Khái niệm giáo dục pháp luật được các tác giả thống nhất trong các tài liệu khoa học về pháp luật ở nước ta như sau: “Giáo dục pháp luật là một hoạt động có định hướng, có tổ chức, có ch
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRỊNH ĐĂNG CƯỜNG
GI¸O DôC PH¸P LUËT CHO NG¦êI D¢N VïNG BI£N GIíI
CñA TØNH THANH HO¸
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2020
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRỊNH ĐĂNG CƯỜNG
GI¸O DôC PH¸P LUËT CHO NG¦êI D¢N VïNG BI£N GIíI
CñA TØNH THANH HO¸
Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật
Mã số: 83 80 101 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN HOÀNG ANH
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Trịnh Đăng Cường
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục bảng
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO NGƯỜI DÂN VÙNG BIÊN GIỚI 6
1.1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ VAI TRÒ CỦA GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO NGƯỜI DÂN VÙNG BIÊN GIỚI 6
1.1.1 Khái niệm giáo dục pháp luật cho người dân vùng biên giới 6
1.1.2 Đặc điểm về giáo dục pháp luật cho người dân vùng biên giới 7
1.1.3 Vai trò của giáo dục pháp luật cho người dân vùng biên giới 10
1.2 NỘI DUNG, HÌNH THỨC, PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO NGƯỜI DÂN VÙNG BIÊN GIỚI 12
1.2.1 Nội dung giáo dục pháp luật cho người dân vùng biên giới 12
1.2.2 Hình thức và phương pháp giáo dục pháp luật cho người dân vùng biên giới 13
1.3 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG VÀ ĐIỀU KIỆN ĐẢM BẢO ĐỐI VỚI VIỆC GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO NGƯỜI DÂN VÙNG BIÊN GIỚI 17
1.3.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến giáo dục pháp luật cho người dân vùng biên giới 17
1.3.2 Các điều kiện đảm bảo giáo dục pháp luật cho người dân vùng biên giới 19
Tiểu kết chương 1 23
Trang 5CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO NGƯỜI
DÂN VÙNG BIÊN GIỚI CỦA TỈNH THANH HOÁ HIỆN NAY 24
2.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI ẢNH HƯỞNG ĐẾN GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO NGƯỜI DÂN VÙNG BIÊN GIỚI CỦA TỈNH THANH HOÁ 24
2.1.1 Đặc điểm và điều kiện tự nhiên 24
2.1.2 Đặc điểm về kinh tế - xã hội 30
2.2 THỰC TRẠNG GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO NGƯỜI DÂN VÙNG BIÊN GIỚI Ở TỈNH THANH HOÁ 32
2.2.1 Những kết quả đạt được 32
2.2.2 Những hạn chế 42
2.2.3 Nguyên nhân của kết quả, hạn chế 48
Tiểu kết chương 2 54
CHƯƠNG 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO NGƯỜI DÂN VÙNG BIÊN GIỚI CỦA TỈNH THANH HOÁ 55
3.1 QUAN ĐIỂM GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO NGƯỜI DÂN VÙNG BIÊN GIỚI CỦA TỈNH THANH HOÁ 55
3.1.1 Quán triệt sâu sắc chủ trương, đường lối của Đảng và thực hiện nghiêm túc các quy định của pháp luật về giáo dục pháp luật nói chung, giáo dục pháp luật cho người dân vùng biên giới nói riêng 55
3.1.2 Giáo dục pháp luật cho người dân vùng biên giới của tỉnh Thanh Hoá phải luôn đặt dưới sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng và sự chỉ đạo sâu sát của các cấp chính quyền địa phương 57
3.1.3 Giáo dục pháp luật cho người dân vùng biên giới của tỉnh Thanh Hoá phải thu hút sự tham gia chủ động, tích cực của tất cả các cơ quan, ban, ngành, tổ chức, đoàn thể 58
3.2 GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO NGƯỜI DÂN VÙNG BIÊN GIỚI CỦA TỈNH THANH HOÁ 60
Trang 63.2.1 Xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật, chương trình,
kế hoạch về giáo dục pháp luật cho người dân vùng biên giới tỉnh
Thanh Hoá 60
3.2.2 Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý, điều hành của chính quyền các cấp đối với giáo dục pháp luật cho người dân vùng biên giới tỉnh Thanh Hoá 62
3.2.3 Chỉ đạo, hướng dẫn và tổ chức thực hiện giáo dục pháp luật 65
3.2.4 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực giáo dục pháp luật cho người dân vùng biên giới tỉnh Thanh Hoá 66
3.2.5 Đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục pháp luật đối với người dân vùng biên giới tỉnh Thanh Hoá 68
3.2.6 Tăng cường kinh phí, cơ sở vật chất và điều kiện bảo đảm triển khai giáo dục pháp luật đối với người dân vùng biên giới tỉnh Thanh Hoá 71
Tiểu kết Chương 3 73
KẾT LUẬN 74
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 76
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Diện tích, dân số của vùng biên giới tỉnh Thanh
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong công cuộc đổi mới, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, bên cạnh việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật luôn giữ vị trí quan trọng trong đời sống xã hội Công tác này đã được Đảng
và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm, coi đó là một trong những nhiệm vụ trọng tâm nhằm tăng cường quản lý xã hội bằng pháp luật
Công tác giáo dục pháp luật nói chung và giáo dục pháp luật cho người dân ở nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, hải đảo nói riêng trong giai đoạn hiện nay giữ một vai trò rất quan trọng trong chiến lược phát triển đất nước Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp luật về giáo dục pháp luật như: Ngày 12/3/2008, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 37/2008/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật từ năm 2008 đến năm 2012; Ngày 20/6/2012, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật Phổ biến, Giáo dục pháp luật (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2013); Ngày 15 tháng 07 năm 2013, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1133/QĐ-TTg với đề án tăng cường phổ biến, giáo dục pháp luật cho cán bộ, nhân dân vùng biên giới, hải đảo giai đoạn 2013 - 2016 Tiếp tục đề án, ngày 08 tháng 8 năm 2017 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1163/QĐ-TTg phê duyệt Đề án "Đẩy mạnh công tác phổ biến, giáo dục pháp luật và tuyên truyền, vận động đồng bào vùng dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2017 - 2021"…
Trên cơ sở đó, thời gian qua công tác giáo dục pháp luật nói chung, giáo dục pháp luật cho cán bộ, nhân dân ở nông thôn, miền núi, vùng sâu,
Trang 9vùng xa, vùng biên giới, hải đảo nói riêng đã đạt được nhiều kết quả đáng kể, góp phần nâng cao trình độ hiểu biết về pháp luật và văn hóa pháp lý trong nhân dân, bước đầu tạo dựng ổn định trong lối sống, làm việc theo Hiến pháp
và pháp luật ở các đối tượng cụ thể Tuy nhiên, cho đến nay, so với nhu cầu thực tiễn, công tác giáo dục pháp luật nói chung vẫn còn nhiều bất cập và hạn chế, nhất là giáo dục pháp luật cho người dân ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn trong đó có người dân vùng biên giới ở tỉnh Thanh Hoá
Trong những năm qua, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, đời sống vật chất cũng như ý thức pháp luật của người dân miền núi, vùng dân tộc thiểu số, vùng biên giới và hải đảo nói chung, người dân vùng biên giới của Thanh Hoá nói riêng được nâng lên rõ rệt Tuy nhiên, do đặc điểm khá đặc biệt xét trên phương diện lịch sử, kinh tế, văn hóa, xã hội và tín ngưỡng tôn giáo, dân tộc của người dân địa phương (chủ yếu sống ở vùng núi cao, nông thôn) còn nghèo, họ quan tâm đến nhu cầu tìm kiếm cơm ăn, áo mặc hơn nhu cầu tiếp xúc các tri thức văn hóa, chuẩn mực xã hội trong đó có pháp luật Mặt khác, ở các huyện vùng biên giới của tỉnh Thanh Hoá với đặc điểm giao thông đi lại khó khăn, dân cư sống thưa thớt chủ yếu là dân tộc thiểu số; trình
độ dân trí còn thấp, có nơi còn tồn tại những phong tục, tập quán lạc hậu; đời sống, kinh tế, văn hóa, vật chất, tinh thần còn gặp nhiều khó khăn, pháp luật trong một số lĩnh vực hầu như "vắng bóng" trong cộng đồng dân tộc thiểu số Luật tục ảnh hưởng sâu sắc, trong đó có những luật tục tốt mang ý nghĩa tích cực cần được phát huy và cả những hủ tục lạc hậu, nặng nề cần được loại bỏ
để phù hợp với đời sống hiện nay Bởi vậy, quan tâm GDPL cho người dân vùng biên giới tỉnh Thanh Hoá là vấn đề có ý nghĩa quan trọng
Với những lý do trên, việc nghiên cứu "Giáo dục pháp luật cho người
dân vùng biên giới của tỉnh Thanh Hoá" là vấn đề cần thiết có ý nghĩa lý
luận và thực tiễn thiết thực Do vậy, tác giả lựa chọn đề tài trên làm đề tài nghiên cứu của mình
Trang 102 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong giai đoạn hiện nay, GDPL là vấn đề hết sức quan trọng Việc nghiên cứu về GDPL dưới góc độ khoa học pháp lý được các nhà khoa học Việt Nam rất quan tâm Cho đến nay có nhiều công trình nghiên cứu về GDPL của tập thể, cá nhân đã được công bố, tiêu biểu là:
"Bàn về giáo dục pháp luật", sách của tác giả Trần Ngọc Đường,
Dương Thanh Mai do Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội xuất bản năm 1995
"Xây dựng ý thức và lối sống theo pháp luật" của tác giả Đào Trí Úc do
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội xuất bản năm 1995
Dương Thị Thanh Mai (1996), “Giáo dục pháp luật qua hoạt động tư
pháp”, Luận án phó tiến sĩ Luật học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí
Minh, Hà Nội của tác giả Dương Thanh Mai năm 1996
"Giáo dục pháp luật cho đội ngũ cán bộ, công chức hành chính trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam", luận
án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Quốc Sửu năm 2010
“Giáo dục pháp luật cho nông dân tỉnh Vĩnh Phúc”, luận văn thạc sĩ,
Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội của tác giả Vi Thị Tuyết Ngân năm 2014
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu khoa học của tập thể, cá nhân, các bài viết của các tác giả từ trước đến nay về GDPL đã đóng góp rất nhiều các vấn đề cơ bản cả về vấn đề lý luận và thực tiễn dưới nhiều góc độ khác nhau về GDPL Tuy nhiên, có thể nói rằng, cho đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ và có hệ thống về GDPL cho người dân vùng biên giới nói chung và GDPL cho người dân vùng biên giới ở tỉnh Thanh Hoá nói riêng Vì vậy, đây là đề tài đầu tiên nghiên cứu có hệ thống vấn đề GDPL cho người dân vùng biên giới trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá
Trang 113 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích lý luận và đánh giá thực trạng GDPL cho người dân vùng biên giới ở tỉnh Thanh Hoá, luận văn đề xuất những quan điểm và giải pháp tăng cường công tác GDPL cho người dân vùng biên giới tỉnh Thanh Hoá trong thời gian tới
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích trên, luận văn có những nhiệm vụ sau:
- Làm rõ những vấn đề lý luận về GDPL cho người dân vùng biên giới
- Phân tích, đánh giá thực trạng GDPL cho người dân vùng biên giới trong 5 năm qua ở Thanh Hoá để rút ra những mặt mạnh, mặt hạn chế, yếu kém, nguyên nhân của những kết quả và hạn chế của công tác này
- Đề ra được các quan điểm và giải pháp tăng cường công tác GDPL cho người dân vùng biên giới ở tỉnh Thanh Hoá trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu những quan điểm học thuyết lý luận và thực trạng
về GDPL cho người dân vùng biên giới ở tỉnh Thanh Hoá
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu thực trạng và giải pháp tăng cường công tác GDPL cho người dân vùng biên giới ở tỉnh Thanh Hoá
- Luận văn giới hạn thời gian nghiên cứu từ năm 2012 đến năm 2017
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác -Lênin
và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật; quan điểm của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam, về GDPL nói chung và cho đối tượng là người dân vùng biên giới nói riêng
Trang 12Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu của chủ nghĩa duy vật biện chứng với các phương pháp: lịch sử - cụ thể, phân tích, tổng hợp, kết hợp với các phương pháp nghiên cứu khác: so sánh, hệ thống, thống kê
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Luận văn góp phần làm phong phú thêm kho tàng lý luận về GDPL, làm rõ tính đặc thù của công tác GDPL cho người dân vùng biên giới ở Việt Nam nói chung và tỉnh Thanh Hoá nói riêng
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn góp phần nâng cao nhận thức và trách nhiệm chỉ đạo tổ chức hoạt động thực tiễn của các cơ quan đảng và nhà nước trong việc GDPL cho người dân vùng biên giới nói chung và người dân vùng biên giới ở tỉnh Thanh Hoá nói riêng Đồng thời là tài liệu cho việc hoạch định chính sách đối với người dân vùng biên giới, xây dựng hoàn thiện các chương trình GDPL cho người dân vùng biên giới ở Việt Nam và tỉnh Thanh Hoá, dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu giảng dạy, tuyên truyền, GDPL…
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về giáo dục pháp luật cho người dân vùng
biên giới
Chương 2: Thực trạng giáo dục pháp luật cho người dân vùng biên giới
của tỉnh Thanh Hoá hiện nay
Chương 3: Quan điểm và giải pháp tăng cường giáo dục pháp luật cho
người dân vùng biên giới của tỉnh Thanh Hoá
Trang 131.1.1 Khái niệm giáo dục pháp luật cho người dân vùng biên giới
Theo Từ điển từ và ngữ Hán – Việt: “Giáo dục là quá trình hoạt động
có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có tổ chức nhằm bồi dưỡng cho con người những phẩm chất đạo đức và những tri thức cần thiết để người ta có khả năng tham gia mọi mặt của đời sống xã hội” [37, tr.3]
Theo Sổ tay hướng dẫn nghiệp vụ Phổ biến giáo dục pháp luật thì:
“Giáo dục pháp luật là một khái niệm rộng bao gồm cả quá trình nâng cao tri thức pháp luật cho đối tượng và bằng nhiều cách (thuyết phục, nêu gương, ám thị ) hình thành tình cảm, niềm tin pháp luật cho đối tượng, từ
đó nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật của đối tượng” [8, tr.7]
Khái niệm giáo dục pháp luật được các tác giả thống nhất trong các tài liệu khoa học về pháp luật ở nước ta như sau: “Giáo dục pháp luật là một hoạt động có định hướng, có tổ chức, có chủ đích của chủ thể giáo dục thông qua các hình thức, phương pháp khác nhau tác động lên đối tượng giáo dục một cách có hệ thống nhằm hình thành ở họ một cách bền vững tri thức pháp lý, ý thức pháp luật, tình cảm, niềm tin và hành vi phù hợp với pháp luật hiện hành, xây dựng lối sống theo pháp luật” [23, tr 6-8]
Với khái niệm GDPL nêu trên, trong điều kiện đất nước ta đang mở cửa, hội nhập thì việc cung cấp, trang bị những tri thức pháp luật, xây dựng
Trang 14tình cảm và thói quen xử sự bằng pháp luật cho người dân vùng biên giới là hết sức cần thiết, đây là trách nhiệm của Đảng, của các cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội và của toàn xã hội
Giáo dục pháp luật cho người dân vùng biên giới là một trong những vấn đề mà Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm trong những năm qua Việc GDPL phải được tiến hành đồng thời và luôn gắn với phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống cho người dân vùng biên giới Nếu không GDPL, nâng cao dân trí cho người dân vùng biên giới thì không thể phát triển kinh tế - xã hội, không thể đấu tranh tiến tới xoá bỏ các hủ tục lạc hậu, tệ nạn xã hội như: ma chay, tảo hôn, phạm pháp hình sự, buôn bán phụ nữ, mê tín dị đoan, các vi phạm do thiếu hiểu biết pháp luật, vi phạm về đất đai, bảo vệ rừng
Do vậy việc GDPL cho người dân vùng biên giới là một nhu cầu cấp bách, rất cần thiết trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước ta trong giai đoạn hiện nay
Từ những phân tích ở trên, có thể hiểu công tác GDPL cho người dân
vùng biên giới như sau: Giáo dục pháp luật cho người dân vùng biên giới là
hoạt động có tổ chức, có mục đích, có tính định hướng của chủ thể giáo dục, tác động lên đối tượng giáo dục là người dân vùng biên giới, nhằm hình thành ở họ những tri thức pháp luật, tạo niềm tin vào pháp luật để họ có đầy
đủ khả năng tham gia vào các quan hệ xã hội phù hợp với các quy định của
hệ thống pháp luật hiện hành
1.1.2 Đặc điểm về giáo dục pháp luật cho người dân vùng biên giới
Giáo dục pháp luật cho người dân vùng biên giới là hình thức giáo dục đặc thù, ngoài đặc điểm chung, GDPL cho người dân vùng biên giới còn có đặc điểm riêng Cụ thể là:
Trang 15Thứ nhất, về mục đích giáo dục
Về phương diện lý luận mục đích của GDPL cho người dân vùng biên giới là nâng cao hiểu biết kiến thức về pháp luật, tạo cho nhân dân hình thành niềm tin vào pháp luật, từ đó nâng cao ý thức tự giác chấp hành pháp luật của người dân vùng biên giới
Việc xác định đúng đắn mục đích của GDPL cho người dân vùng biên giới có ý nghĩa to lớn về lý luận và thực tiễn Về phương diện lý luận, việc xác định mục đích của GDPL cho người dân vùng biên giới sẽ là cơ sở khách quan cho việc xác định hình thức, phương tiện, nội dung, phương pháp giáo dục Về thực tiễn, xác định đúng mục đích của GDPL cho người dân vùng biên giới sẽ phát huy được vai trò của nó trong toàn bộ hoạt động GDPL và đối với xã hội
Thứ hai, về chủ thể giáo dục
Nếu hiểu theo nghĩa rộng, chủ thể GDPL là những cá nhân, tổ chức mà bằng hoạt động của mình trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia vào quá trình GDPL Với nhận thức này thì chủ thể GDPL bao gồm: Tổ chức Đảng, các cơ quan Nhà nước các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức và các cá nhân nhất định
Theo nghĩa hẹp, chủ thể GDPL là con người cụ thể, có năng lực hành
vi, có phẩm chất chính trị đạo đức tốt, có năng lực trình độ chuyên môn, trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia vào quá trình GDPL
Với đối tượng GDPL là người dân vùng biên giới, một đối tượng có đặc điểm đặc thù thì để công tác GDPL đạt hiệu quả, ngoài nội dung, hình thức phương pháp phù hợp, việc lựa chọn chủ thể GDPL là hết sức quan trọng Chủ thể GDPL cho người dân vùng biên giới ngoài những tiêu chuẩn
Trang 16trên cần có chủ thể là người có sự nhiệt tình, tâm huyết, có hiểu biết về phong tục tập quán, am hiểu tâm lý của nhân dân và biết tiếng dân tộc thiểu số
Chủ thể GDPL cho người dân vùng biên giới ở đây vấn đề quan trọng không phải ở số lượng chủ thể, mà ở chỗ các chủ thể có khả năng điều kiện thích ứng được đối tượng giáo dục, với địa bàn, môi trường sống của người dân vùng biên giới, có cách thức, phương pháp phù hợp và phải lấy được
"lòng dân" Cụ thể Ủy ban nhân dân các cấp là chủ thể tuyên truyền GDPL cho nhân dân Thực hiện nhiệm vụ này UBND giao cho Sở Tư pháp, phòng
Tư pháp ở địa phương Các luật sư, luật gia không phải là cán bộ, công chức
có nghĩa họ hành nghề chuyên trách Chủ thể này cần phải đưa họ vào trong đội ngũ báo cáo viên pháp luật bởi họ có trình độ pháp lý vững và thông qua hoạt động tư vấn, bào chữa các luật gia, luật sư đã góp phần hết sức quan trọng vào công tác GDPL
Thứ ba, về đối tượng GDPL cho người dân vùng biên giới
Trong cộng đồng 54 dân tộc anh em, thì người dân vùng biên giới ở miền núi, vùng sâu, vùng xa có điều kiện kinh tế, văn hoá xã hội và tín
ngưỡng tôn giáo khá đặc biệt
Đối tượng GDPL là người dân vùng biên giới - là những người cán
bộ, công chức, viên chức, nông dân, công nhân, trí thức, học sinh, sinh viên Ngoài những đặc điểm nói chung về nghề nghiệp, lứa tuổi, giới tính đối tượng GDPL cho người dân vùng biên giới còn có những đặc điểm đặc
thù khác đó là:
Bên cạnh một bộ phận đồng bào người Kinh còn có đồng bào DTTS đều có điểm chung là rất dễ tin, nhưng niềm tin đó cũng dễ bị thay đổi, bởi vậy hiệu quả của công tác GDPL cho đồng bào DTTS không chỉ là việc làm cho họ hiểu đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước quy
Trang 17định như thế nào mà quan trọng hơn là việc đường lối đó, pháp luật đó có được minh chứng đúng đắn bằng thực tiễn hay không Và điều rất quan trọng
là chủ thể GDPL phải là những người gương mẫu
Đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng biên giới nhìn chung trình độ văn hoá còn thấp Đồng thời là những người chịu nhiều thiệt thòi, ít có điều kiện tiếp xúc, tìm hiểu pháp luật và sử dụng công cụ pháp lý để bảo vệ các quyền
và lợi ích chính đáng của mình Điều đó đòi hỏi phải có những hình thức, biện pháp phù hợp và có hiệu quả hơn để hỗ trợ một cách thiết thực cho những đối tượng này có được hiểu biết về quyền và nghĩa vụ của mình, được tạo điều kiện thuận lợi trong việc sử dụng và bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp Đó chính là cách thể hiện đường lối của Đảng trong công tác GDPL cho người
dân vùng biên giới
Một đặc điểm đặc thù nữa của đồng bào vùng biên giới đó là quan hệ với nước láng giềng, ở các vùng có đông người DTTS sinh sống thuộc khu vực biên giới Việt Nam - Lào, do địa bàn giáp ranh nên vẫn còn xảy ra tình trạng người Lào sang mưu sinh và sau đó ở lại lập gia đình với người Việt Có trường hợp lấy chồng hoặc vợ người Lào nhưng các cặp vợ chồng không đăng ký kết hôn, gây khó khăn trong việc quản lý Bên cạnh đó, do trình độ dân trí còn hạn chế nên tình trạng phá rừng lấy đất sản xuất, thanh niên vi
phạm pháp luật, vượt biên sang Lào lao động trái phép diễn biến phức tạp
1.1.3 Vai trò của giáo dục pháp luật cho người dân vùng biên giới
Thứ nhất, GDPL giúp hình thành ý thức pháp luật và đạo đức cho người dân vùng biên giới, tăng cường sự hiểu biết pháp luật Các quy phạm pháp luật được xây dựng dựa trên nền tảng các nguyên tắc đạo đức Do vậy
mà pháp luật bảo vệ và phát triển đạo đức Giáo dục đạo đức tạo những tiền
đề căn bản để xây dựng sự tôn trọng đối với pháp luật ở công dân, ngược lại,
Trang 18giáo dục pháp luật tạo ra khả năng thiết lập trong đời sống thực tiễn thường ngày những nguyên tắc đạo đức
GDPL đối với người dân vùng biên giới giúp cho đồng bào có tri thức pháp lý, tình cảm pháp luật đúng đắn và hành vi hợp pháp, tạo tiền đề cho việc sử dụng quyền lực nhà nước, tăng cường pháp chế, phát huy dân chủ và quyền tự do của mỗi người; phòng ngừa có hiệu quả các hành vi vi phạm pháp luật của người dân vùng biên giới GDPL cho người dân vùng biên giới góp phần nâng cao ý thức pháp luật, văn hoá pháp lý cho người dân
GDPL cho người dân vùng biên giới nhằm xây dựng cho người dân tư duy về pháp luật, tin vào pháp luật, ý thức được việc sống và làm theo pháp luật, hiểu biết sâu sắc hơn các sự kiện pháp luật trong đời sống
Thứ hai, GDPL cho người dân vùng biên giới góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, quản lý xã hội Đây là vai trò hết sức quan trọng của GDPL cho người dân vùng biên giới Pháp luật là công cụ để quản lý nhà nước, quản lý xã hội Một khi người dân đã tin vào pháp luật, sống và làm việc theo pháp luật, thì việc quản lý nhà nước sẽ dễ dàng hơn, phát huy tối đa hiệu quả của mỗi cơ quan, tổ chức thực thi pháp luật và quyền tự do, dân chủ của mỗi cá nhân
Thứ ba là, GDPL góp phần vào việc tổ chức thực hiện pháp luật của người dân vùng biên giới
Thực hiện pháp luật là một quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy định của pháp luật đi vào cuộc sống, trở thành hành vi thực tế, hợp pháp của chủ thể Thực hiện pháp luật gồm nhiều cấp độ khác nhau, từ việc tuân thủ pháp luật, chấp hành pháp luật đến thực hiện pháp luật Dù ở cấp độ nào cũng đòi hỏi mỗi công dân phải thực hiện đúng theo những quy định của pháp luật
Trang 19Đối với người dân vùng biên giới nói chung thì việc GDPL càng có vai trò quan trọng Vì đây là một bộ phận người dân trình độ dân trí còn thấp, đời sống kinh tế còn gặp nhiều khó khăn Hơn nữa, đối tượng này là những người chịu nhiều thiệt thòi, khó có điều kiện tiếp xúc, tìm hiểu pháp luật và sử dụng phương tiện công cụ pháp luật để tự bảo vệ quyền lợi và lợi ích chính đáng của mình Bởi vậy, việc GDPL cho người dân vùng biên giới chính là phương tiện để truyền tải những thông tin, những yêu cầu, nội dung và các quy định của pháp luật đến với đồng bào, giúp họ hiểu biết, nắm bắt kịp thời mà không mất quá nhiều thời gian, công sức cho việc tự tìm hiểu, tự học tập GDPL đó chính là sự hỗ trợ tích cực để nâng cao hiểu biết pháp luật cho người dân, giúp họ nhận thức được những giá trị cao đẹp của pháp luật và biết sử dụng hữu hiệu công cụ đó vào trong cuộc sống
1.2 NỘI DUNG, HÌNH THỨC, PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO NGƯỜI DÂN VÙNG BIÊN GIỚI
1.2.1 Nội dung giáo dục pháp luật cho người dân vùng biên giới
Thứ nhất: Nội dung GDPL cho người dân vùng biên giới phải thiết
thực dựa trên nhu cầu, điều kiện, đặc điểm của đối tượng giáo dục
Trên phương diện lý luận nói chung, nội dung GDPL phát sinh từ nhu cầu quản lý nhà nước bằng pháp luật, từ yêu cầu của việc thực hiện các nhiệm
vụ, mục tiêu chính trị, kinh tế - xã hội, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước Tuy nhiên, nội dung của GDPL có phù hợp hay không phù hợp còn phải căn cứ vào trạng thái ý thức pháp luật của công dân, vào điều kiện khả năng tiếp thu và nhu cầu của họ: Họ đang thiếu cái gì, cần cái gì Đối với người dân vùng biên giới ở Việt Nam nhìn chung thì trình độ học vấn vẫn còn thấp, các điều kiện kinh tế, văn hóa - xã hội còn nhiều khó khăn, lạc hậu, phong tục tập quán còn ảnh hưởng nặng nề trong đời sống hàng ngày, bởi vậy
Trang 20nội dung GDPL cho họ phải thiết thực, ngắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ phù hợp với trình độ nhận thức của người dân
Thứ hai: Bên cạnh giáo dục nội dung đường lối chính sách của Đảng,
pháp luật của Nhà nước cần hướng dẫn cho người dân vùng biên giới thực hiện, phát huy các tập quán sinh hoạt tốt đẹp, luật tục phù hợp với pháp luật của Nhà nước, đồng thời phải chỉ ra cho họ thấy được những hủ tục lạc hậu, nặng nề trái với lợi ích cộng đồng, trái với pháp luật của Nhà nước cần phải loại bỏ trong đời sống và công cuộc đổi mới hiện nay
Thứ ba: Cùng với đó cần tăng cường GDPL cho người dân vùng biên
giới hiểu biết về việc thực hiện các quy chế biên giới Quốc gia Ví dụ giữa 2 nước Việt Nam và Lào thông qua việc kết nghĩa giữa các bản hai bên đường biên, hoạt động giao thương buôn bán tại cửa khẩu quốc tế, các chương trình giao lưu văn hóa văn nghệ, trao đổi, học hỏi lẫn nhau nhằm phát huy và gìn giữ bản sắc văn hóa của mỗi dân tộc
1.2.2 Hình thức và phương pháp giáo dục pháp luật cho người dân vùng biên giới
- Công khai trên các mặt báo
Văn phòng Chủ tịch nước chủ trì phối hợp với Văn phòng Quốc hội, cơ quan chủ trì soạn thảo tổ chức họp báo và ra thông cáo báo chí về luật, pháp lệnh, nghị quyết chứa đựng quy phạm pháp luật của Quốc hội, Ủy ban thường
vụ Quốc hội sau khi Chủ tịch nước ký lệnh công bố
Trang 21Hằng tháng, Bộ Tư pháp chủ trì phối hợp với Văn phòng Chính phủ và
cơ quan chủ trì soạn thảo ra thông cáo báo chí về văn bản quy phạm pháp luật
do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành
Nội dung của thông cáo báo chí nêu rõ sự cần thiết, mục đích ban hành
và nội dung chủ yếu của văn bản quy phạm pháp luật
- Giáo dục pháp luật thông qua các hoạt động tập thể, các giờ sinh hoạt; cung cấp thông tin, tài liệu pháp luật gắn với người dân vùng biên giới
- Thông qua phát thanh, phát sóng, internet, tranh ảnh tuyên truyền, cổ động, trang thông tin của từng cơ quan, tổ chức
- Tổ chức thi tìm hiểu pháp luật thông qua các hình thức như: đố vui, rung chuông vàng, thi tiểu phẩm, thi diễn kịch
- Thông qua các phiên tòa xét xử, công tác hòa giải khi xảy ra xích mích
- Tổ chức sinh hoạt, biểu diễn văn nghệ trên cơ sở chủ đề về pháp luật
- Lồng ghép vào chương trình giảng dạy tại nhà trường Đưa giáo dục pháp luật và bộ môn Giáo dục công dân ở các trường phổ thông, đối với các trường đại học, cao đẳng thì các môn pháp luật chung cho tất cả sinh viên
và các môn cho sinh viên chuyên ngành, ngoài ra có thể tổ chức các hoạt động ngoại khóa Hình thức này là hình thức thường được áp dụng
- Ngoài ra còn có nhiều hình thức khác, mỗi hình thức đều có ưu nhược điểm riêng, đối tượng áp dụng phù hợp
* Phương pháp GDPL
Phương pháp GDPL là hệ thống các cách thức sử dụng để tiến hành hoạt động giáo dục pháp luật; là hệ thống những cách thứctuyên truyền, tác động của chủ thể giáo dục lên đối tượng nhằm hình thành ở người dân vùng
Trang 22biên giới ý thức chấp hành pháp luật, xử lý hiệu quả các tình huống pháp luật nảy sinh trong đời sống xã hội
Theo quan điểm của các nhà luật học, phương pháp GDPL đối với người dân vùng biên giới bao gồm phương pháp thuyết trình, phương pháp nêu vấn đề, phương pháp đóng vai, phương pháp thảo luận, Tuy nhiên dưới góc độ khoa học giáo dục thì các nhà giáo dục học cho rằng phương pháp GDPL bao gồm nhóm phương pháp thuyết phục, nhóm phương pháp tổ chức hoạt động, nhóm phương pháp kích thích và điều chỉnh hành vi Tóm lại, người làm công tác giáo dục thường sử dụng hai phương pháp cơ bản là phương pháp truyền thống và phương pháp hiện đại
Phương pháp truyền thống là phương pháp sử dụng các công cụ, phương tiện lâu đời như: thuyết trình, giảng dạy pháp luật; nói chuyện, tọa đàm pháp luật…
Phương pháp hiện đại là phương pháp có sử dụng kết hợp các thiết bị
kỹ thuật, công nghệ hiện đại như máy tính, máy quay phim…để chủ thể GDPL có thể dễ dàng thực hiện các phương pháp mô hình hóa, trực quan hóa gắn với các tình huống quan sát thực tế
Khi sử dụng các phương pháp GDPL cho người dân vùng biên giới cần kết hợp được lý luận với thực tiễn thi hành pháp luật GDPL đối với người dân vùng biên giới nên bao gồm những phương pháp như sau: phương pháp thuyết phục, phương pháp thông tin pháp luật, phương pháp tuyên truyền, giải thích pháp luật, phương pháp giảng dạy pháp luật trong nhà trường, phương pháp nói chuyện, trao đổi về pháp luật; hệ thống phương pháp tổ chức hoạt động nhằm hình thành kỹ năng, kỹ xảo, hành vi và thói quen thực hiện pháp luật; hệ thống phương pháp kích thích hoạt động và điều chỉnh hành vi
Trang 23Phương pháp thuyết phục tác động vào nhận thức, tư duy, tình cảm của
người dân vùng biên giới để hình thành ý thức và thái độ pháp luật đúng đắn, phù hợp với các chuẩn mực pháp luật Chủ thể phải dùng lý lẽ chuẩn xác, dẫn chứng sinh động, thiết thực trong thực tế để cho thanh niên nắm được, từ đó chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật
Phương pháp thông tin pháp luật là phương pháp sử dụng phương tiện
truyền thông như báo, tạp chí chuyên ngành pháp luật, truyền hình, truyền thanh, các loại hình nghệ thuật như phim, ảnh để chuyển tải những kiến thức pháp luật
Phương pháp tuyên truyền, giải thích pháp luật thường được sử dụng
chủ yếu khi một văn bản pháp luật mới được ban hành
Phương pháp giảng dạy pháp luật trong nhà trường là việc giáo viên
sử dụng các phương pháp thuyết trình, phương pháp đàm thoại, phương pháp nêu vấn đề, phương pháp thảo luận nhóm và thông qua các giờ ngoại khóa sinh hoạt để tổ chức các hoạt động GDPL
Phương pháp nói chuyện, trao đổi về pháp luật là việc các đối tượng
giáo dục pháp luật thảo luận, trao đổi về một sự kiện, hiện tượng, tình huống pháp lý trong thực tiễn xã hội
Phương pháp tổ chức hoạt động là luyện tập cho người dân vùng biên
giới thực hiện một cách đều đặn, có hệ thống các hành động nhất định nằm biến chúng thành thói quen, thuộc tính của nhân cách và rèn luyện bằng việc tham gia các hoạt động khác nhau, xâm nhập vào các tình huống thực tiễn để giải quyết vấn đê, xây dựng các kỹ năng sống
Nhìn chung, phương pháp GDPL rất đa dạng Mỗi phương pháp đều có chức năng, ưu điểm riêng, vì vậy, với từng hoàn cảnh và đối tượng cụ thể cần
Trang 24lựa chọn các phương pháp khác nhau hoặc kết hợp giữa chúng bởi các phương pháp đều có mối liên hệ chặt chẽ, hỗ trợ cho nhau
1.3 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG VÀ ĐIỀU KIỆN ĐẢM BẢO ĐỐI VỚI VIỆC GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO NGƯỜI DÂN VÙNG BIÊN GIỚI
1.3.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến giáo dục pháp luật cho người dân vùng biên giới
Quá trình GDPL cho người dân vùng biên giới chịu sự tác động của
nhiều yếu tố khác nhau, có yếu tố tích cực, yếu tố tiêu cực Phát hiện ra các
yếu tố đó và có biện pháp duy trì và phát huy các yếu tố tích cực, ngăn chặn, làm hạn chế các yếu tố tiêu cực trở thành phương thức quan trọng đảm bảo
công tác GDPL cho người dân vùng biên giới hiện nay
* Các yếu tố tác động tích cực đến giáo dục pháp luật
Qua hơn 30 năm đổi mới với sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và các cấp chính quyền về việc đẩy mạnh công tác tuyên truyền, GDPL đã hình thành đội ngũ chủ thể GDPL đông đảo, có kiến thức pháp luật, có kỹ năng nghiệp vụ tuyên truyền, có trách nhiệm và tâm huyết với sự nghiệp GDPL Mặt khác bên cạnh đội ngũ GDPL chuyên nghiệp, ở nông thôn miền núi còn tồn tại đội ngũ GDPL quan trọng là các già làng, trưởng bản, trưởng thôn, các cán bộ pháp luật, trong đó có cán bộ đã về nghỉ hưu họ tham gia tích cực vào công tác GDPL cho người dân vùng biên giới bằng sự hiểu biết pháp luật, sự gương mẫu chấp hành luật và uy tín của cá nhân
Nhu cầu tìm hiểu về pháp luật ngày càng tăng, điều này do tác động của chính quyền các cấp thực hiện sự quản lý bằng pháp luật, sự hiểu biết về vai trò của pháp luật, các dịch vụ pháp lý ngày càng đa dạng và có hiệu quả,
cơ hội tiếp cận của nhân dân vùng biên giới ngày càng được cải thiện, yêu cầu
Trang 25của công việc sản xuất kinh doanh, thực hiện chính sách xã hội, giao tiếp xã hội của công dân ngày càng được mở rộng
Đặc biệt, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn Nền kinh tế nông nghiệp theo mô hình nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, sự phát triển của nền kinh tế thị trường đòi hỏi nhân dân vùng biên giới cần phải hiểu biết phát luật trên nhiều lĩnh vực, trong đó luật kinh tế là cơ bản Nắm vững các quy định về hợp đồng, về chất lượng hàng hoá, dịch vụ, về nhãn hiệu hàng hoá, về địa vị pháp lý của chủ hộ gia đình, cá nhân kinh doanh Những điều đó cũng làm cho nhu cầu tìm hiểu, tiếp thu các tri thức pháp luật và kỹ năng thực hành pháp luật của nhân dân vùng biên giới ngày càng tăng
Sự tác động tích cực của việc thực hiện pháp luật dân chủ ở cơ sở, hoà giải ở cơ sở trong việc tạo ra môi trường thuận lợi cho hoạt động GDPL người dân vùng biên giới Bên cạnh các yếu tố đó, các yếu tố tinh thần tác động mạnh mẽ, tích cực đến việc GDPL cho người dân vùng biên giới là truyền thống yêu nước, tinh thần cách mạng, tính cộng đồng làng xã và nhất
là sự tác động tích cực của mô hình gia đình truyền thống
* Các yếu tố tác động tiêu cực đến giáo dục pháp luật
Bên cạnh các yếu tố tích cực trong công tác GDPL cho người dân vùng biên giới còn chịu nhiều tác động tiêu cực, các yếu tố tiêu cực đó là:
- Sự tác động của nền kinh tế thị trường, của quá trình đô thị hoá làm cho một số công dân xem nhẹ việc Nhà nước ta quản lý đất nước bằng pháp luật, coi thường pháp luật không nghĩ đến tác hại của việc coi thường pháp luật
- Do sự hạn chế về trình độ dân trí, đời sống vật chất, tinh thần còn
Trang 26nhiều khó khăn dẫn đến họ biết làm là vi phạm pháp luật nhưng họ vẫn làm như tình trạng buôn bán ma tuý, phá rừng làm rẫy
- Do địa bàn cư trú, điều kiện sinh sống chủ yếu là ở miền núi, vùng sâu vùng xa, nên việc tiếp cận với các loại hình thông tin đại chúng còn hạn chế
Bên cạnh các yếu tố trên, phải kể đến vai trò của các cấp chính quyền,
ở một số địa phương nơi có người dân vùng biên giới sinh sống còn xem nhẹ vai trò quản lý nhà nước bằng pháp luật, chưa thực sự được tiến hành thường xuyên, liên tục và đồng bộ, rộng khắp, chưa có trọng tâm, trọng điểm Trong chỉ đạo tổ chức thực hiện, nhận thức của các cơ quan nhà nước vẫn còn có những biểu hiện xem thường, chưa quan tâm đầu tư đúng mức, thiếu cơ chế hoạt động, thiếu sự phối hợp chặt chẽ và đồng bộ trong công tác GDPL người dân vùng biên giới
1.3.2 Các điều kiện đảm bảo giáo dục pháp luật cho người dân vùng biên giới
Để công tác GDPL cho người dân vùng biên giới có hiệu quả cần phải
có các điều kiện nhất định Điều kiện đảm bảo được hiểu là "cái" mà nhờ đó
GDPL cho người dân vùng biên giới được thực hiện có hiệu quả, đạt được
mục đích đề ra và có thể kể đến một số điều kiện cơ bản sau:
* Điều kiện bảo đảm về pháp lý
Mọi hoạt động trong xã hội diễn ra đều chịu sự điều chỉnh của hệ thống pháp luật Giáo dục nói chung và giáo dục pháp luật nói riêng cũng được thực hiện dưới sự bảo đảm của pháp luật Nhà nước ta đã hình thành cơ chế đồng
bộ, thống nhất, điều chỉnh toàn diện về công tác GDPL; trong đó xác định cụ thể trách nhiệm của mỗi cá nhân, tổ chức, xây dựng nguồn lực, và các điều
kiện bảo đảm hoạt động
Trang 27Các thể chế giáo dục pháp luật cho người dân vùng biên giới vừa đề
ra những yêu cầu để các chủ thể giáo dục và đối tượng giáo dục tuân thủ, vừa đề ra chế tài đối với hành vi vi phạm Các quy định này vừa đưa hoạt động GDPL thực hiện trong khuôn khổ pháp luật, vừa ngăn chặn và xử lý các trường hợp vi phạm Ngoài ra, bảo đảm về pháp lý còn thể hiện ở hệ thống cơ quan bảo vệ pháp luật (Viện Kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân,
Cơ quan nội vụ ), hệ thống cơ quan quyền lực Nhà nước (Quốc hội, HĐND), cơ quan hành pháp luôn giám sát việc thực thi tất cả các hoạt
động của công tác GDPL
* Bảo đảm về tổ chức, cán bộ, cơ sở vật chất
Khâu đầu tiên đặc biệt quan trọng là việc xây dựng và kiện toàn về tổ chức, phát triển một hệ thống các cơ quan trực tiếp thực hiện GDPL theo hướng hoạt động chuyên nghiệp Các cơ quan, tổ chức phải phối hợp với nhau và phát huy vai trò của mình trong công tác GDPL cho người dân vùng biên giới Từ đó, GDPL cho người dân vùng biên giới mới thực sự mang lại
hiệu quả cao
Một nhân tố không thể thiếu là đội ngũ cán bộ làm công tác GDPL Số lượng và chất lượng, trình độ chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ làm công tác GDPL sẽ quyết định trực tiếp đến chất lượng, hiệu quả của hoạt
hiệu quả của công tác GDPL
Trang 28* Bảo đảm về kinh phí
Yếu tố kinh phí là một điều kiện bảo đảm vô cùng cần thiết Thực tế những năm qua cho thấy kinh phí dành cho hoạt động GDPL quá hạn hẹp Để việc GDPL cho người dân vùng biên giới đạt hiệu quả cao và được tiến hành thông suốt thì cần có một nguồn kinh phí thích đáng Các công tác như duy trì hoạt động của Hội đồng phối hợp giáo dục pháp luật; tổ chức các cuộc hội thảo, toạ đàm; biên soạn tài liệu, xây dựng chương trình, đề án, kế hoạch
GDPL… đều cần có kinh phí để thực hiện
Từ khi Nhà nước ban hành Chỉ thị số 32 và các Chương trình, Đề án về giáo dục pháp luật của Chính phủ, việc đầu tư nguồn lực về bộ máy, đội ngũ cán bộ và kinh phí cho công tác GDPL được tăng cường Các bộ, ngành, địa phương đã bố trí kinh phí cho công tác GDPL trong kế hoạch ngân sách hàng năm của mình theo Thông tư số 63/2005/TT-BTC ngày 05/8/2005 của Bộ Tài chính, Thông tư số 73/2010/TTLT-BTC-BTP ngày 14 tháng 5 năm 2010 hướng dẫn việc quản lý và sử dụng kinh phí bảo đảm cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, Thông tư số 14/2014/TTLT-BTC-BTP ngày 27 tháng 01 năm 2014 quy định việc lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí ngân sách nhà nước bảo đảm cho công tác GDPL và chuẩn tiếp cận pháp luật của người dân tại cơ sở Quyền chủ động của các địa phương trong bố trí ngân sách hàng năm cho công tác GDPL là một trong những điều kiện thuận
lợi để công tác GDPL được tiến hành dễ dàng và có hiệu quả hơn
Ngoài ra, sự hỗ trợ, đóng góp của các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp trong và ngoài nước cũng là một phần quan trọng trong việc đáp ứng kinh phí
cho công tác GDPL nói chung và GDPL cho người dân vùng biên giới nói riêng
* Bảo đảm khác
Bảo đảm về sự phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức trong GDPL cho
Trang 29giúp đỡ qua lại, ủng hộ cho nhau trong quá trình thực hiện công tác Có thể là
giúp đỡ nhau về tài liệu, về phương tiện, về kinh phí
Thể hiện của những hình thức bảo đảm xã hội là sự ủng hộ của các tổ
chức xã hội, của dư luận xã hội đối với các chương trình, nội dung giáo dục
Bên cạnh đó, còn có bảo đảm về văn hóa thể hiện ở chỗ truyền thống văn hóa của người Việt Nam luôn tôn trọng đạo lý, hiếu học, tôn trọng pháp luật Chính vì thế, thanh niên dựa trên nền tảng nét văn hóa này để càng có động lực thúc đẩy việc học tập, hiểu biết về pháp luật, sống và làm theo pháp luật Những hình thức bảo đảm này đều góp phần nâng cao hiệu quả cho công tác GDPL Từ đó đáp ứng được mục tiêu đề ra
Trang 30Tiểu kết chương 1
Như vậy, Chương 1 đã làm rõ những vấn đề lý luận về Giáo dục pháp
luật cho người dân vùng biên giới Chương 1 đã đưa ra khái niệm Giáo dục
pháp luật cho người dân vùng biên giới là hoạt động có tổ chức, có mục đích,
có tính định hướng của chủ thể giáo dục, tác động lên đối tượng giáo dục là
người dân vùng biên giới, nhằm hình thành ở họ những tri thức pháp luật, tạo
niềm tin vào pháp luật để họ có đầy đủ khả năng tham gia vào các quan hệ xã hội phù hợp với các quy định của hệ thống pháp luật hiện hành Từ đó đưa ra
các đặc điểm, vai trò của giáo dục pháp luật đối với người dân vùng biên giới Đồng thời, trong chương 1 luận văn cũng làm rõ nội dung, hình thức, phương pháp thực hiện Giáo dục pháp luật cho người dân vùng biên giới Ngoài ra còn có các yếu tố ảnh hưởng và điều kiện bảo đảm nhằm phát huy tối đa hiệu quả của công tác Giáo dục pháp luật cho người dân vùng biên giới
Trang 31Chương 2 THỰC TRẠNG GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO NGƯỜI DÂN VÙNG
BIÊN GIỚI CỦA TỈNH THANH HOÁ HIỆN NAY
2.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI ẢNH HƯỞNG
ĐẾN GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO NGƯỜI DÂN VÙNG BIÊN GIỚI
CỦA TỈNH THANH HOÁ
2.1.1 Đặc điểm và điều kiện tự nhiên
* Vị trí địa lý, kinh tế
Miền núi tỉnh Thanh Hoá có diện tích tự nhiên 7 988km2
(bằng 76,6% diện tích cả tỉnh) gồm 11 huyện: Thạch Thành, Cẩm Thuỷ, Ngọc Lạc, Lang Chánh, Như Xuân, Như Thanh, Thường Xuân, Bá Thước, Quan Hoá, Quan Sơn, Mường Lát Phía Bắc giáp tỉnh Sơn La, Hoà Bình, Ninh Bình; phía Nam
và Tây nam giáp tỉnh Nghệ An; phía Tây giáp tỉnh Hủa Phăn - CHDCND Lào; phía Đông là vùng đồng bằng
Miền núi Thanh Hoá có vị trí chiến lược quan trọng về kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của Thanh Hoá, khu vực Tây Bắc và cả nước; là vùng đầu nguồn của các hệ thống sông suối, có ý nghĩa rất lớn và quan trọng về vị trí phòng hộ, dự trữ nguồn nước, giảm tác động thiên tai và bảo vệ môi trường sinh thái đối với cả tỉnh; có các tuyến quốc lộ chạy qua địa bàn như đường Hồ Chí Minh, đường 15A, quốc lộ 45, quốc lộ 217 nối vùng Miền núi với các huyện đồng bằng, các trung tâm phát triển của tỉnh, thành phố Thanh Hoá và các tỉnh, thành phố trong cả nước, với nước bạn Lào; thuận lợi cho giao lưu, hợp tác và liên kết phát triển; có 192 km đường biên giới Việt - Lào dọc theo địa phận của 16 xã vùng cao ĐBKK thuộc 05 huyện: Mường Lát, Quan Sơn, Quan Hóa, Lang Chánh và Thường Xuân Dân số toàn vùng 1.082.444 người
Trang 32(chiếm gần 32% dân số toàn tỉnh), trong đó dân tộc thiểu số 646.718 người (chiếm 59,75% dân số vùng miền núi) với 06 dân tộc thiểu số là Thái, Mường, Mông, Dao, Khơ Mú, Thổ Có các cửa khẩu quốc tế Na Mèo (Quan Sơn), cửa khẩu quốc gia: Tén Tần (Mường Lát), Khẹo (Bát mọt-Thường xuân), thuận lợi cho phát triển kinh tế cửa khẩu, kinh tế vùng biên; xây dựng biên giới hoà bình, hợp tác và hữu nghị
Bảng 2.1: Diện tích, dân số của vùng biên giới tỉnh Thanh Hoá, năm 2018
Số
TT Tên Huyện Diện tích
km 2
Dân số (1000 người)
Đơn vị hành chính
Tổng số Số xã,
phường
Thị trấn
đá vôi với các đỉnh cao từ 1.000m đến 1.500m; có thể chia làm 3 vùng địa hình như sau:
Vùng biên giới chủ yếu là khu vực núi cao với diện tích tự nhiên:
Trang 335202,20 km2, chiếm 65,12 % diện tích toàn khu vực miền núi của tỉnh Vùng này địa hình hiểm trở, có các dãy núi kéo dài thành dải theo hướng Tây Bắc- Đông Nam, nối tiếp nhau từ huyện Mường Lát, qua Quan Sơn, Quan Hoá, Bá Thước, có các đỉnh cao trên 1.000 m như: đỉnh Phu Pha Phong cao 1.550 m Các sông suối chảy qua vùng này có độ dốc lớn, có nhiều khả năng phát triển thuỷ điện
* Khí hậu
Miền núi Thanh Hoá nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nền nhiệt cao với 2 mùa rõ rệt: mùa hạ từ tháng 4 đến tháng 10 và mùa đông từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau; chịu ảnh hưởng của gió mùa đông bắc về mùa Đông; gió tây khô nóng về mùa Hè
- Chế độ nhiệt: Nhiệt độ trung bình năm vào khoảng 20 - 23oC Mùa hạ: từ 250C đến 280
C; vào những ngày có gió tây, nhiệt độ không khí lên tới 41- 420C; Mùa đông: từ 140C đến 200C; những ngày có sương muối, nhiệt độ xuống dưới 40C, có thời điểm xuống dưới 20
C;
- Hướng gió thịnh hành là Đông và Đông Nam vào mùa hạ; Bắc và
Đông Bắc vào mùa đông, gió Tây khô nóng thường xuất hiện vào đầu mùa hạ
- Lượng mưa bình quân hàng năm lớn, phân bố không đều, trung bình
năm từ 1.600 - 2.200 mm Mùa mưa thường kéo dài 6 tháng, bắt đầu từ tháng
5, kết thúc vào tháng 10, các tháng mưa nhiều nhất là tháng 8, 9, 10, tập trung
từ 60 - 80% lượng mưa cả năm gây ra lụt lội, mưa lũ
Do địa hình phức tạp và có không gian kéo dài từ Bắc xuống Nam (106 km), nên khí hậu và thời tiết của Miền núi có thể chia thành các tiểu vùng như sau:
Trang 34- Vùng núi phía Bắc sông Mã có nhiệt độ trung bình năm thấp, khoảng 18-200C, tổng tích ôn năm dưới 8.0000C Mùa đông khá rét, có sương giá, sương muối; tháng có nhiệt độ thấp nhất là tháng Giêng, nhiệt độ trung bình khoảng 140C, có thời điểm nhiệt độ xuống tới 00
C - 20C Mùa hè mát dịu, ít chịu ảnh hưởng của gió tây khô nóng; tháng có nhiệt độ cao nhất là tháng 7, nhiệt độ trung bình tháng 7 không quá 260C Tổng lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 1.600-1.900mm Độ ẩm không khí bình quân năm khoảng 86%
- Vùng nam sông Mã và vùng đồi phía Nam có nhiệt độ trung bình năm
từ 20-220C; tổng tích ôn năm khoảng 8.2000C Mùa đông lạnh, nhiệt độ trung bình tháng Giêng vào khoảng 14-150C Mùa hè nóng, chịu ảnh hưởng mạnh của gió tây khô nóng, tháng có nhiệt độ cao nhất là tháng 7, nhiệt độ trung bình vào khoảng 25 - 270C, những ngày có gió tây, nhiệt độ lên đến 41- 420
C Vùng này có lượng mưa trung bình hàng năm lớn nhất cả tỉnh, tổng lượng mưa trung bình năm trên 2.000 mm
Những đặc điểm trên cho thấy khí hậu của vùng là thuận lợi cho phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp và phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm
* Nguồn nước, thuỷ văn: Hệ thống dòng chảy mặt có các hệ thống sông
chính là sông Hoạt, sông Mã, sông Yên và sông Bạng
- Hệ thống sông Mã: Sông Mã bắt nguồn từ vùng Điện Biên Phủ ở độ
cao trên 1.000m, chảy qua các tỉnh Sơn La, Sầm Nưa (CHND Lào), vào địa phận Thanh Hoá tại Mường Lát Các phụ lưu chính của sông Mã có sông Bưởi, sông Cầu Chày và sông Chu hệ thống sông Mã hàng năm đón nhận hơn 11 tỷ m3
nước; hàng năm trên sông Mã, sông Chu có khoảng 5 - 6 trận lũ lớn, thường xảy vào tháng 8, tháng 9
- Hệ thống sông Yên: Sông Yên bắt nguồn từ xã Bình Lương, huyện
Như Xuân ở độ cao trên 100 m chảy qua địa phận các huyện Như Xuân, Nông
Trang 35Cống, Quảng Xương, đổ ra biển tại Lạch Ghép Sông Yên có 2 nhánh chính là sông Nhơm và sông Thị Long Thuỷ văn sông Yên có các đặc trưng là mùa lũ kéo dài từ tháng 6 đến tháng 10
- Hệ thống hồ: Trong vùng có các hồ lớn, phân bố rải rác như: hồ Cửa
Đạt (Thường Xuân) và nhiều hồ, đập nhỏ phục vụ tưới và cấp nước sinh hoạt cho nhân dân
Nguồn nước mặt phân bố không đều và phụ thuộc vào chế độ mưa, thường gây ngập úng cục bộ vào mùa mưa; cạn kiệt vào mùa khô, vì vậy cần có biện pháp ngăn giữ, điều tiết nguồn nước cho thuỷ lợi phục vụ dân sinh, kinh tế
Nhìn chung, miền núi có nguồn nước khá phong phú, cho phép khai thác phục vụ nhu cầu phát triển dân sinh, kinh tế Với trữ lượng nước mặt lớn, lưu vực rộng và có độ cao, nguồn thuỷ năng lớn; thuận lợi cho phát triển thuỷ điện, và các công trình thuỷ lợi phục vụ tưới; phát triển giao thông đường thuỷ và nuôi thuỷ sản
* Tài nguyên rừng
Đặc điểm tài nguyên rừng của vùng biên giới là rừng lá rộng, thường xanh, có hệ thực vật phong phú, đa dạng về họ, loài; gỗ quí hiếm có lát, pơ
mu, trầm hương; gỗ nhóm I, II có lim, sến; gỗ nhóm III, IV có vàng tâm, dổi,
de Các loại thuộc họ tre có: luồng, nứa, vầu, giang, bương, tre Ngoài ra còn
có mây, song, dược liệu, cây thả cánh kiến đỏ Động vật rừng còn xuất hiện các loài bò rừng, nai, hoẵng, vượn, khỉ, lợn rừng, các loài bò sát như trăn, rắn,
kỳ đà, tê tê, các loài chim, ong rừng Vùng Thường Xuân là nơi còn có nhiều động vật hoang dã có giá trị kinh tế như hổ, báo, gấu, gà lôi, công, trĩ, Tuy vậy, đại đa số diện tích rừng trên địa bàn là rừng nghèo, rừng mới tái sinh và rừng mới trồng; trữ lượng lâm sản thấp, khả năng cho khai thác trong những
Trang 36năm tới là rất hạn chế; một số diện tích có trữ lượng lâm sản lớn lại phân bố trên vùng núi cao và nằm trong diện tích rừng phòng hộ và rừng đặc dụng
* Đặc điểm của đồng bào miền núi
Là tỉnh có nhiều thành phần dân tộc, trong đó người Kinh (Việt) chiếm
tỷ lệ lớn nhất (84,4%), người Mường (8,7%), người Thái (6%) Các dân tộc thiểu số khác như Mông, Dao, Tày, Sán Dìu, Hoa, Thổ chiếm tỷ lệ không đáng kể (gần 1%) [12] Tính đa dạng về thành phần dân tộc là lợi thế cho sự phát triển văn hóa, du lịch song cũng là những khó khăn cho sự phát triển đồng đều giữa các vùng miền trong tỉnh
Từ lâu nay đã tồn tại một truyền thống tốt đẹp là sinh sống, lao động sản xuất, sinh hoạt giữa đồng bào các dân tộc khác nhau trên địa bàn luôn đảm bảo đoàn kết, gắn bó, thắm đượm tình cảm anh em, đặc biệt là trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm, trong đấu tranh với thiên tai khốc liệt Sống
ở vùng biên giới khó khăn, thiếu thốn chồng chất, chịu nhiều thiệt thòi nhưng người dân vẫn luôn chấp hành tốt các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, và bằng những việc làm cụ thể, đồng bào đã góp phần hết sức quan trọng để bảo đảm an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn rộng lớn
Một điểm rất dễ nhận thấy là mỗi dân tộc có những nét văn hoá rất độc đáo, đặc sắc, không thể hoà lẫn với các dân tộc khác, tuy nhiên lại có những điểm rất chung - đó chính là tinh thần chịu thương chịu khó, chịu đựng gian khổ, nhường nhịn nhau, tương thân, tương ái, giúp đỡ lẫn nhau Trong đời sống cộng đồng nhân dân vùng biên giới, chuyện tranh chấp, mâu thuẫn nhau gay gắt…diễn ra không nhiều Và rất nhiều trong số đó được giải quyết bằng con đường hoà giải, thông qua vai trò và hoạt động của dòng họ, già làng, trưởng bản, của các tổ chức chính trị - xã hội ở thôn bản Có thể
Trang 37khẳng định rằng an ninh, trật tự, an toàn xã hội ở khu vực biên giới tỉnh Thanh Hóa được giữ vững, ổn định, có vai trò quan trọng từ đặc điểm văn
hoá - lịch sử này của nhân dân
2.1.2 Đặc điểm về kinh tế - xã hội
Mặc dù đất rộng, có tiềm năng để phát triển kinh tế, nhưng có nhiều nguyên nhân do lịch sử để lại, các huyện miền núi Thanh Hoá vẫn ở trong tình trạng kém phát triển, đời sống của người dân vùng biên giới trên địa bàn gặp rất nhiều khó khăn, thiếu thốn Tình trạng kém phát triển đã kéo dài từ bao đời nay, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa Chênh lệch giữa các huyện vùng biên giới với các địa phương còn lại của Thanh Hoá là rất lớn, không thể thu hẹp khoảng cách trong thời gian ngắn được
Trong nhiều năm qua được Đảng, Nhà nước quan tâm, tình hình phát triển khu vực miền núi trong đó có vùng biên giới Thanh Hoá cũng đã có nhiều đổi mới, khởi sắc Kinh tế cả vùng phát triển khá toàn diện, bảo đảm kinh tế tăng trưởng liên tục và ổn định Tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm đều ở mức khá cao, chẳng hạn giai đoạn 2012 - 2017 tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm các huyện là: Lang Chánh 11,2%; Thường Xuân 10%; Quan Hoá 10,3%; Quan Sơn 11%; Mường Lát 9,5% Cơ cấu kinh tế các huyện vùng núi cao chuyển biến theo hướng tích cực, tiến bộ [13]
Cùng với sự thay đổi cơ cấu kinh tế theo khu vực kinh tế thì sự biến đổi
cơ cấu nội bộ ngành cũng đã diễn ra hợp lý hơn Chẳng hạn trong ngành nông nghiệp thì tỷ trọng chăn nuôi ngày càng cao, các hoạt động chế biến ngày càng được mở rộng, sản xuất ra các sản phẩm đa dạng, phong phú hơn
Thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn ngày càng tăng và ổn định hơn Điều đáng phấn khởi là các khoản thu từ sản xuất kinh doanh của các đơn
vị kinh tế và các hộ kinh doanh ở từng huyện vào ngân sách Nhà nước ngày càng lớn
Trang 38Có được kết quả đó là do Trung ương và tỉnh xác định một trong những nhiệm vụ chính trị trọng tâm của các huyện này trong thời gian qua là thực hiện xoá đói giảm nghèo Nhiệm vụ này được coi là hàng đầu, có tính bức xúc không những trong lĩnh vực kinh tế - đời sống của người dân, mà còn được coi là cực kỳ quan trọng để góp phần tích cực vào việc bảo đảm quốc phòng - an ninh ở địa bàn miền núi, biên giới … Nhờ sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, cấp uỷ, chính quyền và các tổ chức đoàn thể các cấp, trong nhiều năm qua công tác xoá đói giảm nghèo đạt được nhiều thành tích quan trọng, kể từ năm 2013 đến nay các huyện trong vùng đều đã hạ được tỷ lệ hộ đói nghèo xuống từ 20 - 30% [13] Mặc dù thu nhập bình quân đầu người tăng nhanh nhưng do điểm xuất phát quá thấp nên phần tích luỹ cho đầu tư của dân cư ở các huyện này còn rất thấp Cùng với việc thực hiện công cuộc xoá đói giảm nghèo là việc phát động và tổ chức thực hiện phong trào "xoá nhà ở tạm bợ, dột nát"
Về cơ sở hạ tầng kỹ thuật, những năm qua cũng đã có nhiều thay đổi quan trọng, nhờ vậy đã có ảnh hưởng tích cực tới việc thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng an ninh trên địa bàn Hệ thống giao thông đường bộ (tại các thị trấn huyện lỵ và giao thông nông thôn) ngày càng được cải thiện Đến hết năm 2015 trong toàn khu vực đã có 300 Km đường nhựa, 335 Km đường bê tông, 736 Km đường cấp phối và mở mới hơn 923 km đường đất đá, đảm bảo vận chuyển bằng ô
tô tới trung tâm các xã trong mùa khô Hệ thống hồ, đập, kênh mương phục
vụ tưới tiêu cho nông nghiệp, lâm nghiệp và chăn nuôi ngày càng được quan tâm Chính điều này không những đã tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất canh tác mà còn thông qua đó góp phần quan trọng cho việc bảo vệ rừng, giữ gìn môi trường sinh thái [13]
Trang 39thiện đáng kể Cho đến nay đã có điện thoại cố định tại trung tâm tất cả các
xã, các mạng di động Vinaphone, Mobiphone, Viettel đã phủ sóng cho các thị trấn huyện lỵ và khu vực lân cận
Những năm qua, hệ thống Cơ quan công tác dân tộc đã triển khai thực hiện tốt nhiệm vụ của mình, tổ chức quán triệt và phân công phòng chuyên môn tham mưu tổ chức triển khai trong cán bộ, công chức cơ quan nhằm nâng cao ý thức, trách nhiệm trong công tác phòng, chống và hoạt động tuyên truyền khi thực hiện nhiệm vụ tại cơ sở, đặc biệt là trên địa bàn các xã biên giới Việt - Lào Hàng năm kết hợp công tác tuyên truyền gắn với lồng ghép trong công tác dân tộc và Chương trình tuyên truyền giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số tại các xã cho các đối tượng là cán bộ thôn bản và người dân vùng biên giới có nhiều tệ nạn ma túy và buôn, bán ma túy
2.2 THỰC TRẠNG GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO NGƯỜI DÂN VÙNG BIÊN GIỚI Ở TỈNH THANH HOÁ
2.2.1 Những kết quả đạt được
Trong những năm qua, công tác GDPL cho người dân vùng biên giới của tỉnh Thanh Hoá đạt được những kết quả sau:
Thứ nhất, về ban hành văn bản chỉ đạo và tổ chức chỉ đạo thực hiện
Để triển khai thực hiện Chương trình tăng cường giáo dục pháp luật của Chính phủ, Thực hiện Quyết định số 409/QĐ-TTg ngày 09/4/2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Chương trình hành động thực hiện Kết luận số 04-KL/TW ngày 19/4/2011 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (Khóa XI), UBND tỉnh Thanh Hoá đã ban hành Quyết định số 3222/QĐ-UBND ngày 02/10/2012 của Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa về việc ban hành Kế hoạch triển khai Chương trình hành động thực hiện Kết luận số 04-KL/TW ngày 19/4/2011 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (Khóa XI) trên địa bàn biên
Trang 40giới của tỉnh Thanh Hoá Đồng thời, chỉ đạo, hướng dẫn các sở, ban, ngành, đoàn thể cấp tỉnh, các doanh nghiệp nhà nước do tỉnh quản lý và UBND các huyện, thị xã, thành phố ban hành kế hoạch và tổ chức triển khai thực hiện nhằm phổ biến kịp thời, đầy đủ những nội dung pháp luật liên quan đến việc thực hiện nhiệm vụ chính trị, nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng và đời sống sinh hoạt, học tập của toàn thể cán bộ, công chức, viên chức, người lao động, lực lượng vũ trang, học sinh, sinh viên và các tầng lớp nhân dân trên địa bàn toàn tỉnh, nhằm nâng cao hơn nữa nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật, ý thức tự giác, chủ động tìm hiểu pháp luật của cán bộ và nhân dân; đồng thời tạo điều kiện để cán bộ và nhân dân sử dụng pháp luật làm phương tiện, công cụ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, góp phần giữ gìn trật tự, kỷ cương, ngăn ngừa có hiệu quả các hành
vi vi phạm pháp luật Tạo bước phát triển mới trong công tác GDPL đáp ứng nhu cầu tìm hiểu pháp luật, nâng cao dân trí pháp lý cho cán bộ và nhân dân trên địa bàn tỉnh Thực hiện xã hội hoá công tác GDPL; đẩy mạnh thực hiện
cơ chế phối hợp, nâng cao tinh thần trách nhiệm, phát huy tính chủ động, sáng tạo và trách nhiệm của các cấp, các ngành, các tổ chức, đơn vị đối với công tác GDPL; huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội tham gia, đưa công tác GDPL thành hoạt động thường xuyên, liên tục của mọi cơ quan, tổ chức, công dân
Ngày 09/10/2013, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 3508/QĐ- UBND ban hành kế hoạch triển khai thực hiện Quyết định số 1133/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá do đồng chí Phó Chủ tịch UBND tỉnh làm Trưởng Ban Chỉ đạo, đồng chí Giám đốc Sở Tư pháp làm Phó trưởng Ban Thường trực, đồng chí Phó Chánh Văn phòng UBND tỉnh làm Phó Trưởng ban; đại diện lãnh đạo các sở, ban, ngành: Tài chính; Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Lao động, Thương binh và Xã hội; Giáo dục