1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

BÁO CÁO RÀ SỐT HOẠT ĐỘNG CỦA ĐỐI TÁC NƠNG NGHIỆP BỀN VỮNG VIỆT NAM (PSAV)

26 27 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 765,45 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PSAV tập trung vào kết nối các tác nhân trong ngành nông nghiệp để chia sẻ kinh nghiệm, cùng hợp tác phát triển chuỗi giá trị các mặt hàng nông sản chủ lực của Việt Nam theo hình thức Đố

Trang 1

1

BÁO CÁO RÀ SOÁT HOẠT ĐỘNG CỦA ĐỐI TÁC NÔNG NGHIỆP

BỀN VỮNG VIỆT NAM (PSAV)

I ĐÁNH GIÁ CHUNG HOẠT ĐỘNG CỦA PSAV

1.1 Mục tiêu hoạt động

PSAV được thành lập từ năm 2010 theo “Sáng kiến tầm nhìn mới cho nông nghiệp 2020” hướng tới mục tiêu 20-20-20, là tăng 20% năng suất, giảm 20% đói nghèo, và giảm 20% phát thải PSAV tập trung vào kết nối các tác nhân trong ngành nông nghiệp

để chia sẻ kinh nghiệm, cùng hợp tác phát triển chuỗi giá trị các mặt hàng nông sản chủ lực của Việt Nam theo hình thức Đối tác công tư (PPP) Các mục tiêu cụ thể bao gồm:

- Nâng cao tiêu chuẩn nông nghiệp bền vững, xây dựng, hỗ trợ chính sách và các phương thức canh tác nông nghiệp tốt tại Việt Nam

- Thúc đẩy quan hệ đối tác giữa Bộ Nông nghiệp & PTNT và các đối tác, bao gồm, các cơ quan nhà nước, các tổ chức quốc tế và cơ quan phi chính phủ, nhà tài trợ, viện nghiên cứu và các doanh nghiệp để cùng phát triển nông nghiệp bền vững

- Đóng góp xây dựng phương thức quản lý phát triển bền vững dựa trên cơ sở khoa học và sự chấp hành của các đối tác thành viên

- Phổ biến thông tin được cập nhật và đáng tin cậy về canh tác và phát triển nông nghiệp bền vững

- Liên kết với các tổ chức cùng trong lĩnh vực đối tác công tư (PPP) nông nghiệp để chia sẻ kinh nghiệm và cùng hợp tác Đại diện cho Việt Nam tham gia các tổ chức quốc tế về PPP

1.2 Các kết quả đạt được của PSAV và các Nhóm công tác PPP

Tới thời điểm hiện tại1, PSAV có 7 Nhóm công tác PPP ngành hàng, bao gồm các Nhóm về cà phê, chè, rau quả, thủy sản, gạo, gia vị và hồ tiêu, hóa chất nông nghiệp, được thành lập và hoạt động với sự tham gia của 64 tổ chức, gồm các cơ quan Chính phủ, các công ty, hiệp hội ngành hàng, viện nghiên cứu, các tổ chức quốc tế và phi Chính phủ

Trong bối cảnh phát triển mới, một số nhóm hoạt động chưa hiệu quả hoặc không còn phù hợp, vì vậy PSAV đã tiến hành tái cấu trúc lại các Nhóm công tác PPP ngành hàng; trong đó, Nhóm công tác PPP về tài chính nông nghiệp tạm thời dừng hoạt động,

1 Tháng 3/2018

Trang 2

- Tạo ra nhiều mô hình trình diễn canh tác bền vững, thân thiện mới môi trường và tăng thu nhập cho nông dân (như mô hình sản xuất cà phê của Nestle, sản xuất chè của Unilever)

- Tạo dựng được một số chuỗi giá trị liên kết bền vững như chuỗi sản xuất và chế biến khoai tây của Pepsico, chuỗi gạo của Bayer và Vinafood 2, chuỗi chè của Unilever, IDH và Hiệp hội chè, chuỗi hồ tiêu, với các sản phẩm đáp ứng tiêu chuẩn của thị trường nhập khẩu

- Phối hợp với doanh nghiệp để xây dựng các bộ tài liệu hướng dẫn sản xuất bền vững cho cà phê, chè, hồ tiêu, đáp ứng tiêu chuẩn của thị trường thế giới; thông qua các dự án PPP đã tiến hành đào tạo cho gần 2 triệu lượt nông dân về phương thức canh tác bền vững

- Kết nối với các tổ chức cấp chứng chỉ quốc tế như 4C, Utz, Rainforest Alliance để

hỗ trợ các hộ sản xuất và doanh nghiệp lấy chứng nhận quốc tế, qua đó tăng xuất khẩu ra thị trường thế giới, đặc biệt là các thị trường có yêu cầu cao

1.3 Những hạn chế và khó khăn chung trong hoạt động của PSAV

- Định hướng mục tiêu 20-20-20 mới chỉ dừng lại ở các mô hình thí điểm, chưa được nhân rộng trong thực tiễn các dự án đầu tư theo mô hình PPP

- Chưa thu hút được nhiều các doanh nghiệp trong nước tham gia; đặc biệt các doanh nghiệp đầu đàn dẫn dắt chuỗi giá trị của các ngành hàng chủ lực quốc gia

- Chưa kết nối chặt chẽ giữa các nhóm công tác PPP với chính quyền địa phương; giữa các doanh nghiệp lớn với doanh nghiệp vừa và nhỏ, và với các tổ chức nông dân tại địa phương

- Chưa có mô hình mẫu hoặc hướng dẫn tổ chức thực hiện dự án PPP nên một số các dự án hiện nay đều tự thực hiện theo nhu cầu của doanh nghiệp

- Chưa thu hút được các doanh nghiệp đầu tư và chuyển giao khoa học công nghệ vào sản xuất và chế biến nông sản tại Việt Nam

- Mặc dù dự án của các doanh nghiệp hiện nay thực hiện theo mô hình “công – tư” nhưng phía Nhà nước chưa sẵn sàng nguồn ngân sách đủ lớn hoặc gói hỗ trợ chính sách dành riêng cho các doanh nghiệp tham gia các nhóm công tác PPP

Trang 3

2.1.1 Thông tin chung về ngành hàng

Trong những thập niên gần đây, ngành cà phê Việt Nam đã phát triển vượt bậc về diện tích, năng suất và sản lượng Năng suất đạt 23,5 tạ/ha cao gấp 2,9 lần năng suất trung bình cà phê thế giới (theo FAO, 2011) Tốc độ tăng trưởng bình quân của năng suất trong giai đoạn 2010-2017 đạt 2,0%/năm, đặc biệt đối với những vườn cà phê tái canh sử dụng giống mới tại khu vực Tây Nguyên, năng suất cà phê Robusta tái canh có thể đạt mức 45-60 tạ/ha, có những vườn đạt tới trên 80 tạ/ha (MARD) Việt Nam đã xuất khẩu cà phê tới gần 100 quốc gia trên thế giới với tổng kim ngạch hàng năm trên 2 tỷ USD trong giai đoạn 2011-2017 Cùng với xuất khẩu, tốc độ tiêu thụ cà phê nội địa cũng tăng khá nhanh Đến năm 2017, tiêu thụ cà phê trong nước đã tăng 3,3 lần so với năm 2005, đạt khoảng 138 nghìn tấn, chiếm 8% tổng sản lượng cà phê Việt Nam (Số liệu thống kê của ICO)

Dù đã đạt được rất nhiều thành tựu trong thời gian qua, ngành hàng cà phê vẫn phải đối mặt với một số hạn chế sau:

- Quy mô hộ sản xuất nhỏ, phân tán, trình độ thâm canh chưa đồng đều đặc biệt là việc lạm dụng các yếu tố đầu vào như nước tưới, phân bón và thuốc BVTV

- Tập quán canh tác bền vững, sơ chế bảo quản của hộ dân đã được cải thiện nhưng còn nhiều hạn chế, đặc biệt trong bối cảnh hiện nay khi phần lớn doanh nghiệp đã

bỏ thưởng giá cho cà phê có xác nhận, chứng nhận bền vững

- Liên kết kết nối trực tiếp người sản xuất với thị trường còn nhiều hạn chế, quá nhiều khâu trung gian

- Đầu tư của doanh nghiệp vào công nghệ chế biến sâu, chế biến tinh còn yếu

- Chất lượng cà phê xuất khẩu chưa cao, chủ yếu là xuất khẩu nguyên liệu thô

Trang 4

4

2.1.2 Đánh giá hoạt động Nhóm công tác PPP cà phê

a) Cơ cấu tổ chức, mục tiêu

Nhóm Công tác PPP cà phê được thành lập từ tháng 5/2010, dưới sự đồng chủ trì của Cục Trồng trọt và Nestle Việt Nam Nhóm công tác PPP cà phê gồm 22 thành viên, hoạt động trên nền tảng tiền cạnh tranh, hướng đến mục tiêu phát triển chuỗi giá trị cà phê nhằm nâng cao chất lượng, giá trị gia tăng và phát triển bền vững cà phê, tăng thu nhập cho người nông dân

để khai thác hiệu quả thị trường, nâng cao kiến thức về công nghệ, liên kết với các tổ chức tài chính và các công ty thu mua sản phẩm Những hoạt động này mang lại những lợi ích rõ rệt cho nông dân, tăng khả năng sinh lời và góp phần giảm phát thải khí nhà kính

Từ năm 2010 đến nay, nhóm đã triển khai được tổng cộng 256 mô hình vườn mẫu

và 3 hợp tác xã PPP tại 4 tỉnh (Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng và Gia Lai) Mô hình đã tiến hành các lớp tập huấn ToT cho 65 nhóm trưởng đại diện cho 12.004 nông dân tại 4 tỉnh để chia sẻ kinh nghiệm, giải quyết các khó khăn và tăng cường năng lực cho mạng lưới khuyến nông; tổ chức 1.200 hội thảo đầu bờ cho nông dân tại 4 tỉnh Ước tính diện tích cà phê và số người trồng cà phê thụ hưởng từ các hoạt động hỗ trợ kỹ thuật của chương trình lên tới 130 nghìn ha (20% tổng diện tích cà phê cả nước), và gần 250 nghìn lượt người (trong tổng số trên 500 nghìn hộ trồng cà phê) Năng suất cà phê vườn mẫu tăng thêm 12% trong giai đoạn 2010 – 2014 và tăng hơn 17% trong giai đoạn 2015 –

2016 Mức thu nhập trung bình (tính trong 5 năm) của người nông dân trồng cà phê tăng lên khoảng 14% Mô hình PPP cũng giúp làm tăng kích cỡ trái cà phê và phương pháp canh tác giúp cây cà phê khỏe mạnh hơn Mô hình giúp giảm 55% lượng phát thải nhà kính nhờ sử dụng phân bón hợp lý

Trang 5

5

c) Hạn chế, khó khăn

- Các hoạt động mới dừng mở mức mô hình, chậm được nhân rộng Thách thức lớn nhất hiện nay của PPP cà phê là tập hợp được nguồn lực để đẩy mạnh hoạt động,

mở rộng quy mô của các mô hình thành công một cách bền vững, hiệu quả

- Chưa đẩy mạnh được hoạt động kết nối thị trường nên giảm tính bền vững cho các

mô hình; chưa kết nối mạnh mẽ với các chương trình/dự án của các tổ chức khác

có liên quan trong ngành; hoạt động truyền thông cũng chưa được đẩy mạnh

- Chưa chú ý đến việc huy động đối tác công – tư phát triển công nghiệp chế biến cà phê, xây dựng các chuỗi giá trị cà phê hoàn thiện, phát triển cà phê chất lượng cao;

- Chưa thu hút sự tham gia của đông đảo doanh nghiệp trong nước cũng như phát huy vai trò hỗ trợ của nhóm công

- Chậm tiến độ thực hiện một số hoạt động (ký MoU, NSC cập nhật, ToF & ToT)

- Nguồn đóng góp (đặc biệt là nguồn đóng góp bằng tiền mặt) cho các hoạt động triển khai hiện nay còn nhiều hạn chế dẫn tới một số hoạt động triển khai chậm, khó khăn trong việc mở rộng hoạt động/quy mô

2.1.3 Đề xuất kế hoạch hoạt động

- Nâng cao khả năng tiếp cận thị trường của sản phẩm cà phê Việt Nam: phối hợp với một số Viện nghiên cứu và Hiệp hội cà phê cacao tổ chức nghiên cứu và chia

sẻ rộng rãi thông tin về thị hiếu, tiêu chuẩn hàng rào kỹ thuật của các thị trường cà phê chính; tham gia xây dựng và triển khai các chương trình xúc tiến thương mại trong và ngoài nước, chương trình phát triển các thương hiệu cà phê chất lượng cao;

- Phối hợp với các tổ chức chứng nhận xây dựng và phổ biến rộng rãi các tiêu chuẩn

và quy chuẩn quốc gia về cà phê, đặc biệt đối với cà phê chế biến;

- Lựa chọn một số doanh nghiệp lớn, phối hợp với Hiệp hội cà phê cacao và các địa phương rà soát lại quy hoạch và chiến lược phát triển ngành, đề xuất quy hoạch phát triển cơ sở hạ tầng cho các cụm liên kết ngành gắn sản xuất, chế biến, thương mại cà phê;

- Huy động thêm sự tham gia của các doanh nghiệp lớn trong nước Lựa chọn một

số doanh nghiệp tiêu biểu xây dựng mô hình hoàn thiện về liên kết chuỗi giá trị cà phê từ sản xuất đến chế biến và phân phối Lựa chọn một số tổ nhóm nông dân/HTX tiêu biểu để nâng cao năng lực, hỗ trợ tham gia vào mô hình liên kết chuỗi giá trị Lấy đây làm cơ sở để xây dựng quy trình phát triển chuỗi giá trị cà phê cho các doanh nghiệp, địa phương và các đối tác khác nhân rộng

Trang 6

6

- Xây dựng hệ thống thông tin ngành hàng, môi trường đầu tư, địa bàn đầu tư, các doanh nghiệp và tổ chức nông dân tiềm năng; hỗ trợ kết nối chuỗi giá trị giữa các đối tác trong ngành cà phê

- Phối hợp với Dự án VnSAT, cơ quan khuyến nông, các địa phương, chương trình/dự án, hiệp hội, tổ chức nông dân tiếp tục đẩy mạnh sản xuất cà phê bền vững: phổ biến NSC, đầu tư chọn tạo giống tốt, áp dụng tưới tiết kiệm, xây dựng cảnh quan vườn cà phê bền vững

2.2 Ngành hàng chè

2.2.1 Thông tin chung về ngành hàng

Việt Nam đứng thứ 5 về diện tích và thứ 6 về sản lượng chè trên thế giới Năm

2017, Việt Nam có diện tích trồng chè là 129,3 nghìn ha với sản lượng 1.048,8 nghìn tấn chè tươi Việt Nam tiếp tục là quốc gia xuất khẩu chè lớn thứ 5 thế giới với tỷ trọng xuất khẩu chiếm khoảng 7% tổng lượng chè xuất khẩu của thế giới Năm 2017, Việt Nam xuất khẩu 140 nghìn tấn chè khô, đạt 229 triệu USD, tăng 7,2% về khối lượng và giảm 5,6%

về giá trị so với năm 2016

Hiện nay, ngành chè đang tồn tại nhiều hạn chế, bao gồm: (i) Quy mô sản xuất nhỏ, bình quân khoảng 0,2 ha/hộ nên rất khó tiếp cận các thiết bị kỹ thuật mới và chứng nhận chè an toàn; (ii) Đầu tư cơ sở hạ tầng còn hạn chế, chè có tưới mới chiếm khoảng 7% diện tích cả nước nên chưa phát huy được tiềm năng của các giống chè mới (chiếm đến 54% diện tích cả nước); (iii) Chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm (dư lượng thuốc bảo

vệ thực vật) của ngành chè chưa đáp ứng được yêu cầu của các thị trường các nước phát triển trong khi các quy định về dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trong chè (MRL) tại thị trường EU, Mỹ, và Nga càng ngày càng nghiêm ngặt; (iv) Nhiều cơ sở chế biến được cấp giấy phép xây dựng nhưng không có vùng nguyên liệu; trình độ tay nghề chế biến thấp, chất lượng chè không cao; (v) Liên kết giữa sản xuất và chế biến còn lỏng lẻo, chỉ có 10% trong số các công ty/nhà máy chế biến chè có vùng nguyên liệu riêng để phục vụ chế biến, (vi) Diện tích trồng chè ngày càng bị thu hẹp vì người dân sử dụng đất để trồng cây công nghiệp khác và (vii) Việc bảo tồn các giống chè quý hiếm chưa được quan tâm đầy đủ

2.2.2 Đánh giá hoạt động nhóm công tác PPP chè

a) Cơ cấu tổ chức, mục tiêu

Nhóm công tác PPP chè được thành lập từ năm 2010 do công ty Unilever và Cục Trồng trọt đồng chủ trì Các thành viên khác bao gồm: Rainforest Alliance, Syngenta

Trang 7

b) Kết quả chính đạt được

Trong những năm qua, nhóm công tác PPP chè đã đạt được những thành tựu đáng

kể trong việc lồng ghép hướng dẫn kỹ thuật canh tác và chế biến nâng cao chất lượng chè Việt Nam xuất khẩu Các doanh nghiệp tham gia nhóm PPP chè đã đầu tư 440.000 Euro

để đào tạo và liên kết mô hình sản xuất với hơn 23.000 nông dân ở 6 tỉnh

Nhóm công tác PPP chè của PSAV đang cộng tác với nhóm công tác hoá chất nông nghiệp phát triển dự án về chuỗi giá trị để hướng dẫn các hộ sản xuất nhỏ và giúp họ cải thiện các tiêu chuẩn Cùng hợp tác với chính phủ, các tổ chức phi chính phủ và khối tư nhân, nhóm công tác PPP chè đang xây dựng các phương pháp sản xuất tốt (xây dựng và đào tạo năng lực cho nông dân sản xuất chè bền vững, sử dụng đúng hóa chất nông nghiệp được cho phép, hướng đến đạt các chứng nhận như chứng nhận Rainforest Alliance, chứng nhận UTZ, ) để lồng ghép vào chương trình quốc gia

Từ 2015, PSAV đã triển khai hai Dự án2 hỗ trợ sản xuất bền vững cho hộ trồng chè Việt Nam Đến cuối năm 2017, hai dự án đã tập huấn và triển khai phương pháp sản xuất mới tại 13 công ty chè, 1.207 nhóm trưởng được tập huấn, đến với 19.000 nông hộ, 29 đội bảo vệ thực vật được thành lập, 19 nhà máy được chứng nhận, đã tập huấn và chứng nhận 4.125 nông hộ, 12.706 tấn chè được chứng nhận, 3.931 héc ta trồng chè được chứng nhận và 39 trưởng nhóm nông hộ được tập huấn; thiết lập các tổ đội nông nghiệp để kiểm soát việc sử dụng các yếu tố đầu vào hợp lý

Cục Trồng trọt, Trung tâm Khuyến nông quốc gia, Viện KHKTNLN miền núi phía Bắc, Hiệp hội Chè Việt Nam, IDH và các doanh nghiệp đang phối hợp triển khai xây dựng Bộ tài liệu hướng dẫn sản xuất chè bền vững

Trang 8

- Sự tham gia của khối công chưa như mong đợi Nguồn lực hỗ trợ khối công cho các hoạt động có tính chất đột xuất trong hoạt động PPP còn hạn chế Chưa hình thành được mạng lưới chuyên gia trong việc thúc đẩy dự án và mở rộng mô hình

2.2.3 Đề xuất kế hoạch hoạt động

- Nâng cao khả năng tiếp cận thị trường cho các sản phẩm chè Việt Nam: phối hợp với các Viện nghiên cứu và Hiệp hội chè Việt Nam thu thập và chia sẻ các thông tin về tiêu chuẩn và thị hiếu của các thị trường; xây dựng và triển khai các hoạt động xúc tiến thương mại trong và ngoài nước

- Hoàn thiện bộ tiêu chuẩn sản xuất chè bền vững Các thành viên trong nhóm phối hợp và lấy ý kiến của các công ty xây dựng bộ tiêu chuẩn sản xuất chè bền vững,

hỗ trợ nông dân áp dụng các mô hình sản xuất bền vững được chứng nhận (giống mới, sử dụng phân bón hợp lý và kiểm soát hóa chất sử dụng)

- Xây dựng dự án hợp tác công tư trong nghiên cứu lựa chọn và bảo tồn giống chè đặc sản, phát triển giống chè mới; xây dựng dự án hợp tác công tư về phát triển cảnh quan vùng chè bền vững phối hợp với du lịch

- Huy động thêm sự tham gia của các doanh nghiệp chè lớn trong nước Phối hợp với Hiệp hội Chè lựa chọn một số doanh nghiệp tiêu biểu xây dựng mô hình hoàn thiện về liên kết chuỗi giá trị chè từ sản xuất đến chế biến và xuất khẩu Lựa chọn một số tổ nhóm nông dân/HTX tiêu biểu để nâng cao năng lực, hỗ trợ tham gia vào mô hình liên kết chuỗi giá trị Lấy đây làm cơ sở để xây dựng quy trình phát triển chuỗi giá trị chè cho các doanh nghiệp, địa phương nhân rộng

- Lựa chọn một số doanh nghiệp lớn, phối hợp với Hiệp hội Chè và các địa phương

rà soát lại quy hoạch và chiến lược phát triển ngành, nghiên cứu đề xuất phát triển thương hiệu và chuỗi phân phối chè của Việt Nam

- Xây dựng hệ thống thông tin cho ngành chè gồm thông tin ngành hàng, thị trường, môi trường đầu tư, địa bàn đầu tư, hồ sơ doanh nghiệp tiềm năng và các chính sách ưu đãi trong ngành; hỗ trợ kết nối giữa các đối tác trong ngành chè

Trang 9

9

2.3 Ngành hồ tiêu

2.3.1 Thông tin chung về ngành hàng

Chiếm khoảng 55% sản lượng và 60% thị phần thương mại toàn cầu, hồ tiêu là mặt hàng nông sản của Việt Nam hiện nay có vị thế có thể dẫn dắt thị trường quốc tế Trong năm 2017, diện tích gieo trồng hồ tiêu đạt 152 nghìn ha, tăng 22,7 nghìn ha so năm 2016; trong đó, Tây Nguyên (94.356 ha) và Đông Nam Bộ (49.493 ha) là 2 vùng có diện tích hồ tiêu lớn nhất cả nước Sản lượng hồ tiêu năm 2017 đạt 241,5 nghìn tấn, tăng 25,1 nghìn tấn Xuất khẩu hồ tiêu năm 2017 đạt khoảng 230 ngàn tấn, giá trị ước đạt 1,11 tỷ USD giảm 21% so với năm 2016

Cùng với sự phát triển, ngành tiêu vẫn đang tồn tại một số hạn chế: (i) Đa phần giống hồ tiêu vẫn trôi nổi, chưa thể kiểm soát được chất lượng; (ii) Bùng nổ diện tích hồ tiêu vượt quy hoạch, gây nguy cơ phát triển thiếu bền vững; (iii) Sản xuất nhỏ, manh mún, thiếu liên kết; (iv) Tình trạng lạm dụng phân bón vô cơ và các loại thuốc BVTV vẫn còn xảy ra, khiến độ phì đất bị suy giảm nghiêm trọng, độ pH thấp, vi sinh vật có lợi bị tiêu diệt, sức đề kháng hồ tiêu kém, khiến dịch bệnh về rễ có điều kiện bùng phát; (v) Thu hoạch thủ công, bảo quản sau thu hoạch còn yếu; (vi) Quản lý chất lượng sản phẩm kém, chưa có thương hiệu; (vii) Tiêu xuất khẩu dạng sơ chế hiện đang chiếm tỉ lệ cao, ước tính lên đến hơn 80% tổng kim ngạch xuất khẩu tiêu Chính vì vậy, giá trị xuất khẩu cũng như lợi thế cạnh tranh của tiêu Việt Nam còn chưa cao Xuất khẩu tiêu của Việt Nam cũng gặp nhiều khó khăn khi áp lực gia tăng hàng rào kỹ thuật của các nước nhập khẩu ngày càng lớn như dư lượng hóa chất tối thiếu Do đó, để đạt được những yêu cầu

về kỹ thuật của những thị trường nhập khẩu chính, Việt Nam sẽ phải chú trọng hơn nữa

về vấn đề chất lượng đối với sản phẩm tiêu

2.3.2 Đánh giá hoạt động Nhóm công tác PPP gia vị và hồ tiêu

a) Cơ cấu tổ chức, mục tiêu

Nhóm công tác PPP gia vị và hồ tiêu được thành lập năm 2015 do Cục Bảo vệ thực vật, IDH và Hiệp hội Hồ tiêu Việt Nam đồng chủ trì Ngoài ra, còn có sự tham gia của các tổ chức phi Chính phủ, các công ty tư nhân trong nước và nước ngoài

Mục tiêu của nhóm là kết nối nguồn lực của các đối tác trong chuỗi cung ứng hồ tiêu/gia vị Việt Nam nhằm giải quyết các vấn đề phát triển bền vững của ngành hàng Cụ thể, hoạt động của nhóm công tác nhằm tăng cường quan hệ hợp tác giữa khối nhà nước

và khối doanh nghiệp, thúc đẩy ngành hồ tiêu Việt Nam phát triển mạnh mẽ và bền vững thông qua việc sản xuất hồ tiêu an toàn, đáp ứng yêu cầu xuất khẩu, tạo ra giá trị và

Trang 10

10

thương hiệu tốt hơn cho hồ tiêu Việt Nam, giúp tăng năng lực cạnh tranh, hội nhập quốc

tế ngành hàng hồ tiêu Việt Nam

b) Kết quả chính đạt được

Mặc dù mới được thành lập trong vài năm gần đây nhưng hoạt động của Nhóm công tác PPP gia vị và hồ tiêu đã có những kết quả tốt Cụ thể:

- Xây dựng 5 hợp phần đầu tiên về “Hướng dẫn sản xuất hồ tiêu bền vững”

- Tập huấn cho hơn 120.000 nông dân về sản xuất hồ tiêu bền vững

- Phối hợp giữa Cục Bảo vệ Thực vật, Hiệp hội và doanh nghiệp để xây dựng các bộ tài liệu hướng dẫn sản xuất bền vững cho hồ tiêu, đáp ứng yêu cầu của thị trường thế giới

- Hỗ trợ và phối hợp với nhóm hóa chất nông nghiệp theo dõi cảnh báo về xuất khẩu

Hồ tiêu của các nước và tổ chức nhập khẩu Đang xúc tiến việc thành lập Ban điều phối ngành hàng hồ tiêu do IDH và Cục BVTV chủ trì việc triển khai

c) Hạn chế, khó khăn trong hoạt động nhóm PPP gia vị và hồ tiêu

- Chưa thu hút được nhiều các doanh nghiệp trong nước tham gia, đặc biệt các doanh nghiệp lớn có liên kết với người sản xuất

- Chưa kết nối chặt chẽ giữa nhóm công tác PPP với chính quyền địa phương, giữa các doanh nghiệp lớn với doanh nghiệp vừa và nhỏ, tổ chức nông dân tại địa phương

- Các nội dung hoạt động của nhóm còn chưa sát với những vấn đề cấp bách của ngành (phát triển sản xuất vượt quy hoạch, kiểm soát và nâng cao chất lượng giống, áp dụng nhân rộng phương thức sản xuất bền vững, tổ chức chuỗi giá trị sản xuất hồ tiêu bền vững, nâng cao tỷ lệ chế biến sâu, xây dựng thương hiệu, v.v.)

2.3.3 Đề xuất kế hoạch hoạt động

- Nâng cao khả năng tiếp cận thị trường của các sản phẩm tiêu Việt Nam: nghiên cứu và chia sẻ rộng rãi thông tin về tiêu chuẩn kỹ thuật, dự báo, cảnh báo thị trường tiêu, các thông tin về xử lý tranh chấp tại các thị trường chính;

- Lựa chọn một số doanh nghiệp lớn, phối hợp với Hiệp hội Hồ tiêu và các địa phương rà soát ổn định quy hoạch lại diện tích trồng tiêu tại các vùng có lợi thế cạnh tranh, đề xuất quy hoạch phát triển cơ sở hạ tầng cho các cụm liên kết ngành gắn sản xuất, chế biến, thương mại hồ tiêu; phối hợp với một số doanh nghiệp lớn

và Hiệp hội Hồ tiêu nghiên cứu xây dựng thương hiệu và phát triển sàn giao dịch tiêu tại Việt Nam

Trang 11

11

- Hoàn thiện và áp dụng bộ tài liệu quốc gia về quản lý hồ tiêu bền vững; cấp chứng chỉ cho các sản phẩm đạt tiêu chuẩn Tổ chức đối thoại chính sách, trao đổi kinh nghiệm sản xuất bền vững, mô hình liên kết và có kế hoạch nhân rộng

- Xây dựng dự án hợp tác công tư trong nghiên cứu lựa chọn, bình tuyển giống tiêu, phát triển giống hồ tiêu mới có khả năng kháng bệnh và chất lượng cao

- Huy động thêm sự tham gia của các doanh nghiệp hồ tiêu lớn trong nước Phối hợp với Hiệp hội Hồ tiêu lựa chọn một số doanh nghiệp tiêu biểu xây dựng mô hình hoàn thiện về liên kết chuỗi sản xuất và cung ứng hồ tiêu bền vững Lựa chọn các tổ nhóm nông dân/HTX tiêu biểu tham gia mô hình liên kết chuỗi giá trị

- Xây dựng hệ thống thông tin cho ngành hồ tiêu gồm thông tin ngành hàng, thị trường, môi trường đầu tư, địa bàn đầu tư, hồ sơ doanh nghiệp tiềm năng và các chính sách ưu đãi trong ngành; hỗ trợ kết nối giữa các đối tác

2.4 Ngành rau quả

2.4.1 Thông tin chung về ngành hàng

Ngành rau quả đạt được những kết quả ấn tượng trong ngành nông nghiệp Việt Nam Kim ngạch xuất khẩu rau quả đạt 3,6 tỷ USD năm 2017, chiếm hơn 10% giá trị xuất khẩu nông lâm thủy sản Năm 2017, kim ngạch xuất khẩu NLTS tăng gần 4,2 tỷ USD so với năm 2016 thì riêng ngành rau quả tăng khoảng 929 triệu USD Ngành rau quả đã vượt qua cà phê, lúa gạo, và cao su để trở thành một trong những ngành hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam Tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu bình quân đạt 27%/năm giai đoạn 2007 – 2017 Rau quả Việt Nam đã được xuất khẩu ra nhiều thị trường trên thế giới, trong đó có 10 thị trường lớn nhất, trên 20 triệu USD, bao gồm: Trung Quốc (chiếm 70,8% thị phần), Mỹ (3,4%), Hàn Quốc (3,4%), Nhật (3,1%), tiếp đến là Hà Lan, Malaysia, Đài Loan, Thái Lan, Singapore và Úc (lần lượt từ 2,2 - 1,1%)

Tuy nhiên, ngành rau quả Việt Nam còn tồn tại nhiều nút thắt, vướng mắc về sản xuất, chế biến, thị trường Quy mô nhỏ lẻ chiếm tỷ trọng cao, các khu vực sản xuất tập trung quy mô lớn dần được hình thành nhưng vẫn dựa trên các nông hộ nhỏ lẻ và phân tán gây khó khăn trong việc đầu tư, quản lý chất lượng và tiêu thụ sản phẩm Diện tích rau quả tăng nhanh nhưng chưa có quy hoạch, tổ chức liên kết sản xuất còn yếu, chất lượng sản phẩm chưa cao Chi phí sản xuất cao, thất thoát lớn Công nghệ bảo quản và xử

lý sau thu hoạch chậm được đầu tư cải thiện và ít được chú ý đầu tư trong lĩnh vực chế biến rau quả Các sản phẩm chỉ dừng ở chế biến thô, chế biến sâu gần như không có Thị trường của rau quả Việt Nam phụ thuộc lớn vào Trung Quốc Vấn đề về vệ sinh an toàn thực phẩm cũng khá nghiêm trọng cả ở thị trường trong nước và xuất khẩu

Trang 12

12

2.4.2 Đánh giá hoạt động Nhóm công tác PPP rau quả

a) Cơ cấu tổ chức, mục tiêu

Nhóm công tác PPP rau quả, do Pepsico/ Syngenta/ Bungee và Cục Trồng trọt đồng chủ trì Hoạt động của nhóm nhằm tập trung nguồn lực của các đối tác để phát triển ngành rau quả Việt Nam đồng thời theo đuổi mục tiêu chung 20-20-20, vừa tăng sản lượng, thu nhập cho nông dân, tạo thêm việc làm và giảm phát thải Nhóm đã kết nối doanh nghiệp cùng hợp tác với các cơ quan chính phủ, các tổ chức phi chính phủ để giúp các hộ sản xuất nhỏ áp dụng thực hành nông nghiệp tốt (GAP), đầu tiên tập trung vào trồng khoai tây tại tỉnh Lâm Đồng (Miền Nam), và ở Hải Dương, Bắc Giang, Vĩnh Phúc

và Hà Nội (Miền Bắc), tiến tới mở rộng cho các loại rau, quả khác vì sự phát triển bền vững chung của ngành hàng

b) Kết quả chính đạt được

Hoạt động nhóm PPP rau quả tập trung chủ yếu vào khoai tây do công ty Pepsico Việt Nam thực hiện Sau một thời gian, mô hình sản xuất khoai tây đã thu được nhiều thành công về tăng năng suất và thu nhập cho nông dân Cụ thể:

- Dự án khoai tây của PepsiCo Việt Nam giúp tăng năng suất lên 2,2 lần so với năm

2011, tăng lãi ròng 6,5 lần (tương đương 65 triệu đồng), tăng số lượng nông hộ hợp tác lên 500 nông hộ, tăng diện tích trồng lên 4,5 lần

- Thực hiện mô hình tưới nước phun sương, tiết kiệm trên 1 triệu mét khối nước

- Đào tạo hơn 1,6 triệu lượt nông dân về sản xuất bền vững

- Đưa vào thử nghiệm 05 giống mới và kí hợp đồng bao tiêu cho khoảng 1.000 nông

hộ

c) Hạn chế, khó khăn

- Số lượng thành viên của nhóm rất hạn chế, hoạt động của nhóm còn ở quy mô khá nhỏ, mới chỉ tập trung ở khoai tây, ngô mà chưa mở rộng ra các ngành hàng khác Quy mô dự án thí điểm trên khoai tây cũng nhỏ, chưa mở rộng được diện tích ở các tỉnh khác và các công ty khác cùng áp dụng

- Trong khi đó, ngành rau quả là ngành có tiềm năng phát triển với giá trị xuất khẩu không ngừng tăng nhanh Điều này đặt ra thách thức cho Nhóm công tác cần mở rộng lĩnh vực hoạt động, cùng đóng góp vào sự phát triển của ngành rau quả Việt Nam

Trang 13

13

2.4.3 Đề xuất kế hoạch hoạt động

- Nhanh chóng tổ chức lại nhóm, huy động các doanh nghiệp và nhà đầu tư lớn trong nước tham gia, đặc biệt các đối tác liên quan tới sản xuất và chế biến trái cây, ưu tiên ứng dụng công nghệ cao

- Lựa chọn một số doanh nghiệp lớn, phối hợp với Bộ Nông nghiệp và PTNT và các địa phương rà soát lại quy hoạch lại diện tích rau quả tại các vùng có lợi thế cạnh tranh, đề xuất quy hoạch phát triển cơ sở hạ tầng cho các cụm liên kết ngành gắn sản xuất nông nghiệp công nghệ cao, chế biến, logistic, chuỗi lạnh, thương mại sản phẩm rau quả

- Phối hợp giữa các thành viên trong nhóm và lấy ý kiến doanh nghiệp sửa đổi, hoàn thiện và phổ biến bộ tiêu chuẩn sản xuất rau quả bền vững

- Xây dựng dự án hợp tác công tư trong phục tráng giống đặc sản và phát triển giống mới đối với rau quả

- Lựa chọn một số doanh nghiệp tiêu biểu tham gia liên kết với các tổ nhóm nông dân/HTX để xây dựng mô hình liên kết chuỗi giá trị gắn sản xuất với chế biến, chuỗi lạnh, logistic cho các sản phẩm chiến lược, lấy đây làm cơ sở để nhân rộng

ra các sản phẩm và các địa phương khác

- Xây dựng hệ thống thông tin cho ngành hàng rau quả với các thông tin như thị trường, môi trường đầu tư, địa bàn đầu tư, hồ sơ doanh nghiệp tiềm năng và các chính sách ưu đãi trong ngành; xây dựng cơ chế hỗ trợ kết nối giữa các đối tác trong ngành rau, hoa quả

2.5 Ngành thủy sản

2.5.1 Thông tin chung về ngành hàng

Năm 2017, xuất khẩu thủy sản cán đích trên 8,3 tỷ USD, tăng gần 19% so với năm

2016 Trong đó, tôm chiếm tỷ trọng lớn nhất với 46% tổng xuất khẩu, tăng 21%; cá tra chiếm 21%, tăng gần 4% Xuất khẩu cá ngừ và mực, bạch tuộc đều đạt gần 600 triệu USD, tăng 16% và 42% so với năm 2016 Xuất khẩu các loại cá biển đạt 1,3 tỷ USD, tăng gần 17% Trung Quốc đã vượt Mỹ trong nhóm thị trường nhập khẩu cá tra và tôm của Việt Nam Với mức tăng 37% trong năm 2017 và giá trị nhập khẩu lên đến 420 triệu USD, Trung Quốc đang dẫn đầu các thị trường mua cá tra, và là thị trường nhập khẩu tôm lớn thứ 3 sau EU và Nhật Bản với giá trị 677 triệu USD, tăng trên 60% so với năm

2016 Năng lực chế biến thủy sản trong nước ngày càng phát triển, đạt 3 triệu tấn sản phẩm/năm Nếu trước đây Việt Nam chỉ xuất khẩu các sản phẩm dạng thô thì hiện nay tỉ

lệ sản phẩm có giá trị gia tăng cao ngày càng tăng (ước đạt khoảng 35%) Các sản phẩm

Ngày đăng: 25/05/2020, 12:32

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w