ sơ sinh quá cân theo tuổi thai gấp 2,91 lầnnhóm các bà mẹ có chế độ ăn bình thường [5].
1.4.2 Cân nặng của mẹ trước khi có thai
Cân nặng của người mẹ trước khi có thai phản ánh tình trạng dự trữdinh dưỡng của người mẹ vì vậy rất quan trọng đối với sự tăng cân của mẹtrong thời kỳ thai nghén và với sự phát triển của thai nhi
Theo Abram và cộng sự, cân nặng trung bình trẻ sơ sinh của các bà mẹnhẹ cân thấp hơn 300g so với so với trẻ sơ sinh của các bà mẹ các bà mẹ đượcxếp loại nặng cân [11] Nhiều nghiên cứu khác trên thế giới cũng cho thầy cânnặng của mẹ trước khi có thai thấp là yếu tố nguy cơ của trẻ đẻ cân thấp [12][13] [14]
Năm 1989 viện dinh dưỡng đã điều tra ở phụ nữ có thai tại nội và ngoạithành Hà Nội, kết quả cho thấy các bà mẹ có cân nặng trước khi có thai dưới45kg đẻ con có cân nặng trung bình là 2890g và mẹ nặng từ 45kg trở lên con
có cân nặng trung bình là 3040g
Theo nghiên cứu của Phạm Duy Tường, trẻ được sinh ra ở các bà
mẹ có cân nặng trước sinh từ 45kg trở lên có cân nặng sơ sinh trung bìnhlớn hơn cân nặng sơ sinh của các bà mẹ có cân nặng trước khi mang thaidưới 45kg [10]
1.4.3 Chiều cao của mẹ
Nhiều tác giả nghiên cứu mối quan hệ giữa chiều cao của mẹ và cânnặng của trẻ sơ sinh đã thấy xu hướng người mẹ càng thấp thường đẻ concàng nhẹ cân và ngược lại Người mẹ cao cũng thường có trọng lượng cơ thểtrước khi có thai nặng hơn những bà mẹ thấp nên khả năng dự trữ năng lượng
Trang 7tốt hơn, mức tăng cân trong thời kỳ thai nghén cũng tốt hơn và con của họ khisinh thường có cân nặng cao hơn.
Hà Huy Khôi cho thấy có mối liên quan giữa chiều cao của bà mẹ vớicân nặng của trẻ sơ sinh [7] [8]
- Chiều cao mẹ dưới 150cm thì cân nặng sơ sinh là 2830g,
- Chiều cao mẹ >= 150cm thì cân nặng sơ sinh là 2990g,
Theo Nguyễn Thị Ngọc Khanh [6] các bà mẹ dưới 20 tuổi đẻ con cócân nặng trung bình thấp nhất (2916g), cân nặng trung bình của trẻ sơ sinhcao nhất ở các bà mẹ từ 30-34 tuổi (3085g) sau đó giảm đi
1.4.5 Yếu tố kinh tế xã hội
Các yếu tố bao gồm nghề nghiệp, trình độ văn hóa, môi trường sống…phản ánh nhận thức của bà mẹ cũng như điều kiện và khả năng được tiếp cậnvới những dịch vụ chăm sóc sức khỏe, theo dõi quản lý thai nghén, sẽ ảnhhưởng đến việc tăng cân của các bà mẹ trong thời kỳ thai nghén và cân nặngcủa trẻ sơ sinh khi đẻ Các bà mẹ nghề nghiệp không ổn định, thu nhập vàtrình độ văn hóa thấp lại phải sống ở môi trường cách xa các cơ sở và dịch vụ
Trang 8y tế dẫn đến tình trạng tăng cân kém và cân nặng của trẻ sơ sinh thấp Ngượclại, các bà mẹ có điều kiện kinh tế xã hội tốt hơn sẽ tăng cân tốt và con của họkhi sinh thường có cân nặng cao hơn.
Theo nghiên cứu của Lưu Thị Tuyết Minh, nhóm bà mẹ có nghề nghiệp
là cán bộ có tỉ lệ đẻ con thấp cân thấp nhất (20,5%), nhóm bà mẹ làm ruộng
có tỉ lệ đẻ con thấp cân cao nhất (70,5%), so sanh với p<0,001 [9]
1.4.6 Khoảng cách giữa hai lần đẻ
Sau mỗi lần đẻ, bà mẹ đã phải tiêu hao rất nhiều năng lượng lại cầnnhiều năng lượng để tiếp tục nuôi con Vì vậy nếu khoảng cách giữa hai lần
đẻ quá ngắn (<24 tháng) người mẹ sẽ không đủ thời gian để hồi phục sứckhỏe và tích trữ năng lượng chuẩn bị tốt cho kỳ thai tới Nếu đẻ quá dày,người mẹ sẽ tăng cân kém và dễ đẻ con có cân nặng thấp
Theo nghiên cứu của Cù Thị Minh Hiền [4], các bà mẹ có khoảng cách
đẻ dưới 24 tháng có nguy cơ đẻ con nhẹ cân gấp 4 lần so với các bà mẹ cókhoảng cách đẻ >=36 tháng (p<0,01)
1.4.7 Bệnh của mẹ trong thời kỳ mang thai
Các bệnh tật hay triệu chứng liên quan đến thai nghén như tiền sản giật,sản giật, cao huyết áp, thiếu máu… sẽ làm cản trở sự phát triển của thai gâythai chậm phát triển trong tử cung Mẹ bị nhiễm virut, ký sinh trùng, đặc biệt
là ký sinh trung sốt rét có nhiều nguy cơ đẻ con nhẹ cân
Thiếu máu là sự giảm số lượng hồng cầu hoặc giảm nồng độ huyết sắc
tố ở máu ngoại vi dẫn đến thiếu oxy để cung cấp cho các tổ chức của cơthể.Trong thời kỳ thai nghén sự hình thành và phát triển của thai hoàn toànphụ thuộc vào sức khỏe người mẹ Sự nuôi dưỡng thai chịu ảnh hưởng của sựtưới máu từ tuần hoàn mẹ tới bánh rau Nếu tuần hoàn máu mẹ đầy đủ sẽ cung
Trang 9cấp đủ dinh dưỡng cho thai và ngược lại nếu người mẹ bị thiếu máu sẽ ảnhhưởng xấu đến thai.
Theo thống kê của tổ chức y tế thế giới [16], có 56% phụ nữ có thai ởcác nước đang phát triển bị thiếu máu, ở các nước phát triển thì tỉ lệ này là18% Thiếu máu trong thời kỳ thai nghén là một trong những nguyên nhâncủa xảy thai, đẻ non, thai suy dinh dưỡng trong tử cung và đẻ con nhẹ cân hơn
so với bình thường
Trang 10Bệnh của mẹ trong thời kỳ mang
thai Cân nặng của trẻ sơ
sinh
Trang 11Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIấN CỨU
2.1 Đối tượng nghiờn cứu
Là các bà mẹ khoẻ mạnh, có tuổi thai từ 38 - 42 tuần đến đẻ hay mổ lấythai tại Bệnh viện Phụ sản Trung ơng và số trẻ sơ sinh tơng ứng
2.1.1 Tiờu chuẩn lựa chọn
- Một thai, trẻ đẻ ra sống
- Các sản phụ không có bệnh tật kèm theo
- Hồ sơ có ghi chép đầy đủ các thông tin cần nghiên cứu
2.1.2 Tiờu chuẩn loại trừ
- Không xác định đợc tuổi thai
- Không đủ thông tin nghiên cứu
- Sản phụ có bệnh kèm theo
2.2 Phương phỏp nghiờn cứu
2.2.1 Thiết kế nghiờn cứu
Sử dụng phơng pháp mô tả cắt ngang, số liệu thu đợc Bệnh viện Phụ sản Trung
ơng
2.2.2 Cỡ mẫu nghiờn cứu
Sử dụng công thức tính cỡ mẫu cho nghiên cứu ớc lợng trung bình củamột quần thể là:
2
2 2
2 /
Trang 12Nghiªn cøu chän = 0,05, t¬ng øng víi gi¸ trÞ Z1-/2 - 1,96.
- Theo t¨ng c©n cña mÑ: Chóng t«i chän = 0,2
2
2 2 2 /
) 2 , 0 (
1 , 3 96 , 1
= 922,944Chóng t«i lÊy trßn sè lµ 1000
Trang 13- Theo cân nặng sơ sinh: Chúng tôi chọn = 50.
+ Thai 38 tuần:
2
2 2 2 /
50
320 96 ,
50
350 96 , 1
= 188,24Làm tròn số là 189
+ Thai 42 tuần:
2
2 2 2 /
Làm tròn số là 158
Vậy cỡ mẫu tính theo cân nặng sơ sinh là:
N = 97 + 148 + 158 + 189 + 158 = 750
Kết quả trên cho thấy, cỡ mẫu tính theo tăng cân của mẹ đã bao hàm cả
cỡ mẫu tính theo cân nặng trẻ sơ sinh nên trong nghiên cứu này chúng tôichọn cỡ mẫu là 1000 đối tợng để nghiên cứu
Theo ớc tính từ số liệu của Phòng KHTH, chúng tôi sẽ nghiên cứu trong
3 tháng, từ 1 tháng 4 năm 2009 đến 30 tháng 6 năm 2009
2.2.3 Phương tiện nghiờn cứu
- Cân ngời lớn có kèm theo thớc đo chiều cao, cân chia độ chính xác tới
50 gram và thớc đo chia độ tới 0,1cm
- Cân nặng trẻ sơ sinh đợc cân bằng một cân đĩa thăng bằng chia độchính xác tới 5 gram, nhãn hiệu Seca do Đức sản xuất
Trang 142.2.4 Kỹ thuật thu thập thụng tin số liệu
Xây dựng mẫu phiếu nghiên cứu
- Mẹ:
+ Hỏi: họ tên, tuổi, nghề nghiệp, nơi c trú, số lần đẻ, thời gian đẻ lần gần
đây nhất, tiền sử bệnh, ngày đầu tiên của kỳ cuối, cân nặng khi cha có thai
Trang 152.2.5 Cỏc biến số nghiờn cứu
Mục tiờu Biến số Chỉ số/định nghĩa/
Phõn loại
Phương phap Thu thập
ruộng, nghề khỏc).
Hỏi
Phiếu hỏi Tuổi thai Tớnh từ ngày đầu của KCC
đến ngày đẻ hoặc dựa vào kết quả siờu õm 3 thỏng đầu của thai kỡ, tớnh theo tuần (38, 39,40,41,và 42 tuần)
Hỏi Bảng tớnh tuổi
thai
Chiều cao Là chiều cao của TP tớnh
theo kg Đo Thước đoTLCT trước
đẻ Là trọng lượng của thai phụ trước đẻ (kg) cõn Cõn bànMức tăng
TLCT
Được tớnh bằng TLCT của TP trước khi đẻ trừ TLCT của TP trước khi cú thai
Mức tăngTLCT/tuổi Mức tăngTLCT/nghề nghiệp.
Mức tăng TLCT/chiều cao.
Mức tăng TLCT/TLCT trước khi cú thai.
Mức tăng TLCT/tuổi thai.
Hỏi Cõn
Cõn bàn người lớn
Hỏi Phiếu hỏi
Trọng lượng trung bỡnh của
Số liệu đợc làm sạch và xử lý trên máy tính bằng trơng trình EPI info 6.0,
mc tăng cân của sản phụ; cân nặng của trẻ sơ sinh đợc tính: giá trị trung bình, độlệch chuẩn, so sánh với tiêu chuẩn và với các nghiên cứu khác bằng test T
Tính r, để xác định mối tơng quan giữa mức tăng cân của sản phụ vàcân nặng của trẻ sơ sinh
Trang 162.2.7 Vấn đề đạo đức trong nghiờn cứu
- Đối tợng nghiên cứu đợc cung cấp đầy đủ các thông tin cần thiết vềnghiên cứu và họ tự nguyện tham gia vào nghiên cứu Các thông tin cá nhân
do đối tợng nghiên cứu cung cấp đợc đảm bảo bí mật
- Nghiên cứu chỉ nhằm mục đích đa ra các thông số giúp làm tốt hơnnữa công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ cho bà mẹ và trẻ sơ sinh
2.2.8 Địa điểm và thời gian nghiờn cứu
Nghiên cứu đợc tiến hành tại khoa đẻ Bệnh viện Phụ sản Trung ơng từngày 01 tháng 04 đến 30 tháng 06 năm 2009