1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng tiêm chủng cho trẻ em dưới 1 tuổi và kiến thức, thực hành của bà mẹ về tiêm chủng mở rộng tại huyện bá thước tỉnh thanh hóa năm 2018

108 144 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 1,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lịch tiêm chủng các loại vắc xin Lịch tiêm chủng vắc xin cho trẻ dưới 24 tháng tuổi trong CTTCMR Sơ sinh - BCG phòng lao - Viêm gan B - 1 mũi - Vắc xin viêm gan B mũi 1 * Tốt nhất là 24

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÁI BÌNH

BÙI VĂN PHONG

THùC TR¹NG TI£M CHñNG CHO TRÎ EM D¦íI 1 TUæI

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÁI BÌNH

BÙI VĂN PHONG

THùC TR¹NG TI£M CHñNG CHO TRÎ EM D¦íI 1 TUæI

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn, ngoài sự nỗ lực của bản thân tôi còn nhận được sự giúp đỡ của các cơ quan, tập thể và cá nhân Nhân dịp này, tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban Giám hiệu, Phòng Quản lý Đào tạo Sau đại học - Trường Đại học Y Dược Thái Bình đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thiện bản luận văn cao học này

Đặc biệt, với lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi tới hai Thầy hướng dẫn của mình là NGND, PGS.TS Phạm Văn Trọng và NGND, PGS.TS Nguyễn Quốc Tiến đã trực tiếp hướng dẫn chỉ bảo tận tình cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thiện luận văn tốt nghiệp

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc Ban Giám đốc Trung tâm y tế huyện, các đồng nghiệp thuộc Khoa Kiểm soát dịch bệnh, Trung tâm Y tế huyện Bá Thước - nơi tôi công tác đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu

Tôi xin trân trọng cảm ơn Trạm Y tế các xã Điền Hạ, Thiết Ống, Ban Công, Lương Trung thuộc huyện Bá Thước đã giúp đỡ tôi trong quá trình triển khai nghiên cứu, thu thập số liệu để hoàn thành luận văn đúng tiến độ

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến cha mẹ, gia đình, bạn bè, đồng nghiệp - hậu phương vững chắc đã cho tôi động lực vươn lên trong học tập cũng như trong cuộc sống

Trân trọng cảm ơn!

Thái Bình, tháng 5 năm 2018

Bùi Văn Phong

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi là: Bùi Văn Phong, học viên khóa đào tạo trình độ Thạc sĩ

Chuyên ngành Y tế công cộng, của trường Đại học Y Dược Thái Bình

xin cam đoan:

1 Đây là luận văn do bản thân tôi trực tiếp thực hiện dưới sự hướng dẫn của thầy giáo: - PGS.TS Phạn Văn Trọng

- PGS.TS Nguyễn Quốc Tiến

2 Công trình này không trùng hợp với bất kỳ nghiên cứu nào khác đã được công bố tại Việt Nam

3 Các số liệu và thông tin trong nghiên cứu là hoàn toàn chính xác, trung thực và khách quan, đã được xác nhận và chấp thuận của nơi nghiên cứu

Tôi xin chịu trước pháp luật về những điều cam đoan trên

Thái Bình, ngày tháng 5 năm 2018

NGƯỜI CAM ĐOAN

Bùi Văn Phong

Trang 5

UNICEF : United Nations international chidren’s

VG B : Vắc xin Viêm gan B

VNNB : Vắc xin Viêm não Nhật Bản

VX : Vắc xin

WHO : Wordl Health Organization

(Tổ chức Y tế Thế giới)

Trang 6

MỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 3

1.1 Đại cương về vắc xin và tiêm chủng 3

1.1.1 Đại cương về vắc xin 3

1.1.2 Đại cương về tiêm chủng 4

1.2 Tỷ lệ tiêm chủng và một số yếu tố liên quan 10

1.2.1 Một số khái niệm về tiêm chủng 10

1.2.2 Một số yếu tố liên quan 11

1.3 Nghiên cứu tình hình tiêm chủng mở rộng 12

1.3.1 Trên thế giới 12

1.3.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam 17

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23

2.1 Địa bàn, đối tượng và thời gian nghiên cứu 23

2.1.1 Địa bàn nghiên cứu 23

2.1.2 Đối tượng nghiên cứu 25

2.1.3 Thời gian nghiên cứu 26

2.2 Phương pháp nghiên cứu 26

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 26

2.2.2 Cỡ mẫu và chọn mẫu nghiên cứu 27

2.2.3 Phương pháp thu thập số liệu 28

2.2.4 Các nhóm biến số trong nghiên cứu 29

2.3 Phương pháp xử lý, phân tích số liệu 32

2.4 Sai số và khống chế sai số 33

2.5 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 33

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 35

3.1 Thực trạng tiêm chủng và một số yếu tố liên quan 35

Trang 7

3.1.1 Thực trạng tiêm chủng 35

3.1.2 Một số yếu tố liên quan 39

3.2 Kiến thức, thực hành của bà mẹ về TCMR 43

3.2.1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu 43

3.2.2 Kiến thức, thực hành của các bà mẹ về TCMR 47

CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 57

4.1 Tỷ lệ tiêm chủng và một số yếu tố liên quan 57

4.1.1 Tỷ lệ tiêm chủng 57

4.1.2 Một số yếu tố liên quan đến tỷ lệ tiêm chủng 62

4.2 Kiến thức, thực hành của các bà mẹ về tiêm chủng mở rộng 68

KẾT LUẬN 79

KIẾN NGHỊ 80 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1: Thực trạng lưu trữ, bảo quản, cất giữ phiếu tiêm chủng cá nhân

của trẻ 36

Bảng 3.2: Tỷ lệ trẻ được tiêm chủng các loại vắc xin trong chương trình TCMR 36

Bảng 3.3: Lý do trẻ không được tiêm chủng đúng lịch 38

Bảng 3.4: Đề xuất để trẻ được tiêm đầy đủ đúng lịch 38

Bảng 3.5: Thực trạng sẹo lao ở trẻ 39

Bảng 3.6: Mối liên quan giữa tỷ lệ tiêm chủng với địa bàn nghiên cứu 39

Bảng 3.7: Mối liên quan giữa tỷ lệ tiêm chủng với trình độhọc vấn của bà mẹ 40

Bảng 3.8: Mối liên quan giữa tỷ lệ tiêm chủng với kinh tếcủa hộ gia đình 40

Bảng 3.9: Mối liên quan giữa tỷ lệ tiêm chủng với dân tộc của mẹ 41

Bảng 3.10: Mối liên quan giữa tỷ lệ tiêm chủng với khoảngcách từ nhà đến trạm 41

Bảng 3.11: Mối liên quan giữa tỷ lệ tiêm chủng với việc giữphiếu tiêm chủng cá nhân của trẻ 42

Bảng 3.12: Mối liên quan giữa tỷ lệ tiêm chủng với mức độ quan tâm của bà mẹ đến chương trình tiêm chủng mở rộng 42

Bảng 3.13: Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu 43

Bảng 3.14: Số con của các bà mẹ tham gia nghiên cứu 44

Bảng 3.15: Tình hình hôn nhân và số năm kết hôn củađối tượng 45

Bảng 3.16: Kiến thức của bà mẹ về mục đích của chương trình tiêm chủng mở rộng 47

Bảng 3.17: Kiến thức của bà me về vắc xin 49

Bảng 3.18: Kiến thức của bà mẹ về quy trình tiêm chủng 49

Trang 9

Bảng 3.19: Kiến thức của bà mẹ về lịch tiêm chủng 50Bảng 3.20: Kiến thức của bà mẹ về phản ứng sau tiêm 51Bảng 3.21: Kiến thức của bà mẹ về theo dõi sau tiêm chủng 52Bảng 3.22: Kiến thức của bà mẹ về việc hoãn và chống chỉđịnh tiêm chủng 53Bảng 3.23: Quan điểm của bà mẹ về mức độ an toàn của chương trình tiêm

chủng mở rộng 54Bảng 3.24: Lý do các bà mẹ đưa con đi tiêm chủng 54Bảng 3.25: Thực hành của đối bà mẹ về các dấu hiệu không đưa trẻ đi tiêm

chủng 54Bảng 3.26: Quan điểm của các bà mẹ về nhiệm vụ của cán bộ y tế để trẻ

được tiêm chủng đầy đủ 56

Trang 10

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1: Giới tính của trẻ theo địa bàn nghiên cứu 35

Biểu đồ 3.2: Tỷ lệ tiêm chủng vắc xin cho trẻ tại địa bàn nghiên cứu 37

Biểu đồ 3.3: Phân bố nhóm tuổi của đối tượng nghiên cứu 44

Biểu đồ 3.4: Tình trạng kinh tế của hộ gia đình 45

Biểu đồ 3.5: Khoảng cách từ nhà đến trạm 46

Biểu đồ 3.6: Nguồn thông tin về tiêm chủng của các bà mẹ 47

Biểu đồ 3.7: Kiến thức của bà mẹ về đối tượng của chương trình tiêm chủng mở rộng 48

Biểu đổ 3.8: Thực hành của bà mẹ trong việc mang phiếu TCMR 55

Trang 11

ĐẶT VẤN ĐỀ

Tiêm chủng mở rộng (TCMR) là một trong những chương trình có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong Y học dự phòng [15] Trung tâm Dự phòng và Kiểm soát bệnh tật Hoa Kỳ đã xếp tiêm chủng mở rộng đứng thứ 4 trong 10 thành tựu lớn nhất về y tế công cộng của thế kỷ XX Chương trình TCMR đã góp phần làm giảm đáng kể tỷ lệ mắc và chết của trẻ em dưới 5 tuổi do các bệnh truyền nhiễm[32] WHO ước tính nếu tất cả các vắc xin sẵn có hiện nay đều được sử dụng rộng rãi trên thế giới với tỷ lệ bao phủ cao trên 90%, hàng năm dự phòng 2-3 triệu trẻ em không bị chết vì các bệnh nhiễm trùng [9]

Chương trình TCMR được triển khai ở Việt Nam từ năm 1981 dưới sự

hỗ trợ của WHO và UNICEF để phòng 6 bệnh truyền nhiễm nguy hiểm là lao, bại liệt, bạch hầu, ho gà, uốn ván và sởi Từ đó tiêm chủng mở rộng không ngừng được đẩy mạnh và nâng cao, tỷ lệ mắc bệnh trong diện tiêm phòng cũng đã giảm xuống hàng năm [1]

Mặc dù thành quả và lợi ích của tiêm chủng đem lại là rất lớn tuy nhiên

ở nước ta trong quá trình thực hiện tiêm chủng thời gian qua cũng có một số nơi, một số thời điểm tỷ lệ tiêm chủng thấp và dịch bệnh nghiêm trọng vẫn xảy ra như sởi, bạch hầu, ho gà, viêm não Nhật Bản cướp đi sinh mạng của nhiều trẻ em Điều này càng cho thấy nếu trẻ em không được tiêm chủng hoặc tiêm chủng không đầy đủ, đúng lịch thì nguy cơ dịch bệnh quay trở lại là rất lớn, gây nguy hiểm cho sức khỏe trẻ em và toàn thể cộng đồng Mặt khác, bà

mẹ là đối tượng trực tiếp nuôi dưỡng và đưa trẻ đi tiêm chủng vì thế nhận thức của các bà mẹ về tiêm chủng sẽ ảnh hưởng đến thái độ của các bà mẹ về tiêm chủng Vấn đề thu thập thông tin về kiến thức, thái độ và thực hành của các bà mẹ có con dưới 1 tuổi trở lên hết sức cấp thiết giúp cho địa phương, cán bộ y tế tìm ra những mặt còn tồn tại và đưa ra giải pháp thích hợp nhằm nâng cao sức khỏe cộng đồng Các nghiên cứu gần đây cũng cho thấy các bà

mẹ vẫn chưa có kiến thức đúng và đủ về tiêm chủng mở rộng như nghiên cứu của Nguyễn Hữu Phúc (2017) chỉ có 81% các bà mẹ có kiến thức về tiêm

Trang 12

chủng đầy đủ cho trẻ [25], Nguyễn Phúc Duy (2011) số bà mẹ biết đúng số lần tiêm và biết đúng lịch tiêm chủng chỉ chiếm 24,7% và 28,4% [10]

Huyện Bá thước tỉnh Thanh Hoá là một huyện miền núi nằm phía Tây Bắc của tỉnh Thanh Hoá Có địa hình phức tạp, bao gồm đồi, núi, giao thông

đi lại khó khăn Trình độ dân trí còn nhiều hạn chế Tỷ lệ tiêm chủng năm

2015 cho trẻ dưới 1 tuổi chỉ đạt 89%, thấp hơn so với tỷ lệ tiêm chủng của toàn quốc (trên 90%) Đặc biệt theo báo cáo tỷ lệ tiêm chủng theo khu vực tại các xã/thị trấn trong huyện cho thấy các khu vùng sâu, xa có tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ thấp hơn khu vực các xã gần thị trấn [29] Mặt khác, chưa có báo cáo nghiên cứu nào về tình hình và kiến thức tiêm chủng của các bà mẹ có con dưới 1 tuổi Vì vậy để góp phần nâng cao chất lượng tiêm chủng mở rộng hiện nay trên địa bàn huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa chúng tôi tiến hành

nghiên cứu đề tài "Thực trạng tiêm chủng cho trẻ em dưới 1 tuổi và kiến thức, thực hành của các bà mẹ có con từ 12-24 tháng tuổi về tiêm chủng

mở rộng tại huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa năm 2018"

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU:

1 Xác định tỷ lệ tiêm chủng và một số yếu tố liên quan đến tỷ lệ tiêm chủng của trẻ em dưới 1 tuổi tại huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa năm 2018

2 Mô tả kiến thức, thực hành về tiêm chủng mở rộng của các bà mẹ có con

từ 12- 24 tháng tuổi tại địa bàn nghiên cứu

Trang 13

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN

1.1 Đại cương về vắc xin và tiêm chủng

1.1.1 Đại cương về vắc xin

Khái niệm vắc xin

Vắc xin là những kháng nguyên, được sản xuất từ vi khuẩn, vi rút, mảnh

vi sinh vật hoặc các chất bài tiết của chúng đã làm mất khả năng gây bệnh nhưng còn tính kháng nguyên [28]

Thành phần của vắc xin: kháng nguyên đặc hiệu, nước, muối đệm, chất bảo quản (như thiomersal hoặc phenol), chất ổn định (sorbitol và hydrolysed getalin trong vắc xin sởi - quai bị - rubella hoặc MgCl2 trong vắc xin bại liệt uống), tá chất (muối nhôm trong vắc xin uốn ván, DPT) Ngoài ra có thể có các thành phần khác như: chất tồn dư của môi trường nuôi cấy (tổ chức não chuột trong vắc xin dại Fluenzalida), kháng sinh neomycin, streptomycine trong vắc xin bại liệt tiêm, Varicella vắc xin [28]

Bảo quản vắc xin

Vắc xin phải được bảo quản đúng nhiệt độ theo đăng ký của nhà sản xuất với Bộ y tế Vắc xin phải được bảo quản riêng trong dây truyền lạnh theo quy định tại cơ sở tiêm chủng, không bảo quản chung với các sản phẩm khác Vắc xin phải được theo dõi các thông tin về nhiệt độ, điều kiện bảo quản hàng ngày Các vắc xin, nước hồi chỉnh hết hạn dùng hoặc có những dấu hiệu bất thường không sử dụng được, phải tiêu hủy và có biên bản [3]

Phản ứng do vắc xin

Thực chất vắc xin rất an toàn khi dùng cho trẻ Hầu hết các phản ứng của vắc xin thường nhẹ, ít biến chứng và nguy hiểm [3] Thường phân ra làm

2 loại phản ứng: phản ứng thường gặp và phản ứng hiếm gặp

Trang 14

Phản ứng thường gặp: phản ứng tại chỗ (đau, sưng, đỏ), sốt nhẹ (từ 37 đến 380C), có thể kích thích nhẹ, cảm giác khó chịu Những phản ứng trên là những phản ứng phụ cho phép Những loại phản ứng này có thể là một phần đáp ứng miễn dịch của cơ thể trẻ, ngoài ra cũng có thể do một số thành phần của vắc xin như tá chất, chất bảo quản vắc xin [2]

Phản ứng hiếm gặp: Mỗi loại vắc xin có phản ứng khác nhau [2]

Vắc xin BCG: Viêm hạch có mủ, viêm xương BCG, Nhiễm khuẩn BCG lan tỏa

Vắc xin viêm gan B: Sốc phản vệ

Vắc xin bại liệt uống: Liệt mềm liên quan đến vắc xin

Vắc xin Hib: Sốc phản vệ, hội chứng não-màng não, sốt cao co giật Vắc xin viêm não Nhật Bản: Ít gặp

Vắc xin sởi: Những cơn co giật có sốt, giảm tiểu cầu, phản ứng quá mẫn (dị ứng nặng), sốc phản vệ, bệnh não

Vắc xin DPT: Sốt cao co giật, hội chứng não, giảm trương lực cơ, cơn khóc thét

1.1.2 Đại cương về tiêm chủng

Khái niệm về tiêm chủng

Tiêm chủng là đưa vào cơ thể một hay nhiều kháng nguyên (vắc xin) (kháng nguyên này có thể là virus, vi khuẩn, các mảnh vi sinh vật, các chất bài tiết của chúng, độc tố của chúng đã làm mất khả năng gây bệnh nhưng còn tính kháng nguyên) để gây được miễn dịch chủ động cho người và động vật Tiêm chủng loại nào chỉ có tác dụng phòng loại bệnh đó [28]

Các trường hợp chống chỉ định và tạm hoãn tiêm chủng

- Các trường hợp chống chỉ định[5]

+ Trẻ có tiền sử sốc hoặc phản ứng nặng sau tiêm chủng vắc xin lần

trước như: Sốt cao trên 390C kèm co giật hoặc dấu hiệu não/màng não

Trang 15

+ Trẻ có tình trạng suy chức năng các cơ quan như suy hô hấp

+ Trẻ suy giảm miễn dịch chống chỉ định tiêm chủng vắc xin sống + Các trường hợp chống chỉ định khác theo hướng dẫn của nhà sản xuất

- Các trường hợp tạm hoãn [5]

+ Trẻ mắc các bệnh cấp tính, đặc biệt là bệnh nhiễm trùng

+ Trẻ sốt ≥ 37,50C hoặc hạ thân nhiệt ≤ 35,50C (đo nhiệt độ tại nách)

+ Trẻ mới dùng các sản phẩm globulin miễn dịch trong vòng 3 tháng

trừ trường hợp trẻ đang sử dụng globulin miễn dịch điều trị viêm gan B

+ Trẻ đang hoặc mới kết thúc liều điều trị corticoid trong vòng 14 ngày + Trẻ sơ sinh có cân nặng dưới 2000g

+ Các trường hợp tạm hoãn tiêm chủng khác theo hướng dẫn của nhà

sản xuất đối với từng loại vắc xin

Kỹ thuật tiêm chủng [5]

Kỹ thuật tiêm các loại vắc xin cho trẻ dưới 24 tháng tuổi

+ BCG: (trẻ sơ sinh: 0,05mg/0,1ml; trẻ trên 1 tuổi: 0,1mg/0,1ml); đường tiêm (tiêm trong da); vị trí tiêm (mặt ngoài phía trên cánh tay trái)

+ VGB: liều lượng (0,5ml); đường tiêm (tiêm bắp); vị trí tiêm (với trẻ nhỏ nên tiêm mặt ngoài giữa đùi)

+ DPT: liều lượng (0,5ml); đường tiêm (tiêm bắp); vị trí tiêm (mặt ngoài giữa đùi)

+ DPT-VGB-Hib: liều lượng (0,5ml); đường tiêm (tiêm dưới da hoặc tiêm bắp); vị trí tiêm (trẻ nhỏ mặt ngoài giữa đùi, trẻ lớn phần trên cánh tay)

+ OPV: liều lượng (2 gọt); đường dùng (uống)

+VNNB: liều lượng (trẻ dưới 5 tuổi 0,5ml; trẻ trên 5 tuổi 1 ml); đường tiêm (tiêm dưới da); vị trí tiêm (phần trên cánh tay trái)

Thực hiện vô trùng trong tiêm chủng [28]

Trong tiêm chủng cần đảm bảo vô trùng ở mọi khâu:

Trang 16

- Vắc xin phải đảm bảo vô khuẩn: cần lưu ý khi sản xuất, bảo quản và

sử dụng vắc xin tránh để vắc xin bị nhiễm khuẩn

- Dụng cụ tiêm chủng vô khuẩn: Sử dụng BKT đảm bảo vô trùng Hiện nay CTTCMR thường sử dụng BKT sử dụng một lần hoặc bơm tự khóa Tuy nhiên một số nơi không đủ cung cấp hoặc cung cấp không kịp thời, hoặc trong tiêm chủng thu phí có tự đi mua BKT sử dụng 1 lần, nhưng cần phải mua BKT có nguồn gốc rõ ràng và không được sử dụng những BKT đã thủng rách túi bảo quản hoặc quá hạn sử dụng Sau khi sử dụng BKT phải được bỏ ngay vào thùng hủy (hiện nay CTTCMR cung cấp hộp an toàn để các điểm tiêm chủng thu gom BKT đã sử dụng) BKT được hủy bằng cách thiêu đốt hoặc chôn sâu dưới đất ít nhất 50 cm

- Sự chuẩn bị của nhân viên y tế đúng quy định: Bàn tay sạch (phải rửa tay bằng xà phòng, lau khô trước khi làm các thao tác tiêm); có đầy đủ khẩu trang, mũ, quần áo công tác sạch sẽ gọn gàng

- Xử lý tại vết tiêm sau khi tiêm chủng đúng: Tại vết tiêm sau khi tiêm chủng không cần phải bôi bất cứ thứ gì để tránh nhiễm trùng tại vết tiêm

- Địa điểm tiêm chủng phải sạch, tránh gây bụi, xa các nguồn ô nhiễm,

đủ ánh sáng, đảm bảo đủ rộng để thực hiện nguyên tắc một chiều, tránh ùn tắc

và để tránh lây nhiễm chéo

Tư vấn tiêm chủng [5]

- Thông báo cho người được tiêm chủng hoặc cha mẹ, người giám hộ của trẻ về loại vắc xin được tiêm chủng lần này để phòng bệnh gì và số liều (mũi) cần tiêm

- Tư vấn cho gia đình, người được tiêm chủng về tác dụng, lợi ích của việc sử dụng vắc xin và những phản ứng có thể gặp sau tiêm chủng

- Giải thích những phản ứng có thể xảy ra sau tiêm chủng gồm phản ứng thường gặp như sốt nhẹ, sưng đau và các phản ứng nặng hơn như sốc phản vệ, sốt cao co giật

Trang 17

- Hướng dẫn cách chăm sóc, theo dõi sau khi tiêm chủng

- Tiếp tục theo dõi người được tiêm chủng tại nhà ít nhất 24 giờ sau tiêm chủng về các dấu hiệu sau: Toàn trạng, tinh thần, ăn, ngủ, thở, phát ban, phản ứng tại chỗ tiêm…Nếu trẻ tiêm chủng có biểu hiện sốt, cần phải cặp nhiệt độ và theo dõi sát, dùng thuốc hạ sốt theo chỉ dẫn của cán bộ y tế

* Không đắp bất cứ thứ gì lên vị trí tiêm

* Cần đưa ngay trẻ được tiêm chủng tới bệnh viện hoặc cơ sở y tế nếu sau tiêm chủng có những dấu hiệu sau: Sốt cao, bỏ bú, li bì, co giật, quấy khóc kéo dài, khó thở, tím tái, phát ban và các biểu hiện bất thường khác hoặc khi phản ứng thông thường kéo dài trên 1 ngày

* Nếu cha mẹ không yên tâm về sức khỏe của con mình sau khi tiêm chủng có thể đến gặp cán bộ y tế để được khám và tư vấn

Thực hiện tiêm chủng

- Pha hồi chỉnh vắc xin đông khô: Vắc xin đông khô cần pha hồi chỉnh

trước khi tiêm Chỉ pha hồi chỉnh vắc xin khi có người được tiêm chủng và đã sẵn sàng tiêm chủng Các bước pha hồi chỉnh vắc xin [5]

Bước 1: Kiểm tra nhãn của dung môi và vắc xin để đảm bảo dung môi của đúng nhà sản xuất, đúng loại vắc xin Không dùng dung môi của vắc xin này pha cho vắc xin khác, không dùng nước cất thay thế cho dung môi

Bước 2: Kiểm tra hạn sử dụng của dung môi và vắc xin để đảm bảo còn hạn sử dụng Dung môi phải được bảo quản lạnh ở nhiệt độ 2 đến 80C trước khi pha hồi chỉnh

Bước 3: Mở ống dung môi và vắc xin: Mở phần giữa của nắp lọ vắc xin hay lọ dung môi nơi có vòng tròn nhỏ, hoặc dùng cưa để mở

Bước 4: Sử dụng một BKT (5ml) vô trùng cho mỗi lần pha hồi chỉnh Hút toàn bộ dung môi trong lọ vào BKT vô trùng sau đó bơm toàn bộ dung môi vào lọ/ống vắc xin Trộn dung môi và vắc xin bằng cách hút từ từ dung

Trang 18

môi vào bơm tiêm sau đó bơm trở lại một vài lần cho đến khi bột vắc xin tan hết Không lưu kim tiêm trên nắp lọ vắc xin Bỏ bơm và kim tiêm pha hồi chỉnh vào hộp an toàn sau khi đã sử dụng

Bước 5: Vắc xin sau khi pha hồi chỉnh bảo quản trên miếng xốp trong phích vắc xin Sử dụng 1 BKT tự khóa để hút vắc xin và sử dụng chính BKT

đó để tiêm vắc xin cho đối tượng

Bước 6: Hủy bỏ tất cả vắc xin đã pha hồi chỉnh ngay cuối buổi tiêm chủng trong vòng 6 giờ đối với vắc xin sởi, trong vòng 4 giờ đối với các vắc xin BCG hoặc theo hướng dẫn của nhà sản xuất

- Các thao tác tiêm vắc xin

- Bước 1: Rửa tay bằng nước sạch và xà phòng

Bước 2: Kiểm tra lọ/ống vắc xin: loại vắc xin/dung môi, tình trạng của lọ/ống, màu sắc, nhãn, chỉ thị nhiệt độ, hạn sử dụng Đưa cho người được tiêm chủng hoặc cha mẹ, người giám hộ của trẻ xem lọ vắc xin trước khi TC

Bước 3: Lắc lọ vắc xin Không chạm vào nút cao su

Bước 4: Mở lọ/ống vắc xin

Bước 5: Đâm kim tiêm vào và dốc ngược lọ vắc xin lên để lấy vắc xin Bước 6: Lấy đủ liều tiêm đối với từng loại

Bước 7: Đẩy pít tông đuổi khí trong bơm tiêm

Bước 8: Tiêm vắc xin thực hiện 5 đúng (Đúng người được tiêm, đúng vắc xin, đúng đường, đúng liều, đúng thời điểm)

Vắc xin đông khô cần pha hồi chỉnh trước khi tiêm chủng [2]

Trang 19

Lịch tiêm chủng các loại vắc xin

Lịch tiêm chủng vắc xin cho trẻ dưới 24 tháng tuổi trong CTTCMR

Sơ sinh - BCG (phòng lao)

- Viêm gan B

- 1 mũi

- Vắc xin viêm gan B mũi 1

* Tốt nhất là 24 giờ sau khi sinh

2 tháng tuổi - Bại liệt

4 tháng tuổi - Bại liệt

- DPT-VGB-Hib

- Bại liệt lần 3

- Bạch hầu, Ho gà, Uốn ván, Viêm gan b, Hib mũi 3

9 tháng tuổi - Sởi - Mũi 1 khi trẻ đủ 9 tháng tuổi

- Mũi 2 tiêm khi trẻ 18 tháng tuổi

Phản ứng sau tiêm chủng

Phản ứng sau tiêm chủng là hiện tượng bất thường về sức khỏe bao gồm các biểu hiện tại chỗ tiêm chủng hoặc toàn thân xảy ra sau tiêm chủng không nhất thiết do việc sử dụng vắc xin, bao gồm phản ứng thông thường sau tiêm chủng và tai biến nặng sau tiêm chủng [5]

Phân loại phản ứng sau tiêm chủng như sau:

- Phản ứng của vắc xin: Phản ứng xảy ra do vắc xin

- Sai sót trong tiêm chủng: Phản ứng xảy ra do sai sót trong kỹ thuật tiêm

- Trùng hợp: Phản ứng xảy ra sau tiêm chủng nhưng không do vắc xin hoặc do sai sót trong tiêm chủng mà do sự trùng hợp ngẫu nhiên

Trang 20

- Phản ứng do tiêm: Phản ứng lo âu hoặc do bị tiêm đau

- Không rõ: Không xác định được nguyên nhân

1.2 Tỷ lệ tiêm chủng và một số yếu tố liên quan

1.2.1 Một số khái niệm về tiêm chủng

Tiêm chủng đầy đủ: Một trẻ được tiêm chủng đầy đủ là trẻ được tiêm

đầy đủ các loại vắc xin tính theo nhóm tuổi quy định trong CTTCMR [18]

Tiêm chủng không đầy đủ: Một trẻ tiêm chủng không đầy đủ là trẻ

không được tiêm đầy đủ các loại vắc xin tính theo nhóm tuổi quy định trong CTTCMR [18]

Tiêm chủng đầy đủ đúng lịch: Một trẻ được tiêm chủng đầy đủ đúng

lịch là trẻ được tiêm đầy đủ các loại vắc xin tính theo nhóm tuổi quy định theo đúng lịch trong CTTCMR [18]

Tiêm chủng đầy đủ không đúng lịch: Một trẻ được tiêm chủng đầy

đủ không đúng lịch là trẻ được tiêm đầy đủ các loại vacxin nhưng không được tiêm các vacxin đúng theo lịch đã quy định trong Chương trình TCMR [18]

Tiêm chủng đầy đủ cho trẻ dưới 12 tháng tuổi

Một trẻ dưới 12 tháng tuổi được tiêm chủng đầy đủ: là khi nhận được đủ 5 loại vắc xin (Viêm gan B, BCG, OPV, DPT-VGB-Hib, Sởi) và đủ liều các loại vắc xin như sau: 1 lần tiêm vắc xin BCG (phòng bệnh lao), 3 lần uống OPV (phòng bệnh bại liệt), 3 lần tiêm vắc xin DPT-VGB-Hib (phòng 5 bệnh: Bạch hầu, ho gà, uốn ván, viêm gan B, viêm phổi, viêm màng não mủ do Hib), 1 lần tiêm vắc xin Sởi [27]

Sẹo lao

Sau khi tiêm phòng lao 3-4 tuần sẽ thấy cục nhỏ nổi lên tại vùng tiêm rồi

to dần lên, mặt da sưng bóng đỏ Sau 6 tuần xuất hiện một lỗ rò tiết dịch trong

2-3 tuần rồi làm vẩy Đến khoảng tuần thứ 9-10 hình thành vòng tròn khoảng 5-6

Trang 21

mm, xung quanh có quầng màu đỏ, vài tuần vẩy rụng đi dần thành sẹo Sẹo có màu trắng và hơi lõm so với mặt da [8] [18]

Phân vùng

- Vùng cao: Đó là các xã có giao thông đi lại khó khăn Kinh tế, văn hoá -

xã hội phát triển chậm Tỷ lệ hộ đói nghèo vẫn còn cao, có xã còn trên 28% [6]

- Vùng thấp: Là vùng có điều kiện địa lý thuận lợi, dân cư sống tập trung; Giao thông thuận tiện, kinh tế, văn hoá - xã hội phát triển, tỷ lệ hộ nghèo thấp hơn (dưới 21%) [6]

1.2.2 Một số yếu tố liên quan

Các yếu tố của bà mẹ

Bà mẹ là những đối tượng trực tiếp nuôi dưỡng trẻ và đưa trẻ đi tiêm chủng do đó nhận thức của bà mẹ về tiêm chủng sẽ ảnh hưởng đến thái độ thực hành của bà mẹ về tiêm chủng Trình độ học vấn, nghề nghiệp của bà mẹ cũng như yếu tố dân tộc của bà mẹ cũng là những yếu tố ảnh hưởng đến tiêm chủng Khi bà mẹ có trình độ học vấn tốt, nghề nghiệp ổn định sẽ giúp bà mẹ

có kiến thức và kỹ năng tốt về tiêm chủng cũng như lợi ích của tiêm chủng mang lại cho trẻ [18] [9]

có của các loại vắc xin cũng như dây chuyền lạnh để bảo đảm chất lượng vắc

Trang 22

xin Về phía con người đó là kỹ thuật tiêm của cán bộ có đúng cách hay không, thái độ của họ đối với đối tượng tiêm chủng như thế nào, ở cơ sở có

đủ số bác sỹ, y sỹ phục vụ cho việc tiêm chủng hay không [18] [9]

Năm 1974, WHO đã đề xướng chương trình nhằm thực hiện mục tiêu

“Sức khoẻ cho mọi người vào năm 2000” Đó là chương trình tiêm chủng mở rộng, viết tắt theo tiếng Anh là EPI (Expanded Programe on Immunization) CTTCMR đã nhận được sự ủng hộ của tất cả các nước thành viên, các tổ chức trên thế giới [19],[38]

Nghiên cứu của tác giả Rehman và cộng sự ở vùng có thảm họa động đất tại Pakistan trong năm 2007-2008 cho thấy: trong số 860 trẻ từ 12 đến 24 tháng được khảo sát có 74% trẻ em được tiêm chủng đầy đủ Những nguyên nhân khiến trẻ không được tiêm chủng đầy đủ là: gia đình trẻ cách xa hơn 10 phút bằng phương tiện vận chuyển so với nơi tiêm chủng, người mẹ không có bằng cấp, gia đình trẻ có điều kiện kinh tế khó khăn và những trẻ em gái thuộc dân tộc thiểu số [58]

Nghiên cứu của Fisker tại Guinea-Bissau cho thấy: năm 2007 và năm

2009 tỷ lệ trẻ em dưới 12 tháng tuổi được tiêm chủng đầy đủ đều là 53%, tỷ lệ tiêm DPT3 tăng từ 73% (2007) lên 81% (2009), còn tỷ lệ tiêm vắc xin sởi giảm

từ 71% (2007) còn 66% (2009) [39]

Tại Colombia theo Garcia mặc dù chương trình tiêm chủng tại đây được thành lập từ năm 1979 và tất cả các loại vắc xin đều có lợi cho sức khỏe, tuy nhiên đến năm 2010 tỷ lệ tiêm chủng đã bị suy giảm và chỉ có 98,7% đối tượng

Trang 23

còn giữ phiếu tiêm chủng Nghiên cứu cũng cho thấy có 6 nhóm yếu tố liên quan đến tỷ lệ tiêm chủng gồm: Các yếu tố liên quan đến chăm sóc trẻ (24,4%), nhân viên y tế tại các cơ sở y tế (19,7%), trung tâm y tế của các huyện (18,0%), hệ thống y tế (13,4%), lo ngại về các phản ứng bất lợi sau tiêm chủng (13,1%), các văn hóa tín ngƣỡng tôn giáo (11,4%) [40]

Nghiên cứu của Animaw tại Ethiopia cho thấy có 73,2% trẻ em ở Town Minch Arba và huyện Arba Minch Zuria đƣợc tiêm chủng đầy đủ, còn lại 20,3% đƣợc tiêm chủng một phần và 6,5% chỉ đƣợc nhận vắc xin [35]

Một nghiên cứu khác của Chan Soeung tại Campuchia trong năm 2010 cho thấy có hơn 20% trẻ em đƣợc khảo sát không đƣợc tiêm chủng đầy đủ, chủ yếu là từ những gia đình nghèo, có trình độ văn hóa và dân trí thấp [38]

Năm 2011, ƣớc tính có khoảng 83% trẻ em trên thế giới nhận đƣợc ít nhất

ba liều DPT, năm 2009 (82%), năm 2010 (85%) Trong số 194 quốc gia thành viên WHO, có 130 quốc gia (67%) đạt tỷ lệ tiêm chủng DPT ≥ 90% Hơn một nửa trong số các em không nhận đủ DPT ở 3 quốc gia: Ấn Độ, Nigenia và Indonesia [37] [33]

Một nghiên cứu của Maina về tỷ lệ tiêm chủng và các yếu tố liên quan

ở trẻ em trong độ tuổi từ 12-23 tháng trong một khu vực ven đô của Kenya cho thấy: Tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ là 76,6%, vắc xin BCG (99,5%), vắc xin OPV (97,6%) trong đó OPV 1 (98,7%), OPV2 (96,6%), OPV3 (90,5%), sởi (77,4%) [53]

Cũng theo kết quả nghiên cứu của Mohamud về tỷ lệ tiêm chủng của trẻ

em 12-23 tháng tuổi và các yếu tố liên quan ở huyện Jigjiga, Somali, Ethiopia cho kết quả: có 74,6% trẻ em đƣợc khảo sát đã từng tiêm chủng, trong đó có 36,6% đƣợc tiêm chủng đầy đủ, tiêm phòng vắc xin OPV0/OPV1, OPV2, OPV3 lần lƣợt là 10,4%, 41,1%, 33,9%, 27,5%, có 24,9% đối tƣợng tiêm phòng vắc xin phòng sởi [55]

Trang 24

Tại The Greenwood nghiên cứu trong số 7.363 trẻ em thì tỷ lệ tiêm chủng vắc xin sởi là 73%, BCG là 86%, DPT là 79% Tỷ lệ đối tượng được tiêm chủng đầy đủ là 52% Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng: các yếu tố liên quan đến tỷ lệ tiêm chủng là địa bàn cư trú và dân tộc, với những trẻ em ở khu vực ven đô thị và dân tộc Mandinka thì ít có khả năng được tiêm chủng [42]

Theo ước tính của WHO, tính đến hết năm 2013, có đến 84% - tương ứng 112 triệu trẻ em được tiêm chủng đầy đủ 3 liều vắc xin DPT trên toàn thế giới, bảo vệ trẻ em trước nguy cơ tử vong và tàn tật Trong đó, 129 nước có

tỷ lệ bao phủ 3 mũi vắc xin này đến trên 90% Tỷ lệ trẻ em nhận được một liều vắc xin sởi trước 2 tuổi cũng đạt tới 84% và có 148 quốc gia cũng đã triển khai đưa mũi sởi 2 vào CTTCMR [57],[60]

Tại 183 quốc gia trên thế giới đã được tiếp cận và triển khai vắc xin viêm gan B và vắc xin phối hợp Tỷ lệ bao phủ toàn cầu của 3 liều vắc xin viêm gan

B đạt 81%, riêng khu vực Tây Thái Bình Dương tỷ lệ đạt đến 92% [60] [59]

Nhiều loại vắc xin tiêm phòng bệnh nguy hiểm khác cũng đạt tỷ lệ bao phủ cao trên toàn thế giới như: Uốn ván với 82% trẻ được bảo vệ tại 103 quốc gia, bại liệt 84% trên thế giới và khu vực Tây Thái Bình Dương đã thanh toán bại liệt từ năm 2000 [61] [34]

Mặc dù đã có nhiều nỗ lực cải thiện tỷ lệ tiêm chủng các loại vắc xin trong những năm qua Tuy nhiên, vẫn có một khoảng cách lớn giữa các quốc gia

có tỷ lệ tiêm chủng cao và quốc gia có tỷ lệ tiêm chủng thấp Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là việc nhiều quốc gia đang phát triển, nguồn lực y tế còn hạn chế, những chính sách ưu tiên trong chăm sóc sức khỏe không thuận lợi, sự yếu kém trong quản lý y tế cũng như quá trình theo dõi và giám sát các hoạt động y

tế không đầy đủ [64] [41]

Năm 2013, trung bình cứ 5 trẻ lại có 1 trẻ không được tiếp cận với tiêm chủng Ước tính trên toàn thế giới có khoảng 21,8 triệu trẻ không được tiêm vắc

Trang 25

xin phòng bệnh Trong số 22 triệu trẻ không được tiêm ngừa bạch hầu, ho gà, uốn ván có nhiều trẻ em sống ở các nước thuộc nhóm quốc gia nghèo nhất thế giới Hiện nay, vẫn có khoảng 1,5 triệu trẻ em chết vì những bệnh có thể phòng được bằng vắc xin Hơn một nửa trong số này ở các quốc gia như: Ấn Độ, Nigeria và Pakistan [56] [43]

Theo tác giả Okwo-Bele - Giám đốc bộ phận tiêm chủng của WHO cảnh báo, tiến độ của tiêm chủng trong vài năm gần đây đang chậm lại Trong đó nguyên nhân được đề cập đến tình trạng trên là do giá vắc xin, hệ thống y tế yếu kém và không có cơ hội tiếp cận với vắc xin ở các nước nghèo Xung đột vũ trang và tình trạng bất ổn an ninh cũng hạn chế khả năng tiếp cận dịch vụ tiêm chủng của người dân Tình trạng khẩn cấp, chẳng hạn như dịch Ebola tại Tây Phi cũng ảnh hưởng đến tỷ lệ tiêm chủng Tỷ lệ tiêm ngừa tại Guinea, Liberia và Sierra Leone giảm tới 30% trong giai đoạn dịch Ebola hoành hành tại ba nước này [52] [44]

Tại các nước phát triển, nơi tỷ lệ tiêm chủng nói chung cao, vẫn có một

bộ phận nhỏ người dân không đưa con đi tiêm chủng và đó là nguyên nhân gây

ra bùng phát dịch sởi gần đây tại Mỹ và một số quốc gia phương Tây khác Nhiều nghiên cứu cũng nhận định nguyên nhân bùng phát dịch sởi trở lại nhiều khả năng là do tỷ lệ tiêm chủng tại Mỹ thấp (từ 50-86%) [47] [42]

Còn tại các nước phát triển, tỷ lệ tiêm chủng thấp có thể là do thái độ chủ quan cho rằng nhiều căn bệnh chết người có thể phòng ngừa được bằng vắc xin khi dịch xuất hiện Ngoài ra, nhiều gia đình lo sợ rằng: vắc xin phòng sởi, quai

bị, rubella làm tăng khả năng mắc bệnh tự kỷ, bất chấp hàng loạt nghiên cứu khoa học khẳng định lo lắng này là không có cơ sở [47] [45]

Nghiên cứu 10.644 trẻ em nhẹ cân ở nông thôn Haryana của Ấn Độ năm

2017 cho kết quả 98,8% trẻ được chích ngừa vắc xin, ít hơn 1/3 (29,7%) đã

Trang 26

được tiêm chủng đầy đủ trước năm thứ nhất Tỷ lệ trẻ tiêm chủng chậm DPT1

và DPT3 lần lượt là 52% và 81% [61]

Kết quả một cuộc khảo sát của tác giả Oryema và cộng sự về tiêm chủng ở trẻ em từ 10-23 tháng tuổi tại Uganda (2017): 87,4% trẻ em đã từng

sử dụng dịch vụ TCMR nhưng chỉ có 3,6% trẻ em hoàn thành lịch tiêm chủng bằng các dịch vụ TCMR Phần lớn (97%) người chăm sóc trẻ biết được lợi ích của việc tiêm chủng nhưng chỉ có 19% đối tượng biết đến ít nhất

4 loại bệnh có thể phòng ngừa được Chỉ có 29% người chăm sóc trẻ biết lịch tiêm và 56% biết tên vắc xin hay bệnh kết thúc lịch tiêm chủng [57]

Một nghiên cứu được tiến hành tại thành phố Karachi từ tháng 6 năm

2015 đến tháng 10 năm 2015 về kiến thức tiêm chủng của cha mẹ có con dưới 5 tuổi: Có 59,09% và 64,43% cha mẹ đã trả lời đúng về số lần tiêm chủng trong năm thứ nhất và năm thứ 2 của trẻ Khoảng 28,12% cha mẹ không biết tên và số liều vắc xin bị bỏ lỡ; 31,78% cha mẹ trả lời rằng con của

họ đã bỏ lỡ một hoặc nhiều loại vắc xin thông thường Tỷ lệ cha mẹ thiếu kiến thức về lịch tiêm chủng (28,68%), lo ngại về tác dụng phụ của vắc xin (21,31%); trẻ bị bệnh (17,21%) và thiếu lòng tin về chính phủ (10,65%) là những yếu tố khiến trẻ không được tiêm vắc xin đầy đủ và đúng lịch [63]

Một nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến việc tiếp cận thông tin về tiêm chủng định kỳ của các bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại Kaduna State Nigeria năm 2015 cho thấy: Trong số 379 đối tượng nghiên cứu chỉ có 15,6% trẻ em được tiêm chủng đầy đủ; 75% bà mẹ trả lời không nhận được thông tin về tiêm chủng định kỳ trong vòng 12 tháng trước khi nghiên cứu; khoảng 64%

bà mẹ có kiến thức về tiêm chủng không đạt yêu cầu và 55,4% bà mẹ có nhận thức kém về tiêm chủng định kỳ Nguồn thông tin họ tiếp cận phổ biến nhất là radio (61,61%) [49]

Trang 27

Theo số liệu từ Điều tra Y tế Quốc gia (NHMS) tại Malaysia năm 2016:

Có 8.920 (86,4%) trẻ em từ 12-23 tháng tuổi được tiêm chủng đầy đủ Các yếu tố dân tộc, trình độ học vấn của người mẹ, chủ hộ gia đình có mối liên quan đến việc tiêm chủng đầy đủ Trong khi đó hoạt động tình dục, quốc tịch, thu nhập hộ gia đình, tuổi của mẹ và tình trạng hôn nhân lại không liên quan đáng kể với phạm vi tiêm chủng đầy đủ [47], [50], [48]

Nghiên cứu của Meleko tại Tây Nam Ethiopia (2017) cho thấy có 91,6% trẻ em được tiêm ít nhất một liều vắc xin; 8,4% trẻ em không được tiêm mũi nào; 49,4% trẻ em được tiêm chủng một phần và chỉ có 42,2% trẻ

em được tiêm chủng đầy đủ Có 65,8% các bà mẹ biết rằng mục đích của tiêm chủng cho trẻ là ngăn ngừa bệnh tật trong khi 27% đối tượng không biết mục đích nào của tiêm chủng Họ tiếp cận thông tin chủ yếu từ loa phát thanh (32,4%); nhân viên y tế (24,9%); truyền hình (24,6%); trường học (11,5%) và bạn bè (6,6%) [36]

1.3.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam

Chương trình TCMR bắt đầu được triển khai ở Việt Nam từ năm 1981 với

sự hỗ trợ của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Quỹ Nhi đồng Liên hợp Quốc (UNICEF) Việt Nam là nước thứ 2 trên thế giới ký công ước về quyền trẻ em đưa Chương trình TCMR là một trong sáu chương trình quốc gia y tế ưu tiên với mục tiêu phổ cập tiêm chủng cho toàn thể trẻ em dưới 1 tuổi được tiêm chủng đầy đủ 6 loại vắc xin (lao, bạch hầu, ho gà, uốn ván, bại liệt và sởi) vào năm

Trang 28

giấy tờ Một đánh giá được tiến hành vào năm 2015 tại Bến Tre để đánh giá tác động của ImmReg Đối tượng nghiên cứu bao gồm tất cả trẻ em sinh ra ở Bến Tre trong tháng 9 và tháng 10 năm 2013, năm 2014 và năm 2015 kết quả cho thấy tỷ lệ tiêm vắc xin Quinvaxem tăng từ 56,3% lên 77,2%; tỷ lệ tiêm vắc xin sởi 1 tăng từ 70,4% lên 92,3% Tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ của trẻ em dưới 1 tuổi tăng đáng kể từ 75,4% (năm 2013) lên 81,7% (năm 2014) và lên 99,2% (năm 2015) Ngoài ra 93,3% số người được phỏng vấn sẵn sàng trả chi phí tin nhắn để nhận được nhắc nhở lịch tiêm [25]

Năm 2005, Nguyễn Văn Hiến tiến hành nghiên cứu tại Hương Sơn, Hà Tĩnh về thực trạng tiêm chủng cho kết quả: 100% trẻ em được tiêm chủng đầy đủ; tỷ lệ có phiếu tiêm chủng 59,2% đến 60,8% Một số yếu tố liên quan đến mắc sởi và uốn ván sơ sinh như: Tỷ lệ bà mẹ biết về CTTCMR thấp (60%), có 1,3% đến 1,6% không đi tiêm phòng uốn ván lúc mang thai [13]

Năm 2009, Đào Văn Khuynh nghiên cứu tình hình tiêm chủng ở trẻ

em dưới 1 tuổi và một số yếu tố liên quan tại huyện Thới Bình tỉnh Cà Mau cho thấy: Tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ là 77,94%, tiêm chủng đầy đủ đúng lịch 54,62% Các yếu tố liên quan đến tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ đúng lịch gồm: Tuổi đời bà mẹ, nghề nghiệp, học vấn, kiến thức của bà mẹ về: Mục đích tiêm chủng, lịch tiêm, phản ứng sau tiêm, thời gian tổ chức một đợt tiêm chủng, địa điểm tiêm chủng, các loại vắc xin cần tiêm, thái độ về phản ứng sau tiêm chủng, sự thuận tiện của điểm tiêm, sự phục vụ của nhân viên y tế [20]

Theo tác giả Trần Thị Kiệm nghiên cứu tại Tiên Lãng, Hải Phòng (2010)

về tỷ lệ tiêm chủng từng loại vắc xin cơ bản của trẻ < 5 tuổi và xác định một

số yếu tố ảnh hưởng đến việc chưa tiêm chủng đầy đủ Kết quả cho thấy: Tỷ

lệ tiêm phòng đối với từng loại vắc xin ở trẻ dưới 5 tuổi tại huyện đạt mức cao, đều trên 95% Tuy nhiên tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ ở trẻ dưới 5 tuổi đạt 93,4%; và chỉ đạt 89,84% ở trẻ dưới 1 tuổi, thấp hơn so với tỷ lệ trung bình

Trang 29

của cả nước Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ tiêm chủng là hộ gia đình có kinh

tế quá nghèo, nhà ở xa trạm xá và hiểu biết về tiêm chủng cho trẻ em của các

bà mẹ không đúng [19]

Năm 2015, Hoàng Đức Phúc và CS nghiên cứu tại Hà Nội cho thấy: 97,7% trẻ em dưới 1 tuổi được tiêm chủng đầy đủ 7 loại vắc xin cơ bản Trong đó vắc xin phòng lao, bạch hầu, ho gà, uốn ván, bại liệt, viêm gan B là 100%, sởi đạt 97,7% [24]

Năm 2014, Phạm Thị Kim Dung nghiên cứu tại 4 huyện vùng cao phía Bắc của tỉnh Hà Giang cho kết quả: Tỷ lệ trẻ em dưới 1 tuổi được tiêm chủng đầy đủ các loại vắc xin trong CTTCMR là 84,5% Trong đó tỷ lệ tiêm chủng BCG (88%), Viêm gan B sơ sinh (12,8%), sởi (90,5%), DPT-VGB-Hib (88%), OPV3 (90,5%) [8]

Theo nghiên cứu của Nguyễn Tuấn và cộng sự tại Hà Tĩnh cho thấy:

Tỷ lệ trẻ tiêm chủng đầy đủ đạt 82,8% trong đó tỷ lệ tiêm chủng lao đạt 99,2%, viêm gan B đơn giá đạt 82%, DPT-VGB-Hib mũi 3 là 82,2% Còn kiến thức của các bà mẹ như sau: 78,2% hiểu đúng lợi ích của tiêm chủng, 34,5% biết đầy đủ 8 bệnh trong Chương trình TCMR, 43,3% biết đầy đủ lịch tiêm chủng các loại vắc xin, 7,3% biết đầy đủ các phản ứng phụ sau tiêm chủng [31]

Theo báo cáo của tác giả Nguyễn Trần Hiển năm 2014 có 1.699.072 trẻ em dưới 1 tuổi được tiêm chủng đầy đủ đạt 97,1%, tỷ lệ tiêm chủng hầu hết các loại vắc xin đều tương đương hoặc cao hơn năm 2013 và đều đạt trên 95%, riêng vắc xin Quinvaxem đạt ở mức cao (95,2%) tăng so với năm 2013 (82,9%) Có 61/63 tỉnh, thành phố đạt tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ cho trẻ dưới 1 tuổi trên 90%, có 648/704 (92%) quận, huyện đạt tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ cho trẻ dưới 1 tuổi ≥ 90%, tăng mạnh so với năm 2013 (60,3%) [21]

Trang 30

Theo nghiên cứu của Nguyễn Hữu Phúc và cộng sự tại Lâm Đồng năm 2016-2017 chỉ có 26,6% bà mẹ biết cách chăm sóc trẻ sau tiêm tại nhà và 12,4% có kiến thức đầy đủ về tiêm chủng Kết quả trên cho thấy sự cần thiết truyền thông hướng dẫn tiêm chủng an toàn cho các bà mẹ [25]

Kết quả nghiên cứu của Ngô Khánh Hoàng và cộng sự tại Hà Nội năm

2016, có 42,3% trẻ được tiêm chủng đầy đủ và đúng lịch, trong đó có 88,8% trẻ được tiêm chủng bằng vắc xin miễn phí trong TCMR và 11,2% trẻ tiêm vắc xin dịch vụ Kết quả nghiên cứu cho thấy những trẻ sử dụng vacxin dịch

vụ có khả năng được tiêm chủng đầy đủ, đúng lịch thấp hơn so với những trẻ

sử dụng vắc xin miễn phí Lý do khiến các bà mẹ lựa chọn TCDV vì cho rằng

“Vắc xin tốt hơn” chiếm 35,4% và “Tiêm được vào bất kỳ thời gian nào” chiếm 21,2% [14]

Một nghiên cứu khác tại Hà Nội của Nguyễn Nhật Cảm và cộng sự năm 2016, kết quả nghiên cứu cho thấy 84,3% trẻ em dưới 1 tuổi được tiêm đầy đủ 8 loại vắc xin và tỷ lệ tiêm đúng lịch là 42,3% Lý do chủ yếu khiến trẻ không được tiêm đúng lịch là do trẻ ốm chiếm 52% và do gia đình chờ đợi

để tiêm vắc xin dịch vụ chiếm 21,7% Có mối liên quan giữa yếu tố tuổi mẹ, học vấn của mẹ, số thứ tự con, số lần nằm viện của trẻ và khu vực sinh sống của trẻ với việc trẻ được tiêm chủng đầy đủ và đúng lịch [7]

Nghiên cứu tại Hải Phòng của Lê Trần Tuấn Anh và cộng sự năm

2015, kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ trẻ dưới 12 tháng tuổi được tiêm vắc xin của chương trình TCMR là 100% Tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ 8 loại vắc xin

là 64,8%; tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ, đúng lịch cả 8 loại vắc xin là 51,9% Tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ từng loại vắc xin là: VGB - 0 đạt 67,3%; BCG đạt 98,1%; Quinvaxem đạt 97,5%, OPV đạt 97,5%; sởi - 1 đạt 98,8%, tỷ lệ trẻ có sẹo lao đạt tiêu chuẩn 92% Tỷ lệ trẻ nam được tiêm chủng đầy đủ, đúng lịch đạt 41,1% thấp hơn tỉ lệ ở trẻ nữ (67,2%)(p = 0,001) [1]

Trang 31

Kết quả nghiên cứu về kiến thức thực hành của các bà mẹ có con đủ 12 tháng tuổi về tiêm chủng mở rộng tại Hải Dương năm 2014-2015 cho thấy tỷ

lệ các bà mẹ biết đúng lịch tiêm chủng ở thị trấn và nông thôn là 100% Tỷ lệ các bà mẹ biết các bệnh phòng được trong CTTCMR ở thị trấn và nông thôn là: Lao, Hib, bại liệt (100%); sởi (98%); viêm gan B (97%); bạch hầu, ho gà, uốn ván (92,3%) Tỷ lệ các bà mẹ biết được trường hợp trẻ vẫn được tiêm chủng để đảm bảo đúng lịch tiêm ở thị trấn và nông thôn: Trẻ đang mọc răng (61,6%); trẻ bị suy dinh dưỡng (16,8%); trẻ sốt nhẹ (8,6%); trẻ tiêu chảy nhẹ

là (7%); trẻ ho, chảy nước mũi và không có sốt là (6%) Tỷ lệ hiểu biết của các bà mẹ về các dấu hiệu sau tiêm phòng lao ở thị trấn và nông thôn: Sưng

đỏ tại chỗ tiêm, sẹo (100%); sốt (34,6%); bỏ bú, chán ăn (6,3%) Nguồn thông tin cho các bà mẹ về tiêm chủng ở thị trấn và nông thôn: Qua loa, đài chiếm tỷ

lệ cao nhất (100%); qua y tế thôn và cộng tác viên (79%) và thấp nhất là qua trạm y tế (21%) [12]

Theo nghiên cứu của tác giả Dương Thị Hồng tại Quảng Ninh (2015), kết quả cho thấy trong 210 trẻ dưới 1 tuổi được tiêm chủng trong năm 2013,

2014 có 65% trẻ được tiêm chủng đầy đủ Trong 8 loại vắc xin tiêm cho trẻ dưới 1 tuổi trong CTTCMR: 100% trẻ được tiêm vắc xin BCG và có sẹo BCG; có 30% trẻ không được tiêm phòng đủ 3 liều DPT, 3 liều VGB, 3 liều Hib và 3 liều OPV; tỷ lệ trẻ tiêm vắc xin sởi là thấp nhất (66,2%) Lý do cao nhất khiến trẻ tiêm chủng không đầy đủ là sợ tác dụng phụ sau tiêm chủng (48%), sau đó là trẻ hoãn tiêm (33,3%) và thấp nhất là cân nhắc lựa chọn vắc xin khác (18,7%) Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy bà mẹ có kiến thức đạt

về tiêm chủng đầy đủ thì thực hành cho trẻ đi tiêm chủng (74,3%) cao hơn

những bà mẹ có kiến thức không đạt [15]

Kết quả nghiên cứu của Trần Danh Huế và cộng sự năm 2012 trong

556 bà mẹ có con dưới 12 tháng tuổi tại huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên: Có

Trang 32

81,3% bà mẹ có kiến thức về sự cần thiết phải tiêm chủng; 33,3% bà mẹ có kiến thức về lịch tiêm chủng; 30,8% bà mẹ có kiến thức về bệnh có thể phòng được khi tiêm chủng Tỷ lệ bà mẹ chấp nhận tiêm chủng cho con đủ liều và đúng lịch là 87% [17]

Theo kết quả nghiên cứu của tác giả Vũ Thị Kim Dung tại 6 Trạm Y tế thành phố Thái Bình năm 2015: Tỷ lệ trẻ tiêm chủng đầy đủ ở trẻ dưới 24 tháng tuổi là 97,4% trong đó tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ và đúng lịch là 74,8%

Tỷ lệ tiêm chủng các loại vắc xin đều đạt trên 90% trong đó tỷ lệ tiêm đầy đủ vắc xin DPT-VGB-Hib là thấp nhất (90,2%); cao nhất là tỷ lệ uống vắc xin bại liệt (98%); tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ các loại vắc xin còn lại chiếm từ 92,8% (sởi) đến 97,9% (viêm gan B) Nhóm tuổi mẹ từ 25 đến 34 có tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ đúng lịch cao nhất (65%), nhóm tuổi mẹ từ 35 trở lên có tỷ

lệ tiêm chủng đầy đủ thấp nhất (11,8%) [3] Các yếu tố liên quan đến tỷ lệ tiêm chủng là địa bàn nghiên cứu, trình độ học vấn của mẹ, tình trạng hôn nhân và mức độ quan tâm của bà mẹ đến CTTCMR [9] [22]

Tỷ lệ tiêm chủng ở các nơi các vùng, các địa bàn ở các thời gian khác nhau thì không giống nhau Tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ các loại vắc xin trên toàn quốc trong năm năm trở lại đây luôn giữ ở mức cao (trên 95%) [16] [27] Đây

là một nỗ lực rất lớn của ngành y tế nhằm giảm được tỷ lệ mắc bệnh và tử vong cao Trong những năm tới ngành y tế vẫn xác định tiêm chủng là nhiệm

vụ trọng tâm và quyết tâm giữ vững những thành quả mà chương trình tiêm chủng mở rộng đã mang lại để Việt Nam vẫn xứng đáng là điểm sáng về thực hiện công tác tiêm chủng [11], [23]

Trang 33

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Địa bàn, đối tượng và thời gian nghiên cứu

2.1.1 Địa bàn nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành tại 04 xã (Thiết Ống, Ban Công, Lương Trung, Điền Hạ) của huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hoá

Thanh Hóa gồm 2 thành phố trực thuộc tỉnh (Thanh Hóa, Sầm Sơn), 1 thị xã và 24 huyện với diện tích 11.133,4 Km2

và số dân 3.712.600 người với

7 dân tộc Kinh, Mường, Thái, H'mông, Dao, Thổ, Khơ-mú, trong đó có khoảng 586.200 người sống ở thành thị

- Huyện Bá Thước là huyện miền núi, trình độ dân trí không đồng đều, giao thông đi lại khó khăn, hệ thống thông tin, điện tử chưa đáp ứng được nhu cầu vì vậy việc cập nhập các thông tin của người dân còn nhiều hạn chế Diện tích tự nhiên 777,521 Km2, dân số 108.590 người, cách thành phố Thanh Hoá

126 Km, gồm có 22 xã và 01 thị trấn, trong đó có 12 xã vùng sâu, vùng xa (vùng đặc biệt khó khăn - vùng 135), địa hình đồi, núi Huyện có 01 Trung tâm Y tế, 35 cán bộ, có 17 cán bộ nữ, trong đó: 01 thạc sỹ; 10 bác sỹ, 02 đại hoc (không phải y khoa), 13 y sĩ, 03 kỹ thuật viên xét nghiệm, 02 nữ hộ sinh, 02 dược sĩ trung cấp, 02 đối tượng khác Hiện nay 100% xã/ thị trấn có trạm y tế,

có 10/23 xã đạt chuẩn Bộ Tiêu Chí Quốc gia về Y tế xã Cán bộ, nhân viên tại

23 trạm y tế xã, thị trấn là 127, trong đó đã phân bổ được 23/23 trạm y tế xã, thị trấn có bác sỹ, có 225 nhân viên y tế thôn bản và 44 cô đỡ thôn bản Huyện

có 01 Bệnh viện đa khoa 130 giường bệnh;163 cán bộ nhân viên Tỷ lệ hộ nghèo chung cả huyện còn cao chiếm 21,72%, hộ cận nghèo 17,6%

Tình hình tiêm chủng tại tỉnh Thanh Hóa: Từ năm 1986, Thanh Hóa triển khai chương trình tiêm chủng mở rộng Từ đó đến nay, ngành y tế tỉnh

Trang 34

luôn xác định tiêm chủng là nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu, tùy theo tình hình thực tế của các Huyện để triển khai tiêm chủng từ ngày 06 – 15 hàng tháng; (Huyện Bá Thước vào ngày 10 hàng tháng) Chương trình TCMR đã đạt được nhiều thành tựu to lớn: Năm 2000 đã thanh toán bệnh bại liệt, năm 2006 loại trừ uốn ván sơ sinh Tỷ lệ trẻ dưới 1 tuổi được tiêm chủng đủ mũi các loại vắc xin trong 10 năm trở lại đây luôn đạt trên 95% Do thực hiện tốt Chương trình TCMR, mỗi năm toàn tỉnh tiêm chủng cho khoảng 68.000 trẻ dưới 1 tuổi Thanh Hóa là tỉnh được Viện vệ sinh Dịch tễ Trung ương, chương trình Tiêm chủng mở rộng Quốc gia đánh giá đạt kết quả tốt [30]

Xã Thiết Ống: Xã nằm phía tây của huyện, cách trung tâm huyện 15

Km Diện tích tự nhiên của xã là 6.664,38 ha, gồm 19 thôn, 1.940 hộ và 8.198 khẩu Gồm có 03 dân tộc chính Mường, Thái, Kinh trong đó dân tộc Mường chiếm trên 50% dân số xã Xã có 01 trạm y tế gồm 06 cán bộ, có 01 Bác sỹ làm Trạm trưởng, có 01 trường Trung học cơ sở (THCS), 03 trường Tiểu học (TH) Mặc dù kinh tế của xã có phát triển nhưng chỉ tập trung ở dọc theo trục đường quốc lộ và các cụm dân cư, còn vào sâu trong các thôn bản xa thì người dân vẫn còn nghèo và khó khăn, thiếu thốn vì vậy tỷ lệ hộ nghèo vẫn còn cao, chiếm 20,59% Hộ cận nghèo 14,59%

Xã Ban Công: Nằm phía Tây Bắc của huyện, cách trung tâm huyện

09 Km Có diện tích tự nhiên 5.000,6 ha, gồm 07 thôn, 1.681 hộ và 6.748 khẩu, với 03 dân tộc chính là Thái, mường, Kinh trong đó dân tộc Thái chiếm trên 80% dân số xã Có 01 trạm y tế xã gồm 06 cán bộ, có 01 Bác sỹ; 01 trường THCS và 03 trường Tiểu học Giao thông đi lại khó khăn vì chỉ có đường đất, đá chưa được đầu tư xây dựng Kinh tế của xã chủ yếu là sản xuất nông - lâm nghiệp tự cung, tự cấp là chính, Vì vậy nền kinh tế của xã chậm phát triển, do đó tỷ lệ hộ nghèo chiếm 13% Hộ cận nghèo 15%

Trang 35

Xã Lương Trung: Vị trí phía Đông Bắc của huyện, cách trung tâm

huyện 26 Km, có diện tích tự nhiên 4.003,77 ha Gồm 10 thôn, 1.368 hộ và 5.447 khẩu, với 03 dân tộc chính là Mường, Thái, Kinh, dân tộc Mường chiếm trên 90% dân số xã Trong đó có 4 thôn gồm (Chòm Thái, Trung Dương, Trung Sơn và Phú Sơn) xa trung tâm xã, giao thông đi lại hết sức khó khăn, chủ yếu đi bộ Xã có 01 trạm y tế, gồm 06 cán bộ, có 02 Bác sỹ, 01 làm Trạm trưởng, có 01 trường THCS và 04 trường tiểu học Giao thông đi lại trong xã đang còn nhiều khó khăn vì chỉ có đường đất, đá Kinh tế của xã chủ yếu là sản xuất nông - lâm nghiệp tự cung, tự cấp là chính, nền kinh tế của xã chậm phát triển, do đó tỷ lệ hộ nghèo của xã còn cao chiếm 28,3% Hộ cận nghèo 16,8%

Xã Điền Hạ: Nằm phía Đông Nam của huyện, cách Trung tâm huyện

31 Km, có diện tích tự nhiên 3.562,27 ha Gồm 09 thôn, 989 hộ và 4.430 khẩu, với 03 dân tộc chính là Mường, Thái, Kinh, dân tộc Mường chiếm

>60% dân số xã Có 01 trạm y tế xã gồm 06 cán bộ, có một Bác sỹ phụ trách điều trị, 01 trường THCS và 03 trường Tiểu học Giao thông đi lại trong xã đang còn nhiều khó khăn Kinh tế của xã chủ yếu là sản xuất nông - lâm nghiệp tự cung, tự cấp là chính, nền kinh tế của xã nhiều khó khăn và chậm phát triển, tỷ lệ hộ nghèo của xã chiếm 35,19% Hộ cận nghèo 19,8%

2.1.2 Đối tượng nghiên cứu

- Trẻ em ở độ tuổi từ 12 - 24 tháng tuổi (có mốc sinh từ 01/01/2016

đến 30/12/2016)

- Các bà mẹ nuôi con 12- 24 tháng tuổi

- Phiếu tiêm chủng cá nhân của trẻ từ 12 - 24 tháng tuổi

- Sổ sách tài liệu ghi chép về thông tin tiêm chủng của trẻ từ 12-24 tháng tuổi được lưu trữ tại trạm y tế

Trang 36

* Tiêu chuẩn lựa chọn:

+ Với trẻ em:

Trẻ được sinh ra và được nuôi dưỡng tại huyện Bá Thước, có mốc sinh

từ 01/01/2016 đến 30/12/2016 Không trong các trường hợp chống chỉ định tiêm chủng

+ Với các bà mẹ:

- Những bà mẹ đã sinh con trong khoảng thời gian từ 01/01/2016 đến 30/12/2016, đang sống tại huyện Bá Thước, theo định nghĩa của WHO thời gian được tính là đến và sinh sống tại huyện từ 3 tháng trở lên

- Có khả năng giao tiếp được

* Tiêu chuẩn loại trừ

+ Với trẻ em

- Trẻ bỏ tiêm chủng hoặc có chống chỉ định tiêm chủng

- Trẻ không được sinh ra trong khoảng thời gian 01/01/2016 đến 30/12/2016, nuôi dưỡng chưa được 3 tháng tại huyện Bá Thước

+ Với bà mẹ

- Những đối tượng không đáp ứng tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng nghiên cứu

- Những đối tượng không sẵn sàng tham gia nghiên cứu và không có khả năng cung cấp thông tin sau khi đã được điều tra viên giải thích

- Đối tượng vắng nhà trên 3 lần trong thời gian điều tra thu thập số liệu

2.1.3 Thời gian nghiên cứu:

Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 10/2017 đến tháng 4/2018

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu:

Áp dụng thiết kế nghiên cứu dịch tễ học mô tả với cuộc điều tra cắt ngang kết hợp việc thu thập số liệu hồi cứu thông qua phiếu tiêm chủng cá nhân và sổ sách tài liệu ghi chép về thông tin tiêm chủng của trẻ từ 12-24 tháng tuổi được lưu trữ tại trạm y tế

Trang 37

2.2.2 Cỡ mẫu và chọn mẫu nghiên cứu:

+ Cỡ mẫu:

- Cỡ mẫu cho trẻ em: Cỡ mẫu được tính theo công thức ước lượng một tỷ lệ cho một quần thể:

Trong đó:

n: Cỡ mẫu tối thiểu cần cho nghiên cứu

p: Tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ của trẻ em dưới 1 tuổi qua nghiên cứu Nguyễn Tuấn tại tỉnh Hà Tĩnh năm 2013 là p=0,83 [31]

: Độ sai lệch mong muốn giữa số liệu thu được từ mẫu so với số thực của quần thể, ước lượng bằng 5%

: Hệ số tin cậy, giá trị Z thu được với  = 0,05 là Z = 1,96;

Thay các số liệu vào công thức trên ta tính được cỡ mẫu cần cho nghiên cứu là n = 220 trẻ, trên thực tế chọn 250 trẻ Đây là cỡ mẫu cho 4 xã được chọn, như vậy mỗi xã chọn từ 60-70 trẻ em

- Cỡ mẫu cho bà mẹ: Chúng tôi chọn 250 bà mẹ của các trẻ trên vào tham gia nghiên cứu

+ Chọn mẫu:

Chọn huyện: Chọn chủ định huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa vào nghiên cứu Đây là một huyện miền núi, trình độ dân trí không đồng đều, giao thông đi lại khó khăn, hệ thống thông tin, điện tử chưa đáp ứng được nhu cầu

vì vậy việc cập nhập các thông tin của người dân còn nhiều hạn chế Vì vậy việc thực hiện công tác tiêm chủng còn khó khăn

Chọn vùng: Theo chương trình 135 của Chính phủ, các xã của huyện Bá Thước được chia thành hai vùng là vùng cao và vùng thấp, trong đó có 14 xã

Trang 38

vùng cao, vùng sâu, vùng xa; Gọi là “Vùng cao” Và 9 xã vùng còn lại, được gọi là “Vùng thấp” [6]

Chọn xã: Huyện Bá Thước có 22 xã và 1 thị trấn trong đó có 14 xã là

xã vùng cao và 9 xã là xã vùng thấp Chọn ngẫu nhiên lấy 2 xã vùng cao và 2

xã vùng thấp bằng cách bốc thăm ngẫu nhiên Chúng tôi bốc được 2 xã vùng cao là Lương Trung, Điền Hạ và 2 xã vùng thấp là Thiết Ống, Ban Công vào nghiên cứu

Chọn đối tượng nghiên cứu:

Chọn trẻ em: Tại các xã được chọn, lập danh sách và đánh số thứ từ

toàn bộ trẻ em trong độ tuổi từ 12 đến 24 tháng tuổi (các cháu được sinh từ 01/01/2016 đến 30/12/2016) đủ tiêu chuẩn vào nghiên cứu Chọn trẻ đầu tiên bằng cách bốc thăm ngẫu nhiên trong danh sách đã lập để điều tra Các trẻ tiếp theo được chọn theo phương pháp “cổng liền cổng” cho đến khi đủ cỡ mẫu thì dừng lại Khái niệm “cổng liền cổng” được hiểu là các cổng có cự ly gần nhất tính theo đường chim bay và theo hướng của điều tra viên Nếu trẻ không ở nhà trên 3 lần thì sẽ loại ra khỏi đối tượng nghiên cứu Nếu có từ 2 trẻ trở lên trong một gia đình thuộc đối tượng nghiên cứu thì sẽ chọn trẻ có độ tuổi lớn hơn

Chọn bà mẹ: Chọn toàn bộ các bà mẹ có con đã được điều tra ở trên

Nếu mẹ của trẻ không còn hoặc vắng nhà trên 3 lần trong thời gian nghiên cứu thì điều tra thay thế bằng người trực tiếp nuôi dưỡng trẻ

2.2.3 Phương pháp thu thập số liệu

- Kỹ thuật:

+ Phỏng vấn trực tiếp các bà mẹ đã lựa chọn ở trên

+ Quan sát sẹo lao ở cánh tay của trẻ

+ Kiểm tra phiếu tiêm chủng cá nhân của trẻ

+ Kiểm tra sổ sách tài liệu ghi chép về thông tin tiêm chủng của trẻ từ 12-24 tháng tuổi được lưu trữ tại trạm y tế

Trang 39

- Công cụ thu thập số liệu: Bộ phiếu phỏng vấn, điều tra được xây dựng theo các tài liệu, công văn tập huấn của CTTCMR Quốc gia có chỉnh sửa cho phù hợp với mục đích và tình hình thực tế của địa phương

- Người thực hiện: Điều tra viên là các cán bộ y tế của Trung tâm y tế huyện Bá Thước Các điều tra viên đã được tác giả và thầy hướng dẫn tập huấn các kỹ năng phỏng vấn, lắng nghe, kỹ năng tư vấn Bên cạnh đó, các điều tra viên cũng được yêu cầu tự trang bị các kiến thức liên quan đến Chương trình TCMR cũng như cách tư vấn về dinh dưỡng và nuôi con bằng sữa mẹ Để thu thập số liệu, các điều tra viên phải đến nhà đối tượng nghiên cứu sau đó tiến hành phỏng vấn các bà mẹ ngay tại nhà đồng thời kiểm tra phiếu tiêm chủng cá nhân và sẹo lao của trẻ Còn bà mẹ nào chưa phỏng vấn được thì sẽ ghi lại và sẽ đến 3 lần để phỏng vấn sau Trong trường hợp, các bà

mẹ vắng nhà trên 3 lần hoặc đã mất thì chúng tôi quyết định loại bà mẹ và trẻ

đó ra khỏi nghiên cứu

2.2.4 Các nhóm biến số trong nghiên cứu

2.2.4.1 Tỷ lệ tiêm chủng vắc xin và một số yếu tố liên quan

- Mối liên quan giữa tỷ lệ tiêm chủng với địa bàn nghiên cứu

- Mối liên quan giữa tỷ lệ tiêm chủng với trình độ học vấn của mẹ

Trang 40

- Mối liên quan giữa tỷ lệ tiêm chủng với tình trạng kinh tế của hộ gia đình của trẻ

- Mối liên quan giữa tỷ lệ tiêm chủng với dân tộc của mẹ

- Mối liên quan giữa tỷ lệ tiêm chủng với khoảng cách từ nhà đến TYT

- Mối liên quan giữa tỷ lệ tiêm chủng với việc giữ phiếu tiêm chủng cá nhân của trẻ

- Mối liên quan giữa tỷ lệ tiêm chủng với mức độ quan tâm của bà mẹ đến chương trình TCMR

2.2.4.2 Phỏng vấn kiến thức, thực hành của các bà mẹ về TCMR

- Nhóm thông tin chung:

+ Nghề nghiệp: Là nghề nghiệp hiện tại của đối tượng

+ Trình độ học vấn: Trình độ học vấn cao nhất của đối tượng

+ Tình trạng hôn nhân: Tình trạng hôn nhân hiện tại của của đối tượng được nghiên cứu (góa, ly thân, ly hôn, bình thường)

+ Dân tộc của mẹ

+ Nhóm tuổi của mẹ: Phân chia theo các nhóm dưới 25 tuổi, từ 25-35 tuổi và trên 35 tuổi

+ Số con của bà mẹ tham gia nghiên cứu: Số con đẻ ra sống

+ Số năm kết hôn: Là khoảng thời gian từ khi kết hôn đến thời điểm nghiên cứu

+ Tình trạng kinh tế của hộ gia đình: Phân theo quyết định số 1232/1999/QĐ-TTg (hộ nghèo, hộ cận nghèo và hộ có mức sống trung bình)

+ Khoảng cách từ nhà đến TYT: (Tính bằng đơn vị km)

- Kiến thức về TCMR

+ Nguồn thông tin về tiêm chủng của đối tượng nghiên cứu

+ Kiến thức về mục đích của Chương trình TCMR

+ Kiến thức về đối tượng của Chương trình TCMR

Ngày đăng: 24/05/2020, 14:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w