Tuy nhiên, nếu những người thừa kế xét thấy cần phải họp mặt để dễ dàng đi đến thống nhất về việc cử người quản lý di sản, ngưòi phân chia di sản; nghĩa vụ của từng người thừa kế nếu ngư
Trang 1Di sản thừa kế theo pháp luật dán sự Việt Nam
Phần III THANH TOÁN
VÀ PHÂN CHIA DI SẢN THỪA KẾ
Nếu việc xác định di sản thừa kế là khâu đầu tiên cần thiết và quan trọng, là việc làm có ý nghĩa quyết định cho các bước tiếp theo trong quan hệ pháp luật về thừa kế, thì thanh toán và phân chia di sản là khâu cuốỉ cùng, và cũng là kết quả của quá trình thực hiện các nội dung đó Bản thân nó cũng đòi hỏi, những yêu cầu riêng biệt, đồng thời nó cũng có tính quyết định thể hiện kết quả đạt ở mức nào trong việc thực hiện các nội dung của quan hệ thừa kế trên thực tế Trước khi thực hiện việc phân chia• • • • A
di sản thừa kế là một loạt các công việc phải làm của những người thừa kế
I THANH TOÁN DI SẢN THỪA KẾ
Khi trong gia đình có người nằm xuống thì việc đầu tiên của những ngưòi thân, họ mạc là việc lo mai táng “mồ yên,
mả đẹp” cho ngưòi đã mất, tiếp đến là những công việc khác liên quan đến di sản thừa kế mà ngưòi chết để lại Những ngưòi thừa kế cần có sự bàn bạc,thoả thuận trong việc quản lý di sản, ngưòi phân chia di sản, cách thức phân
Trang 2Phần III Thanh toán và phán chia di sấn thừa kế
chia di sản Bởi vậy, họ thưòng họp mặt nhũng ngưòi thừa
kế để thông nhất các vấn đề cần thiết nêu trên
1 Họp mặt những người thừa kế
Họp mặt những người thừa kế hay không là phụ thuộc vào ý chí của ngưòi thừa kế, điều đó có nghĩa là pháp luật không buộc phải thực hiện việc họp mặt này Tuy nhiên, nếu những người thừa kế xét thấy cần phải họp mặt để dễ dàng đi đến thống nhất về việc cử người quản lý di sản, ngưòi phân chia di sản; nghĩa vụ của từng người thừa kế nếu người để lại di sản không định đoạt trong di chúc và cơ bản nhất là thống nhất cách phân chia di sản(1>
Để cho những thoả thuận đó là bằng chứng pháp lý trong việc xem xét và giải quyết những tranh chấp có thể xảy ra, thì mọi thoả thuận trong buổi họp mặt những ngưòi thừa kế phải được lập thành văn bản, trong văn bản này phải có đầy đủ chữ ký của những người thừa kế Đối với những người không có, hạn chế hoặc chưa có năng lực hành
vi dân sự thì người đại diện theo pháp luạt của họ thay mặt
họ ký vào văn bản họp mặt những người thừa kế
Nếu trong một gia đình hoà thuận, thương yêu, gắn bó thì vấn đề chia thừa kế cho ai và họ được hưởng bao nhiêu,
ai là người quản lý di sản dùng vào việc thò cúng sẽ không mấy khó khăn Trên thực tế việc quản lý di sản cũng
(U Điều 648 Bộ luật Dân sự năm 2005.
Trang 3Di sản thừa kế theo pháp luật dân sự ViệtNam
như phân chia di sản thưòng được những người tlừa kê thoả thuận phân chia một cách hoà thuận và nhường nhịn lẫn nhau Bỏi vậy những tranh chấp về thừa kế sẽ không xảy ra đôi với những gia đình này
Việc họp mặt những ngưòi thừa kế mà không đem đến những kết quả của việc bàn bạc của những người tlừa kế thì nguy cơ dẫn đến những tranh chấp về di sản thừa kế,
về những người được hưởng di sản thừa kế rất dễ xẻy ra.Tuỳ từng trường hợp cụ thể mà cuộc họp mặt ihững người thừa kế cần bàn bạc, thoả thuận những vấn đề gì.Nếu người để lại di sản không chỉ định ngưòi quản lý, người phân chia di sản, ngưòi công bố di chúc thì Tấn đề quản lý di sản, người phân chia di sản phải được đưs ra để bàn bạc, thống nhất đối với những vấn đề này để có ngưòi quản lý di sản trong thòi gian di sản chưa được phân chia nhằm tránh được mất mát, hư hỏng, tẩu tán, giấu diếm di sản thừa kế những ngưồi thừa kế có thể thống nhất cách phân chia di sản nếu họ quyết định phân chia di sản trong thời gian này
Quyền và nghĩa vụ của người quản lý di sản và người phân chia di sản có thể do những người thừa kế cùng nhau thoả thuận như: về thòi gian quản lý, thù lao được hưởng, bảo quản di sản, bồi thưòng thiệt hại Nếu không thoả thuận thì quyền và nghĩa vụ của những ngưòi này được xác định và thực hiện theo quy định tại Điều 638 và Điều 639
Trang 4Phần III Thanh toán và phân chia di sản thừa kế
2 Người phân chia di sản
Là người trong thực tế đứng ra tổ chức, thực hiện việc phân chia di sản cho những ngưòi thừa kế theo di chúc hoặc theo sự thoả thuận của những người thừa kế
Một trong những quyền của người lập di chúc được Điều 648 BLDS năm 2005 quy định là chỉ định ngưòi giữ
di chúc, ngưòi quản lý di sản và ngưòi phân chia di sản Người phân chia di sản không bắt buộc phải nằm trong diện thừa kế mà có thể là một người bất kỳ nào đó theo ý chí của người lập di chúc hoặc do thoả thuận của những người thừa kế Người phân chia di sản có thể đồng thòi là người quản lý di sản nhưng cũng có thể là hai ngưòi khác nhau, mỗi người thực hiện một công việc
Người phân chia di sản phải chia di sản theo đúng ý chí của ngưòi để lại di sản đã thể hiện trong di chúc theo Điều
684 BLDS năm 2005
Nếu người lập di chúc không xác định cách phân chia
di sản cho ai, bao nhiêu, tài sản nào, hoặc đôi với phần tài sản không được định đoạt trong di chúc, phần tài sản liên quan đến phần di chúc không có hiệu lực pháp luật, phần tài sản bị từ chôl được áp dụng chia thừa kế theo pháp luật thì ngưòi phân chia di sản phải phân chia theo đúng thoả thuận của những thừa kế viên
Người phân chia di sản chỉ được hưởng thù lao đối với công việc quản lý và phân chia di sản nếu được ngưòi lập
Trang 5Di sẩn thừa kế theo pháp luật dân sự Việt Nam
di chúc cho phép Mức thù lao được hưởng được xác định theo ý chí của ngưòi để lại di sản Nếu trong di chúc không xác định việc hưởng thù lao và mức thù lao, nhưng nếu có
sự thoả thuận của những thừa kế viên thì ngưòi phân chia
di sản vẫn được hưởng thù lao theo sự thoả thuận đó
Hiện nay, luật dân sự của nước ta mới chỉ quy định ngưòi quản lý di sản là ngưòi phân chia di sản mà chưa quy định thòi điểm bắt đầu kiểm kê di sản cho đến khi kết thúc kiểm kê di sản thừa kế trong vòng bao nhiêu ngày
Chúng tôi cho rằng, việc quy định này có ý nghĩa lớn trong việc đánh giá tình hình di sản thừa kế của người để lại di sản Nếu để quá lâu thì khả năng thất lạc, mất mát,
hư hỏng, tẩu tán di sản xảy ra càng lớn Hơn nữa, có nhiều trưòng hợp di sản của ngưòi quá cố thuộc về rất nhiều người thừa kế mà chưa được xác định tài sản nào thuộc về
ai, bởi vậy ý thức bảo quản di sản của họ bị hạn chế nhiều
so với việc đã xác định kiểm kê di sản và trao quyền cho ngưòi đó đó quản lý khối di sản đó
Bộ luật Dân sự của đa sô" các nước trên thế giới đều quy định về vấn đề thanh toán di sản trước khi chia di sản thừa kế
Bộ luật Dân sự của Pháp tại Điều 870 quy định: “các
đồng thừa k ế cùng phải trả các món nợ và các nghĩa vụ khác của di sản, mỗi người theo tỉ lệ phần mình được hường’. Theo điều luật này thì những món nợ và nghĩa vụ phát sinh trong các quan hệ pháp luật mà trưốc khi chết
Trang 6Phần III Thanh toán và phán chia di sản thừa kế
người để lại di sản thừa kế đã tham gia mà chưa kịp thực hiện, thì các đồng thừa kế phải thực hiện trước những ngưòi mang quyền trước khi chia di sản thừa kế Điều 873
Bộ luật này còn quy định: “Những người thừa k ế phải chịu trách nhiệm cá nhân về các món nợ trong di sản trong phạm vi phần di sản của mình hưởng và chịu trách nhiệm
về mặt th ế chấp đối với toàn bộ di sản; trừ việc họ kiện các đồng thừa k ế hoặc những người được hưởng”. Điều luật này
dự liệu trong trường hợp người thừa kế nhận một tài sản
mà người để lại di sản đã thế chấp cho chủ nợ để bảo đảm nghĩa vụ thanh toán, thì người thừa kế này phải thanh toán toàn bộ món nợ để giải trừ việc thế chấp Sau khi trả được nợ, thì ngưòi thừa kế này được quyền yêu cầu các thừa kế viên khác hoàn trả phần nợ vượt quá phần di sản
mà người này đã thanh toán
Bộ luật Dân sự và Thương mại Thái Lan từ Điều 1734 đến Điều 1744 cũng quy định về vấn đề thanh toán di sản:
“Người thừa k ế có nghĩa vụ tiết lộ cho người quản lý tất cà
và nợ nần của người chết mà mình biết; các chủ nợ của khối tài sản có quyền được trả nợ từ các tài sản trong khối tài sản đó; trong trường hợp người thừa k ế đã trả nợ cho người chủ vượt quá phần tỷ lệ tương ứng của mình trong nghĩa vụ trả
nỢ đó, có quyền kiện lại những người thừa k ế khác, ”a\
Các quy định này thể hiện rất cụ thể phần nghĩa vụ mà
,l) BLDS và Thương mại Thái Lan, Điều 1734,1735 và Điều 1738.
Trang 7Di sản thừa kế theo pháp luật dân sự Việt Nam
mỗi ngưòi thừa kế phải gánh chịu và buộc phải thựĩ hiện trước những người chủ nợ toàn bộ nghĩa vụ mà triíốc đó ngưòi để lại di sản chưa thực hiện
Điều 899 Bộ luật Dân sự Nhật Bản quy định: ‘Từng đồng sở hữu chủ sẽ thừa k ế quyền và nghĩa vụ của ngibi đ ể lại thừa k ế theo tỷ lệ phần trong thừa kế ”.
Bộ Dân luật Sài Gòn năm 1972 tại Điều 542 cũng thể hiện tinh thần này
Nhìn chung các Bộ luật Dân sự nêu trên đều quy định việc thanh toán di sản thừa kế khi phân chia di sản của người chết cho những ngưòi thừa kế
Luật Dân sự nưốc ta tại Điều 34 PLTK và các Điều 636,
637, 683 BLDS năm 2005 quy định việc thanh toán di sản thừa kế “K ể từ thời điểm mở thừa kế, những người thừa k ế
có các quyền, nghĩa vụ tài sản do người chết đ ể lại”. Quyền
và nghĩa vụ của người thừa kế là những quyền và nghĩa vụ
về tài sản từ khôi di sản mà người chết để lại Kể từ thời điểm người để lại di sản chết, thì xác định quyền sở hữu đó
và tài sản đó thuộc về những người thừa kế, đồng thòi cũng phát sinh nghĩa vụ tài sản do người chết để lại
“Người hưởng thừa k ế có trách nhiệm thực hiện nghĩa
vụ tài sản do người chết đ ể lại”n\ Khi thực hiện nghĩa vụ tài sản xảy ra hai trường hợp:
<u Điều 636 Bộ luật Dân sự năm 2005.
Trang 8phần Iil Thanh toán và phán chia di sản thừa kế
- Trường hợp 1: Di sản chưa chìa
Theo quy định tại khoản 2 Điều 637 BLDS năm 2005:
“Trong trường hợp di sản chưa chia, thì nghĩa vụ tài sản do người chết đ ể lại được người quản lý di sản thực hiện theo thoả thuận của những người thừa k ể ’. Theo quy định này, người quản lý di sản phải thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại Họ phải thanh toán tất cả các khoản nợ của người chết để lại trước khi chia di sản Các khoản thanh toán này phải theo thứ tự được quy định tại Điều
686 BLDS năm 2005 Nghĩa vụ tài sản do người chết để lại thưòng là phải thanh toán bằng tiền, nhưng cũng có trưòng hợp thanh toán bằng hiện vật
+ Nếu phải thanh toán bằng tiền mà di sản đ ể lại bằng hiện vật • ♦
Thực tế cho tài sản bằng tiền mà ngưòi chết để lại thì ngưòi quản lý di sản phải bán bớt hoặc bán toàn bộ (trong trưòng hợp sô' nợ bằng hoặc lốn hơn di sản mà ngưòi chết
để lại) để thanh toán các khoản nợ
Tuy nhiên nếu được sự đồng ý của người chủ nợ (người man g quyền) thì ngưòi quản lý di sản có thể thanh toán bằng hiện vật
+■ Nếu phải thanh toán bằng hiện vật mà di sản thừa k ế
đ ể lạ i bằng tiền hoặc giấy tờ có giá
Trong trường hớp này thì ngưòi quản lý di sản và người thừa kế phải dùng tiền để mua hiện vật thanh toán theo yêu
Trang 9Di sắn thừa kế theo pháp luật dán sự Việt Nam
cầu của người mang quyền nếu không có thoả thuận khác.Nhìn chung, các khoản nợ và các chi phí do ngưòi chết
để lại thì ngưòi quản lý di sản thay mặt người thừa kế phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ đó Nghĩa vụ tài sản mà người thừa kế phải thực hiện không vượt quá giá trị tài sản
mà ngưòi chết để lại Nếu vượt quá khôi di sản thừa kế đó thì họkhông có nghĩa vụ phải thanh toán
Nếu ngưòi được hưởng thừa kế là nhà nước, cơ quan hay tổ chức xã hội khác, thì cũng phải thực hiện nghĩa vụ
về tài sản do người chết để lại như những ngưòi thừa kế là
cá nhân
- Trường hợp 2: Di sán đã được chia
Khác vài di sản chưa được chia, phương thức thanh toán trong trưòng hợp này là mỗi ngưòi thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại tương ứng với phần
mà mình đã nhận (Khoản 3 Điều 637 BLDS năm 2005) Nếu di sản chia theo luật thì những ngưòi thừa kế cùng hàng được hưởng di sản thừa kế bằng nhau Bởi vậy mà nghĩa vụ về tài sản của mỗi ngưòi đó do người chết để lại được xác định bằng nhau
Nếu di sản thừa kế được chia theo di chúc thì ngưòi thừa kế có nghĩa vụ thanh toán các nghĩa vụ về tài sản và các khoản chi phí liên quan đến người để lại di sản tương ứng với phần tài sản mà mình đã được chỉ định trong di chúc Nhưng việc lập di chúc của ngưòi thừa kế để lại di
Trang 10Phần III Thanh toán và phân chia di sẩn thừa kế
sản giao nghĩa vụ cho những người thừa kế lại có thể xảy
kế của người chết nếu có nhiều người thừa kế
2 Trong trường hợp ngưòi để lại di sản, xác định một ngưòi thừa kế phải thực hiện nghĩa vụ tài sản đó thì ngưòi này phải thực hiện toàn bộ nghĩa vụ đó trong phạm vi di sản được nhận.• »
3 Trong trường hợp ngưòi để lại di sản không xác định
rõ ai phải thực hiện nghĩa vụ thì theo quy định tại Điều
637 BLDS năm 2005, ngưòi nào hưỏng thừa kế thì người đó phải thực hiện nghĩa vụ tài sản do ngưòi chết để lại
4 Trường hợp người để lại di sản đã xác định rõ phần nghĩa vụ mà mỗi ngưòi thừa kế phải thực hiện thì mỗi ngưôi chỉ thực hiện phần được giao đó trong phạm vi di sản
mà jmình được hưởng Nếu một trong sô" những người thừa
kế mày có nghĩa vụ vượt quá phần di sản được hưỏng, thì ngưồi thừa kê khác phải thực hiện tương ứng với phần di sản họ đã nhận được
5 Trong trường hợp người để lại di sản chỉ giao cho một hoặtc một sô' người trong số những người thừa kế, thì chỉ
Trang 11Di sản thừa k ế theo pháp luật dân sự Việt Nam
riêng nh-ững người được giao này phải thực hiện nghĩa vụ
đó Khi có phần nghĩa vụ vượt quá sô" di sản mà người này được hưỏng thì những ngưòi thừa kế còn lại phải thực hiện tương ứng với phần di sản mà họ được hưởng
Ví dụ: Bà M lập di chúc định đoạt khối di sản của mình
là 150 triệu đồng như sau: N được hưỏng 30 triệu đồng, Q được hưởng 30 triệu đồng, G hưởng 60 triệu đồng và H hưởng 30 triệu đồng Bà M còn nợ Y 38 triệu, nợ ông X 34 triệu đồng Nhưng bà M chỉ giao cho Q trả nợ ông Y và N trả nợ cho ông X Như vậy số di sản mà Q và N được hưởng
ít hơn phần nghĩa vụ phải thực hiện, nên trên thực tế là Q
và N không được hưởng di sản theo di chúc Sau khi lấy hết
số di sản được hưởng để thanh toán nghĩa vụ thì khoản nợ đầu còn thiếu 12 triệu đồng Khoản nợ này do G và H phải thực hiện tương đương vói phần G và H hưởng Nên G phải thực hiện là 8 triệu và H là 4 triệu đồng
6 Nếu ngưòi để lại di sản chỉ định người được hưởng thừa kê là nhà nưốc, cơ quan hay tổ chức xã hội, thì cũng phải thực hiện nghĩa vụ tài sản như nhũng người thừa kế
là cá nhân Tất nhiên cũng chỉ thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản được hưỏng
7 Trưòng hợp người để lại di chúc có để lại một phần di sản dùng vào việc thò cúng, nếu di sản của ngưòi chết (còn lại sau khi trừ đi di sản thò cúng) đủ để thanh toán nghĩa
vụ thì phần di sản thò cúng không bị khấu trừ vào Nhưng nếu toàn bộ di sản khổng đủ để thanh toán nghĩa vụ của
Trang 12Phần HI Thanh toán và phân chia di sản thừa kế
ngưòi đó thì di sản thờ cúng cũng sẽ được dùng để thanh toán nghĩa vụ
Ví dụ: Ông A lập di chúc định đoạt tài sản của ông có ngôi nhà 3 gian như sau: cho B (con trưởng) một gian giữa
và gian đầu giao cho B quản lý, thò cúng, gian thứ ba cho
c hưởng Khi ông A chết còn nợ T 200 triệu và chưa trả tiền công lao động cho công nhân là 100 triệu đồng Nhưng giá trị 3 gian nhà chỉ là 250 triệu Như vậy cả ba gian nhà đó phải dùng hết để thanh toán nghla vụ nêu trên, mà không được dành gian giữa để làm nơi thò cúng
8 Nếu người lập di chúc dành một phần di sản để tặng cho ngưòi khác thì ngưòi được di tặng không phải thực hiện nghĩa vụ đốỉ vói tài sản được di tặng
Nhưng nếu toàn bộ di sản không đủ để thanh toán nghĩa
vụ tài sản của người di tặng, thì phần di tặng cũng được dùng để thực hiện phần nghĩa vụ còn lại của người này
Nhưng trong thực tế có trưồng hợp người để lại di sản vừa dành một phần di sản cho thờ cúng, vừa dành phần di sản để
di tặng Song khi thực hiện nghĩa vụ, di sản còn lại không đủ
để thanh toán thì sẽ dùng di sản thò cúng để thanh toán nghĩa vụ hay di sản dùng cho di tặng để thanh toán
Xét ví dụ: Ông A bằng di chúc định đoạt khôi di sản của mình trị giá 200 triệu đồng như sau:
Cho B (con trưởng) Cho c (con gái)
hưởng 50 triệu hưỏng 20 triệu
Trang 13Di sẩn thừa kế theo pháp luật dân sự Việt Nam
Cho D (v ông) Cho E (cháu ông)
hưởng 40 triệu hưởng 30 triệu
Di tặng cho cụ F (chú ông) hưỏng 20 triệuGiao cho B 30 triệu để xây thêm miếu thò trên đất dùng cho thờ cúng của chi họ và lo hương khói sau này.Nhưng ông A chết còn nợ ngưòi khác là 170 triệu đồng, như vậy nếu lấy sô" di sản còn lại (sau khi ông A dành cho
di tặng và cho thòi cúng) thanh toán nghĩa vụ thì vẫn còn
nợ là 20 triệu đồng Vấn đề đặt ra là sẽ sử dụng di sản dành cho di tặng cụ F 20 triệu hay dùng di sản dành cho thờ cúng là 30 triệu đồng, hay dùng cả hai loại di sản này theo
tỷ lệ tương ứng để thanh toán
Có ý kiến cho rằng, phải dùng di sản dùng cho di tặng
để thanh toán nghĩa vụ, vì theo quy định tại Điều 670 BLDS năm 2005: “ D i sản dùng vào việc thờ cúng là di sản không được chia ”.
Ý kiến khác lại cho rằng, phải dùng di sản dành cho thờ cúng để thanh toán nghĩa vụ, vì nếú dùng di sản dành cho
di tặng sẽ ảnh hưỏng trực tiếp đến đòi sống của ngưòi được
di tặng, với quan niệm, người này thưòng gặp khó khăn trong đời sống kinh tế và quan hệ gia đình
Ý kiến thứ ba thì dung hoà hai ý kiến trên Tức là dùng
cả di sản thờ cúng và di sản dành cho di tặng để thanh toán Chúng tôi nhận thấy ý kiến này là hợp lý hơn cả Vì: Căn cứ vào Điều 670 và Điều 671 BLDS năm 2005 thì cơ sở
Trang 14Phần III Thanh toán và phân chia di sẩn thừa k ế
để dùng cả hai loại di sản trên đều là: “Toàn bộ di sản đều không đủ đ ể thanh toán nghĩa vụ tài sản của người chết”,
mà không có một quy định ưu tiên nào cho di sản thờ cúng hoặc di tặng Như vậy, về mặt pháp lý là ở thế “cân bằng”
nhau Còn về mặt thực tế thì cũng rất khó lý giải nên dùng loại di sản nào để thanh toán trong trường hợp nêu trên
Vì, tính đa dạng của quan hệ pháp luật thừa kế; về tình trạng phân chia, hoàn cảnh của người được di tặng, về mức chênh lệch giữa di sản dùng vào việc thờ cúng, di sản dành cho di tặng, mà không cho phép dùng di sản này mà không dùng di sản kia để thanh toán nghĩa vụ của người chết khi toàn bộ khối di sản không đủ để thanh toán nghĩa
vụ tài sản của ngưòi này
Sau khi đã xác định được ai phải thực hiện, thực hiện bao nhiêu đốì với nghĩa vụ tài sản mà người chết để lại, những ngưòi thừa kế phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán
về tài sản và các khoản chi phí liên quan đến thừa kê theo quy định tại Điều 686 BLDS năm 1995 hay Điều 683 BLDS năm 2005
Thứ nhất, Chi phí hợp lý cho việc mai táng theo tập quán
Là những chi phí trong nghi lễ đưa tang, chôn cất, điếu phúng ngưòi chết như: tiền mua quan tài, khăn vải liệm, chi phí cho chôn cất và các nghi lễ khác mà hiện đang được tập quán địa phương của người chết thừa nhận Nếu chi phí mai táng được lấy từ tài sản của người chết thì di sản thừa kê của người này là phần còn lại Vấn đề thanh toán
Trang 15Di sản thừa kế theo pháp luật dân sự Việt Sam
chi phí mai táng chỉ được đặt ra khi các khoản chỉ phí đó
là do một ngưòi thừa kế bỏ ra hoặc vay mượn của người khác để lại cho việc mai táng Tuy nhiên nếu những người này tự nguyện (như con lo cho cha mẹ, vợ lo cho chồng) không có yêu cầu phải thanh toán,, thì vấn đề thanh toán trong trường hợp này cũng không đặt ra
Thứ hai, Tiền cấp dưỡng còn thiếu
Đây là khoản tiền mà người để lại di sản khi côn sống phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng đối với những người được cấp dưỡng theo quy định của pháp luật (như cấp dưõng nuôi con khi vợ chồng ly hôn, cấp dưỡng cho ngưòi bị người để lại di sản gây thiệt hại về tài sản, tính mạng, sức khoẻ ) nhưng chưa kịp cấp dưỡng thì đã chết
Ví dụ : Ông Q phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho T mỗi tháng
là 100.000 đồng nhưng 6 tháng trước khi chết ông Q chưa đưa tiền cấp dưỡng cho T thì (100.000 X 6 tháng) = 600.000 đồng ông Q chưa thực hiện đó phải được thanh toán cho T trước khi những ngưòi thừa kế được hưởng di sản của ông
Thứ ba, Tiền trợ cốp cho nguời sống nương nhờ
Thực tế trong xã hội ta còn một sô' ngưòi gặp nhiều khó khăn mà bản thân họ không tự lao động để nuôi sống bản thân Đó là những người sống trong cảnh đơn côi, già yếu, tàn tật, gặp ngưòi tốt bụng cưu mang, trợ giúp cho họ sống nương nhò, như vậy cuộc sống của họ hoàn toàn phụ thuộc (nương nhờ) vào ngưòi khác Nếu người cho họ sống nương
Trang 16Phần tỉ Thanh toán và phán chia đi sản thừa kế
nhờ chết, họ sẽ lâm vào tình trạng hết sức khó khằn về mọi mặt, dể giúp họ khắc phục được phần nào khó khăn đó phải trích nột phần di sản của người chết cho họ
Thứ tư, Tiến công lao động
Là khoản tiền công phải trả cho ngưòi lao động mà khi còn scng người để lại di sản đã sử dụng sức lao động của
họ Kli người sử dụng sức lao động chết chưa trả được tiền công cho ngưòi lao động, thì phải trích một phần di sản thừa kê để trả cho người lao động
Thứ năm, Tiền bồi thường thiệt hại
Lồ khoản tiền mà ngưòi để lại di sản phải bồi thường
do xâu phạm đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản mà gây ra thiệt hại cho người bị thiệt hại Khi ngưòi để lại di sản còn sông chưa kịp bồi thường hoặc bồi thường chưa đủ thì khi ngưòi này chết phải trích
ra một phần để bồi thường cho người bị thiệt hại
Ví dụ: Ông A khi còn sống có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại cho B về tài sản và sức khoẻ là 5 triệu đồng, ông A mối bồi thường được 2 triệu cho B thì A bị tai nạn chết Sô' tiền 3 triệu đồng còn lại phải thanh toán cho B từ
di sản của A
Thứ sáu, Thuế và các khoản nợ khác đối VỚI nhà nước
Là các khoản tiền mà người để lại di sản khi còn sống phải nộp thuế cho nhà nước (như thuế thu nhập, thuế kinh
Trang 17Di sản thừa kế theo pháp luật dân sự Việt Nam
doanh, thuế chuyển quyền sử dụng đất ) và các khoản tiền mà ngưòi này còn nợ của Nhà nưốc, mà họ chưa thực hiện hoặc thực hiện chưa đủ thì chết
Thứ bảy, Tiển phạt
Là khoản tiền mà một ngưòi phải nộp phạt, bao gồm những khoản tiền do bị phạt hành chính, những khoản tiền phạt do vi phạm hợp đồng, nhưng họ chưa nộp thì đã chết
Thứ tám, Các khoản nợ khác đối với cá nhân, pháp nhân hoặc một chủ thể khác
Là những khoản tiền mà người để lại di sản phải thực hiện trưốc ngưòi khác, trước pháp nhân hoặc trưốc tổ chức được xác lập thông qua các giao dịch dân sự hoặc thông qua các hợp đồng kinh tế Nếu ngưòi để lại di sản chết mà chưa thực hiện được các khoản nợ nói trên thì các chủ nợ được• * • • • • quyền thanh toán từ di sản của ngưòi chết
Thứ chín, Chi phí cho việc báo quản di sản
Đó là nhũng khoản tiền mà người bảo quản di sản đã chi dùng một cách hợp lý cho việc bảo quản giá trị cùa di sản (như sửa chữa, bảo daỡng những hư hỏng tự nhiên, tiền chi cho việc phòng ngừa, tránh mất mát, tẩu tán di sản, tiền xây tường bao hàng rào và các khoản thù lao nếu có mà ngưòi đó được hưỏng
Trang 18Phần III Thanh toán vồ phán chia di sản thừa kế
Qua quy định của Điều 683 BLDS năm 2005 về thứ tự
ưu tiên thanh toán, chúng tôi cho rằng việc quy định tại các khoản 5, 6 và 8 là chưa hợp lý, gây bất lợi cho một số
cá nhân, pháp nhân hoặc các tổ chức đối vổi các khoản nợ
mà người thừa kế phải có trách nhiệm thanh toán
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, nhà nưóc khuyến khích phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa có sự điều tiết của Nhà nước, thì mọi thành phần kinh tế đều bình đẳng cho nên họ có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong giao dịch dân sự về yêu cầu pháp luật bảo vệ quyền lợi hợp pháp; về đòi nỢ, thanh toán Nên họ phải có vị trí được đòi thanh toán ngang nhau mà không thể trước sau như khoản 5, 6,
và 8 Điều 683 BLDS năm 2005
II PHẢN CHIA DI SẢN THỪA KẾ
Sau khi mở thừa kế thì bất cứ lúc nào những người thừa kế cũng có quyền yêu cầu chia di sản, nhưng trong thực Itế rất ít khi di sản được đem chia ngay, thường là qua
Trang 19Di sản thừa kế theo pháp luật dán sự Việt Nam
một thồi gian dài hay ngắn kể từ khi mỏ thừa kế, tuỳ thuộc vào sự thoả thuận của những ngưòi thừa kế
Việc di sản được chia ngay có rất nhiều lý do có thể là
sự vắng mặt các thừa kế viên, di sản rải rác nhiều nơi chưa tập hợp được, hoặc là do ý muốn của người quá cố, hoặc do thoả thuận của những người thừa kế Bởi vậy, việc bảo quản di sản diễn ra trước, trong và sau khi chia di sản lại càng có ý nghĩa hơn trong việc bảo đảm, giữ nguyên giá trị của di sản thừa kế
Về thời điểm phân chia di sản, so sánh với luật cũ chúng ta thấy Điều 369 Bộ dân luật Bắc kỳ và Điều 371 Bộ luật Trung kỳ đều quy định rằng: “Không người thừa k ế nào bị bó buộc phải đ ể lại di sản mà không chia Tuy nhiên những người thừa k ế củng có th ể thoả thuận nhaụ hoàn thành việc phân chia trong một thời gian Trong khi chưa phân chm tài sản ấy vẫn cứ đăng ký nguyên tên người
mệnh một trong địa hộ".
Bộ luật dân sự Sài Gòn năm 1972 tại Điều 541 cũng quy định về việc những ngưòi thừa kế có thể thoả thuận hoàn việc chia thừa kế nhưng thời hạn không quả 5 năm
Bộ luật Dân sự Pháp (phần sửa đểi) cũng quy định rằng: “Không ai có thể bị bó buộc trong tình trạng vị phân
và lúc nào củng có thể yêu cầu chia di sản, trừ khi có tạm hoãn do bản án hoặc thoả thuận, việc tạm hoãn mà do Toà• • * • • quyết định với thời hạn không quá 2 năm, nếu việc phân chia ngay có thể làm thiệt hại đến di sản vị phân." Bộ luật
Trang 20Phẩn III Thanh toán và phân chia di sản thừa kế
Dân sự Nhật Bản tại Điều 907 quy định: “Các đồng thừa
k ế có thể thoả thuận chia tài sản vào bất cứ lúc nào, trừ trường hợp việc chia tài sản đã bị cấm bời di chúc của người đ ể lại thừa kế Nếu có lý do đặc biệt thì toà hôn nhân gia đình có thể cấm chia một phần hoặc toàn bộ di sản”.
Như vậy, các Bộ luật dân sự của Việt Nam trước đây và luật dân sự một số nước trên thế giới đã quy định ngưòi thừa kế có quyền yêu cầu chia di sản thừa kế bất cứ lúc nào, nhưng cũng đồng thòi quy định cho việc thoả thuận hoãn việc phân chia trong một thời gian nhất định, quy định cho Toà án có quyền hoãn việc phân chia di sản, hoặc phân chia di sản sau một thời gian nhất định, thì chỉ khi hết thòi hạn đó di sản mới được đem chia Việc quy định như vậy là hết sức cần thiết, sẽ tôn trọng ý chí định đoạt của người để lại di sản, tôn trọng và bảo vệ sự thoả thuận của những ngưòi thừa kê đồng thòi trong trường hợp cần thiết (việc phân chia ngay gây thiệt hại đến giá trị của di sản, hoặc không đảm bảo cho việc khai thác di sản ) Toà
án có quyền quyết định hoãn việc phân chia di sản
Hiện nay, BLDS nước ta chỉ mới quy định thòi điểm phát sinh quyền và nghĩa vụ của người thừa kế từ thòi điểm tứ thừa kế Điểu đó có nghĩa là kể từ thời điểm mở thừa kế thì người thừa kế có quyền kiểm kê, bảo quản, phân chia di sản thừa kế Việc phân chia di sản thừa kế bị hạn chế theo quy định của Điều 686 BLDS năm 2005:
“Trorìụg trường hợp theo ý chí của người lập di chúc hoặc
Trang 21Di sẩn thừa kế theo pháp luật dân sự Việt Nam
theo thoả thuận của tất cả những người thừa kế, di sản chỉ được phân chia sau một thời hạn nhất định, thì chỉ khi đã hết thời hạn đó di sản mới được đem chia”. Nhưng thời hạn
đó là bao lâu thì lại không được dự liệu trong điều luật này Bởi vậy, người lập di chúc cũng như người thừa kê có thể kéo dài thời hạn chia di sản của ngưòi chết ngày càng thiếu chính xác, giá trị của khôi di sản dễ bị giảm, mâu thuẫn của những ngưòi thừa kế kéo dài gây khó khăn, phức tạp cho việc làm rõ vụ án nếu có tranh chấp về thừa kế xảy
ra Theo chúng tôi, Luật dân sự của chúng ta nên quy định thòi hạn cho việc tạm hoãn chia di sản thừa kế với thời gian không quá 3 năm; việc quy định cho Toà án quyết định việc hoãn phân chia di sản thừa kế trong một thời hạn nhất định khi có lý do đặc biệt cũng hết sức cần thiết
1 Một số vân để cẩn lưu ỷ khi phân chia di sản thừa kế
* Lưu ý 1: Có người thừa k ế theo Điều 669 BLDS năm 2005
Khi người thừa kế không có quyền hưởng di sản theo khoản 1 Điều 643 (Toà án tước quyền), hoặc khi người này
từ chối quyền hưởng di sản theo Điều 644 BLDS năm 2005, thì pháp luật không bảo vệ cho họ hưởng một phầE di sản bằng hai phần ba một suất thừa kế theo pháp luật
Theo quy định tại Điều 669 BLDS năm 2005, thiì chỉ:
“những người sau đây vẫn được hường một phần đ i sấn bằng hai phần ba suất của một người thừa k ế theo J)háp
Trang 22Phần Ili Thanh toán và phân chia di sản thừa kế
luật nếu như di sản được chi theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đ ó "
Nội dung của Điều luật này, một mặt thể hiện bảo vệ quyền lợi cho những người trong diện thừa kế có quan hệ gần gũi, thân thích với người để lại di sản, theo đó ngưòi để lại di sản cũng thực hiện được bổn phận nuôi dưỡng của mình
Sau khi xác định được ai được hưởng và hai phần ba của một suâ't thừa kế theo luật là bao nhiêu, thì bước tiếp theo là sẽ lấy di sản của người nào và theo tỷ lệ bao nhiêu
để chia di sản cho những người được hưởng theo Điều 669
Để dễ hơn khi xác định phần thừa kế này, trên thực tế người ta tính hiện vật bằng tiền để chia, sau đây là một sô'
trường hợp.
+ Trưòng hợp những người thừa kế được hưởng suất bằng nhau, thì sau khi lấy toàn bộ di sản của người chết trừ đi phần của một hoặc một sô" người hưởng theo Điều 669-BLDS năm 2005 được bao nhiêu sẽ chia đều cho những ngưồi thừa kế
+ Trường hợp những ngưòi thừa kê được hưỏng suất khôn g bằng nhau, thì phải lấy toàn bộ di sản của ngưòi chết (Chia cho từng người được bao nhiêu sẽ trừ theo tỷ lệ ai hưồnsg nhiều trừ nhiều, ai hưỏng ít trừ ít để chia cho người được hưỏng theo Điểu 669 BLDS năm 2005
VY dụ: Ông A có khối di sản là 120 triệu đồng, ông định
Trang 23Di sản thừa kế theo pháp luật dãn sự Việt Nam
đoạt bằng di chúc như sau: cho B hưởng 60 triệu, cho c hưởng 15 triệu, D hưởng 45 triệu và ông A đã truất quyền thừa kế của bà E (vợ ông); B, c, D đều là em ông Như vậy theo dữ kiện này thì bà E được'hưởng hai phần ba một suất thừa kế theo luật (120:4)x2/3=20 triệu đồng
20 triệu đồng này được lấy từ di sản được hưởng của B,
c , D theo tỷ lệ tương ứng với số di sản mà những ngưòi
này đã được hưỏng Cụ thể là B = 60-10=50; c = 15-
2,5=12,5; D=45-7,5=37, 5 triệu đồng, của bà E sẽ là 10+2.5+7.5 = 20 triệu đồng
+ Trường hợp có cả thừa kế theo di chúc, và có ngưòi thừa kế theo luật mà các thừa kế viên hưỏng suất bằng nhau thì trừ rồi chia; còn nếu các thừa kế di chúc và theo luật hưởng không bằng nhau, thì xác định tỷ lệ của mỗi người như trên để chia cho người hưỏng theo Điều 669 BLDS năm 2005 Có ý kiến cho rằng trong trưòng hợp này thì chỉ trích phần của người nào hưởng nhiều để chia cho người hưởng theo suất hai phần ba suất thừa kế theo luật Như vậy, sẽ không hợp lý vì nó vừa không bảo đảm công bằng về nghĩa vụ, vừa gây mâu thuẫn giữa những ngưòi thừa kế
* Lưu ý 2: Người hưởng di sản là thai nhi
Có thể nói đây là trưòng hợp ngoài lệ mà luật dân sự bảo vệ quyền lợi cho cá nhân khi cá nhân này còn là thai nhi “người sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa k ế
Trang 24nhưng đã thành thai trước khi người đ ể lại di sản chết”a)
vẫn được hưởng di sản của ngưòi chết để lại Như vậy, thai nhi đã được bảo lưu quyền thừa kế nếu còn sống sau khi sinh ra Vấn đề này BLDS Pháp cũng quy định: “Đ ểhưởng thừa kế, nhất thiết phải còn sống khi mở thừa kể'.
Do vậy, các trường hợp không được hưỏng thừa kế:
2 Đứa bé sinh ra không sống được
Các bộ luật của nước ta trước đây, Bộ Dân luật Bắc kỳ (Điều 313), Bộ Dân luật Trung kỳ (Điều 305) và Bộ Dân luật Sài Gòn (Điều 501) đều quy định cho thai nhi đã có khi
mở thừa kế và sinh ra còn sống sau thời điểm mỏ thừa kế, thì có quyền hưởng di sản
Như vậy, theo quy định của các điều luật trên đây thì mặc dù chưa là công dân thực thụ, nhưng thai nhi vẫn được hưởng di sản như bất kỳ một người thừa kế khác Nếu một người chưa thành thai vào thòi điểm mở thừa kế hoặc thành thai trước thời điểm mở thừa kế nhưng sinh ra không còn sông, thì không được hưởng di sản thừa kế Đây
là trưòng hợp bắt buộc phải dựa trên quan hệ huyết thông, cho nên một ngưòi đã thành thai trước thòi điểm mở thừa
kế thì mặc nhiên người này được coi là con của ngưòi đã chết nếu không chứng minh được không phải là con của
Phần III Thanh toán và phân chia di sản thừa kế
« Khoản 1 Điểu 638 BLDS năm 1995, và Điều 635 BLDS năm 2005.
Trang 25Di sản thừa kế theo pháp luật dân sự Việt Nam
người này Điều 28 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986, Điều 63 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000: “con sinh ra trong thời kỳ hôn nhăn hoặc do vợ có thai trong thời kỳ đó
là con chung của vợ chồng.,i Trong trường hợp cha mẹ không thừa nhận con thì phải có chứng cứ và phải do Toà
án xác định Việc xác định cha mẹ cho con sinh ra được xác 9 • • • ♦
định theo phương thức khoa học do Chính phủ quy định."
Muốn xác định ngưòi con sinh ra sau khi bố nó chết nhưng
đã thành thai trước khi người để lại di sản chết hay chưa thì phải căn cứ vào thòi gian thực tế tồn tại thai nhi là 300 ngày kể từ thời điểm mở thừa kế đến khi nó được sinh ra thì mặc nhiên được coi là đã thành thai trưốc thời điểm mỏ thừa kế và sẽ được hưởng thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của ngưòi để lại di sản
Việc đòi hỏi của pháp luật là “đứa trẻ sinh ra phải còn sông sau thời điểm mở thừa k ể ’ nhưng lại không quy định
là sống trong thời gian bao lâu mới được hưởng di sản Trong thực tế có nhiều trường hợp thai nhi chết trong bụng
mẹ nó, hoặc sinh ra sau một vài ngày, thậm chí một vài tiếng đồng hồ mới bị chết, thì có xác định cho hưỏng di sản thừa kê không?
Có ý kiến cho rằng chỉ cần đứa trẻ sinh ra còn sống nghĩa là khi thai nhi không chết trong bụng mẹ nó và sống trong một khoảng nào đó là được hưỏng di sản
Ý kiến khác lại cho rằng đứa trẻ đó sinh ra được coi là còn sống để hưởng di sản phải có căn cứ pháp lý để xác định
Trang 26đó là một cá nhân thực thụ như giấy chứng sinh khai sinh Nhưng thực tê có những đứa trẻ sinh ra vì một lý do nào đó
mà có thể vài ba tháng sau bô" mẹ mới khai sinh cho đứa trẻ, thì nó có được coi là một cá nhân tồn tại trong xã hội chưa.Theo quy định tại Điều 23 của Nghị định sô' 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ về đăng
ký và quản lý hộ tịch: Trẻ em sinh ra sống được 24 giờ trờ lên rồi mới chết cũng phải đăng ký khai sinh và đăng ký khai tử Nếu cha, mẹ không đi khai sinh, khai tử, thì cán
bộ tư pháp hộ tịch tự xác định nội dung đ ể ghi vào s ổ đăng
ký khai sinh và s ổ đăng ký khai tử Trong cột ghi chú của
Sô đăng ký khai tử phải ghi rõ “Trẻ chết sơ sinh”. Theo quy định này có thể hiểu là đứa trẻ được sinh ra mà chưa sông được 24 giờ, thì không coi là còn sông để hưởng thừa kế Thiết nghĩ, pháp luật của nước ta cần có quy định cụ thể về trường hợp này để giúp các câp Tòa án xác định một cách thống nhất đối với những thai nhi được pháp luật bảo lưu quyền hưởng thừa kế
Khi phân chia di sản thừa kế nếu có ngưòi thừa kế đã thành thai nhưng chưa sinh ra thì phải dành lại một phần bằng phần thừa kế mà ngưòi khác được hưỏng (nếu chia theo pháp luật); dành lại một phần theo di chúc đã định hoặc theo thoả thuận của những ngưòi thừa kế Mục đích
là nếu người thừa kế đó còn sống khi sinh ra, thì được hưởng, nếu chết trước khi sinh ra thì những người thửa kế khác được hưỏng (Khoản 1 Điều 685 BLDS năm 2005)
Phần Hỉ Thanh toán và phân chia di sản thừa kế
Trang 27Di sản thừa kế theo pháp luật dân sự Việt Nam
Trường hợp sinh đôi, sinh ba Nếu những người mới sinh
ra còn sống từ hai người trở lên và đương sự có yêu cầu cũng phải chia di sản cho những ngưòi thừa kế này, phần
di sản của họ được hưởng ngang nhau vối người thừa kế cùng hàng (theo luật)
* Lưu ý 3: trong trường hợp hạn ch ế phân chia di sản được quy định tại Điều 686 và xuất hiện người thừa k ế tại Điều 687 Bộ luật Dân sự năm 2005.f • • Cụ thể: •
Có sự định đoạt của ngưòi lập di chúc hoặc theo thoả thuận của tất cả những người thừa kế về việc chia thừa kế sau một thòi hạn nhất định thì chỉ khi đã hết thời hạn đó • ♦ • «
di sản mới được đem chia
Việc phân chia di sản mà ảnh hưỏng nghiêm trọng đến đòi sống của bên vợ hoặc chồng còn sống và gia đình thì di sản đó chưa được chia trong một thòi hạn nhất định, nhưng không quá ba năm kể từ thòi điểm mở thừa kế
Trong trưòng hợp di sản đã được phân chia mà xuất hiện ngưòi thừa kế mới thì không thực hiện việc phân chia ỉạỉ bằng hiện vật mà thực hiện bằng cách thanh toán giá trị tương ứng vối phần di sản mà ngưòi thừa kết đó được hưởng tại thời điểm chia thừa kế, trừ trường hợp có thoả thuận khác Trong trường hợp đã phân chia di sản mà có người thừa kế bị bác bỏ quyền thừa kế thì ngưòỉ đó phải trả lại di sản hoặc thanh toán một khoản tiền tương ứng, trừ khi có thoả thuận khác.»
Trang 28Phẩn III Thanh toán và phân chia di sẩn thừa kế
2 Xác định suất thừa kế của mỗi ngưdỉ thừa kế trong các trưdng hợp cụ thể
2.1 Các quy định của pháp luật vé phần chia di sẩn:
Để phù hợp với hai trình tự thừa kế, BLDS quy định việc phân chia di sản thừa kế như sau:
2.1.1 Phăn chia di sản theo di chúc
Khoản 1 Điều 684 BLDS năm 2005 quy định: “Việc phân chia di sản được thực hiện theo ý chí của người đ ể lại
di chúc; nếu di chúc không xác định rõ phần của từng người thừa k ế thì di sản được chia đều cho những người được chỉ định trong di chúc, trừ trường hợp có thoả thuận khác”
Theo cách phân chia này thì ý chí của ngưòi lập di chúc đư<ợc tôn trọng và thực hiện Chỉ khi di chúc không xác định
rõ phần của từng ngưòi thì di sản được chia đều cho những ngưòi thừa kế trừ trường hợp có thoả thuận khác
Khoản 2 Điều 684 BLDS năm 2005 quy định: “Trong trường hợp di chúc xác định phân chia di sản theo hiện vật
th ì người thừa k ế được nhận hiện vật kèm theo hoa lợi, lợi tức thu được từ hiện vật đó hoặc phần giá trị của hiện vật
bị igiảm sút tính đến thời điểm phân chia di sản; nếu hiện vật bị tiêu huỷ do lỗi của người khác thì người thừa k ế có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại”.
Khoản 3 Điều 684 BLDS năm 2005 quy định: “trường hợp di chúc chỉ xác định phân chia di sản theo tỷ lệ đôĩ với
Trang 29Di sản thừa kế theo pháp luật dán sự Việt Nam
tổng giá trị khối di sản thì tỷ lệ này được tính trên giá trị khối di sản đang còn vào thời điểm phân chia di sản”.
2.1.2 Phân chia di sản theo pháp luật
Là việc phân chia di sản cho những người thừa kế không phải theo ý chí định đoạt của người để lại di sản, mà theo quy định chung của pháp luật, như phân chia đều bằng nhau, phân chia theo thứ tự hàng 1, hàng 2 và hàng
3, phân chia cho những người nằm trong diện thừa kế
Diện thừa kế là phạm vi những ngưòi có quyền thừa kế
di sản của người chết theo quy định của pháp luật và được xác định dựa trên 3 cơ sở:• «
- Quan hệ hôn nhân;
- Quan hệ huyết thống;
- Quan hệ nuôi dưỡng
Trên cơ sỏ xác định diện những người thừa kế, nhà làm luật căn cứ vào mức độ gần gũi giữa những người thừa kế
để phân định thành 3 hàng thừa kế trước và sau
Điều 676 BLDS năm 2005 quy định 3 hàng thừa kế sau đây:
a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ
đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết
b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột, của ngưòi chết;
Trang 30Phần III Thanh toán và phán chia di sẩn thừa kế
cháu ruột của người chết mà ngưòi chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại
c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của ngưòi chết
mà ngưòi chết là cụ nội, cụ ngoại
2.2 Xác định suất thùa kế của mỗi nguôi thừa kế trong các trường hợp cụ thể
2.2.1 Suất thừa k ế của mỗi người thừa k ế trong trường hợp phân chia di sản theo di chúc
Ngưòi lập di chúc là chủ thể đầu tiên trong quan hệ pháp luật về thừa kế BLDS năm 2005 nước ta đã ghi nhận
và bảo vệ quyền định đoạt tài sản của người để lại di sản tại Điều 648 và Điều 662 Trong Điều 648 có quyền chỉ định ngưồi thừa kế, phân định tài sản cho những người thừa kế của người lập di chúc Ngưòi được hưởng di sản theo di chúc có thể là cá nhân trong hoặc ngoài diện thừa
kế theo quy định của pháp luật, hoặc có thể là nhà nước, các tổ chức kinh tế xã hội khác
Người được chỉ định trong di chúc thường có quan hệ gần gũi, gắn bó thân thiết với người đã chết Đó là vợ, chồng, cha, mẹ, con cái, anh em, cháu ch ắt của ngưòi đó nhưng cũng có thể là bạn bè, đồng nghiệp, là bất kỳ ai ngoài diện thừa kế Chỉ cần việc chỉ định này là ý chí tự nguyện của ngưòi lập di chúc
Trang 31Di sản thừa k ế theo pháp luật dân sự Việt Nam
Thông thường người lập di chúc đã chỉ định người hưởng thừa kế trong di chúc, thì đã phân định di sản đó cho ai, bao nhiêu và có nghĩa vụ nào rồi Nhưng cũng có khi ngưòi lập di chúc chỉ thể hiện ý.chí cho hưởng tài sản mà không phân định cụ thể cho ngưòi thừa kế nào hưởng là bao nhiêu hoặc hưởng những hiện vật gì, tài sản nào Bởi vậy, di sản thừa kế có thể đứợc phân chia cho mỗi suất thừa kế theo các trưdng hợp sau đây
* Trường hợp di chúc chỉ xác định ngưòi hưởng di sản mà không xác định rõ phần của từng ngưòi thừa kế được hưởng, theo sự định đoạt này nếu trong di chúc chỉ định nhiều người thừa kế, thì di sản sẽ được chia đều (bằng nhau) cho tất cả những ngưòi thừa kế có tên trong di chúc Tuy nhiên, cũng
có thể phân chia thành các phần không bằng nhau, nếunhững ngưòi thừa kế thoả thuận phân chia như vậy
i
Nếu di chúc chỉ định chỉ một người thừa kế, thì toàn bộ
di sản sẽ được dịch chuyển cho người này Ngưòi thừa kế này cũng có quyền từ chốỉ hưởng di sản, khi đó di sản sẽ được phân chia cho những ngưòi thừa kế theo pháp luật
Khối tài sản của ông có là 150 triệu đồng
Trước khi chết ông lập di chúc như sau:
Cho D hưỏng toàn bộ di sản của ông, còn B, c ông
không nói gì trong di chúc Khi ông A chết, D từ chối hưỏng
di sản của ông Vậy 150 triệu do D từ chối không nhận sẽ chia cho B, c và bằng 150: 2 = 75 triệu đồng (B=C)
Trang 32Phẩn / / / Thanh toán và phân chia di sản thừa kế
* Trưòng hợp di chúc đã xác định ngưòi hưởng di sản và
đã xác định rõ trong di chúc người thừa kế nào được hưởng
di sản là hiện vật gì Như vậy, khi phân chia di sản, các thừa
kế đã xác định được hưởng hiện vật nào thì được nhận hiện vật đó cùng với hoa lợi, lợi tức thu được từ hiện vật đó hoặc chịu phần giá trị của hiện vật bị giảm sút tính đến thòi điểm phân chia di sản Nếu hiện vật bị tiêu huỷ do lỗi của ngưòi khác, thì người thừa kế nào được nhận vật đó có quyền yêu cầu người có lỗi phải bồi thường thiệt hại cho mình
Lẽ dĩ nhiên người hưởng phần di sản theo hiện vật phải chấp nhận khi hiện vật đó có giá trị bị giảm sút do lâu ngày
mà vật đó bị hao mòn, hư hỏng tự nhiên hoặc do nhu cầu
sử dụng của con người ngày càng cao Nhưng nếu vật bị
hư hỏng hay bị tiêu huỷ do lỗi của ngưòi khác, chẳng hạn
do người quản lý và bảo quản di sản thừa kế làm cháy nhà, làm vỡ vật quý thì người thừa kế có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại
* Trong trường hợp di chúc xác định người hưởng di sản đồng thòi ngưòi để lại di sản xác định rõ trong di chúc về
tỷ lệ mà người thừa kế hưởng trên tổng giá trị khối di sản (như 1/2, l/3, )thì khi phân chia di sản, sẽ chia cho những ngưòi thừa kế theo tỷ lệ đó trên tổng giá trị khõì di sản đang còn vào thòi điểm phân chia
Ví dụ: Bà N có khối di sản là một ngôi nhà trị giá 300 triệu và số tiền mặt là 105 triệu Trước khi chết bà lập di chúc định đoạt tài sản của bà như sau:
Trang 33Di sản thừa kế theo pháp luật dân sự Việt Nam
Cho B hưởng 1/2 trên tổng giá trị khối di sản
Cho c được hưởng 1/4 trên tổng giá trị khối di sản
Cho D hưỏng 1/4 trên tổng giá trị khối di sản
Bà mất ngày 20/04/2006, các thừa kê thoả thuận và di sản trên được phân chia vào ngày 20/7/2006 (tức là 3 tháng sau) Khi phân chia di sản chỉ còn ngôi nhà và tiền mặt chỉ còn 94 triệu đồng (11 triệu dùng cho sửa sang ngôi nhà và trả tiền thù lao cho ngưòi quản lý, bảo quản di sản) Tổng giá trị khối di sản tại thời điểm phân chia là 394 triệu đồng
và mỗi người sẽ là:
B = 394 : 2 = 197 triệu đồng;
c = 394 : 4 = 98, 5 triệu đồng;
D = 394 : 4 = 98, 5 triệu đồng
Nếu có phần di sản không còn vào thời điểm phân chia
di sản thừa kế do người quản lý hay do ngưòi thừa kế khác
sử dụng, định đoạt mà không được sự thoả thuận, đồng ý, thì phần di sản đó vẫn tính vào tổng giá trị khối di sản để tính tỷ lệ cho từng ngưòi theo sự định đoạt của ngưòi để lại
di sản Ngưòi quản lý di sản hoặc người thừa kế nào đã sử dụng hết hoặc định đoạt phần di sản đó sẽ bị trừ đi phần
đó khi nhận di sản
Ví dụ: Ông A có khôi di sản gồm 80 triệu đồng và vườn cây lâu năm trị giá 400 triệu, (trong đó giá trị quyền sử dụng đất là 370 triệu đồng, 30 cây bạch đàn là 30 triệu đồng) Trước khi chết ngày 01/8/1996 ông lập di chúc như sau:
Trang 34Phần III Thanh toán và phán chia di sản thừa kế
- Cho B hưỏng 2/3 khối di sản;
- Cho c hưỏng 1/3 khối di sản
Ngày 02/7/1997 ông A chết, một năm sau di sản của ông mối được phân chia (theo ý chí của ông) Tại thòi điểm phân chia, vườn cây của ông A chỉ còn 10 cây bạch đàn, 20 cây không còn là do B chặt bán để chi dùng cho bản thân
và gia đình B là 20 triệu đồng
Khi phân chia di sản vẫn tính 20 triệu do B định đoạt ngoài ý muốn của ông A vẫn tính vào tổng giá trị để phân chia, cụ thể:
80 triệu + 400 triệu = 480 triệu (tổng giá trị khôi di sản)
B = (480: 3)x2 = 320 triệu đồng
c = 480 : 3 = 160 triệu đồng
Nhưng thực tế tại thời điểm phân chia di sản, tổng giá trị di sản chỉ còn 460 triệu đồng Như vậy B thực hưỏng tại thời điểm này là 300 triệu vì đã khấu trừ 20 triệu đồng
2.2.2 Suất thừa k ế của người thừa k ế trong trường hợp phân chia di sản theo pháp luật
Trong thực tế có nhiều trường hợp người chết để lại di sản nhưng không kịp lập di chúc (do đột tử, tai nạn), không muôn lập di chúc hoặc có lập di chúc nhưng di chúc không hợp pháp, di chúc bị thất lạc, hư hỏng gặp những trưòng hợp này thì di sản để lại của người đã chết phải chia theo quy định của pháp luật Nghĩa là, di sản phân chia cho
Trang 35Di sản thừa kế theo pháp luật dân sự Việt Nam
những người thừa kế không phải theo ý định hợp pháp của ngưòi có di sản để lại mà di sản được phân chia theo ý chí của Nhà nước thông qua quy phạm pháp luật về thừa kế.Điều 675 BLDS năm 2005 quy định những trưòng hợp thừa kế theo pháp luật:
- Không có di chúc;
- Di chúc không hợp pháp;
- Ngưòi thừa kế không còn tồn tại vào thòi điểm mở thừa kế;
- Ngưòi được chỉ định làm người thừa kế nhưng không
có quyền hưởng di sản hoặc từ chôl quyền hưỏng di sản Đối với phần di sản không được định đoạt trong di chúc; phần di sản liên quan đến phần di chúc không có hiệu lực pháp luật hoặc phần di sản liên quan đến ngưòi thừa kế theo di chúc nhưng họ không có quyền hưởng di sản; từ chối hưởng di sản, chết trưốc hoặc chết cùng thòi điểm vói ngưòi lập di chúc, liên quan đến tổ chức, cơ quan được hưởng di sản theo di chúc, nhưng không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa k ế thì di sản đó cũng được phân chia theo quy định của pháp luật
Ngưòi thừa kế theo pháp luật được quy định tại Điều 675 BLDS năm 2005 chúng tôi đã trình bày ỏ trên Khi chia thừa
kế theo quy định của pháp luật cần lưu ý đến trường hợp thừa kế thế vị Pháp luật nưóc ta chỉ quy đỊnh thừa kế thế
vị theo pháp luật, mà không quy định thừa kế thế vị theo di
Trang 36Phần III Thanh toán và phân chia di sản thừa kế
chúc Theo quy định tại Điểu 677 BLDS năm 2005, thì thừa
kế thế vị xảy ra trong trường hợp con chết trước cha mẹ, ngưòi thừa kế thế vị là cháu của người để lại di sản sẽ thay vào vị trí của cha mẹ mình để nhận di sản của ông bà Nếu cháu cũng chết trước ông bà, thì người thừa kế thế vị là chắt của ngưồi để lại di sản thừa kế sẽ thay vào hàng thừa kế của ông bà mình để nhận di sản của các cụ Như vậy:
Thừa kế thế vị chỉ xảy ra ồ hàng thừa kế thứ nhất (Điều 676 BLDS năm 2005), và người được hưởng thừa kế thế vị là cháu hoặc chắt Tức là, thừa kế thế vị chỉ áp dụng cho hàng thuộc trực hệ cho đến đồi thứ ba với điều kiện phải còn sông vào thời điểm mở thừa kế
Các thừa kế nhận di sản với tư cách là ngưòi thừa kế thế vị sẽ phải chia nhau (chia đều) phần mà ngưòi cha hay mẹ; ông hay bà của họ nếu còn sống sẽ được hưởng Hay nói cách khác nếu có người hưởng thế vị của một người thì tất
cả những người đó chỉ hưởng một phần (một suất) của ngưòi nếu còn sống thì được hưỏng
Ví dụ: Ông A có vợ là B và có hai con là c, D
c có con là T và H
D có con là M và M có con là N
c, D, M đều đã chết trước ông A
Ông A chết không để lại di chúc và di sản của ông là 90 triệu đồng Di sản của ông A được phân chia như sau:
Trang 37Di sản thừa kế theo pháp luật dân sự Việt Nam
90 triệu đồng : 3 = 30 triệu đồng
Trong đó: 30 triệu đồng là của bà B
30 triệu đồng là H, T thay c hưởng (H = T) sẽ là 30 triệu: 2 = 15 triệu đồng
30 triệu là của N thay M hưởng của ông A
Khi phân chia di sản theo pháp luật phải phân chia theo thứ tự của các hàng thừa kế được quy định tại Điều
675 BLDS năm 2005; phải phân chia đều (bằng nhau) cho mỗi suất thừa kế; di sản phải được phân chia theo hiện vật nếu có yêu cầu của những người thừa kế
- Chia di sản cho hàng trước (theo thứ tự) và chia hết cho những người thừa k ế
Trang 38Phần III Thanh toán vổ phán chia di sản thừa kế
Điều 675 BLDS năm 2005 quy định diện những ngưòi thừa kế làm ba hàng (hãng thứ nhất, hàng thứ hai, hàng thứ ba) trước và sau như vậy là nhằm mục đích hàng nào được
ưu tiên chia trước, căn cứ để sắp xếp như vậy là dựa vào mức
độ quan hệ gần gũi, gắn bó thân thuộc với ngưòi để lại di sản
để xác định ai là hàng thứ nhất, hàng thứ hai, hàng thứ ba.Trước hết, di sản được chia đều cho những ngưòi ỏ hàng thừa kế thứ nhất Nếu không có ai hưởng thừa kế ở hàng này vì lý do sau:
- Ngưòi hưởng di sản chết trưóc người để lại di sản mà không có ngưòi hưồng thế vị theo Điều 677 BLDS năm 2005
- Đều bị Toà án "tước”quyền hưởng di sản theo Điều
643 BLDS năm 2005
- Đều bị người để lại di sản truất quyền hưỏng di sản
- Đều từ chôì quyền hưởng di sản
Trường hợp không có ai hưởng di sản ỏ hàng thừa kế thứ nhất vì những lý do nêu trên, thì di sản mới được chia đều cho những người ỏ hàng thừa kế thứ hai Tương tự như vậy, di sản lại được chuyển xuống và chia đều cho những ngưòi ở hàng thừa kế thứ ba
Trường hợp cả ba hàng đều không có ai nhận di sản thừa kế, thì di sản đó thuộc về Nhà nước(1>
- Chia di sản bằng nhau cho mỗi suất thừa k ế
m BLDS năm 2005, Điều 644.
Trang 39Di sản thừa kế theo pháp luật dân sự Việt Nam
Theo quy định tại khoản 2, Điều 676 BLDS năm 2005, thì những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau
Nếu có người thừa kế theo pháp luật của người để lại di sản chưa sinh ra vào thời điểm phân chia di sản, thì phải dành lại một phần bằng phần của ngưòi thừa kế khác để khi sinh ra ngưòi ấy sẽ hưỏng (nếu còn sông)
Nếu ngưòi thừa kế này chết trưốc khi sinh ra thì những người thừa kê khác được hưởng Nếu sinh ra rồi mới chết, thì phần di sản đó thuộc về người thừa kế của ngưồi này
Ví dụ: Ồng A chết, vợ ông đang mang thai được 8 tháng.Ông A còn có em là B
Ông có khối lượng di sản là 30 triệu đồng, ông không để lại di chúc Chúng ta xét các trường hợp có thể xảy ra sau đây:
- Trường hợp thai nhi còn sống thì di sản chia ba (30 triệu: 3) bằng 10 triệu đồng Một phần cho bà vợ A, phần cho B và một phần dành cho thai nhi
- Trưòng hợp thai nhi chết trước khi sinh ra thì 10 trịệu dành cho thai nhi sẽ chia đều cho vợ ông A và B
- Trưòng hợp thai nhi sinh ra một thời gian mới chết thì
10 triệu đồng này bà mẹ của đứa trẻ hưỏng (hưởng thừa kế
ở hàng thừa kế thứ nhất của đứa trẻ con bà) để lại
3 Phương thứp phân chia di sản thừa kế
Di sản được phân chia theo di chúc hay phân chia theo
Trang 40Phần III Thanh toán và phán chia di sản thừa kế
pháp luật, cũng sẽ áp dụng một hoặc cả hai phương thức sau đây:
3.1 Phương thức phân chia theo hiện vật
Phương thức này dùng tài sản là hiện vật tồn tại hiện hữu để chia cho những người thừa kế, họ sẽ trở thành chủ
sở hữu đối với phần tài sản được chia Đây là phương thức được áp dụng khi tài sản được định đoạt trong di chúc và người lập di chúc đã chỉ định một cách cụ thể người được nhận hiện vật đó hoặc những người thừa kế đã thỏa thuậnđược vối nhau hoặc được Tòa án chỉ định nhận hiện vật.• ề 0 • t • •
Trong trưòng hợp những người thừa kế được chia cùng một hiện vật mà hiện vật là vật chia được thì di sản cũng được chia trực tiếp bằng hiện vật Đốì với hoa lợi, lợi tức phát sinh từ hiện vật thuộc về ngưòi được phân chia hiện vật đó hoặc phải gánh chịu giá trị giảm sút tính đến thòi điểm phân chia di sản, mà không được yêu cầu những người thừa kế khác bù đắp phần giá trị bị giảm sút đó Nhưng, người thừa kế nhận hiện vật bị tiêu hủy sẽ được ngưồi có lỗi làm cho hiện vật đó bị tiêu hủy bồi thường thiệt hại, nếu ngưòi đó có yêu cầu
Áp dụng chia di sản theo phương thức này khi:
- Hiện vật là vật cùng loại hoặc là vật riêng biệt nhau
- Di sản là vật có thể phân chia được (chẳng hạn như vườn cây lâu năm, nhà ồ )
- Di chúc chỉ định ngưòi nhận hiện vật cụ thể
- Những ngưòi thừa kế thỏa thuận hoặc Tòa án chỉ