1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng tiếp cận và chi trả khám chữa bệnh của bệnh nhi điều trị nội trú tại bệnh viện nhi hải dương năm 2016

102 46 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 1,58 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chi phí của các hộ gia đình cho y tế tăng không chỉ từ việc tăng sử dụng các dịch vụ khám chữa bệnh tại các cơ sở y tế tư nhân mà còn từ các khoản viện phí và chi phí thuốc từ các cơ sở

Trang 2

LUẬN VĂN THẠC SỸ Y TẾ CÔNG CỘNG

Hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Đức Thanh

THÁI BÌNH – 2016

Trang 3

hiệu, Phòng Quản lý Đào tạo Sau đại học, Khoa Y tế công cộng Trường Đại học Y Thái Bình đã tạo điều kiện tốt nhất để tôi học tập và hoàn thành luận văn cao học của mình

Tôi xin chân thành cảm ơn bệnh viện Nhi Hải Dương, đặc biệt là các khoa: Hồi sức cấp cứu, Hô hấp, Tiêu hóa, Ngoại, Truyền nhiễm, Nội tổng hợp, Sơ sinh đã tạo mọi điều kiện để tôi thực hiện triển khai đề tài

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới PGS-TS Nguyễn Đức Thanh- người thầy đã dành nhiều tâm huyết và trách nhiệm của mình trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình và đồng nghiệp là những người đã luôn động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Xin trân trọng cảm ơn!

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Trang 4

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu được tiến hành nghiêm

túc, các số liệu và kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được

ai công bố trong bất kỳ một công trình nào khác Nếu sai tôi xin hoàn toàn

chịu trách nhiệm

Thái Bình, tháng 5 năm 2016

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Phương Hằng

Trang 5

BHYT Bảo hiểm Y tế

Trang 6

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Một số khái niệm liên quan 3

1.2 Thực trạng tiếp cận và chi trả dịch vụ khám chữa bệnh của người dân 7 1.2.1 Kinh phí của cơ sở y tế cho công tác khám chữa bệnh 7

1.2.2 Việc tiếp cận và chi trả dịch vụ khám chữa bệnh của người dân 12 Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24

2.1 Đối tượng, địa bàn và thời gian nghiên cứu 24

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 24

2.1.2 Địa bàn nghiên cứu 24

2.1.3 Thời gian nghiên cứu 26

2.2 Phương pháp nghiên cứu 26

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 26

2.2.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 26

2.2.4 Nội dung nghiên cứu và kỹ thuật áp dụng trong nghiên cứu 31

2.2.5 Các biện pháp khống chế sai số 33

2.2.6 Phương pháp xử lý số liệu 33

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 35

3.1 THỰC TRẠNG TIẾP CẬN DỊCH VỤ KHÁM CHỮA BỆNH CỦA BỆNH NHI ĐIỀU TRỊ NỘI TRÚ 35

3.1.1 Thông tin của đối tượng nghiên cứu 35

3.1.2 Việc tiếp cận dịch vụ của đối tượng 38

3.2 VIỆC CHI TRẢ KHÁM CHỮA BỆNH CHO BỆNH NHI VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN 45

3.2.1 Việc chi trả khám chữa bệnh của đối tượng 45

Trang 7

Chương 4 BÀN LUẬN 564.1 THỰC TRẠNG TIẾP CẬN DỊCH VỤ KHÁM CHỮA BỆNH CỦA BỆNH NHI ĐIỀU TRỊ NỘI TRÚ 564.1.1 Thông tin của đối tượng nghiên cứu 564.1.2 Việc tiếp cận dịch vụ của đối tượng 594.2 VIỆC CHI TRẢ KHÁM CHỮA BỆNH CHO BỆNH NHI VÀ MỘT

SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN 644.2.1 Việc chi trả khám chữa bệnh của đối tượng 644.2.2 Một số yếu tố liên quan tới sự chi trả khám chữa bệnh cho bệnh nhi 71KẾT LUẬN 77KHUYẾN NGHỊ 79TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 8

Bảng 3.1 Thành phần dân tộc và tôn giáo của bố/mẹ hoặc người chăm sóc

bệnh nhi 36

Bảng 3.2 Trình độ học vấn của bố, mẹ hoặc người chăm sóc bệnh nhi 36

Bảng 3.3 Nghề nghiệp của bố/mẹ hoặc người chăm sóc bệnh nhi 37

Bảng 3.4 Thu nhập bình quân hàng tháng của bố/mẹ hoặc người chăm sóc bệnh nhi 37

Bảng 3.5 Khoảng cách từ nhà của đối tượng tới bệnh viện 38

Bảng 3.6 Phương tiện thường sử dụng tới bệnh viện của bố/mẹ hoặc người chăm sóc bệnh nhi 39

Bảng 3.7.Thời gian cần để đi tới bệnh viện của bố, mẹ hoặc người chăm sóc bệnh nhi 39

Bảng 3.8 Tỷ lệ được truyền thông về phòng chống bệnh chotrẻ em của bố, mẹ hoặc người chăm sóc bệnh nhi 40

Bảng 3.9 Tỷ lệ được cán bộ y tế truyền thông về phòng chống bệnh cho trẻ của bố/mẹ hoặc người chăm sóc bệnh nhi 41

Bảng 3.10 Hình thức nhập viện của bệnh nhi 42

Bảng 3.11 Tỷ lệ biết quyền lợi bệnh nhi khi sử dụng BHYT của bố/mẹ hoặc người chăm sóc bệnh nhi 43

Bảng 3.12 Tỷ lệ biết trách nhiệm khi sử dụng BHYT của bố/mẹ hoặc người chăm sóc bệnh nhi 43

Bảng 3.13.Giới tính của bệnh nhi 44

Bảng 3.14 Loại bảo hiểm y tế tham gia của bệnh nhi 45

Bảng 3.15 Loại bệnh mắc phải của bệnh nhi 46

Bảng 3.16 Hình thức KCB của bệnh nhi trước khi nhập viện 47

Bảng 3.17 Mức độ hài lòng của bố/mẹ hoặc người chăm sóc bệnh nhi khi sử dụng dịch vụ KCB tại bệnh viện 48

Trang 9

Bảng 3.19 Sự hài lòng của bố/mẹ hoặc người chăm sóc bệnh nhi với mức tiền trả trực tiếp cho y tế 49 Bảng 3.20 Tổng số tiền trung bình chi trả trong thanh toán của bệnh viện 50 Bảng 3.21 Tổng số tiền trung bình chi trả ngoài thanh toán của bệnh viện 50 Bảng 3.22 Nguồn kinh phí cho việc chi trả trong đợt KCB 51 Bảng 3.23 Việc có dự toán các chi phí phát sinh khi KCB 51 Bảng 3.24 So sánh mức chi phí viện phí cho bệnh nhi với tổng thu nhập trong năm qua của gia đình 52 Bảng 3.25 Mối liên quan giữa địa bàn sinh sống của đối tượng và khả năng chi trả 53 Bảng 3.26 Mối liên quan giữa trình độ học vấn và khả năng chi trả 53 Bảng 3.27 Mối liên quan giữa nghề nghiệp của đối tượng và khả năng chi trả 54 Bảng 3.28 Mối liên quan giữa mức thu nhập trung bình của đối tượng và khả năng chi trả 54 Bảng 3.29 Mối liên quan giữa hình thức nhập viện của đối tượng và khả năng chi trả 55

Trang 10

Biểu đồ 3.1 Địa bàn sinh sống của bố, mẹ hoặc người chăm sóc bệnh nhi (n=400) 35 Biểu đồ 3.2 Phương tiện thường sử dụng tới bệnh viện của bố, mẹ hoặc người chăm sóc bệnh nhi (n=400) 38 Biểu đồ 3.3 Nguồn thông tin được tiếp cận của bố, mẹ hoặc người chăm sóc bệnh nhi (n=400) 41 Biểu đồ 3.4 Hình thức nhập viện của bệnh nhi (n=400) 42 Biểu đồ 3.5 Việc tham gia bảo hiểm y tế của bệnh nhi(n=400) 45

Trang 11

ĐẶT VẤN ĐỀ

Những khó khăn về tài chính cho hoạt động y tế là vấn đề mang tính chất toàn cầu Bất kỳ quốc gia nào trên thế giới cũng đang phải giải quyết vấn đề huy động nguồn lực tài chính như thế nào để đáp ứng được nhu cầu sử dụng dịch vụ y tế ngày càng tăng cũng như sự leo thang của chi phí y tế Nhiều quốc gia đã và đang phải đối mặt với tình trạng bội chi quỹ bảo hiểm y tế (BHYT) [56] Tại nhiều nước ở châu Á, chi cho y tế tăng nhanh hơn so với tốc độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam là một nước thuộc nhóm có thu nhập thấp của thế giới, nguồn lực của nhà nước dành cho chi tiêu công nói chung và cho ngành y tế nói riêng còn nhiều hạn hẹp Trong khi đó tỷ lệ chi phí cho y tế của các hộ gia đình tăng từ 94 USD/đầu người năm 2011 lên 142 USD/đầu người năm 2014 [59] Chi phí của các hộ gia đình cho y tế tăng không chỉ từ việc tăng sử dụng các dịch

vụ khám chữa bệnh tại các cơ sở y tế tư nhân mà còn từ các khoản viện phí và chi phí thuốc từ các cơ sở y tế công Để đảm bảo công bằng trong y

tế, chăm sóc sức khoẻ (CSSK) cho mọi người, trong đó chú trọng tới người nghèo luôn luôn là mối quan tâm của Đảng và Nhà nước ta Trong thời gian qua đã có rất nhiều chính sách, giải pháp để hỗ trợ trong chăm sóc sức khỏe được ban hành như: chính sách tăng đầu tư cho y tế, tăng kinh phí để phát triển mạng lưới y tế cơ sở, mở rộng BHYT

Nước ta đang trên con đường xây dựng một nền y tế công bằng, phát triển và hiệu quả Trong công tác khám chữa bệnh, ngoài việc xây dựng mạng lưới và đưa dịch vụ đến gần người dân, một nguồn lực về tài chính đủ đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe nhân dân đóng vai trò quan trọng BHYT ở nước ta được xác định là một cơ chế tài chính chủ yếu trong tương lai, hướng tới mục tiêu công bằng, hiệu quả trong khám, chữa bệnh và toàn dân tham gia Chính sách BHYT ở Việt Nam sau hơn 10 năm triển khai thực hiện đã thu được những kết quả quan trọng, nguồn tài

Trang 12

chính BHYT đã đóng góp đáng kể vào sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân Đến nay quỹ BHYT đã đảm bảo được sự an toàn về tài chính trước những rủi ro về bệnh tật cho hàng triệu người và gia đình họ

Thực tế cho thấy, bên cạnh việc chi phí BHYT nhận được, bệnh nhân nói chung, gia đình của bệnh nhi nói riêng khi tiến hành khám chữa bệnh cũng phải chi trả cho các chi phí khác có liên quan tới việc khám chữa bệnh của con em mình Trong một số trường hợp, số tiền này là không nhỏ Đây là một thực tại ở hầu hết các bệnh viện trong đó có bệnh viện Nhi Hải Dương Những chi phí này có thể hạn chế được nếu như người bệnh và bệnh viện các giải pháp lựa chọn và cung cấp dịch

vụ phù hợp

Trong bối cảnh trên, việc trả lời câu hỏi: thực trạng tiếp cận dịch vụ khám chữa bệnh của bệnh nhi hiện nay ra sao, việc chi trả cho khám chữa bệnh của các đối tượng này như thế nào và góp phần đưa ra cơ sở dữ liệu cho các nhà quản lý và hoạch định chính sách có cơ sở khoa học trong việc đề ra các giải pháp phù hợp hơn để giúp các bệnh nhi tiếp cận tốt hơn dịch vụ chăm sóc sức khỏe Chính vì thế, chúng tôi tiến hành nghiên cứu

đề tài nàyvới hai mục tiêu sau:

1) Mô tả thực trạng tiếp cận dịch vụ khám chữa bệnh của bệnh nhi điều trị nội trú tại bệnh viện Nhi Hải Dương năm 2016

2) Xác định việc chi trả khám chữa bệnh cho bệnh nhi và một số yếu tố liên quan

Trang 13

Chương 1

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Một số khái niệm liên quan

Trẻ em: Theo điều 1, Luật Bảo vệ và chăm sóc và giáo dục trẻ em thì trẻ em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi [17]; và bệnh nhi: là tất cả trẻ em từ 16 tuổi trở xuống

Bảo hiểm y tế (BHYT): Bảo hiểm y tế là hình thức bảo hiểm được

áp dụng trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, do chủ lao động và người lao động đóng góp Được nhà nước bao cấp một phần, mức đóng góp không liên quan đến mức ốm đau, nhằm trợ giúp các thành viên tham gia khi họ không may gặp rủi ro, đau ốm cần phải khám và điều trị BHYT đề cao tính cộng đồng xã hội, không mang tính chất kinh doanh vì lợi nhuận [19]

Quỹ bảo hiểm y tế: Là quỹ tài chính được hình thành từ nguồn đóng BHYT và các nguồn thu hợp pháp khác, được sử dụng để chi trả chi phí khám chữa bệnh (KCB) cho người tham gia BHYT và những chi phí hợp pháp khác liên quan đến BHYT Ở Việt Nam, quỹ BHYT được hình thành chủ yếu từ các nguồn được kể đến như sau [16]:

- Người lao động và chủ sử dụng lao động; lao động làm việc theo hợp đồng lao động; cán bộ; công chức; viên chức…

- Quỹ BHXH đóng cho đối tượng hưu trí, mất sức lao động…

- Ngân sách nhà nước đảm bảo đóng phí BHYT cho một số đối tượng chính sách, ưu đãi xã hội (người có công, cựu chiến binh, bảo trợ xã hội, người nghèo, người cao tuổi trên 85 tuổi)

- Cá nhân tự đóng và ngân sách nhà nước hỗ trợ mức đóng cho đối tượng cận nghèo, học sinh sinh viên, nông dân

- Cá nhân tự đóng bao gồm các đối tượng: thân nhân người lao động, xã viên hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể và các đối tượng khác

Trang 14

Quỹ KCB BHYT dùng để chi trả một phần hoặc toàn bộ chi phí trong quá trình khám và điều trị của bệnh nhân có thẻ BHYT như: khám, chữa bệnh nội hoặc ngoại trú; khám bệnh để sàng lọc, chẩn đoán sớm một

số bệnh; vận chuyển người bệnh; thuốc, hóa chất, vật tư tiêu hao, các dịch

vụ kỹ thuật y tế theo danh mục của Bộ Y tế sử dụng trong KCB được thanh toán theo quy định [21], [16]

Chi phí [2]: Chi phí là sự tổn phí phải trả (trực tiếp hoặc gián tiếp) khi thực hiện một hoạt động kinh tế nào đó Chi phí của một loại hàng hoá, dịch vụ là giá trị của nguồn lực được sử dụng để sản xuất ra hàng hoá, dịch vụ đó Chi phí không có nghĩa là chi tiêu, chi tiêu là tiền được chuyển để mua hàng hoá hoặc dịch vụ Chi phí không có nghĩa là giá cả Giá cả phản ánh tỷ lệ hối đoái của thị trường Một số hoạt động có thể có chi phí mà không có giá hoặc giá trị trên thị trường, trong khi đó một số khác có giá tại thị trường nhưng không phản ánh nguồn lực thực sự cho một hoạt động của xã hội

Phân loại chi phí theo nguồn gốc chi tiêu: Đây là một cách phân loại thường được sử dụng đặc biệt trong tính chi phí cho một dịch vụ y

tế [2] Phương pháp phân loại này cho thấy chi phí được phân chia thành chi phí trực tiếp, chi phí gián tiếp Trong chi phí trực tiếp có chi phí trực tiếp cho điều trị và không cho điều trị Trong chi phí gián tiếp

có chi phí gián tiếp cho điều trị và không cho điều trị Cách phân loại

đó được thể hiện như sau:

- Chi phí trực tiếp: gồm có chi phí trực tiếp cho điều trị ví dụ như chi cho nằm viện, chi cho thuốc, chi cho làm xét nghiệm và chi phí trực tiếp không cho điều trị như ăn uống, đi lại v.v

- Chi phí gián tiếp: Thu nhập mất đi do phải nghỉ việc hoặc do mất khả năng vận động

Trang 15

Góc độ tính toán chi phí: Để cung cấp thông tin cho các nhà cung cấp dịch vụ y tế, nghiên cứu tính toán chi phí từ góc độ của bệnh viện, bao gồm các nguồn lực mà cơ sở y tế phải bỏ ra để điều trị cho người bệnh [37]

Trong các nguồn tài chính cho y tế, BHYT là hình thức cung cấp tài chính đảm bảo được tính công bằng, hiệu quả và ưu việt hơn hẳn hình thức thu viện phí Ở nước ta, BHYT ra đời từ năm 1992 và tính đến năm

2009 đã bao phủ được khoảng 55% dân số Việt Nam Luật Bảo hiểm Y tế được ban hành cuối năm 2008, có hiệu lực từ tháng 7 năm 2009 đã đề ra

lộ trình tiến tới BHYT toàn dân vào năm 2014 [33]

Chi phí khám chữa bệnh BHYT: Là chi phí của người bệnh BHYT được xác định theo giá một phần viện phí tại các cơ sở KCB, chưa tính đến chi phí gián tiếp từ phía người bệnh, chi phí cơ hội và một số yếu tố khác có liên quan [2]

Cùng chi trả chi phí khám chữa bệnh BHYT: Là người có thẻ BHYT khi đi khám, chữa bệnh phải tự trả một phần chi phí KCB theo tỷ

lệ quy định Ở Việt Nam, theo quy định tại Luật Bảo hiểm y tế, người tham gia BHYT có trách nhiệm cùng chi trả 1 phần chi phí KCB theo tỷ lệ nhất định Tỷ lệ này quy định cụ thể theo từng đối tượng tham gia, loại dịch vụ kỹ thuật cao mà người bệnh sẻ dụng, tuyến và hạng bệnh viện mà bệnh nhân tự chọn Tỷ lệ cùng chi trả theo các hình thức được quy định từ5%- 70% chi phí KCB [16]

Viện phí: Là các khoản cơ sở khám, chữa bệnh thu của bệnh nhân khi cung cấp các dịch vụ y tế cho họ, để bù đắp một phần hoặc toàn bộ các chi phí mà đơn vị đó đã sử dụng để vận hành mọi hoạt động của cơ sở

Chi phí KCB mà các cơ sở khám, chữa bệnh thu của người sử dụng dịch vụ y tế hay thanh toán với cơ quan BHYT hiện nay chỉ là một phần viện phí được quy định theo Nghị định 95/CP ngày 27/8/1994 của Chính

Trang 16

phủ Một phần viện phí là một phần trong tổng chi phí cho việc KCB Một phần viện phí chỉ tính tiền thuốc, dịch truyền, hóa chất, máu, xét nghiệm, X- quang, vật tư tiêu hao thiết yếu và dịch vụ KCB, không tính khấu hao tài sản cố định, chi phí sửa chữa thường xuyên, chi phí hành chính, đào tạo, nghiên cứu khoa học, đầu tư kinh phí xây dựng cơ sở vật chất và trang thiết bị lớn [19]

Đối với người bệnh ngoại trú, biểu giá thu một phần viện phí được tính theo lần khám bệnh và các dịch vụ kỹ thuật mà người bệnh trực tiếp

sử dụng [19]

Đối với người bệnh nội trú, biểu giá thu một phần viện phí được tính theo ngày giường điều trị nội trú của từng chuyên khoa theo phân hạng bệnh viện và các khoản chi phí thực tế sử dụng trực tiếp cho người bệnh bao gồm: tiền thuốc, dịch truyền, máu, xét nghiệm, phim X- quang và thuốc cản quang [19]

Một số khái niệm về thanh toán BHYT được quy định trong các văn bản pháp luật ở Việt Nam [16]:

- Thanh toán BHYT xã hội: là hình thức thanh toán chi phí KCB

trực tiếp hay gián tiếp của tổ chức quản lý quỹ BHYT cho người có thẻ BHYT thông qua các thủ tục pháp lý do nhà nước quy định

- Thanh toán trực tiếp: là cơ quan BHYT thanh toán trực tiếp chi phí KCB cho người tham gia BHYT

- Thanh toán gián tiếp: là cơ quan BHYT chi trả chi phí KCB cho người tham gia BHYT thông qua cơ sở KCB

- Thanh toán ngoại trú: là phần chi phí điều trị ngoại trú bao gồm: công khám, kỹ thuật chẩn đoán xét nghiệm, thuốc theo đơn được cơ quan quản lý quỹ BHYT thanh toán trực tiếp cho người bệnh hoặc thông qua cơ

sở y tế, hiệu thuốc, trung tâm chẩn đoán hình ảnh, xét nghiệm

Trang 17

- Thanh toán nội trú: là phần chi phí điều trị nội trú bao gồm: chi phí ngày giường, kỹ thuật chẩn đoán xét nghiệm, thuốc, thủ thuật phẫu thuật, vật tư y tế tiêu hao, điện nước… được cơ quan quản lý quỹ BHYT thanh toán trực tiếp cho người bệnh hoặc thông qua cơ sở y tế

1.2 Thực trạng tiếp cận và chi trả dịch vụ khám chữa bệnh của người dân

1.2.1 Kinh phí của cơ sở y tế cho công tác khám chữa bệnh

1.2.1.1 Kinh phí từ huy động các nguồn lực tài chính cho y tế ở VN

Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), chi y tế bình quân đầu người tại Việt Nam năm 2011 là 95 USD Tỷ lệ chi từ tiền túi hộ gia đình vẫn ở mức trên 50% tổng chi y tế, chi ngân sách nhà nước cho y tế mới chiếm 26% tổng chi toàn xã hội cho y tế (2010) [6] Tác động của nền kinh tế thị trường đã dẫn đến thay đổi mô hình tiếp cận và sử dụng dịch vụ KCB [52]

Y tế nước ta đang phát triển và chịu sự ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường, hệ thống chăm sóc sức khỏe đang phát triển đa dạng nhiều thành phần, nhiều loại hình cung cấp các dịch vụ khám chữa bệnh (KCB) [4] Ngành Y tế đang phải đối mặt với thách thức: y tế phải đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khoẻ (CSSK) ngày càng cao, KCB với kỹ thuật y tế chất lượng cao, song song là phải quan tâm đến chăm sóc sức khoẻ người nghèo, người cận nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi, các đối tượng chính sách, vùng khó khăn, vùng sâu, vùng xa Việc đảm bảo công bằng về chăm sóc sức khỏe cho nhân dân và trong điều kiện nền kinh tế thị trường là một vấn đề cấp bách, thách thức, vừa là một chính sách lâu dài Tuy vậy không phải ai cũng đủ khả năng để chi trả các khoản chi phí KCB, đặc biệt là người nghèo và trẻ em Do đó bảo hiểm y tế Việt Nam ra đời năm 1992 và

có hiệu lực thi hành chính thức từ ngày 01/10/1992 là một loại hình bảo hiểm mang ý nghĩa cộng đồng sâu sắc, là hoạt động mang tính nhân văn

Trang 18

của Đảng và Nhà nước ta thể hiện ở chỗ huy động sự đóng góp của số đông người khỏe mạnh để bù đắp cho số ít người ốm đau, giúp họ vượt qua được khó khăn về mặt tài chính khi đi khám chữa bệnh [23]

Việt Nam đã ban hành và thực hiện có kết quả nhiều chính sách liên quan đến BHYT, đặc biệt là Luật BHYT (2008) Chính phủ đã phê duyệt

đề án thực hiện lộ trình BHYT toàn dân, với mục tiêu năm 2015 có 70% dân số tham gia BHYT Nhà nước đã hỗ trợ toàn bộ kinh phí mua thẻ BHYT cho trên 27 triệu đối tượng chính sách xã hội (người nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi,…); liên tục mở rộng đối tượng, tăng mức hỗ trợ đóng phí BHYT cho người cận nghèo và học sinh sinh viên Mở rộng phạm vi bao phủ BHYT với các dịch vụ KCB, phục hồi chức năng ở các tuyến y tế Năm 2012, ước khoảng 59,31 triệu người tham gia BHYT, đạt tỷ lệ bao phủ 66,8% dân số Ở một số tỉnh miền núi có đông người nghèo, người dân tộc thiểu số, tỷ lệ này đạt trên 75% Tần suất sử dụng thẻ BHYT để KCB năm 2011 là 2,02 lượt/người; cứ 100 người có 15,6 lượt điều trị nội trú trong năm [6]

Trong những năm gần đây, với nhiều đổi mới về chính sách y tế (xã hội hóa, tự chủ tài chính…), phương thức thu phí theo dịch vụ hiện đang bộc lộ nhiều bất cập Dịch vụ KCB là một loại dịch vụ đặc biệt với đặc điểm là tính bắt buộc cao (ốm thì phải khám chữa bệnh) và người sử dụng không có đủ kiến thức, thông tin để quyết định mình cần sử dụng loại dịch

vụ gì là phù hợp nhất Vì vậy, tình trạng lạm dụng dịch vụ khám chữa bệnh (xét nghiệm chẩn đoán, thuốc điều trị, thời gian điều trị…) xảy ra khá phổ biến cả ở các cơ sở y tế công lập và tư nhân [4]

Quỹ BHYT trở thành một nguồn tài chính quan trọng cho chăm sóc sức khỏe Năm 2012, quỹ BHYT đã chi khoảng 33.419 tỷ đồng (1,7 tỷ USD) cho KCB Nhờ nguồn quỹ này, mạng lưới cung ứng dịch vụ y tế tiếp tục được củng cố và nâng cấp, danh mục thuốc, dịch vụ kỹ thuật ngày

Trang 19

càng được mở rộng, đáp ứng tốt hơn nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân Tình hình tham gia BHYT năm 2010 cho thấy cả nước có 86.866 người có thẻ BHYT trong đó số có thẻ BHYT bắt buộc là 33.343 người, số BHYT dành cho người nghèo là 13.511 và số BHYT bắt buộc là

3.917 người [6]

1.2.1.2 Kinh phí Ngân sách nhà nước:

Trong những năm gần đây, nhà nước đã tăng ngân sách nhà nước cho y tế thông qua việc dành ngân sách cho chăm sóc sức khỏe người có công, người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số, nhân dân ở vùng kinh tế –

xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn Quốc hội đã ban hành Nghị quyết

số 18/2008/NQ-QH12 về “Đẩy mạnh thực hiện chính sách, pháp luật xã hội hoá để nâng cao chất lượng chăm sóc sức khoẻ nhân dân” với mục tiêu

"Tăng tỷ lệ chi ngân sách hằng năm cho sự nghiệp y tế, bảo đảm tốc độ tăng chi cho y tế cao hơn tốc độ tăng chi bình quân chung của ngân sách nhà nước” [4]

Sau khi có Nghị quyết 46-NQ/TW, ngày 23/2/2005, của Bộ Chính trị, đầu tư cho y tế đã tăng lên đáng kể, năm 2007 chi cho y tế chỉ đạt 31.841 tỷ đồng thì năm 2009 đã đạt 60.135 tỷ đồng tăng gần gấp đôi về giá trị tuyệt đối sau 3 năm [5]

Năm 2005 chi cho y tế từ ngân sách nhà nước chỉ đạt 5,22% tổng chi ngân sách nhà nước, thì năm 2009 đã đạt 8,2% Tỷ lệ chi từ ngân sách nhà nước cho y tế tăng nhanh những năm gần đây có thể bắt nguồn từ việc Chính phủ thực hiện đầu tư mạnh mẽ cho các dự án bệnh viện đa khoa tuyến huyện và các bệnh viện tuyến tỉnh thông qua nguồn vốn trái phiếu Chính phủ, để thực hiện Nghị quyết 18/2008/QH12 của Quốc hội Chính phủ cũng đã tăng ngân sách hỗ trợ mua BHYT cho nhóm dân số nghèo và trẻ em dưới 6 tuổi để thực hiện Luật BHYT (có hiệu lực từ 1/7/2009) Để đạt và duy trì được tỷ lệ chi ngân sách nhà nước cho y tế đạt mức trên

Trang 20

10% tổng chi ngân sách nhà nước trong những năm tới sẽ cần phải có những nỗ lực rất lớn từ phía Chính phủ và Bộ Y tế vì nguồn trái phiếu Chính phủ sẽ giảm dần [5]

1.2.1.3 Kinh phí từ người bệnh chi trả

Cũng như nhiều nước đang phát triển, chi tiêu y tế từ tiền túi hộ gia đình chiếm tỷ lệ lớn trong tổng chi y tế Trong đó, 70% dùng để chi trả KCB nội trú và ngoại trú (công lập và tư nhân), 30% còn lại sử dụng để tự mua thuốc, vật tư y tế về chữa Theo số liệu của Bộ Y tế, trong dự thảo Tài chính y tế quốc gia 2004-2006, tỷ lệ này không giảm giữa năm 2004

và 2006 (63,9%, 65,8% và 62,8% cho các năm 2004, 2005, 2006) Như vậy, mặc dù có những nỗ lực trong điều chỉnh tăng nguồn tài chính công cho y tế (ngân sách nhà nước, viện trợ và BHYT), tỷ lệ chi tiêu cho y tế từ tiền túi hộ gia đình trên tổng chi tiêu y tế của toàn xã hội vẫn đang ở mức cao, ảnh hưởng bất lợi tới mục tiêu công bằng của hệ thống y tế Phân tích

cơ cấu chi phí cho điều trị nằm viện của hộ gia đình cho thấyphần nộp viện phí chỉ chiếm 60% còn lại là chi gián tiếp người bệnh trả cho mua thuốc và dịch vụ y tế thêm ở ngoài cơ sở điều trị, chi phí ăn ở, đi lại, quà biếu cho nhân viên y tế Càng lên tuyến trên, người bệnh càng phải chi nhiều hơn cho các khoản gián tiếp Gần 84% chi phí điều trị ngoại trú của

hộ gia đình là chi cho thuốc và dịch vụ y tế, chi phí gián tiếp chỉ chiếm 16% Có sự gia tăng rõ rệt trong chi phí khám chữa bệnh khi đi từ tuyến huyện lên tuyến tỉnh và trung ương đối với cả điều trị nội trú và ngoại trú Mức chi tiền túi của hộ gia đình tăng theo mức sống của người dân Bình quân mức chi trả cho một đợt nằm viện ở nhóm giàu cao gấp 3 lần nhóm nghèo Tỷ lệ này là 2 lần đối với điều trị ngoại trú [7]

1.2.1.4 Viện trợ, vốn vay nước ngoài

Viện trợ và vay nước ngoài cho lĩnh vực y tế trong thời gian qua đã góp phần bổ sung một phần cho ngân sách nhà nước Số tiền viện trợ và

Trang 21

vay nước ngoài năm 2003 là 871 tỷ đồng, tăng liên tục trong 4 năm qua (2003-2006) và đạt 1,460 tỷ đồng năm 2006 Hai hình thức viện trợ chủ yếu là viện trợ phát triển chính thức (ODA) và viện trợ phi chính phủ Năm 2010, tổng vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) cấp xấp xỉ 3.500

tỷ đồng, chiếm khoảng 8% ngân sách nhà nước chi cho y tế, tỷ lệ giải ngân đạt 72% [7]

1.2.1.5 Bảo hiểm y tế thương mại

Bảo hiểm y tế tư nhân vì lợi nhuận đã xuất hiện ở nước ta sau thời

kỳ đổi mới Số lượng các công ty bảo hiểm nước ngoài có mặt tại Việt Nam tăng nhanh trong những năm gần đây Theo số liệu không chính thức, năm 2006 đã có 37 công ty bảo hiểm thương mại đăng ký hoạt động tại Việt Nam với tổng doanh thu chiếm 1,8% GDP Theo thống kê sơ bộ,

số hợp đồng mua bảo hiểm nhân thọ đã lên tới 5,6 triệu trong đó hơn 2 triệu hợp đồng có nội dung BHYT Các công ty kinh doanh bảo hiểm trong nước như Bảo Việt, Bảo Minh, Pjico thực hiện một số chương trình bảo hiểm y tế thương mại, tập trung vào nhóm đối tượng là học sinh, sinh viên Ngoài ra còn có vài triệu hợp đồng bảo hiểm thân thể học sinh trong

đó cũng có phần liên quan đến BHYT Tuy vậy, cho đến nay, chưa có một nghiên cứu chính thức nào đánh giá về mức độ bao phủ, gói quyền lợi, số tiền bồi hoàn của các chương trình BHYT thương mại tại Việt Nam Vì vậy, không có số liệu tin cậy đánh giá mức độ đóng góp nguồn tài chính của BHYT thương mại trong tổng chi tiêu cho y tế của toàn xã hội [7]

Tuy nhiên nguồn lực tài chính cho y tế vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu KCB của nhân dân Để theo kịp nền kinh tế thị trường định hướng XHCN của nước ta hiện nay, đồng thời đảm bảo tốt hơn cho chi phí KCB trong điều kiện nhu cầu KCB của người dân ngày càng cao, chi phí KCB ngày càng tăng thì luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân năm 1989 và hiến pháp

Trang 22

năm 1992 đã quy định trách nhiệm của người bệnh khi đi KCB phải trả một phần viện phí

1.2.2 Việc tiếp cận và chi trả dịch vụ khám chữa bệnh của người dân

Chăm sóc và bảo vệ sức khỏe là một trong những quyền cơ bản của công dân Điều 61 – Hiến pháp năm 1992 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã quy định: “Công dân có quyền được hưởng chế độ bảo

vệ sức khỏe Nhà nước quy đinh chế độ viện phí, chế độ miễn giảm viện phí…” [36] Một nghiên cứu của Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam đã chỉ ra mức độ tác động khác nhau của các điều kiện đến cơ hội chăm sóc sức khỏe của người dân [58]

Qua hơn 20 năm đổi mới, công tác bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân ở nước ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng Mạng lưới y

tế, đặc biệt là y tế cơ sở ngày càng được củng cố và phát triển, nhiều dịch bệnh nguy hiểm được khống chế và đẩy lùi, các dịch vụ y tế ngày một đa dạng, nhiều công nghệ mới được nghiên cứu và ứng dụng Nhân dân ở hầu hết các vùng miền được chăm sóc sức khỏe tốt hơn, nhiều chỉ số về sức khỏe của nước ta đã vượt qua các nước có cùng mức thu nhập bình quân đầu người [26]

Dân số Việt Nam đạt mốc 90 triệu người vào 01/11/2013, chậm hơn

so với dự báo 11 năm Hơn 20 năm qua, Việt Nam giảm sinh được 20,8 triệu trường hợp Với quy mô dân số hiện nay, Việt Nam đứng thứ 3 khu vực Đông Nam Á và thứ 14 trên thế giới Theo báo cáo của Tổng cục Dân

số - kế hoạch hóa gia đình, năm 2013 Việt Nam có chỉ tiêu mức giảm sinh đạt 0,1%o [28] Trong bối cảnh trên, các chiến lược phát triển kinh tế, xã hội của Việt Nam cần phải chủ động thích ứng với xã hội mức sinh thấp, lồng ghép sự biến động quy mô, cơ cấu dân số trong các kế hoạch phát triển, đặc biệt tận dụng lợi thế “cơ cấu dân số vàng” hiện nay thông qua các chính sách y tế, giáo dục [9]

Trang 23

Nhu cầu dịch vụ đối với hệ thống y tế nói chung, hệ thống dân số nói riêng hiện đang rất cao Các đối tượng là người dân nói chung, là vị thành niên nói riêng được cán bộ thôn xóm nói chuyện về các vấn đề sức khoẻ nói chung, sức khỏe sinh sản mới chiếm tỷ lệ thấp [15], [41] Việc tiếp cận và sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh của người dân tại các bệnh viện huyện cũng như tại các trạm y tế còn có những hạn chế

do điều kiện nguồn lực ở những cơ sở này có hạn [28], [30], [38] Các phương thức chi trả chi phí khám chữa bệnh bảo hiểm y tế ch o

cơ sở cung cấp dịch vụ y tế tại Việt Nam còn nhiều thủ tục hành chính mà người bệnh phải đáp ứng [32]

Việt Nam đã đạt được những thành tựu rất đáng khích lệ và được cộng đồng quốc tế đánh giá cao trong chăm sóc sức khỏe so với mức thu nhập bình quân đầu người Các chỉ số cơ bản như tuổi thọ trung bình của người dân, tỷ lệ tử vong trẻ em dưới 5 tuổi đều tốt hơn các nước có mức thu nhập bình quân đầu người tương đương hoặc thậm chí cao hơn Các chỉ số đánh giá trong Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ về lĩnh vực y tế Việt Nam cũng đã và đang đạt được một cách ấn tượng, có thể kể đến như việc giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi, giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ em dưới 5 tuổi, giảm tỷ lệ chết mẹ, tăng tuổi thọ [61]

Việc kiểm soát các tai biến sản khoa ở Việt Nam đã nhận được sự quan tâm hàng đầu trong các hoạt động y tế nói chung và chăm sóc, bảo

vệ sức khỏe bà mẹ và trẻ em nói riêng Điều lạc quan là tuy tai biến sản khoa là những tai biến nặng có thể gây tử vong cho bà mẹ và trẻ sơ sinh nhưng chúng có thể phòng ngừa được Số trường hợp tử vong trong tổng

số mắc của 5 loại tai biến sản khoa như sau: băng huyết: 69/2.692, sản giật: 7/441, uốn ván sơ sinh: 23/36, vỡ tử cung: 7/66, và nhiễm trùng hậu sản: 11/300

Mô hình bệnh tật ở Việt Nam đang có những thay đổi và chuyển

Trang 24

biến rõ rệt Người dân ở những huyện nghèo khó khăn đang phải gánh chịu một gánh nặng bệnh tật kép đó là trong khi gánh nặng các bệnh tật về các bệnh truyền nhiễm, thiếu hụt dinh dưỡng, tử vong trẻ em và các điều kiện liên quan đến sức khỏe bà mẹ vùng nông thôn nghèo còn rất lớn thì các bệnh không lây nhiễm cũng đang gia tăng góp phần làm gánh nặng hơn gánh nặng bệnh tật vốn đã nặng nề ở các vùng nông thôn nghèo Bệnh không lây nhiễm chiếm tỷ trọng 44% trong cơ cấu nguyên nhân tử vong tại vùng nông thôn năm 2002; tỷ lệ tai nạn giao thông ở các vùng nông thôn đang gia tăng Kết quả Điều tra Y tế quốc gia năm 2001-2002 cho thấyngười dân vùng nông thôn ốm nhiều hơn người dân thành thị Số đợt

ốm bình quân/người/năm ở vùng nông thôn là 1,7 (thành thị là 1,1) [3] Trung bình có 12,3% người dân nông thôn cho biết từng bị ốm đau ở mức ảnh hưởng đến cuộc sống hàng ngày trong vòng 4 tuần trước điều tra, trong đó các nhóm có mức sống thấp hơn cho biết ốm nhiều hơn so với nhóm giàu Nhìn chung người dân vùng nông thôn, đặc biệt là những người sống ở vùng nghèo có nhu cầu khám chữa bệnh cao

Mặt khác, ngày nay cùng với điều kiện phát triển kinh tế xã hội của đất nước, người dân đã có ý thức hơn trong việc chăm sóc sức khỏe cho bản thân và gia đình, khi gia đình có người ốm đau là họ đã lo lắng và đi khám chữa bệnh bằng hình thức này hay hình thức khác (mua thuốc điều trị, đến trạm y tế xã, đến phòng khám tư, đến bệnh viện huyện, bệnh viện tỉnh, bệnh viện tư nhân ) tùy theo điều kiện của mỗi hộ gia đình Như vậy là nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân trong những năm gần đây ngày càng gia tăng, làm cho tình trạng quá tải các bệnh viện, nhất là các bệnh viện chuyên khoa tuyến trung ương ngày càng trầm trọng

Đánh giá chi phí cho KCB, Hoàng Văn Minh và cộng sự đã tiến hành phân tích chi phí điều trị một số bệnh thường gặp tại bệnh viện huyện Thanh Oai, Hà Nội, 2009 [30] Kết quả cho thấy chi phi trung bình

Trang 25

1 lần khám ngoại trú, 1 ngày giường nội trú, 1 xét nghiệm máu, chụp X quang, siêu âm, phẫu thuật lần lượt là 12.700, 102.400 20.400, 32.450, 45.730, 1.512.720 đồng Chi phí điều trị viêm phổi, mổ ruột thừa, mổ đẻ thường và điều trị nội khoa tăng huyết áp lần lượt là 1.007.674, 2.987.453, 3.908.453, 1.077.004 đồng Ngày giường chiếm một tỷ lệ lớn trong tổng chi phí điều trị nội khoa Thuốc và chi phí khấu hao chiếm một tỷ lệ lớn trong tổng chi phí điều trị ngoại khoa

Phạm Văn Bắc [1] đã tiến hành phân tích chi phí điều trị nội trú, ngoại trú của bệnh nhân sử dụng thẻ bảo hiểm y tế nghèo tại thành phố Hồ Chí Minh theo phương pháp: Lấy tổng chi phí điều trị của từng loại hình điều trị: Nội trú, ngọai trú ở các cấp điều trị (theo nội trú, ngọai trú ở các bệnh viện tuyến quận huyện, tuyến thành phố và tuyến Trung ương) năm

2007 Qua đó tính chi phí điều trị trung bình cho một bệnh nhân ở từng bệnh viện, trung bình của các bệnh viện theo tuyến quận huyện, thành phố hay Trung ương và theo loại hình ngoại trú, nội trú Kết quả cho thấy: Vượt chi BHYT nghèo trong năm 2007 là 3,45 lần so với số tiền BHYT thành phố mua thẻ cho người nghèo Chi phí trung bình (trung vị) một đợt điều trị ngoại trú tuyến quận, huyện và thành phố thấp: 48.447 đồng và 173.438 đồng (theo thứ tự) Một số cơ sở có chi phí trung bình quá thấp khó chấp nhận được như bệnh viện Quận 12 (16.134 đồng/lượt) và bệnh viện Cần Giờ (16.287 đồng/lượt)

Hiện nay, được sự hỗ trợ của một số nhà tài trợ, Bộ Y tế đang nghiên cứu thí điểm phương thức thu trọn gói đối với một số bệnh thông thường (đẻ thường, mổ đẻ, viêm ruột thừa, viêm phổi…), trước hết tiến hành ở một số bệnh viện Sau thí điểm, Bộ Y tế sẽ xem xét để mở rộng các bệnh và các bệnh viện áp dụng phương thức mới này Với phương thức thu trọn gói, tình trạng lạm dụng dịch vụ sẽ được cải thiện đáng kể, do các bệnh viện phải điều trị hiệu quả và tiết kiệm để [4]

Trang 26

1.3 Một số yếu tố liên quan tới khả năng chi trả cho khám chữa bệnh của người dân

Hệ thống y tế Việt Nam là hệ thống y tế phát triển với mục tiêu công bằng, hiệu quả và phát triển theo định hướng dựa trên BHYT Do đó, BHYT là một trong những chính sách quan trọng trong hệ thống an sinh

xã hội của Đảng và Nhà nước [43] Luật BHYT đã được Quốc hội thông qua ngày 14/11/2008 có hiệu lực từ ngày 1/7/2009 là một sự kiện pháp lý quan trọng với mục tiêu thực hiện BHYT toàn dân vào năm 2014 [11] Tuy nhiên, hiện nay việc mở rộng độ bao phủ BHYT đang gặp không ít khó khăn và thách thức nhất là ở vùng nông thôn Theo lộ trình thực hiện luật BHYT, từ năm 2012, các hộ gia đình nông nghiệp ở nông thôn sẽ tham gia chương trình BHYT bắt buộc [39], [43]

Đảng và Nhà nước ta chủ trương xây dựng một hệ thống y tế đảm bảo mọi người dân có thể tiếp cận được dịch vụ khám chữa bệnh thiết yếu Đảm bảo sử dụng có hiệu quả cao các nguồn lực y tế và có được một hệ thống y tế ổn định, hòa nhập với quá trình phát triển kinh tế văn hóa xã hội của đất nước [22]

Giá thanh toán của bảo hiểm y tế cho các đơn vị khám chữa bệnh là giá một phần viện phí chứ không phải toàn phần Hơn nữa, việc trang bị các máy móc, kỹ thuật cao vào trong điều trị, chăm sóc sức khỏe cho bệnh nhân đáp ứng điều trị theo nhu cầu, thời gian điều trị người bệnh sẽ giảm Nhưng chính vì lý do đó nảy sinh nhiều mâu thuẫn, làm cho giá điều trị tăng trong khi ngành bảo hiểm quy định giá trần, phần còn lại sẽ do bệnh nhân trả Mặt khác, cùng một loại bệnh nhưng người có đủ khả năng chi trả sẽ yêu cầu các kỹ thuật cao, trong khi người không có tiền sẽ không được hưởng làm gây bất bình đẳng trong chăm sóc và điều trị Việc này cũng phần nào sẽ ảnh hưởng đến sự hài lòng của người bệnh khi sử dụng các loại dịch vụ khác nhau [40] Bên cạnh đó phải kể đến việc vẫn còn

Trang 27

hiện tượng người dân chưa hiểu hết về quyền lợi khi tham gia bảo hiểm y

tế của họ [44], điều này dẫn đến chi phí trực tiếp cho y tế và ngoài y tế của người bệnh một phần bị tăng lên, đặc biệt đối với các bệnh mạn tính phải nằm viện điều trị [46], [47], [48]

Luật bảo hiểm y tế (BHYT) được Quốc hội thông qua ngày 14/11/2008, có hiệu lực từ ngày 1/7/2009 và Nghị định 62/2009/NĐ- CP quy định trẻ em dưới 6 tuổi là đối tượng có trách nhiệm tham gia BHYT

do Ngân sách nhà nước chi trả (hỗ trợ 100% mức đóng BHYT, bằng 3% mức lương tối thiểu/trẻ/năm) [11] Luật BHYT được chính thức thi hành

từ ngày 1/1/2010, theo đó người nghèo (có thẻ BHYT cho người nghèo

mã hộ nghèo) phải đồng chi trả 5% chi phí khám, chữa bệnh (trong khi đó các nhóm có thẻ BHYT khác phải đồng chi trả 20%) [20]

Vấn đề công bằng và bảo vệ tài chính cho người bệnh tại Việt Nam hiện ngày càng thu hút được nhiều sự quan tâm, đặc biệt là đứng trước thực trạng tỷ lệ người dân có bảo hiểm y tế chưa thật cao trong khi tỷ lệ chi trả cho y tế bằng tiền túi hộ gia đình lại khá cao và đặc biệt là để điều trị cho các bệnh mãn tính [45]

Chăm sóc sức khỏe (CSSK) nhân dân theo định hướng công bằng và hiệu quả là mục tiêu và chủ trương của Đảng và nhà nước Việt Nam, là tư tưởng xuyên suốt trong quá trình xây dựng và phát triển nền y tế Việt Nam nhất là từ khi công cuộc đổi mới được thực hiện [26]

Tầm quan trọng của phương thức chi trả dịch vụ KCB đã được ghi nhận rộng rãi như một công cụ hỗ trợ quản lý chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh và hiệu quả sử dụng nguồn lực giành cho khám chữa bệnh [27]

Vì giá thanh toán của BHYT cho các đơn vị khám chữa bệnh là giá một phần viện phí chứ không phải toàn phần Nhà nước vẫn còn bao cấp một phần do mức đóng bảo hiểm y tế còn thấp, ảnh hưởng không ít đến hoạt động của bệnh viện, có phần ảnh hưởng đến quyền lợi của người

Trang 28

tham gia bảo hiểm y tế Quỹ bảo hiểm y tế, vì thế, cũng sẽ rất khó khăn trong việc cân đối thu chi do mức đóng còn quá thấp và chi phí y tế ngày càng leo thang [36]

Việc trang bị các máy móc, kỹ thuật cao vào trong điều trị, chăm sóc sức khỏe cho bệnh nhân đáp ứng điều trị theo nhu cầu, thời gian điều trị người bệnh sẽ giảm Nhưng chính vì lý do đó nảy sinh nhiều mâu thuẫn, làm cho giá điều trị tăng trong khi ngành bảo hiểm quy định giá trần, phần còn lại sẽ do bệnh nhân trả Mặt khác, cùng một loại bệnh nhưng người có

đủ khả năng chi trả sẽ yêu cầu các kỹ thuật cao, trong khi người không có tiền sẽ không được hưởng làm gây bất bình đẳng trong chăm sóc và điều trị Việc này cũng phần nào sẽ ảnh hưởng đến sự hài lòng của người bệnh khi sử dụng các loại dịch vụ khác nhau [36]

Điều kiện kinh tế là một trong những rào cản lớn ảnh hưởng đến việc tiếp cận, sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh của người dân [51] Thực

tế diễn ra cho thấy, khi bị ốm tùy thuộc vào mức độ nặng nhẹ của bệnh tật

và các điều kiện liên quan như mức sống, mức thu nhập của gia đình, trình

độ văn hóa, tập quán, điều kiện địa lý nhìn chung có 03 khả năng xảy ra

đó là: không điều trị gì, tự điều trị và đi khám chữa bệnh Tỷ lệ sử dụng dịch vụ y tế gồm cả khám và điều trị nội trú, ngoại trú và tự mua thuốc về chữa phản ánh khả năng tiếp cận, tức là về mặt địa lý, tài chính, văn hóa

có tới được cơ sở y tế để sử dụng Tỷ lệ ốm đau của người dân không sử dụng dịch vụ y tế toàn quốc là không cao chỉ chiếm là 4% [3]

Một trong những nguyên nhân chính gây tình trạng lạm dụng dịch

vụ tại các cơ sở KCB có bảo hiểm y tế là do phương thức chi trả phí theo dịch vụ Người bệnh càng sử dụng nhiều dịch vụ thì người cung cấp càng

có nhiều nguồn thu Nhiều bệnh viện tuyến trến sẵn sàng nhận cả các bệnh nhân mắc bệnh nhẹ để điều trị, tăng nguồn thu cho bệnh viện, gây quá tải

ở các bệnh viện tuyến trên… Việt Nam đang tìm hiểu khả năng chuyển

Trang 29

đổi phương thức thu phí theo dịch vụ sang hình thức thu trọn gói theo bệnh, và tương lai là theo nhóm chẩn đoán (DRG) [4]

Cho đến nay, mới chỉ có một vài nghiên cứu về tiếp cận và sử dụng dịch vụ y tế ở trẻ em được tiến hành trên quy mô lớn Kết quả của các nghiên cứu cho thấy xu hướng khi ốm đau trẻ em khu vực thành thị tìm kiếm dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại bệnh viện hoặc trung tâm y tế huyện trong khi trẻ em ở khu vực nông thôn khám và điều trị tại TYT xã Tỷ lệ khám bệnh tại TYT xã đối với trẻ em thuộc các nhóm mức sống nghèo giảm, ngược lại, trẻ em thuộc nhóm mức số khá có xu hướng tìm kiếm dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại bệnh viện hoặc trung tâm y tế huyện [26]

Theo nghiên cứu của Lê Hoàng Ninh [35] về tình hình sử dụng dịch

vụ y tế ở những nhóm thu nhập khác nhau tại thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang, năm 2009 cho thấycó mối liên quan chặt chẽ giữa thu nhập gia đình và sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe Nhóm có thu nhập cao được hưởng dịch vụ chăm sóc sức khỏe tốt hơn so với nhóm thu nhập thấp

và có sự bất công bằng trong chăm sóc sức khỏe giữa các nhóm thu nhập khác nhau trên địa bàn nghiên cứu Một số nghiên cứu cho thấy, có một tỷ

lệ lớn các trường hợp mang thai ngoài ý muốn và khả năng tiếp cận các dịch vụ y tế rất hạn chế ở nhóm phụ nữ trẻ, phụ nữ nông thôn Nhóm phụ

nữ làm nông nghiệp, có thu thập thấp, có hơn 2 con và sống tại các khu vực nông thôn có xu hướng sử dụng các dịch vụ tại trạm y tế xã nhiều hơn

so với ở các nhóm khác [55], [57]

Có những đợt ốm mà bệnh nhân không qua khám, gia đình không tự mua thuốc về chữa, không được cấp thuốc, không dùng thuốc có sẵn [25], [14] Đây là những đợt ốm không khám và không điều trị Không điều trị

do một phần bệnh nhẹ, có thể tự khỏi, nhưng cũng có thể do người ốm không tiếp cận được với các dịch vụ y tế do những lý do điều kiện ở xa cơ

sở y tế, địa hình hiểm trở khó đi lại hoặc không có tiền chi phí cho việc đi

Trang 30

khám chữa bệnh [49], [50] Tỷ lệ các đợt ốm không điều trị lớn nhất là các

hộ dân tộc thiểu số, chiếm tới 22%, cao hơn nhiều so với dân tộc kinh (3,4%) Có sự khác biệt lớn nhất là tỷ lệ các đợt ốm không điều trị theo mức độ giàu nghèo Tỷ lệ không điều trị bệnh ở nhóm nghèo nhất là cao nhất (6,1%) so với 2,3% ở nhóm giàu nhất Loại bệnh tật và mức độ nặng nhẹ của bệnh có ảnh hưởng tới việc điều trị Những người bị bệnh mạn tính có tỷ lệ không điều trị cao hơn so với bệnh cấp tính hoặc tai nạn thương tích [12], [13]

Trong bối cảnh hiện nay, nguồn thông tin về chăm sóc sức khỏe cho

vị thành niên chủ yếu là thông tin đại chúng và nhà trường; thông tin từ cha, mẹ còn ít Đối tượng ít biết đến cộng tác viên dân số và cũng ít được cộng tác viên dân số tư vấn về các vấn đề sức khoẻ sinh sản, các biện pháp tránh thai [41] Chính vì thế việc tuyên truyền giáo dục SKSS và đặc biệt

là truyền thông thay đổi hành vi cho người dân rất quan trọng trong việc

dự phòng và điều trị bệnh Vai trò của truyền thông trực tiếp trong cung cấp thông tin về chăm sóc sức khỏe nói chung, SKSS cho nhóm phụ nữ nói chung, phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ nói riêng, đã được chứng minh có hiệu quả trong một số tài liệu và nghiên cứu khác Bên cạnh đó phải kể đến vai trò của truyền thông lồng ghép vào các hoạt đông chăm sóc sức khỏe khác cũng đã mang lại hiệu quả rất đáng khích lệ [42] Những vấn đề này đã và đang được thực hiện như một trong những những nhiệm vụ chính của các TYT xã

Việc còn tỷ lệ chưa cao vị thành niên từng được nghe về các biện pháp tránh thai, nạo phá thai cũng như các bệnh lây truyền qua đường tình dụccho thấy khoảng trống kiến thức của các em về vấn đề này Cần có các biện pháp truyền thông bổ sung kiến thức cho các em, nguy cơ cao của việc mang thai ngoài ý muốn, nạo phá thai cũng như mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục [41]

Trang 31

Theo nghiên cứu của Nguyễn Đức Thanh [41] về sức khỏe sinh sản

vị thành niên cho kết quả có 0,3% thanh thiếu niên nói đã từng mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục đã đi điều trị tại các cơ sở y tế công, một số nhỏ tới điều trị tại các phòng khám tư, một số tự mua thuốc điều trị và một vài người nói là không điều trị gì

Tự mua thuốc về chữa là hiện tượng phổ biến ở Việt Nam Trong khi tỷ lệ các đợt ốm không điều trị không cao, thì ngược lại tỷ lệ các đợt

ốm tự mua thuốc về chữa lại khá lớn Tự mua thuốc về chữa là những đợt

ốm mà bệnh nhân tự đến mua thuốc không qua khám Tự mua thuốc về chữa có thể phù hợp trong trường hợp bệnh nhẹ, và có biết về những loại thuốc thông dụng như thuốc hạ sốt paracetamol hoặc một số thuốc cảm Theo kết quả của Điều tra Y tế quốc gia cho thấy tỷ lệ các đợt ốm tự mua thuốc về chữa của cả nước là 73%, tự mua thuốc ở các điểm bán thuốc về nhà tự điều trị bệnh [3]

Trong các bệnh thuộc loại chấn thương có tỷ lệ tự mua thuốc về chữa thấp nhất trong khi các bệnh cấp tính là cao nhất Mức độ bệnh càng nhẹ càng có khả năng người ốm tự mua thuốc về chữa không qua khám bệnh Chúng ta đều biết tự điều trị nếu không có sự hiểu biết về chuyên môn y tế thì nguy cơ có hại như sai sót trong tự chẩn đoán và điều trị, thiếu hiểu biết về những cách điều trị khác, lạm dụng thuốc do sử dụng sai thuốc, sai liều dùng, nguy cơ tương tác thuốc, dị ứng thuốc và đặc biệt là một nguyên nhân quan trọng đã dẫn đến kháng thuốc rộng rãi trong cộng đồng Hiện tượng tự điều trị tự mua thuốc về chữa tương đối phổ biến ở Việt Nam có thể vì nhanh, thuận tiện, không phải mất thời gian đi khám

và điều trị và cũng có thể do chưa quản lý chặt chẽ về kê đơn bán thuốc Hơn nữa đối với các hộ gia đình nghèo khó, tự mua thuốc về chữa cũng đã tiết kiệm được một khoản kinh phí chi phí cho việc đi lại, tiền khám bệnh,

và các chi phí khác [39]

Trang 32

Trong các loại lý do dẫn đến việc người dân tự mua thuốc về chữa thì lý do kinh tế thay đổi mạnh nhất theo các đặc trưng của kinh tế xã hội, theo các vùng Nếu như chỉ có 1% người giàu bị ốm trả lời tự mua thuốc

về chữa vì lý do kinh tế thì có đến 17% số người nghèo bị ốm tự mua thuốc về chữa vì lý do kinh tế (gấp 17 lần) [3]

Kết quả Điều tra Y tế quốc gia cũng cho thấy tỷ lệ đi khám chữa bệnh trong tổng số các đợt ốm chung trên cả nước là 23,2%; Tình hình sử dụng dịch vụ điều trị nội trú là 5,45% [3] Xét về cơ cấu sử dụng các tuyến dịch vụ y tế thì thấy có sự khác biệt giữa người dân nhóm nghèo nhất và nhóm giàu nhất, giữa nông thôn và thành thị Người dân nghèo ít có cơ hội tiếp cận và sử dụng các dịch vụ khám chữa bệnh chất lượng cao so với người giàu Người dân nghèo, người dân nông thôn có xu hướng sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh nội trú tại TYT xã, phòng khám đa khoa khu vực

và bệnh viện huyện; trong khi nhóm người giàu, người dân thành thị có xu hướng sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh nội trú tại bệnh viện huyện, bệnh viện tỉnh và trung ương (tuyến y tế với kỹ thuật y tế cao và có chất lượng hơn) Bệnh viện huyện là nơi người dân nghèo, nông thôn sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh nội trú nhiều nhất

Trong xu thế vận động của các nước thành viên hướng tới mục tiêu chăm sóc sức khỏe toàn dân, WHO đã khuyến cáo các nước cần tăng cường các cơ chế tài chính chi trả trước và giảm các hình thức chi trả trực tiếp qua phí dịch vụ [60] Người ta thấy rằng phí dịch vụ có ảnh hưởng tiêu cực, hạn chế khả năng tiếp cận và sử dụng dịch vụ y tế của người dân, đặc biệt là người nghèo, trong đó có đối tượng là trẻ em [54] Hệ thống tài chính y tế dựa vào thuế hoặc BHYT xã hội được xem là nguyên tắc cơ bản

để đảm bảo tiếp cận y tế khi có nhu cầu và sự bảo vệ về tài chính khi ốm đau [53] Thực tế cho thấytình trạng lạm dụng quỹ BHYT dẫn đến chi phí ngày càng gia tăng và hậu quả là không cân đối được thu – chi quỹ KCB

Trang 33

BHYT một cách nặng nề Hệ quả là BHYT Việt Nam đang phải đối mặt với tình trạng bội chi quỹ liên tục: năm 2006 bội chi khoảng 1.600 tỷ đồng, năm 2007 bội chi khoảng 1.800 tỷ đồng và năm 2008 bội chi khoảng 1.800 tỷ đồng [33]

Trang 34

Chương 2

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng, địa bàn và thời gian nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Bố/mẹ hoặc người chăm sóc bệnh nhi vừa kết thúc đợt điệu trị nội trú tại Bệnh viện Nhi Hải Dương

Tiêu chuẩn lựa chọn và loại trừ đối tượng:

Tiêu chuẩn lựa chon:

- Là người đã chăm sóc chính bệnh nhi trong đợt khám chữa bệnh của bệnh nhi vào thời điểm tiến hành nghiên cứu

- Có trạng thái tâm thần bình thường

- Tự nguyện tham gia vào nghiên cứu

Tiêu chuẩn loại trừ:

- Không đồng ý tham gia nghiên cứu

- Có các dấu hiệu bất thường về tinh thần kinh

- Bị câm, điếc không có khả năng nghe và trả lời câu hỏi

2.1.2 Địa bàn nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành tại các khoa lâm sàng của bệnh viện Nhi Hải Dương

* Đặc điểm địa bàn nghiên cứu:

Hải Dương là một tỉnh nằm ở Đồng bằng sông Hồng, thuộc vùng kinh tế trọng điểm của Bắc Bộ Trung tâm hành chính của tỉnh là thành phố Hải Dương – thành phố loại 2 trực thuộc tỉnh và nằm giữa các tỉnh, thành phố lớn như Hà Nội, Quảng Ninh, Hải Phòng Bao gồm 1 thành phố

Trang 35

lớn là trung tâm và 12 huyện, với diện tích 1.656 km2, dân số năm 2012 là 1.735.100 người với mật độ dân số là 1.048 người/km2

Đại bộ phận dân cư của tỉnh Hải Dương sống ở nông thôn, phát triển kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp Đời sống người dân vẫn còn nhiều khó khăn Thu nhập bình quân đầu người năm 2014 đạt 26,64 triệu đồng/người/năm, trung bình một người dân có thu nhập 2,22 triệu đồng/tháng Đối với khu vực nông thôn là 24,12 triệu đồng/người/năm, tương đương với 2,01 triệu đồng/người/tháng

Trên địa bàn tỉnh Hải Dương hiện có khoảng 1.136.934 thẻ BHYT lưu hành, chiếm tỷ lệ 63% dân số của tỉnh Quỹ bảo hiểm sử dụng để đảm bảo quyền lợi cho nhóm đối tượng là trẻ em dưới 6 tuổi năm 2013 là 103

tỷ, chiếm 13% tổng quỹ bảo hiểm sử dụng cho toàn tỉnh

Bệnh viện Nhi Hải Dương được thành lập từ năm 2010, tiền thân là khoa Nhi của bệnh viện Đa khoa tỉnh Hải Dương Tính đến thời điểm nghiên cứu, bệnh viện có 387 cán bộ viên chức với cơ cấu gồm 18 khoa phòng, trong đó có 5 phòng chức năng (phòng Tổ chức cán bộ, phòng Kế toán tài chính, phòng Hành chính quản trị, phòng Kế hoạch tổng hợp và phòng Điều dưỡng), 9 khoa lâm sàng (khoa Khám bệnh, khoa Hồi sức cấp cứu, khoa Sơ sinh, khoa Hô hấp, khoa Tiêu hoá, khoa Truyền nhiễm, khoa Nội tổng hợp, khoa Ngoại, khoa Tâm thần kinh- Phục hồi chức năng- Y học cổ truyền) và 4 khoa cận lâm sàng (khoa Dược, khoa Chẩn đoán hình ảnh, khoa Xét nghiệm, khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn).Với đặc thù 100% bệnh nhân là trẻ em dưới 16 tuổi (trong đó trên 95% lượt bệnh nhân là trẻ

em dưới 6 tuổi), do vậy nguồn thu chính của bệnh viện là từ bảo hiểm y tế Trung bình mỗi năm có trên 37.000 lượt khám trong đó điều trị nội trú là trên 16.000 lượt Số thu từ nguồn bảo hiểm y tế ước tính trung bình mỗi

năm khoảng gần 60 tỷ đồng

Trang 36

2.1.3 Thời gian nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện trong thời gian từ ngày 01 tháng 01 năm

2016 đến ngày 15 tháng 4 năm 2016

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu

Là một nghiên cứu dịch tễ học mô tả cắt ngang đánh giá thực trạng tiếp cận dịch vụ KCB của bệnh nhi điều trị nội trú tại bệnh viện Nhi Hải Dương và xác định việc chi trả KCB cho bệnh nhi để tìm ra các yếu tố liên quan tác động đến thực trạng tiếp cận và chi trả của các đối tượng nghiên cứu

2.2.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu

d: sai số tuyệt đối lựa chọn (d=0,05)

Thay các giá trị trên vào công thức tính ta cón=385 đối tượng là bố/

mẹ hoặc người chăm sóc bệnh nhi điều trị nội trú

Thực tế nghiên cứu chúng tôi đã chọn 400 đối tượng để phỏng vấn

2

2 2 / 1

)1(

d

p p

 

Trang 37

* Chọn mẫu:

Quy trình chọn mẫu được thực hiện như sau:

- Lập danh sách các bệnh nhi nội trú hiện đang điều trị tại bệnh viện Nhi Hải Dương

- Chọn đối tượng tham gia nghiên cứu vào thời điểm ngay sau khi hoàn tất thủ tục ra viện để có thể khai thác đủ thông tin liên quan về việc chi trả của bệnh nhi

- Tiến hành phỏng vấn các đối tượng nghiên cứu là bố, mẹ hoặc người chăm sóc của bệnh nhi cho tới khi đủ cỡ mẫu như mong muốn là

400 đối tượng để phỏng vấn

2.2.3 Phương pháp thu thập số liệu

Phiếu phỏng vấn bố mẹ hoặc người chăm sóc bệnh nhi đang khám chữa bệnh tại Bệnh viện Nhi Hải Dươngvề thực trạng chi trả của các đối tượng cho KCB của con em tại bệnh viện

Các bước thực hiện như sau:

Bước 1: Xây dựng bộ công cụ:

Nội dung bộ phiếu phỏng vấn bố mẹ hoặc người chăm sóc bệnh nhi điều trị nội trú tại bệnh viện Nhi HD bao gồm:

+ Phần I: Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu:

Bao gồm những câu hỏi từ C1- C6 nhằm thu thập các thông tin chung về đối tượng phỏng vấn như họ tên, dân tộc, tôn giáo, trình độ học vấn, nghề nghiệp, điều kiện kinh tế

+ Phần II: Khả năng chi trả dịch vụ y tế:

Bao gồm những câu hỏi từ C7 đến C19 nhằm thu thập các thông tin

về địa chỉ, thời gian và khoảng cách từ nhà đối tượng đến bệnh viện; nguồn thông tin nào đối tượng được tiếp cận nhiều nhất về truyền thông

về phòng chống bệnh cho trẻ em; hình thức nhập viện của trẻ và sự hiểu

Trang 38

biết của đối tượng về quyền lợi và trách nhiệm của gia đình khi trẻ tham gia bảo hiểm

+ Phần III: Sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh của bệnh nhân và khả năng chi trả của gia đình

- Sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh của bệnh nhân:

Bao gồm những câu hỏi từ C20 đến C29 nhằm thu thập các thông tin về trẻ như: họ tên, tuổi, giới tính; loại hình bảo hiểm mà trẻ tham gia; trẻ bị mắc bệnh gì cũng như tình trạng sức khoẻ của trẻ khi bị ốm; trẻ đang

sử dụng loại hình dịch vụ y tế nào của bệnh viện và mức độ hài lòng của gia đình khi sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh tại bệnh viện

- Khả năng chi trả của gia đình:

Bao gồm những câu hỏi từ C30 đến C39 nhằm thu thập các thông tin về tổng chi phí cho một đợt điều trị của trẻ (chi phí trực tiếp, chi phí gián tiếp); nguồn vốn nào gia đình sử dụng để chi trả; so sánh chi phí cho viện phí với thu nhập trong năm của gia đình và giải pháp khả thi nhất có thể áp dụng để bớt chi phí ngoài bảo hiểm khi trẻ đến khám và điều trị tại bệnh viện

Bước 2: Tập huấn cho cán bộ tham gia nghiên cứu:

Các điều tra viên: Điều dưỡng trưởng các khoa có bệnh nhi tham gia vào quá trình nghiên cứu

Tổ chức tập huấn chu đáo cho các cán bộ tham gia nghiên cứu giúp điều tra viên hiểu về mục đích, đảm bảo thống nhất phương pháp chọn đối tượng và phương pháp thu thập thông tin giữa các cán bộ điều tra tại địa bàn nghiên cứu Đồng thời hướng dẫn điều tra viên cách thức xử lý tình huống gặp phải trong quá trình điều tra và cách thu thập thông tin một cách chính xác và khách quan nhất

Bước 3: Tiến hành phỏng vấn:

Trang 39

Điều tra viên gặp gỡ các gia đình có con nằm viện nhưng vừa thanh toán ra viện và tiến hành thu thập thông tin theo quy trình sau:

+ Phỏng vấn trực tiếp các đối tượng là bố/mẹ hoặc người chăm sóc bệnh nhi đã nằm điều trị nội trú tại bệnh viện và vừa thanh toán ra viện bằng bộ công cụ điều tra đã thiết kế

+ Nếu đối tượng từ chối hợp tác trả lời thì điều tra viên chuyển sang đối tượng khác để phỏng vấn

+ Trong quá trình phỏng vấn chỉ có hai người (điều tra viên và đối tượng phỏng vấn) và ngồi đối diện nhau

+ Địa điểm phỏng vấn tại phòng hành chính của khoa điều trị của

bệnh nhân

2.2.4 Một số khái niệm và quy định sử dụng trong nghiên cứu:

Trong lĩnh vực y tế, chi phí trực tiếp là những chi phí phát sinh cho

hệ thống y tế, cho cộng đồng và cho gia đình người bệnh trong quá trình giải quyết trực tiếp bệnh tật Chi phí này được chia thành hai loại:

Chi phí trực tiếp:

Trong nghiên cứu của chúng tôi, chi phí trực tiếp là những chi phí phát sinh cho hệ thống y tế, cho cộng đồng và cho gia đình người bệnh trong quá trình giải quyết trực tiếp bệnh tật [2] Chi phí này được chia

thành hai loại:

+ Chi phí trực tiếp của đối tượng dành cho y tế:

Bao gồm các chi phí dành cho chẩn đoán, điều trị, theo dõi, phục hồi chức năng…

+ Chi phí trực tiếp của đối tượng không dành cho y tế:

Là các khoản chi tiêu trực tiếp của người bệnh và người nhà trong quá trình điều trị cho người bệnh

Chi phí gián tiếp

Trang 40

Được sử dụng trong nghiên cứu này, chi phí gián tiếp là những chi phí thực tế không chi trả Chi phí này được định nghĩa là không tham gia trực tiếp vào quá trình điều trị bệnh hay mất khả năng sản xuất do mắc bệnh mà bệnh nhân, gia đình họ, xã hội và người sử dụng lao động của họ

phải gánh chịu Chi phí này được chia thành hai loại:

+ Chi phí gián tiếp của đối tượng dành cho y tế:

Là chi phí cho các bộ phận hỗ trợ gián tiếp quá trình điều trị của người bệnh tại cơ sở y tế

+ Chi phí gián tiếp của đối tượng không dành cho y tế:

Bao gồm chi phí khi mắc bệnh nên mất đi khả năng sản xuất của những người bệnh do bị nghỉ ốm phải nghỉ việc hoặc bị thất nghiệp và chi phí do tử vong được tính là giá trị hiện tại của mất khả năng sản xuất do chết sớm hoặc mất khả năng vận động vĩnh viễn do bị bệnh

Một số quy địnhsử dụng trong nghiên cứu:

+ Xác định các chi phí trực tiếp:

Chi phí trực tiếp bao gồm các loại chi phí sau:

- Chi phí về thuốc, vật tư tiêu hao

- Chi phí về ngày giường tại bệnh viện

- Chi phí về xét nghiệm

- Chi phí về ăn ở, đi lại

- Chi phí về mua sắm đồ dùngvà một số chi phí trực tiếp khác + Xác định các chi phí gián tiếp:

Chi phí gián tiếp bao gồm các loại chi phí sau:

- Chi phí do phải nghỉ việc

- Chi phí bỏ lỡ các cơ hội khác có thể có thu nhập nhưng phải nằm viện hoặc chăm sóc người bệnh nằm viện

Ngày đăng: 24/05/2020, 14:48

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w