1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu hành động giảm phát thải khí nhà kính phù hợp với điều kiện quốc gia cho nước thải ở các lò giết mổ gia súc tập trung

69 90 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 1,27 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA CÁC KHOA HỌC LIÊN NGÀNH BÙI THỊ PHƯƠNG TRINH NGHIÊN CỨU HÀNH ĐỘNG GIẢM PHÁT THẢI KHÍ NHÀ KÍNH PHÙ HỢP VỚI ĐIỀU KIỆN QUỐC GIA CHO NƯỚC THẢI Ở CÁC LÒ GIẾT M

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA CÁC KHOA HỌC LIÊN NGÀNH

BÙI THỊ PHƯƠNG TRINH

NGHIÊN CỨU HÀNH ĐỘNG GIẢM PHÁT THẢI KHÍ NHÀ KÍNH PHÙ HỢP VỚI ĐIỀU KIỆN QUỐC GIA CHO NƯỚC THẢI

Ở CÁC LÒ GIẾT MỔ GIA SÚC TẬP TRUNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

HÀ NỘI – 2020

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA CÁC KHOA HỌC LIÊN NGÀNH

BÙI THỊ PHƯƠNG TRINH

NGHIÊN CỨU HÀNH ĐỘNG GIẢM PHÁT THẢI KHÍ NHÀ KÍNH PHÙ HỢP VỚI ĐIỀU KIỆN QUỐC GIA CHO NƯỚC THẢI

Ở CÁC LÒ GIẾT MỔ GIA SÚC TẬP TRUNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

Chuyên ngành: BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

Mã số: 8900201.01QDT

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Huỳnh Thị Lan Hương

HÀ NỘI – 2020

Trang 3

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan luận văn này công trình nghiên cứu do cá nhân tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Huỳnh Thị Lan Hương, không sao chép các công trình nghiên cứu của người khác Kết quả của luận văn đã được Chủ nhiệm Đề tài KC.08.31/11-15 đồng ý cho phép sử dụng như một phần đóng góp cho Đề tài

Các thông tin thứ cấp sử dụng trong luận văn là có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đầy đủ, trung thực và đúng qui cách

Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính xác thực và nguyên bản của luận văn

Tác giả

Bùi Thị Phương Trinh

Trang 4

MỤC LỤC

MỤC LỤC i

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT iii

DANH MỤC BẢNG v

DANH MỤC HÌNH vi

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu của đề tài 3

2.1 Mục tiêu chung 3

2.2 Mục tiêu cụ thể 3

3 Phạm vi nghiên cứu 3

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Ý nghĩa khoa học và đóng góp thực tiễn của luận văn 4

6 Cấu trúc của luận văn 4

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 5

1.1 Tình hình phát thải khí nhà kính toàn cầu và Việt Nam 5

1.2 Các hành động giảm phát thải khí nhà kính của cộng đồng quốc tế và Việt Nam 6

1.2.1 Các hành động giảm phát thải khí nhà kính của cộng đồng quốc tế 6

1.2.2 Các hành động giảm phát thải khí nhà kính của Việt Nam 10

1.3 Hiện trạng xả thải của các lò giết mổ gia súc tại Việt Nam 20

1.3.1 Nguồn thải 20

1.3.2 Nước thải trong các lò giết mổ 23

1.4 Tổng quan các công nghệ xử lý nước thải 28

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP VÀ SỐ LIỆU NGHIÊN CỨU 30

2.1 Phương pháp và số liệu liên quan đến xây dựng và thực nghiệm hệ thống bể xử lý sinh học kết hợp màng 30

2.1.1 Địa điểm xây dựng và thực nghiệm 30

2.1.2 Thiết kế hệ thống 31

2.1.3 Hệ thống tiền xử lý nước thải 31

2.1.4 Hệ thống sinh học 33

2.1.5 Hệ thống màng 36

2.1.6 Hệ thống xử lý chất thải rắn 37

2.1.7 Vận hành hệ thống 37

2.2 Các phương pháp và số liệu liên quan đến việc tính toán phát thải và đánh giá tiềm năng giảm phát khí nhà kính 41

2.2.1 Phát thải khí nhà kính từ nước thải 41

Trang 5

2.2.2 Phát thải khí nhà kính từ đốt nhiên liệu phục vụ mục đích dân dụng 42

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 43

3.1 Tính toán phát thải và tiềm năng giảm phát thải khí nhà kính 43

3.1.1 Phát thải khí nhà kính liên quan đến nước thải 43

3.1.2 Phát thải khí nhà kính từ năng lượng sử dụng cho lò giết mổ 43

3.1.3 Tiềm năng giảm phát thải khí nhà kính khi áp dụng hệ thống bể xử lý sinh học kết hợp màng 44

3.2 Các điều kiện và giải pháp triển khai hành động giảm phát thải khí nhà kính phù hợp với điều kiện quốc gia liên quan đến việc áp dụng công nghệ xử lý nước thải lò giết mổ gia súc tập trung 45

3.2.1 Về chuyển giao, nhân rộng và cung cấp tài chính cho giải pháp công nghệ 45

3.2.2 Hình thành môi trường pháp lý và điều kiện hỗ trợ để triển khai hoạt động giảm phát thải khí nhà kính phù hợp với điều kiện quốc gia 50

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 58

Kết luận 57

Khuyến nghị 57

TÀI LIỆU THAM KHẢO 59

Tiếng Việt 59

Tiếng Anh 61

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BĐKH Biến đổi khí hậu

BOD 5 Nhu cầu oxy hóa sinh học trong 5 ngày đầu

Bộ TN&MT Bộ Tài nguyên và Môi trường

BUR Báo cáo cập nhật hai năm một lần

CDM Cơ chế phát triển sạch

CER Chứng nhận giảm phát thải

CO 2tđ CO2 tương đương

COD Nhu cầu oxy hóa học

COP Hội nghị các bên

CTR Chất thải rắn

DNVVN Doanh nghiệp vừa và nhỏ

FIRM Dự án “Tạo điều kiện thuận lợi và sẵn sàng cho các hoạt động

giảm nhẹ phát thải khí nhà kính

GIZ Cơ quan Hợp tác phát triển quốc tế CHLB Đức

GtCO 2 Tỷ tấn CO2

IMHEN Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu

IPCC Ủy ban liên Chính phủ về biến đổi khí hậu

MRV Đo đạc – Báo cáo – Thẩm định

MtCO 2 Triệu tấn CO2

NAMA Hành động giảm phát thải khí nhà kính phù hợp điều kiện quốc

gia

NDC Đóng góp do quốc gia tự quyết định

PVDF Polyvinylidene fluoride

QCTĐHN Quy chuẩn Thủ đô Hà Nội

QCVN Quy chuẩn Việt Nam

Trang 7

TP Tổng hàm lượng phốtpho

TSS Tổng chất thải rắn lơ lửng

UNCED Hội nghị Liên hiệp quốc về Môi trường và Phát triển

UNEP Chương trình Môi trường Liên hiệp quốc

UNFCCC Công ước khung của Liên hiệp quốc về Biến đổi khí hậu

VNEEP Chương trình mục tiêu quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm

và hiệu quả

WMO Tổ chức Khí tượng Thế giới

WRI Viện Tài nguyên thế giới

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1: Tổng phát thải, hấp thụ khí nhà kính năm 2013 theo các loại khí 5

Bảng 1.2: Xu thế phát thải/hấp thụ khí nhà kính trong các kỳ kiểm kê 17

Bảng 1.3: Đặc tính của nước thải giết mổ gia súc tại một số lò giết mổ tại Việt Nam 27

Bảng 1.4: Ví dụ lò mổ với 100 động vật nhỏ và 75 gia súc được giết mổ hàng ngày 29

Bảng 2.1: Các thông số và chức năng của các thiết bị, công trình trong hệ thống tiền xử lý 33

Bảng 2.2: Các thông số của nước thải đầu vào và đầu ra 36

Bảng 2.3: Các thông số chính của màng sử dụng trong hệ thống 37

Bảng 2.4: Mức năng lượng tiêu thụ khi chưa áp dụng hệ thống xử lý nguồn thải 20m3/ngày.đêm 37

Bảng 2.5: Tổng hợp năng lượng tiêu thụ theo các phương án 42

Bảng 3.1: Chuyển đổi thực nghiệm COD sang dữ liệu phục vụ tính toán 44

Bảng 3.2: Chuyển đổi dữ liệu từ kWh sang MWh 44

Bảng 3.3: Kết quả phát thải KNK từ các phương án sử dụng năng lượng 44

Bảng 3.4: Phát thải KNK ở các phương án kết hợp khác nhau 45

Bảng 3.5: Tiềm năng giảm phát thải KNK trong tương lai 45

Bảng 3.6: Nhu cầu tài chính cho xử lý nguồn thải lò mổ 48

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1: Lƣợng phát thải toàn cầu từ năm 1850 đến năm 2011 (MtCO2) 5

Hình 1.2: Tiến trình đàm phán về BĐKH trên thế giới 10

Hình 1.3: Các hoạt động và chính sách ứng phó với BĐKH của Việt Nam 11

Hình 1.4: Quy trình giết mổ trâu bò và chất thải phát sinh 21

Hình 1.5: Quy trình giết mổ lợn và chất thải phát sinh 22

Hình 2.1: Sơ đồ công nghệ hệ thống xử lý chất thải giết mổ gia súc 31

Hình 2.2: Sơ đồ cấu tạo bể năm chức năng theo cơ sở lý thuyết 35

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Theo báo cáo đánh giá của Nhóm công tác I thuộc Ủy ban liên Chính phủ

về biến đổi khí hậu (IPCC) đưa ra vào đầu năm 2013, biến đổi khí hậu (BĐKH) là một trong những thách thức lớn nhất của nhân loại Những ảnh hưởng của BĐKH đến con người và các thay đổi của hệ thống khí hậu cũng đã được ghi nhận từ những năm 1950 Nguyên nhân chính của BĐKH là do phát thải khí nhà kính (KNK), trong đó,các hoạt động sinh sống và sản xuất của con người là nguồn phát thải chính KNK được định nghĩa là những thành phần của khí quyển, được tạo ra

do tự nhiên và các hoạt động của con người Chúng có khả năng hấp thụ các bức

xạ sóng dài được phản xạ từ bề mặt Trái Đất khi được chiếu sáng bằng ánh sáng mặt trời, sau đó phân tán nhiệt lại cho Trái Đất, gây nên hiệu ứng nhà kính Tiếp tục phát thải KNK sẽ làm nặng nề thêm những thay đổi của khí hậu toàn cầu cũng như những ảnh hưởng tiêu cực của nó lên tự nhiên và con người

Tại hội nghị các bên (COP) lần thứ 21 ở Paris, các nước cam kết thực hiện thỏa thuận Paris Tại Việt Nam, ngày 31 tháng 10 năm 2016, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã thay mặt Chính phủ ký Nghị quyết số 93/NQ-CP phê duyệt Thỏa thuận Paris thực hiện Công ước khung của Liên Hợp Quốc về biến đổi khí hậu (Thỏa thuận Paris về biến đối khí hậu) Trước đó, Quyết định 2053/QĐ-TTg ngày 28 tháng 10 năm 2016, Kế hoạch thực hiện Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu cũng đã được Thủ tướng Chính phủ ban hành Trong đó có việc thực hiện Đóng góp do Quốc gia tự quyết (NDC), theo đó, đóng góp dự kiến do quốc gia tự quyết của Việt Nam gồm hai hợp phần chính là giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và thích ứng với biến đổi khí hậu Cụ thể, Việt Nam dự kiến sẽ giảm 8% phát thải khí nhà kính vào năm 2030 và sẽ tăng lên 25% nếu có sự hỗ trợ quốc tế

Chất thải từ các hoạt động sản xuất, đặc biệt từ các hoạt động giết mổ chiếm một tỷ trọng đáng kể Nước thải và chất thải rắn khi giết mổ có hàm lượng chất hữu cơ, nitơ, phốt-pho đồng thời chứa một số lượng vi khuẩn vi rút

Trang 11

cao nếu thải trực tiếp không qua xử lý ra môi trường có khả năng phát thải ra một lượng lớn KNK và gây tác động xấu tới môi trường xung quanh, đặc biệt là sức khỏe con người Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, hiện nay 53/64 tỉnh thành trên toàn quốc có khoảng 851 cơ sở giết mổ đã được kiểm tra đánh giá , trên tổng số 28.285 cơ sở giết mổ nhỏ lẻ, trong đó phía Bắc có khoảng 11.485 điểm Các lò giết mổ tại nông thôn và các thị trấn hay thành phố nhỏ thường có quy mô nhỏ và hầu như không có hệ thống xử lý chất thải rắn hay nước thải ô nhiễm Các chất thải rắn lỏng giết mổ đều được thải trực tiếp ra mương, ao hay đường đi gây mất vệ sinh và ô nhiễm nghiêm trọng nguồn nước của người dân xung quanh

Theo Báo cáo cập nhật 2 năm 1 lần lần thứ nhất (BUR I) của Việt Nam (Bộ TN&MT, 2014), lượng phải thải KNK trong lĩnh vực chất thải là 15,351 triệu tấn CO2 tương đương, vào khoảng 5,78% tổng lượng phát thải KNK không tính LULUCF tại Việt Nam Tuy nhiên, chỉ có một phần trong đó được thu gom

và xử lý với mức trên 70% ở khu vực đô thị và khoảng 20% ở khu vực nông thôn Phát thải chủ yếu bao gồm: Phát thải CH4 từ các bãi chôn lấp chất thải rắn được thu gom; từ nước thải công nghiệp và nước thải sinh hoạt; phát thải N2O từ bùn cống nước thải sinh hoạt; phát thải CO2 và N2O từ quá trình đốt chất thải Nhìn chung, lượng phát thải này tuy không lớn nhưng lĩnh vực chất thải là lĩnh vực có tiềm năng giảm phát thải lớn Hiện nay, tại Việt Nam, các công nghệ trong lĩnh vực chất thải là tương đối cũ, còn nhiều lạc hậu và chưa được hiện đại hóa Theo nhiều chuyên gia từ Viện Chiến lược chính sách TN&MT bên cạnh các giải pháp về mặt chính sách, việc áp dụng các giải pháp về công nghệ là không thể thiếu trong chiến lược giảm phát thải KNK Các giải pháp này rất đa dạng, tuy nhiên cần được đầu tư nghiên cứu và thử nghiệm để đảm bảo phù hợp với điều kiện của quốc gia nói chung, cũng như ngành nghề, địa bàn áp dụng nói riêng

Trước thực trạng đó, việc nghiên cứu đề xuất ra các giải pháp để xử lý và giảm lượng phát thải KNK từ hoạt động giết mổ là một công việc rất bức thiết,

và đáp ứng được cùng lúc cả hai mục tiêu đó là: bảo vệ môi trường và giảm phát thải KNK, góp phần hỗ trợ Việt Nam trong thực hiện thỏa thuận Paris

Trang 12

2 Mục tiêu của đề tài

Trong đó, đối tượng nghiên cứu là các phương pháp xử lý nước thải của

lò giết mổ gia súc tập trung

Phạm vi thời gian: Nghiên cứu sử dụng dữ liệu thu thập năm 2014-2015,

kế thừa từ Đề tài cấp nhà nước KC.08.31/11-15 “Nghiên cứu ứng dụng và phát triển mô hình công nghệ tích hợp tiên tiến có tận thu và sử dụng năng lượng tái tạo để xử lý hiệu quả, bền vững nguồn thải hỗn hợp rắn - lỏng từ các lò giết mổ tập trung” do Bộ Khoa học và Công nghệ giao cho Viện khoa học Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu chủ trì thực hiện từ tháng 2 năm 2015 đến tháng

12 năm 2015

4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện được các mục tiêu và nhiệm vụ trên, đề tài sẽ sử dụng tổng hợp một số phương pháp nghiên cứu sau:

Trang 13

- Phương pháp kế thừa, thống kê, phân tích tổng hợp các tài liệu, số liệu hiện có liên quan đến vấn đề nghiên cứu;

- Phương pháp điều tra và khảo sát: Điều tra, khảo sát nhằm xác định và

bổ sung thêm thông tin;

- Phương pháp lấy mẫu nghiên cứu: do các bể sinh học đều được đảo trộn gần như hoàn toàn (bể thiếu khí đảo trộn nhờ bơm chìm, bể thiếu khí đảo trộn nhờ hệ sục khí) nên mẫu được lấy tại các vị trí giữa bể, ngoài ra đối với bể lắng

và màng lọc thì mẫu được lấy sau quá trình lắng và lọc

- Phương pháp phân tích: mẫu sau khi được lấy sẽ tiến hành phân tích trong ngày, trường hợp không kịp phân tích trong ngày thì mẫu sẽ được bảo quản trong tủ bảo quản mẫu đảm bảo tính chất của mẫu không thay đổi hoặc thay đổi không đáng kể Phương pháp phân tích mẫu được sử dụng theo tiêu chuẩn hiện hành TCVN

- Phương pháp tính toán phát thải khí nhà kính: áp dụng phương pháp của IPCC (1997)

5 Ý nghĩa khoa học và đóng góp thực tiễn của luận văn

- Đưa ra được các cơ sở khoa học để tính toán tiềm năng giảm phát thải KNK trong lĩnh vực chất thải nói chung và nước thải nói riêng ở các lò giết mổ gia súc

- Đưa ra được các công nghệ có tiểm năng giảm phát thải phù hợp với điều kiện Việt Nam góp phần thực hiện thỏa thuận Paris ở Việt Nam

6 Cấu trúc của luận văn

Chương 1: Tổng quan

Chương 2: Phương pháp và số liệu nghiên cứu

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Trang 14

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1 Tình hình phát thải khí nhà kính toàn cầu và Việt Nam

Theo báo cáo của Viện Tài nguyên thế giới (WRI), tính từ cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 2 (khoảng thập kỷ 1850) đến nay (năm 2011), lượng phát thải KNK toàn cầu đã gia tăng nhanh chóng, từ 198 triệu tấn CO2 (MtCO2) lên đến hơn 32 tỷ tấn CO2 (GtCO2) Trong đó, Việt Nam xếp thứ 31 thế giới về phát thải KNK, theo báo cáo Kiểm kê khí nhà kính lượng phát thải KNK của Việt Nam năm 2010 là 246,8 MtCO2 (bao gồm LULUCF), đến năm 2020 ước đạt 474,1 MtCO2 và năm 2030 là 787,4 MtCO2 (Bộ TN&MT, 2014)

( Trần Thục, 2016) Hình 1.1: Lượng phát thải toàn cầu từ năm 1850 đến năm 2011 (MtCO2)

Báo cáo phát thải của Chương trình Môi trường Liêp hiệp quốc (UNEP ,2017) dự báo rằng lượng phát thải toàn cầu đạt đỉnh vào năm 2020 là 52 GtCO2,

48 GtCO2 cho đến 2025, và 42 GtCO2 vào năm 2030 cho 66% khả năng hạn chế

ấm lên toàn cầu ở mức 2oC Cũng theo kịch bản này, nếu mức phát thải trung bình toàn cầu vào khoảng 56 GtCO2 vào năm 2020, 47 GtCO2 vào 2025 và 39 GtCO2 vào năm 2030 thì có 50% khả năng hạn chế ấm lên toàn cầu ở mức 1,5oC UNEP cũng nhận định lượng phát thải KNK toàn cầu vẫn ổn định trong liên tiếp 2 năm từ năm 2014 đến 2016: 51,7 GtCO2 vào năm 2014, 35,6 GtCO2vào năm 2015 và 51,9 GtCO2 năm 2016, nhưng vẫn chậm rãi tăng lên So sánh

Trang 15

với hiện tại 2016, tổng lượng phát thải toàn cầu, bao gồm cả phát thải từ sử dụng đất, thay đổi sử dụng đất và lâm nghiệp (LULUCF) là đã đạt 51,9 tỷ tấn CO2 (UNEP, 2017) có thể thấy cộng đồng quốc tế còn phải tiếp tục nỗ lực rất lớn để đạt mục tiêu đạt đỉnh phát thải toàn cầu vào năm 2020 là 52 GtCO2

1.2 Các hành động giảm phát thải khí nhà kính của cộng đồng quốc tế và Việt Nam

1.2.1 Các hành động giảm phát thải khí nhà kính của cộng đồng quốc tế

Năm 1988, nhận thức được tầm quan trọng của việc ứng phó với BĐKH,

Tổ chức Khí tượng thế giới (WMO) và UNEP đã thống nhất thành lập một Ủy ban chung chịu trách nhiệm về biến đổi khí hậu gọi là Ủy ban liên chính phủ về Biến đổi khí hậu (IPCC) Mục tiêu của IPCC là cung cấp cho thế giới một cái nhìn khoa học về BDDKH và các tác động của nó đối với kinh tế và chính sách toàn cầu (WMO, 1988) IPCC chịu trách nhiệm đưa ra các báo cáo hỗ trợ Cung ước khung của Liên hiệp quốc về Biến đổi khí hậu (UNFCCC) – thỏa thuận quốc tế chính về BĐKH

Đến năm 1992, Hội nghị Liên hiệp quốc về Môi trường và Phát triển (UNCED) đã thống nhất và đưa ra nội dung của Công ước khung của Liên hiệp quốc về Biến đổi khí hậu (UNFCCC) Mục tiêu của Công ước là ổn định các nồng

độ KNK trong khí quyển ở mức có thể ngăn ngừa được sự can thiệp nguy hiểm của con người đối với hệ thống khí hậu Tuy Công ước không có các ràng buộc pháp lý và cơ chế thực thi về giới hạn phát thải KNK nhưng lại cung cấp một bộ khung cho việc đàm phán các hiệp ước quốc tế cụ thể (gọi là "nghị định thư") có khả năng đặt ra những giới hạn ràng buộc về KNK (United Nations, 1992)

Tháng 12 năm 1997, tại Hội nghị giữa các bên tham gia về Biến đổi khí hậu lần thứ 3 (COP3), Nghị định thư Kyoto (KP) đã được ký kết và chính thức

có hiệu lực vào năm 2005 Trong đó 36 quốc gia công nghiệp trên thế giới và liên minh Châu Âu (EU) bắt buộc phải cắt giảm khí CO2 và năm loại khí gây hiệu ứng nhà kính khác ít nhất 5% so với mức phát thải năm 1990, hoặc có thể tiến hành biện pháp thay thế như mua bán phát thải nếu không muốn đáp ứng

Trang 16

yêu cầu đó (UNFCCC, 1997) Đây cũng là điểm nổi bật của Nghị định thư Kyoto vì có cơ chế linh hoạt bằng cách cho phép các nước Phụ lục I mua lượng khí cắt giảm được từ những quốc gia khác nhằm đạt được mục tiêu cắt giảm khí thải Theo đó, các quốc gia có hạn ngạch phát thải carbon dư thừa có thể bán hạn ngạch này cho những nước có lượng phát thải vượt ngưỡng cho phép Đây được xem như một công cụ hiệu quả nhằm giúp các nước đang phát triển tham gia vào Nghị định thư Kyoto, giúp nâng cao năng lực công nghệ ở các quốc gia này, đồng thời giải quyết được bài toán lợi ích giữa kinh tế và môi trường tại các quốc gia phát triển Tương tự, cơ chế đồng thực hiện cũng cho phép một quốc gia thành viên tự thực hiện một dự án ở một quốc gia thành viên khác và qua đó giành được thêm hạn ngạch phát thải ở nước mình (Đào Minh Hồng, 2013)

COP13 đồng thời cũng là Hội nghị giữa các bên lần thứ 3 về Thỏa thuận Kyoto (CMP3) được tổ chức vào tháng 12 năm 2007 tại Bali, Indonesia Hội nghị nhằm tăng cường khả năng giảm nhẹ BĐKH ở cấp độ quốc tế và quốc gia,

áp dụng cho cả các quốc gia đã và đang phát triển Hội nghị đã đưa ra Kế hoạch hành động Bali (BAP) và các bước cụ thể để đàm phán đạt được một thỏa thuận vào năm 2009 cho giai đoạn sau 2012 khi Nghị định thư Kyoto hết hạn BAP lần đầu tiên đưa ra khái niệm Hành động giảm phát thải khí nhà kính phù hợp điều kiện quốc gia (NAMA) là các chính sách và hành động mà các quốc gia tự nguyện thực hiện nhằm giảm phát thải KNK đồng thời thúc đẩy phát triển bền vững Các hành động này sẽ được hỗ trợ và thực hiện thông qua việc chuyển giao công nghệ, cung cấp tài chính và tăng cường năng lực từ các nước đã phát triển Do đó, BAP cũng đồng thời đã đưa ra khái niệm hệ thống Đo đạc – Báo cáo – Thẩm định (MRV) để đảm bảo các hỗ trợ quốc tế này được sử dụng một cách có hiệu quả (UNFCCC, 2007)

Tháng 12 năm 2009, COP15 và CMP5 đã được tổ chức tại Copenhagen, Đan Mạch Theo BAP, hội nghị này kỳ vọng đưa ra một chương trình khung về giảm thiểu BĐKH cho giai đoạn sau năm 2012 khi mà giai đoạn cam kết đầu tiên chấm dứt và Nghị định thư Kyoto hết hiệu lực Tuy nhiên, hội nghị đã kết thúc mà không đạt được một thỏa thuận ràng buộc cho hành động lâu dài nào

Trang 17

Thay vào đó, một hiệp định chính trị đã được 25 quốc gia thông qua bao gồm cả

Mỹ và Trung Quốc – 2 quốc gia có lượng phát thải lớn nhất thế giới, chiếm 20% phát thải KNK toàn cầu Hiệp định đưa ra được 2 điểm nổi bật là (1) các quốc gia đồng ý hạn chế mức tăng nhiệt độ toàn cầu là 2o

C; (2) các nước phát triển sẽ

hỗ trợ tài chính 30 tỷ USD trong giai đoạn 2010-2012 và lên tới 100 tỷ USD cho tới năm 2020 cho các nước đang phát triển để thích ứng và giảm thiểu với BĐKH Ngoài ra, hội nghị cũng đã làm rõ thêm về cơ chế NAMA và khái niệm MRV, trong đó có quy định về Báo cáo 2 năm 1 lần (BUR) (UNFCCC, 2009)

Liên tiếp các năm sau đó 2010, 2011, 2012 các COP16, 17, 18 diễn ra tại Cancun, Durban và Doha là giai đoạn tái cấu trúc sau Copenhagen đều hướng tới mục tiêu là đưa ra một hiệp ước thống nhất về văn bản mang tính ràng buộc pháp lý mới thay thế cho Nghị định thư Kyoto Tuy các hội nghị đã kết thúc với kết quả không như mong đợi khi các quốc gia chủ chốt vẫn bất đồng gay gắt về nghĩa vụ giảm KNK, nhưng đến COP18 hội nghị cũng đã đạt được thỏa thuận về (1) kéo dài KP cho tới 2020 và (2) cụ thể hóa nền tảng Durban (Durban Platform) thông qua vào năm 2015 thực hiện cho tới 2020 Ngoài ra hội nghị còn có tiến triển liên quan đến việc thành lập Quỹ Khí hậu Xanh (GCF) hỗ trợ

100 tỷ USD/năm theo ý tưởng của COP15 (UNFCCC, 2012)

COP19/CMP9, COP20/CMP10 diễn ra tại Warsaw, Ba Lan và Lima, Peru năm 2013, 2014 với mục tiêu chung là tiếp tục thỏa thuận và cùng nhau hướng tới một thỏa thuận khí hậu vào năm 2015 COP19 được đánh giá là đặc biệt quan trọng do 2013 là năm bắt đầu thực hiện KP giai đoạn 2 Tuy nhiên, do những bất đồng, như: Nhật Bản công bố tăng thêm 3,1% mức phát thải của mình, đi ngược lại cam kết trước đó là giảm 25% khí thải vào năm 2020; Australia tuyên bố điều chỉnh mức giảm phát thải từ 15-25% thành 5% vào năm 2020 (so với mức cam kết đưa ra năm 2000); và các trì hoãn nghĩa vụ đóng góp tài chính cho GCF nên hội nghị vẫn chưa đạt được mục tiêu đề ra Hội nghị cũng đưa ra Cơ chế Warsaw để cung cấp kiến thức chuyên gia, hỗ trợ cho các nước đang phát triển

để đối phó với các tổn thất và thiệt hại từ các cực đoan như: sóng nhiệt, hạn hán,

lũ lụt, nước biển dâng và sa mạc hóa Phải tới 2014, tại Lima, Peru hội nghị mới

Trang 18

thông qua Thỏa thuận khung cam kết cắt giảm khí thải gây hiệu ứng nhà kính với tên gọi “Hiệu triệu Lima cùng hành động vì khí hậu” nhằm đặt nền tảng cho việc thông qua thỏa thuận toàn diện hơn tại hội nghị khí hậu ở Paris (Pháp) vào năm tới “Tuy là một tín hiệu tích cực và là nền móng để xây dựng một dự thảo thỏa thuận toàn cầu về biến đổi khí hậu, dự kiến sẽ được đưa ra thảo luận tại COP 21 (tổ chức tại thủ đô Paris, Pháp) vào năm 2015; song, nội dung đạt được tại Hội nghị chưa đáp ứng được kỳ vọng của thế giới trước tác động ngày một rõ ràng và mạnh mẽ của biến đổi khí hậu” - Nguyễn Văn Tuệ, Cục trưởng Cục Biến đổi khí hậu - Bộ Tài nguyên và Môi trường, Phó trưởng Đoàn đàm phán của Việt Nam về biến đổi khí hậu

COP21/CMP11 năm 2015, hội nghị đã đạt bước tiến lớn và được đánh giá

là đạt được mục tiêu của hội nghị Các nhà đàm phán về BĐKH của Liên hợp quốc đã thống nhất “Thỏa thuận Paris” (PA) nhằm hạn chế mức tăng nhiệt độ trung bình toàn cầu ở mức dưới 2oC và có khả năng là dưới 1,5o

C COP21 cũng đánh dấu lần đầu liên, tất cả các quốc gia có nghĩa vụ pháp lý tham gia vào nỗ lực quốc tế và đóng góp nhằm giảm nhẹ BĐKH bằng cách đệ trình Đóng góp do Quốc gia tự quyết định (NDC) Tính tới nay, đã có 172 quốc gia phê chuẩn PA

và đệ trình NDC cho UNFCCC Mặc dù PA không đề cập trực tiếp đến NAMA, nhưng hành động giảm nhẹ quốc gia ở tất cả các nước là không thể thiếu và được kỳ vọng là công cụ chính để đạt được những mục tiêu trong NDC và mục tiêu tổng thể của PA (Viện KTTVBĐKH, 2018) Tuy nhiên, không có kế hoạch thời gian hay mục tiêu cụ thể của mỗi quốc gia được nêu trong phiên bản cuối cùng của PA - trái với KP trước đây: có thể đạt được mức phát thải zero trong nửa sau của thế kỷ theo thỏa thuận

Trang 19

(Trần Thục, 2016) Hình 1.2: Tiến trình đàm phán về BĐKH trên thế giới

1.2.2 Các chính sách và hành động giảm phát thải khí nhà kính của Việt Nam

Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia sẽ phải chịu những tác động nghiêm trọng của BĐKH, đặc biệt nước biển dâng Với quan điểm coi ứng phó với BĐKH là vấn đề có ý nghĩa sống còn, Việt Nam đã và đang chủ động tiến hành các hoạt động ứng phó với BĐKH nhằm bảo đảm an toàn cho người dân, bảo vệ tài sản, xây dựng nền kinh tế các-bon thấp, tăng trưởng xanh

và đạt mục tiêu phát triển bền vững của đất nước, đồng thời tích cực cùng cộng đồng quốc tế thực hiện Công ước khung của Liên hợp quốc về BĐKH (UNFCCC), góp phần bảo vệ hệ thống khí hậu trái đất và giữ cho nhiệt độ trung bình toàn cầu tăng không quá 2°C vào cuối thế kỷ 21 như đã được cả thế giới cùng cam kết trong Thỏa thuận Paris 2015 tại COP21 Các nỗ lực của Việt Nam

đã được cộng đồng quốc tế ghi nhận và Việt Nam được coi là một trong những quốc gia có những hành động tích cực nhất cùng cộng đồng thế giới chống lại các diễn biến bẩt lợi của BĐKH, cụ thể:

Việt Nam đã ký Công ước Khung Liên hợp quốc về BĐKH (UNFCCC) vào ngày 11/6/1992 và đã phê chuẩn Công ước này ngày 16/11/1994 Việt Nam

Trang 20

cũng đã ký Nghị định thư Kyoto (KP) vào ngày 03/12/1998 và phê chuẩn vào ngày 25/9/2002

Là thành viên tham gia tích cực vào Công ước khí hậu, Việt Nam đã nỗ lực tham gia và hoàn thành các trách nhiệm của một quốc gia đã ký kết vào các cam kết quốc tế trên thông qua các hoạt động như: xây dựng các Thông báo quốc gia lần thứ I và II vào các năm 2005 và 2010, trong đó thực hiện kiểm kê quốc gia KNK cho các năm cơ sở 1994 và 2000, đồng thời nghiên cứu đề xuất các giải pháp cắt giảm phát thải KNK cũng như các giải pháp thích ứng với BĐKH, v.v

Trung ương, Chính phủ và các Bộ, ngành, địa phương trong cả nước cũng

đã nỗ lực tăng cường năng lực, thể chế thông qua việc xây dựng và ban hành các chính sách:

(Trần Hồng Thái, 2013) Hình 1.3: Các hoạt động và chính sách ứng phó với BĐKH của Việt Nam

Nhận thức rõ những thách thức do biến đổi khi hậu gây ra, ngày 02 tháng

12 năm 2008 Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu tại Quyết định số 158/2008/QĐ-TTg Đây là

Trang 21

một trong những thành công ban đầu quan trọng trong nỗ lực ứng phó với BĐKH của Việt Nam vì mục tiêu phát triển bền vững Hai trong tám nhiệm vụ quan trọng của Chương trình là: (1) Đánh giá mức độ và tác động của BĐKH đối với các lĩnh vực, ngành và địa phương và (2) Xác định các giải pháp ứng phó

Ngày 5/12/2011, Thủ tướng Chính phủ cũng đã ra quyết định TTg phê duyệt chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu Trong đó, Chính phủ đánh giá BĐKH là thách thức và cũng đồng thời là cơ hội đối với Việt Nam Do

2139/QĐ-đó, chúng ta cần phải “Phát huy năng lực của toàn đất nước, tiến hành đồng thời các giải pháp thích ứng với tác động của biến đổi khí hậu và giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, bảo đảm an toàn tính mạng người dân và tài sản, nhằm mục tiêu phát triển bền vững”; “Tăng cường năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu của con người và các hệ thống tự nhiên, phát triển nền kinh tế các-bon thấp nhằm bảo vệ và nâng cao chất lượng cuộc sống, bảo đảm an ninh và phát triển bền vững quốc gia trong bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu và tích cực cùng cộng đồng quốc tế bảo vệ hệ thống khí hậu trái đất” (trích Chiến lược quốc gia về BĐKH) Để thực hiện thành công Chiến lược, Chính phủ cũng đưa ra các nhóm nhiệm vụ cấp thiết cần tập trung thực hiện trước là: nhóm nhiệm vụ về thích ứng, nhóm nhiệm vụ về giảm phát thải KNK và nhóm nhiệm vụ phối kết hợp liên ngành ứng phó với BĐKH Các nhiệm vụ trên được thực hiện theo 3 giai đoạn: tới năm 2012, từ 2013 đến 2025, từ 2026 đến 2050 (TTg, 5/12/2011)

Để cụ thể hóa Quyết định 2139, Thủ tướng chính phủ đã ban hành Quyết định 1474/QĐ-TTg ngày 5 tháng 10 năm 2012 về việc ban hành Kế hoạch hành động Quốc gia về biến đổi khí hậu giai đoạn 2012-2020 trong đó chi tiết hóa các mục tiêu, nhiệm vụ cho giai đoạn tới năm 2020 Kế hoạch hành động cũng đưa

ra các chương trình, đề án, dự án cụ thể cho các bộ, ngành, địa phương thực hiện trong giai đoạn này

Cũng trong năm 2012, vào ngày 25 tháng 9, Thủ tướng chính phủ đã ban hành Quyết định 1393/QĐ-TTg về phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh với mục tiêu cơ bản là: “Tăng trưởng xanh, tiến tới nền kinh tế các-

Trang 22

bon thấp, làm giàu vốn tự nhiên trở thành xu hướng chủ đạo trong phát triển kinh tế bền vững; giảm phát thải và tăng khả năng hấp thụ khí nhà kính dần trở thành chỉ tiêu bắt buộc và quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội” (TTg, 25/09/2012) Trong đó, nhiệm vụ “Giảm cường độ phát thải khí nhà kính và thúc đẩy sử dụng năng lượng sạch, năng lượng tái tạo” là một trong ba nhiệm vụ trọng tâm của chiến lược

Nghị quyết số 08/NQ-CP ngày 23 tháng 01 năm 2014 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 03 tháng 6 năm 2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, khóa

XI về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường Chương trình hành động xác định các nhiệm vụ trọng tâm và giải pháp chủ yếu của Chính phủ về chủ động ứng phó với BĐKH, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường nhằm giảm nhẹ tác động của BĐKH; khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên quốc gia hợp lý, hiệu quả và bền vững; nâng cao chất lượng môi trường sống và bảo đảm cân bằng sinh thái, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững đất nước

Quyết định số 2068/QĐ-TTg ngày 25 tháng 11 năm 2015 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển năng lượng tái tạo của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 Chiến lược định hướng từng bước gia tăng

tỷ trọng nguồn năng lượng tái tạo trong sản xuất và tiêu thụ năng lượng quốc gia nhằm giảm sự phụ thuộc vào nguồn năng lượng hóa thạch, góp phần đảm bảo an ninh năng lượng, giảm nhẹ BĐKH, bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế-xã hội bền vững Một số mục tiêu chính của Chiến lược liên quan đến giảm nhẹ phát thải KNK là: “Tăng tỷ lệ điện năng sản xuất từ năng lượng tái tạo trong tổng điện năng sản xuất toàn quốc từ khoảng 35% vào năm 2015 lên khoảng 38% vào năm 2020, đạt khoảng 32% vào năm 2030 và khoảng 45% vào năm 2050” và “Giảm nhẹ phát thải KNK trong các hoạt động năng lượng so với 8 phương án phát triển bình thường: khoảng 5% vào năm 2020; khoảng 25% vào năm 2030 và khoảng 45% vào năm 2050”

Trang 23

Đến nay, các tác động của BĐKH đã ngày càng rõ rệt và công cuộc ứng phó với BĐKH cũng bước vào giai đoạn phát triển mới Nhằm đáp ứng kịp thời các thay đổi này, không những cộng đồng quốc tế mà Việt Nam cũng đã có những điều chỉnh trong kế hoạch và dần đi vào các hành động thực tiễn

Về mặt xây dựng kế hoạch, Quyết định 1670/QĐ-TTg ngày 31 tháng 10 năm 2017 của Thủ tướng chính phủ đã phê duyệt chương trình mục tiêu ứng phó với biến đổi khí hậu và tăng trưởng xanh giai đoạn 2016-2020 Quyết định thể hiện quyết tâm của Chính phủ trong việc thực hiện Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu và Chiến lược quốc gia về Tăng trưởng xanh Chương trình hướng tới không chỉ tăng cường năng lực ứng phó với BĐKH của con người, hệ thống xã hội và tự nhiên, mà còn hướng tới nền kinh tế các bon thấp, làm giàu vốn tự nhiên trong phát triển kinh tế bền vững Ngoài ra, Quyết định cũng thể hiện rõ mục tiêu

là hành động cụ thể của Việt Nam thực hiện cam kết giảm phát thải KNK sau năm

2020 tại COP 21 và trong “Đóng góp quốc gia tự thực hiện NDC”

Không dừng lại ở việc xây dựng các thể chế, chính sách, các hành động giảm phát thải KNK của Việt Nam cũng đi vào các hoạt động thực tế Cụ thể, thực hiện Quyết định số 2/CP.17 ngày 15 tháng 3 năm 2012 của Hội nghị lần thứ 17 các Bên tham gia UNFCCC, Bộ Tài nguyên và Môi trường, đầu mối của Chính phủ Việt Nam thực hiện UNFCCC và Nghị định thư Kyoto; cơ quan thường trực của Ủy ban Quốc gia về biến đổi khí hậu đã chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan xây dựng Báo cáo cập nhật hai năm một lần lần thứ nhất của Việt Nam để gửi cho UNFCCC trong tháng 12 năm 2014

Tiếp đó, Bộ Tài nguyên và Môi trường với sự tài trợ của một số tổ chức quốc tế như Quỹ Môi trường toàn cầu, Chương trình Môi trường của Liên hợp quốc tiếp tục xây dựng Báo cáo cập nhật hai năm một lần lần thứ hai nhằm cập nhật các thông tin đã được nêu trong Báo cáo lần thứ nhất liên quan đến bối cảnh quốc gia; kiểm kê KNK cho năm 2013; một số hoạt động giảm nhẹ phát thải KNK; nhu cầu tài chính, hỗ trợ kỹ thuật, tăng cường năng lực cũng như một

Trang 24

số thông tin có liên quan tới hoạt động BĐKH ở Việt Nam ở Việt Nam trong thời gian gần đây (Bộ TNMT, 2014)

Việc hoàn thành xây dựng các Báo cáo này đã góp phần thực hiện tốt nghĩa vụ của Việt Nam và cam kết với các nhà tài trợ trong việc triển khai các chương trình BĐKH ưu tiên; góp phần thực hiện nghĩa vụ của một nước thành viên tham gia UNFCCC cũng như thể hiện quyết tâm của Việt Nam-một trong những nước đang phát triển chịu ảnh hưởng nặng nề của BĐKH trong việc chủ động ứng phó với BĐKH và trong thực hiện Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu

Việt Nam cũng đã cam kết với cộng đồng quốc tế rằng theo Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC), đến năm 2030, bằng nguồn lực trong nước, Việt Nam sẽ giảm 8% tổng lượng phát thải KNK so với kịch bản phát triển thông thường (BAU) (ước khoảng 62,65 triệu tấn CO2 tương đương) và mức đóng góp 8% này có thể được tăng lên thành 25% (ước khoảng 197,94 triệu tấn CO2 tương đương) nếu nhận được sự hỗ trợ quốc tế

Bảng 1.1: Tổng phát thải, hấp thụ khí nhà kính năm 2013 theo các loại khí

Đơn vị: Nghìn tấn CO 2 tương đương

(Nguồn: Báo cáo kiểm kê quốc gia khí nhà kính năm 2013 – Bộ TN&MT, 2017)

Trong năm 2013, tổng lượng phát thải KNK tại Việt Nam được ước tính

là 259.024 nghìn tấn Co2 tương đương (CO2tđ) nếu tính cả lĩnh vực sử dụng đất, thay đổi sử dụng đất và lâm nghiệp (LULUCF) và là 293.264 nghìn tấn

Trang 25

CO2tđ nếu không tính lĩnh vực LULUCF Các KNK chủ yếu ở Việt Nam là CO2, chiếm 53,5% tổng lượng phát thải KNK (không tính LULUCF), tiếp theo

là CH4 chiếm 34,4% và N2O chiếm 11,4% Theo từng lĩnh vực, năng lượng chiếm 51,6% tổng lượng phát thải KNK, tiếp theo là nông nghiệp chiếm 30,5%, các quá trình công nghiệp chiếm 10,8% và chất thải chiếm 7,05%

Bảng 1.2: Xu thế phát thải/hấp thụ khí nhà kính trong các kỳ kiểm kê

Đơn vị: Nghìn tấn CO2tđ

Năng lượng Quá trình

công nghiệp

Nông nghiệp LULUCF Chất thải Tổng

1994 25.637,0 3.807,0 52.445,0 19.378,0 2.565,0 103.832,0

2000 52.774,0 10.006,0 65.091,0 15.105,0 7.925,0 150.901,0

2010 146.170,7 21.682,4 87.602,0 -20.720,7 17.887,0 252.621,5

2013 151.402,5 31.767,4 89.407,8 -34.239,8 20.686,4 259.024,3

(Nguồn: Báo cáo kiểm kê quốc gia khí nhà kính năm 2013 – Bộ TN&MT, 2017)

Ngoài ra, Bộ TN&MT cũng được giao cụ thể hóa Kế hoạch thực hiện PA của Việt Nam bằng cách xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến BĐKH, trong đó: (1) Nghị định của Chính phủ về lộ trình và phương thức

để Việt Nam tham gia hoạt động giảm nhẹ phát thải KNK toàn cầu; (2) thiết lập

Hệ thống Đo đạc, Báo cáo và Thẩm tra (MRV) cho các hoạt động giảm nhẹ phát thải KNK ở cấp quốc gia, hướng tới đạt được các mục tiêu giảm nhẹ phát thải KNK trong NDC; (3) thiết lập Hệ thống MRV cho các hoạt động giảm nhẹ phát thải KNK cấp ngành cho các lĩnh vực công nghiệp, LULUCF, nông nghiệp, xây dựng và giao thông vận tải; (4) điều chỉnh, bổ sung các chiến lược ứng phó với BĐKH, quy định giảm nhẹ phát thải KNK, tăng trưởng xanh, thích ứng với BĐKH phù hợp với các cam kết của Việt Nam nêu trong NDC và nghiên cứu,

đề xuất Luật Biến đổi khí hậu; (5) xây dựng, cập nhật khung chính sách ứng phó với BĐKH thuộc Chương trình SP-RCC 2020 phù hợp với yêu cầu triển khai thực hiện PA; (6) quản lý, xây dựng, cập nhật cơ sở dữ liệu quốc gia về BĐKH

và hướng dẫn sử dụng thông tin về BĐKH; (7) tiếp tục triển khai lồng ghép các

Trang 26

vấn đề BĐKH và tăng trưởng xanh vào trong các chính sách, quy hoạch, kế hoạch, chương trình ưu tiên cho đầu tư phát triển

Một trong những hành động thực tế của Việt Nam trong việc giảm phát thải KNK đó là hàng loạt các nghiên cứu khoa học công nghệ được phê duyệt thực hiện Vừa qua, Văn phòng chương trình KH&CN phục vụ chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với Biến đổi khí hậu - cơ quan chịu trách nhiệm hỗ trợ quản lý các đề tài KHCN đã tổng kết việc thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2011-2015 Trong đó, báo cáo đánh giá kết quả của các đề tài trong Chương trình đã nghiên cứu được bản chất

và tác động của BĐKH đối với một số ngành, lĩnh vực dễ bị tổn thương; cơ chế, chính sách, định hướng giảm nhẹ BĐKH hay biến thách thức thành cơ hội để phát triển kinh tế - xã hội… Trong 5 năm triển khai, Chương trình KH&CN phục vụ Chương trình mục tiêu Quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu đã xây dựng được

hệ thống số liệu; các cơ sở khoa học, phương pháp nghiên cứu giúp đánh giá, dự báo các tác động của BĐKH, NBD và đưa ra những giải pháp giảm thiểu, thích ứng, ứng phó với BĐKH mang tính liên ngành, liên vùng, đa lĩnh vực

và lĩnh vực chất thải, từ đó xây dựng thử nghiệm mô hình tính toán giảm phát thải KNK trong các lĩnh vực này

Trang 27

(2) Nghiên cứu cơ chế chính sách, định hướng đổi mới công nghệ để giảm thiểu KNK hướng tới kinh tế cacbon thấp phù hợp với điều kiện thực tế ở Việt Nam đối với các khu kinh tế ven biển do Hiệp hội Công nghiệp Môi trường Việt Nam chủ nhiệm Đề tài đã khảo sát nghiên cứu tình hình phát triển, công nghệ sản xuất, chính sách của Nhà nước về đổi mới công nghệ giảm phát thải KNK của 18 khu kinh tế ven biển Khảo sát học tập kinh nghiệm tại Khu kinh tế Thâm Quyến

và Khu kinh tế Chu Hải Trung Quốc về phát triển khu kinh tế cacbon thấp

(3) Viện Khoa học Quản lý Môi trường thực hiện Nghiên cứu, đánh giá tiềm năng lợi ích kép về môi trường của các hoạt động ứng phó với biến đối khí hậu ở Việt Nam Trong đó, tính toán lượng hóa lợi ích về chất lượng môi trường nước của các giải pháp giảm nhẹ phát thải KNK thông qua quản lý nước thải sinh hoạt đô thị, nông thôn và nước thải công nghiệp, thông qua quản lý rác thải;

và đề xuất chính sách lồng ghép cách tiếp cận lợi ích kép trong đánh giá, thẩm định các chương trình, dự án về giảm nhẹ phát thải KNK

Việt Nam cũng đã thực hiện nhiều chương trình, dự án tăng cường năng lực, nghiên cứu kỹ thuật, thiết kế các giải pháp, hỗ trợ xây dựng và thực hiện giảm nhẹ phát thải KNK, một trong số đó có thể kể đến:

(1) Dự án chuyển hóa các-bon thấp trong lĩnh vực tiết kiệm năng lượng (LCEE) là dự án hợp tác giữa Chính phủ Đan Mạch và Chính phủ Việt Nam để

hỗ trợ và đóng góp vào mục tiêu tiết kiệm 5-8% năng lượng của chương trình mục tiêu quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả (VNEEP) Dự án bao gồm hai hợp phần: 1) Cải thiện hiệu quả năng lượng trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) thuộc ba ngành: sản xuất gạch, gốm và chế biến thực phẩm 2) Cải thiện hiệu quả năng lượng trong các công trình xây dựng nhằm hỗ trợ Bộ XD thực hiện Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về Các công trình xây dựng

sử dụng năng lượng hiệu quả Dự án ước tính giảm phát thải trung bình 200 tấn CO2tđ/doanh nghiệp/năm, Với ngân sách 6,5 triệu USD chương trình có khả năng hỗ trợ cho 150 DNVVN với ước tính giảm phát thải đạt 30.000 tCO2/năm

Trang 28

(2) Dự án Chuẩn bị sẵn sàng cho xây dựng thị trường các-bon tại Việt Nam (PMR) Dự án thuộc khuôn khổ Chương trình PMR quốc tế do các quốc gia phát triển đóng góp tài chính và ủy thác cho WB quản lý Dự án tăng cường năng lực xây dựng, thực hiện và phổ biến các chính sách, công cụ quản lý nhà nước đối với các NAMA, hình thành công cụ thị trường, thí điểm NAMA trong sản xuất thép và quản lý chất thải rắn (CTR) và xây dựng lộ trình tham gia thị trường các-bon trong nước và thế giới

(3) Chương trình hỗ trợ phát triển điện gió tại Việt Nam Chương trình được phát triển trong khuôn khổ dự án “Tạo điều kiện thuận lợi và sẵn sàng cho các hoạt động giảm nhẹ phát thải khí nhà kính (FIRM)” do Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UNEP) thực hiện tại Việt Nam Mục tiêu chung của NAMA này nhằm thúc đẩy phát triển điện gió để đóng góp vào việc giảm phát thải KNK của Việt Nam thông qua việc gỡ bỏ các rào cản về chính sách, năng lực và công nghệ Mục tiêu cụ thể bao gồm: i) Tăng cường phối hợp và tham gia của các bộ, ngành liên quan để phát triển điện gió; và ii) Tăng cường hỗ trợ để xúc tiến đầu tư các dự án điện gió Dự án ước tính giảm 5.2 triệu tấn CO2tđ đến năm 2020 và 66,6 triệu tấn CO2tđ đến năm 2030

(4) Dự án Vận tải hành khách bằng xe buýt được xây dựng trong khuôn khổ dự án “Xây dựng khung tổng thể cho NAMA và MRV tại Việt Nam” (GIZ/IMHEN NAMA) Các hoạt động của dự án gồm ba phần chính: 1) Giới thiệu xe buýt các-bon thấp (xe lai, xe lai cắm sạc và xe điện); 2) Cải thiện hiệu quả xe buýt thông qua các biện pháp sử dụng lốp tiết kiệm nhiên liệu, lái xe sinh thái, thiết bị tạm dừng động cơ khi không hoạt động và nâng cao hiệu quả hoạt động của các nhà khai thác xe buýt thông qua các biện pháp như tối ưu hóa tuyến, luồng; 3) Góp phần cải tiến hệ thống giao thông công cộng thông qua các biện pháp như quy hoạch giao thông công cộng, dịch vụ xe buýt chất lượng cao, bán vé thông minh và tích hợp hệ thống Dự án ước tính giảm phát thải 4,9 triệu tấn CO2tđ từ 2018 đến 2030

Trang 29

(5) Dự án Khí sinh học cho phát điện tại chỗ của các trang trại nuôi lợn vừa và lớn Dự án này được phát triển trong khuôn khổ dự án FIRM do UNEP tài trợ Khí sinh học sinh ra trong quá trình xử lý chất thải tại các trang trại nuôi lợn qui mô vừa và lớn được sử dụng làm nguồn nhiên liệu tái tạo cho phát điện tại chỗ, được kết nối với lưới điện Quốc gia hoặc trạm phân phối điện nông thôn qua đó góp phần giảm nhẹ KNK, bảo vệ môi trường và phát triển chăn nuôi bền vững Dự án ước tính giảm 2,03 triệu tấn CO2tđ vào năm 2030

1.3 Hiện trạng xả thải của các lò giết mổ gia súc tại Việt Nam

1.3.1 Nguồn thải

Các loại nước thải trong ngành công nghiệp chế biến thực phẩm chứa rất nhiều chất hữu cơ Nước thải này thường có lưu lượng biến động trong một vài giờ trong ngày, cũng có thể có dao động lớn về lượng và nồng độ của các phần

tử Hơn nữa, trong một năm có thể sẽ xảy ra biến động lớn về điều kiện nước thải tùy thuộc khả năng tận dụng sản xuất Điều này đúng với các lò mổ, các nhà máy sản xuất, chế biến thịt Tùy thuộc vào quy trình sản xuất, các loại nước thải

có thể chứa một lượng muối hoặc axit cao Ví dụ, nước thải trong các lò giết mổ lợn có thể sinh ra từ các quá trình xử lý: giết mổ, máu, da; xử lý thịt; xử lý nội tạng; cặn bã; vệ sinh chuồng; tẩy uế xe chở lợn;… Thành phần chính của nước thải loại này chủ yếu là máu và mỡ thải ra từ trong lò giết mổ, từ các bộ phận nội tạng, phân và chuồng trại Khối lượng và thành phần của nước thải từ lò mổ gia súc (khối lượng 400 kg khi còn sống) là 0,6 – 9,6 m3

/con, nhu cầu ôxi hóa sinh hoạt trong 5 ngày đầu (BOD5) là 2,4 – 10,4 kg/con; lò mổ lợn (100 kg khi còn sống) là 0,3 – 0,4 m3/con, BOD5 là 0,43 – 2,1 kg/con; lò mổ gia cầm là 20 –

40 l/lò mổ, BOD5 là 6-30 g/lò mổ (Nguyễn Xuân Nguyên, 2003)

Trong các lò mổ, súc vật để giết mổ cần được nhốt trong chuồng sạch Quá trình này tạo ra các chất thải lỏng và rắn Trước khi mổ súc vật để làm thịt, súc vật được vệ sinh sạch để loại bỏ phân và bùn đất bám vào cơ thể Tiết được thu gom và không thải bỏ cùng với nước thải Sau khi giết, động vật được xử lý bằng nước sôi từ 4-6 phút ở nhiệt độ 60oC và lông được cạo bỏ Quá trình này

Trang 30

tạo ra nước nóng, lông và một lượng mỡ nhỏ Trong quá trình chế biến, nội tạng được làm sạch, quá trình này tạo ra nước bị ô nhiễm với màng nhầy, phân và chất tẩy rửa Dạ dày và ruột đầu tiên được đưa đến những khu vực khác nhau và cũng được làm sạch, tạo ra nước thải

Hình 1.4: Quy trình giết mổ trâu bò và chất thải phát sinh

Cụ thể, quy trình giết mổ trâu bò: chi tiết của Quy trình giết mổ trâu bò và các chất thải phát sinh ở từng công đoạn được thể hiện như hình dưới đây Trước hết, trâu bò được vận chuyển đến chuồng nhốt của lò mổ và sau đó đưa đến khu giết mổ Chúng bị giết thịt bằng súng điện hoặc búa tạ Sau đó tiết và các bộ phận lòng, dạ dày, tim… của gia súc được thu gom, rửa sạch và tạo thành các sản phẩm để bán Sau khi lấy hết tiết, công nhân tiến hành chặt, xẻ các bộ phận của gia súc và tách da Da được làm sạch, sơ chế, ướp muối và được thu gom, vận chuyển đến các nhà máy thuộc da Lòng, ruột, nội tạng sau khi loại bỏ

sẽ được chuyển tới khâu làm phủ tạng Tiếp đó, thịt đã được loại bỏ nội tạng sẽ được đưa vào khâu xẻ thịt và lọc thịt; thịt được lọc theo vị trí các bộ phận của súc vật đều được phân loại, lọc

Quy trình giết mổ lợn về cơ bản cũng giống quy trình giết mổ trâu bò nhưng được tự động hóa hơn so với giết mổ trâu bò Các khâu vận chuyển, nhốt, rạch mổ, lấy tiết, loại bỏ nội tạng và làm lòng ruột đều tương tự như giết mổ trâu

Trang 31

bò Tuy nhiên, khi giết mổ lợn có thêm các khâu dội nước sôi, cạo lông, thui và chải rửa

Hình 1.5: Quy trình giết mổ lợn và chất thải phát sinh

Ở các thành phố, những cơ sở giết mổ tập trung quy mô nhỏ hoặc giết mổ thủ công cá nhân, nước phục vụ hoạt động giết mổ lấy từ giếng khoan, nhưng không ít trường hợp lấy từ nước ao, sau đó nước thải từ quy trình giết mổ lại thải

ra cống, xuống ao, sông, mà không qua xử lý, gây ô nhiễm nghiêm trọng, đồng nghĩa với việc xả một lượng lớn khí nhà kính ra môi trường Sản phẩm của các khu giết mổ động vật ở đây chủ yếu là thịt, mỡ, các sản phẩm từ các nguyên liệu thô, một số phụ phẩm như xương (chiếm 30-40%), nội tạng, da, lông, phân, ruột, Hầu hết các bộ phận nội tạng và các cặn thịt thừa, xương sau khi giết mổ hầu như không được xử lý Phần lớn tại các lò giết mổ này, xung quanh khu vực giết mổ, máu, nội tạng hòa lẫn cùng nước thải gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng Chủ các cơ sở giết mổ tận dụng ngay bếp, sân giếng, bậc lên xuống làm nơi giết mổ Mặt khác, người chăn nuôi thường cho gia súc ăn no trước khi xuất

Nước rửa, lông, da Cắt bỏ chân

Trang 32

chuồng và đưa lên xe vận chuyển Gia súc không được nhịn đói để làm sạch bộ máy tiêu hóa và không cho uống nước, nghỉ ngơi đủ 24 giờ Vì vậy, sức đề kháng giảm, khả năng nhiễm khuẩn qua đường tiêu hóa vào thịt rất cao, kể cả thịt có qua kiểm dịch được vận chuyển bao gói cẩn thận, thịt không được kiểm dịch không được bao gói và vận chuyển tùy tiện nguy cơ gây lan tràn dịch bệnh, nguy cơ ngộ độc thực phẩm làm mất an toàn cho người tiêu dùng là khó tránh khỏi Cuối cùng là vấn đề vệ sinh tiêu độc nơi giết mổ trang thiết bị, dụng

cụ Thực tế hiện nay, phần lớn điểm giết mổ gia súc đều không quan tâm đến công tác vệ sinh tiêu độc, khử trùng dụng cụ giết mổ, tiêu độc trước và sau giết

mổ, tiêu độc định kỳ khu giết mổ chưa được thực hiện Bởi vậy nếu các vi khuẩn

vi rút lan truyền qua nước thải và chất thải rắn giết mổ ra môi trường sẽ gây hại lớn tới sức khỏe người dân và môi trường sống ở khu vực lân cận Phần lớn các

lò giết mổ này đều không có hệ thống xử lý nước thải, hoặc nếu có thì rất sơ sài

và mang nặng tính đối phó Một số cơ sở có hệ thống xử lý nước thải được đầu

tư từ rất lâu, xử lý không đúng cách và nay đã xuống cấp nghiêm trọng Chính bởi vậy, nguy cơ gây ô nhiễm từ chất thải của các lò giết mổ là rất cao

1.3.2 Nước thải trong các lò giết mổ

a Thành phần lý hóa sinh học của nước thải lò giết mổ

Ô nhiễm nước thải từ hoạt động giết mổ bao gồm cả 3 dạng là: ô nhiễm hữu cơ trực tiếp nước tiểu gia súc trước giết mổ, nước sử dụng trong giết mổ hòa lẫn với tiết và phân gia súc, nước thải sinh hoạt cục bộ ); ô nhiễm sinh học trực tiếp (do vi sinh vật có hại và cả mầm bệnh thải ra từ các gia súc gia cầm bị giết

mổ, từ nguồn nhân lực không được kiểm tra sức khỏe định kỳ phù hợp) và ô nhiễm sinh học thứ phát (do điều kiện giết mổ mất vệ sinh đã tạo ra môi trường cho hệ vi sinh vật có hại phát triển bùng phát, mầm bệnh phát triển và lây lan, nhất là các nhóm vi sinh vật nhạy cảm và các vi sinh vật gây bệnh, đặc biệt là các loài vi sinh vật gây bệnh nguy hiểm như tả, lỵ thương hàn )

Thành phần vật lý của nước thải được xác định dựa trên các chỉ tiêu: màu sắc, mùi, nhiệt độ và lưu lượng Màu: nước thải mới có màu nâu hơi sáng, tuy

Trang 33

nhiên thường là có màu xám có vẩn đục Nếu nước thải bị nhiễm khuẩn thì màu sắc nước thải sẽ thay đổi; Mùi: do các khí sinh ra trong quá trình phân hủy các hợp chất hữu cơ hay do một số chất được đưa thêm vào; Nhiệt độ: nhiệt độ nước thải thường cao hơn so với nguồn nước sạch ban đầu do có sự gia nhiệt vào nước; Lưu lượng: thể tích thực nước thải, có đơn vị m3/ngày Vận tốc dòng chảy luôn thay đổi theo ngày

Thành phần hóa học: Nước thải chứa các hợp chất hoá học dạng vô cơ, nhiều chất hữu cơ như phân, nước tiểu và các chất thải khác như dầu, mỡ Nước thải vừa xả ra thường có tính kiềm, nhưng dần trở nên có tính axit vì thối rữa từ các chất hữu cơ có xuất xứ từ động vật và thực vật

(i) Các chất rắn

Tổng các chất rắn có thể chia làm hai thành phần: chất rắn lơ lửng (có thể lọc được) và chất rắn hòa tan (không lọc được) Các chất rắn lơ lửng bao gồm: Các chất không hòa tan ở dạng lơ lửng, kích thước lớn hơn 10-4

mm, có thể ở dạng huyền phù; Các tạp chất bẩn dạng keo với kích thước dạng hạt trong khoảng 10-4 đến 10-6 mm; Các tạp chất nổi có trọng lượng riêng nhỏ hơn trọng lượng riêng của nước; Ngoài ra, nước thải còn bao gồm các chất bẩn dạng tan có kích thước nhỏ hơn 10-6

mm, có thể ở dạng phân tử hoặc phân ly thành ion (ii) Các chất vô cơ

Nước thải lò mổ và từ các xí nghiệp giết mổ sản phẩm động vật luôn có một lượng chất thải vô cơ như: ion SO4, NO3, NH4, Cl, PO4, Na, K…

(iii) Các chất hữu cơ

Những chất hữu cơ trong nước thải có thể chia thành các chất các-bon và các chất nitơ Các hợp chất chứa các-bon như xà phòng, hydro cacbon trong đó

có cả xenlulo…Các hợp chất chứa nitơ chủ yếu như ure, protein, amin, axit amin… Chất hữu cơ dễ bị phân hủy sinh học bao gồm các chất như hydro các-bon, protein, chất béo…Đây là những chất gây ô nhiễm nước thải khu đô thị, từ ngành công nghiệp chế biến thực phẩm, các nhà máy chế biến sữa, lò giết mổ

Trang 34

Chất hữu cơ tiêu thụ ôxy rất mạnh dẫn đến nguồn tiếp nhận bị suy thoái tài nguyên thủy sản và giảm chất lượng nguồn cấp nước cho sinh hoạt Để đánh giá lượng chất hữu cơ trong chất thải thường sử dụng các thông số: nhu cầu oxy trong quá trình sinh hóa (BOD) và nhu cầu oxy hóa học (COD)

(iv) Các chất khác

Các chất dầu mỡ có trọng lượng riêng thấp nên nổi trên bề mặt nước Các chất dầu mỡ phủ lên bề mặt của hệ thống xử lý chất thải làm tắc đường ống, hệ thống bơm và các màng chắn, làm giảm sự chuyển hóa ôxy và có thể làm suy giảm nghiêm trọng đến hiệu quả của hệ thống xử lý bằng phương pháp hiếu khí

Thành phần sinh học: Nước thải nhiễm nhiều loại vi sinh vật, trong đó có nhiều loài vi khuẩn gây bệnh, đặc biệt là về đường tiêu hóa, tả lị, thương hàn, ngộ độc thực phẩm Trong phân và nước thải của lò mổ có chứa các loại vi khuẩn đường ruột như E.coli, Salmonenlla, Shigenlla, Proteus, Clostridium tetani Ngoài ra trong phân và nước thải gia súc còn chứa các loại trứng giun sán như Fasiola hepatica, Fasiola gigantica, Fasiola buski, Ascaris suum… Chất lượng về mặt vi sinh của nước thường được biểu thị bằng nồng độ của vi khuẩn chỉ thị và về nguyên tắc đó là nhóm trực khuẩn (coliform) Thông số được sử dụng rộng rãi nhất là chỉ số coli

b Đặc tính nước thải các lò giết mổ ở Việt Nam

Theo tài liệu “Xử lý nước thải công nghiệp và đô thị” của TS Lâm Minh Triết (2006), hàm lượng BOD, COD, SS của nước thải giết mổ trung bình lần lượt là 1800 mg/l, 2.700 mg/l và 810 mg/l; Lượng coliform là 25.000x103MPN/100 ml Ngoài ra nước thải giết mổ còn chứa một lượng lớn muối ăn (NaCl) và dầu mỡ phát sinh trong quy trình giết mổ Cụ thể, thành phần nước thải tại cơ sở giết mổ gia súc ở Việt Nam bao gồm hàm lượng BOD, COD, SS, Phốt-pho, nitơ khá cao, bên cạnh đó còn chứa một hàm lượng muối lớn và mầm bệnh như là vi khuẩn Samonella, Shigella, ký sinh trùng, amip, nang bào, dư lượng thuốc trừ sâu, độc chất…từ thức ăn của gia súc còn lại trong phân và nội tạng Hiện trạng ô nhiễm ở các làng giết mổ hay các lò giết mổ tập trung ở Việt

Ngày đăng: 25/05/2020, 15:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm