Do đó, đề tài của chúng tôi nghiên cứu một hiện tượng văn học đến nay vẫn còn nguyên tính thời sự, góp phần xác lập cơ sở lý thuyết thể loại truyện lịch sử trên những khía cạnh nổi bật,
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGÔ THANH HẢI
BA MÔ HÌNH TRUYỆN LỊCH SỬ TRONG VĂN XUÔI HIỆN ĐẠI VIỆT NAM
Ngành: Lý luận văn học
Mã số: 9 22 01 20
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS LA KHẮC HÒA
Hà Nội - 2018
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả trình bày trong luận án là trung thực, đảm bảo tính chính xác và khoa học cao Các tài liệu tham khảo, trích dẫn đều có xuất xứ rõ ràng Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về công trình nghiên cứu của mình
Hà Nội, tháng 12 năm 2018
Tác giả
Ngô Thanh Hải
Trang 3LỜI TRI ÂN
Luận án được hoàn thành, em muốn bày tỏ lời tri ân sâu sắc, chân thành đến PGS.TS La Khắc Hòa, thầy hướng dẫn khoa học uyên bác, tận tình, nhiệt huyết, luôn sẵn sàng chia sẻ quan điểm, gợi mở nhiều ý tưởng hay, mới lạ, giúp em có thêm nhiều tri thức lý luận và phương pháp tư duy, làm việc khoa học Đồng thời, thầy còn như người cha luôn sát cánh, thúc giục, động viên, khích lệ em trong suốt quá trình học và hoàn thành luận án
Em cũng xin được gửi lời cảm ơn đến các thầy, cô trong Khoa Văn học, Học viện Khoa học Xã hội, các thầy, cô ở Viện Văn học đã tạo điều kiện thuận lợi nhất trong quá trình phân công hướng dẫn, góp ý, chia sẻ tư liệu, tổ chức bảo vệ luận án Đặc biệt, những bài học chuyên đề trong quá trình đào tạo nghiên cứu sinh của các thầy, cô ở học viện rất hữu ích, cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn
Xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy, cô ở khoa Ngữ văn trường Đại học Sư phạm Hà Nội, đặc biệt là thầy Trần Ngọc Hiếu Các thầy, cô đã cho em rất nhiều trong những năm tháng học đại học và cao học ở khoa, từ nền tảng tri thức, các
tư duy khoa học, tiếp cận vấn đề, quy trình và các phương pháp làm việc, nghiên cứu tích cực, hiệu quả
Xin được bày tỏ lòng biết ơn tới những người bạn, cả những người tôi chưa một lần gặp mặt ngoài đời đã giúp tôi sưu tầm tư liệu, tra cứu tri thức, góp ý động viên, giúp đỡ, cổ vũ tôi trong suốt quá trình làm luận án
Cảm ơn Ban giám hiệu, đồng nghiệp, đặc biệt là những đồng nghiệp ở tổ Ngữ văn trường THPT Lạng Giang số 2, nơi tôi công tác đã giúp đỡ tôi rất nhiều về mặt thời gian để tôi hoàn thành chương trình học và luận án
Một lời tri ân có lẽ không đủ với bố mẹ, các chị và những người thân đã luôn ở bên,tin tưởng, ủng hộ, tạo điều kiện thuận lợi nhất để con hoàn thành khóa học và luận án
Tác giả
Ngô Thanh Hải
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2
2.1 Mục đích nghiên cứu 2
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
4 Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu 4
4.1 Cơ sở lý thuyết 4
4.2 Phương pháp nghiên cứu 4
5 Đóng góp của luận án 5
6 Ý nghĩa lý thuyết và ý nghĩa thực tiễn của luận án 6
6.1 Ý nghĩa lý thuyết 6
6.2 Ý nghĩa thực tiễn 7
7 Cấu trúc luận án 7
NỘI DUNG Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 8
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu truyện lịch sử 8
1.1.1 Một số nghiên cứu ngoài nước 8
1.1.2 Các nghiên cứu về truyện lịch sử ở Việt Nam 10
1.2 Quan niệm về thể loại và cấu trúc thể loại 21
1.2.1.Thể loại và cấu trúc thể loại trong nghiên cứu văn học 21
1.2.2 Truyện lịch sử như một loại hình diễn ngôn văn học 27
1.3 Quan niệm chung về mô hình truyện lịch sử 38
1.3.1 Khái niệm mô hình 38
1.3.2 Khái niệm mô hình truyện lịch sử 39
Tiểu kết chương 141
Chương 2: MÔ HÌNH TRUYỀN THUYẾT LỊCH SỬ 43
2.1 Chủ thể xác tín về chân lý lịch sử gắn với những câu chuyện hồi sinh 44
2.1.1 Câu chuyện dựng nước và giữ nước 45
2.1.2 Câu chuyện thời thế biến thiên dâu bể 53
2.2 Bức tranh thế giới phân lập của các vai – chức năng 57
2.2.1 Ta – địch, chính nghĩa – phi nghĩa 58
2.2.2 Tốt – xấu, thiện – ác 62
Trang 52.2.3 Cái nhỏ - cái lớn, nhân dân – đất nước 66
2.3 Ba hình thức ngôn ngữ thế giới quan 71
2.3.1 Ngôn ngữ trận mạc 71
2.3.2 Ngôn ngữ họ hàng, dòng tộc 75
2.3.3 Ngôn ngữ hội hè, đám đông 77
Tiểu kết chương 2 78
Chương 3: MÔ HÌNH DỤ NGÔN LỊCH SỬ 80
3.1 Chủ thể, người sở đắc chân lý và những bài học 81
3.1.1 Hình tượng tác giả - chủ thể bộc lộ trực tiếp 82
3.1.2 Người kể chuyện - chủ thể nhập vai 87
3.1.3 Hệ thống nhân vật - chủ thể phân vai 94
3.2 Bức tranh thế giới của những chủ thể lựa chọn 101
3.2.1 Chủ thể nhập thế 102
3.2.2 Chủ thể xuất thế 104
3.2.3 Chủ thể trung dung 107
3.3 Kết cấu – hình thức ngôn ngữ đặc trưng chuyển tải bài học dụ ngôn 110
3.3.1 Từ kết cấu kiểu tiểu thuyết cổ điển tạo khung cho tác phẩm 110
3.3.2 đến phá vỡ kết cấu mạch thời gian biên niên 113
3.3.3 và thay đổi ý nghĩa mô hình hóa cặp phạm trù “mở đầu – kết thúc” 114 Tiểu kết chương 3 117
Chương 4: MÔ HÌNH GIAI THOẠI LỊCH SỬ 118
4.1 Chủ thể bất khả tín về chân lý và những truyện kể mới 119
4.1.1 Chủ thể của những câu chuyện mơ hồ, hư thực 121
4.1.2 Chủ thể của những câu chuyện về thân phận cá nhân 126
4.1.3 Chủ thể của những câu chuyện ngẫu nbiên, bất định 129
4.2 Bức tranh thế giới lập thể của những mảnh vỡ lịch sử 132
4.2.1 Những mảnh vỡ ngẫu nhiên, huyền hoặc 133
4.2.2 Những mảnh vỡ của lịch sử quan phuơng, theo tiến trình biên niên 134
4.2.3 Sự đan cài các mảnh vỡ, kiến tạo cấu trúc diễn ngôn 136
4.3 Ngôn ngữ nghệ thuật mang tính tổng hợp cao 139
4.3.1 Lịch sử như một ngôn ngữ, một mã nghệ thuật 139
4.3.2 Phá bỏ phân vai ước lệ 142
4.3.3 Sự trở về ngôn ngữ thế tục 144
Tiểu kết chương 4 146
KẾT LUẬN 148
Trang 61
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
1.1 Trong nền văn học hiện đại Việt Nam, truyện lịch sử là thể loại phát triển mạnh mẽ, đạt được nhiều thành tựu với những tác giả, tác phẩm xuất sắc, trở thành một khuynh hướng văn xuôi tiêu biểu Đặc biệt, từ những năm 1980 trở lại đây, truyện lịch sử có bước chuyển biến lớn với những cách tân, sáng tạo độc đáo, góc nhìn, ngôn ngữ tự sự mới mẻ, khác biệt so với giai đoạn trước Những hiện tượng truyện lịch sử nổi bật, gây tiếng vang lớn, thu hút được sự quan tâm đặc biệt của giới nghiên cứu, phê bình, tạo ra những cuộc tranh luận sôi nổi, trở thành vấn
đề thời sự văn học Tuy nhiên, hệ thống lý thuyết thể loại truyện lịch sử làm điểm tựa, nền tảng cho nghiên cứu, phê bình, tiếp nhận vẫn còn khá khiêm tốn, tản mạn, chưa có tính hệ thống Đây
là vấn đề bức thiết, đòi hỏi cần có những nghiên cứu chuyên sâu, có sự khái quát, xây dựng hệ thống lý thuyết thể loại khoa học, toàn diện Do đó, đề tài của chúng tôi nghiên cứu một hiện tượng văn học đến nay vẫn còn nguyên tính thời sự, góp phần xác lập cơ sở lý thuyết thể loại truyện lịch sử trên những khía cạnh nổi bật, đặc trưng, then chốt, bắt kịp với tốc độ phát triển của thực tiễn sáng tác
1.2 Mặt khác, khi truyện lịch sử nhận được sự quan tâm, nghiên cứu của đông đảo các học giả, nhà phê bình thì những nghiên cứu này cũng bộc lộ rõ nhiều nhược điểm Trên thực tế, các nghiên cứu về truyện lịch sử ở Việt Nam chủ yếu dựa trên hai nền tảng lý thuyết: Lý thuyết phản ánh và góc nhìn thi học của Aristote Các nghiên cứu theo lý thuyết phản ánh đi tìm ý nghĩa của lời nghệ thuật trong mối quan hệ biểu nghĩa của hệ quy chiếu lời – vật tương ứng Đây là cách nhìn thể loại trên một mặt phẳng, yêu cầu nghệ thuật phản ánh hiện thực cuộc sống, lấy tiêu chí tính chân thực làm thước đo Còn cách tiếp cận theo trường phái Aristote thì tách bạch cực đoan hai khía cạnh sự thật lịch sử và hư cấu, sáng tạo Vì thế, phương pháp nghiên cứu, cách tiếp cận cổ điển này bộc lộ nhiều hạn chế, dẫn đến cái nhìn độc đoán, phiến diện, chỉ nhìn thấy hiện tượng, lớp vỏ ngôn từ bề ngoài mà chưa thấy được hạt nhân cấu trúc bề sâu, bên trong tác phẩm/ thể loại, gây ra những cuộc tranh luận không có hồi kết Chính thực trạng này đòi hỏi cần có một cách tiếp cận khác, lối tư duy vấn đề toàn diện, mới mẻ, thấu đáo hơn Luận
án của chúng tôi tiếp cận truyện lịch sử từ lý thuyết diễn ngôn, đặt lời nghệ thuật cùng dãy với các thể loại lời nói khác trong việc thực hiện chiến lược giao tiếp, tức xác định tọa độ truyện lịch
sử hiện đại trong hệ tọa độ của các diễn ngôn bao quanh nó, có trước và tiếp nối nó Từ đó, chúng tôi đi sâu nghiên cứu truyện lịch sử trên hai phương diện là truyền thống và khởi xướng Đây là một hướng nghiên cứu, cách tiếp cận, góc nhìn từ lý thuyết hiện đại, góp phần khắc phục những hạn chế trong nghiên cứu truyện lịch sử thời gian qua, gợi mở những con đường mới cho việc nghiên cứu thể loại nói riêng và các hiện tượng văn học hiện đại nói chung
Trang 72
1.3 Trong nhà trường hiện nay, truyện lịch sử và các tác phẩm khai thác đề tài lịch sử được đưa vào giảng dạy ở nhiều mức độ, phạm vi khác nhau Việc khai thác, tiếp cận, lý giải các tác phẩm đó vẫn còn nhiều lúng túng, bất đồng và nhìn nhận chưa thật thỏa đáng Thực trạng này bắt nguồn từ việc thiếu một công cụ lý thuyết, phương pháp tiếp nhận, cách tư duy vấn đề văn học với những đặc trưng riêng Bên cạnh đó, việc giảng dạy trong các trường học về thể loại vẫn còn một khoảng cách học thuật với các nghiên cứu chuyên sâu do độ chênh của đối tượng, mục đích, yêu cầu Điều này cần được khắc phục bằng một phương pháp luận phù hợp với các thao tác tiếp nhận cụ thể, không quá hàn lâm nhưng mang tính khoa học và chuẩn xác cao Với quan niệm về thể loại, nền tảng lý thuyết và phương pháp tiếp cận truyện lịch sử trong luận án này, chúng tôi hy vọng cung cấp một công cụ lý thuyết, các tha tác và cách thức tiếp cận truyện lịch sử trong nhà trường phù hợp với đối tượng, tính chất, yêu cầu của công việc giảng dạy Qua đây, chúng tôi hy vọng bắc một nhịp cầu nối giữa việc tiếp nhận mang tính phổ thông trong nhà trường và những nghiên cứu hàn lâm, để có thể hiểu, cảm, lý giải truyện lịch sử và các hiện tượng văn học khác một cách khoa học, logic, toàn vẹn, triệt để nhất có thể
1.4 Với đề tài Ba mô hình truyện lịch sử trong văn xuôi hiện đại Việt Nam, chúng tôi
quan niệm truyện lịch sử như một loại hình diễn ngôn, đi sâu tìm hiểu hạt nhân cấu trúc thể loại Hướng đi này sẽ góp phần lấp đầy những khoảng trống lý thuyết thể loại còn để ngỏ, lý giải những hiện tượng truyện lịch sử phức tạp, gây nhiều tranh cãi, giải quyết những bất đồng quan điểm trong nghiên cứu và thực tiễn sáng tác Mặt khác, dựa trên hệ thống lý thuyết mới, chúng tôi có thể kiến giải, diễn giải lại các hiện tượng truyện lịch sử quen thuộc cũng như các thể loại văn học khác Vì vậy, góc nhìn, cách tiếp cận này hứa hẹn nhiều triển vọng cho nghiên cứu truyện lịch sử, thể loại và các hiện tượng văn học khác
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Nhận diện/ mô tả lịch sử thể loại truyện lịch sử dưới ánh sáng của lý thuyết mới – lý thuyết diễn ngôn Từ đó, luận án làm sáng tỏ một số khía cạnh lý thuyết và lịch sử văn học dưới góc nhìn cấu trúc thể loại
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận án của chúng tôi hướng đến việc thực hiện những nhiệm vụ cơ bản sau:
Thứ nhất: Điểm lại, tổng hợp, khái quát hóa lịch sử nghiên cứu truyện lịch sử ở trong và
ngoài nước qua các công trình tiêu biểu Những xu hướng nghiên cứu và các lý thuyết được sử dụng là tiền đề, cơ sở để chúng tôi thực hiện luận án này
Trang 83
Thứ hai: Xây dựng một nền tảng lý thuyết thể loại truyện lịch sử trên cơ sở lý thuyết diễn
ngôn và các mẫu gốc trần thuật, làm điểm tựa để đưa ra ba mô hình truyện lịch sử cụ thể, khảo sát, lý giải một số hiện tượng truyện lịch sử tiêu biểu trong văn học Việt Nam hiện đại
Thứ ba: Đi sâu phân tích, lý giải, diễn giải ba mô hình truyện lịch sử: truyền thuyết, dụ
ngôn, giai thoại qua những tác phẩm tiêu biểu trên nền tảng lý thuyết và các tiêu chí đã được xây dựng, tìm ra
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận án của chúng tôi sẽ tập trung nghiên cứu những truyện lịch sử tiêu biểu trong văn học Việt Nam hiện đại (tính từ đầu thế kỷ XX đến nay) Từ những khảo sát trên thực tế tác phẩm, chúng tôi đưa ra ba mô hình cấu trúc truyện lịch sử với những đặc trưng riêng, thực hiện chiến lược giao tiếp diễn ngôn, dựa trên nền tảng những kiểu cấu trúc nền móng của thể loại Nền tảng lý thuyết cơ bản cũng là tiêu chí để chúng tôi phân xuất ra những mô hình truyện lịch
sử là lý thuyết diễn ngôn, ký hiệu học văn hóa và tự sự học hiện đại, tiếp cận đối tượng theo hai hướng: loại hình học và tân tu từ học
Như vậy, về bản chất, đối tượng nghiên cứu của luận án là thể loại truyện lịch sử từ góc nhìn lý thuyết diễn ngôn thực hiện chiến lược giao tiếp đặc thù Trên nền tảng lý thuyết thể loại được xây dựng, chúng tôi mô tả cụ thể ba mô hình truyện lịch sử qua việc khảo sát các hiện tượng tiêu biểu Từ đó, chúng tôi bước đầu quan sát sự vận động của thể loại truyện lịch sử trong sự vận động của nền văn học hiện đại Việt Nam từ góc nhìn cấu trúc
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nội dung: Dựa trên nền tảng lý thuyết diễn ngôn, ký hiệu học văn hóa và tự sự
học hiện đại, luận án đưa ra quan niệm và những đặc trưng cơ bản của thể loại truyện lịch sử với
tư cách là một loại hình diễn ngôn Tiếp đó, chúng tôi sẽ đi sâu khảo sát, diễn giải cụ thể ba mô hình truyện lịch sử là truyền thuyết, dụ ngôn và giai thoại từ các chất liệu trong văn học Việt Nam hiện đại, có đối sánh khái quát với truyện lịch sử trung đại và nước ngoài
Phạm vi tư liệu khảo sát: Những tác phẩm truyện lịch sử trong văn học hiện đại Việt
Nam (từ đầu thế kỷ XX đến nay) bao gồm tiểu thuyết và truyện ngắn viết về lịch sử Tuy nhiên,
để làm sáng tỏ đối tượng nghiên cứu là vấn đề mô hình cấu trúc thể loại, chúng tôi sẽ chọn, đi sâu khảo sát, phân tích một số hiện tượng truyện lịch sử tiêu biểu, điển hình, được đánh giá cao, được dư luận quan tâm Đồng thời, một số truyện lịch sử trung đại và nước ngoài cũng được chúng tôi đưa vào danh mục tư liệu để đối sánh, nhìn nhận vấn đề toàn vẹn, thấu đáo
Trang 94
4 Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
4.1 Cơ sở lý thuyết
Luận án của chúng tôi sử dụng lý thuyết diễn ngôn, chủ yếu của V.I.Chiupa làm cơ sở
Từ cơ sở lý thuyết này, chúng tôi quan niệm truyện lịch sử như một loại hình diễn ngôn đặc thù
để thực hiện một chiến lược giao tiếp với sự tham gia, thống nhất của ba yếu tố: chủ thể phát ngôn, đối tượng hướng tới/ tiếp nhận và cái tham chiếu (nội dung được thể hiện) Ba yếu tố đó
sẽ kết hợp, tạo ra các mô hình cấu trúc, những bức tranh thế giới riêng cho thể loại dựa trên các mẫu gốc trần thuật Tiếp cận truyện lịch sử từ góc độ này, chúng tôi quan niệm thể loại chính là
sự thỏa thuận giữa chủ thể phát ngôn và đối tượng hướng tới trên một vấn đề/ đề tài nào đó mà
cả hai cùng quan tâm, được thể hiện bằng phương tiện ngôn ngữ phù hợp
Ngoài ra, chúng tôi cũng sử dụng các lý thuyết khác như: tự sự học hiện đại, ký hiệu học văn hóa và thi pháp học trong khảo sát, phân tích, khái quát hóa, làm rõ cái nhìn, cách diễn giải lịch sử trong các mô hình và của mỗi nhà văn Bên cạnh đó, các lý thuyết này sẽ bổ sung cho lý thuyết diễn ngôn, làm rõ hơn các yếu tố về hình thức, ngôn ngữ, các cơ chế tạo nghĩa, mã hóa thành các motif nghệ thuật, xây dựng hình tượng, tổ chức trần thuật, tạo dựng kết cấu… Mỗi yếu tố cụ thể đó mang nét riêng, tạo ra đặc trưng cho mỗi mô hình cấu trúc truyện lịch sử trong
sự vận động, phát triển của lịch sử văn học
4.2 Phương pháp nghiên cứu
4.2.1 Phương pháp luận của lý thuyết diễn ngôn và ký hiệu học văn hóa: đi sâu phân
tích, diễn giải và lý giải truyện lịch sử như một hình thức diễn ngôn đặc thù của văn học Từ đó, trên cơ sở chiến lược giao tiếp diễn ngôn giữa chủ thể, cái tham chiếu và đối tượng tiếp nhận, chúng tôi phân xuất, làm sáng rõ ba mô hình truyện lịch sử từ trên cơ sở các mô hình cấu trúc tự
sự nền móng Trong diễn ngôn truyện lịch sử, yếu tố lịch sử chỉ là một thứ mã, một loại ngôn ngữ đặc trưng thể hiện mô hình cấu trúc của thể loại
4.2.2 Phương pháp nghiên cứu loại hình: khảo sát, tiếp cận truyện lịch sử từ góc nhìn
của các loại hình diễn ngôn, loại hình truyện kể Từ đó, chúng tôi đưa ra quan niệm riêng về truyện lịch sử như một loại hình diễn ngôn trong tương tác với các loại hình diễn ngôn khác, đưa
ra các khuynh hướng, mô hình truyện lịch sử với hạt nhân cấu trúc riêng
4.2.3 Phương pháp thống kê, phân loại: đi thu thập các tác phẩm truyện lịch sử tiêu biểu
của mỗi mô hình, đưa ra các luận cứ, dẫn chứng xác đáng Trên cơ sở đó, chúng tôi khái quát thành lý thuyết và đặc trưng thể loại cũng như từng mô hình của thể loại
4.2.4 Phương pháp lịch sử và phương pháp xã hội học: đặt truyện lịch sử trong tiến
trình vận động, phát triển của thể loại theo tiến trình lịch sử của văn học Việt Nam, đặc biệt là
Trang 105
tiến trình văn học hiện đại Phương pháp này sẽ cho thấy sự vận động, đổi mới của thể loại trong các giai đoạn phát triển văn học Đây cũng là một góc nhìn về lịch sử văn học từ lịch sử thể loại, trong đó các mô hình cấu trúc thể loại nói chung và các mô hình truyện lịch sử nói riêng là sản phẩm của một thời đại gắn với bối cảnh lịch sử, xã hội đặc thù
Ngoài ra, luận án còn sử dụng một số thao tác khác như là so sánh đồng đại và so sánh lịch đại, đối lập, tổng hợp, hệ thống hóa… để hỗ trợ cho các phương pháp nghiên cứu trên Đặc biệt thao tác phân tích tác phẩm sẽ được chúng tôi sử dụng nhiều để đi sâu tìm hiểu một số tác phẩm tiêu biểu, điển hình của mỗi mô hình từ nhiều phương diện, góc cạnh để vừa soi rõ lý thuyết thể loại vừa thấy được phong cách riêng, nỗ lực sáng tạo của các nhà văn Phương pháp này cũng giúp lý giải và diễn giải truyện lịch sử trên một hệ quy chiếu khác để thấy các mã gen thể loại luôn được bảo tồn trong sự thay đổi, bổi đắp hình hài, cách cảm nhận và tiếp nhận mới
5 Đóng góp của luận án
Thứ nhất, chúng tôi đưa ra một quan niệm về thể loại và thể loại truyện lịch sử trên nền
tảng lý thuyết diễn ngôn và những cấu trúc nền móng của văn học nhân loại cổ xưa Theo đó, thể loại được xem như một sự thỏa thuận giữa chủ thể với đối tượng tiếp cận để thực hiện một chiến lược giao tiếp diễn ngôn Từ góc nhìn này, chúng tôi nhận thấy truyện lịch sử, về bản chất
là một loại hình diễn ngôn đặc thù về lịch sử
Thứ hai, trên quan niệm truyện lịch sử là một loại hình diễn ngôn về lịch sử bằng văn
học, dựa vào các kiểu cấu trúc nền móng và cổ mẫu trần thuật, chúng tôi chia truyện lịch sử thành ba mô hình: mô hình truyền thuyết, mô hình dụ ngôn và mô hình giai thoại lịch sử Mỗi
mô hình sẽ thực hiện một chiến lược giao tiếp diễn ngôn riêng với sự tương tác của chủ thể, đối tượng tiếp nhận và cái được nói tới Mỗi mô hình sẽ là một cách tiếp cận riêng, gắn với tư tưởng, hình thức trần thuật, nhào nặn độc đáo trong sự chi phối của các quyền lực chính trị, văn hóa và cá tính sáng tạo riêng của tác giả
Thứ ba, ba mô hình truyện lịch sử không tồn tại tách rời mà có sự chuyển hóa, tương tác
với nhau, là sản phẩm sáng tạo của một chủ thể gắn với thời đại, bối cảnh lịch sử, xã hội, văn hóa, hệ tư tưởng, quan niệm thẩm mỹ, tư duy nghệ thuật nhất định Do đó, nghiên cứu các mô hình trong quá trình vận động, phát triển của nền văn học dân tộc và nhân loại, nhất là đặt trong
ký ức thể loại sẽ đem đến một góc nhìn, một cách tiếp cận mới mẻ về văn học sử từ góc nhìn thể loại Góc nhìn này sẽ bổ sung, làm sáng tỏ, lý giải nhiều hiện tượng truyện lịch sử nói riêng và các hiện tượng văn học nói chung một cách thỏa đáng, đa chiều, khách quan Do đó, luận án cũng đem đến một cách tiếp cận khác truyện lịch sử cũng như vấn đề thể loại văn học
Thứ tư, trong luận án, chúng tôi sẽ dừng lại phân tích, diễn giải, lý giải một số tác phẩm
tiêu biểu, thể hiện rõ đặc trưng của mỗi mô hình, đặc biệt là những hiện tượng còn gây nhiều
Trang 116
tranh cãi, tạo ra dư luận trái chiều, hoặc những hiện tượng mới, lạ, có quan điểm lịch sử đối lập với quan điểm chính thống/ được mặc định Khai thác, diễn giải và lý giải truyện lịch sử như một diễn ngôn, một hiện tượng ngôn ngữ - văn hóa vốn là sản phẩm của chiến lược giao tiếp trong một bối cảnh văn hóa, luận án sẽ đem đến sự thức nhận mới, nhìn nhận đúng bản chất hơn
về lịch sử Theo đó, lịch sử không phải là sự thật như nó vốn có, như cái vốn là, lịch sử chỉ là sự thật trong một hình thức diễn ngôn nào đó, trong đó có diễn ngôn văn học về lịch sử Trong diễn ngôn văn học, lịch sử có vai trò như một mã, ngôn ngữ nghệ thuật đặc trưng Khảo sát các hiện tượng truyện lịch sử, chúng tôi bước đầu đánh giá những thành tựu, đóng góp và cả những hạn chế của thể loại trong nền văn học hiện đại Việt Nam
Thứ năm, những kết quả nghiên cứu về truyện lịch sử của chúng tôi tiếp tục đặt ra một
vấn đề, thực ra không mới, song cần nhìn nhận nghiêm túc và có sự thay đổi, nhất là với các chương trình lý thuyết nền tảng: vấn đề quan niệm văn học, nhất là đặc trưng, bản chất và chức năng của văn học Nhiều năm chúng ta quen dùng lý thuyết phản ánh trên bình diện lời vật tương ứng, dùng hệ quy chiếu văn học phản ánh hiện thực, tạo ra cái nhìn phiến diện, đôi khi cực đoan, đã bỏ qua, làm vùi lấp nhiều thành tựu, nhất là những tác giả, tác phẩm thuộc bộ phận văn học ngoại biên, những tiếng nói bên lề, khiến lịch sử văn học dân tộc không trọn vẹn Văn học chính là sự tái tạo hiện thực bằng một hình thức diễn ngôn trong một chiến lược giao tiếp Hiểu vậy để ta có cái nhìn toàn tri, dân chủ, đối thoại trong tiếp nhận và nghiên cứu, hòa cùng
những xu hướng nghiên cứu hiện đại, trên nền lý thuyết mới mẻ hiện nay
6 Ý nghĩa lý thuyết và ý nghĩa thực tiễn của luận án
6.1 Ý nghĩa lý thuyết
Một mặt, luận án đưa ra cách hiểu, diễn giải lý thuyết diễn ngôn và một số lý thuyết về tự
sự học hiện đại thông qua góc nhìn cấu trúc thể loại Mặt khác, từ những lý thuyết nền tảng và cấu trúc nền móng, chúng tôi đưa ra quan niệm lý thuyết riêng về truyện lịch sử; hạt nhân của ba
mô hình cấu trúc truyền thuyết, dụ ngôn và giai thoại Đây sẽ là những lý thuyết quan trọng về truyện lịch sử, tạo ra một hướng nghiên cứu, cách tiếp cận khác về thể loại này
Bên cạnh đó, chúng tôi cũng hướng đến việc: bước đầu khái quát, đánh giá thể loại trong góc nhìn lịch đại để phần nào thấy được sự vận động, phát triển, thành tựu và hạn chế của thể loại truyện lịch sử trong văn học Việt Nam hiện đại Ở phương diện này, những yếu tố của lý thuyết văn học sẽ được nghiên cứu, xem xét lại, bổ sung như tiến trình văn học, phong cách văn học, đặc trưng của văn học, cơ chế vận hành thể loại, lịch sử văn học Đó là quá trình hình
Trang 12tư tưởng, cùng bối cảnh lịch sử, xã hội, văn hóa, các quyền lực tri thức khi tác phẩm ra đời Và lịch sử sẽ được nhìn ở nhiều chiều kích, trên tinh thần đối thoại, dân chủ, để chúng ta đến gần nhất với sự thật và chân lý từ các sự thật trong diễn ngôn mà các chủ thể đã tạo ra
Những quan niệm thể loại và các mô hình cấu trúc truyện lịch sử trong luận án của chúng tôi sẽ góp thêm một góc nhìn, cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu truyện lịch sử nói riêng, thể loại và các hiện tượng văn học nói chung Phương pháp này đã và đang được ứng dụng trong nghiên cứu văn chương ở nhiều mức độ, cấp độ và góc cạnh khác nhau khi quan niệm tác phẩm như một thể loại lời nói, đặt chúng trong chuỗi các lời nói khác để tìm ra đặc trưng, bản chất, đặt các hiện tượng văn học trong mối quan hệ mật thiết với văn học truyền thống và cổ đại, trên cơ sở mã gen di truyền của thể loại
7 Cấu trúc luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, thư mục tham khảo, luận án của chúng tôi được chia thành bốn chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 2: Mô hình truyền thuyết lịch sử
Chương 3: Mô hình dụ ngôn lịch sử
Chương 4: Mô hình giai thoại lịch sử
Trang 138
NỘI DUNG Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu truyện lịch sử
1.1.1 Một số nghiên cứu ngoài nước
Các nhà nghiên cứu ở phương Tây đã dành mối quan tâm cho tiểu thuyết lịch sử từ rất sớm qua thực tiễn sáng tác của các nhà văn thế kỷ XIX, XX Vấn đề họ quan tâm cũng là vấn đề muôn thuở là chất liệu lịch sử được xử lý, diễn giải như thế nào, nhà văn sáng tạo, hư cấu ra sao Hai góc cạnh sự thật và sáng tạo vẫn là mối quan tâm xuyên suốt như những sợi dọc ngang tạo nên tấm áo nhiều màu sắc nghiên cứu tiểu thuyết lịch sử G.Lukacs, nhà mỹ học người Hungari,
khi bàn về tiểu thuyết lịch sử đã khẳng định: “Sự thể hiện lịch sử không thể có được nếu không
có mối liên hệ có tính chất ấn tượng với hiện tại.” [49; tr.133] Cho nên “nhiệm vụ của nhà văn viết tiểu thuyết lịch sử là phải tạo dựng được một cách phong phú các tác động tương hỗ, cụ thể khớp với hoàn cảnh lịch sử mô tả” [49; tr.132] Bản thân các nhà văn – chủ thể viết tiểu thuyết
lịch sử - từ kinh nghiệm của mình, họ thể hiện quan niệm riêng về thể loại Nhà văn viết tiểu
thuyết lịch sử người Hà Lan, Hella S Haasse cho rằng: “Trong văn học, đề tài lịch sử là một
phương diện chứ không phải là một cứu cánh ( ) Một cuốn tiểu thuyết lịch sử hay không, luôn luôn là một phản chiếu cái thế giới bên trong của tác giả ở một thời điểm nhất định trong cuộc đời họ” [ Dẫn theo Nguyễn Thị Tuyết Minh 137; tr 31] Nhà văn lỗi lạc L.Tonstoi lại chỉ rõ sự
khác biệt giữa nhà văn và nhà sử học trong việc xác định đối tượng thể hiện, từ đó làm nổi bật
yêu cầu của tiểu thuyết lịch sử: “Trong khi vẽ lên bức tranh của một thời đại, nhà sử học và nhà
nghệ sĩ có hai đối tượng hoàn toàn khác nhau Nhà sử học sẽ sai lầm muốn trình bày nhân vật lịch sử trong toàn thể của nó, trong sự phức tạp của mối quan hệ của nhân vật đó với tất cả các mặt của cuộc sống Cũng như vậy, nhà nghệ sĩ sẽ không làm tròn bổn phận của mình nếu anh ta bao giờ cũng trình bày nhân vật của mình trong tư thế lịch sử của nhân vật đó Nhà sử học chú trọng tới các kết quả của một biến cố; còn nhà nghệ sĩ thì chú trọng tới bản thân của sự kiện trong biến cố” [ Dẫn theo Nguyễn Thị Tuyết Minh 137; tr.36] Milan Kundera sau này cũng có
cái nhìn tương tự nhưng cụ thể hơn đối với tiểu thuyết: “Nếu tác giả nhìn nhận ở một tình thế
lịch sử một khả năng chưa từng có và tiêu biểu của thế giới con người, anh ta sẽ muốn mô tả nó đúng như nó có Cái đó không trái với điều là sự trung thành với sự thật lịch sử là chuyện thứ yếu trong giá trị của tiểu thuyết Nhà tiểu thuyết không phải là nhà sử học cũng chẳng phải nhà tiên tri: anh ta là người thám hiểm cuộc sống” [111; tr.51]
Cuốn sách Tiểu thuyết hiện đại của hai tác giả Dorothy Brewster và Jonh Bureell cũng đưa ra những quan niệm riêng về tiểu thuyết lịch sử Theo các tác giả của cuốn sách này, “Tiểu
Trang 149
thuyết lịch sử có thể thoát thai từ ao ước của một tác giả muốn đào thoát khỏi hiện tại, đồng thời thỏa mãn ước ao tương tự của độc giả Nhưng tiểu thuyết lịch sử còn có nhiều tác dụng nữa Nó có thể soi sáng những thời kỳ quá khứ con người đã qua, với những mục đích rõ ràng
là gạn lọc những tình trạng tiến thoái lưỡng nan của hiện tại Nó giúp ta làm những bảng so sánh, đối chiếu thời đại nọ với thời đại kia” [30; tr.197] Họ quan niệm rằng“Tác giả tiểu thuyết lịch sử sử dụng quá khứ như một khí cụ để vẽ lên những điểm tương đồng giữa quá khứ và hiện tại, và do đó làm sáng tỏ hiện tại.” [30; tr.198] Cuốn sách này còn đi sâu, mở rộng nghiên cứu
tiểu thuyết lịch sử trong hoạt động tiếp nhận, góc nhìn của người đọc: “Đọc tiểu thuyết lịch sử
là để đưa mình vào những thời đại khác, vì khi người ta khốn khổ thì ưa đi tìm bạn tương tri”
[30; tr.196] Vì tiểu thuyết lịch sử viết về một thời đại khác, cách xa thời đại tác giả đang sống
nên: “Viết tiểu thuyết lịch sử chẳng khác nào trò chơi ú tim trong bóng tối, và nếu trong trò
chơi này ta chộp được một bàn tay hay một khuôn mặt, thì đã là may mắn lắm rồi” [30; tr.213]
Những kết quả khảo cứu nêu trên giúp các tác giả đưa ra tiêu chuẩn cho tiểu thuyết về lịch sử
hiện đại: “Tác giả không có nhiệm vụ soi sáng các biến cố, “mà chỉ có nhiệm vụ soi sáng con
người mắc míu vào biến cố, vì nhân vật là mục tiêu của bất kỳ loại tiểu thuyết nào” [29; tr.215 –
216] Đây là những nhận định có nghĩa quan trọng để ta hiểu hơn bản chất, mục đích, sức mạnh của tiểu thuyết lịch sử và sứ mệnh của nhà văn viết truyện lịch sử Nó cũng cho người đọc một cái nhìn, xác định tâm thế đọc tiểu thuyết lịch sử chính là đọc một diễn ngôn về lịch sử, về cái đã xảy ra trong quá khứ để hiểu thực tại
Nhà nghiên cứu người Mỹ Hayden White đưa ra một luận điểm then chốt, thành nền
tảng tư tưởng khi nhìn về tự sự và lịch sử: “lịch sử như là tự sự” (history as narrative) [185; tr.114] Ông giải thích rõ quan niệm của mình về lịch sử: “Lịch sử chỉ như một thứ truyện kể
được kể từ điểm nhìn của một ngôi thứ ba nào đó, như chiết tự của từ “history” trong tiếng Anh Các sự kiện quá khứ chưa phải là lịch sử, chúng chỉ trở thành lịch sử khi được diễn giải, từ
đó, lịch sử chính là một trò chơi – ngôn ngữ (language – game), để dùng một từ khóa của triết học hậu hiện đại” [185; tr.115] Theo ông, “các thủ pháp tu từ của văn chương không hề xa lạ với công việc viết sử, các nhà viết sử cũng có thao tác hư cấu của mình, theo đó, “những gì được phát kiến trong công trình lịch sử cũng nhiều như những gì được tìm thấy [ở các sự kiện
đã xảy ra]” Sử giống với tự sự ở chỗ nó không thể nào tiêu diệt được cốt truyện” [185; tr.115 –
116] Đối với ông, “lịch sử chỉ là “sự tưởng tượng về lịch sử” được diễn ngôn hóa” [185; tr.117] Ông đã chỉ ra rất rõ đặc trưng riêng của loại hình tự sự lịch sử: “Tự sự lịch sử không
giống như một bảng niên giám hay biên niên, vốn chỉ làm những sự kiện được sắp xếp theo trình tự thời gian, mà là cả một sự móc nối, xâu chuỗi để tạo thành một sự mạch lạc” [185;
tr.118] Do đó, ông đã nhìn ra sự tương phản giữa hình thức ghi sử biên niên và những tự sự lịch
sử nên cho rằng: “Tương phản với hình thức biên niên, tự sự lịch sử phát lộ với chúng ta một
Trang 1510
thế giới được giả định là đã hoàn tất, đã xong xuôi, đã trải qua nhưng chưa tan rã, chưa phân mảnh Trong thế giới này, hiện thực đeo tấm mặt nạ của ý nghĩa, của sự hoàn thành và đầy đủ cái mà chúng ta chỉ có thể tưởng tượng chứ chưa hề trải nghiệm” [185; tr.118] Trong khi đó,
Larissa Macfarquhar cho rằng: “Tiểu thuyết lịch sử là một hình thức lai, nằm giữa hư cấu và phi
hư cấu” [266]
Những nghiên cứu và quan điểm ở ngoài nước này đều là những căn cứ lý thuyết quan trọng, gợi mở cho chúng tôi cách thức và phương pháp tiếp cận với truyện lịch sử một cách khoa học, khách quan, thỏa đáng Đặc biệt là những quan niệm của Hayden White là cơ sở để chúng tôi nhìn lịch sử như một diễn ngôn về cái đã xẩy ra trong quá khứ và có quan niệm mới
về lịch sử Điều quan trọng của một diễn ngôn lịch sử không phải ở chỗ nó có đúng sự thật hay không mà nó mang đến quan niệm gì? Thể hiện cách tiếp cận quá khứ ra sao? Đáp ứng nhu cầu nào của con người thông qua hư cấu và trần thuật?
1.1.2 Các nghiên cứu về truyện lịch sử ở Việt Nam
Nghiên cứu về mối quan hệ giữa văn và sử
Khi khảo sát lịch sử nghiên cứu thể loại truyện lịch sử, chúng tôi thấy hệ thống những bài viết, công trình nghiên cứu, các luận văn, luận án, chuyên luận, chuyên khảo về các tác giả viết truyện lịch sử, tác phẩm truyện lịch sử rất nhiều, phong phú, đánh giá nhiều góc cạnh, ở các mức độ, quy mô khác nhau, nhìn từ nhiều hệ hình và tư duy lý thuyết khác nhau Qua những nghiên cứu này, các tác giả đã đưa ra quan niệm riêng về lịch sử, thể loại truyện lịch sử và những đặc trưng của nó ở những dạng thức, tính chất, mức độ khác nhau Hầu hết các nghiên cứu đều xoay quanh vấn đề mối quan hệ giữa văn và sử, hiện thực và hư cấu
Trong cuốn Nguyễn Huy Tưởng, NXB Văn học, 1966, Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức có nhận định về việc sáng tạo nghệ thuật của các nhà viết truyện lịch sử: “Việc nghiên cứu lịch sử
là vô cùng cần thiết đối với nghệ sĩ, nhưng sự nghiên cứu ấy không thể thay thế cho sự sáng tạo
Có khi nghệ sĩ chỉ cần vài khoảnh khắc trong đời sống của nhân vật lịch sử, có khi nghệ sĩ đưa vào tác phẩm những điều phi lịch sử không quan trọng, thậm chí trong một chừng mực nào đó,
có quyền vi phạm sự đúng đắn về mặt sự kiện lịch sử, bởi vì tác giả chỉ cần sự đúng đắn lý tưởng mà thôi” [Dẫn theo Nguyễn Thị Tuyết Minh - 137; tr.12] Khi nói về các tiểu thuyết lịch
sử Đêm hội Long Trì và An Tư , Hà Minh Đức đã nhận xét: “Những sự kiện lịch sử lớn lao đã
được làm sống dậy chân thực, hào hùng trong tác phẩm của Nguyễn Huy Tưởng.” [ Dẫn theo
Nguyễn Thị Tuyết Minh - 137; tr.22] Phan Cự đệ đã khẳng định ý nghĩa của những tiểu thuyết lịch sử thời kỳ 1900 – 1930, đặc biệt là việc thể hiện những vấn đề của thời đại trong công trình
Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại Bên cạnh đó, bài viết Các thế hệ nhà văn trong ngót một trăm
năm nối tiếp nhau soi lại lịch sử của Nguyễn Đình Chú đã đánh giá những đóng góp cụ thể của
Trang 1611
nhà văn Nguyễn Tử Siêu qua tiểu thuyết lịch sử Bài viết Vai trò của truyện kể dân gian đối với
sự hình thành các thể loại tự sự trong văn học Việt Nam (trong sách Văn hóa dân gian, những
lĩnh vực nghiên cứu, NXB Khoa học Xã hội, 1989) của Kiều Thu Hoạch có đưa ra nhận định
quan trọng về truyện lịch sử trong tiến trình phát triển của nền văn học dân tộc trên tinh thần kế thừa và phát huy truyền thống
Những nghiên cứu, nhận định về tiểu thuyết lịch sử nửa đầu thế kỷ XX chủ yếu tập trung vào nội dung, đề tài, xem xét cách khai thác lịch sử như thế nào Từ góc nhìn nội dung, các tác giả bước đầu có những nhận định về những sáng tạo, hư cấu, tưởng tượng của nhà văn Cùng với đó, một số yếu tố kỹ thuật, thủ pháp được sử dụng trong tiểu thuyết lịch sử cũng được nhắc đến như hình thức thể hiện phong cách riêng của nhà văn đó Tuy nhiên, đây mới là những nhận định khái quát, ban đầu, chưa đi sâu phân tích, nêu bật tiểu thuyết lịch sử như một thể loại, có hệ thống thi pháp, xử lý chất liệu lịch sử theo những thủ pháp riêng, khác biệt so với các văn bản chính sử, sử ký (những diễn ngôn lịch sử)
Năm 1988, báo Văn nghệ có đăng bộ ba truyện lịch sử của Nguyễn Huy Thiệp là Kiếm
sắc, Vàng lửa và Phẩm tiết Ngay từ lúc mới ra mắt công chúng, những truyện lịch sử rất khác
và lạ này nhận được nhiều luồng ý kiến trái chiều Trên báo Văn nghệ và một số báo khác đăng
hàng loạt những bài viết với cái nhìn đối lập, thậm chí đối nghịch về những truyện lịch sử này Những quan điểm đó không thể dung hòa, đã tạo nên “cơn bão” tranh luận về truyện lịch sử của Nguyễn Huy Thiệp nói riêng và nhiều vấn đề rộng hơn như thể loại, cách đọc tác phẩm văn học, vai trò, ý thức người sáng tác, v.v… “Tâm bão” của cuộc tranh luận khốc liệt này chủ yếu xoáy
vào hai truyện ngắn Vàng lửa và Phẩm tiết Điều đó cũng dễ hiểu vì hai tác phẩm này động
chạm đến những vấn đề tế nhị như lịch sử, văn hóa, lòng tự tôn dân tộc, những hình tượng nhân vật đã ăn sâu trong tiềm thức người dân như một tượng đài, như đã được “phong thánh”, kiểu như Quang Trung, Nguyễn Du, bằng cái nhìn thế tục, giải thiêng, đôi chỗ có phần suồng sã, bỡn cợt, giễu và nhại
Châm ngòi cho cuộc tranh luận là bài viết Về truyện ngắn “Vàng lửa” của Nguyễn Huy Thiệp của Tạ Ngọc Liễn đăng trên Văn nghệ số 26, 26/6/1986 Ông cho rằng: xét về nội
dung tư tưởng, quan điểm xã hội và cách nhìn nhận giá các giá trị lịch sử mà Nguyễn Huy Thiệp
trong tác phẩm thì Vàng lửa “là một truyện chứa không ít sai lầm, lệch lạc” [152; tr.170] Dù
không cùng điểm nhìn với Tạ Ngọc Liễn nhưng lại cùng thái độ phê phán gay gắt và phủ nhận
quyết liệt truyện ngắn Vàng lửa, Đỗ Văn Khang viết bài Có một cách đọc “Vàng lửa” đăng
trên Văn nghệ số 36 – 37 ngày 3/9/1988 Đáp lại quan điểm của Tạ Ngọc Liễn là hàng loạt
những bài viết tranh luận, bác bỏ, khẳng định những sáng tạo độc đáo của Nguyễn Huy Thiệp
trong Vàng lửa Đó là các bài viết: Đọc văn phải khác với đọc sử của Lại Nguyên Ân, Về một cách hiểu truyện ngắn “Vàng lửa” của Thùy Sương, Bàn thêm về truyện ngắn “Vàng lửa”
Trang 1712
của Nguyễn Huy Thiệp của Ngô Văn Giá, Vàng lửa” của Nguyễn Huy Thiệp “triết học lịch sử” hay là “văn xuôi nghệ thuật”? của Trương Hồng Quang và Nguyễn Mai Xuân, Về một lối cảm thụ và phê bình “bắt vít” của Nguyễn Hữu Sơn và Trịnh Bá Đĩnh, “Đọc” Nguyễn Huy Thiệp của Văn Tâm, … và một số ý kiến lẻ khác trong các cuộc phỏng vấn, tọa đàm hoặc các
bài viết nhận định chung về cả ba tác phẩm truyện lịch sử của Nguyễn Huy Thiệp Những bài viết này xuất phát từ những góc nhìn, cách tiếp cận khác nhau, có những khám phá, phát hiện trên nhiều phương diện về những truyện lịch sử của ông Tuy nhiên, tất cả đều trực tiếp hoặc gián tiếp tranh luận với cách nhìn nhận, đánh giá của Tạ Ngọc Liễn và Đỗ Văn Khang, nhất là của Tạ Ngọc Liễn, khẳng định giá trị nhiều mặt, những tìm tòi, sáng tạo độc đáo và phong cách nghệ thuật riêng của Nguyễn Huy Thiệp ở đề tài viết về lịch sử; khái quát sự vận động, đổi mới của văn học và đặt ra vấn đề mối quan hệ sáng tác và tiếp nhận, đặc trưng của tiếp nhận/ đọc văn bản nghệ thuật Trong số những bài viết này, đáng lưu ý là ý kiến của Lại Nguyên Ân khi phê
phán cách đọc sai lầm của Tạ Ngọc Liễn và nhấn mạnh rằng: “Cách đọc tác phẩm văn học viết
về lịch sử cũng khác với cách đọc các công trình sử học” [152; tr.179]
Khi cuộc tranh luận về Vàng lửa vẫn đang ở giai đoạn cao trào thì Văn nghệ lại đăng một truyện lịch sử khác của Nguyễn Huy Thiệp – Phẩm tiết số 29 – 30, ngày 16/7/1988 Ngay sau
đó, Phẩm tiế” đã trở thành tâm điểm của những cuộc tranh luận gay cấn về vấn đề văn học và
lịch sử, về những hình tượng nhân vật lịch sử đã trở thành tượng đài sừng sững trong lòng người
dân Việt Nam Khác với cuộc tranh luận về Vàng lửa, trong cuộc tranh luận mới này, khá nhiều
ý kiến phê phán, đả kích gay gắt đến cực đoan, mạt sát nhà văn và những người có ý kiến đối lập Ngay cả những người ủng hộ, thấy những sáng tạo độc đáo, mới mẻ và những nét đặc sắc của tác phẩm cũng tỏ ra dè dặt, đôi chỗ ái ngại khi nói về cách nhìn, xây dựng hình tượng Quang Trung, Nguyễn Du trong tác phẩm Do đó, cuộc tranh luận này trở nên dùng dằng, căng thẳng, kéo dài và dường như đã không tìm được tiếng nói chung Khởi xướng cho cuộc tranh
luận này là bài viết của Nguyễn Thúy Ái đăng trên Văn nghệ số 35 – 36, ngày 20/8/1988 với
nhan đề Viết như thế cũng là một cách bắn súng lục vào quá khứ Cùng quan điểm này là các
bài viết của Vũ Phan Nguyên, Đỗ Văn Khang, Tạ Ngọc Liễn, Bên cạnh đó, các là ý kiến nhận xét của các nhà văn như Ngọc Oanh, Bùi Hiển, Hồ Phương, Bùi Đình Thi, Mai Ngữ… Đối lập với những chỉ trích gay gắt nói trên, các tác giả Hoàng Ngọc Hiến, Nguyễn Diệp, Trương Hồng Quang, Nguyễn Vy Khanh, Đỗ Trung Lai, Vương Anh Tuấn, Nguyễn Đăng Mạnh, Đặng Anh Đào… có cái nhìn khách quan, toàn diện, khai thác nhiều khía cạnh để lý giải, thấy được cách nhìn lịch sử riêng của Nguyễn Huy Thiệp – nhìn theo khuynh hướng thế sự, đời tư, bằng ý thức của con người cá nhân, nhìn nhân vật lịch sử ở đời sống người Một số bài ứng dụng các lý thuyết phê bình hiện đại, phát hiện khá tinh tế ngôn ngữ văn xuôi mới mẻ củ tác giả khi viết
truyện lịch sử như tác giả Đặng Anh Đào gọi truyện lịch sử của ông mang “quy ước trò chơi
Trang 1813
truyện “lịch sử - giả” [152; tr.269] Toàn bộ cuộc tranh luận về truyện lịch sử của Nguyễn Huy
Thiệp được Phạm Xuân Nguyên tổng hợp trong cuốn Đi tìm Nguyễn Huy Thiệp, NXB Văn hóa
Thông tin, 2001
Hiện tượng truyện lịch sử và cuộc tranh luận xung quanh truyện lịch sử của Nguyễn Huy Thiệp lắng xuống do nhiều lý do liên quan tới văn học và cả ngoài văn học Một thời gian dài, nhiều truyện lịch sử vẫn được xuất bản nhưng không gây tiếng vang, thu hút sự chú ý đặc biệt của công chúng hay thành hiện tượng nổi bật, vấn đề thời sự văn học như hiện tượng Nguyễn
Huy Thiệp Cho tới năm 2000, tiểu thuyết Hồ Quý Ly ra mắt bạn đọc, đánh dấu sự trở lại
“ngoạn mục” của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh Tiếp sau đó, ông xuất bản hai cuốn tiểu thuyết
lịch sử khá dày dặn là Mẫu Thượng Ngàn (2008) và Đội gạo lên chùa (2011) Bộ ba tiểu thuyết
lịch sử của Nguyễn Xuân Khánh trở thành một hiện tượng văn học, thu hút được nhiều sự chú ý của giới nghiên cứu, phê bình, tạo ra một hiện tượng văn học, thể hiện một phong cách, xu hướng riêng khai thác đề tài lịch sử Ngày 15 tháng 10 năm 2012, Viện văn học tổ chức hội thảo
Lịch sử và văn hóa qua tiểu thuyết của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh như một sự tổng kết
những nghiên cứu về tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh Điểm lại những bài viết, công trình nghiên cứu về tiểu thuyết lịch sử của Nguyễn Xuân Khánh, chúng tôi nhận thấy có ba khuynh hướng nghiên cứu chính: 1/ Nghiên cứu từ góc nhìn lịch sử văn hóa; 2/ Nghiên cứu từ phương diện đặc trưng thể loại; 3/ Nghiên cứu từ góc nhìn của các lý thuyết hiện đại như thi pháp học, tự
sự học, lý thuyết diễn ngôn, ký hiệu học văn hóa, lý thuyết của chủ nghĩa cấu trúc
Từ điểm nhìn lịch sử văn hóa, chúng tôi nhận thấy có những bài viết đáng chú ý: Tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh, sự đan bện giữa lịch sử và văn hóa – phong tục của Nguyễn Hoài Nam, Nguyễn Xuân Khánh và sự va chạm với cái vảy ngược trên ngực của những con rồng của Phan Tuấn Anh, Tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh từ góc nhìn văn hóa của Mai Anh Tuấn, Một cách luận giả lịch sử dân tộc của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh (Nhân đọc tiểu thuyết Hồ Quý Ly) của Đỗ Ngọc Yên, Sức ám ảnh của tín ngưỡng dân gian trong tiểu thuyết
“Mẫu Thượng Ngàn” của Trần Thị An, Những miền mơ tưởng Mẫu tính và Nữ tính vĩnh hằng trong “Mẫu Thượng Ngàn” của Nguyễn Xuân Khánh (Một cách tiếp cận từ lý thuyết
Cổ mẫu) của Nguyễn Quang Huy, “Mẫu Thượng Ngàn” – con đường tìm về cội nguồn văn hóa và sức sống dân tộc của Nguyễn Văn Long – Lê Thị Thủy, “Đội gạo lên chùa” – một cách hiểu về Phật tính của Nguyễn Thị Bình, Khi tâm thức Phật giáo hòa vào tâm thức Việt (Nhân đọc Đội gạo lên chùa) của Tôn Phương Lan, Tâm thức Phật giáo trong “Đội gạo lên chùa” của Nguyễn Xuân Khánh của Phan Trần Thanh Tú, “Đội gạo lên chùa” – sự đối đầu giữa các giá trị văn hóa của Phan Trọng Hoàng Linh Những bài viết này đi sâu nghiên cứu,
làm sáng tỏ vấn đề văn hóa, tôn giáo với những khái niệm “Mẫu tính”, “Phật tính”, “Nữ tính” và xem đó là cảm thức chủ đạo, xuyên suốt, thống nhất trong các sáng tác của Nguyễn Xuân
Trang 1914
Khánh Bên cạnh đó, các tác giả cũng khám phá ra nhiều lớp văn hóa, phong tục, vẻ đẹp truyền thống của con người Việt Nam trơng tiểu thuyết của ông Từ góc nhìn này, tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh được tiếp nhận trong cái nhìn liên văn bản, trong tương tác với văn hóa dân tộc Các yếu tố “Mẫu gốc” (Cổ mẫu), văn hóa tâm linh, phong tục, tôn giáo được xem như một ngôn ngữ thể hiện đặc thù trong tiểu thuyết của ông Những yếu tố của Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo, tín ngưỡng thờ Mẫu và các tín ngưỡng dân gian khác được nghiên cứu rất sâu sắc
Dựa trên nền tảng những lý thuyết hiện đại về tiểu thuyết, về kết cấu tác phẩm, Bùi Việt Thắng đã đối sánh tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh với dạng thức tiểu thuyết ngắn đương đại Việt Nam, đặt ra vấn đề về sự tương tác giữa các xu hướng tiểu thuyết với thị hiếu người đọc,
rồi đưa ra hai đặc điểm kết cấu tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh: “Hợp xướng nhiều bè” [55; tr.52] và “Hòa âm lịch sử và tâm lý” [55; tr.58] Thái Phan Vàng Anh lại đi sâu vào tính đối
thoại trong tiểu thuyết của ông trên cơ sở tính đối thoại bắt nguồn từ nhận thức Tác giả đưa ra hai dạng thức đối thoại: Đối thoại về tư tưởng, quan niệm và đối thoại với lịch sử qua hình thức
huyền thoại và giải huyền thoại Bàn về sử dụng yếu tố huyền thoại, kỳ ảo trong tiểu thuyết Mẫu
Thượng Ngàn trên các phương diện “nhân vật mang tính huyền thoại”, “không gian huyền thoại” và “sử dụng các yếu tố kỳ ảo”, Lê Thị Bích Thủy xem những yếu tố này như một yếu tố
nghệ thuật để chuyển tải nội dung, tư tưởng tác phẩm Ngoài ra, những bài viết như Nguyễn Xuân Khánh, từ cấu trúc nghệ thuật đến cấu trúc tư tưởng của Phạm Xuân Thạch, Đọc “Hồ Quý Ly”, nghĩ về tư duy tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh của Phạm Phú Phong, cũng
đưa ra hướng nghiên cứu và cái nhìn tương tự
Dưới góc nhìn từ lý thuyết diễn ngôn, bài viết Tiểu thuyết lịch sử Nguyễn Xuân Khánh – một diễn ngôn về lịch sử và văn hóa của Nguyễn Đăng Điệp đã đưa ra nhiều luận điểm sâu
sắc về thể loại tiểu thuyết lịch sử với tư cách là một diễn ngôn, khác với các diễn ngôn trong văn bản chính sử Ông đã nhìn thấy quá trình lựa chọn và điều chỉnh trong sáng tác của nhà văn: Lựa
chọn vị thế phát ngôn, lựa chọn “ngón chơi” hợp lý về hình thức – “gần với lối viết truyền
thống” [55; tr.10] Tác giả Thái Phan Vàng Anh cũng có cùng quan điểm về tính đối thoại khi
nghiên cứu về diễn ngôn trần thuật của Nguyễn Xuân Khánh Nguyễn Chí Hoan thì nhìn thấy
“Đội gạo lên chùa” mang hình bóng của một đại tự sự với cấu trúc ngôn ngữ đăng đối, nhiều
đoạn thoại như hình thức lược đồ của một bài cáo Quan sát toàn bộ chặng đường sáng tác của
Nguyễn Xuân Khánh, Lại Nguyên Ân đã đưa ra quy luật “Từ trung tâm ra ngoại biên, từ ngoại
biên vào trung tâm” Bài viết Những cách tân nghệ thuật trong tiểu thuyết Nguyễn Xuân
Khánh của nhà nghiên cứu Lã Nguyên sử dụng những lý thuyết của ký hiệu học văn hóa, tìm
hiểu những cách tân nghệ thuật trong tiểu thuyết của ông Theo tác giả bài viết, nhà văn đã đổi
mới nguyên tắc truyện kể theo xu hướng “tiểu thuyết hóa” và khẳng định: “Đổi mới nguyên tắc
truyện kể theo xu hướng “tiểu thuyết hoá” là nhân tố cách tân cơ bản trong sáng tác của
Trang 2015
Nguyễn Xuân Khánh” [149] Ông đi sâu phân tích ngôn ngữ kết cấu của tiểu thuyết Nguyễn
Xuân Khánh, nhất là cách tạo khung truyện trên bối cảnh mạt thời, mạt thế, đặc biệt là ý nghĩa của phạm trù mở đầu, kết thúc gắn với hai mô hình ý nghĩa của cái “chung cục” và cái “khởi
nguyên” Từ đó, ông khái quát mô hình bức tranh thế giới được xây dựng trên tương quan đối
lập của những sự lựa chọn lối sống, thực chất được quy về những phạm trù văn hóa ứng xử là
“lối sống âm tính” và “lối sống dương tính” [149] Ngoài ra, bài Từ văn học đến/ về văn hóa: diễn ngôn (chủ nghĩa dân tộc) trong hư cấu (lịch sử) của Nguyễn Xuân Khánh và Tự sự hậu thực dân: lịch sử và huyền thoại trong “Mẫu Thượng Ngàn” của Nguyễn Xuân Khánh của
Đoàn Ánh Dương nhìn nhìn các tiểu thuyết lịch sử của Nguyễn Xuân Khánh từ những lý thuyết mới – lý thuyết hậu thực dân/ hậu thuộc địa và lý thuyết diễn ngôn Nhà nghiên cứu Trần Đình
Sử khi trả lời phỏng vấn trước cuộc tọa đàm về tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh cũng khẳng
định: “Cái chính của tiểu thuyết lịch sử là sáng tạo nhân vật và đời sống của một thời kỳ lịch sử
cụ thể không lặp lại Sự kiện lịch sử là dấu ấn của một thời, không thể thiếu với tiểu thuyết lịch sử.” [55; tr.468]
Ngoài ra tiểu thuyết lịch sử Nguyễn Xuân Khánh, các tác phẩm khác cũng nhận được sự
quan tâm lớn từ giới nghiên cứu, phê bình văn học Khi bàn về tiểu thuyết Sông Côn mùa lũ của
Nguyễn Mộng Giác, các tác giả Phan Cự Đệ, Lại Nguyên Ân cũng rất quan tâm đến mối quan
hệ văn và sử, sự thật và hư cấu Các nhà nghiên cứu rất đề cao vai trò và sự sáng tạo của nhà văn trên những chất liệu lịch sử sẵn có, thể hiện đặc trưng, sứ mệnh của thể loại tiểu thuyết Viết về
nhân vật Nguyễn Huệ trong bài Nhân vật Nguyễn Huệ trong “Sông Côn mùa lũ” của Nguyễn Mộng Giác, Trần Hữu Thục đi sâu phân tích nhân vật trong sự đối sánh từ lịch sử đến văn học,
rồi khảo sát nhân vật trong các mối quan hệ, làm rõ một hình tượng Nguyễn Huệ rất độc đáo, mang tư tưởng, ý thức hệ và tính cách riêng, trong đời sống của một cá nhân [228] Nguyễn
Khắc Phê thì cho rằng Sông Côn mùa lũ là một tiểu thuyết công phu và đánh giá cao thái độ
nghiêm túc với lịch sử, tâm huyết, xây dựng hình tượng công phu của Nguyễn Mộng Giác Tuy nhiên, ông cho rằng tác phẩm này không có cao trào, hình tượng Nguyễn Huệ chưa thật “bay lên” như một anh hùng lỗi lạc, phẩm chất văn học chưa xứng với độ dày và đề tài của cuốn sách [165]
Bên cạnh đó, một số tác phẩm truyện lịch sử cũng thu hút được sự quan tâm lớn, những
dư luận đa chiều từ các nhà nghiên cứu, phê bình Hội thề của Nguyễn Quang Thân sau khi
được trao giải thưởng của Hội nhà văn Việt Nam năm 2010 đã tạo ra một cuộc tranh luận gay gắt xung quanh cái nhìn về hình tượng Nguyễn Trãi, về vấn đề viết tiểu thuyết lịch sử, nhất là
“quyền của người viết”, sự thật và hư cấu, phản ánh và sáng tạo Nổi bật là ý kiến của nhà thơ
Từ Quốc Hoài, Trần Mạnh Hảo, nhà phê bình Hoài Nam, Lê Thành Nghị, Đỗ Ngọc Thạch, nhà văn Hà Văn Thùy, Trần Hoài Dương… Cuộc tranh luận này được Nguyễn Việt Chiến tổng hợp,
Trang 2116
đăng trên báo điện tử Thanhnien.vn các số ngày 22 và 23 tháng 4 năm 2011 Hai bộ tiểu thuyết
đồ sộ của Hoàng Quốc Hải là Bão táp triều Trần (6 tập) và Tám triều vua Lý (4 tập) đã nhận
được nhiều ý kiến của bạn văn và các nhà nghiên cứu, phê bình văn học Những nghiên cứu,
đánh giá về bộ Bão táp triều Trần được tập hợp lại trong công trình “Bão táp triều Trần”, tác phẩm và dư luận do nhà xuất bản Phụ nữ phát hành năm 2006 Còn về bộ Tám triều vua Lý,
các ý kiến hầu như đều ghi nhận những nỗ lực lớn của tác giả trong việc tái hiện bức tranh lịch
sử toàn cảnh, rộng lớn, chi tiết và sống động về một triều đại trải dài qua nhiều biến cố Hai bộ tiểu thuyết của Hoàng Quốc Hải không có những ý kiến trái chiều khi bàn về vấn đề quan hệ văn và sử bởi ông khá trung thành với những sự kiện lớn của lịch sử, vẫn giữ nguyên lập trường đánh giá các nhân vật như trong chính sử
Sự quan tâm của công chúng và giới viết văn, nghiên cứu, phê bình văn học đối với truyện lịch sử khiến nhiều hội thảo được tổ chức để tổng hợp, đánh giá một cách khoa học, toàn vẹn về hiện tượng văn học này Cuối năm 2012, Hội đồng lý luận, phê bình văn học nghệ thuật
trung ương đã tổ chức hội thảo khoa học Sáng tạo văn học, nghệ thuật về đề tài lịch sử Các
tham luận tham gia hội thảo đều xoay quanh các vấn đề lý thuyết cơ bản của thể loại, tập trung
và một số hiện tượng văn học viết về lịch sử với mối quan tâm hàng đầu là vấn đề sự thật lịch sử với quyền hư cấu của người viết Với tinh thần khoa học, trao đổi và đối thoại, hội thảo đã đặt ra nhiều vấn đề quan trọng về quan niệm thể loại, góc nhìn lịch sử, điều kiện cho sáng tạo, trách nhiệm của người nghệ sĩ… Có vấn đề đã thống nhất trong quan diểm, tư tưởng nhưng cũng còn nhiều ý kiến trái chiều, mở ra những khía cạnh mới của lý luận và thực tiễn sáng tác thể loại, cần nghiên cứu, đánh giá khoa học, toàn diện hơn
Gần đây, cuốn tiểu thuyết Chim ưng và chàng đang sọt của Bùi Việt Sỹ xuất bản, được
trao giải nhì cuộc thi viết tiểu thuyết của Hội nhà văn Việt Nam (cuộc thi này không có giải nhất), lại được giải C sách hay Việt Nam năm 2018, đã tạo nên một cuộc tranh luận gay gắt Cuộc tranh luận này, mà đại đa số là các ý kiến phê phán, chỉ trích được khởi phát từ một đoạn văn miêu tả cảnh ân ái của Trần Khánh Dư và công chúa Thái Thụy ở trang 37 một cách trần trụi Trang sách cũng được nhanh chóng chia sẻ rộng rãi trên mạng xã hội với nhiều ý kiến chỉ trích Báo Tuổi trẻ online có các bài viết của Vũ Viết Tuân [243], dịch giả Lê Quang [178] cho rằng các chi tiết miêu tả cảnh “sex” trong tác phẩm là dung tục, không phù hợp Nhà báo Hà
Tùng Long trên dantri.com thì đặt vấn đề “Có nên miêu tả trần trụi cảnh “sex” trong tiểu thuyết
lịch sử?” [118] Tác giả Nguyễn Ngọc Trâm trên Anninhthudo Online thì cho rằng “Đây là cuốn sách dành cho người lớn, không phải cho trẻ con” [238] Trong khi đó, nhà báo Kiều Mai
Sơn đăng trên nguoilaodong online, sau khi nhìn nhận một cách toàn diện về cuốn sách, đã đi đến kết luận cuốn sách đoạt giải một cách khó hiểu [183] Nhìn chung hầu hết độc giả, nhà phê bình và giới báo chí đều không đồng tình hoặc phê phán gay gắt chi tiết “sex” tự nhiên, trần trụi
Trang 2217
trong tác phẩm Ý kiến bênh vực, lý giải, cho rằng đó là cái nhìn “thế sự hóa”, đời thường về nhân vật anh hùng, lịch sử chủ yếu từ phía tác giả, ban tổ chức giải [237] Cuộc tranh cãi này một lần nữa đặt ra vấn đề cốt lõi của thể loại về mối quan hệ hiện thực và hư cấu, cách viết, quyền sáng tạo của nhà văn trong truyện lịch sử Quan trọng hơn, vấn đề tiếp cận truyện lịch sử, những tiêu chí để đánh giá phẩm chất nghệ thuật của một tác phẩm văn học đích thực hay chỉ là những trang viết ngô nghê, tạo “scandal” gây chú ý, câu khách
Điều đặc biệt là các nhà văn viết tiểu thuyết lịch sử cũng có nhiều phát biểu trực tiếp thể
hiện quan niệm của mình về vấn đề muôn thuở, trở thành mối quan tâm đặc biệt Trên báo Văn
nghệ số 39 năm 2003, nhà văn Thái Vũ khẳng định: “ Hư cấu nhưng không phải là bịa Tôi viết tiểu thuyết về lịch sử nhưng tôi không viết tiểu thuyết lịch sử, mà qua cách hư cấu, tôi tôn trọng tính chính xác của lịch sử” Nhìn vào mối quan hệ giữa hiện thực lịch sử và hư cấu văn học,
Phạm Huy Thông cho rằng “hư cấu nhưng không được xuyên tạc lịch sử.” [227] Trong bài viết
Tiểu thuyết lịch sử và thông điệp của nhà văn, Hoàng Minh Tường nêu lên quan điểm: “Nhà
văn viết về lịch sử có quyền hư cấu, tưởng tượng, thậm chí sáng tạo thêm các nhân vật, sự kiện (…) để làm sáng tỏ lịch sử, soi rọi lịch sử, nhưng không thể bóp méo hay bịa tạc lịch sử một cách phi logic, theo ngẫu hứng của riêng mình” [245] Bên cạnh những ý kiến yêu cầu tôn
trọng, trung thành với lịch sử, các nhà văn Nguyễn Xuân Khánh, Hoàng Quốc Hải, Nguyễn Mộng Giác, Nam Dao lại đề cao hư cấu nghệ thuật, vai trò của chủ thể sáng tạo, hướng đến mục đích viết tiểu thuyết chứ không phải là diễn giải lại lịch sử Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh
quan niệm: “Đã là tiểu thuyết thì phải hư cấu, dù đó là tiểu thuyết lịch sử, hư cấu là đặc trưng
của tiểu thuyết Hư cấu là đặc quyền của nhà văn” [103] Cùng đề cao chất tiểu thuyết, Ngô
Văn Phú lại diễn đạt rất hình tượng: “Phần sử như cái khung của ngôi nhà Nhưng ngôi nhà có
đẹp hay không còn tuỳ thuộc vào tài hoa ở bàn tay thợ Ở đây tôi muốn nói chất tiểu thuyết phải thổi được vào hồn của lịch sử” [104] Nhà văn Nam Dao khi viết lời ngỏ tiểu thuyết “Gió lửa”
cũng đưa ra ý kiến riêng của mình: “Ở đây, biến cố lịch sử trở thành đối tượng đem soi dưới
lăng kính chủ quan, nhào nặn lại để rồi, qua ngồi bút người viết, thành tiểu thuyết dã sử”
(Nguồn: http://thuvien.vn/) Bài viết Tương quan giữa lịch sử và tiểu thuyết lịch sử của Hoàng
Quốc Hải đã đưa ra cái nhìn của ông về tiểu thuyết lịch sử: “Văn học sử dụng các sự kiện lịch sử
làm phương tiện sáng tác.” [76] Ý kiến đã thể hiện tinh thần đề cao vai trò của chủ thể sáng
tạo, cũng có nghĩa là đề cao sự hư cấu của nhà văn Trong cuộc trò chuyện với Nguyễn Khắc
Phê đăng trên Tạp chí Sông Hương số 162 tháng 8/2002, nhà văn Nguyễn Mộng Giác khẳng định: “Theo tôi tiểu thuyết chủ yếu là vi mô, qua cái vi mô mà làm nổi bật bản chất của những
cái vĩ mô Bản chất của tiểu thuyết là thế sự, dù là tiểu thuyết lịch sử”
(http://tapchisonghuong.com.vn/ ngày 29/8/2008)
Trang 2318
Các ý kiến trên đây của các nhà văn viết truyện lịch sử chia thành hai khuynh hướng: Một khuynh hướng tán thành việc hư cấu trong tiểu thuyết để xây dựng hình tượng nhưng vẫn cần trung thành với các sự kiện, nhân vật lịch sử, đặc biệt là những sự kiện quan trọng, nhân vật vẫn được coi là thần tượng Việc hư cấu, các thủ pháp của thể loại tiểu thuyết chỉ là yếu tố hình thức phụ trợ, làm sáng rõ lịch sử, như một sự diễn giải lịch sử Cái nhìn của nhà văn phải đồng nhất với cái nhìn của sử gia và đứng trên quan điểm của cộng đồng, phải nhìn bằng con mắt sử thi đầy tôn kính với các nhân vật lịch sử đã được/ bị xem như một tượng đài trong lòng nhân dân Khuynh hướng còn lại đề cao tự do sáng tác, hư cấu và sáng tạo Với họ, lịch sử chỉ là khung nền, bối cảnh và một thứ ngôn ngữ, chất liệu để xây dựng hình tượng, thể hiện quan điểm, cái nhìn riêng của mình trong sự diễn giải, hình thức mới mẻ, độc đáo
Nghiên cứu truyện lịch sử như một khuynh hướng văn xuôi tự sự trong tiến trình vận động của lịch sử văn học dân tộc
Không dừng lại ở việc nghiên cứu thủ pháp, những vấn đề về sự thật và hư cấu chung chung trong tiểu thuyết lịch sử, nhiều công trình đi sâu khảo sát, khát quát thành vấn đề lý thuyết đặc trưng thể loại theo các tiêu chí của phản ánh luận Những nghiên cứu này đi sâu vào các mặt như kết cấu, trần thuật, nhân vật, cốt truyện, ngôn ngữ của tiểu thuyết lịch sử trong tương quan với các hình thức tiểu thuyết khác, chỉ ra đặc điểm riêng, bản chất của thể loại, đặc biệt là một số
luận án, luận văn Luận án tiến sĩ Ngữ văn Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam từ những năm đầu thế kỷ XX đến 1945 (diện mạo và đặc điểm) (1999) của Bùi Văn Lợi là công trình quy mô, hệ
thống, đã đưa ra khái niệm, những đặc điểm cơ bản của tiểu thuyết lịch sử cả về mặt nội dung và hình thức nghệ thuật trên cơ sở khảo sát các tiểu thuyết lịch sử từ đầu thế kỷ XX đến 1945 trong quá trình vận động, phát triển của văn học Việt Nam Bên cạnh đó, tác giả luận án cũng so sánh tiểu thuyết lịch sử với khoa học lịch sử, giữa tiểu thuyết lịch sử hiện đại với tiểu thuyết lịch sử trung đại để làm rõ những thành tựu, những đặc điểm riêng của tiểu thuyết lịch sử Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX Vấn đề về đặc điểm thể loại tiểu thuyết lịch sử lại được quy về vấn đề chất liệu lịch sử và hư cấu tiểu thuyết, về vấn đề đề tài, cảm hứng chủ đạo và quan niệm nghệ thuật về con người Những vấn đề hình thức: kết cấu, nghệ thuật xây dựng vật, trần thuật, sử dụng ngôn ngữ cũng được khảo sát khá kỹ lưỡng Tuy nhiên, góc nhìn của luận án chủ yếu đi tìm hiểu thành tựu, tái hiện lại diện mạo của dòng tiểu thuyết lịch sử trong giai đoạn văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến 1945 mà chưa đưa ra hệ thống lý thuyết thể loại
Chuyên luận Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau 1945 của Nguyễn Thị Tuyết Minh là
công trình về tiểu thuyết lịch sử khá công phu, hệ thống, khảo sát đối tượng trên một diện rộng, kéo dài qua hai giai đoạn văn học (giai đoạn văn học 1945 – 1975 và giai đoạn từ sau 1975 đến nay) Công trình này như sự nối tiếp, kế thừa và phát triển từ công trình của Bùi Văn Lợi, đem đến cái nhìn toàn diện theo cả chiều đồng đại và lịch đại về tiểu thuyết lịch sử Việt Nam suốt thế
Trang 2419
kỷ XX Tác giả đưa ra một quan niệm về tiểu thuyết lịch sử trên quan niệm “Lịch sử là những gì
đã qua, đã thuộc về quá khứ, đã khuất lấp bởi một khoảng thời gian dài mà về văn hóa, đời sống đã khác với con người hiện tại” [137; tr.35] Khái niệm tiểu thuyết lịch sử không được tác
giả định nghĩa duy danh, mà trên cơ sở so sánh sự khác nhau giữa nhà văn và nhà sử học, cách miêu tả lịch sử, nhân vật lịch sử của nhà văn và nhà sử học, vấn đề lại được đồng quy về sự tranh cãi muôn thuở mối quan hệ giữa sự thực lịch sử và hư cấu văn học, mức độ hư cấu đến đâu thì hợp lý Song ở đây, tác giả đã đi xa hơn là bước đầu đặt vấn đề vai trò của người tiếp nhận với tiểu thuyết lịch sử Giống như con đường đi của Bùi Văn Lợi trong công trình chúng tôi đã đề cập ở trên, trong công trình này, tác giả Nguyễn Thị Tuyết Minh cũng đi phục dựng lại diện mạo tiểu thuyết lịch sử Việt Nam từ sau 1945 theo chiều lịch đại với nhiều thành tựu đáng chú ý Ở mỗi giai đoạn, chuyên luận chỉ ra đặc điểm nội dung cảm hứng và hình thức nghệ thuật đặc thù của tiểu thuyết lịch sử trong bối cảnh lịch sử, xã hội và sự phát triển của nền văn học, với ưu thế riêng của nó Trên cơ sở quan niệm thể loại và diện mạo tiểu thuyết lịch sử từ sau
1945, tác giả tìm hiểu sâu tư duy tự sự lịch sử và các phương thức nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau 1945 Điểm đáng chú ý là khi tìm hiểu về tư duy tự sự lịch sử trong
tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau 1945, tác giả đã chia là thành hai khuynh hướng: “lịch sử hóa
tiểu thuyết” và “tiểu thuyết hóa lịch sử”, phân cảm thức lịch sử ra thành hai dạng: “Lịch sử như một đối tượng được chiêm bái và ngưỡng vọng” và “Lịch sử như một đối tượng phân tích và giả định” Điểm nổi bật của công trình này là đã đặt tiểu thuyết lịch sử trong sự vận động, đổi
mới của văn học Việt Nam, chú ý phân tích những kỹ thuật tự sự mới trong tiểu thuyết lịch sử như trần thuật từ nhiều điểm nhìn, sử dụng kết cấu tâm lý, lắp ghép, đồng hiện, chú ý đến lớp ngôn ngữ nhiều màu sắc, giàu cá tính
Nhà nghiên cứu Nguyễn Thị Bình trong chuyên luận Văn xuôi Việt Nam sau 1975” dùng thuật ngữ “Tiểu thuyết theo lối hư cấu lịch sử” thay cho thuật ngữ “Tiểu thuyết lịch sử”,
coi đó là một loại hình/ khuynh hướng tiêu biểu của tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 Sau khi
điểm qua các quan niệm khác nhau về tiểu thuyết lịch sử, tác giả bày tỏ cái nhìn của mình: “mối
quan tâm của chúng tôi là các nhà văn Việt Nam thời đổi mới đã xử lý chất liệu lịch sử thế nào
để giải phóng những tiềm năng của thể loại” [28; tr.133] Từ quan niệm này, tác giả tìm hiểu
những đổi mới đáng chú ý của loại hình tiểu thuyết hư cấu lịch sử trên hai phương diện “Lịch sử
được nhào nặn lại trong cảm hứng thế sự - hiện đại” và “Trần thuật bằng nguyên tắc đối
thoại” Nhìn trên phương diện thứ nhất, tác giả thấy tiểu thuyết lịch sử chỉ mượn lịch sử làm
chất liệu để nói lên các vấn đề thế sự, đời tư, những vấn đề của thời hiện đại Điều đó thể hiện sự
mở rộng trong quan niệm về hiện thực và con người trong văn chương Việt Nam từ sau 1986
đến hết thế kỷ XX, tất yếu sẽ tác động đến quan niệm, tư duy về lịch sử: “Không phải cảm hứng
lịch sử hay đạo đức mà chính là cảm hứng thế sự - hiện tại, cảm hứng đối thoại sẽ làm nảy sinh
Trang 2520
ở nhà văn ý muốn nhào nặn lại chất liệu lịch sử để tạo ra gương mặt lịch sử “thứ hai” như giả định về một khả năng khác của các tình thế, các quan hệ, các số phận được miêu tả, bình luận trong chính sử” [28; tr.135 – 136] Trong công trình này, tác giả đã phân tích ba chủ đề nổi bật
trong tiểu thuyết lịch sử là: “chủ đề về tự do, chủ đề về tình yêu đôi lứa, hạnh phúc gia đình và
chủ đề về những suy tư, trăn trở về số phận con người trong các cuộc biến thiên lịch sử.” [28;
tr.141] Khía cạnh thứ hai là trần thuật bằng nguyên tắc đối thoại tạo nên không khí dân chủ đặc
trưng của thời đại cho các tiểu thuyết lịch sử Do đó, các nhà văn“dùng lịch sử làm chất liệu,
nhào nặn lại trong một trò chơi giả định, khơi gợi mối hoài nghi về “một khả năng khác” của lịch sử…” [28; tr.145] Cách sử dụng lịch sử như một chất liệu thông qua trần thuật theo nguyên
tắc đối thoại đã giúp các nhà tiểu thuyết lịch sử xây dựng “các nhân vật lịch sử qua “màng lọc”
của nghệ thuật đã được chủ quan hóa, nhân văn hóa để trở thành con người tiểu thuyết” [28;
tr.146] Bên cạnh việc trần thuật từ nhiều điểm nhìn bằng nguyên tắc đối thoại, việc sử dụng các
yếu tố kỳ ảo cũng khiến cho tiểu thuyết lịch sử khoác lên mình một tấm áo mới – tấm áo “huyền
thoại hóa”, “để khám phá phần lắng sâu, chìm khuất trong cõi sâu xa tâm hồn con người, là một cách nghệ thuật chiêm ngẫm triết lý về cuộc đời” [28; tr.149] Cho nên, những tác phẩm
này được gọi là tiểu thuyết lịch sử nhưng thực chất là “giả lịch sử”
Nghiên cứu thi pháp thể loại truyện lịch sử từ lý thuyết văn học hiện đại
Thời gian gần đây, nhiều bài viết sâu sắc về tiểu thuyết lịch sử được đăng trên các báo, tạp chí và trên cả các trang website nghiên cứu, phê bình văn học, mang đến cái nhìn, cách tiếp cận mới về thể loại Những bài viết này ứng dụng thành tựu của lý thuyết văn học hiện đại phương Tây như lý thuyết diễn ngôn, ký hiệu học văn hóa, thi pháp học đã mang đến một hướng tiếp cận, nghiên cứu khác, khoa học và toàn diện hơn Cao Kim Lan nhìn lịch sử trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp từ hệ hình thi pháp hậu hiện đại Từ cái nhìn này, tác giả đã thấy những chuyển dịch sang một hệ hình thi pháp mới ở truyện ngắn viết về lịch sử của
Nguyễn Huy Thiệp – hệ hình thi pháp hậu hiện đại – trên các phương diện: 1/“Kỹ thuật ngụy
tạo lịch sử trong tâm thế chối bỏ “đại tự sự””; 2/“Người kể chuyện không tin cậy và tâm lý bất tín nhận thức”; 3/“Phương thức đa kết phá vỡ kết cấu trung tâm của văn bản tác phẩm” [114]
Trong bài viết Mã lịch sử và mã văn hóa trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau 1986, Nguyễn
Văn Hùng đã sử dụng lý thuyết của ký hiệu học văn hóa, phương pháp nghiên cứu liên ngành, tìm hiểu cấu trúc thể loại tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau 1986 từ hai mã lịch sử và văn hóa
Tác giả bài viết đã đưa ra nhận xét từ kết quả nghiên cứu của mình: “Từ đặc trưng thể loại cùng
thực tiễn sáng tác của tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau 1986, chúng ta nhận ra rằng, mỗi tác phẩm viết về đề tài lịch sử luôn chứa đựng trong nó những mã lịch sử, mã văn hóa, mã ngôn ngữ của thời đại.” [88] Đồng thời, khi nghiên cứu tiểu thuyết lịch sử của Bùi Anh Tấn, ông đã
chỉ ra một khuynh hướng của tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đương đại – khuynh hướng “ngoại
Trang 2621
biên hóa” Nhà văn chọn một vị trí ở lằn ranh giữa “ngoại biên” và trung tâm để “giải trung tâm”, đưa vào tiểu thuyết lịch sử những chủ đề mới – kết hợp đề tài lịch sử và đề tài đồng tính,
sử dụng những thủ pháp của vùng văn học “ngoại biên” – màu sắc võ hiệp huyền ảo [89] Sau
này, tác giả đã có một công trình nghiên cứu hệ thống, công phu là luận án Tiến sĩ văn học Tiểu thuyết lịch sử Việt Nam sau 1986 dưới góc nhìn tự sự học (2014) Trong luận án, ông đã
nghiên cứ tiểu thuyết lịch sử dựa trên nền tảng lý thuyết tự sự học hiện đại, thể hiện qua ba luận điểm quan trọng: người kể chuyện và điểm nhìn tự sự; nghệ thuật tổ chức thời gian và kết cấu tự
sự; diễn ngôn tự sự trong tiểu thuyết lịch sử [90] Đặc biệt, bài viết Cần đổi mới suy nghĩ về lịch
sử và tiểu thuyết lịch sử của Trần Đình Sử thể hiện một cái nhìn rất mới mẻ về lịch sử và tiểu
thuyết lịch sử Ông coi lịch sử là một diễn ngôn, do đó tiểu thuyết lịch sử cũng là một diễn ngôn
về lịch sử Theo quan niệm của tác giả, lịch sử chỉ là “sự trần thuật về lịch sử” nên không có cái
gọi là sự thật lịch sử khách quan mà chỉ có sự thật của các văn bản ghi sử Một luận điểm rất quan trọng được nêu ra trong bài viết này, có ý nghĩa phương pháp luận sâu sắc khi nghiên cứu
thể loại tiểu thuyết lịch sử được đưa ra cụ thể: “Từ chủ nghĩa cấu trúc đến hậu cấu trúc, từ hậu
cấu trúc đến chủ nghĩa tân lịch sử người ta nhận rõ lịch sử chỉ là sự trần thuật về lịch sử, mà đã
là trần thuật thì khó tránh chủ quan trong lựa chọn, phán đoán, từ đó tạo nên sự hoài nghi đối với tính chân thực của văn bản lịch sử.” [190] Góc nhìn này đã đưa đến cách lý giải rất thấu
đáo, thuyết phục về mối quan hệ giữa sự thực và hư cấu trong tiểu thuyết lịch sử, tìm ra hạt nhân
cấu trúc truyện kể trong tiểu thuyết lịch sử: “Tiểu thuyết lịch sử nào cũng mang trong mình hai
lần lịch sử: lịch sử thời đã qua và lịch sử thời người viết đang sống.” [190]
Những nghiên cứu trên đây đã đưa ra quan niệm, góc nhìn mới về tiểu thuyết lịch sử từ những lý thuyết hiện đại Tuy chưa đầy đủ, hệ thống theo hình thức của một công trình nhưng những bài viết này đã đưa ra nhiều luận điểm quan trọng về lý thuyết thể loại từ quan niệm đến những biểu hiện, cách tiếp cận thể loại, nhất là việc xem tiểu thuyết lịch sử như một loại hình diễn ngôn, mô hình tự sự học Dẫu vậy, những mô hình cấu trúc thể loại, sự phân loại tiểu thuyết lịch sử theo loại hình diễn ngôn vẫn chưa được chú ý đúng mức, có chăng chỉ là một vài thao tác
so sánh để làm nổi bật một vấn đề nào đó nhà nghiên cứu chọn làm đối tượng Song đây chính
là những gợi mở quan trọng để chúng tôi thực hiện đề tài này
1.2 Quan niệm về thể loại và cấu trúc thể loại
1.2.1 Thể loại và cấu trúc thể loại trong nghiên cứu văn học
Quan niệm truyền thống
Trong công trình Nghệ thuật thơ ca, Aristote quan niệm “nghệ thuật là sự mô phỏng”,
chia toàn bộ các sáng tác văn học thành ba bộ phận: sử thi, bi kịch và hài kịch Ba cách thức
“mô phỏng” của văn học mà Aristote đề cập tới tương ứng với ba loại hình: tự sự, trữ tình và
Trang 2722
kịch Truyền thống chia ba này được tiếp nối, phát huy, lý giải cụ thể, cặn kẽ hơn trong hệ thống
lý thuyết và quan niệm của các nhà mỹ học, nghiên cứu văn học sau này Nhà mỹ học, triết học nổi tiếng Heghen đã chia toàn bộ văn học thành ba thể loại: tự sự, trữ tình và kịch giống Aristote nhưng dưạ trên những căn cứ, sự lý giải, cái nhìn, quan niệm riêng Ông đã dựa vào phạm trù chủ thể và khách thể để biện luận quan điểm của mình Với Heghen, thể loại là một hiện tượng lịch sử, là sự vận động của ý niệm Trong khi đó, nhà phê bình văn học Nga Bielinski cũng chia văn học làm ba loại nhưng cách phân chia chi tiết hơn, dựa vào những tiêu chí sâu hơn và rõ
ràng hơn Aristote Theo ông, “Thơ (tức văn học) chỉ có ba loại, ngoài ba loại không còn loại
nào nữa, và cũng không thể có hơn” [188; tr.235] Ông căn cứ vào yêu cầu của việc miêu tả tính
cách và thể hiện tương tưởng, tình cảm của nhà văn mà phân thành các thể loại: 1/ Tác phẩm loại tự sự tái hiện đời sống thông qua việc miêu tả sự kiện; 2/ Loại trữ tình gồm các tác phẩm thông qua sự bộc lộ tình cảm của tác giả mà phản ánh hiện thực; 3/ Loại kịch gồm các tác phẩm đem nhân vật lên sân khấu để chúng tự biểu hiện qua hành động của chúng [188; tr.236] Cách chia ba này vẫn được kế thừa, phát huy và có sự bổ sung trong mỹ học Macxit sau này Tuy nhiên, mỹ học Macxit dựa vào tư tưởng của Mác - Lê-nin, đặc biệt là quan niệm của triết học duy vật biện chứng, đề cao tính đảng, chủ thể và tư tưởng hệ của văn học Vì thế nguyên lý cơ bản được vận dụng để phân chia các thể loại và cấu trúc thể loại vẫn là lý thuyết phản ánh Trong mỹ học Macxit, khái niệm văn học được mở rộng sang cả những thể loại phi hư cấu như chính luận, ký Vì thế cấu trúc thể loại, ngoài ba loại lớn như truyền thống, còn bổ sung thêm loại hình chính luận và ký văn học Thể loại, do đó, được hiểu là sự thống nhất loại hình dựa vào nguyên tắc phản ánh hiện thực của tác phẩm văn học
Trái ngược với truyền thống phương Tây, trong lý luận văn học phương Đông cổ điển, nhất là ở Trung Hoa, thể loại, cấu trúc thể loại được quan niệm và phân chia khác Truyền thống phương Đông thường chia văn học thành ba loại: vận văn, biền văn, tản văn; hoặc cũng có thể
chia thành bốn loại như cách chia của Tào Phi viết thiên “Điển luận” trong Luận văn: “Văn có
gốc giống nhau mà ngọn khác nhau Văn “tấu”, “nhị” thì lời phải nhã, văn “thư”, “luận” cần
có lý, văn “minh lỗi” trọng sự trung thực, văn “thơ phú” thì phải lộng lẫy” [188; tr.238] Còn
Lưu Hiệp trong công trình Văn tâm điêu long lại chia và bàn về hai loại: “văn” và “bút” [129;
tr.72] Tuy vậy, dù chia thành hai hay nhiều hơn thì thực chất những quan niệm trên cũng chỉ đề
cập đến hai loại cơ bản: thơ và văn xuôi Trên cơ sở truyền thống, “sách vở, báo chí Trung Quốc
phổ biến thừa nhận văn học có bốn loại: thơ ca, văn xuôi, tiểu thuyết và kịch” [188; tr.239]
Ở Việt Nam, trong thời trung đại, những công trình Đại Việt thông sử của Lê Quý Đôn, Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú, Hoàng Việt thi tuyển, Hoàng Việt văn tuyển của Bùi Huy Bích ít nhiều có động chạm đến vấn đề thể loại văn học nhưng không phải là
sự phân chia rõ ràng, chính xác Các tác giả này chỉ căn cứ vào nội dung để thống kê lại di sản
Trang 2823
văn chương, chia thành các nhóm; hoặc thiên về thơ, hoặc thiên về văn xuôi Sau này, trong các công trình nghiên cứu, giáo trình đại học, từ điển thuật ngữ, các tác giả đã hoàn thiện quan niệm
về thể loại văn học Trong giáo trình Lý luận văn học của nhóm tác giả trường Đại học Khoa
học xã hội và nhân văn do Hà Minh Đức chủ biên đã chia văn học thành bốn loại: thơ ca, tiểu thuyết, kịch và ký Bênh cạnh cách quan niệm trên, giáo trình lý luận văn học của trường Đại
học Sư phạm Hà Nội do Trần Đình Sử chủ biên lại định nghĩa: “Thể loại tác phẩm văn học là
khái niệm chỉ quy luật loại hình của tác phẩm, trong đó ứng với một loại nội dung nhất định có một loại hình thức nhất định, tạo cho tác phẩm một hình thức tồn tại chỉnh thể” [188; tr.220]
Sau khi điểm các quan niệm, cách chia thể loại từ cổ chí kim, từ đông sang tây, và cả ở Việt Nam, các tác giả cuốn sách đưa ra cách chia thể loại riêng gồm có năm loại: Thơ ca, truyện và
tiểu thuyết, kịch, ký và chính luận Ngoài ra, Từ điển thuật ngữ văn học phân chia rất rạch ròi
“thể” và “loại” và cho rằng: “Loại” rộng hơn “thể”, “thể” nằm trong “loại” [77; tr.300], còn
về cách phân chia thì vẫn thống nhất chia thành ba loại: tự sự, trữ tình, kịch, trong mỗi loại lại có nhiều thể khác nhau
Những quan niệm về thể loại, cấu trúc thể loại và những cách phân chia theo lối truyền thống nêu trên, dù ở những nền văn học khác nhau có những góc nhìn, cách phân tích và lý giải khác nhau nhưng đều dựa trên một nền tảng tư tưởng và nguyên tắc tiếp cận: lý thuyết phản ánh Góc nhìn từ lý thuyết phản ánh ấy luôn xem thể loại trên sự tương tác nội dung, tư tưởng và hình thức thể hiện ở những mặt bề ngoài, dễ nhận ra Chủ thể và các loại lời nói trong tác phẩm được nhắc đến nhưng chủ yếu dưới phương diện hình thức Cấu trúc nội tại, đặc thù ngôn ngữ của và thi pháp của từng thể loại vẫn chưa được nghiên cứu, khai thác sâu Vì thế, cách chia không tránh khỏi chung chung hoặc chồng chéo Những hạn chế ấy được khắc phục qua những quan điểm, lý thuyết hiện đại sau này
Quan niệm hiện đại
Sang thế kỷ XX, những biến động trong lịch sử, kinh tế, xã hội, thành tựu về tư tưởng, triết học đã tác động nhiều đến đời sống văn học nhân loại Nhiều khuynh hướng, trào lưu văn học ra đời cùng những thể nghiệm, tìm tòi, cách tân độc đáo, tạo nên diện mạo mới cho nền văn chương nhân loại Cùng với sáng tác, hàng loạt lý thuyết văn học được hình thành mang đến những quan niệm, cách tiếp cận, phương pháp nghiên cứu văn học khác, có khi đối lập với những quan niệm truyền thống Các trường phái như chủ nghĩa hình thức Nga, chủ nghĩa cấu trúc, giải cấu trúc, ký hiệu học văn hóa, thi pháp học, phân tâm học, lý thuyết diễn ngôn… tạo ra một nền tảng lý thuyết mới, soi sáng nhiều vấn đề bản thể của văn học, trong đó có vấn đề thể loại và cấu trúc thể loại Một hệ thống những quan điểm, tư tưởng khác về thể loại, cấu trúc thể loại được thể hiện qua nhiều chiều kích, khía cạnh khác nhau
Trang 2924
V.Shklovski – đại diện tiêu biểu của trường phái chủ nghĩa hình thức quan niệm “Nghệ
thuật như là thủ pháp” Do đó, bản chất của nghệ thuật là thao tác tổ chức chất liệu Với quan
niệm này, ông cho rằng trong một tác phẩm văn học, điều quan trọng bậc nhất là thao tác chứ không phải là tư tưởng của nhà văn Mục đích các thủ pháp chính là thao tác “lạ hóa” Quan niệm cho rằng nghệ thuật như là thủ pháp và điều tạo nên thủ pháp là thao tác “lạ hóa” dẫn đến quan niệm đặc trưng của các thể loại chính là sự sai lệch thể loại Mỗi cái tên nghệ thuật chẳng
qua là sự sai lệch thể loại mà thôi Ở công trình Dẫn luận nghiên cứu văn học do
G.N.Pospelov chủ biên, V.I.Khalizep đã đưa ra quan niệm về thể loại và cách phân chia, diễn
giải riêng: “Các tác phẩm ngôn từ nghệ thuật nói chung họp thành ba nhóm lớn gọi là loại văn
học Đó là tự sự, kịch, trữ tình” [176; tr.197] Tuy vẫn chia văn học ra thành ba loại như truyền
thống nhưng nhà nghiên cứu của trường phái Pospelov đã đưa ra những tiêu chí sâu hơn Đó là đối tượng nhận thức nghệ thuật và hình thức tổ chức lời văn nghệ thuật trong tác phẩm Qua những đặc trưng của các loại hình văn học nêu trên, V.I.Khalizep đưa ra các khái niệm: “tính tự
sự”, “tính trữ tình” và “tính kịch” để khái quát thành một quan niệm thể loại: “điều quan trọng
là cần phân biệt, một mặt tự sự, trữ tình, kịch như là các “loại văn học”, và mặt khác là tính tự
sự, tính kịch, tính trữ tình như là các “thuộc tính về cảm hứng” của tác phẩm” [176; tr.204]
Điều đặc biệt nhất là việc phân chia thể loại của trường phái Pospelov chủ yếu dựa vào các thể tài được phản ánh trong tác phẩm gồm ba nhóm cơ bản là sử thi, thế sự và đời tư
Khác với các tác giả trên, Tzvetan Todorov lại đưa ra một quan niệm rất mới về thể loại
Ông coi “Các thể loại chính là những chỗ trung chuyển nhờ đó mà tác phẩm bắt liên hệ với thế
giới văn chương” [234; tr.14] Cho nên, lý thuyết về thể loại bao giờ cũng được bắt đầu từ tác
phẩm, dựa trên các tác phẩm cụ thể Những đặc trưng của thể loại, do đó, bắt nguồn từ các đặc
trưng của văn bản Từ cơ sở này, Tz.Todorov đã chia thể loại văn học thành hai nhóm: “một bên
là những “thể loại lịch sử”, một bên là những “thể loại về mặt lý thuyết” [234; tr.21] Ba
phương diện: lời nói, cú pháp, ngữ nghĩa được lấy làm những tiêu chí chính để khái quát về lý thuyết thể loại Vì quan niệm thể loại gắn với tác phẩm, sự sáng tạo của nhà văn nên ông đã đưa
ra những nhận định mang tính nguyên tắc về các thể loại mới được sáng tạo ra cùng với tác
phẩm lớn: “thể loại mới không nhất thiết hình thành từ một sự phủ định đặc trưng chủ yếu của
thể loại cũ, mà từ một sự tổ hợp khác của các đặc tính, không quan tâm đến việc tạo nên cùng với thể loại trước một tổng thể hài hòa theo logic” [235; tr.22]
Bàn về thể loại, M.Bakhtin có nhiều công trình nghiên cứu xuất sắc, mở ra một góc nhìn mới, rất hiện đại, tạo ra bước ngoặt trong quan niệm về thể loại và cấu trúc thể loại, đặc biệt là
công trình Lý luận và thi pháp tiểu thuyết và tiểu luận Vấn đề thể loại lời nói Ông xem xét sự
tác động qua lại giữa các thể loại trong chỉnh thể thống nhất của nền văn học ở từng thời kỳ nhất định Không dừng lại ở đó, ông nghiên cứu thể loại trong giao tiếp, trong sự tương tác của chủ
Trang 3025
thể, khách thể để thực hiện thành công một chiến lược giao tiếp Từ góc nhìn này, “thể văn học
là một loại hình của thể loại lời nói thuộc “các thể loại lời nói thứ sinh (phức tạp)” [150; tr.11]
cùng với các thể loại như những công trình nghiên cứu khoa học thuộc đủ loại, các thể văn chính luận dài hơi, tức giao tiếp khoa học, chính trị - xã hội Hệ quả tất yếu là thể loại được tạo
ra từ quá trình giao tiếp, là phương tiện để giao tiếp: “Chúng ta nói bằng thể loại lời nói nào đó,
tức là toàn bộ phát ngôn của chúng ta đều có những hình thức tổ chức lời nói tiêu biểu nào đó
và tương đối ổn định Chúng ta sở hữu cả một kho tàng thể loại lời nói khẩu ngữ (và văn viết)
vô cùng phong phú.” [150; tr.30] Cho nên, quá trình thực hiện thành công một chiến lược giao
tiếp chính là quá trình tạo lập và lĩnh hội thể loại trong tính chỉnh thể cùng quá trình của nó M.Bakhtin rất đề cao chủ thể lời nói Ông cho rằng thể loại là sản phẩm của chủ thể lời nói trong cuộc giao tiếp đặc thù nên chủ thể có vai trò lớn lao, quyết định tới việc sử dụng thể loại ấy và bộc lộ mình Vai trò lớn lao của chủ thể khiến thể loại gắn liền với phong cách, biến đổi cùng
phong cách: “Ở đâu có phong cách, ở đấy có thể loại Sự di chuyển của phong cách từ thể loại
này sang thể loại khác không chỉ làm thay đổi ý nghĩa của phong cách trong hoàn cảnh thể loại
xa lạ với nó, mà còn phá vỡ, hoặc đổi mới các thể loại ấy” [150; tr.16] Sau những nhận định
tổng quan, ông xem xét cụ thể từng yếu tố trong chiến lược giao tiếp chi phối đến thể loại Các yếu tố như từ, câu có ý nghĩa rất quan trọng trong việc biểu đạt một nội dung giao tiếp của thể loại lời nói Đi từ chiến lược giao tiếp đặc thù, quan niệm về thể loại của M.Bakhtin rất chú ý đến vai trò của người tiếp nhận, đối tượng hướng tới Do đó, người nhận góp phần quan trọng
tạo nên thể loại: “Ở mỗi lĩnh vực giao tiếp lời nói, với mỗi thể loại lời nói, người nhận bao giờ
cũng có quan niệm mang tính loại hình, xác định nó là một thể loại” [150; tr.49]
Cùng đề cao vai trò của người tiếp nhận, trong cuốn Bản mệnh của lý thuyết, Antoine
Compagnon đưa ra quan niệm: “Thể loại như là mô hình đọc” [42; tr.227] Những mô hình tiếp nhận đó đưa đến cách nhìn nhận “Thể loại, như là phép phân loại, khiến người chuyên
nghiệp có thể phân chia sắp xếp các tác phẩm, nhưng tính thích đáng về phương diện lý thuyết của nó không phải tính thích đáng ấy: đó là hoạt động như một sơ đồ tiếp nhận, một năng lực của người đọc, được xác nhận và/ hoặc bị phản bác bởi bất kỳ văn bản mới mẻ nào trong một tiến trình động” [42; tr.228] Trong mô hình đọc, dưới một tầm đón nhận nhất định thì “Thể loại như là mã văn chương, tổng thể chuẩn mực, quy tắc của trò chơi, cho người đọc biết anh ta
sẽ phải tiếp cận văn bản, và như vậy nó bảo đảm sự thông hiểu văn bản” [42; tr.330] Đứng ở
góc độ tiếp nhận để nhìn thể loại thì phong cách luôn là một vấn đề quan trọng, cốt lõi
Khác với các quan điểm nêu trên, D.X.Likhachev, trong công trình Thi pháp văn học Nga cổ, lại nhìn thể loại trong tiến trình vận động, phát triển của lịch sử văn học Khi khảo sát
các thể loại văn học Nga cổ, ông thấy: “Các thể loại văn học chỉ xuất hiện ở một giai đoạn nhất
định của sự phát triển của nghệ thuật ngôn ngữ và sau đó biến đổi không ngừng Phạm trù thể
Trang 3126
loại văn học là một phạm trù lịch sử” [115; tr.70] Ở trong các giai đoạn khác nhau của lịch sử
văn học, các thể loại luôn có mối quan hệ tác động qua lại, hỗ trợ lẫn nhau Do vậy, các thể loại làm thành một hệ thống cùng tồn tại, nâng đỡ cho nhau hoặc cạnh tranh với nhau Khi nhìn thể
loại xuyên suốt chiều dài thời gian lịch sử Từ đó, ông đưa ra kết luận: “Tôi cho là không thể
tranh cãi hiện tượng sau đây: các thể loại văn học trong tổng thể làm thành một hệ thống cụ thể
và hệ thống này là khác nhau ở trong những thời kỳ lịch sử khác nhau” [115; tr.109]
Nghiên cứu trực tiếp về cấu trúc thể loại, công trình Tiểu thuyết Việt Nam đầu thế kỷ XXI, cấu trúc và khuynh hướng của Hoàng Cẩm Giang lựa chọn “điểm xuất phát là “cấu trúc
thể loại”, và thông qua lăng kính của cấu trúc thể loại để soi chiếu và tìm ra “các khuynh hướng tiểu thuyết khác nhau trong nền văn học đương đại”, từ sự vận động thể loại trong mạch nối tiếp với dòng chảy tiểu thuyết của các thế hệ nhà văn trước đó” [63; tr.30] Khi chia ra các
khuynh hướng tiểu thuyết, tác giả chủ yếu dựa trên những yếu tố “bề nổi” để có thể nhận thấy
dễ dàng là “độ dài, dung lượng và quy mô tác phẩm” [63; tr.32] Ba mảng tiểu thuyết được chia
ra theo tiêu chí này gồm: Mảng tiểu thuyết nghìn trang, có quy mô đồ sộ và hướng về các tự sự mang tầm sử thi, thời đại; mảng thứ hai gồm các tiểu thuyết có quy mô và độ dài trung bình (khoảng 300 đến 600 trang), chủ yếu tập trung vào đề tài lịch sử và thế sự - đời tư; mảng thứ ba gồm các tiểu thuyết có quy mô “nhỏ”, độ dài trung bình thường dao động từ 100 đến 250 trang, với sự biến mất hầu như hoàn toàn của đề tài lịch sử [63; tr.32] Còn về cấu trúc thể loại, tác giả công trình nghiên cứu kỹ lưỡng mô hình cấu trúc ba bình diện của Tamarchenko, “tái sử dụng”
“để khảo sát các khuynh hướng tiểu thuyết Việt Nam đầu thế kỷ XXI từ góc độ cấu trúc thể loại:
1 Các khuynh hướng xây dựng hình tượng thẩm mỹ (Nhân vật, Không – thời gian); 2 Các khuynh hướng lựa chọn trần thuật (Điểm nhìn/ Người kể chuyện, Kết cấu, Giọng điệu và ngôn ngữ trần thuật)” [63; tr.62]
Như vậy, dưới góc nhìn của các lý thuyết hiện đại, thể loại được quan niệm khá mới mẻ,
ở nhiều bình diện phong phú, từ cấu trúc đến lịch sử Có một đặc điểm chung ở đây là các các nhà nghiên cứu đều nhìn thể loại văn học trong mối quan hệ với ngôn ngữ, chiến lược giao tiếp, coi là sản phẩm của một quá trình giao tiếp đặc thù, một loại hình diễn ngôn Trong chiến lược giao tiếp diễn ngôn ấy, chủ thể giữ vai trò quan trọng, góp phần quyết định xác lập một thể loại
Vì vậy, thể loại gắn liền với phong cách, với quá trình tiếp nhận của người đọc Cấu trúc thể loại chính là những “mô hình đọc”, những dạng thể loại lời nói được kiến tạo từ sự thỏa thuận của chủ thể phát ngôn và đối tượng tiếp nhận để biểu đạt một nội dung giao tiếp nào đó Cho nên, thể loại gắn với tác phẩm, những sự biến đổi đặc thù của mỗi giai đoạn phát triển trong tiến trình lịch sử văn học Tất cả đều bắt nguồn từ hệ thống thi pháp, quy tắc, cấu trúc văn bản tác phẩm ngôn từ để hoàn thành hiệu quả mục đích giao tiếp Những lý thuyết và góc nhìn mới lạ, độc đáo
Trang 3227
và mang tính hệ thống này chính là cơ sở, là điểm tựa và gợi ý để chúng tôi tiến hành đề tài trong luận án này
1.2.2 Truyện lịch sử như một loại hình diễn ngôn văn học
Từ trước tới nay, các bộ từ điển văn học, thuật ngữ văn học đã được biên soạn, xuất bản
tại Việt Nam đều sử dụng các thuật ngữ như “tiểu thuyết lịch sử” (Từ điển văn học – Bộ mới),
“Thể loại văn học lịch sử” (Từ điển thuật ngữ văn học), “Văn học lịch sử”/ “Văn chương lịch sử” (150 thuật ngữ văn học) để định danh thể loại này Vì sử dụng những thuật ngữ khác nhau
nên cái nhìn, quan điểm về thể loại cũng rộng, hẹp, nông sâu khác nhau Mục từ “Tiểu thuyết
lịch sử” trong Từ điển văn học – Bộ mới được Nguyễn Huệ Chi, Lại Nguyên Ân định nghĩa:
“Thuật ngữ chỉ một loại hình tiểu thuyết hoặc tác phẩm tự sự hư cấu lấy đề tài lịch sử làm nội dung chính Lịch sử, trong ý nghĩa khái quát, là quá trình phát triển của tự nhiên và xã hội.”
[84; tr.1725] Còn trong Từ điển thuật ngữ văn học do Lê Bá Hán, Nguyễn Khắc Phi, Trần
Đình Sử đồng chủ biên, “Thể loại văn học lịch sử” được định nghĩa: “Lĩnh vực văn học bao
gồm các thể loại khác nhau cùng viết về đề tài lịch sử” [77; tr 301] Thể loại này được chia
thành hai bộ phận: Nhóm các tác phẩm lịch sử biên niên kể về các biến cố lịch sử qua các thời đại, tái hiện các nhân vật lịch sử, các cuộc chiến tranh, các hoạt động bang giao như “Tả
truyện”, “Quốc ngữ”, “Sử ký”, Cả Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên cũng được các tác
giả xếp vào nhóm này Nhóm thứ hai bao gồm các tác phẩm văn học nghệ thuật sáng tác về các
đề tài và nhân vật lịch sử như “tiểu thuyết lịch sử” “Các tác phẩm viết về đề tài lịch sử này có
chứa đựng các nhân vật và các chi tiết hư cấu, tuy nhiên nhân vật chính và sự kiện chính thì được sáng tạo trên các sử liệu xác thực trong lịch sử ” [77; tr 302] Nhà nghiên cứu Lại
Nguyên Ân trong công trình 150 thuật ngữ văn học đi phân biệt rất rõ “diễn ngôn lịch sử”, “chủ
nghĩa lịch sử” và “các tác phẩm về đề tài lịch sử” Cách nhìn nhận về “văn học lịch sử” của Lại Nguyên Ân rất rộng bao gồm cả truyện, tiểu thuyết, thơ và kịch lấy đề tài lịch sử và đáp ứng những yêu cầu của chủ nghĩa lịch sử Vì nhìn “văn học lịch sử” trong quan hệ tương tác với yêu cầu của chủ nghĩa lịch sử nên ông đã xem thể loại này tương ứng với một khuynh hướng, một cách tiếp cận hiện thực từ “cuộc sống và con người ở thời đại đã qua” Vì thế, “văn học lịch sử”/
“văn chương lịch sử” xuất hiện trong mọi nền văn học, ở nhiều giai đoạn và trào lưu khác nhau,
có một lịch sử hình thành, phát triển riêng
Ba định nghĩa trên, dẫu có những nét dị biệt thì về cơ bản vẫn là đại đồng ở các tiêu chí
về đề tài, phương thức phản ánh và thể hiện của tác phẩm văn học viết về lịch sử Những yếu tố trong cấu trúc bề sâu, những hạt nhân tạo nên bình diện kết cấu thể loại vẫn chưa được làm rõ, chưa được xem xét như các tiêu chí Do đó, sự khu biệt thể loại này với các thể loại văn học khác rất mờ Góc nhìn đề tài khiến cho bộ phân văn học này chỉ được coi như một xu hướng,
Trang 3328
chưa phải là một thể loại hay một hệ hình diễn ngôn đặc thù của văn học Cho nên, trong luận
án, chúng tôi sẽ sử dụng khái niệm công cụ khác – “truyện lịch sử” – để khảo sát, tiếp cận các tác phẩm tự sự viết về lịch sử với một nội hàm riêng – coi thể loại truyện lịch sử là một loại hình diễn ngôn đặc thù và độc đáo về lịch sử bằng văn học Khái niệm của chúng tôi được xây dựng
và diễn giải nội hàm trên cơ sở lý thuyết diễn ngôn mà chủ yếu dựa vào lý thuyết của V.I.Chiupa, có tham khảo và bổ sung thêm từ một số quan niệm khác về diễn ngôn
khung khổ của luận án, chúng tôi không có tham vọng/ không nhất thiết phải trình bày một cách cặn kẽ khái niệm diễn ngôn bởi hai lý do: 1/ Mục đích của chúng tôi là ứng dụng lý thuyết diễn ngôn để tìm hạt nhân cấu trúc thể loại truyện lịch sử khi nhìn nhận nó như một loại hình diễn ngôn về lịch sử (tương đương với diễn ngôn khác về lịch sử); 2/ Lý thuyết diễn ngôn khá phong phú, phức tạp với nhiều trường phái, quan điểm, phương pháp phân tích khác nhau Do đó, chúng tôi sẽ trình bày những nét cơ bản nhất, đôi khi là sự tổng hợp của các trường phái, quan điểm khác nhau về diễn ngôn để phục vụ cho việc chứng minh, diễn giải truyện lịch sử - một loại hình diễn ngôn lịch sử bằng văn học
Theo V.I.Chiupa, “Diễn ngôn (tiếng Pháp: discours – lời nói) - là phát ngôn, hành động
lời nói tạo sinh văn bản gồm người nghe bình đẳng với người nói và được xem là “sự kiện giao tiếp tương tác văn hoá xã hội” (Van Dijk) giữa chủ thể, khách thể và người tiếp nhận Chữ
“diễn ngôn” có nguồn gốc từ tiếng La Tinh, nghĩa là “chạy tới chạy lui khắp tứ phía”(trong các công trình của Thomas Aquinas, nó có nét nghĩa: đàm luận, nghị luận)” [38] Khái niệm
diễn ngôn ban đầu do các nhà ngôn ngữ học đề xuất và dùng trong lĩnh vực nghiên cứu ngôn ngữ Sau đó, khái niệm này được mở rộng và sử dung trong cả lĩnh vực xã hội học, lịch sử tư tưởng (tiêu biểu là lý thuyết của M.Foucault) và nghiên cứu văn học mà người khởi đầu là M.Bakhtin với quan niệm văn học là một thể loại lời nói Xét về mặt bản chất thì diễn ngôn chính là một hoạt động giao tiếp có liên quan đến ba đối tượng chủ thể (người nói, người viết), đối tượng tham chiếu – cái được bàn luận (sự kiện, nhân vật) và đối tượng hướng tới (người nghe, người đọc) Ba nhân tố này cũng là những thẩm quyền diễn ngôn, chi phối trật tự bên
trong, quyết định bản chất của diễn ngôn đó Vì vậy, V.I.Chiupa đã khẳng định: “Bởi “việc tạo
ra diễn ngôn hoạt động như sự lựa chọn các khả năng khai phá cho mình con đường vượt qua một mạng lưới giới định”, nên diễn ngôn không phải là hệ thống kí hiệu, mà là hệ thống các thẩm quyền giao tiếp diễn ngôn: thẩm quyền sáng tạo (chủ quan – của tác giả), thẩm quyền của cái được biểu đạt (khách quan – của nhân vật) và thẩm quyền tiếp nhận (của đối tượmg tiếp nhận – người đọc)” [38]
Trang 3429
Bên cạnh đó, các yếu tố từ bên ngoài cũng tác động mạnh, chi phối đến việc hình thành, quyết định đến trật tự bên trong của diễn ngôn Đó là sự chi phối vô hình của bàn tay quyền lực, gồm những thể chế chính trị, tri thức, văn hóa, ý thức, tư tưởng hệ Mỗi chủ thể sẽ phải xác định cho mình một vị thế trong không gian, trong mối quan hệ với các thể chế quyền uy Cơ chế quyền lực chi phối việc anh nói cái gì (hệ chủ đề), nói dưới hình thức ngôn ngữ nào (hình thức thể hiện), do đó, quyết định đến trật tự bên trong diễn ngôn Mỗi thể chế quyền lực đặc trưng của mỗi thời đại sẽ quy định những vùng cấm kỵ và những khu vực đề tài được khai thác Chỗ đứng của chủ thể phát ngôn trong tương quan với vùng cấm sẽ giúp xác lập một hệ tư tưởng riêng, hình thành một loại hình diễn ngôn của cá nhân anh ta (trung tâm hay phi trung tâm) Trật tự bên trong và bên ngoài của diễn ngôn tương tác với nhau, tạo nên tính thống nhất của các loại hình diễn ngôn – những thực thể lời nói riêng V.I.Chiupa đã phân tích cụ thể vai trò của
mỗi thẩm quyền diễn ngôn: Thẩm quyền của cái được biểu đạt , thẩm quyền sáng tạo và thẩm quyền tiếp nhận Không dừng lại ở đó, khi nói về diễn ngôn văn học, V.I.Chiupa còn khẳng
định: “Tác phẩm văn học ở mọi quy mô đều có thể xem là một đơn vị phát ngôn duy nhất, tức là
một diễn ngôn, là sự kiện của sự kiện (giao tiếp) hiện thực hoá một “chiến lược giao tiếp” nào
đó trong khuôn khổ của một “hình thái diễn ngôn nhất định” [38] Trên thực tế, đây không hẳn
là quan niệm quá mới mẻ bởi trước đó M.Bakhtin đã có một nhận định quan trọng: văn học là một “thể loại lời nói” Mỗi tác phẩm văn học là một diễn ngôn thực hiện một chiến lược giao tiếp của chủ thể sáng tạo (nhà văn) với đối tượng hướng tới của mình (độc giả) về một vấn đề nào đó (đề tài, nhân vật, sự kiện) thông qua một thứ ngôn ngữ phù hợp, thể hiện phong cách riêng Cuộc giao tiếp này cũng chịu sự chi phối của nhiều thiết chế quyền lực từ bối cảnh lịch
sử, xã hội, nền tảng tri thức, văn hóa, quyền lực chính trị, các trào lưu, khuynh hướng văn học Cho nên diễn ngôn văn học vừa là sản phẩm của cá nhân, vừa thực hiện chức năng giao tiếp, vừa mang dấu ấn thời đại và các yếu tố dân tộc tính
Vì tác phẩm văn học là một đơn vị phát ngôn, một hình thái diễn ngôn nên mỗi thể loại văn học có thể coi là một loại hình diễn ngôn nhất định.Từ góc nhìn trên, chúng tôi nhận thấy truyện lịch sử chính là một loại hình diễn ngôn đặc trưng về lịch sử Diễn ngôn truyện lịch sử khác hẳn về chất so với diễn ngôn lịch sử, dù cả hai đều có cùng một đối tượng phản ánh/ cái được tham chiếu là lịch sử Chúng tôi nhận thấy có một chiến lược giao tiếp riêng trong diễn ngôn truyện lịch sử giữa chủ thể - người viết với bạn đọc – đối tượng về những điều tưởng chừng đã được mặc định như những chân lý, những sự thật hiển nhiên thuộc về quá khứ (sự kiện, nhân vật lịch sử), bằng một thứ ngôn ngữ diễn đạt riêng – ngôn ngữ hình tượng Viết về lịch sử, các nhà văn đem đến cái nhìn mới, từ những chiều kích tiếp cận khác, đối thoại, phản biện lại chính sử, những điều được coi là chân lý (hay được tâm thức con người mặc nhiên coi
nó là sự thực khách quan) Như vậy, lịch sử chỉ được xem là một mã nghệ thuật, một loại ngôn
Trang 3530
ngữ thể hiện chứ không phải là mục đích chính, hạt nhân quan trọng nhất của truyện lịch sử Cái đích cuối cùng nằm ở chủ thể diễn ngôn – người sáng tạo với những thông điệp gửi gắm trong
đó và hình thức ngôn ngữ thể hiện cái đã xảy ra trong quá khứ
Cũng như nhiều loại hình diễn ngôn khác, truyện lịch sử được tạo nên và bị chi phối của những trật tự (thẩm quyền) từ bên trong và bên ngoài Những nhân tố trong cấu trúc diễn ngôn
sẽ được chủ thể chuyển hóa thành những mã nghệ thuật riêng, phù hợp Ở đây, chúng tôi hiểu
“mã” (code) theo một nghĩa rộng và chung nhất Theo đó, “mã” là phép tắc xác lập mối quan hệ
giữa thông tin và một tổ hợp kí hiệu nào đó Nghệ thuật là sự thông tin thẩm mĩ Bước vào tác
phẩm nghệ thuật, cái thẩm mĩ trước hết là cái “giá trị” Cho nên mã nghệ thuật chính là nguyên
tắc định hướng giá trị xã hội - thẩm mĩ” [149] Từ cách hiểu về “mã” như vậy, chúng tôi nhận thấy có ba mã cơ bản chi phối loại hình diễn ngôn truyện lịch sử: mã lịch sử, mã thể loại và mã
tư tưởng hệ Ba mã này sẽ tạo nên mô hình cấu trúc nội tại cho thể loại gắn liền với một quá trình lập và giải mã
Mã lịch sử:
Nếu chiết tự thuật ngữ “Truyện lịch sử” thì tự bản thân nó chia thành hai yếu tố:
“truyện” và “lịch sử”, đó cũng là hai mã chính chi phối, tạo nên loại hình diễn ngôn này Do
vậy, đã là truyện lịch sử nhất định cần/ phải có yếu tố lịch sử như các sự kiện, biến cố, các nhân vật, trạng thái nào đó của lịch sử Song, vấn đề cốt lõi ở đây là, chúng ta quan niệm như thế nào là lịch sử/ về lịch sử?
Trong Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên, mục từ “lịch sử” được giải thích như
sau: 1/ Quá trình phát sinh, phát triển đã qua hay cho đến tiêu vong của một hiện tượng, một sự
vật nào đó; 2/ Khoa học nghiên cứu về quá trình phát triển của xã hội của loài người nói chung,
hay của một quốc gia, một dân tộc nói riêng; sử học [164; tr.566] Còn Từ điển Anh - Việt do
viện ngôn ngữ biên soạn, NXB Văn hóa thông tin ấn hành năm 2009, mục từ “History” được giải thích như sau: 1 Sử, lịch sử, sử học 2 Nguồn gốc, câu chuyện 3 Diễn cách, lịch sử (của
một khoa học, một phương pháp) [tr.484] Cuốn từ điển Oxford Advanced Learner’s
Dictionary giải thích mục từ “history” (lịch sử) với 5 nét nghĩa cơ bản sau: 1 Tất cả những sự
kiện đã xảy ra trong quá khứ; 2 Các sự kiện của quá khứ liên quan đến sự phát triển của một địa phương, hay đối tượng cụ thể; 3 Nghiên cứu về các sự kiện trong quá khứ như một môn học
ở trường phổ thông hoặc đại học; 4 Một bản viết hoặc nói về các sự kiện trong quá khứ; 5 Ghi lại những thứ thường xuyên xảy ra trong cuộc sống quá khứ của một con người, một gia đình hay một địa phương, tập hợp các sự kiện được biết đến về cuộc sống quá khứ của một ai đó
[272; tr.711] Trong khi đó, nhà nghiên cứu Trần Đình Sử đưa ra giải thích: “Xét từ nguyên, từ
“lịch sử” (histoire) có 6 nghĩa Một là chuyện kể; hai là chuyện đã xảy ra; ba là chỉ quá trình
Trang 3631
phát triển (Marx nói về quan điểm lịch sử); bốn là đời sống của con người xã hội (trong Gia đình thần thánh Marx nói, “Lịch sử chẳng phải cái gì khác mà chính là cuộc sống của con người theo đuổi một mục đích của mình”); năm là quá khứ của hiện tại đã lùi xa; sáu là chỉ
khoa học lịch sử, sử học” [190] Lại Nguyên Ân trong cuốn 150 thuật ngữ văn học cũng viết:
“Trong cách nhìn của các trường phái triết học văn hóa thế kỷ XX, “lịch sử” (tiếng Anh: history; tiếng Pháp: histoire ) bao hàm: 1/ Phương thức tồn tại trong một thời gian của con người và của loài người; 2/ Sự trần thuật về quá khứ như một hình thái văn hóa, một bộ môn chuyên biệt” [17; tr.399]
Theo cách nhìn nhận và những quan điểm nêu trên, lịch sử cũng là một loại hình diễn ngôn về cái đã xảy ra, thuộc về quá khứ, những quá trình đã hoàn tất của loài người, của xã hội
Nó giống truyện lịch sử ở chỗ đều là những hình thức truyện kể, những diễn ngôn trần thuật Cả hai đều quan tâm đến các sự kiện, các nhân vật, các hình thái xã hội và cuộc sống đã lùi về quá khứ, trong đó có những sự thật lịch sử Do đó, không có một sự thật lịch sử khách quan như vốn
có mà chỉ có sự thật trong các diễn ngôn lịch sử (sự thật lịch sử ghi trong các văn bản) Bởi trong thế giới này không tồn tại vật như nó vốn có Tất cả đều được nhận thức, phản ánh theo một cái nhìn/ điểm nhìn của một chủ thể nào đó, gắn với những không, thời gian cụ thể - lịch sử
được nhận thức và tái cấu trúc Các nhà hậu cấu trúc luận khẳng định: “Không có thực tại ngoài
diễn ngôn, không có hiện thực trực quan, không có phương pháp luận và chuẩn mực khoa học
có thể trở thành vật đảm bảo cho Sự thật hay Chân lí khoa học.” [181] Cho nên, trong diễn
ngôn lịch sử và diễn ngôn truyện lịch sử, khái niệm sự thật lịch sử chỉ mang tính tương đối, và là
“một khái niệm ẩn dụ, mang tính chủ quan” [190] Lịch sử (sự kiện, nhân vật, quá trình ) đã
được tái cấu trúc theo một góc nhìn, cách trần thuật và những lựa chọn riêng của chủ thể diễn ngôn Không thể phủ nhận một điều, đã là sự thật lịch sử thì trước hết nó phải là một sự thật, đã xảy ra thật, trong thực tế, trong khoảng không gian và thời gian xác định, chứ không phải cái bịa tạc, giả tạo, không có thật Tuy nhiên, tin vào sự thật lịch sử là một cái gì đó hoàn toàn khách quan, bất biến, duy nhất thì đó lại là một sự nhầm lẫn Mỗi diễn ngôn mang trong mình một sự thật riêng, sự thật của những lựa chọn, của bức tranh thế giới vật tham chiếu theo nhu cầu của chủ thể diễn ngôn và đối tượng tiếp cận Vì thế, mỗi chủ thể lựa chọn hướng tới đối tượng, với điểm nhìn, cách trần thuật, ngôn ngữ và lối tu từ khác nhau, sẽ cho ta những diễn ngôn lịch sử khác nhau Lịch sử khách quan vẫn có nhưng nó đã lùi xa, không thể kiểm chứng Trước mắt ta chỉ là những văn bản – diễn ngôn Tin vào sự thật lịch sử tức là tin vào sự thật của/ trong diễn ngôn, sự thật của văn bản
“Diễn ngôn lịch sử kể về những điều đã không còn tồn tại, vì vậy, sử gia phải tái cấu trúc chuỗi sự kiện, biến cố trên cơ sở nguồn tư liệu” [17; tr.399] Bởi thế, bên cạnh chính sử
(văn bản vẫn được coi là ghi sự thật lịch sử), ta vẫn thấy tồn tại những hình thức ghi sử khác như
Trang 37lịch sử Việt Nam thời dựng nước, tìm về cội nguồn, thủy tổ đều lấy tri thức từ các văn bản sử
dân gian như truyền thuyết, giai thoại, mà chủ yếu là trong Việt điện u linh của Lý Tế Xuyên và Lĩnh Nam chích quái của Trần Tế Pháp Thực chất, những hình thức diễn ngôn này ít nhiều
mang yếu tố hư cấu, có tổ chức trần thuật theo một lối tu từ riêng mà ta có thể coi là các tác phẩm tiền văn học Cùng với chính sử (sử ghi theo hình thức biên niên), những tác phẩm truyền thuyết, giai thoại, sử ký, diễn ca lịch sử đều là những loại hình diễn ngôn về lịch sử Cả hai loại hình diễn ngôn này đề là cơ sở, tiền đề, cung cấp cả chất liệu lịch sử lẫn chất liệu truyện kể (hình thức trần thuật, lối tu từ ) cho truyện lịch sử sau này Vì vậy, diễn ngôn truyện lịch sử luôn song hành, cùng tồn tại với hai loại hình diễn ngôn trên, như một cái nhìn, cách lý giải, lối thể hiện khác về lịch sử, có khi đối thoại, hoài nghi, phản tư lại chính sử
Dưới góc nhìn lý thuyết diễn ngôn, lịch sử trong truyện lịch sử là một mã, một loại ngôn ngữ nghệ thuật đặc biệt của thể thể loại Các nhân vật, sự kiện, bối cảnh lịch sử tạo khung nền, không khí, môi trường, không gian và thời gian đặc thù cho thể loại Mã lịch sử, do đó, là cơ sở ban đầu xác định tính chất, đặc trưng thể loại Nó tạo ra tính chất tương tác đa chiều theo mạch thời gian của các sự kiện, nhân vật, tình điệu thẩm mỹ, cách nhìn, cách cảm Nó mã hóa, tạo ra các khả năng ý nghĩa, biểu hiện tư tưởng, tình cảm, cất chứa thông điệp hay bài học… Cho nên, lịch sử được tái tạo, sáng tạo, kết hợp với các yếu tố phi sử, thành những tác phẩm đa thanh, phức điệu, những truyện mang nhiều chuyện trong đó Đó là những hiện thực được nối dài, vượt qua các giới hạn thời gian, thành cái đang diễn ra, chưa hoàn tất, cái của hôm nay, những sự thật muôn đời hay những diễn ngôn thời sự
Trang 3833
hài hòa mối quan hệ giữa mã lịch sử với mã truyện kể, giữa ý đồ, tư tưởng của chủ thể phát
ngôn với những quan niệm đã được mặc định/ bị quy ước thành cái gọi là “sự thật lịch sử” Chủ
thể đó sẽ phải đứng trước một lựa chọn và quyết định giữa việc tuân thủ hay phá hủy cái trật tự trong diễn ngôn lịch sử; giữa việc trung thành với hiện thực lịch sử (trong diễn ngôn) hay chủ động sáng tạo, hư cấu; giữa cái nhìn của cá nhân với cái nhìn của cộng đồng; giữa tư tưởng của thời hiện tại, vấn đề của thời đại với quá khứ đã xa, được nhìn bằng con mắt ngưỡng vọng, thành kính Mỗi sự lựa chọn, kiến tạo chiến lược giao tiếp sẽ cho ra đời những loại hình diễn ngôn, những biến thể, khuynh hướng khác nhau từ mẫu số chung của cùng một thể loại (xét trên
cả bình diện nội dung, tư tưởng, cách tiếp cận hiện thực lẫn hệ thống thi pháp đặc trưng)
Văn học là một loại hình nghệ thuật – nghệ thuật ngôn từ Đã là nghệ thuật thì luôn luôn
tư duy bằng hình tượng, qua hình tượng Do đó, nhà văn phải dùng hư cấu, tưởng tượng để xây dựng những hình tượng nghệ thuật mang tính chất khái quát cao Chủ thể diễn ngôn truyện lịch
sử không phải chép lại lịch sử mà là sáng tạo ra những hình tượng về lịch sử, đem đến góc nhìn, khai thác ở khía cạnh mới, đưa ra cách lý giải khác, làm “vỡ ra” nhiều điều của các sự kiện đã qua trong cảm thức của người hôm nay Nói như nhà viết tiểu thuyết lịch sử nổi tiếng của văn
học Pháp, A.Dumas: “Lịch sử đối với tôi là cái gì? Nó chỉ là cái đinh để tôi treo các bức họa
của tôi mà thôi” Cho nên, nhà văn phát huy trí tưởng tượng, sáng tạo nên một bức tranh thế
giới riêng về lịch sử Và như thế, lịch sử là chất liệu ban đầu, cảm hứng hoặc như một hình thức ngôn ngữ, một mã nghệ thuật trong diễn ngôn tự sự Lịch sử được lựa chọn, gia giảm thêm bớt,
tổ chức cùng hệ thống thi pháp và các yếu tố của nghệ thuật tự sự tạo thành một tác phẩm hoàn chỉnh, mang tính thẩm mĩ, thể hiện phong cách riêng – một diễn ngôn của cá nhân, một thể loại xác định
Theo quan điểm của chúng tôi, đã là truyện lịch sử thì trước hết cần có yếu tố truyện/ truyện kể Khi tìm hiểu về thuật ngữ “truyện/ truyện kể”, chúng tôi thấy có rất nhiều quan niệm
Mỗi quan niệm đề cập đến một khía cạnh bản chất của vấn đề Từ điển văn học (Bộ mới) định
nghĩa: “Truyện” là “khái niệm chỉ một thể loại tự sự” [84; tr.1837] Trong khi đó, các tác giả
của Từ điển thuật ngữ văn học lại đồng nhất khái niệm “truyện” với “tự sự”, được hiểu là
“phương thức tái hiện đời sống, bên cạnh hai phương thức khác là trữ tình và kịch được dùng làm cơ sở để phân loại tác phẩm văn học” [77; tr.385], “phương thức phản ánh hiện thực qua các sự kiện, biến cố và hành vi con người làm cho tác phẩm tự sự trở thành một câu chuyện về
ai đó hay về một cái gì đó” [77; tr.385] Tzvetan Todorov khi nghiên cứu thi pháp văn xuôi lại
cho rằng: “Truyện kể bao giờ cũng biểu đạt; nó biểu đạt một truyện kể khác” [235; tr.81], tức là một kiểu cấu trúc truyện kể kép Còn N.D.Tamarchenko lại định nghĩa: “Truyện kể (Sujet) là
dẫy sự kiện, tình huống và xung đột (các hành vi, vị thế, bao gồm cả vị thế mâu thuẫn, và trạng
thái của các nhân vật) được định hướng một cách nghệ thuật trong thế giới các nhân vật; dựa
Trang 3934
vào trình tự của chúng, người ta phân biệt các bình diện cốt truyện (fabula, sự phân bố của các yếu tố thuộc dãy nói trên trong đời sống một nhân vật và ý nghĩa của chúng đối với nó) và
truyện kể theo đúng nghĩa riêng của nó (subjet, sự phân bố của chính các sự kiện và tình huống
nói trên trong tầm nhìn của tác giả và độc giả), nhưng thông thường, dựa vào đó, người ta phân biệt các yếu tố lặp lại (yếu tố truyền thống), tức là các môtip, và và tổ hợp vững chắc của các môtip (sơ đồ truyện kể)” [201] Do đó, “Với tư cách là sự triển khai “sự kiện thống nhất được kể
lại” (chứ không phải bản thân sự kể) thành một chuỗi, một trình tự rời rạc, một mặt, truyện
kể (sujet) được xác định là một không – thời gian (chronotope) như thế này, hay thế kia Mặt
khác, nó còn được xác định bởi hoạt động của nhân vật, tức là loại hình nhân vật” [201] Những
quan niệm nêu trên đã cho chúng tôi một cái nhìn khá toàn diện về “truyện/ truyện kể” Chúng tôi dùng nội hàm khái niệm này với các mặt ý nghĩa sau: 1/ Loại hình tác phẩm tự sự để khu biệt với các tác phẩm trữ tình, kịch; 2/ Yếu tố truyện kể, tức là một tích truyện với những sự kiện, biến cố, nhân vật, được tổ chức theo một trình tự nào đó; 3/ Một phương thức tổ chức đặc thù bằng trần thuật, kết cấu, không gian, thời gian; 4/ biểu đạt một hình thái nào đó của đời sống qua phản ánh hoặc tái tạo
Cho nên, mã thể loại sẽ chi phối sự thể hiện cũng như cách tiếp cận lịch sử, làm nên đặc trưng thể loại Tùy thuộc vào mỗi chiến lược giao tiếp diễn ngôn để thực hiện một mục đích nghệ thuật nhất định, chủ thể sẽ tạo ra các mô hình truyện lịch sử khác nhau Song dẫu khác nhau thế nào thì truyện lịch sử cũng mang những yếu tố cấu trúc cơ bản của diễn ngôn trần thuật/ tự sự: sự kiện, tình tiết, nhân vật, tổ chức không gian, thời gian, lựa chọn người kể chuyện, điểm nhìn, nhịp điệu, tiết tấu trần thuật Bên cạnh đó, ngôn ngữ truyện lịch sử mang bản chất của “lời trần thật kép” (M.Bakhtin), có tính chất đối thoại từ bên trong, nó vừa là đối tượng miêu
tả vừa tự miêu tả chính mình Nó có thể dung hợp tổ chức nhiều tiếng nói khác nhau trong tương quan đối thoại để tạo nên tính chất đa thanh, phức điệu Do đó, ta thấy trong truyện lịch sử có thể dung nạp nhiều yếu tố hài hước, giễu nhại, những hình thức nghịch dị, tiếng cười trào tiếu dân gian (Carnaval hóa), ngôn ngữ khẩu ngữ thân mật, suồng sã Ngôn ngữ ấy mang đậm chất văn xuôi, là ngôn ngữ của đời sống, hiện thực đang diễn ra, khác hẳn với ngôn ngữ thơ ca Điều khiến truyện lịch sử hiện đại có khả năng dung hợp nhiều thể loại trong bản thân mình, mang nhiều yếu tố dư thừa song lại rất quan trọng, có ý nghĩa quyết định Cùng một lúc, ta có thể tìm thấy tất cả các đối cực: bi/ hài; cao cả/ thấp hèn; cái trang trọng/ cái đời thường; cả tính tự sự/ trữ tình và tính kịch… trong một tác phẩm
Như vậy, diễn ngôn lịch sử (trong các văn bản chính sử) và truyện lịch sử là hai loại hình diễn ngôn khác nhau cơ bản về chất, dù cả hai đều cố gắng tôn trọng những sự thực lịch sử đã qua, hướng người đọc đến một chân lý khách quan nào đó, tạo niềm tin vào cái thuộc về quá khứ Diễn ngôn lịch sử lấy các sự thực khách quan làm đối tượng chính nên luôn cố gắng tái
Trang 4035
hiện lịch sử như nó vốn có, để người đời sau tin đó là sự thật hoàn toàn, duy nhất Để làm được điều đó, nhà viết sử luôn luôn tạo điểm nhìn, giọng điệu trung tính, khách quan hóa, dùng ngôn ngữ riêng, hình thức trần thuật theo trình tự thời gian sự kiện (ghi lại theo hình thức biên niên) Cách thức này tạo nên tính chất như thật của các biến cố, nhân vật lịch sử Trong khi đó, truyện lịch sử nhìn tất cả qua lăng kính của chủ thể/ cái tôi cá thể, với mục đích tìm đến một sự lý giải, cắt nghĩa từ nhiều điểm nhìn khác nhau về lịch sử Điều đó thể hiện nhu cầu đối thoại, thậm chí xét lại, giải thiêng cái nhìn tôn ti, nhất nguyên, mặc định mang tính sử thi trong diễn ngôn lịch
sử Quá trình sáng tạo diễn ngôn truyện lịch sử là quá trình tạo ra loại hình diễn ngôn mới, bằng những mã/ ngôn ngữ biểu hiện mới từ kết cấu, trần thuật, đến hình tượng, thủ pháp, bút pháp
nghệ thuật Chúng tôi coi quá trình đó là xây và phá – phá cái cũ, cái mặc nhiên được coi là
đúng, là duy nhất để tạo những hoài nghi, xây cái mới, cái khác, dù nó có thể không được đón nhận một cách thiện cảm Quá trình ấy đã được Milan Kundera nêu trong tiểu luận của mình:
“khoa chép sử viết lại lịch sử xã hội chứ không phải con người, vì vậy những sự kiện lịch sử được nói đến trong các tiểu thuyết của tôi thường bị khoa chép sử bỏ quên” [111; tr.45]
Mã tư tưởng hệ
Nếu trật tự bên trong với các yếu tố nội tại, giữ vai trò quyết định thì trật tự bên ngoài với các yếu tố trong môi trường sản sinh cũng tác động không nhỏ đến việc hình thành, xác lập tính chất của loại hình diễn ngôn truyện lịch sử Đó là các yếu tố của bối cảnh lịch sử, chính trị, kinh
tế, văn hóa, tôn giáo, quan niệm thẩm mỹ, hệ giá trị xã hội… mà M.Foucault vẫn thường gọi là quyền lực và tri thức Trong các nhân tố này, tư tưởng, ý thức hệ, những căn cốt từ trong vô thức tập thể của một cộng đồng có ảnh hưởng lớn đến tư tưởng nghệ thuật của các chủ thể diễn ngôn, chi phối sự lựa chọn các nhân tố để thực hiện chiến lược giao tiếp, tạo ra một loại hình truyện
lịch sử có mô hình cấu trúc riêng Chúng tôi gọi yếu tố này là mã tư tưởng hệ “Tư tưởng hệ có
thể hiểu một cách bản chất là một hệ thống những tư tưởng, quan niệm của một nhóm người, một cộng đồng, chi phối hoạt động và các mối quan hệ của nhóm với nhau, của nhóm với cộng đồng, quan hệ giữa các cộng đồng, giữa cộng đồng và thế giới hiện thực Do đó, tư tưởng hệ bao gồm tất cả các mặt của tri thức, tâm lý, văn hóa làm nên thế giới quan cho một nhóm người hay một cộng đồng nào đó” [136; tr.74] Cho nên, tư tưởng hệ có xu hướng loại bỏ những
tư tưởng, suy nghĩ và khám phá mang tính cá nhân, tạo ra những khuôn mẫu chung cho các chủ thể, làm hợp thức hóa những khuôn mẫu này cho cả một nhóm hay cộng đồng Chủ thể không thoát ra khỏi tư tưởng hệ của thời đại, của nhóm nên luôn bị chế định trong một khoảng không gian, trường nhìn nhất định Và như thế, tư tưởng hệ thường được biểu hiện ra thành một bức tranh thế giới mang tính quy ước chung cho cả cộng đồng, nhiều khi còn mang tính khuôn mẫu, mặc định như một sự bắt buộc