DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ATVSLĐ : An toàn vệ sinh lao động BAC : Blood alcohol concentration Nồng độ cồn trong máu ĐTYTQG : Điều tra y tế quốc gia ICD-10 : International Classification
Trang 1TR¦êNG §¹I HäC Y d-îc TH¸I B×NH
LUẬN VĂN THẠC SỸ Y TẾ CÔNG CỘNG
THÁI BÌNH - 2019
Trang 2TR¦êNG §¹I HäC Y d-îc TH¸I B×NH
LUẬN VĂN THẠC SỸ Y TẾ CÔNG CỘNG
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn tốt nghiệp này, tôi luôn nhận được sự quan tâm, hỗ trợ và giúp đỡ tận tình của các thầy, cô giáo, gia đình, bạn bè và đồng nghiệp
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Đảng ủy, Ban Giám hiệu, Phòng Quản lý Đào tạo Sau đại học, Khoa Y tế công cộng Trường Đại học Y Dược Thái Bình đã cho phép và tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Với lòng kính trọng và biết ơn, tôi xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến TS Nguyễn Thị Thu Dung - Hiệu trưởng Trường Cao đẳng
Y tế Thái Bình; Nhà giáo ưu tú, PGS.TS Ngô Thị Nhu - Khoa Y tế công cộng, Trường Đại học Y Dược Thái Bình đã tận tình chỉ bảo, trực tiếp hướng dẫn giúp đỡ tôi trong suốt quá trình tiến hành làm luận văn
Tôi xin trân trọng cảm ơn tới lãnh đạo Trường Cao đẳng Y tế Thái Bình cùng bạn bè, đồng nghiệp nơi tôi đang làm việc luôn động viên và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong thời gian học tập và nghiên cứu
Tôi xin cảm ơn Lãnh đạo Uỷ ban nhân dân, Trạm Y tế cùng toàn thể người dân xã Vũ Chính - thành phố Thái Bình; xã Vũ Hội - huyện Vũ Thư đã tạo điều kiện và hỗ trợ tôi rất nhiều trong thời gian triển khai thu thập số liệu tại thực địa
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn tới gia đình và bạn bè, những người đã luôn ở bên tôi, động viên và khích lệ tôi trong suốt quá trình học tập
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Tác giả luận văn
Phạm Anh Tuấn
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ATVSLĐ : An toàn vệ sinh lao động
BAC : Blood alcohol concentration
(Nồng độ cồn trong máu) ĐTYTQG : Điều tra y tế quốc gia
ICD-10 : International Classification of Diseases
(Phân loại quốc tế về bệnh tật) ILO : International Labour Organization
TTCN : Tiểu thủ công nghiệp
UBND : Ủy ban nhân dân
VMIS : Điều tra liên trường về tai nạn thương tích tại Việt Nam WHO : World Health Organization
(Tổ chức Y tế Thế giới) YPLL : Years of potential life lost
(Số năm sống tiềm tàng bị mất)
Trang 6MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 3
TỔNG QUAN 3
1.1 Khái niệm và phân loại tai nạn thương tích 3
1.1.1 Khái niệm tại nạn thương tích 3
1.1.2 Phân loại tai nạn thương tích 4
1.2 Nguyên nhân tai nạn thương tích [10], [58] 7
1.3 Thực trạng tai nạn thương tích trên Thế giới, tại Việt Nam và các biện pháp phòng chống 11
1.3.1 Trên thế giới 11
1.3.2 Tại Việt Nam 13
Chương 2 22
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
2.1 Địa điểm và đối tượng nghiên cứu 22
2.1.1 Địa bàn nghiên cứu 22
2.1.2 Đối tượng nghiên cứu 24
2.1.3 Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 01/2018 đến tháng 12/2018 25
2.2 Phương pháp nghiên cứu 25
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 25
2.2.2 Cỡ mẫu và chọn mẫu 25
2.2.3 Biến số và chỉ số trong nghiên cứu 26
2.2.4 Kỹ thuật thu thập thông tin, tiêu chuẩn đánh giá 28
2.2.5 Thu thập thông tin 29
2.2.6 Phương pháp xử lý số liệu 30
2.2.7 Đạo đức trong nghiên cứu 30
Trang 7Chương 3 32
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 32
3.1 Một số đặc điểm tai nạn thương tích 32
3.2 Kiến thức của người dân về phòng chống tai nạn thương tích tại địa bàn nghiên cứu 39
Chương 4 51
BÀN LUẬN 51
4.1 Thực trạng tai nạn thương tích tại địa bàn nghiên cứu 51
4.2 Kiến thức của người dân về phòng chống tai nạn thương tích 61
KẾT LUẬN 71
1 Một số đặc điểm và nguyên nhân tai nạn thương tích của người dân tại hai xã nghiên cứu 71
2 Kiến thức của người dân về phòng chống tai nạn thương tích tại địa bàn nghiên cứu 71
KIẾN NGHỊ 73 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Phụ lục 1: Phiếu điều tra hộ gia đình
Phụ lục 2: Điều tra kiến thức phòng chống TNTT
Phụ lục 3: Thông tin về TNTT trong vòng một năm
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Tỷ lệ tai nạn thương tích trên địa bàn nghiên cứu 32
Bảng 3.2 Tỷ lệ các loại tai nạn thương tích 32
Bảng 3.3 Nguyên nhân dẫn đến tai nạn thương tích 33
Bảng 3.4 Nơi xảy ra tai nạn thương tích 33
Bảng 3.5 Phân bố các loại tai nạn thương tích theo giới 34
Bảng 3.6 Người ở cùng khi xảy ra tai nạn thương tích 35
Bảng 3.7 Sơ cứu tại nơi xảy ra tai nạn thương tích 36
Bảng 3.8 Người sơ cấp cứu ban đầu cho người bị tai nạn thương tích 36
Bảng 3.9 Thời gian đối tượng được sơ cứu 37
Bảng 3.10 Những vị trí tổn thương khi bị tai nạn thương tích 37
Bảng 3.11 Những ảnh hưởng sau khi bị tai nạn thương tích 38
Bảng 3.12 Di chứng sau khi bị tai nạn thương tích 38
Bảng 3.13 Yếu tố kèm theo trước khi tai nạn thương tích 38
Bảng 3.14 Trình độ học vấn của đối tượng nghiên cứu 39
Bảng 3.15 Nghề nghiệp của đối tượng nghiên cứu 39
Bảng 3.16 Nguồn thông tin của người dân về phòng chống TNTT 40
Bảng 3.17 Kiến thức của người dân về các loại tai nạn thương tích 41
Bảng 3.18 Ý kiến của người dân 42
về tần suất tai nạn thương tích xảy ra ở địa phương 42
Bảng 3.19 Kiến thức của người dân về ảnh hưởng 43
của tai nạn thương tích đến cuộc sống và sinh hoạt hàng ngày 43
Bảng 3.20 Kiến thức của người dân 44
về các loại tai nạn thương tích trong sinh hoạt 44
Bảng 3.21 Kiến thức của người dân 45
về phòng chống tai nạn thương tích trong sinh hoạt 45
Bảng 3.22 Kiến thức của người dân về tai nạn thương tích trong lao động 46
Bảng 3.23 Kiến thức của người dân 47
về cách phòng tránh tai nạn thương tích trong lao động 47
Trang 9Bảng 3.24 Kiến thức của người dân 48
về cách phòng tránh tai nạn thương tích trong giao thông 48
Bảng 3.25 Kiến thức của người dân về cách phòng tránh tai nạn thương tích do súc vật, vật nuôi cắn (chó, mèo) 49
Bảng 3.26 Mối liên quan giữa kiến thức của người dân 49
về các loại tai nạn thương tích và trình độ học vấn 49
Bảng 3.27 Mối liên quan giữa kiến thức của người dân 50
về ảnh hưởng tai nạn thương tích và trình độ học vấn 50
Bảng 3.28 Mối liên quan giữa kiến thức của người dân 50
về phòng chống tai nạn thương tích trong lao động và trình độ học vấn 50
Trang 10DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Phân bố các loại tai nạn thương tích theo nhóm tuổi 31 Biểu đồ 3.2 Sử dụng bia rượu khi xảy ra tai nạn thương tích 32 Biểu đồ 3.3 Tỷ lệ người dân đã từng biết về phòng chống tai nạn thương tích 37
Trang 11ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) mỗi ngày có khoảng 16.000 người
và hàng năm có ít nhất 5,5 triệu người chết vì các loại tai nạn thương tích trên thế giới Ở nhiều nước, số người bị tai nạn thương tích phải nhập viện chiếm 10-30% tổng số bệnh nhân, thiệt hại ước tính hàng nghìn tỷ đô la Mỹ, chiếm 5-6% tổng thu nhập Quốc dân Tổ chức Y tế Thế giới xem tai nạn thương tích
là “Gánh nặng bệnh tật toàn cầu” [56]
Tại Việt Nam, tai nạn thương tích đang là một trong những nguyên nhân gây tử vong cao Theo niên giám thống kê y tế năm 2015, tai nạn thương tích đứng thứ hai trong các nguyên nhân gây tử vong Trong đó, tai nạn thương tích chủ yếu là bỏng, đuối nước, ngã, giết người và bạo lực, ngộ độc,
tự tử, tai nạn giao thông và các chấn thương có chủ định khác [6] Trong những năm gần đây, sự phát triển, tiến bộ về kinh tế xã hội, Việt Nam phải đối mặt với sự gia tăng đến mức báo động của tình hình tai nạn thương tích Mỗi năm ngành y tế thống kê được khoảng 900.000 người bị tai nạn thương tích, trong đó có 34.000 người tử vong, chiếm 11% - 12% trong tổng số các trường hợp tử vong chung toàn quốc
Nguyên nhân của thực trạng tai nạn thương tích trên một phần do nhận thức của cộng đồng về phòng chống tai nạn thương tích còn hạn chế Chính quyền các cấp chưa quan tâm đúng mức đến việc chỉ đạo và đầu tư thực hiện công tác phòng, chống tai nạn thương tích ở địa phương Hệ thống và năng lực chăm sóc chấn thương trước viện chưa đáp ứng được yêu cầu Cán bộ y tế
cơ sở còn thiếu kiến thức, kỹ năng tuyên truyền và tổ chức thực hiện các hoạt động phòng chống tai nạn thương tích tại cộng đồng [6]
Tại tỉnh Thái Bình trong những năm qua đã có nhiều thay đổi, kinh tế liên tục tăng trưởng ở mức 2 con số, năm sau cao hơn năm trước, vượt mục tiêu
Trang 12Đại hội XIX Đảng bộ tỉnh (bình quân 8,6%/năm), đưa Thái Bình là 1 trong 3 tỉnh, thành phố có tốc độ tăng trưởng cao nhất vùng Đồng bằng sông Hồng
Chương trình nông thôn mới đạt kết quả tích cực với 76% số xã và 1/7 huyện được công nhận đạt chuẩn quốc gia; 100% xã, phường, thị trấn đã có nước sạch phục vụ nhân dân Lĩnh vực văn hóa - xã hội có nhiều tiến bộ, an sinh xã hội được bảo đảm, tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 3,35%, bằng một nửa mức bình quân chung của cả nước
Tình hình chính trị được ổn định, an ninh quốc phòng được giữ vững, trật tự an toàn xã hội được bảo đảm Đời sống vật chất và tinh thần của người dân được nâng lên rõ rệt, tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) đạt 49.870 tỷ đồng (tăng 10,53% so với năm 2017), thu nhập bình quân đầu người 1 tháng ước đạt trên 3,50 triệu đồng Năm 2018, toàn tỉnh tạo việc làm mới cho trên 31.200 người Tuy nhiên, TNTT còn có chiều hướng gia tăng đáng kể đặc biệt
là tai nạn giao thông đang là vấn đề rất được quan tâm Năm 2018 theo báo cáo của Ban an toàn giao thông trên địa bàn tỉnh có 74 vụ tai nạn giao thông đường bộ, 01 vụ tai nạn giao thông đường thủy, làm 63 người bị chết và 35 người bị thương Một phần do trình độ dân trí không đồng đều nên nhận thức của người dân về các biện pháp phòng chống TNTT còn hạn chế Trước đây, Thái Bình cũng có một số nghiên cứu về tai nạn thương tích ở cộng đồng Tuy nhiên, để giúp một phần trong chương trình phòng chống TNTT hiệu quả
hơn, chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu: "Thực trạng và kiến thức của người dân về phòng chống tai nạn thương tích tại hai xã tỉnh Thái Bình năm 2018” với hai mục tiêu sau đây:
1 Mô tả thực trạng tai nạn thương tích của người dân tại 2 xã tỉnh Thái Bình năm 2018
2 Đánh giá kiến thức của người dân về phòng chống tai nạn thương tích tại địa bàn nghiên cứu
Trang 13Chương 1
TỔNG QUAN 1.1 Khái niệm và phân loại tai nạn thương tích
1.1.1 Khái niệm tại nạn thương tích
Tai nạn thương tích được định nghĩa như sau: Tai nạn thương tích là những tổn thương do ngã, tai nạn ô tô, xe máy, ngã cây, tai nạn lao động dẫn đến bị vết thương phần mềm chảy máu, bong gân, phù nề, xây xát, gẫy, sưng, gẫy răng, vỡ thủng nội tạng phải mổ, chấn thương sọ não, bỏng các loại mà cần đến sự chăm sóc hoặc điều trị của y tế hoặc hạn chế sinh hoạt hàng ngày tối thiểu 1 ngày [10]
Tai nạn là trạng thái của cơ thể bị một tác nhân bên ngoài gây những tổn thương dưới nhiều hình thái và mức độ khác nhau trong các tai nạn hàng ngày (sinh hoạt, lao động, giao thông,…) Tác nhân gây tai nạn có thể là các yếu tố cơ học (vật sắc, nhọn, vật khối tù, mảnh bom đạn, súng nổ, lực đè ép, nghiến, sự thay đổi đột biến và trên mức giới hạn của áp lực, ), các yếu tố nóng, lạnh, hoá học, lý học
Thương tích thì không phải là tai nạn mà là sự tổn thương của cơ thể ở các mức độ khác nhau gây nên bởi tiếp xúc đột ngột với các nguồn năng lượng (có thể là các tác động cơ học, nhiệt, hóa chất, bức xạ ion, chất phóng xạ ) quá ngưỡng chịu đựng của cơ thể hoặc do cơ thể thiếu các yếu tố cần thiết cho sự sống như thiếu ôxy, mất nhiệt, Thương tích có thể lý giải được
và có thể phòng tránh được [10]
Tuy nhiên, khó có thể phân định rõ ràng giữa hai khái niệm tai nạn và
thương tích Do vậy hiện nay trong các văn bản, tài liệu của Việt Nam cũng
như trên thế giới, người ta dùng chung thuật ngữ “tai nạn thương tích” (Injury) Cũng có nhiều tài liệu trong và ngoài nước dùng thuật ngữ “chấn
thương” (Trauma)
Trang 14Khái niệm “chấn thương” cũng cần làm rõ: Chấn thương là một sự kiện xảy ra bất ngờ ngoài ý muốn do một tác nhân bên ngoài gây nên tổn thương cho cơ thể về thể chất hay tinh thần của nạn nhân Tuỳ mức độ và hình thái tổn thương, có thể gặp: chấn thương kín (da, niêm mạc không bị rách đứt nhưng có thể có các tổn thương các phần cơ thể dưới da, dưới niêm mạc hoặc nội tạng) Thuật ngữ chấn thương còn được dùng trong tâm lý học, tâm thần học như: chấn thương tâm lý
1.1.2 Phân loại tai nạn thương tích
Tai nạn thương tích có thể được phân loại theo nhiều cách như dựa vào lĩnh vực theo cơ chế gây thương tích, chủ ý của người gây TNTT, tác nhân gây TNTT với nhiều mục đích khác nhau [10]
* Phân loại theo lĩnh vực
+ Tai nạn thương tích trong giao thông thường được gọi là tai nạn giao thông là những TNTT xảy ra trên đường công cộng dành cho người và các phương tiện giao thông đi lại, có hậu quả là một hoặc là nhiều người bị chết hoặc tổn thương và ít nhất cũng có một phương tiện giao thông liên quan Hoặc vật hoặc những vật cố định trên đường Những trường hợp tự ngã trên đường, không va chạm bất cứ ai, cái gì cũng được tính là tai nạn giao thông
+ Tai nạn thương tích trong lao động thường được gọi là tai nạn lao động (TNLĐ) là những trường hợp TNTT xảy ra đối với người lao động hoặc học sinh khi đang làm việc, lao động trong giờ làm việc theo sự điều động phân công của người có thẩm quyền tại nơi làm việc (các công sở của cơ quan, đơn vị, nhà trường các công nông trường của các doanh nghiệp, trường học) Những trường hợp sản xuất, lao động cho gia đình hoặc cá nhân cũng tính là tai nạn lao động
+ Tai nạn thương tích trong sinh hoạt thường gọi là tai nạn sinh hoạt (TNSH) là những tai nạn xảy ra trong lúc vui chơi giải trí, nghỉ ngơi hoặc làm
Trang 15các công việc theo cả những nhu cầu sinh hoạt của cá nhân, gia đình ngoài thời gian lao động sản xuất Tai nạn sinh hoạt có thể xảy ra tại nhà ở, cơ quan hoặc nơi công cộng
+ TNTT trường học là tất cả những trường hợp TNTT xảy ra đối với cán bộ quản lý, giáo viên, học sinh gắn liền với các hoạt động giảng dạy, học tập, lao động, vui chơi, giải trí, các hoạt động ngoại khóa và các sinh hoạt do nhà trường quản lý
+ TNTT trong cộng đồng là tập hợp tất cả các trường hợp TNTT trong cộng đồng gây ra bởi mọi nguyên nhân và xảy ra ở mọi lứa tuổi Do đó, TNTT trong cộng đồng có thể được hiểu một khái niệm rộng bao hàm nhiều phân loại TNTT khác nhau hiện đang được sử dụng như: TNGT, TNLĐ, TNSH, TNTT trong trường học…
* Phân loại tai nạn thương tích theo chủ ý
Một phương pháp được dùng phổ biến để phân loại TNTT là dựa vào
sự có chủ ý hay không chủ ý của nạn nhân và người khác với nhiều mục đích khác nhau bao gồm cả việc xác định cơ hội can thiệp, cách phân loại đặc biệt hữu ích và là cơ sở cho phân loại thống kê về bệnh tật và vấn đề về sức khỏe
có liên quan (ICD-10) Theo những nguyên tắc ICD-10, TNTT nằm trong phần nguyên nhân ngoài tử vong và bệnh tật trong phân loại này, TNTT được chia làm 3 nhóm chính như sau:
- TNTT không chủ định (tai nạn, vô ý) là TNTT gây nên không do chủ
ý của người bị TNTT hay người khác
- TNTT có chủ định (cố ý) là TNTT gây ra có sự chủ ý của người bị TNTT hay những người khác
- TNTT chủ ý không xác định: là những TNTT xảy ra trong trường hợp khó xác định là do chủ định hay tai nạn
Trang 16* Phân loại theo theo tác nhân gây TNTT
+ Vật sắc nhọn: là những trường hợp TNTT do dao, các đồ dùng có cạnh sắc nhọn hoặc mũi nhọn gây ra
+ Vật cùn: là những trường hợp TNTT do các vật cứng có cạnh tầy (gạch, đá, gỗ, thép,…) gây ra
+ Đuối nước: là những trường hợp TNTT xảy ra do bị chìm trong nước hoặc chất lỏng khác (xăng, dầu) dẫn đến ngạt, ngừng tim do thiếu ôxy dẫn đến
tử vong trong vòng 24h hoặc cần đến sự chăm sóc y tế hoặc các biến chứng khác
+ Té, ngã: là những trường hợp TNTT do bị trượt, vấp dẫn đến ngã trên cùng một mặt bằng hoặc từ trên cao xuống
+ Điện giật: là những trường hợp TNTT do tiếp xúc trực tiếp với nguồn điện dẫn đến bị thương hay tử vong
+ Động vật cắn hay tấn công: là những trường hợp TNTT do động vật (trâu, bò, chó, mèo, rắn…) húc, cắn, đốt, đâm phải
+ Bỏng: là tổn thương một hoặc nhiều lớp tế bào da khi tiếp xúc với chất lỏng nóng, chất rắn nóng, lửa Các tổn thương da do sự phát xạ của tia cực tím, phóng xạ, điện, chất hóa học cũng như tổn thương phổi do khói xộc vào cũng được coi là bỏng
* Bộ Y tế phân loại TNTT như sau [9]:
Trang 178 Tự tử X60-X84
9 Ngộ độc: hoá chất, thực phẩm, động vật,
10 Tai nạn thương tích khác
1.2 Nguyên nhân tai nạn thương tích [10], [58]
* Tai nạn thương tích xảy ra có thể do:
- Vô ý do mình: Là TNTT gây nên không chủ ý của chính những người
bị TNTT hay của những người khác như chấn thương do giao thông; chấn thương do ngã; do lửa cháy; do nghẹt thở; do chết đuối; do ngộ độc
- Vô ý do người khác: Là TNTT gây nên không chủ ý của những người khác nhưng ảnh hưởng đến người bị TNTT
- Cố ý do mình: Là TNTT có chủ định, có sự chủ ý của người bị TNTT như: bạo lực giữa các cá nhân (hành hung, giết người, bạo lực giữa bạn tình, bạo lực tình dục); bạo lực hướng vào bản thân hay tự làm hại bản thân (cố ý uống thuốc và rượu quá liều, tự làm tổn thương thân thể, tự tử); can thiệp hợp pháp (hành động của cảnh sát hoặc những người thực thi pháp luật); chiến tranh, khởi nghĩa nhân dân và gây rối (biểu tình và nổi loạn)
- Cố ý do người khác: Là TNTT có chủ định, có sự chủ ý của người khác dẫn đến người bị TNTT
- Chủ ý không xác định (nghĩa là trong trường hợp khó xác định là do chủ định hay do tai nạn)
* Các yếu tố nguy cơ gây tai nạn thương tích
Theo một số tác giả khi nghiên cứu các yếu tố nguy cơ gây TNTT ở các nước đang phát triển cho thấy: nam giới có nguy cơ TNTT thường cao hơn so với nữ giới Điện giật, va đụng ô tô, đánh nhau là những nguyên nhân TNTT thường gặp nhiều hơn ở nam giới, trong khi đó nữ thường có nguy cơ TNTT như: lửa, ngộ độc cao hơn so với nam Trẻ dưới 15 tuổi có các nguy cơ như: lửa, ngã, đuối nước, ngộ độc Tình trạng kinh tế xã hội thấp thường dễ bị
Trang 18nguy cơ TNTT do lửa, đánh nhau Với những người uống rượu có nguy cơ cao các TNTT do lửa, va đụng ô tô, mô tô, ngã, đánh nhau, đuối nước, ngộ độc Những trẻ được giáo dục về an toàn thấp có rất nhiều nguy cơ TNTT như: lửa, sốc điện, va đụng ô tô, xe máy, ngã, đuối nước, ngộ độc [8].
+ Tai nạn thương tích do giao thông: Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) có 7 yếu tố liên quan đến tai nạn giao thông [58], [59]
- Tai nạn giao thông ở các nước có thu nhập thấp và trung bình chiếm
tỷ lệ khoảng 90% Trong đó chỉ có khoảng 48% phương tiện giao thông có đăng ký kiểm định phương tiện giao thông
- Tỷ lệ tử vong do tai nạn giao thông xảy ra đối với người đi bộ, đi xe đạp và người điều khiển xe mô tô hai bánh chiếm tỷ lệ khoảng 48%
- Kiểm soát tốc độ lái xe là một biện pháp hữu hiệu làm giảm tai nạn giao thông Có khoảng 1/3 các quốc gia trên thế giới đã triển khai các khu vực hạn chế tốc độ khi điều khiển xe cơ giới
- Việc sử dụng các loại rượu, bia làm tăng nguy cơ bị tai nạn giao thông Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) khuyến cáo giới hạn của nồng độ cồn trong máu (BAC: blood alcohol concentration ) là 0,05g/dl đối với người lớn điều khiển xe cơ giới Thực tế chỉ có khoảng 1/2 số các quốc gia trên thế giới thực hiện khuyến cáo về vấn đề này
- Đội mũ bảo hiểm có chất lượng tốt khi tham gia giao thông có thể làm giảm khoảng 40% nguy cơ tử vong do tai nạn giao thông và khoảng 70% nguy cơ bị thương tích nặng Thực tế chỉ có khoảng 40% số quốc gia trên thế giới ban hành luật bắt buộc đội mũ bảo hiểm khi tham gia giao thông
- Thắt dây an toàn khi ngồi trên xe ô tô làm giảm khoảng 40 - 65% nguy cơ tử vong đối với người hoặc hành khách ngồi ở hàng ghế trước và giảm khoảng 25 - 75% nguy cơ tử vong đối với người hoặc hành khách ngồi ở hàng ghế sau Thực tế chỉ có khoảng 75% các nước trên thế giới ban hành luật
Trang 19bắt buộc thắt dây an toàn trên xe ôtô đối với người hoặc hành khách ngồi ở hàng ghế trước và hàng ghế sau
- Sử dụng loại ghế giữ an toàn cho trẻ em có thể làm giảm khoảng 80% trường hợp tử vong ở trẻ em trong trường hợp có va chạm vì tai nạn giao thông
54%-+ Tai nạn thương tích do lao động: các yếu tố dẫn đến tai nạn đó là:
- Về phía cơ quan quản lý lao động:
Không huấn luyện về an toàn lao động cho người lao động
Không có quy trình, biện pháp an toàn lao động
Thiết bị không đảm bảo an toàn
Không trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân cho người lao động
- Về phía người lao động:
Vi phạm các quy trình, biện pháp làm việc an toàn về an toàn lao động Không sử dụng các trang thiết bị, phương tiện bảo vệ cá nhân Do người khác vi phạm quy định về an toàn lao động
- Về phía các cơ quan quản lý Nhà nước:
Các văn bản quy phạm pháp luật về lĩnh vực Bảo hộ lao động, ATLĐ hiện nay là khá đầy đủ Tuy nhiên, việc triển khai hướng dẫn, thanh kiểm tra việc thực hiện chưa thực sự hiệu quả dẫn đến tình trạng còn nhiều người sử dụng lao động, người lao động cố ý không chấp hành
Một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ, hợp tác xã, các hộ kinh doanh cá thể, các làng nghề, nông nghiệp chưa được quan tâm hướng dẫn đầy đủ quy định nhà nước về an toàn vệ sinh lao động dẫn đến việc vi phạm các quy định về An toàn - vệ sinh lao động và nguy cơ TNLĐ và bệnh nghề nghiệp cao
+ Tai nạn thương tích do ngã/té thường gặp các yếu tố:
Trang 20- Uống thuốc, rượu, bia, sử dụng ma túy thường do gây ra chóng mặt, tụt huyết áp, buồn ngủ, mất ngủ dẫn đến té ngã
- Trong nhà có thể cầu thang không có tay vịn an toàn, thiếu ánh sáng, sàn nhà trơn trượt, không có các thanh giữ an toàn trong nhà tắm và nhà cầu, thảm lỏng lẻo, vật dụng hay chó mèo làm vướng víu chân Những cái bẫy ngoài đường như đường trơn, lề đường không bằng phẳng, xe cộ
- Người già thường tổn thương của các giác quan như tai nghe kém, mắt mờ, rối loạn về thăng bằng ở tiền đình ốc tai Các tổn thương về nhận thức như sa sút trí tuệ Rối loạn về tâm lý như lo lắng, trầm cảm Bệnh tim, tăng huyết áp, đái tháo đường, bướu giáp Các bệnh cơ khớp, nhất là của bàn chân,… cũng góp phần làm các cụ té ngã
+ Đuối nước:
- Không nhận biết được sự nguy hiểm của vùng nước sâu, chảy xiết
- Không biết bơi
- Không che chắn ao, hồ, bể chứa nước mà người lớn để trẻ chơi một mình ở đó
- Bị lên cơn động kinh, ngất,… rồi ngã xuống nước nhưng không có ai cứu giúp
+ Tai nạn thương tích trẻ em: Một số kết quả nghiên cứu chấn thương tại cộng đồng của Việt Nam cho thấy: Trẻ em nam có nguy cơ bị TNTT cao gấp đôi so với trẻ em nữ Các nguy cơ gây TNTT thường gặp ở trẻ là: tai nạn giao thông, ngã, bỏng, TNTT do động vật cắn, tấn công, TNTT do vật sắc nhọn, ngộ độc và đuối nước Trẻ em dưới 5 tuổi thường phải đối mặt với các nguy cơ TNTT hiện diện ngay trong ngôi nhà của mình như: ngã do đồ dùng trong gia đình sắp xếp không khoa học; bỏng, ngộ độc và bị cắt bởi vật sắc nhọn do người lớn để các đồ vật nóng, nước sôi, các vật sắc, thuốc hay hoá chất trong tầm với của trẻ [39], [58]
Trang 211.3 Thực trạng tai nạn thương tích trên Thế giới, tại Việt Nam và các biện pháp phòng chống
1.3.1 Trên thế giới
TNTT có chủ định và không chủ định hiện nay đang là vấn đề nổi cộm của y tế công cộng Theo số liệu thống kê của WHO trong những năm gần đây cho thấy: tỷ lệ các bệnh truyền nhiễm có xu hướng thuyên giảm, nhưng tỷ lệ mắc và tử vong do TNTT có xu hướng gia tăng Mỗi ngày trên Thế giới có khoảng 16.000 người chết vì các loại TNTT Hàng năm có khoảng 5 triệu người trên Thế giới tử vong do TNTT, chiếm khoảng 9% trong tất cả các trường hợp tử vong [41], [58] Trong đó nhóm tuổi phổ biến nhất là trẻ hơn 14 tuổi trong nhóm tai nạn thương tích không cố ý và từ 30 đến 44 tuổi trong nhóm cố ý Đối với nhóm không cố ý, 65% đối tượng là nam và 48% là nam trong nhóm cố ý [43]
Theo báo cáo của các tổ chức, mỗi năm, thế giới có hơn 2,2 triệu người chết vì tai nạn hay bệnh tật liên quan đến lao động Con số chính thức này thấp hơn nhiều so với thực tế do việc thu thập các thông tin chưa được tiến hành đầy đủ tại nhiều nước [55] Nghiên cứu của tác giả Abdalla và cộng sự cho biết có khoảng 321.000 ca tử vong do nghề nghiệp xảy ra trên toàn cầu mỗi năm, tức là có 151 công nhân bị tai nạn liên quan đến công việc cứ sau 15 giây An toàn và sức khỏe nơi làm việc kém đặt gánh nặng kinh tế đáng kể lên các cá nhân, người sử dụng lao động và xã hội Ước tính từ Hiệp hội An sinh
Xã hội Quốc tế cho thấy chỉ riêng chi phí liên quan đến tai nạn lao động không có thai là khoảng 4% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) thế giới mỗi năm Mặc dù hầu như mọi công việc đều có một số rủi ro gây thương tích, nhưng mức độ rủi ro rất khác nhau giữa các công việc, ngành, khu vực địa lý và cá nhân Tỷ lệ thương tật nghề nghiệp đang gia tăng ở các nước thu nhập thấp và trung bình, nhưng giảm ở các nước thu nhập cao [40], [49]
Trang 22Tình hình tai nạn giao thông trên thế giới đã và đang diễn ra ngày một phức tạp với gần 1,3 triệu người chết và 50 triệu người bị thương do TNGT mỗi năm Hệ lụy mà TNGT để lại là không hề nhỏ [51], [53] Ngày 02/3/2010, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã ra Nghị quyết A/RES/L64/255 tuyên bố giai đoạn 2011- 2020 là “Thập kỷ hành động vì an toàn đường bộ toàn cầu” Theo WHO, tai nạn thương tích không chỉ là vấn đề y tế công cộng
mà còn là vấn đề của sự phát triển, nhất là TNTT ở trẻ em Tai nạn thương tích ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống cả về vật chất cũng như tinh thần cho tất cả mọi người trong cộng đồng [52] Ước tính mỗi năm trên thế giới có khoảng 830.000 trẻ tử vong do TNTT không chủ định, tương đương 2.000 trẻ
tử vong mỗi ngày [54], [58] Nguyên nhân TNTT gây tử vong hàng đầu ở trẻ
em là TNGT đường bộ (khoảng 260.000 trẻ/năm); đuối nước (175.000 trẻ/năm); bỏng (96.000 trẻ/năm); ngã (47.000 trẻ/năm) [42], [44], [47] Một nghiên cứu tiến hành tại Bangladesh, Trung Quốc, Philippines, Thái Lan và Việt Nam cho thấy TNTT là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở trẻ từ 01 tuổi trở lên ở tất cả các quốc gia điều tra Trong khi ở các nước phát triển chỉ dưới 135 trẻ tử vong do TNTT/100.000 trẻ được sinh ra thì tỷ suất này ở các nước Đông Á là trên 1.000/100.000 Nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng với mỗi trường hợp tử vong do TNTT ở trẻ dưới 18 tuổi thì có 12 trẻ cần phải nhập viện hoặc để lại khuyết tật vĩnh viễn và 34 trẻ cần chăm sóc y tế hoặc phải nghỉ học, nghỉ làm việc [60] Nghiên cứu tại Cộng hòa Slovakia, liên quan đến các vụ tai nạn tại nơi làm việc trong những năm 2000 - 2016 kết quả cho thấy tổng cộng có 1.874 vụ tai nạn tại nơi làm việc trong doanh nghiệp nhà nước đã được ghi nhận và đánh giá thống kê trong giai đoạn phân tích Chấn thương đầu và mặt là những người có tỷ lệ cao nhất (67,1% chấn thương của các bộ phận cơ thể này) [45] Nguyên nhân tai nạn thương tích trong lao động được cho là do không tập trung trong quá trình lao động và do dụng cụ lao
Trang 23động không phù hợp [46] Tác giả Kim JS và cộng sự cũng chỉ ra lý do phần lớn các vụ tai nạn là do lỗi của con người, đặc biệt là thiếu nhận thức (45,5%)
và thực hành không đúng (26,9%) Tỷ lệ tai nạn do lỗi của con người tăng từ 85,3% ở những người dưới 60 tuổi đến 91,4% ở những người từ 70 tuổi trở lên Hơn nữa, tỷ lệ tai nạn gây ra bởi lỗi nhận thức cao hơn ở những người từ
60 tuổi trở lên (45,0%) so với những người dưới 60 tuổi (31,4%) [48]
1.3.2 Tại Việt Nam
Tại Việt Nam, tình hình TNTT đang diễn biến hết sức phức tạp Theo Báo cáo tại Hội nghị khoa học toàn quốc lần thứ 2 về phòng chống TNTT (tháng 10/2011) trung bình hàng năm có khoảng 900.000 trường hợp mắc TNTT, trong đó có trên 34.000 người tử vong, chiếm 11 - 12% tổng số tử vong toàn quốc Tỷ suất tử vong trong những năm gần đây là 45,4/100.000 dân Đứng đầu là tử vong do TNGT 44,8% với khoảng 15.000 người/năm; đứng thứ hai là đuối nước với trung bình 6.000 người/năm và cũng là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở trẻ em Ngoài ra các nguyên nhân gây TNTT khác như TNLĐ, tự tử, bỏng, ngộ độc, bạo lực… vẫn phổ biến trong cộng đồng [8]
Theo báo cáo của Vụ An toàn giao thông, Bộ Giao thông vận tải tại Hội nghị khoa học toàn quốc lần thứ 2 về phòng chống TNTT, năm 2009 có 11.516 người bị thương và 7.914 người tử vong do TNGT (tỷ suất tử vong là 9,9/100.000 dân) Tỷ suất này đặc trưng cho một nước đang ở trong giai đoạn
ô tô, xe máy hoá cao, tỷ lệ tử vong thấp trên khía cạnh quần thể, nhưng cao trên khía cạnh liên quan tới số phương tiện được đăng ký Tỷ lệ TNGT hay gặp ở nam nhiều hơn nữ, tuổi hay gặp từ 15 - 35 tuổi, tai nạn thường xảy ra vào ban đêm, có liên quan đến uống rượu bia [1], [50]
Các tai nạn nghề nghiệp hay tai nạn lao động là nguyên nhân đứng thứ
ba (chiếm 19%) dẫn đến tử vong nghề nghiệp trên toàn cầu (ILO, 2004) Ở
Trang 24Việt Nam, TNLĐ cũng là vấn đề nổi cộm trong công tác vệ sinh an toàn lao động và được xếp trong nhóm những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng tàn tật cho người lao động Lực lượng lao động xấp xỉ 46 triệu người vào năm
2007 Theo báo cáo mới nhất về thực trạng cung - cầu lao động được Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội công bố (năm 20110) thì cả nước hiện có trên
48 triệu lao động Theo Thông báo số 33/TB-BLĐTBXH ngày 10/02/2012 của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội về tình hình tai nạn lao động năm
2011 tổng hợp báo cáo của 63/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thì trong năm 2011 trên toàn quốc đã xảy ra 5.896 vụ tai nạn lao động làm 6.154 người bị nạn, trong đó:
- Số vụ tai nạn chết người: 504
- Số vụ TNLĐ có hai người bị nạn trở lên: 90
- Số người bị thương nặng: 1.314
- Số nạn nhân là lao động nữ 944 người
Các số liệu trên chỉ nói lên phần nào của tình hình TNTT ở nước ta, một nước có tỷ lệ dân số ở tuổi trẻ cao, đang trên đà cơ giới hóa cao, trong khi đó cơ sở hạ tầng cũng như các biện pháp bảo vệ khỏi TNTT chưa được quan tâm đúng mức và hữu hiệu Đặc biệt, các làng nghề hiện nay tai nạn thương tích cũng còn chiếm tỷ lệ khá cao, mà nguyên nhân chính gây TNTT
do vật sắc nhọn (88,6%), đặc biệt do máy sản xuất chiếm tỷ lệ cao 62,2% Các yếu tố vai trò công việc, thời gian làm việc trong ngày, số ngày làm việc trong tuần và huấn luyện An toàn vệ sinh lao động (ATVSLĐ) có liên quan đến TNTT [32]
Theo kết quả điều tra TNTT và tử vong do TNTT toàn quốc (VMIS) năm 2001 cho thấy một xu hướng tương tự khi xét các nguyên nhân TNTT, bệnh mạn tính và bệnh truyền nhiễm trong số các trường hợp không gây tử
Trang 25vong: trừ nhóm tuổi sơ sinh (dưới 1 tuổi) và nhóm trên 50 tuổi, TNTT hiện là nguyên nhân lớn nhất gây ra các trường hợp bệnh, tiếp theo sau là các bệnh mạn tính và các bệnh truyền nhiễm Bên cạnh đó, khi xét chung ở tất cả các nhóm tuổi, TNTT cũng là một nguyên nhân đáng kể dẫn đến các trường hợp bệnh, xấp xỉ bằng bệnh mạn tính và hơn hẳn so với bệnh truyền nhiễm Theo kết quả điều tra 27.000 hộ gia đình, trong năm 2001, ở Việt Nam có tổng cộng 7.011 trường hợp chấn thương do TNTT không tử vong với tỉ suất là 5.449,7/100.000 Con số này có nghĩa là có khoảng 5,5% người Việt Nam đã
bị thương trong năm đó, với mức độ nghiêm trọng đủ để phải cần đến các can thiệp y tế hay phải nghỉ học hay nghỉ làm ít nhất là một ngày [6], [39]
Ở Việt Nam có một mô hình dịch tễ học đặc thù về tử vong do TNTT
và mô hình này tuỳ thuộc vào từng lứa tuổi khác nhau Nghiên cứu cho thấy rằng từ tuổi sơ sinh cho tới lứa tuổi dậy thì, đuối nước là một nguyên nhân nổi bật gây tử vong ở tất cả các nhóm tuổi, vượt xa các nguyên nhân khác Bắt đầu từ sau lứa tuổi dậy thì, tai nạn giao thông đường bộ (TNGT) bắt đầu nổi bật và sau đó tăng nhanh khi tuổi tăng Chấn thương do giao thông đường bộ trở thành nguyên nhân hàng đầu gây ra tử vong ở những nhóm tuổi từ 15 tuổi trở lên Mô hình bao gồm đuối nước vượt trội ở lứa tuổi trẻ nhỏ và chấn thương do giao thông đường bộ nổi bật ở lứa tuổi trẻ lớn là một mô hình phổ biến ở cả các quốc gia láng giềng của Việt Nam Ở lứa tuổi trẻ em, hai nguyên nhân gây tử vong này gây ra hai phần ba tổng số trường hợp tử vong do chấn thương ở trẻ và vì thế đòi hỏi một sự quan tâm đặc biệt từ các nhà hoạch định chính sách y tế và xã hội Bên cạnh đó, cũng cần có các biện pháp tốt để hạn chế tối đa các trường hợp tử vong do TNGT, vì đây là nguyên nhân lớn nhất gây ra các trường hợp tử vong ở nhóm tuổi từ 15 trở lên [7], [11], [14]
Với tỉ suất 26,7/100.000, TNGT là nguyên nhân lớn nhất gây nên tử vong
ở Việt Nam, và VMIS ghi nhận được tổng cộng 35 trường hợp tử vong do tai
Trang 26nạn giao thông vào năm 2001 Với dân số khoảng 78 triệu vào năm 2001, tỉ suất này có nghĩa là trung bình có khoảng hơn 20.000 trường hợp tử vong do TNGT trong năm 2001, điều này có nghĩa là cứ mỗi ngày trung bình có khoảng 57 trường hợp tử vong do TNGT Các chương trình can thiệp có hiệu quả sẽ cần phải xây dựng dựa vào mô hình các nguyên nhân TNGT cụ thể ở những nhóm tuổi khác nhau Đối với trẻ nhỏ, đa phần TNGT xảy ra khi trẻ đang đi bộ, với trẻ lớn hơn thì chấn thương xảy ra cả với những trẻ đi bộ cũng như đi xe đạp Với những nhóm tuổi lớn hơn, từ trên 15 trở lên, chấn thương do đi xe máy trở thành vấn đề hàng đầu dẫn đến các trường hợp tai nạn Các chương trình can thiệp sẽ cần nhắm tới đối tượng vị thành niên trở lên, bao gồm các cưỡng chế pháp luật cho qui định về đội mũ bảo hiểm, giáo dục các hành vi lái xe an toàn
và phòng chống việc điều khiển xe khi say rượu, bia [1]
Đuối nước là nguyên nhân đứng thứ nhì gây nên tử vong với tỉ suất tử vong là 22,6/100.000 Đuối nước chủ yếu xảy ra ở lứa tuổi trẻ em, nếu tính riêng ở lứa tuổi từ 19 trở xuống thì, tỉ suất của đuối nước cao hơn hẳn so với tỉ suất của TNGT Do đuối nước chủ yếu xảy ra vào ban ngày, con số này có nghĩa là vào ban ngày cứ khoảng 20 phút lại có một trẻ chết đuối [2], [13], [15] Tỉ suất chết do đuối nước ở trẻ em Việt Nam cao gấp mười lần ở các nước phát triển Tai nạn thương tích do ngã là nguyên nhân đứng thứ ba gây nên tử vong với tỉ suất tử vong là 9,5/100.000 và gây ra hơn 7.400 trường hợp
tử vong ở Việt Nam mỗi năm, hay gần 20 người mỗi ngày [16] Ngộ độc đứng
ở vị trị thứ tư với tỉ suất ngộ độc gây tử vong là 7,3/100.000 và gây ra khoảng hơn 5.600 trường hợp tử vong trong năm 2001, hay khoảng gần 16 người mỗi ngày Vật sắc, nhọn là nguyên nhân đứng hàng thứ 5 với tỉ suất là 5,3/100.000, hay là có khoảng 11 trẻ bị chết do ngã mỗi ngày [8], [25]
Đối với các trường hợp chấn thương không tử vong, TNGT cũng là nguyên nhân hàng đầu vởi tỷ suất trên 100.000 lên đến hơn 1.400, nghĩa là
Trang 27mỗi ngày trung bình có khoảng gần 3.000 số vụ TNGT không dẫn đến tử vong Trong số này thì phần lớn các trường hợp TNGT xảy ra ở những nhóm tuổi từ 15 trở lên và mức độ nghiêm trọng chủ yếu là các chấn thương ở mức nhẹ và vừa [6], [20]
Ngã đứng thứ hai trong số các nguyên nhân hàng đầu gây nên các chấn thương không gây tử vong VMIS ghi nhận được tổng số 1.668 trường hợp chấn thương không tử vong do ngã và tỉ suất là 1.297/100.000 Con số này tương đương với số trường hợp chấn thương do ngã mỗi ngày là hơn 2.700 trường hợp
Vật sắc là nguyên nhân chấn thương không gây tử vong đứng hàng thứ
ba ở Việt Nam Vật sắc gây ra hơn 2.000 trường hợp chấn thương mỗi ngày Chấn thương do súc vật cắn là nguyên nhân đứng hàng thứ 4 với gần 1.800 trường hợp trung bình mỗi ngày Khoảng 18% các trường hợp là chấn thương
có chủ định Một chỉ số đánh giá sức khoẻ cộng đồng quan trọng đối với các nhà hoạch định chính sách đó là số năm sống tiềm tàng bị mất Chỉ số này cho biết sự mất mát những năm cuộc sống tiềm tàng dẫn tới mất mát năng suất trong tương lai và thu nhập tiềm tàng ở những người đã chết trước tuổi
65 Rõ ràng chấn thương là nguyên nhân hàng đầu gây nên sự mất mát các năm sống của con người [6], [8]
Tính đến ngày 19/3/2010, Cục Y tế dự phòng và Môi trường đã nhận được báo cáo tình hình tai nạn thương tích năm 2009 của 59 tỉnh/thành phố, theo đó: Trong năm 2009, tại 59 tỉnh/thành phố có 1.121.113 trường hợp mắc tai nạn thương tích (TNTT), trong đó có 7.799 trường hợp tử vong chiếm tỉ lệ 0,7%, giảm 0,08% so với năm 2008 Nhóm tuổi 20 - 60 có tỉ lệ mắc và tử vong do tai nạn thương tích cao nhất (tương ứng là 62,5% và 66,7%); tiếp theo là nhóm 15 - 19 tuổi (14,4% và 10,5%); 5 - 14 tuổi (10,5% và 6,8%); nhóm 0 - 4 tuổi (5,7% và 4,8%) Nam giới có tỷ lệ mắc và tử vong do tai nạn
Trang 28thương tích (68,7% và 75,8%) cao hơn nữ giới (31,3% và 24,2%) Tỷ lệ mắc tai nạn giao thông (TNGT) đứng hàng đầu trong các nguyên nhân gây TNTT chiếm 39,4%, giảm 1,6% so với năm 2008 Tiếp theo là tai nạn lao động 15,1%, ngã 12,3%, bạo lực 6,9% Một số nguyên nhân có xu hướng tăng gồm ngộ độc, ngã, các loại hình tai nạn thương tích còn lại có xu hướng giảm Tỷ
lệ tử vong do TNGT đứng hàng đầu trong các nguyên nhân tử vong TNTT chiếm 63,7%, giảm 1,9 % năm 2008 Tiếp theo là tai nạn lao động 6,4%, đuối nước 6,1%, tự tử 4,0%, bạo lực xung đột 3,1% Tai nạn lao động, đuối nước
và bạo lực xung đột có xu hướng tăng nhẹ Các bộ phận bị tổn thương do TNTT: tổn thương chi có tỷ lệ mắc cao nhất 36,7%, tổn thương đầu mặt cổ gây tử vong cao nhất 52,1% Địa điểm tai nạn: Tỷ lệ mắc và tử vong do tai nạn thương tích trên đường đi chiếm tỷ lệ cao nhất (44,2% và 66,1%), chiếm
tỷ lệ cao thứ hai là tai nạn thương tích tại nhà với 25,3% và 13,8% Tai nạn thương tích tại trường học có tỷ lệ mắc và tử vong thấp nhất (3,2% và 3,31%) Trong cả nước có 10 tỉnh có số mắc tai nạn thương tích cao nhất là: Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Bà Rịa Vũng Tàu, Đồng Tháp, Bình Thuận, Long
An, Kiên Giang, Cần Thơ, Đắc Lắc, Bến Tre Ngày 10/6/2011, Bộ trưởng Bộ
Y tế đã ký ban hành Quyết định số 1900/QĐ-BYT phê duyệt Kế hoạch phòng chống tai nạn thương tích tại cộng đồng của Ngành Y tế giai đoạn 2011 -
2015 Mục tiêu chung của Kế hoạch nhằm tăng cường triển khai các nhiệm vụ của ngành Y tế trong công tác phòng chống TNTT tại cộng đồng, góp phần giảm tỷ lệ mắc, tử vong và tàn tật do TNTT [8]
Hiện nay tai nạn thương tích ở trẻ em đang có xu hướng tăng lên và là vấn đề y tế công cộng đáng quan tâm không chỉ ở Việt Nam mà còn ở các nước đang phát triển Theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới, mỗi năm trên toàn cầu có hơn 900.000 trẻ em và vị thành niên dưới 18 tuổi tử vong do thương tích, trong đó 90% là thương tích không chủ ý 95% tử vong do
Trang 29thương tích trẻ em xảy ra ở các quốc gia thu nhập thấp và trung bình Ngoài những ca tử vong, hàng chục triệu trẻ em đòi hỏi phải được chăm sóc tại các
cơ sở y tế và nhiều trẻ bị tàn tật suốt đời Nghiên cứu của tác giả Bùi Thị Minh Thái cũng cho biết ba nhóm nguyên nhân tử vong hàng đầu ở huyện Thạch Thất lần lượt là nhóm khối u và ung thư (24,11%), bệnh tim mạch (22,34%) và tai nạn thương tích (12,94%) Ở nhóm tuổi 5 - 14 tuổi, nguyên nhân tử vong chủ yếu là tai nạn thương tích, chiếm 50% [31]
Tại Việt Nam, thống kê của Cục Quản lý môi trường cho thấy, mỗi năm trung bình có hơn 370.000 trẻ bị tai nạn thương tích, trong đó nhóm 15 -
19 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất là 43%, tiếp đến nhóm tuổi 5 - 14 chiếm 36,9%, thấp nhất là nhóm tuổi 0 - 4 chiếm 19,5% Số trẻ em tử vong do tai nạn thương tích là 6.600 trường hợp một năm chiếm tỷ lệ 35,5% trong tổng số trẻ
tử vong trong toàn quốc do tất cả các nguyên nhân Cứ 100.000 trẻ có 24 trẻ
tử vong do tai nạn thương tích hay tương đương 18 trẻ em tử vong do tai nạn thương tích mỗi ngày Các em trai có xu hướng bị thương tích thường xuyên hơn và nghiêm trọng hơn so với các em gái Tỷ lệ tử vong ở nam giới cao hơn
3 lần so với nữ giới Trong các nguyên nhân tử vong do tai nạn thương tích ở trẻ em, thì đuối nước là nguyên nhân hàng đầu với 3.500 trẻ em và vị thành niên từ 0 - 19 tuổi tử vong mỗi năm tương đương có khoảng 10 trẻ em tử vong mỗi ngày Trong các nhóm tuổi, trẻ từ 0 - 4 tuổi chiếm tỷ lệ tử vong do đuối nước cao nhất với khoảng 36%, nhóm tuổi 15 - 19 chỉ chiếm khoảng 16%; từ 5 - 9 tuổi chiếm 25%, nhóm 10 - 14 tuổi chiếm tỷ lệ gần tương đương với nhóm 5 - 9 tuổi (26%) [8], [9], [39] Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thúy Quỳnh và cộng sự cũng cho biết đối với học sinh tiểu học thì nguyên nhân gây tai nạn thương tích không tử vong thường gặp là ngã, TNGT, bỏng, vật sắc nhọn, động vật tấn công, đuối nước Trong đó nguyên nhân hàng đầu là đuối nước và ngã [29]
Trang 30Tuỳ từng lứa tuổi mà trẻ có thể gặp các loại hình/nguyên nhân tai nạn thương tích khác nhau Đối với trẻ sơ sinh: Nguyên nhân tai nạn thương tích chiếm tỷ lệ cao nhất là đuối nước, ngã, ngạt, bỏng, tai nạn giao thông và ngộ độc Đối với trẻ dưới 1 tuổi: Nguyên nhân tai nạn thương tích thường gặp là đuối nước, ngã, bỏng, tai nạn giao thông, ngộ độc, ngạt Đối với trẻ 1 - 4 tuổi: đuối nước vẫn là nguyên nhân hàng đầu, tiếp theo là bỏng, các nguyên nhân thường gặp khác như ngã, tai nạn giao thông, động vật cắn, ngộ độc cũng có thể gặp nhưng tỷ lệ không cao Đối với trẻ 5 - 9 tuổi: Đuối nước vẫn
là nguyên nhân hàng đầu, một số nguyên nhân hay gặp khác như tai nạn giao thông, chấn thương do vật sắc nhọn và động vật tấn công Những nguyên nhân ít gặp hơn như ngạt, ngã, ngộ độc, sét đánh Đối với trẻ 10 - 14 tuổi: Đuối nước và tai nạn giao thông là 2 nguyên nhân hàng đầu Các nguyên nhân khác có tỷ lệ thấp hơn như đánh nhau, động vật tấn công, tự tử Đối với trẻ 15
- 19 tuổi: Tai nạn giao thông nổi lên như là nguyên nhân hàng đầu mà nguyên nhân một phần là do chưa có thói quen cho trẻ đội mũ xe máy khi tham gia giao thông [3], [18] Các nguyên nhân khác như tự tử, bạo lực học đường, đuối nước hiện nay cũng đang là vấn đề hết sức nóng đã đẻ lại hệ lụy không nhỏ đối với bản thân các em, gia đình, nhà trường và xã hội [12], [19] Một trong những yếu tố liên quan đến tai nạn thương tích ở trẻ em đó là người chăm sóc trẻ có kiến thức, thái độ về phòng tránh tai nạn thương tích chưa đạt, tỷ lệ đạt về thực hành cũng chưa cao, nhất là trẻ em dưới 5 tuổi cần phải
có sự chăm sóc chu đáo cẩn thận [30], [33]
Đến nay, Bộ Y tế đưa ra Kế hoạch phòng chống tai nạn thương tích tại cộng đồng giai đoạn 2016 - 2020 [9] với mục tiêu chung nâng cao năng lực của ngành Y tế trong công tác phòng chống tai nạn thương tích tại cộng đồng góp phần giảm tỷ lệ mắc, tử vong và tàn tật do tai nạn thương tích, đặc biệt là tai nạn giao thông, đuối nước, tai nạn lao động, bạo lực Mục tiêu cụ thể đó là:
Trang 31- Mục tiêu 1: 100% các tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương thành lập Ban chỉ đạo phòng chống TNTT tại cộng đồng và tổ chức các hoạt động tại địa phương
- Mục tiêu 2: 100% các tỉnh/thành phố thực hiện tuyên truyền, giáo dục
và đào tạo nâng cao nhận thức, kỹ năng của cán bộ y tế và cộng đồng trong phòng chống TNTT
- Mục tiêu 3: Trên 95% địa phương tổ chức giám sát, báo cáo đúng hạn, đầy đủ số liệu mắc, tử vong do TNTT tại các cơ sở y tế và cộng đồng
- Mục tiêu 4: Củng cố, phát triển mạng lưới và năng lực sơ cứu, cấp cứu tai nạn thương tích tại cộng đồng và chăm sóc chấn thương tại các cơ sở y tế 100% nhân viên y tế thôn, bản biết các kỹ thuật sơ cứu, cấp cứu ban đầu cho trẻ em bị tai nạn, thương tích
- Mục tiêu 5: Đến năm 2020, tăng 50% số xã, phường, thị trấn đạt tiêu chuẩn cộng đồng an toàn so với năm 2015
Trang 32Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Địa điểm và đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Địa bàn nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành trên 2 xã tiếp giáp thành phố Thái Bình là:
Xã Vũ Chính - thành phố Thái Bình và xã Vũ Hội - huyện Vũ Thư
Một số đặc điểm chung về địa bàn nghiên cứu:
Thái Bình là một tỉnh phía bắc ven biển đồng bằng sông Hồng Trung tâm tỉnh là thành phố Thái Bình cách thủ đô Hà Nội 110 km về phía đông nam, cách thành phố Hải Phòng 70km về phía tây nam Thái Bình tiếp giáp với 5 tỉnh, thành phố: phía bắc giáp Hải Dương, phía tây bắc giáp Hưng Yên, phía đông bắc giáp Hải Phòng, phía tây giáp Hà Nam, phía tây và tây nam giáp Nam Định, phía đông giáp biển Địa hình khá bằng phẳng với khí hậu cận nhiệt đới ẩm Tỉnh Thái Bình gồm thành phố Thái Bình và 7 huyện
là Đông Hưng, Quỳnh Phụ, Hưng Hà, Thái Thụy, Tiền Hải, Kiến Xương,
Vũ Thư
Thành phố Thái Bình là trung tâm văn hóa, chính trị, kinh tế - xã hội của tỉnh, là 1 trong 6 đô thị của vùng duyên hải Bắc Bộ Đồng thời là đầu mối giao thông quan trọng giao lưu với các tỉnh, thành phố vùng đồng bằng Sông Hồng và các huyện trong tỉnh Thành phố có diện tích 67,71 km², dân số 268.167 người, Mật độ 3.961 người/km², có 19 đơn vị hành chính gồm 10 phường và 9 xã Thành phố Thái Bình có mạng lưới y tế phát triển: có nhiều bệnh viện và phòng khám đa khoa Mạng lưới y tế bao phủ toàn diện từ thành phố đến xã, phường, thôn, tổ Triển khai có hiệu quả các chương trình Y tế Quốc gia, các biện pháp phòng chống dịch bệnh và nâng cao chất lượng khám chữa bệnh tại các tuyến y tế cơ sở Nhân lực của các trạm Y tế các xã,
Trang 33phường đã được bổ sung đầy đủ số lượng, sắp xếp tương đối đủ các chức danh thực hiện nhiệm vụ chuyên môn theo chuẩn Quốc gia về y tế xã
Xã Vũ Chính, nằm ở cửa ngõ phía nam của thành phố Thái Bình, cách trung tâm thành phố 3,5 km; phía đông giáp với Vũ Lạc, phía đông bắc giáp phường Trần Lãm, phía tây giáp với xã Vũ Phúc, phía nam giáp với xã
Vũ Hội huyện Vũ Thư, phía bắc giáp phường Kỳ Bá, phía tây bắc giáp phường Quang Trung Diện tích tự nhiên của xã là 5,58 km2 gồm 12 thôn và
2 tổ dân phố, dân số 12.930 người, 3.821 hộ y tế, phụ nữ trong độ tuổi sinh
đẻ là 3.298 người và 1.193 trẻ em dưới 5 tuổi, dân cư sống tập trung ở thành
3 làng Tống Vũ, Tống Văn, Lạc Chính Các tuyến giao thông qua xã bao gồm tỉnh lộ 223, tuyến đường vành đai thành phố qua xã dài trên 7 km kết nối các xã của thành phố Thái Bình, huyện Vũ Thư, Kiến Xương với nút giao cắt quốc lộ 10 Xã Vũ Chính có điều kiện phát triển tương đối toàn diện
cả về nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ 70% người dân trong xã sống bằng nghề sản xuất nông nghiệp với rau màu và trồng hoa cung cấp cho thành phố Thái Bình Xã có hàng chục cơ sở tiểu thủ công nghiệp đan, may Ngoài ra, xã có khoảng 1.000 lao động đang làm việc tại các nhà máy, khu công nghiệp ở thành phố Thái Bình Trạm y tế xã Vũ Chính nằm ở trung tâm của xã, cung cấp các dịch vụ y tế cơ bản cho nhân dân như phòng bệnh, khám, chữa bệnh và sơ cấp cứu ban đầu, đồng thời thực hiện công tác truyền thông, giáo dục sức khỏe về phòng chống bệnh tật và tai nạn thương tích
Vũ Thư là huyện nằm giữa ranh giới phía tây của tỉnh Thái Bình với tỉnh Nam Định Phía bắc và đông bắc lần lượt giáp các huyện Hưng
Hà và Đông Hưng, phía tây và nam giáp tỉnh Nam Định, phía đông giáp thành phố Thái Bình và huyện Kiến Xương, có quốc lộ 10 chạy qua gồm 29 xã và
Trang 3401 thị trấn, diện tích 195,2 km² và dân số khoảng 224.832 người Mật độ 1.152 người/km²
Vũ Hội là một xã có đông dân cư của huyện Vũ Thư cách trung tâm huyện Vũ Thư 9 km, cách trung tâm thành phố Thái Bình 3 km; phía đông giáp với xã Vũ Ninh huyện Kiến Xương, phía tây giáp xã Vũ Phúc thành phố Thái Bình, phía nam giáp xã Vũ Vinh và xã Việt Thuận, phía bắc giáp xã Vũ Chính thành phố Thái Bình; cơ cấu hành chính gồm 9 thôn, diện tích 5.75 km², dân
số 11.875 người, 3.175 hộ y tế, phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ là 3.912 người và
840 trẻ em dưới 5 tuổi Các tuyến giao thông qua xã bao gồm tỉnh lộ 223, tỉnh
lộ 454 đi qua chợ họp thường ngày nên có mật độ người và phương tiện lưu thông rất cao Xã được UBND tỉnh công nhận là xã nghề, nông nghiệp chỉ chiếm 20% cơ cấu kinh tế của địa phương, hoạt động làng nghề phát triển phong phú và sôi động nhất huyện Vũ Thư Vũ Hội hiện có 2 doanh nghiệp và
230 cơ sở sản xuất ở 17 ngành nghề công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp khác nhau, trong đó có 51 cơ sở sản xuất, chế biến thực phẩm, xay xát; 42 cơ sở làm bún, bánh; 30 cơ sở sản xuất rượu truyền thống; 25 cơ sở sản xuất đồ gỗ; 20 cơ
sở làm đậu phụ; 15 cơ sở sản xuất đồ cơ khí đúc đồng, đồ nhôm, nhựa… thu hút hơn 5.300 lao động tham gia thu nhập bình quân năm 2018 là 3.200.000đ/người/tháng, tỷ lệ hộ nghèo là 3% Xã có 03 trường học với trên 1.800 học sinh; trạm y tế rộng 500m2 nằm ở trung tâm xã với đầy đủ trang thiết
bị và nhân lực phục vụ và đáp ứng tốt về nhu cầu khám chữa bệnh, chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân, không để xảy ra dịch bệnh
2.1.2 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là người dân tại 2 xã Vũ Hội và Vũ Chính
Tiêu chuẩn lựa chọn:
- Người dân: là những người sống, sinh hoạt và làm việc tại địa phương trong thời gian ít nhất là 01 năm
Trang 35- Cả trẻ em và người lớn
- Người được phỏng vấn là chủ hộ hoặc người từ 18 tuổi trở lên có khả năng trả lời và hợp tác trong quá trình điều tra
- Người bị TNTT
2.1.3 Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 01/2018 đến tháng 12/2018
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu được thực hiện theo thiết kế nghiên cứu dịch tễ học mô
tả với điều tra cắt ngang Việc điều tra cắt ngang được thực hiện qua:
+ Điều tra hộ gia đình (bao gồm tất cả những người sống trong gia đình theo tuổi, giới và các đặc trưng khác)
+ Điều tra tất cả những người trong hộ gia đình đó bị TNTT trong thời gian từ 01/01/2018 - 31/12/2018
n: Cỡ mẫu cho nghiên cứu (số người dân điều tra)
Zα/2: Giá trị tra từ bảng Z với độ tin cậy = 5% , Zα/2 = 1,96
p: Tỷ lệ TNTT chung dựa vào một nghiên cứu trước là 4% [36]
: Hệ số tương đối, với nghiên cứu này chúng tôi chọn = 0,23 Thay các giá trị vào công thức, cỡ mẫu được tính toán và làm tròn n = 1800 người
Số hộ cần điều tra trong nghiên cứu là: 1800/3-5 người (mỗi hộ), như vậy
Trang 36phải điều tra khoảng 700 hộ gia đình, mỗi xã là khoảng 350 hộ Thực tế chúng tôi đã điều tra 719 hộ gia đình, trong đó xã Vũ Hội là 356 hộ và xã Vũ Chính
là 363 hộ, với số người là 1.625
- Cỡ mẫu cho xác định kiến thức thực hành về phòng chống tai nạn thương tích là toàn bộ các hộ được điều tra phỏng vấn chủ hộ hoặc người trên
18 tuổi Thực tế chúng tôi đã phỏng vấn 719 người
- Cỡ mẫu xác định một số đặc điểm tai nạn thương tích là toàn bộ số người bị tai nạn thương tích trong thời gian được điều tra, chúng tôi đã xác định được là 237 người
2.2.2.2 Kỹ thuật chọn mẫu:
+ Chọn xã điều tra: chúng tôi chọn chủ đích 2 xã nông thôn tiếp giáp
thành phố Thái Bình đó là xã Vũ Hội thuộc huyện Vũ Thư (xã có làng nghề chế biến thực phẩm, xay xát, làm bún, bánh, đồ mỹ nghệ, cơ khí, thu mua phế liệu ) và xã Vũ Chính thuộc thành phố Thái Bình là xã làm nông nghiệp (trồng lúa và rau màu)
+ Chọn hộ điều tra: Việc chọn hộ gia đình tại mỗi xã được thực hiện
theo phương pháp ngẫu nhiên như sau: Từ trung tâm của xã, dùng một cái chai đặt dưới đất rồi tiến hành quay chai khi chai dừng quay Cổ chai ở hướng nào thì đi theo hướng cổ chai đã chỉ ra, chọn một nhà gần nhất để vào, sau đó tiếp tục sang các nhà liền kề (cổng liền cổng) cho đến khi đủ cỡ mẫu nghiên cứu Khi vào nhà thì tiến hành hỏi trực tiếp chủ hộ gia đình hoặc một người lớn trên 18 tuổi trong gia đình về người bị tai nạn thương tích trong thời gian
1 năm qua tính từ thời điểm điều tra, đặc điểm tai nạn thương tích, kiến thức của người dân về phòng chống TNTT theo mẫu phiếu điều tra
2.2.3 Biến số và chỉ số trong nghiên cứu
+ Nhóm thông tin hộ gia đình, đối tượng nghiên cứu
- Số nhân khẩu thực tế trong hộ, trong đó số nam, nữ, trẻ dưới 6 tuổi
Trang 37- Số trường hợp bị TNTT theo địa bàn nghiên cứu
- Vai trò lao động trong gia đình trong gia đình
- Số lần bị TNTT trong năm qua
+ Nhóm các chỉ số về đặc điểm và nguyên nhân gây TNTT
- Những tổn thương của nạn nhân (các loại tổn thương theo ICD 10)
- Những vị trí bị tổn thương
- Hậu quả của TNTT
- Nhóm các chỉ số phân tích về nguyên nhân dẫn đến TNTT; vị trí xảy
ra TNTT, Thời gian xảy ra TNTT; các yếu tố nguy cơ; sơ cấp cứu;
+ Nhóm về kiến thức phòng chống TNTT của người dân
- Hiểu biết về các loại TNTT
- Hiểu biết các nguyên nhân gây TNTT
- Hậu quả gây TNTT
Trang 38- Cách phòng chống TNTT
2.2.4 Kỹ thuật thu thập thông tin, tiêu chuẩn đánh giá
Các thông tin hộ gia đình về chấn thương: Được thu thập bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp chủ hộ gia đình hoặc người có độ tuổi từ 18 trở lên trong gia đình bằng bộ câu hỏi đã được chuẩn bị trước
Bộ câu hỏi này được xây dựng dựa vào mục tiêu nghiên cứu Sau khi xây dựng xong, bộ câu hỏi này được thảo luận nhóm và được tiến hành điều tra thử, sau đó chỉnh sửa và hoàn thiện thành bộ công cụ điều tra chính thức
Về cấu trúc, bộ công cụ điều tra bao gồm 3 mẫu phỏng vấn
Mẫu 1: Phiếu điều tra hộ gia đình (phụ lục 1)
- Phiếu thông tin chung hộ gia đình
- Phiếu thông tin cá nhân trong hộ gia đình
Mẫu 2: Phiếu điều tra kiến thức phòng chống TNTT (phụ lục 2)
Tiêu chuẩn đánh giá về kiến thức của người dân được tính đạt trong từng câu hỏi phỏng vấn (điểm kiếm thức được tính là đạt khi người được phỏng vấn trả lời được từ 70% số câu trả lời trở lên):
+ Với câu hỏi điều tra kiến thức của người dân về các loại tai nạn thương tích có 10 ý trả lời, điểm đạt khi người được phỏng vấn trả lời được từ
7 ý trở lên;
+ Câu hỏi điều tra kiến thức của người dân về ảnh hưởng của tai nạn thương tích đến cuộc sống và sinh hoạt hàng ngày có 4 ý trả lời, điểm đạt khi người được phỏng vấn trả lời được từ 3 ý trở lên;
+ Câu hỏi điều tra kiến thức của người dân về các loại tai nạn thương tích trong sinh hoạt có 8 ý trả lời, điểm đạt khi người được phỏng vấn trả lời được từ 5 ý trở lên;
Trang 39+ Câu hỏi điều tra kiến thức của người dân về phòng chống tai nạn thương tích trong sinh hoạt có 5 ý trả lời, điểm đạt khi người được phỏng vấn trả lời được từ 3 ý trở lên;
+ Câu hỏi điều tra kiến thức của người dân về tai nạn thương tích trong lao động có 7 ý trả lời, điểm đạt khi người được phỏng vấn trả lời được từ 5 ý trở lên;
+ Câu hỏi điều tra kiến thức của người dân về cách phòng tránh tai nạn thương tích trong lao động có 4 ý trả lời, điểm đạt khi người được phỏng vấn trả lời được từ 3 ý trở lên;
+ Câu hỏi điều tra kiến thức của người dân về cách phòng tránh tai nạn thương tích trong giao thông có 4 ý trả lời, điểm đạt khi người được phỏng vấn trả lời được từ 3 ý trở lên;
Mẫu 3: Phiếu điều tra thông tin về TNTT trong vòng một năm (phụ lục 3)Tiêu chuẩn đánh giá người bị TNTT /tử vong do TNTT [7], [10]:
+ Trong nghiên cứu này, đánh giá TNTT đó là người bị TNTT phải đáp ứng một trong những tiêu chí sau:
- Mất ít nhất 01 ngày làm việc
- Mất ít nhất 01 ngày đi học
- Cần có sự chăm sóc y tế của cơ sở y tế hoặc chuyên gia y tế
- Không có khả năng tham gia vào các hoạt động thường ngày như: vệ sinh cá nhân, tắm, giặt, quét nhà, lau dọn, đi chợ ít nhất 01 ngày
+ Tử vong do TNTT: là những trường hợp tử vong bởi TNTT hoặc xảy ra trong vòng 01 tháng sau khi bị TNTT được xác định có liên quan đến TNTT
2.2.5 Thu thập thông tin
- Tập huấn cho các điều tra viên: Các điều tra viên là sinh viên năm thứ năm của Trường Đại học Y dược Thái Bình được phổ biến mục đích, mục tiêu và tầm quan trọng của cuộc điều tra Sau đó được thảo luận từng vấn đề,
Trang 40từng câu hỏi của bộ công cụ Từng cặp điều tra viên tập phỏng vấn trực tiếp bằng cách đóng vai để chỉnh sửa về câu từ cho hợp với ngôn ngữ địa phương
- Tiến hành điều tra thử: Các điều tra viên được đưa xuống thực địa để điều tra thử Mỗi điều tra viên điều tra thử từ 3 - 4 hộ gia đình, sau đó tiếp tục thảo luận để chỉnh lý và hoàn thiện Họp nhóm phổ biến về trình tự việc điều tra tại cộng đồng
- Tiến hành điều tra chính thức: Các điều tra viên tiến hành điều tra hộ gia đình theo mẫu phiếu số 1, điều tra kiến thức phòng chống TNTT theo mẫu phiếu số 2 Nếu hộ gia đình nào có trường hợp TNTT trong thời gian điều tra quy định thì tiếp tục điều tra theo mẫu phiếu số 3 Việc giám sát điều tra được thực hiện theo thường quy của phương pháp điều tra ngang
- Xử lý thô số liệu: Sau khi cuộc điều tra tại cộng đồng kết thúc, toàn bộ phiếu điều tra được xử lý số liệu trước khi nhập máy tính
2.2.7 Đạo đức trong nghiên cứu
Nghiên cứu về thực trạng TNTT ở cộng đồng nhằm phát hiện ra các nguyên nhân và các yếu tố nguy cơ với mục đích cung cấp các dữ liệu khoa học để giúp cho việc phòng chống TNTT trong cộng đồng Đề cương sẽ được thông qua bởi Hội đồng khoa học nhà trường
Quá trình thu thập số liệu sẽ phải hết sức trung thành, khách quan và chính xác Sự hợp tác của người dân với điều tra viên là hoàn toàn tự nguyện, không có một áp lực nào cả Những thông tin thu thập được chỉ phục vụ cho