LỜI MỞ ĐẦUTrong quá trình tiếp thu một ngoại ngữ mới, người học không chỉ họcphát âm đúng mà còn học nói đúng ngữ điệu, nhấn giọng đúng trọng âm vàngắt giọng đúng nhịp trong câu vì nếu l
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Trong quá trình tiếp thu một ngoại ngữ mới, người học không chỉ họcphát âm đúng mà còn học nói đúng ngữ điệu, nhấn giọng đúng trọng âm vàngắt giọng đúng nhịp trong câu vì nếu làm sai có thể dẫn đến sự hiểu nhầm,gây trở ngại cho quá trình giao tiếp
Trong thực tế giảng dạy tiếng Pháp cho học sinh, sinh viên cũng chothấy, việc rèn luyện cho người học về cách phải lên giọng hay xuống giọng,nhấn trọng âm vào âm tiết nào của từ hay sử dụng đúng ngữ điệu trong từnghoàn cảnh giao tiếp cụ thể là một việc vô cùng khó khan, khó đạt yêu cầu vàkhông hề đơn giản Do đó dẫn đến trình trạng người Việt học tiếng Phápnhưng rất khó khăn khi giao tiếp cụ thể với người Pháp bản xứ Ngoài rachúng ta đều biết rằng, ngoài tiếng Pháp gốc (Pháp-Pháp) còn có rất nhiềubiến thể như Pháp-Canada, Pháp-Thụy Sĩ, Pháp-Bỉ… với các ngôn điệu khácnhau
Với tất cả những sự khó khan khúc mắc ở trên thì chúng em quyết định
nghiên cứu các hiện tượng ngôn điệu tiếng Pháp (trong sự đối sánh với tiếng Việt) để có thể giúp người đọc có một cái nhìn tổng thể về ngôn điệu
tiếng Pháp và có thể làm dễ dàng hóa trong quá trình học ngôn điệu tiếngPháp của học sinh, sinh viên
Một số phương pháp chính mà chúng em sử dụng để nghiên cứu làphương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, miêu tả, so sánh đối chiếu…thông qua các tư liệu bằng tiếng, bản tin, sách giáo trình, phiếu khảo sát do
70 bạn sinh viên các khoa Ngôn ngữ thương mại Trường Đại học Ngoạithương trong đó có 20 sinh viên Tiếng Pháp thương mại (TPTM), 20 sinh
1
Trang 2viên Tiếng Trung thương mại (TTTM), 25 sinh viên tiếng Anh thương mại(TATM) và 5 sinh viên Tiếng Nhật thương mại (TNTM) nhằm tăng thêm sựthuyết phục cho bài nghiên cứu.
Công trình nghiên cứu của chúng em bao gồm 3 chương:
Chương I: Cơ sở lí luận
Chương II: Các hiện tượng ngôn điệu tiếng Pháp (trong sự đối sánh với tiếng Việt).
Chương III: Một số phương pháp cải thiện giao tiếp tiếng Pháp thông qua các hiện tượng ngôn điệu.
Do còn hạn chế về thời gian và kiến thức nên bài nghiên cứu của chúng
em sẽ còn nhiều thiếu sót, chúng em rất mong nhận được sự phê bình góp ý
từ cô giáo và các bạn, em xin chân thành cám ơn
Trang 3CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN
1 Các hiện tượng ngôn điệu
Như có thể thấy theo khảo sát thì có đến gần 50% các bạn sinh viêncảm thấy là “Các hiện tượng ngôn điệu” có cần thiết trong sự giao tiếp, cuộcsống thường ngày nhưng lại có đến 62% sinh viên lại không biết các hiệntượng đó là gì Chứng tỏ các bạn sinh viên chưa hề có một khái niệm cụ thể
và chính xác nào về vấn đề này
Ngoài những âm tố như nguyên âm, phụ âm còn có những sự kiện ngữ
âm học khác như thanh điệu, trọng âm, ngữ điệu và chúng thường xảy ra (1)đồng thời với các âm tố hoặc (2) trên một đơn vị lớn hơn âm tố Có người gọi
đó là những sự kiện siêu đoạn tính (suprasegmental) mà theo cách gọi truyền
thống thì đó là những sự kiện ngôn điệu (faits prosodiques).” [1, Tr.179-180] Và cáchiện tượng ngôn điệu ở đây chúng em nghiên cứu chủ yếu gồm 3 đối tượnglà: Ngữ điệu, Trọng âm và Thanh điệu
2. Ngữ điệu
Ngữ điệu là sự biến đổi cao độ của giọng nói diễn ra trong một chuỗi
âm thanh lớn hơn âm tiết hay một từ [1, Tr 191] Nói một cách tổng quát, ngữđiệu của tiếng Pháp dựa trên một đường cong du dương tăng dần [2, Tr.62]
3. Trọng âm
Trọng âm là một biện pháp âm thanh làm nổi bật một đơn vị ngôn ngữ học
lớn hơn âm tố (như âm tiết, từ, ngữ đoạn hoặc câu) để phân biệt với nhữngđơn vị ngôn ngữ học khác ở cùng cấp độ [1, Tr.187]
Trang 44 Thanh điệu
Thanh điệu là sự thay đổi cao độ của giọng nói, tức tần số âm cơ bản trong
một âm tiết có tác dụng khu biệt các từ có nghĩa khác nhau [1, Tr.184] Thanhđiệu là một loại âm vị siêu đoạn tính, có tác dụng làm thay đổi ý nghĩa củacác đơn vị ngôn ngữ Thanh điệu được thể hiện cùng với toàn bộ âm tiết, hayđúng hơn là toàn bộ phần thanh tính của âm tiết
Suy cho cùng, các hiện tượng ngôn điệu trong tiếng Pháp về cơ bản là GIỐNG với tiếng Việt Tuy nhiên vẫn có những nét đặc biệt riêng mà chỉ có
“Ngôn ngữ của tình yêu” mới có được Chúng ta sẽ cùng đi tìm hiểu và phân tích
Trang 5CHƯƠNG II: CÁC HIỆN TƯỢNG NGÔN ĐIỆU TIẾNG PHÁP
(TRONG SỰ ĐỐI SÁNH VỚI TIẾNG VIỆT)
A. NGỮ ĐIỆU (L’INTONATION)
1 Ngữ điệu tiếng Pháp
Từ trước đến nay vẫn có nhiều tranh luận khác nhau về ngữ điệu Đặcbiệt trong ngôn ngữ như tiếng Pháp – ngôn ngữ biến hình thì người ta khó cóthể phân biêt tách bạch giữa âm điệu và ngữ điệu Ngữ điệu là sự chuyểnđộng của thanh cơ bản của giọng nói, là sự nâng cao hoặc hạ thấp giọng nóitrong câu [5] Cao độ này do tần số dao động của dậy thanh nhưng khác nhau
ở chỗ xuất hiện trên một ngữ đoạn hay cả một câu và khác nhau về chứcnăng
Ví dụ: Sự lên giọng trong tiếng Pháp, ngữ điệu sẽ được lên ở giữa câu,
để báo hiệu là câu vẫn chưa kết thúc Ta lên giọng ở cuối mỗi nhóm tiết điệu
trong câu Ví dụ: Pas d'enfant, pas de voisin, pas d'électricité, pas une route
Sự hạ thấp giọng: ta hạ giọng ở cuối câu để báo hiệu câu đã kết thúc
Ví dụ: Pas d'enfant, pas de voisin, pas d'électricité, pas une route qui la lie
avec le reste du monde
Với loại câu hỏi (phrase interrogative) : với câu hỏi, ta còn lên giọng
cao hơn ở cuối câu Ví dụ: Pas de voisin?
Người ta vẫn thường bàn tán nhiều đến chức năng của ngữ điệu, đặcbiệt trong ngôn ngữ Pháp Với một ngôn ngữ biến hình thì việc tìm hiểu rõchức năng của ngữ điệu là cực kì cần thiết và có thể thấy rằng ngữ điệu trongtiếng Pháp có 3 chức năng chính: Chức năng cú pháp (fonction distinctive),
Trang 6chức năng khu biệt (fonction démarcative) và chức năng biểu cảm (fonctionexpressive).
a. Chức năng cú pháp: nhờ ngữ điệu mà ta có thể phân biệt được những loại câu
khác nhau như câu trần thuật, câu nghi vấn và câu cảm thán
Hình đường biểu diễn ngữ điệu
Thông thường câu trần thuật
trong tiếng Pháp có một bộ phận lên giọng và một bộ phận xuống giọng Mỗi
bộ phận có thể dài ngắn không bằng nhau bao gồm một hay nhiều nhóm tiếttấu Trong mỗi nhóm tiết tấu giọng có thể thay đổi đôi chút và có trọng âmriêng, nhưng đường nét âm điệu hình làn sóng nói chung và có xu hướng đilên ở bộ phận đầu, đi xuống ở bộ phận sau và ngược lại
Câu nghi vấn trong tiếng Pháp thường có ngữ điệu theo đường đi lên
biểu hiện sự chờ đợi câu trả lời Nói như vậy chứng tỏ không nhất thiết trongloại câu này giọng nói bao giờ cũng lên cao ở cuối câu mà vẫn có những trường hợp ngoại lệ Đó là khi mà người ta cất cao giọng và nhấn mạnh hơn thường lệ ở một từ nào đó và đường nét âm điệu ở cuối câu sẽ đi
Câu 1: “Il est parti.”
Câu 2: “Il est parti?”
Câu 3: “Partez d’ici!”
Trang 7xuống Ví dụ : « Pourquoi n’êtes – vous pas venu ? » Từ được nhấn mạnh là « Pourquoi » và giọng được nâng cao ở « -quoi »
Câu cảm thán có ngữ điệu riêng Thường thì đường nét ngữ điệu
không khác lắm với câu trần thuật, duy chỉ có từ mang ý nghĩa mà người nóimuốn đặt tình cảm vào đó được phát âm khác đi nhằm làm nổi bật lên Mộtcâu như « Thật là tốt ! » của tiếng Việt, so với câu trần thuật « Thật là tốt khiđược gặp anh » Trong câu đầu từ « tốt » được phát âm dài hơn và hơi caohơn chút vì theo quy tắc tiếng Việt trọng âm cú đoạn bao giờ cũng rơi vào âmtiết cuối Trong tiếng Pháp, câu « Qu’est ce-que tu manges ! » được phát âmvới sự nhấn mạnh rõ rệt vào « Qu’est ce-que » Âm « [k] » có trường độ vàcường độ được tăng cường hơn hẳn Nhìn chung trong câu này thì âm tiết đầuđược nhấn mạnh hơn rất nhiều lần các âm tiết khác
b. Chức năng khu biệt : Một câu có cùng một kết cấu cú pháp có thể có ý nghĩa
khác nhau tùy đường nét âm điệu của nó Chúng ta cùng xem xét một câu cụthể :
« Qu’est ce-qu’on a pour faire, chéri ?
Nếu phát âm câu này bình thường : đầu câu cao rồi thấp dần thì nghĩa
là « Em yêu, có gì để chúng ta làm ? »
Nếu chỉ thay đổi âm điệu của « chéri » thì sẽ biểu thị thái độ « mời gọi » Khigiọng từ thấp đến cao mang nghĩa là một câu hỏi : « Có gì để làm không, emyêu ? » Khi giọng hơi cao rồi xuống thì lại là một câu trả lời với ý « còn gì
để làm à, em yêu ? »
c.Chức năng biểu cảm : Mỗi từ hay câu nói đều mang một màu sắc tình
cảm được biểu hiện nhờ ngữ điệu của người nói Vui, buồn, giận, khinh bỉ, mỉa mai … được biểu hiện đến mức tối đa trong ngôn ngữ âm thanh nhờ vào
Trang 8uường nét âm điệu riêng Từ “encore” [ãkɔr][7] có thể biểu thị sự ngạc nhiên,
sự hài lòng, sự mệt mỏi
2. Ngữ điệu tiếng Việt
Do là một ngôn ngữ có thanh điệu nên ngữ điệu tiếng Việt gồm haithành phần, được gọi là ngữ điệu cục bộ và ngữ điệu toàn cục
Ngữ điệu cục bộ: là sự biến thiên của cao độ, trường độ và cường độ
của từng từ hoặc từng âm tiết Với ngôn ngữ thanh điệu, ngôn điệu cục bộ rấtquan trọng để nhận ra được thanh của âm tiết đó Vì thế nên ý nghĩa từ vựngcủa câu phụ thuộc nhiều vào ngôn điệu cục bộ
Ngữ điệu toàn cục: là ngôn điệu áp dụng vào cả một ngữ đoạn hoặc
một câu Chúng phụ thuộc vào loại câu, mục đích của người nói, cảm xúc,
Vì thế, độ tự nhiên của câu tổng hợp phụ thuộc vào khả năng điều khiểnngôn điệu toàn cục trong quá trình tổng hợp tiếng nói
Câu nghi vấn được phát âm với một quãng âm cao hơn câu khẳng định
[6]. Bằng cách nghiên cứu từng cặp câu khẳng định và phủ định, nhận thấyphần lớn sự khác nhau ngữ điệu nằm ở phần cuối của câu.(phần sau vạchxanh (như hình)) phần ngữ điệu của âm tiết cuối hoặc nửa âm tiết cuối củacâu nghi vấn có xu hướng cao hơn so với câu khẳng định
3. Phân tích cụ thể
Trang 9Nằm trong cuộc khảo sát mà chúng em thực hiện, kết qủa cho thấy đến
93,4% số sinh viên được hỏi cho rằng việc sử dụng ngữ điệu là hoàn toàn cần thiết và quan trọng
Nhưng thật không may rằng khi đưa ra đã đưa ra câu hỏi so sánh ngữđiệu trong tiếng Pháp (dành riêng cho 30 bạn sinh viên TPTM), thì kết quảthật khiến ta cần xem xét kỹ càng
Với câu hỏi : Bạn hãy so sánh ngữ điệu trong hai câu sau :
C’est bien Monsieur Dupont
C’est bien, Monsieur Dupont
Thì gần như 99% các bạn sinh viên chưa/không thể phân biệt được.Hầu hết đều cảm thấy là không biết hoặc không muốn trả lời Có thể nói rằngvới câu trong tiếng Pháp, ngữ điệu là một điều khá khó với sinh viên
Với câu trần thuật (phrase assertive) ở trên thì :
Xét về cách đọc :
o C’est bien Monsieur Dupont (Lên giọng)
o C’est bien, Monsieur Dupont (Hạ thấp giọng)
Lí giải: Trong câu đầu tiên là một nhóm tiết điệu (groupe rythmique) liền trong một chuỗi âm thanh nên các trọng âm cú đoạn sẽ luôn được nhấn mạnh và ở lên âm tiết cuối Ở câu thứ 2, do có một dấu phẩy ngăn cách từ đó
bị tách ra thành hai nhóm tiết điệu nên sẽ phát âm hạ giọng xuống nhằm xác định các nhóm tiết điệu trong câu
Trang 101 La fille [la’fij]
2 La petite fille [laptit’fij]
3 La petite fille malade [laptitfijma’lad]
Chú ý rằng trọng âm thường rơi vào âm cuối của nhóm từ, người ta gọi
đó là trọng âm cuối
Trang 11• Trọng âm nhấn mạnh: Trong tiếng Pháp, nguyên âm nhấn mạnh lànguyên âm phát âm cuối cùng Trong từ "’l’été", 2 nguyên âm códấu âm, nhưng chỉ nguyên âm thứ hai được nhấn mạnh theo ngữ âm.Một nguyên âm nhấn mạnh, theo ngữ âm, mạnh hơn và dài hơn mộtchút so với các nguyên âm khác và thường được nói theo một giaiđiệu cao hơn (tính liên tục hoặc câu hỏi) hoặc thấp hơn (kết thúc).Bất kỳ nguyên âm không có dấu âm nào được cho là không bị cản trở
Ví dụ trong từ "cinema” có nghĩa là “rạp chiếu phim",tất cả các nguyên âm không nhấn trừ người cuối cùng [a]
Nếu nhóm tiết điệu có một từ nào quan trọng trước khi có dấu cuối cùng, từ quan trọng này có dấu phụ Người ta nói rằng đó là nửa trọng âm
2. Trọng âm tiếng Việt
a. Tổng quát
Theo khảo sát có thể thấy đến 34,4% số sinh viên được hỏi cho rằng
“Tiếng Việt không có trọng âm” Có vẻ đúng khi chúng ta không thấy nhiềutài liệu hay sách báo nói về trọng âm của tiếng Việt hoặc bởi chúng ta chẳng
Trang 12bao giờ để ý đến trọng âm khi chúng ta nói Nhưng thật sự tiếng Việt có trọng
âm nhưng vai trò của trọng âm bị mờ nhạt vì tiếng Việt là ngôn ngữ có thanhđiệu
Có thể phân ra các loại trọng âm trong tiếng Việt như sau:
• Trọng âm từ :
Phân loại theo cách phát âm
o Trọng âm lực: sự nêu bật được tiến hành bằng cách nêu bật âmtiết
o Trọng âm lượng: sự nêu bật được tiến hành bằng cách kéo dàithời gian phát âm
o Trọng âm nhạc tính: sự tăng cường hay thoái giảm dần tần sốdao động của dây thanh
Phân loại theo cách ngắt câu, từ
o Trọng âm cố định: trọng âm bao giờ cũng rơi vào vị trí nhất địnhcủa từ
o Trọng âm tự do: trọng âm không ở vào vị trí nhất định của từ
• Ngoài ra, còn có trọng âm ngữ đoạn và trọng âm logic
b Trọng âm trong tiếng Việt :
Trong tiếng Việt, trọng âm được nêu bật chủ yếu bằng cách tăng cườngtrường độ của nguyên âm Nói cách khác, trọng âm của tiếng Việt thường làtrọng âm lượng
• Tiếng Việt có một số từ không bao giờ mang trọng âm Hư từ (liên từ, giới từ,tiểu từ tình thái) là những từ không mang trọng âm. Ví dụ: từ "cái" (loại từ) Tuyệt đại đa số các thực từ đều mang trọng âm Ví dụ : « tóe tòe loe » « cà khẳng cà khiu »
• Trường hợp từ câu bao giờ cũng có trọng âm (hô ngữ, ứng ngữ, thán từ)
Trang 13• Âm tiết cuối ngữ đoạn có trọng âm
Có những từ đa tiết, nếu đặt sai trọng âm thì từ đó bị phá vỡ, mỗi âm
tiết thành một từ riêng biệt, ví dụ: "bảo với" (= "nói theo") và "bảo" (động từ) + "với" (giới từ).
C. THANH ĐIỆU (LE TON)
1 Khái quát chung về thanh điệu
Thanh điệu là sự nâng cao hoặc hạ thấp “giọng nói” trong một âmtiết có tác dụng khu biệt vỏ âm thanh của từ hoặc hình vị (sự biến đổigiọng nói trong phạm vi một tiếng hay một từ, có tác dụng phân biệt cáctiếng với nhau)
Các ngôn ngữ trên thế giới chia ra làm hai loại không có thanh điệu
và có thanh điệu
Tiếng Việt là ngôn ngữ có thanh điệu cũng như một số ngôn ngữ ởchâu Phi, Bắc Mỹ và các thứ tiếng châu Á như tiếng Myanmar, tiếng TâyTạng, tiếng Trung Quốc Riêng khu vực Đông Nam Á là nơi có thanh điệuphức tạp như thấy ở tiếng Thái, tiếng Lào và nhất là tiếng Việt
Trang 14Ví dụ: Trong loạt các từ thuần Việt “me, mè, mé, mẻ, mẽ, mẹ”, mỗi
từ có ý nghĩa khác nhau do có thanh điệu khác nhau.
Trong hệ thống ngôn ngữ, tiếng Pháp là ngôn ngữ không có thanhđiệu Cũng như một số ngôn ngữ lớn của phương Tây như tiếng Anh,Pháp, Nga, Tây Ban Nha, Đức, Ý hay ở châu Á như tiếng Ấn Độ, Khmer,Malay, Indonesia
Ví dụ: Từ “mot” chỉ phát âm là [mo]
Chính vì sự khác nhau về thanh điệu và không có thanh điệu giữatiếng Việt và tiếng Pháp, người học đã gặp không ít khó khăn trong việchọc phát âm Giai đoạn đầu, một số người học thường phát âm Việt hóa các
âm tiếng Pháp, hoặc có xu hướng thêm thanh điệu khi nói tiếng Pháp
2. Thanh điệu tiếng Pháp
Như đã nói tiếng Pháp là một ngôn ngữ không có thanh điệu Các từngữ hay các câu trong ngôn ngữ này cũng có các thanh nhưng lại được biểuhiện dưới dạng các dấu Tuy nhiên các dấu này khi thêm vào trong từ thìcách phát âm của từ sẽ không thay đổi Chúng ta cùng xem xét các ví dụsau :
Xét từ « des » : là mạo từ số nhiều mang nghĩa là « những »
Khi phát âm một cách bình thường sẽ là [de]
Khi thêm thanh « huyền » [`]: ta có “dès” là giới từ mang nghĩa là
« ngay khi » cũng vẫn phát âm là [de]
Khi thêm thanh « sắc » [/]: ta có « dés » là tiền tố chỉ sự phủ địnhcũng vẫn phát âm là [de]
Trang 15Ngoài ra tiếng pháp cũng có các thanh như « sắc, huyền, mũ, haichấm trên các chữ i, a… » nhưng tóm lại chúng đều được phát âm nhưthanh « không »
3 Thanh điệu tiếng Việt
Tiếng Việt là một thứ tiếng có khá nhiều thanh điệu: 6 thanh điệu,trong khi có một số ngôn ngữ chỉ có 3 hoặc 4 thanh điệu
Phân loại thanh điệu trong tiếng Việt:
Có thể có 4 cách phân loại thanh điệu: xét về cao độ, xét về đường nét
âm điệu, xét về sự biến thiên của thanh điệu và xét về động tác nghẽn thanhhầu
Tuy nhiên, đối với việc phân biệt ý nghĩa của các đơn vị ngôn ngữ, tachỉ cần ghi nhớ hai tiêu chí đầu Đó là:
• Tiêu chí cao độ: Thanh điệu tiếng Việt đối lập nhau ở hai cao độ cơbản: cao độ cao và cao độ thấp Đó là sự đối lập về âm vực Theotiêu chí này ta phân biệt:
o Thanh điệu cao, tức là những thanh điệu được phát âm ở âm vựccao Loại này bao gồm các thanh: thanh ngang, thanh sắc, thanhngã
o Thanh điệu thấp, tức là những thanh điệu được phát âm ở âm vựcthấp Đó là các thanh: thanh huyền, thanh hỏi, thanh nặng
• Tiêu chí âm điệu: Trên mỗi âm vực, các thanh điệu còn khác nhau vềquá trình diễn biến của cao độ theo thời gian Đó là sự khác nhau vềđường nét âm điệu Theo tiêu chí này, ta phân biệt:
o Thanh điệu bằng phẳng (còn gọi là thanh bằng) Đây là nhữngthanh điệu mà khi thể hiện, đường nét âm điệu diễn biến bằng