Tỷ lệ mắc bệnh nhiễm khuẩn đường sinh dục dưới của phụ nữ có chồng trong độ tuổi sinh đẻ tại địa bàn nghiên cứu .... Kiến thức của đối tượng về nguyên nhân làm cho người phụ nữ dễ mắc cá
Trang 1ĐỖ VĂN LONG
THùC TR¹NG M¾C Vµ KIÕN THøC, TH¸I §é, THùC HµNH
VÒ NHIÔM KHUÈN §¦êNG SINH DôC D¦íI ë PHô N÷
Cã CHåNG TRONG §é TUæI SINH §Î T¹I 3 X·
HUYÖN B¸ TH¦íC TØNH THANH HãA N¡M 2017
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
Thái Bình - 2018
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÁI BÌNH
ĐỖ VĂN LONG
THùC TR¹NG M¾C Vµ KIÕN THøC, TH¸I §é, THùC HµNH
VÒ NHIÔM KHUÈN §¦êNG SINH DôC D¦íI ë PHô N÷
Cã CHåNG TRONG §é TUæI SINH §Î T¹I 3 X·
HUYÖN B¸ TH¦íC TØNH THANH HãA N¡M 2017
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn, ngoài sự nỗ lực của bản thân tôi còn nhận được sự giúp đỡ của các cơ quan, tập thể và cá nhân Nhân dịp này, tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban Giám hiệu, Phòng Quản lý Đào tạo Sau đại học - Trường Đại học Y Dược Thái Bình đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thiện bản luận văn cao học này Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc Ban Giám đốc Trung tâm y tế huyện, các đồng nghiệp thuộc truyền thông giáo dục sức khỏe, Trung tâm Y tế huyện Bá Thước - nơi tôi công tác đã tạo điều kiện giúp
đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
Tôi xin trân trọng cảm ơn Trạm y tế các xã Điền Quang, Tân Lập, Lương Trung thuộc huyện Bá Thước đã giúp đỡ tôi trong quá trình triển khai nghiên cứu, thu thập số liệu để hoàn thành luận văn đúng tiến độ
Đặc biệt, với lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi tới hai Thầy hướng dẫn của mình là TS Bùi Minh Tiến và TS Lê Đức Cường đã trực tiếp hướng dẫn chỉ bảo tận tình cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thiện luận văn tốt nghiệp
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến cha mẹ, gia đình, bạn bè, đồng nghiệp - hậu phương vững chắc đã cho tôi động lực vươn lên trong học tập cũng như trong cuộc sống
Trân trọng cảm ơn
Thái Bình, tháng 6 năm 2018
Đỗ Văn Long
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi là: Đỗ Văn Long, học viên khóa đào tạo trình độ Thạc sĩ
Chuyên ngành Y tế công cộng, của trường Đại học Y Dược Thái Bình
xin cam đoan:
1 Đây là luận văn do bản thân tôi trực tiếp thực hiện dưới sự hướng dẫn của thầy giáo: - TS Bùi Minh Tiến
Tôi xin chịu trước pháp luật về những điều cam đoan trên
Thái Bình, ngày tháng 5 năm 2018
NGƯỜI CAM ĐOAN
Đỗ Văn Long
Trang 5HIV : Human immunodeficiency virus
LTQĐTD : Lây truyền qua đường tình dục
NCV : Nghiên cứu viên
NKĐSDD : Nhiễm khuẩn đường sinh dục dưới NĐPV : Người được phỏng vấn
QHVC : Quan hệ vợ chồng
SKSS : Sức khỏe sinh sản
TTYT : Trung tâm y tế
VSKN : Vệ sinh kinh nguyệt
Trang 6MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1:TỖNG QUAN 3
1.1 Khái niệm về nhiễm khuẩn đường sinh dục dưới 3
1.1.1 Định nghĩa 3
1.1.2 Phân loại 3
1.2 Đặc điểm nhiễm khuẩn đường sinh dục dưới ở phụ nữ 4
1.2.1 Giải phẫu cơ quan sinh dục dưới của phụ nữ 4
1.2.2 Nhiễm khuẩn đường sinh dục dưới 5
1.3 Hậu quả của nhiễm khuẩn đường sinh dục dưới 7
1.4 Thực trạng mắc các bệnh nhiễm khuẩn đường sinh dục 8
1.4.1 Trên thế giới 8
1.4.2 Tại Việt Nam 9
1.5 Một số yếu tố liên quan đến nhiễm khuẩn đường sinh dục 11
1.5.1 Nhóm yếu tố cá nhân 11
1.5.2 Nhóm yếu tố về dịch vụ y tế về khả năng tiếp cận dịch vụ khám, tư vấn và tuyên truyền 15
1.5.3 Nhóm yếu tố điều kiện vệ sinh môi trường 17
1.6 Chiến dịch Chăm sóc sức khỏe sinh sản - truyền thông lồng ghép 19
Chương 2:ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
2.1 Đối tượng nghiên cứu 22
2.1.1 Địa bàn nghiên cứu 22
2.1.2 Đối tượng nghiên cứu 22
2.1.3 Thời gian nghiên cứu 23
2.2 Phương pháp nghiên cứu 23
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 23
2.2.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 23
2.2.3 Các chỉ số và biến số sử dụng trong nghiên cứu 24
Trang 72.2.4 Kỹ thuật thu thập thông tin và tiêu chuẩn đánh giá 26
2.2.5 Tổ chức thực hiện 28
2.3 Phương pháp xử lý số liệu 30
2.4 Biện pháp hạn chế sai số 31
2.4.1 Hạn chế của nghiên cứu 31
2.4.2 Sai số của nghiên cứu và cách khắc phục 31
2.5 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 32
Chương 3:KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 34
3.1 Tỷ lệ mắc nhiễm khuẩn đường sinh dục và một số yếu tố liên quan 34
3.1.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 34
3.1.2 Tỷ lệ mắc nhiễm khuẩn đường sinh dục dưới và một số yếu tố liên quan của đối tượng nghiên cứu 36
3.2 Kiến thức, thái độ, thực hành về nhiễm khuẩn đường sinh dục của đối tượng nghiên cứu 42
Chương 4: BÀN LUẬN 48
4.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 48
4.2 Thực trạng nhiễm khuẩn đường sinh dục dưới tại địa bàn nghiên cứu và một số yếu tố liên quan 50
4.2.1 Tỷ lệ mắc bệnh nhiễm khuẩn đường sinh dục dưới của phụ nữ có chồng trong độ tuổi sinh đẻ tại địa bàn nghiên cứu 50
4.2.2 Một số yếu tố liên quan tới tình trạng mắc bệnh nhiễm khuẩn dường sinh dục dưới của đối tượng nghiên cứu 52
4.3 Kiến thức, thái độ, thực hành về nhiễm khuẩn đường sinh dục 59
4.4 Hạn chế của nghiên cứu, sai số và các biện pháp khắc phục 66
KẾT LUẬN 68
KHUYẾN NGHỊ 69 TÀI LI U THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC BẢNG SỐ LI U
Bảng 3.1 Phân bố đối tượng theo tuổi 34Bảng 3.2 Đặc điểm về nghề nghiệp của đối tượng nghiên cứu 35Bảng 3.3 Đặc điểm về số con của đối tượng nghiên cứu 36Bảng 3.4 Vị trí tổn thương đường sinh dục của đối tượng nghiên cứu 37Bảng 3.5 Phân bố nhiễm khuẩn đường sinh dục theo nhóm tuổi 38Bảng 3.6 Phân bố nhiễm khuẩn đường sinh dục dưới theo nghề nghiệp 38Bảng 3.7 Phân bố nhiễm khuẩn đường sinh dục dưới theo số con 39Bảng 3.8 Phân bố nhiễm khuẩn đường sinh dục dưới theo sử dụng biện
pháp tránh thai 39Bảng 3.9 Mối liên quan giữa trình độ học vấn và nhiễm khuẩn đường sinh
dục dưới 40Bảng 3.10 Mối liên quan giữa tiền sử nạo hút thai và mắc nhiễm khuẩn
đường sinh dục dưới 40Bảng 3.11 Một số yếu tố liên quan mắc nhiễm khuẩn đường sinh dục dưới
theo nguồn nước mà gia đình đang sử dụng trong ăn uống sinh hoạt 41Bảng 3.12 Mối liên quan giữa thói quen đi khám phụ khoa định kỳ (6 tháng
1 lần) và mắc nhiễm khuẩn đường sinh dục dưới 41Bảng 3.13 Tỷ lệ phụ nữ đã từng nghe nói về bệnh nhiễm khuẩn đường sinh
dục dưới 42Bảng 3.14 Kiến thức của đối tượng về biểu hiện của bệnh nhiễm khuẩn
đường sinh dục dưới 43Bảng 3.15 Kiến thức của đối tượng về nguyên nhân làm cho người phụ nữ
dễ mắc các bệnh nhiễm khuẩn đường sinh dục dưới 43
Trang 9Bảng 3.16 Kiến thức của đối tượng về phòng bệnh nhiễm khuẩn đường
sinh dục dưới 44Bảng 3.17 Kiến thức của đối tượng về hậu quả của nhiễm khuẩn đường
sinh dục dưới 45Bảng 3.18 Thực hành của đối tượng về vệ sinh kinh nguyệt bằng xà phòng 46Bảng 3.19 Thực hành của đối tượng về sử dụng băng vệ sinh để vệ sinh
kinh nguyệt 46Bảng 3.20 Thực hành của đối tượng về tuân thủ điều trị khi bị nhiễm
khuẩn đường sinh dục dưới 47
Trang 10DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Đặc điểm về trình độ học vấn của đối tượng nghiên cứu 35Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ mắc nhiễm khuẩn đường sinh dục dưới 36Biểu đồ 3.3 Nguồn thông tin mà đối tượng nghe nói về bệnh nhiễm khuẩn
đường sinh dục dưới 42Biểu đồ 3.4 Thực hành của đối tượng về vệ sinh bộ phận sinh dục trước và
sau khi quan hệ 45Biểu đồ 3.5 Thực hành của đối tượng khi bị nhiễm khuẩn đường sinh
dục dưới 47
Trang 11ĐẶT VẤN ĐỀ
Phụ nữ Việt Nam đóng vai trò rất lớn trong việc phát triển kinh tế và xây dựng đất nước, cùng với thiên chức sinh đẻ và nuôi con, người phụ nữ đóng vai trò chính trong việc chăm sóc sức khỏe và duy trì hạnh phúc gia đình Vì vậy phụ nữ cần chăm lo về mọi mặt, đặc biệt là sức khỏe sinh sản là một vấn đề đã và đang được Đảng, nhà nước và xã hội đặc biệt quan tâm [5]
Nhiễm khuẩn đường sinh dục dưới là bệnh phổ biến đối với phụ nữ, đó chính là nguyên nhân gây ra nhiều rối loại ảnh hưởng đến khả năng lao động, hoạt động tình dục và sức khỏe không chỉ riêng đối với bản thân họ mà còn ảnh hưởng tới cả người chồng Nếu không được điều trị kịp thời, bệnh có thể gây ra nhiều biến chứng nặng nề như: nhiễm trùng huyết sau nạo thai, chửa ngoài tử cung, chết sơ sinh, ung thư cổ tử cung, vô sinh nếu không được chẩn đoán, điều trị kịp thời và triệt để [5], [7]
Nhiễm khuẩn đường sinh dục dưới là một trong những yếu tố cản trở công tác kế hoạch hóa gia đình, bởi vì những phụ nữ đang mắc bệnh không thể sử dụng các dụng cụ tử cung Trong khi đó đặt các dụng cụ tử cung lại là một biện pháp tránh thai chủ yếu ở Việt Nam
Việt Nam là nước có tỉ lệ nhiễm khuẩn đường sinh dục dưới khá cao Đặc biệt là những bệnh viêm đường sinh sản thông thường hiện khá phổ biến như viêm âm đạo, viêm cổ tử cung [4] Theo tác giả Nguyễn Văn Học có khoảng 63,9% số phụ nữ có biểu hiện viêm đường sinh sản nhẹ hoặc nặng [15]
Huyện Bá Thước có 22 xã và 1 thị trấn, là một huyện miền núi cao, có
số dân là 109.133 người Trong đó có 30.125 phụ nữ có chồng trong độ tuổi sinh đẻ (18-49 tuổi) Nghề nghiệp chủ yếu là làm nương, trồng rừng, làm ruộng và trồng hoa màu như: trồng lạc, sắn, mía đường, cà, dưa, ngô,… ở vùng núi chị em chủ yếu làm nghề đi nương rẫy, ngoài ra có một số rất ít chị
em làm các nghề khác Do tính chất của công việc hầu hết là lao động phổ
Trang 12thông nặng nhọc, và điều kiện vệ sinh chưa đảm bảo như nhiều nhà chưa có nước sạch cho chị em sử dụng nên tỷ lệ tỉ lệ nhiễm khuẩn đường sinh dục dưới còn cao Tuy nhiên, tính cho đến thời điểm này vẫn chưa có một công trình nghiên cứu nào cung cấp đầy đủ các thông tin về viêm nhiễm đường sinh dục dưới của phụ nữ tại huyện Bá Thước Vì vậy, chúng tôi tiến hành
nghiên cứu đề tài: ‘‘Thực trạng mắc và kiến thức, thái độ, thực hành về nhiễm khuẩn đường sinh dục dưới ở phụ nữ có chồng trong độ tuổi sinh đẻ tại 3 xã huyện Bá Thước tỉnh Thanh Hóa trong năm 2017”
Mục tiêu nghiên cứu
1 Xác định thực trạng mắc và một số yếu tố liên quan đến nhiễm khuẩn
đường sinh dục dưới ở phụ nữ có chồng trong độ tuổi sinh đẻ tại 3 xã huyện Bá Thước tỉnh Thanh Hóa trong năm 2017
2 Mô tả kiến thức, thái độ và thực hành về phòng chống nhiễm khuẩn đường sinh dục dưới ở phụ nữ có chồng trong độ tuổi sinh đẻ (18-49) tại địa bàn nghiên cứu
Trang 13Chương 1 TỖNG QUAN 1.1 Khái niệm về nhiễm khuẩn đường sinh dục dưới
1.1.1 Định nghĩa
Nhiễm khuẩn đường sinh dục (NKĐSDD) được định nghĩa là bệnh lý viêm nhiễm tại cơ quan sinh dục NKĐSDD là một thuật ngữ rộng bao gồm các nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục và các nhiễm khuẩn khác không lây truyền qua đường tình dục Các NKĐSDD gây ra bởi các vi sinh vật (VSV) thường có mặt tại đường sinh dục hoặc do các VSV từ bên ngoài
vào, thông qua hoạt động tình dục hoặc qua các thủ thuật y tế [11], [18], [23]
1.1.2 Phân loại
* Theo tác nhân gây bệnh
NKĐSDD là một bệnh thường gặp nhất ở phụ nữ, đặc biệt ở các nước đang phát triển NKĐSDD gồm 3 nhóm bệnh [6], [9]
Các nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục: Giang mai, lậu, trùng
roi sinh dục, Herpes sinh dục, sùi mào gà, nhiễm Chlamydia trachomatis,
Các nhiễm khuẩn nội sinh: do phát triển quá mức các VSV sống cộng sinh trong đường sinh dục bao gồm viêm âm đạo do vi khuẩn, viêm âm hộ -
âm đạo do nấm,
Các nhiễm khuẩn ngoại sinh: do các thủ thuật y tế không vô khuẩn như thăm khám phụ khoa, sinh đẻ, nạo hút thai hoặc thực hiện các biện pháp kế hoạch hóa gia đình (KHHGĐ) không an toàn
* Theo vị trí giải phẫu
Nhiễm khuẩn đường sinh dục dưới (từ âm hộ đến cổ tử cung) Dưới vòng bám âm đạo bao gồm: viêm cổ tử cung, viêm âm hộ, âm đạo và tuyến sinh dục
Nhiễm khuẩn sinh dục trên (từ tử cung lên buồng trứng): Viêm niêm mạc tử cung và viêm phần phụ [21], [25]
Trang 141.2 Đặc điểm nhiễm khuẩn đường sinh dục dưới ở phụ nữ
1.2.1 Giải phẫu cơ quan sinh dục dưới của phụ nữ
Cơ quan sinh dục dưới của nữ bao gồm: âm hộ, âm đạo, CTC Bộ phận này có liên quan chặt chẽ với da và hậu môn, không có phương tiện ngăn cách hữu hiệu
Âm hộ: Gồm môi lớn và môi bé, giữa có 2 lỗ tuyến Bartholin và 2 lỗ tuyến skene, tuyến chế tiết chất nhầy bôi trơn âm đạo
Âm đạo: Là một ống đi từ cổ tử cung đến âm hộ Âm đạo nằm phía sau bàng quang, niệu đạo, nằm trước trực tràng Âm đạo và tử cung gấp góc 90 độ
Cổ tử cung dài 2,5cm, rộng 2,5cm, khi sinh đẻ nhiều CTC sẽ ngắn lại Đặc điểm sinh lý âm đạo, cổ tử cung: Phụ nữ ở thời kỳ hoạt động tình dục bình thường thì pH dịch CTC mang tính kiềm nhẹ thay đổi từ 7 - 7,5; pH dịch âm đạo có tính acid từ 3,6 - 4,6 Môi trường acid tự nhiên này liên quan
tới trực khuẩn Doderlein có trong âm đạo Biểu mô âm đạo tiết ra glycogen tạo môi trường thuận lợi để trực khuẩn Doderlein phát triển và tạo ra pH acid
ở âm đạo Môi trường pH âm đạo còn phụ thuộc nhiều estrogen của buồng
trứng tiết ra Sự có mặt của trực khuẩn Doderlein giúp ngăn cản sự phát triển
của các vi khuẩn gây bệnh, do đó tạo khả năng bảo vệ âm đạo và CTC Các
trực khuẩn Doderlein này cũng gắn chặt với tế bào biểu mô âm đạo và ngăn
cản sự gắn kết của các vi khuẩn gây bệnh khác vào tế bào biểu mô âm đạo Bình thường âm đạo và mặt ngoài CTC gồm 2 lớp biểu mô phủ và lớp đệm Biểu mô phủ là biểu mô lát tầng không sừng hóa và thay đổi phụ thuộc vào nồng độ estrogen theo từng lứa tuổi của phụ nữ Ống cổ tử cung được phủ bởi một lớp biểu mô trụ có tác dụng chế nhầy [10], [35], [37]
Trang 151.2.2 Nhiễm khuẩn đường sinh dục dưới
Nhiễm khuẩn đường sinh dục dưới là viêm đường sinh dục từ âm hộ đến CTC dưới vòng bám âm đạo gồm: viêm CTC, viêm âm hộ, viêm âm đạo
và tuyến sinh dục Các thể lâm sàng thường gặp là:
* Viêm âm hộ
Viêm âm hộ đơn thuần và tiên phát thường ít gặp mà thường là hậu quả của viêm âm đạo sinh ra nhiều khí hư chảy xuống dính vào âm hộ gây tình trạng ngứa ngáy phải gãi, dẫn đến trầy xước gây bội nhiễm làm cho âm hộ xung huyết, viêm tấy đỏ, ngứa, có khi còn lở loét, sùi, nguyên nhân thường do nấm, trùng roi, vi khuẩn không đặc hiệu, lậu
Viêm âm hộ-âm đạo do Candida albicans: Hầu hết trường hợp nấm âm
hộ, âm đạo là do nhiễm Candida albicans Triệu chứng của nhiễm nấm âm
hộ, âm đạo gồm ngứa, đỏ âm hộ, đau khi quan hệ tình dục, đau âm hộ và ra khí hư như bột (gặp khoảng 69% số trường hợp), tăng nhiều trong những ngày trước kinh, kèm theo kích thích, có thể tiểu khó hoặc tiểu buốt Có biểu hiện đau khi giao hợp và cảm giác nóng rát trong âm đạo Khám thấy, âm hộ,
âm đạo viêm đỏ, ở môi lớn, môi bé của âm hộ có thể có khí hư trắng, niêm mạc âm đạo viêm đỏ dễ chảy máu, dịch âm đạo trắng như bột hoặc như váng sữa bám vào, CTC có thể bình thường hoặc viêm đỏ, phù nề Chẩn đoán dựa vào dấu hiệu lâm sàng, soi tươi khí hư thấy sợi tơ nấm hoặc bào tử nấm, pH
<4,5; xét nghiệm Sniff âm tính Cấy nấm được lựa chọn thực hiện trên những trường hợp nhiễm nấm tái phát hay triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng
khác không rõ ràng, việc cấy nấm sẽ giúp ích rất nhiều cho quá trình điều trị
Viêm âm đạo do nhiễm đơn bào Trichomonas vaginalis: Đây là bệnh
LTQĐTD Người có quan hệ tình dục với nhiều người và với người bị nhiễm Trichomonas vaginalis thuộc diện nguy cơ cao Phụ nữ có thai tỷ lệ nhiễm
Trang 16T.vaginalis cao hơn phụ nữ không có thai Môi trường âm đạo kiềm tính, PH
>4,5 là môi trường thuận lợi cho Trichomonas vaginalis phát triển [19], [60]
Viêm âm đạo do vi khuẩn (bacteria vaginosis): thường do mất cân
bằng hệ VSV ở âm đạo Bình thường trong âm đạo có nhiều VSV, phổ biến
nhất là Lactobacillus crispatus và Lactobacillus jensenii Trực khuẩn
Lactobacilli giúp ổn định hệ VSV trong âm đạo để ngăn ngừa bệnh Những
thay đổi hệ VSV trong âm đạo như giảm trực khuẩn Lactobacillus thường do
sử dụng kháng sinh, hoặc mất cân bằng pH làm cho các vi khuẩn có hại khác sinh sôi phát triển và gây bệnh Các vi khuẩn gây viêm âm đạo thường rất đa
dạng, nhưng những loại thường gặp nhất là: Gardnerella vaginalis,
Mobiluncus, Bacteroides, và Mycoplasma [41], [45]
ở CTC
Viêm CTC do lậu cầu phổ biến trên toàn thế giới, đặc biệt hay gặp ở tuổi trẻ, tỷ lệ mắc bệnh lậu cao nhất ở những cộng đồng có điều kiện kinh tế thấp Lậu có thể gây viêm CTC, viêm tuyến Bartholin, viêm âm hộ âm đạo, viêm niệu đạo, viêm phần phụ, viêm nội mạc tử cung, viêm họng ở người lớn Triệu chứng thường gặp là ra khí hư vàng nên dễ nhầm với viêm do các vi khuẩn thông thường Đặt mỏ vịt thấy nhiều khí hư đặc như mủ, CTC đỏ, di động đau, thường kèm theo viêm âm đạo Chẩn đoán xác định dựa vào soi tươi, nhuộm Gram thấy song cầu bắt màu Gram âm nằm trong tế bào hoặc nuôi cấy trên môi trường chọn lọc Thayer Martin thấy có song cầu cà phê bắt màu Gram (-) Bệnh nhân bị lậu cầu mạn tính, thì hình ảnh vi khuẩn trong tế
Trang 17bào bạch cầu khó tìm được, do vậy khi nghi ngờ cần nuôi cấy, phân lập để xác định lậu bằng hai phương pháp khác nhau [33], [26]
Viêm cấp tính: ra khí hư nhiều, khám thấy CTC tấy đỏ, phù nề, thường
kết hợp với viêm âm đạo, chất nhày CTC đục, có thể dạng như mủ
CTC đỏ tấy, sần sùi, hoặc loét, khí hư nhiều
Chlamydia trachomatis
Về điều trị: Hiện nay, việc điều trị các bệnh NKĐSDD gặp nhiều khó
khăn Khó khăn chính trong điều trị NKĐSDD cho phụ nữ ở nước ta hiện nay
đã được một số tác giả đề cập bao gồm: Tính chất phức tạp của mô hình bệnh tật với đặc điểm tổn thương ở nhiều cơ quan với nhiều loại căn nguyên cùng một lúc, sự kháng thuốc khá phổ biến của nhiều loài vi sinh vật, thường phải điều trị nhiều ngày, kết hợp đặt thuốc tại chỗ với kháng sinh theo đường uống, đường tiêm, phần lớn phải điều trị cả 2 vợ chồng hoặc cả bạn tình cùng một lúc, mặc dù có thể không có triệu chứng, cộng với những khó khăn trong chẩn
đoán, giám sát, thói quen lạm dụng kháng sinh của người dân [29], [32]
1.3 Hậu quả của nhiễm khuẩn đường sinh dục dưới
NKĐSDD không đe dọa ngay đến tính mạng nhưng để lại nhiều hậu quả Bệnh có ảnh hưởng đến sức khỏe, năng suất lao động, chất lượng cuộc sống và sức khỏe sinh sản NKĐSDD thường gây ảnh hưởng đến cả thể chất
và tinh thần của người phụ nữ NKĐSDD gây cho người bệnh khó chịu, có thể đau đớn hay ngứa ngáy, gây mất tập trung, ảnh hưởng đến năng suất lao động Thêm vào đó, người bị NKĐSDD còn có ảnh hưởng đến tâm lý, mặc cảm, cảm thấy ngại ngùng, mất tự tin, giảm khoái cảm trong quan hệ tình dục[11] NKĐSDD là bệnh thường gặp nhất ở phụ nữ, cả khi có thai và không
có thai Bệnh gây nên nhiều rối loạn trong đời sống và sinh hoạt hàng ngày
Trang 18của chị em phụ nữ Ngoài những ảnh hưởng trên nó còn gây ra nhiều hậu quả
về sau đối với chị em phụ nữ như: vô sinh, chửa ngoài tử cung, ung thư tử cung…Đối với phụ nữ có thai có thể gây sảy thai, vỡ ối sớm, đẻ non, thai chết lưu, sau đẻ có thể gây nhiễm trùng hậu sản…Trẻ sơ sinh có thể bị viêm kết mạc, viêm phổi hoặc chậm phát triển tinh thần Ở các nước đang phát triển, 20% phụ nữ đến khám tại các cơ sở y tế là do viêm nhiễm đường sinh dục dưới Ở Việt Nam phụ nữ bị viêm âm hộ, âm đạo chiếm khoảng 60%, phụ nữ
có thai viêm âm đạo chiếm khoảng 40-70% [5]
Mặc dù hầu hết các NKĐSDD đều có thể điều trị khỏi nhưng nhiều phụ nữ không đi khám để được phát hiện và điều trị sớm nên khi đến khám chữa bệnh thì đã muộn gây khó khăn cho việc điều trị và có thể dẫn tới những biến chứng nặng nề như vô sinh, ung thư CTC, rối loạn kinh nguyệt, sẩy thai,
đẻ non, hoặc nhẹ cân Hơn thế nữa, NKĐSDD làm tăng nguy cơ lây nhiễm căn bệnh thế kỷ HIV - AIDS ở cả phụ nữ và nam giới Nhiều công trình nghiên cứu đã cho thấy tỷ lệ nhiễm HIV/AIDS tăng nhanh ở các vùng có tỷ lệ
khuẩn là 19,9%, do Trichomonas vaginalis là 6,7% [42]
Trang 19Theo Quỹ Dân Số liên hiệp quốc năm 2008, toàn cầu có khoảng 340 triệu trường hợp nhiễm các bệnh NKĐSDD mới mỗi năm, ước tính nhiễm mới tăng hơn 1 triệu người/năm - có nghĩa là cứ 7 người ở độ tuổi sinh đẻ thì
có hơn 1 người bị nhiễm Tỷ lệ mắc mới NKĐSDD cao ở khu vực châu Phi,
Mĩ La Tinh, Caribe, Đông Nam Á và cao nhất là ở khu vực cận Shahara - châu Phi [57], [60]
Tại các nước đang phát triển, tỷ lệ NKĐSDD vẫn đang ở mức cao, kết quả nghiên cứu ở một số nước như Bangladesh, Ấn Độ, Trung Quốc, Ai Cập, Lào cho thấy tỷ lệ NKĐSDD từ 50% - 92% [60]
Ở Trung Quốc, nghiên cứu của Zhang và cộng sự tại tỉnh An Huy trên 53.652 phụ nữ có chồng cho thấy, tỷ lệ mắc NKĐSDD là 58,1%, viêm âm đạo do vi khuẩn và do T vaginalis với tỷ lệ lần lượt là 41,7%, 12,0% và 4,5% Có đến 20,4% mắc một lúc 2 bệnh NKĐSDD và 8,8% mắc ít nhất 3 bệnh NKĐSDD [59]
Qua các nghiên cứu trên, có thể thấy thực trạng NKĐSDD rất cao, hầu hết đều trên 50%, có vùng lên tới trên 60% Các nguyên nhân và các loại viêm nhiễm cũng rất khác nhau (viêm CTC, viêm âm đạo, viêm âm hộ - âm đạo, viêm CTC-âm đạo) [40], [43]
Nghiên cứu Ahmadnia.E, Kharaghani.R tại Iran tỉ lệ nhiễm và các yếu
tố liên quan đến nhiễm trùng sinh dục và lây truyền qua đường tình dục ở phụ
nữ đã lập gia đình mắc NKĐSDDTrichomoniasis vaginalis 34% [37]
1.4.2 Tại Việt Nam
Năm 2004, một nghiên cứu lớn về NKĐSDD tiến hành điều tra cắt ngang trên 8.880 phụ nữ đã kết hôn ở 8 tỉnh/thành phố trên cả nước, thu được
tỷ lệ chung về NKĐSDD là 60%, trong đó chủ yếu là viêm đạo, âm hộ do nấm Lê Thị Oanh và cộng sự đã điều tra về NKĐSDD trên hơn 2.500 phụ nữ lứa tuổi 18 - 45 tại các khu vực địa lý khác nhau như: Hà Nội, vùng núi Nghệ
An, vùng chiêm trũng Hà Nam, nông thôn đồng bằng Hải Dương và nông
Trang 20thôn ven biển Thái Bình Kết quả khám và làm xét nghiệm cho thấy, tỷ lệ NKĐSDD của phụ nữ ở các địa phương này cao đến mức báo động từ 42 – 64%, cao nhất là ở phụ nữ dân tộc Thái tại Nghệ An và thấp nhất ở nội thành
Hà Nội [25] Tác giả Kiều Chí Thành và cộng sự khi nghiên cứu về tình hình NKĐSDD trên 418 phụ nữ nông thôn một số xã ngoại thành Hà Nội cũng cho thấy tỷ lệ nhiễm khuẩn khá cao 62,20% Hầu hết chị em đều bị NKĐSDD như VAĐ, viêm CTC hoặc kết hợp Căn nguyên chủ yếu là vi khuẩn chiếm 67,32%, nấm candida 18,11% [30]
Nghiên cứu của Cấn Hải Hà ở 380 phụ nữ từ 18- 49 tuổi ở Thạch Thất -
Hà Nội (2014) cũng nhận thấy tỷ lệ mắc NKĐSDD rất cao 62,1%, trong đó
viêm âm đạo do vi khuẩn chiếm chủ yếu 50,0%, do Chlamydia trachomatis là 45,8%, nấm Candida albicans là 31,8% và thấp nhất là Trichomonas
vaginalis là 3,8% [8]
Nguyễn Duy Ánh đã tìm hiểu về tình trạng NKĐSDD trên 588 phụ nữ
có chồng độ tuổi 18-49 tại quận Cầu Giấy, Hà Nội, là vùng dân cư có đặc điểm thành thị và nông thôn xen lẫn Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ NKĐSDD của đối tượng ở mức cao 70,1%, tập trung ở nhóm tuổi 25 - 40 (48,3%) [2]
Qua kết quả các nghiên cứu về NKĐSDD ở cả 3 miền, miền Bắc, miền Trung, miền Nam của Việt Nam và ở các vùng thành thị, nông thôn, miền núi, đồng bằng, vùng ven biển, vùng chiêm trũng, trong đó, hầu hết các nghiên cứu là tại cộng đồng và một số nghiên cứu tiến hành tại bệnh viện, cho thấy NKĐSDD là rất phổ biến ở Việt Nam Đối tượng mắc bệnh chủ yếu là phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ Tỷ lệ mắc NKĐSDD là rất cao, thấp nhất là 21,4%, cao nhất là 64,1%, tỷ lệ mắc phổ biến là trên 30% Mặc dù các kết quả nghiên cứu khác nhau, nhìn chung các tác nhân gây bệnh, phổ biến nhất vẫn là nấm
C.albicans, sau đó là do vi khuẩn Tỷ lệ các hình thái viêm (viêm âm hộ, viêm
âm đạo, viêm âm hộ-âm đạo, viêm CTC, viêm âm đạo-CTC) cũng rất khác
Trang 21nhau ở từng nghiên cứu Điều này cho thấy cần phải có giải pháp can thiệp
có dây, đang có thai hay tiền sử nạo hút, tiền sử mắc các bệnh NKĐSDD,
* Yếu tố về nhân khẩu học
Trình độ học vấn có liên quan đến NKĐSDD đã được một số nghiên cứu trong và ngoài nước đề cập đến Tỷ lệ mắc các bệnh NKĐSDD thường cao ở nhóm có trình độ học vấn thấp và nghề nghiệp không ổn định Các nghiên cứu cũng đã giải thích lý do trình độ học vấn thấp mắc NKĐSDD nhiều hơn do những lý do sau đây: Những người có trình độ học vấn thấp, khả năng tiếp cận đến dịch vụ y tế cũng như đến các nguồn thông tin truyền thông phòng bệnh NKĐSDD kém hơn những người có trình độ học vấn cao hơn Đây là những vấn đề khó khăn trong giáo dục thay đổi hành vi phòng chống NKĐSDD Thực tế cho thấy ở nhóm có trình độ học vấn thấp thì hiểu biết về NKĐSDD nghèo nàn và thường có quan hệ tình dục không an toàn nên có nguy cơ nhiễm NKĐSDD rất cao [10], [34]
Tuổi và nghề nghiệp là những yếu tố có ảnh hưởng đến tình trạng NKĐSDD ở phụ nữ Nghiên cứu Phạm Thị Khanh (2010) tại bệnh viện Phụ sản Thanh Hóa cho thấy có đến 82% phụ nữ mắc bệnh nằm trong nhóm tuổi
từ 20 – 40 [18] Trong đó, chủ yếu mắc lại là cán bộ (28,6%) và nông dân (24,7%) Tác giả chứng minh rằng nghề nghiệp có mối tương quan chặt với tình trạng nhiễm khuẩn do yếu tố này ảnh hưởng trực tiếp đến điều kiện làm
Trang 22việc của người phụ nữ Công việc phải ngồi nhiều hay tiếp xúc với môi trường không sạch sẽ tăng nguy cơ mắc NKĐSDD [20]
Một nghiên cứu ở khu vực nông thôn cho thấy nhóm trung niên có khả năng mắc bệnh cao hơn nhóm trẻ tuổi và người cao tuổi Tỷ lệ NKĐSDD ở phụ nữ độ tuổi 26-45 là từ 1/2 đến 2/3, trong khi tỷ lệ ở nhóm phụ nữ độ tuổi 19-25 và trên 45 tuổi chỉ khoảng 1/3 [21] Một nghiên cứu ở phụ nữ trong quân đội năm 2013 cho thấy tỷ lệ mắc NKĐSDD cao nhất ở độ tuổi 30-39 (chiếm 53,2%), tiếp theo là nhóm tuổi 40- 49 (chiếm 50,9%) [18]
Đối với phụ nữ bán dâm, tuổi quan hệ tình dục lần đầu và thời gian hoạt động mại dâm là những yếu tố ảnh hướng rất lớn đến NKĐSDD Tuổi quan hệ tình dục là một trong những hành vi nguy cơ quan trong nhất của NKĐSDD, đặc biệt cho phụ nữ bán dâm Một số nghiên cứu trong và ngoài nước cho thấy những phụ nữ bán dâm ít tuổi có quan hệ tình dục sớm, quan
hệ tình dục nhiều, ít có khả năng hiểu biết đầy đủ về nguy cơ NKĐSDD thì rất dễ bị nhiễm HIV và các bệnh NKĐSDD Điều này là hợp lý vì những phụ
nữ rất trẻ ít có hiểu biết và kinh nghiệm để có thể thỏa thuận và thuyết phục khách hàng quan hệ tình dục an toàn như sử dụng bao cao su (BCS) khi quan
hệ tình dục [31]
Nghiên cứu của Nguyễn Duy Ánh về mối liên quan đến NKĐSDD cũng có kết luận tương tự về ảnh hưởng của hai yếu tố này [3] Thêm vào đó, nghiên cứu ở các phụ nữ di cư cho thấy thu nhập thấp cũng là rào cản trong việc tiếp cận dịch vụ y tế [14], [17]
* Yếu tố kiến thức về bệnh, thái độ và thực hành phòng chống bệnh
Những yếu tố như kiến thức về mức độ nghiêm trọng của bệnh, cách phòng và phát hiện bệnh sớm cũng có liên quan đến khả năng mắc bệnh Kết quả của Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Y tế Cộng đồng cho thấy có 60% đối tượng nghiên cứu nhận thức được về dấu hiệu hoặc triệu chứng của
Trang 23NKĐSDD trong khi 31% trong số họ không có kiến thức về các nguyên nhân dẫn tới bệnh, những người có kiến thức không đạt có tỷ lệ nhiễm khuẩn cao hơn những người có kiến thức đạt khoảng 2,5 lần Năm 2007, đề tài tiến hành trên 800 phụ nữ vạn chài có các triệu chứng bệnh NKĐSDD chỉ ra rằng các phụ nữ này có hiểu biết ít về NKĐSDD, hơn nữa thái độ của họ chưa tích cực, vẫn còn tâm lý ngại ngùng, coi thường bệnh và chỉ số về hành vi thực hành còn rất thấp Số người thờ ơ trước các dấu hiệu của bệnh còn chiếm tỷ lệ đáng
kể Chính vì vậy, tỷ lệ phụ nữ vạn chài mắc các bệnh NKĐSDD là khá cao 63,7% [13], [53]
Đánh giá nhận thức về cách phòng tránh bệnh ở phụ nữ 18 - 52 tuổi tại Hải Phòng về NKĐSDD có vẻ khả quan hơn, có 70% trả lời để phòng bệnh phải vệ sinh bộ phận sinh dục; 64% trả lời dùng nước sạch; trên 54% trả lời cần khám phụ khoa định kỳ và trên 44% trả lời cần phải vệ sinh kinh nguyệt [15] Về cơ bản, đối tượng hiểu được cách phòng mắc các bệnh NKĐSDD Đồng thời, nghiên cứu chỉ ra rằng kiến thức về bệnh có mối tương quan ý nghĩa với tình trạng mắc bệnh Những người có kiến thức về bệnh không đạt yêu cầu có nguy cơ mắc bệnh tăng gấp đôi so với những người có kiến thức đạt yêu cầu
Nghiên cứu của tác giả Cấn Hải Hà (2014) trên đối tượng phụ nữ 15 -
49 tuổi có chồng tại Thạch Thất – Hà Nội cũng chỉ ra rằng có mối liên quan giữa kiến thức về NKĐSDD với bệnh [8] Nghiên cứu của tác giả Lương Văn Xuân (2016) huyện Lang Chánh tỉnh Thanh hóa cũng chỉ ra rằng có mối liên quan giữa kiến thức của phụ nữ về NKĐSDD với tình trạng mắc bệnh[34]
Nghiên cứu của tác giả Phạm Thị khanh (2010) cũng chỉ ra rằng những phụ nữ không vệ sinh trước và sau quan hệ tình dục có khả năng mắc bệnh NKĐSDD cao gấp 2,63 lần so với những người có vệ sinh, khác biệt này có ý nghĩa thống kê [18] Cách vệ sinh bộ phận sinh dục cũng được y văn đề cập
Trang 24đến là một yếu tố liên quan đến các bệnh NKĐSDD Theo các bác sĩ, một trong những nhầm lẫn “thường tình” mà nhiều chị em mắc phải là việc tự thụt rửa âm đạo Điều này rất sai lầm bởi sẽ gây mất cân bằng hệ vi sinh vật vùng
âm đạo, tạo điều kiện cho vi khuẩn có hại tăng sinh gây bệnh viêm nhiễm phụ khoa Hơn thế nữa, nhiều chị em còn ngâm bộ phận sinh dục trong chậu nước làm cho các VSV có hại nhiễm ngược từ hậu môn lên gây bệnh [6], [58]
Theo tác giả Hoàng Minh Hằng, nghiên cứu trên 800 phụ nữ 15 - 49 tuổi tại Hải Phòng có chồng hoặc đã quan hệ tình dục, nguy cơ mắc bệnh NKĐSDD chủ yếu là do thiếu vệ sinh kinh nguyệt [14]
Nghiên cứu của tác giả Bùi Thị Việt Hà (2014) cũng chỉ ra rằng có mối liên quan giữa cách vệ sinh bộ phận sinh dục (BPSD) với NKĐSDD, cụ thể là nhóm phụ nữ thụt rửa sâu vào bên trong có nguy cơ mắc bệnh NKĐSDD cao gấp 3,44 lần so với những người vệ sinh dưới dòng nước chảy thông thường Những điều đó càng khẳng định vệ sinh là yếu tố rất quan trọng góp phần gây
ra bệnh, cũng như có thể hạn chế bệnh nếu thực hành vệ sinh đúng [11]
* Yếu tố về tiền sử sản phụ khoa và sử dụng các biện pháp tránh thai
Về tiền sử sản phụ khoa, một nghiên cứu tại Trung Quốc về mối liên quan giữa tình trạng NKĐSDD và nạo phá thai của phụ nữ đã nhận định rằng những phụ nữ đã trải qua phá thai có tỷ lệ mắc các bệnh NKĐSDD cao hơn 2 lần so với các phụ nữ chưa từng nạo phá thai, đặc biệt ở nhóm phá từ 2 lần trở lên thỉ tỷ lệ NKĐSDD cao hơn gấp khoảng 3,2 lần so với những người chưa từng nạo phá thai [55], [59]
Đề tài về tình hình NKĐSDD trên 150 bệnh nhân từ 18 - 45 tại bệnh viện Phụ sản Thanh Hóa cũng đã chỉ ra rằng những phụ nữ sinh từ 3 lần trở lên có nguy cơ mắc bệnh cao gấp 4,8 lần so với những phụ nữ chưa có con Thêm vào đó, nguy cơ NKĐSDD ở những người đã nạo phá thai từ 2 lần trở lên cao gấp 3,5 lần so với những người chưa từng nạo phá thai [18]
Trang 25Đề cập đến việc sử dụng biện pháp tránh thai với NKĐSDD, nghiên cứu ĐàmThị Thúy Hà (2013), Thực trạng nhiễm khuẩn đường sinh dục dưới
và một số yếu tố liên quan ở phụ nữ có chồng trong độ tuổi sinh đẻ tại xã Trừng Xá, huyện Lương Tài, Bắc Ninh cho thấy tình trạng có mối liên quan giữa việc sử dụng DCTC với NKĐSDD Cụ thể là nhóm phụ nữ có sử dụng dụng cụ tử cung có nguy cơ NKĐSDD cao gấp 6 lần so với nhóm sử dụng những biện pháp tránh thai khác hoặc không sử dụng Nghiên cứu này cũng chỉ ra nhóm phụ nữ có tiền sử nạo phá thai có nguy cơ NKĐSDD gấp 3,68 lần
so với nhóm chưa bao giờ phá thai [9] Ngoài ra một số nghiên cứu còn chú ý đến yếu tố đang mang thai, tiền sử viêm nhiễm, uống thuốc tránh thai kéo
đó có việc khám chữa bệnh NKĐSDD [16] Tuy nhiên, khi việc tiếp cận với các dịch vụ tư vấn về SKSS tại các trạm y tế còn hạn chế cũng sẽ là một yếu
tố nguy cơ dẫn đến tăng khả năng mắc bệnh NKĐSDD Một nghiên cứu tại Thái Bình năm 2013 cho thấy mặc dù tỷ lệ vị thành niên từng nghe nói đến các chủ đề về sức khỏe tâm sinh lý tuổi dậy thì chiếm tỷ lệ 86,3%, các thông tin về các bệnh LTQĐTD và HIV/AIDS tương đối cao với tỷ lệ tương ứng là 78,6% và 74% Tuy nhiên, hình thức tư vấn trực tiếp hoặc tham gia các buổi nói chuyện chuyên đề về các vấn đề sức khỏe sinh sản lại chiếm tỷ lệ thấp (26,3%), hay nói cách khác, có tới 73,7% đối tượng chưa từng được nghe
Trang 26cộng tác viên dân số nói chuyện về các chủ đề này [31] Bên cạnh đó, nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng chất lượng của dịch vụ y tế là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến việc người phụ nữ lựa chọn địa điểm để khám và đều trị các bệnh NKĐSDD [13] Kết quả thu được tương tự đề tài của Vũ Thị Hoàng Lan, cũng đã chỉ ra yếu tố niềm tin vào dịch vụ y tế ảnh hưởng đến việc người phụ nữ đi khám và đều trị các bệnh NKĐSDD [19]
Nghiên cứu 8.800 phụ nữ ở 8 vùng sinh thái khác nhau trên cả nước cho thấy việc tư vấn về các bệnh NKĐSDD được thực hiện tại 14/24 cơ sở y
tế nhưng chỉ có 10/14 cơ sở y tế có khả năng chẩn đoán và chữa trị những bệnh này [7] Tỷ lệ này nhìn chung vẫn còn thấp Điều này cho thấy, hiệu quả của công tác khám chữa bệnh là rất quan trọng, do đó để tăng tỷ lệ đối tượng đến khám điều trị tại các cơ sở y tế chúng ta cần phải tăng cường nâng cao và cải thiện chất lượng của dịch vụ y tế để người dân có niềm tin và lựa chọn các dịch vụ y tế để khám và điều trị bệnh nói chung và các bệnh NKĐSDD nói riêng [28]
Vai trò của y tế tư nhân cũng liên quan đến NKĐSDD, kết quả một nghiên cứu đánh giá hoạt động cơ sở y tế tư cho thấy, hệ thống y tế tư nhân có những mặt mạnh nhất định, ví dụ như thời gian làm việc linh hoạt, cơ sở hạ tầng và trang thiết bị y tế đồng bộ, hiện đại, khách hàng không phải đợi lâu và quan hệ giữa cán bộ y tế và khách hàng thân thiện Tuy nhiên, điểm yếu là các tài liệu truyền thông giáo dục sức khỏe còn hạn chế, chú trọng nhiều vào lâm sàng, thiếu trao đổi giữa khách hàng và cán bộ y tế, không có thông tin về HIV/AIDS/STIs và sử dụng BCS, khai báo bạn tình cũng như khuyến nghị về
sử dụng BPTT phù hợp cho phụ nữ Cũng theo nghiên cứu trên, các nhà thuốc quản lý khách hàng NKĐSDD chưa đúng Khoảng 74% các dược sĩ và người bán thuốc biết họ không được điều trị khách hàng bị NKĐSDD, tuy nhiên trên thực tế 84% tiến hành điều trị Không ai trong số họ điều trị theo hội chứng
Trang 27đúng phác đồ Số lượng các nhà thuốc tư vấn điều trị bạn tình và hướng dẫn
sử dụng bao cao su rất ít [38]
Về công tác truyền thông, đề tài mô tả cắt ngang trên 1.459 cặp vợ chồng tuổi từ 18- 49 tại 7 tỉnh trong toàn quốc sử dụng bộ câu hỏi để xác định hiểu biết của người dân về các bệnh NKĐSDD, hậu quả và điều trị các bệnh này Kết quả cho thấy: Kiến thức hiểu biết của người dân về các bệnh NKĐSDD, hậu quả của Bệnh cũng như về điều trị các bệnh này là thấp, đều dưới 60%, đặc biệt hiểu biết về hậu quả và điều trị bệnh đều dưới 50% Các nguồn thông tin cho người dân chủ yếu là ti vi chiếm 71,3%, tiếp theo là từ đội ngũ cộng tác viên dân số và y tế thôn, bản (60,6%), còn lại các nguồn thông tin khác chiếm tỷ lệ thấp dưới 50% như phim ảnh, họ hàng, bạn bè và các tổ chức quần chúng Các thông tin về NKĐSDD chủ yếu trên ti vi và đài nhưng có thời lượng ít và phát vào lúc ít người có thể theo dõi [36]
Tuy nhiên, tác giả cũng khẳng định sự hiểu biết của khách hàng có tầm quan trọng trong việc phòng và điều trị bệnh Những khách hàng có hiểu biết thường đến các trung tâm y tế để khám bệnh và tư vấn Vai trò của truyền thông qua thông tin đại chúng và cơ sở y tế là rất quan trọng Đặc biệt, tư vấn trực tiếp cho khách hàng có hiệu quả cao hơn so với các phương pháp khác Nghiên cứu cũng đề xuất việc tuyên truyền giáo dục SKSS, nhất là truyền thông thay đổi hành vi cho người dân, rất quan trọng trong việc dự phòng và điều trị NKĐSDD [27]
1.5.3 Nhóm yếu tố điều kiện vệ sinh môi trường
Các nhà nghiên cứu về các bệnh lây truyền qua đường tình dục trước đây chỉ ra rằng, các yếu tố về môi trường như nguồn nước sử dụng có mối liên quan mật thiết đến tính trạng mắc bệnh NKĐSDD của phụ nữ có chồng
độ tuổi sinh đẻ Nghiên cứu trong nhóm phụ nư di cư làm việc tại khu công nghiệp Sài Đồng năm 2011 cho thấy, điều kiện sống còn hạn chế: 25,8% sử
Trang 28dụng nước giếng khoan và 25, 4% sử dụng chung nhà vệ sinh và nguồn nước cũng là yếu tố làm gia tăng tỷ lệ mắc bệnh NKĐSDD của đối tượng nghiên cứu [1]
Tắm và sử dụng xà phòng trong tắm giặt, vệ sinh hàng ngày và vệ sinh kinh nguyệt là hình thức thực hiện vệ sinh cần thiết đối với phụ nữ Nguồn nước sinh hoạt, các công trình vệ sinh như nhà tắm, nhà tiêu đều ảnh hưởng đến tình trạng NKĐSDD Khi so sánh việc có hay không sử dụng xà phòng trong lúc tắm và vệ sinh kinh nguyệt, một nghiên cứu đã cho thấy có sự khác
nhau đáng chú ý giữa 2 nhóm Tỷ lệ nhiễm Trichomonas vaginalis, Candida,
viêm âm đạo do vi khuẩn, viêm CTC ở nhóm thường xuyên dùng xà phòng thấp hơn nhiều so với nhóm không dùng [4]
Bên cạnh đó, điều kiện sống của đối tượng nghiên cứu có liên quan đến tình trạng mắc bệnh NKĐSDD, trong đó những phụ nữ sống trong những gia đình có nhà tắm gần với nơi nhà ở, hoặc có nhà tắm khép kín ở trong nhà thì
sẽ có tỷ lệ thực hành vệ sinh phòng chống NKĐSDD đạt cao hơn so với những phụ nữ khác [19]
Kết quả nghiên cứu rà soát về thực trạng NKĐSDD và viêm nhiễm đường sinh sản tại Việt Nam cũng như trên thế giới cho thấy các NKĐSDD, đặc biệt là tiết dịch âm đạo có liên quan có ý nghĩa thống kê đến tình trạng vệ sinh kinh nguyệt, vệ sinh cá nhân kém, quần lót phơi trong môi trường ẩm ướt thiếu ánh sáng và sử dụng nước không sạch trong tắm giặt [47], [52] Lý do
có thể giải thích cho hiện tượng này là đối tượng trong nghiên cứu thường sống trong môi trường có nước sạch, có ý thức hơn trong công tác vệ sinh cá nhân, khác với các nhóm đối tượng nghiên cứu của các nghiên cứu khác là những đối tượng có cả nông dân, người dân tộc, có điều kiện vệ sinh môi trường kém hơn, hiểu biết và thực hành cá nhân về vệ sinh cá nhân kém hơn
và có một số phong tục tập quán chưa hợp vệ sinh Một số nghiên cứu khác
Trang 29cũng cho thấy có mối liên quan chặt chẽ giữa tình trạng vệ sinh cá nhân và NkĐSDD [20],[51]
Vào những ngày có kinh mặc dù cơ thể có mệt mỏi nhưng không nên
“kiêng” hoặc ngại mà cần phải tắm rửa thường xuyên Cần tắm ở nơi kín gió, dùng nước sạch để tắm, không dùng nước múc ở ao, hồ, sông, suối Không nên ngâm người trong bồn tắm, ao, hồ hoặc bơi lội hay băng vệ sinh (hoặc vải xô) 4
- 5 lần một ngày Mỗi lần thay băng vệ sinh dùng nước chín còn ấm thay rửa Không nên sử dụng xà phòng tắm để vệ sinh vì nhiều người theo thói quen hoặc có suy nghĩ là xà phòng diệt khuẩn tốt nên thường vệ sinh bằng xà phòng tắm Đây cũng là một nguyên nhân làm tăng nguy cơ nhiễm khuẩn vì chất kiềm trong xà phòng làm rối loạn độ cân bằng kiềm toan của âm hộ, âm đạo Chỉ nên dùng nước rửa vệ sinh phụ nữ có thành phần diệt khuẩn, chiết xuất từ thảo dược, giữ độ cân bằng pH Nên rửa sạch tay và cắt móng tay trước những ngày
có kinh; khi rửa đưa tay từ phía trước về phía sau chứ không đưa tay từ phía sau về trước Không đưa tay thụt rửa hay làm cho nước vệ sinh vào sâu trong
âm đạo; rửa xong nên dùng khăn bông khô sạch thấm nhẹ nhàng Nếu bạn dùng bằng vải xô thì cần ngâm xà phòng và giặt thật sạch, phơi ở nơi có nắng,
ít bụi là tốt nhất Ngoài ra cần chú ý ăn uống điều độ, đủ chất Tránh chạy nhảy hoặc lao động nặng trong những ngày có kinh
1.6 Chiến dịch Chăm sóc sức khỏe sinh sản - truyền thông lồng ghép
Hàng năm Trung tâm Y tế huyện phối kết hợp với Trung tâm Dân số - KHHGĐ huyện tổ chức khám và điều trị phụ khoa cho chị em trong độ tuổi sinh đẻ tại các Trạm y tế xã Chiến dịch Chăm sóc sức khỏe sinh sản được thực hiện vào 11 tháng đầu năm tại 23/23 xã trong toàn huyện Các hoạt động: Truyền thông lồng ghép, Khám phụ khoa, điều trị phụ khoa, thực hiện các biện pháp tránh thai miễn phí và bao gồm các dịch vụ như xét nghiệm, siêu
âm chẩn đoán hình ảnh Các xét nghiệm bao gồm: HIV, viêm gan B, lậu,
Trang 30giang mai… Nhuộm soi phát hiện Trichomonas, tạp khuẩn, nấm Candida, song cầu lậu, nấm men, Clamydia… Xét nghiệm VIA để phát hiện ung thư cổ
tử cung sớm lấy tế bào cổ tử cung gửi bệnh phẩm lên tuyến trên để chẩn đoán
và điều trị
- Khám lâm sàng và xét nghiệm: Tất cả các bệnh nhân khám phụ khoa, ngoài những dấu hiệu lâm sàng có thể khai thác thông qua phỏng vấn trực tiếp thì thăm khám bằng mỏ vịt để quan sát rất quan trọng Thông qua khám bằng
mỏ vịt có thể quan sát trực tiếp dấu hiệu viêm nhiễm ở âm hộ, âm đạo và cổ
tử cung như: viêm loét, trợt, viêm đỏ, viêm lộ tuyến cổ tử cung, đồng thời sẽ nhận xét được tính chất của khí hư để hướng tới các xét nghiệm và những thăm dò khác giúp cho việc chẩn đoán xác định và điều trị đặc hiệu [5]
- Xét nghiệm soi tươi và nhuộm khí hư (xét nghiệm vi sinh): ngoài những quan sát qua thăm khám bằng đặt mỏ vịt, xét nghiệm vi sinh được coi
là kết luận chẩn đoán viêm nhiễm chính xác nhất để tìm tác nhân thường gặp
trong NKĐSDD (ngoại trừ giang mai, chlamydia) Việc lấy bệnh phẩm làm
xét nghiệm cần phải tuân theo những quy định cụ thể nhất định [5]
Tư vấn vệ sinh hợp lý: Đối với phụ nữ nói chung, phụ nữ nông thôn, miền núi nói riêng, việc đi khám phụ khoa định kỳ thường không thường xuyên Chỉ khi thấy có những dấu hiệu bất thường hoăc nghi ngờ có bệnh mới
đi khám Vì vậy CBYT cần tư vấn kịp thời những kiến thức về vệ sinh phụ nữ cho phù hợp Cụ thể, nên hướng dẫn cách sử dụng khăn vệ sinh kinh nguyệt, cách vệ sinh hàng ngày, vệ sinh khi có kinh, VS sau khi lao động, sau sinh hoạt, việc giặt, phơi đồ lót Cần tránh lạm dụng thụt rửa và đặt thuốc khi chưa có chỉ định cụ thể của thầy thuốc chuyên khoa Phòng bệnh NKĐSDD - Truyền thông giáo dục về vệ sinh phòng bệnh NKĐSDD: hướng dẫn cho phụ
nữ cách vệ sinh cá nhân, vệ sinh đúng cách để tránh làm thay đổi môi trường
âm đạo tạo điều kiện cho tác nhân gây bệnh xâm nhập Khi có khí hư bất thường cần đến ngay cơ sở y tế chuyên khoa để khám, chẩn đoán và điều trị
Trang 31đúng cách, tránh tự ý đặt thuốc âm đạo khi chưa có chỉ định của thầy thuốc [5], [39]
- Đề cao nền tảng gia đình, sống chung thủy một vợ, một chồng để phòng tránh NKĐSDD và các bệnh lây truyền qua đường tình dục - Dùng bao cao su đúng cách khi quan hệ tình dục để phòng bệnh cho mình và cho người khác vì đây là phương pháp hữu hiệu nhất để phòng tráng viêm nhiễm
- Tăng cường chẩn đoán và điều trị NKĐSDD, đối với các cơ sở y tế cần có đủ điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị để khám và phát hiện bệnh sớm, chẩn đoán chính xác và điều trị kịp thời, nhằm hạn chế những biến chứng cũng như hậu quả của bệnh Nâng cao vai trò tư vấn của các nhân viên
y tế với phụ nữ đến khám phụ khoa, không chỉ đơn thuần là khám và điều trị bệnh [44]
Trang 32Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Địa bàn nghiên cứu
Nghiên cứu của chúng tôi được thực hiện tại huyện Bá Thước là huyện miền núi của tỉnh Thanh Hóa, trung tâm huyện lỵ cách thành phố Thanh Hóa khoảng 120 km về phía Bắc Tây bắc, có diện tích tự nhiên 7.522,02 ha, gồm
22 xã và 01 thị trấn, có số dân là 109.133 người Huyện có tọa độ địa lý từ 20010‟ - 20024‟ vĩ độ Bắc và từ 105003‟ - 105028‟ kinh độ Đông - Phía Bắc giáp tỉnh Hòa Bình; - Phía Nam giáp huyện Lang Chánh và Ngọc Lặc; - Phía Đông giáp huyện Cẩm Thủy và huyện Thạch Thành; - Phía Tây giáp huyện Quan Hóa và huyện Quan Sơn Nhìn chung Bá Thước có vị trí địa lý ít thuận lợi cho việc phát triển kinh tế - xã hội Hệ thống giao thông chưa phát triển do địa hình bị chia cắt mạnh, gây cản trở lớn đến việc giao lưu kinh tế giữa các
xã trong huyện và các huyện lân cận
2.1.2 Đối tượng nghiên cứu
Phụ nữ có chồng, tuổi từ 18-49 tuổi
Tiêu chuẩn lựa chọn: Phụ nữ có chồng trong độ tuổi sinh đẻ từ 18-49
đang sinh sống tại huyện Hoàn toàn tự nguyện tham gia nghiên cứu.
Tiêu chuẩn loại trừ:
- Những người đang có kinh nguyệt tại thời điểm nghiên cứu
- Những người đang dùng thuốc khánh sinh điều trị toàn thân
- Những người không đồng ý tham gia nghiên cứu
Trang 332.1.3 Thời gian nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu từ tháng 08 năm 2017 đến tháng 04 năm 2018
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu mô tả thông qua cuộc điều tra cắt ngang có phân
tích nhằm xác định thực trạng mắc và một số yếu tố liên quan NKĐSĐ và kiến thức, thái độ, thực hành về bệnh và phòng chống bệnh của đối tượng
nghiên cứu
2.2.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
2.2.2.1 Cỡ mẫu nghiên cứu
Áp dụng công thức tính cỡ mẫu cắt ngang cho một tỷ lệ:
2
2 ) 2 / 1 (
1
e
p p Z
n
Trong đó:
- n: cỡ mẫu nghiên cứu
- Z: Hệ số tin cậy, với độ tin cậy 95% nên Z= 1,96
- p: 0,76 (Tỷ lệ này được ước chừng từ nghiên cứu trước) [8]
- d: Sai số kỳ vọng = 0,05 (± 5)
- Thay vào công thức và tính được n = 280 đối tượng Trên thực tế chúng tôi đã nghiên cứu được 300 đối tượng
Trang 342.2.2.2 Phương pháp chọn mẫu
- Chọn xã điều tra: Huyện Bá Thước gồm có 1 thị trấn và 22 xã Lập danh sách toàn bộ các xã/ thị trấn thuộc huyện Bá Thước, bốc ngẫu nhiên được 3 xã nghiên cứu đó là xã Tân Lập, xã Điền Quang và xã Lương Trung
- Chọn đối tượng điều tra: Lập danh sách tất cả phụ nữ có chồng 18- 49 tuổi trong từng xã của 3 xã được chọn Chọn ngẫu nhiên từ danh sách đã lập phụ nữ có chồng 18-49 trong danh sách của 3 xã được chọn Từ phụ nữ đó chọn các đối tượng cho đến khi đủ 300 đối tượng Trường hợp đối tượng từ chối tham gia nghiên cứu hoặc có tiêu chuẩn loại trừ, sẽ lấy người theo danh sách cho đến khi đủ cỡ mẫu của nghiên cứu
- Nghiên cứu này kết hợp với chương trình chăm sóc sức khỏe sinh sản
và kế hoạch hóa gia đình tại huyện Bá Thước, do Trung tâm y tế huyện Bá Thước hỗ trợ thực hiện nên tất cả các đối tượng trên địa bàn xã đều được thông báo mời trên loa phát thanh của xã trong vòng một tuần trước khi triển khai nghiên cứu Đối với đối tượng được lựa chọn vào nghiên cứu, đội ngũ cộng tác viên của thôn, xã dựa vào danh sách đối tượng, phát giấy mời, tích cực vận động đối tượng tham gia vào nghiên cứu Nếu đối tượng nằm trong danh sách nghiên cứu từ chối tham gia hoặc nằm trong tiêu chuẩn loại trừ, cộng tác viên ở các thôn chủ động mời đối tượng đứng liền kề trong danh sách Đối với đối tượng nghiên cứu chưa chồng đã có quan hệ tình dục thì vẫn phỏng vấn và khám như đối tượng đã có chồng
2.2.3 Các chỉ số và biến số sử dụng trong nghiên cứu
* Thông tin chung
- Tuổi (Tính theo năm sinh dương lịch: Lấy năm tại thời điểm nghiên cứu trừ đi năm sinh)
- Dân tộc (Dân tộc của người được phỏng vấn ghi trong giấy khai sinh)
Trang 35- Trình độ học vấn (Cấp học cao nhất đã hoàn thành)
- Nghề nghiệp chính (Nghề làm phần lớn thời gian)
- Thu nhập trung bình/ tháng (Thu nhập trung bình 1 tháng từ tất cả các
nguồn, kể cả hỗ trợ từ người khác)
- Tuổi quan hệ tình dục lần đầu (Tuổi quan hệ tình dục lần đầu của người phụ nữ, tính theo năm sinh dương lịch)
- Số con hiện tại (Số con đẻ sống ở thời điểm hiện tại, không tính con nuôi)
- Tiền sử nạo phá thai (Có hay không nạo phá thai)
- Dùng dụng cụ tử cung (Có hay không dùng dụng cụ tử cung để tránh thai)
- Dùng bao cao su (Có hay không dùng bao cao su khi quan hệ tình dục)
- Biết về khả năng lây truyền? (Khả năng lây truyền qua QHTD)
- Kiến thức về biến chứng của NKĐSDD (Những biến chứng mà ĐTPV cho rằng có thể xảy ra khi NKĐSDD không được điều trị triệt để)
- Vệ sinh BPSD trước khi quan hệ tình dục (ĐTPV và có hay không vệ sinh BPSD trước khi quan hệ tình dục)
Trang 36- Vệ sinh BPSD sau khi quan hệ tình dục (ĐTPV có hay không vệ sinh BPSD sau khi quan hệ tình dục)
- Quan hệ tình dục vào ngày có kinh (ĐTPV có hay không quan hệ tình dục vào ngày có kinh nguyệt)
- Cách để thấm hút kinh nguyệt trong kì kinh (Cách và loại băng vệ sinh mà đối tượng dùng để thấm hút kinh nguyệt trong kỳ kinh)
- Cách phơi đồ lót, xô màn (Cách phơi đồ lót, xô màn sau khi giặt)
- Nguồn nước sử dụng vệ (Nguồn nước dùng để rửa BPSD)
- Nước sử dụng để vệ sinh BPSD có qua hệ thống lọc không (Có hay không hệ thống lọc nước trước khi sử dụng)
- Có/ không có nhà vệ sinh hoặc nhà tắm trong nhà (Nhà vệ sinh/nhà tắm trong nhà hay ở ngoài)
- Thái độ của CBYT khi ĐTPV đến khám phụ khoa (CBYT có thái độ như thế nào khi NĐPV đến khám phụ khoa)
- Đánh giá về mức độ thuận tiện của việc khám phụ khoa (Đánh giá cá nhân của ĐTPV về mức độ thuận tiện của việc khám phụ khoa)
- Nguồn thông tin về NKĐSDD mà ĐTPV nhận được (ĐTPV thường nhận thông tin về NKĐSDD thông qua những nguồn nào)
2.2.4 Kỹ thuật thu thập thông tin và tiêu chuẩn đánh giá
* Phương pháp thu thập thông tin
+ Phỏng vấn trực tiếp bằng bộ câu hỏi được thiết kế sẵn Bộ câu hỏi sau khi được thiết kế, được điều tra thử trên, sau đó được nhóm nghiên cứu điều chỉnh lại cho phù hợp Điều tra viên sẽ đến để phỏng vấn trực tiếp từng đối
tượng đã được chọn (Phụ lục 1)
+ Khám lâm sàng của đối tượng nghiên cứu được đánh giá bằng bảng
kiểm thiết kế sẵn (Phụ lục 2)
Trang 37- Cán bộ phỏng vấn: Việc phỏng vấn được thực hiện bởi các cán bộ
TTYT Bá Thước
+ Khám lâm sàng
Tiến hành khám địa điểm là các trạm y tế ở 3 xã được chọn để xác định tình trạng bệnh đối với toàn bộ đối tượng được chọn vào nghiên cứu Khám phụ khoa theo phương pháp cổ điển: Mở âm đạo bằng mỏ vịt, kiểm tra tổn thương âm đạo, âm hộ, cổ tử cung, tính chất dịch âm đạo (số lượng, màu sắc, mùi) Việc khám và chẩn đoán được thực hiện bởi các y bác sỹ khoa CSSKSS tại TTYT huyện Bá Thước đã được tập huấn thống nhất Tiêu chuẩn chẩn đoán dựa theo bộ tiêu chí của Bộ Y tế
Trường hợp người được khám trong giai đoạn nghiên cứu được chẩn
đoán lâm sàng là NKĐSDD (qua phiếu khám lâm sàng)
Cách đánh giá cho điểm
a Biết cụ thể các triệu chứng về bệnh
- Đau bụng: 1 điểm
- Ra khí hư: 1 điểm
- Ngứa rát bộ phận sinh dục: 1 điểm
- Đái buối, đái dắt: 1 điểm
- Loét âm hộ: 1 điểm
- Ra máu bất thường: 1 điểm
- Các triệu chứng khác: 1 điểm
b Biết cụ thể các nguyên nhân về bệnh
- Dùng nguồn nước bẩn: 1 điểm
- Vệ sinh cá nhân kém: 1 điểm
- Không vệ sinh bộ phận sinh dục trước và sau khi quan hệ vợ chồng: 1 điểm
- Sinh hoạt vợ chồng khi đang có kinh: 1 điểm
- Các nguyên nhân khác: 1 điểm
Trang 38c Biết cụ thể các cách phòng bệnh
- Vệ sinh cá nhân sạch sẽ: 1 điểm
- Tránh ngâm mình dưới nước: 1 điểm
- Chỉ cần vệ sinh cá nhân người vợ khi sinh hoạt vợ chồng: 1 điểm
- Vệ sinh cá nhân cả vợ và chồng trước và sau khi sinh hoạt vợ chồng: 1 điểm
- Không sinh hoạt vợ chồng khi có kinh: 1 điểm
- Quan hệ chung thủy một vợ một chồng: 1 điểm
- Các cách phòng khác: 1 điểm
d Biết cụ thể các hậu quả của bệnh
- Vô sinh: 1 điểm
- Chửa ngoài tử cung: 1 điểm
- Ung thư cổ tử cung: 1 điểm
- Ảnh hưởng đến sức khỏe giảm khả năng lao động: 1 điểm
- Giảm khoái cảm tình dục, ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình: 1 điểm ♦ Cách đánh giá: tổng 23 điểm
- Đạt nhỏ hơn hoặc bằng 11 điểm: xếp loại kém
- Đạt từ 12-16 điểm: xếp loại trung bình
+ Bước 2: Gặp gỡ và làm việc với cán bộ tham gia vào nghiên cứu xã
trình bày mục đích, đối tượng, thời gian và kế hoạch triển khai nghiên cứu, báo cáo kế hoạch, lịch trình tổ chức tập huấn tiến hành điều tra thu thập số
liệu, hỗ trợ trong quá trình điều tra
Trang 39+ Bước 3: Tập huấn cho cán bộ tham gia nghiên cứu
Các điều tra viên: Các cán bộ TTYT huyện Bá Thước
Tổ chức tập huấn chu đáo cho các cán bộ tham gia nghiên cứu giúp điều tra viên hiểu về mục đích, đảm bảo thống nhất phương pháp chọn đối tượng
và phương pháp thu thập thông tin giữa các cán bộ điều tra tại địa bàn nghiên cứu Đồng thời hướng dẫn điều tra viên cách thức xử trí tình huống gặp phải trong quá trình điều tra và cách thu thập thông tin một cách chính xác và
- Phỏng vấn theo thứ tự từ câu đầu đến câu cuối
+ Bước 5: Tiến hành quan sát bằng bảng kiểm
- Nói rõ mục đích của buổi quan sát
- Nếu chủ đồng ý hợp tác thì tiến hành quan sát bằng bảng kiểm đã được thiết kế sẵn
Phỏng vấn đối tượng nghiên cứu Tất cả các đối tượng thuộc danh sách điều tra khi đến tham gia nghiên cứu sẽ được điều tra viên phát phiếu điều tra trực tiếp cho đối tượng nghiên cứu trả lời Trước khi điền bộ câu hỏi đối tượng nghiên cứu được giải thích rõ ràng về quyền lợi của họ, trả lời câu hỏi nhanh để loại trừ những đối tượng không đủ tiêu chuẩn vào nghiên cứu
Trang 40Sơ đồ thu thập thông tin
2.3 Phương pháp xử lý số liệu
Bộ câu hỏi mã hoá chuẩn để sử dụng cho điều tra cơ bản Toàn bộ phiếu được nhập vào máy tính bằng chương trình EpiData 3.1 Sau khi nhập liệu xong bộ số liệu được chuyển sang phần mềm SPSS 20.0 để làm sạch và tiến hành phân tích
Sử dụng phương pháp phân tích thống kê mô tả về từng biến và phân tích hai biến (kiểm định Khi bình phương) để xác định các yếu tố liên quan đến tình trạng mắc NKĐSDD Các kết quả được biểu diễn dưới dạng các bảng, biểu đồ tần số, tỷ lệ phần trăm hay các giá trị kiểm định của các Test thống kê
Nội dung thu thập thông tin
Xác định tổn
thương tại đường
sinh sản
Yếu tố ảnh hưởng đến bệnh NKĐSDD
Hiểu biết, thái độ và thực hành
về phòng chốngNKĐSDD
Khám lâm sàng
100% đối tượng
nghiên cứu
Phỏng vấn bằng bảng câu hỏi 100% đối tượng nghiên cứu
Phỏng vấn bằng bảng câu hỏi 100% đối tượng nghiên cứu