Như vậy, việc điều tra, nghiên cứu để đánh giá đa dạng thực vật làm thuốc có ý nghĩa quan trọng cả về khoa học và thực tiễn nhằm cung cấp những dẫn liệu mới, cơ bản, đầy đủ để làm cơ sở
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC
VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
-
ĐỖ THANH TUÂN
NGHIÊN CỨU TÀI NGUYÊN CÂY THUỐC CÁC HUYỆN VEN BIỂN CỦA TỈNH THÁI
BÌNH VÀ ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP BẢO TỒN, PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
Chuyên ngành : Thực vật học
Mã số : 62 42 01 11
LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC
Hà Nội – 2018
Trang 2Công trình được hoàn thành tại: Học viện Khoa học và Công nghệ - Viện Hàn lâm Khoa học và
Công nghệ Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học 1: TS Trần Thị Phương Anh
Người hướng dẫn khoa học 2: TS Hoàng Lê Tuấn Anh
Phản biện 1: PGS.TS Trần Minh Hợi
Phản biện 2: PGS TS Nguyễn Tiến Đạt
Phản biện 3: PGS TS Trần Văn Thuỵ
Luận án được bảo vệ trước Hội đồng đánh giá luận án tiến sĩ cấp Học viện, họp tại Học viện Khoa học
và Công nghệ - Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam vào hồi 9 giờ, ngày 27 tháng 01 năm
2018
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Học viện Khoa học và Công nghệ
- Thư viện Quốc gia Việt Nam
Trang 3Tôi xin cam đoan luận án này là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự
hướng dẫn khoa học của TS Trần Thị Phương Anh và TS Hoàng Lê Tuấn Anh
Các số liệu, kết quả trong luận án là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả
Đỗ Thanh Tuân
Trang 4Luận án này được hoàn thành tại Học viện Khoa học và Công nghệ - Viện
Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam Trong quá trình nghiên cứu, tác giả đã
nhận được nhiều sự giúp đỡ quý báu của các thầy cô, các nhà khoa học, các đồng nghiệp, bạn bè và gia đình
Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc, sự cảm phục và kính trọng nhất tới TS Trần Thị Phương Anh và TS Hoàng Lê Tuấn Anh - những người Thầy, Cô đã tận tâm hướng dẫn khoa học, động viên, khích lệ và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong suốt thời gian thực hiện luận án
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban lãnh đạo Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, Ban lãnh đạo Viện Hóa sinh biển - Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam cùng tập thể cán bộ của hai Viện đã quan tâm giúp đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Tôi xin chân thành cảm ơn Phòng Nghiên cứu cấu trúc - Viện Hóa Sinh biển
về sự ủng hộ to lớn, những lời khuyên bổ ích, những góp ý quý báu trong việc thực hiện và hoàn thiện luận án
Tôi xin cảm ơn Dự án thành phần BSTMV 05/14-16 đã hỗ trợ cho nghiên cứu này.
Tôi xin chân thành cảm ơn tới các đồng nghiệp tại Bộ môn Sinh học - Đại học Y Dược Thái Bình và Ban Giám hiệu Trường Đại học Y Dược Thái Bình đã ủng
hộ cũng như tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian làm nghiên cứu sinh
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới toàn thể gia đình, bạn
bè cùng những người thân đã luôn luôn quan tâm, khích lệ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả
Đỗ Thanh Tuân
Trang 5LỜI CAM ĐOAN i
MỤC LỤC v
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH x
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Tình hình nghiên cứu về nguồn tài nguyên cây thuốc trên thế giới 3
1.1.1 Tình hình điều tra, thống kê 3
1.1.2 Giá trị sử dụng và giá trị kinh tế 5
1.1.3 Tiềm năng phát triển 8
1.1.4 Tình hình nghiên cứu bảo tồn nguồn tài nguyên cây thuốc trên thế giới 9
1.2 Tình hình nghiên cứu về nguồn tài nguyên cây thuốc ở Việt Nam 11
1.2.1 Tình hình điều tra, thống kê 11
1.2.2 Giá trị sử dụng và giá trị kinh tế 14
1.2.3 Tiềm năng phát triển 16
1.2.4 Tình hình nghiên cứu bảo tồn nguồn tài nguyên cây thuốc ở Việt Nam 18
1.3 Nghiên cứu các hoạt chất có hoạt tính sinh học từ tài nguyên cây thuốc tại các huyện ven biển tỉnh Thái Bình 20
1.3.1 Các nghiên cứu về cây Mỏ quạ (Cudrania tricuspidata) 21
1.3.2 Các nghiên cứu về cây Tầm bóp (Physalis angulata) 24
CHƯƠNG 2 ĐỊA ĐIỂM, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35
2.1 Đối tượng và địa điểm nghiên cứu 35
2.2 Nội dung nghiên cứu 35
2.2.1 Nghiên cứu về thực vật 35
2.2.2 Nghiên cứu về thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của một số loài cây thuốc có tiềm năng 35
2.2.3 Đề xuất các giải pháp để quản lý, bảo tồn có hiệu quả và khai thác bền vững nguồn tài nguyên cây thuốc tại các huyện ven biển của tỉnh Thái Bình 35
2.3 Phương pháp nghiên cứu 35
2.3.1 Phương pháp nghiên cứu thực vật 35
2.3.2 Phương pháp nghiên cứu thành phần hóa học 38
2.3.3 Phương pháp nghiên cứu hoạt tính sinh học 40
Trang 63.1 Hiện trạng nguồn tài nguyên cây thuốc các huyện ven biển của tỉnh Thái Bình 46
3.1.1 Tính đa dạng của nguồn tài nguyên cây thuốc 46
3.1.2 Sự phân bố của cây thuốc 54
3.1.3 Tiềm năng chữa các nhóm bệnh khác nhau của các loài cây thuốc (28 nhóm bệnh) 55
3.1.4 Một số loài có công dụng mới 82
3.1.5 Các loài thực vật làm thuốc quý hiếm theo Sách đỏ Việt Nam (2007) và Danh lục đỏ IUCN (2014) tại hai huyện ven biển của tỉnh Thái Bình 83
3.2 Tình hình nghiên cứu, khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên cây thuốc của nhân dân hai huyện ven biển của tỉnh Thái Bình 84
3.2.1 Tình hình khai thác cây thuốc trong khu vực nghiên cứu 84
3.2.2 Cách khai thác và chế biến cây thuốc của người dân tại khu vực nghiên cứu 85
3.2.3 Những bài thuốc truyền thống và cách bào chế 86
3.3 Nghiên cứu thành phần hóa học và hoạt tính sinh học các loài thực vật có giá trị 86
3.3.1 Sàng lọc hoạt tính sinh học của một số loài thực vật có giá trị theo tri thức bản địa 87
3.3.2 Thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của cây Mỏ quạ 96
3.3.3 Thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của cây Tầm bóp 107
3.4 Các giải pháp quản lý, bảo tồn có hiệu quả và khai thác bền vững nguồn tài nguyên cây thuốc ở các huyện ven biển của tỉnh Thái Bình 117
3.4.1 Bảo tồn cây thuốc 117
3.4.2 Nâng cao hiệu quả công tác lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương 119
3.4.3 Đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền, giáo dục nhận thức 119
3.4.4 Tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước về quản lý, bảo vệ và phát triển rừng 120
3.4.5 Bảo tồn tri thức bản địa trong nhân dân 122
3.4.6 Giải pháp về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 123
3.4.7 Giải pháp về phát triển thị trường 123
KẾT LUẬN 125
KIẾN NGHỊ 126
NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN 127
TÀI LIỆU THAM KHẢO 130
Trang 7Kí hiệu Tiếng Anh Diễn giải
WHO World Health Organization Tổ chức Y tế thế giới
WWF World Wide Fund For Nature Quỹ Động vật hoang dã thế giới
13C-NMR Carbon-13 Nuclear Magnetic
ESI-MS Electron Spray Ionization Mass
HepG2 Human hepatocellular carcinoma Ung thư gan ngườ i
HMBC Heteronuclear mutiple Bond
Connectivity
Phổ tương tác di ̣ ha ̣t nhân qua nhiều liên kết
HR-ESI-MS High Resolution Electronspray
Ionization Mass Spectrum
Phổ khối lượng phân giải cao phun mù điện tử
ID50 Inhibitory dose at 50% Liều ức chế tối thiểu 50%
KB Human epidemoid carcinoma Ung thư biểu mô người
ROS Reactive oxygen species Các gốc tự do ôxy hóa
RP18 Reserve phase C-18 Silica gel pha đảo RP-18
TCA Trichloracetic acid Trichloracetic acid
TLC Thin layer chromatography Sắc ký lớp mỏng
TNF- Tumor necrosis factor Yếu tố hoại tử khối u
SC Scavenging capacity Khả năng bẫy các gốc tự do SW480 Human colon adenocarcinoma cell
line
Ung thư tuyến đại tràng ở người
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang 8Bảng 2 Thống kê về các loài thuộc chi Physalis của Việt Nam 25
Bảng 3 So sánh hệ cây thuốc tại 2 huyện Thái Thuỵ, Tiền Hải 46
Bảng 4 Sự phân bố về bậc họ của cây thuốc trong các ngành 47
Bảng 5 Sự phân bố về bậc chi của cây thuốc trong các ngành 47
Bảng 6 Sự phân bố về bậc loài của cây thuốc trong các ngành 48
Bảng 7 Sự phân bố số lượng loài trong các ngành thực vật làm thuốc 48
Bảng 8 Sự phân bố các họ nhiều loài cây thuốc nằm trong các họ thuộc ngành Ngọc lan tại các huyện ven biển của tỉnh Thái Bình 49
Bảng 9 Sự phân bố số lượng họ, chi, loài cây thuốc ở hai lớp trong ngành Ngọc lan… 50
Bảng 10 Đa dạng về dạng sống của cây thuốc 51
Bảng 11 Tần suất sử dụng các bộ phận làm thuốc 52
Bảng 12 Đa dạng cây thuốc phân theo số bộ phận sử dụng 53
Bảng 13 Sự phân bố các loài cây thuốc theo môi trường sống 54
Bảng 14 Các nhóm bệnh được chữa trị bằng cây thuốc tại 2 huyện ven biển Thái Thụy, Tiền Hải, tỉnh Thái Bình 55
Bảng 15 Các loài cây thuốc tiêu biểu chữa được nhóm bệnh về tiêu hóa 56
Bảng 16 Các loài cây thuốc tiêu biểu chữa được các nhóm bệnh về da liễu 60
Bảng 17 Các loài cây thuốc tiêu biểu chữa được nhóm bệnh ho, ho ra máu 64
Bảng 18 Một số cây thuốc tiêu biểu có tiềm năng giải độc 67
Bảng 19 Một số cây thuốc tiêu biểu có tiềm năng chữa bệnh phụ khoa 72
Bảng 20 Một số cây thuốc tiêu biểu có tiềm năng chữa bệnh thấp khớp 75
Bảng 21 Một số cây thuốc tiêu biểu có tiềm năng chữa rắn cắn 76
Bảng 22 Một số cây thuốc tiêu biểu chữa gẫy xương, chấn thương 78
Bảng 23 Một số cây thuốc có công dụng mới 82
Bảng 24 Danh sách các loài thực vật có tên trong Danh lục đỏ IUCN (2014) 84
Bảng 25 Các loại cây thuốc thường xuyên được khai thác sử dụng 85
Bảng 26 Thông tin 20 mẫu dược liệu được lựa chọn 87
Bảng 27 Kết quả tạo dịch chiết metanol tổng của 20 mẫu dược liệu 93
Bảng 28 Kết quả thử hoạt tính chống oxi hóa trên tế bào gan chuột 94
Bảng 29 Kết quả thử hoạt tính gây độc tế bào trên dòng tế bào HepG2 và LU-1 95
Bảng 30 Danh sách các hợp chất đã phân lập được từ mẫu cây Mỏ quạ 103
Trang 9Bảng 32 Kết quả nghiên cứu độc tính cấp dịch chiết cồn mẫu Mỏ quạ 106
Bảng 33 Danh sách các hợp chất đã phân lập đƣợc từ mẫu cây Tầm bóp 113
Bảng 34 Kết quả thử hoạt tính gây độc tế bào của các hợp chất 115
Bảng 35 Kết quả hoạt tính chống oxi hóa của các hợp chất phân lập 115
Bảng 36 Kết quả nghiên cứu độc tính cấp dịch chiết cồn mẫu Tầm bóp 116
Trang 10Hình 1 Hình ảnh quả của cây Mỏ quạ ba múi……… ……….22
Hình 2 Hình ảnh cây, hoa và quả của cây Tầm bóp 24
Hình 3 So sánh tỷ lệ phân bố về bậc chi giữa các ngành cây thuốc 48
Hình 4 So sánh sự phân bố số lượng họ, chi, loài cây thuốc 50
Hình 5 So sánh tỷ lệ dạng thân cây thuốc 52
Hình 6 So sánh tần suất sử dụng các bộ phận làm thuốc 53
Hình 7 Tỷ lệ cây thuốc phân theo số bộ phận sử dụng làm thuốc 54
Hình 8 Hình ảnh các mẫu tiêu bản 91
Hình 9 Sơ đồ các bước tiến hành tạo cặn chiết tổng metanol 92
Hình 10 Sơ đồ phân lập các hợp chất từ mẫu Mỏ quạ 99
Hình 11 Các hợp chất phân lập từ mẫu cây Mỏ quạ 104
Hình 12 Sơ đồ phân lập các hợp chất từ mẫu cây Tầm bóp 110
Hình 13 Các hợp chất phân lập được từ mẫu cây Tầm bóp 114
Trang 11MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
Thái Bình là tỉnh ven biển đồng bằng Bắc Bộ, có đặc điểm chung của đồng bằng châu thổ, đồng thời có những nét riêng Tháng 12/2004, Chương trình MAB (Chương trình Con người và Sinh quyển) của UNESCO đã công nhận Khu dự trữ sinh quyển châu thổ sông Hồng nằm trên địa bàn các xã ven biển thuộc 3 tỉnh Thái Bình, Nam Định và Ninh Bình với những giá trị nổi bật toàn cầu về đa dạng sinh học, có ảnh hưởng lớn đến
sự sống của nhân loại Tỉnh Thái Bình chiếm 2 trong số 5 khu vực đa dạng sinh học gồm
2 phần nằm ở cửa biển: Rừng ngập mặn Thái Thuỵ (thuộc các xã Thụy Trường, Thụy Xuân, Thụy Hải, thị trấn Diêm Điền, Thái Đô, Thái Thượng) và Khu Bảo tồn thiên nhiên Tiền Hải (thuộc các xã Nam Hưng, Nam Phú, Nam Thịnh) Theo thống kê của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Thái Bình (2015), tỉnh đã hoàn thành công tác kiểm
kê rừng và xác định diện tích đất lâm nghiệp vùng ven biển Thái Bình có trên 9.610 ha, trong đó trên 3.700 ha là rừng trồng (tập trung tại hai huyện Tiền Hải, Thái Thụy)
Do đặc điểm vị trí địa lý ven biển, Thái Bình thường xuyên chịu ảnh hưởng của thiên tai, nhất là sóng biển, triều cường khi có bão (thực tế minh chứng cuối năm 2012 cơn bão số 8
đổ bộ vào tỉnh với sức gió cấp 12, giật cấp 14 đã gây thiệt hại nghiêm trọng đối với hệ thống rừng phòng hộ ven biển, cuốn trôi và phá hủy trên 1.500 ha rừng các loại); cùng nhiều nguyên nhân khác nhau, diện tích rừng ngập mặn ở Thái Bình hiện đang suy giảm nghiêm trọng, nhiều loài động, thực vật bị đe dọa đến sự sinh tồn, một số loài đứng trước nguy cơ tuyệt chủng trong đó có loài có giá trị khoa học, y học và thương mại cao Cũng từ lâu, tỉnh Thái Bình được biết đến là địa phương có nhiều cây thuốc có giá trị kinh tế như: Hòe, Diệp hạ châu , tuy nhiên việc khai thác, sử dụng các loài cây thuốc chưa nhiều, chưa biến nguồn tài nguyên này thành thế mạnh phục vụ cho phát triển kinh tế xã hội của địa phương dù tài nguyên thực vật ở đây vô cùng phong phú, đa dạng Các công trình nghiên cứu về cây thuốc,
sử dụng hiệu năng của cây thuốc trên địa bàn Thái Bình cũng còn rất hạn chế
Các tri thức sử dụng cây thuốc tuy phong phú nhưng đến nay chưa được điều tra, tổng kết lại thành hệ thống để phục vụ cho bảo tồn, phát triển Quá trình tìm kiếm các hợp chất tự nhiên có hoạt tính sinh học đã được các nhà khoa học thực hiện từ hơn
200 năm nay, trong đó rất nhiều hợp chất được sử dụng làm thuốc Đến nay, tuy đã có hàng trăm nghìn hợp chất tự nhiên được tìm thấy nhưng thiên nhiên vẫn lưu giữ nguồn
Trang 12tài nguyên vô tận mà con người chưa khám phá hết được, trong đó rất nhiều hợp chất
có tiềm năng ứng dụng lớn trong y sinh học, dược học
Như vậy, việc điều tra, nghiên cứu để đánh giá đa dạng thực vật làm thuốc có ý nghĩa quan trọng cả về khoa học và thực tiễn nhằm cung cấp những dẫn liệu mới, cơ bản, đầy đủ để làm cơ sở cho việc xây dựng các chương trình, kế hoạch quản lý, bảo
vệ, phát triển nguồn tài nguyên cây thuốc ở các huyện ven biển tỉnh Thái Bình nói riêng và trên địa bàn tỉnh Thái Bình nói chung
Từ thực tế đó, nghiên cứu sinh tiến hành nghiên cứu luận án: "Nghiên cứu tài nguyên cây thuốc các huyện ven biển của tỉnh Thái Bình và đề xuất biện pháp bảo tồn, phát triển bền vững" Đây là vấn đề mang tính cấp thiết có ý nghĩa khoa học và
giá trị thực tiễn cao
2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
Mục tiêu chung: Nhằm bảo tồn và phát triển các loài thực vật có tiềm năng chữa bệnh tại các huyện ven biển của tỉnh Thái Bình
Mục tiêu cụ thể:
- Tìm hiểu hiện trạng nguồn tài nguyên cây thuốc tại các huyện ven biển của tỉnh Thái Bình Đánh giá được tình hình khai thác và sử dụng tài nguyên cây thuốc tại các huyện ven biển của tỉnh Thái Bình
- Nghiên cứu thành phần hóa học và hoạt tính sinh học 1 đến 2 loài cây thuốc tại các huyện ven biển của tỉnh Thái Bình
- Đề xuất giải pháp bảo tồn và khai thác, sử dụng bền vững nguồn tài nguyên cây thuốc tại các huyện ven biển của tỉnh Thái Bình
3 Ý NGHĨA KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
Đề tài góp phần hoàn thiện danh lục và đánh giá đa dạng các loài cây thuốc các huyện ven biển của tỉnh Thái Bình nhằm phục vụ nhu cầu chữa bệnh ở địa phương
4 BỐ CỤC CỦA LUẬN ÁN
Luận án ngoài mở đầu, kết luận, kiến nghị, những điểm mới của luận án, còn có các chương sau:
- Chương 1 Tổng quan tài liệu: 31 trang
- Chương 2 Đối tượng, địa điểm, nội dung và phương pháp nghiên cứu: 10 trang
- Chương 3 Kết quả nghiên cứu và thảo luận: 84 trang
Trang 13CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Tình hình nghiên cứu về nguồn tài nguyên cây thuốc trên thế giới
1.1.1 Tình hình điều tra, thống kê
Các công trình nghiên cứu từ mỗi quốc gia cho thấy cây thuốc được sử dụng rộng rãi và có giá trị khoa học cũng như giá trị thực tiễn rất lớn Vì vậy, quốc gia nào cũng có chương trình điều tra, tái điều tra nguồn tài nguyên cây thuốc trong kế hoạch bảo tồn, phát triển đa dạng sinh học của đất nước mình Những kế hoạch này thường tập trung vào tác dụng điều trị nào đó của cây thuốc như tác dụng chữa sốt rét, tim mạch, viêm gan, rắn cắn.v.v
Ấn Độ được coi là nôi của nền y học cổ truyền với nhiều tài liệu về cây thuốc
đã được ghi chép lại Trong số đó, cuốn “Rig - Veda” được viết vào khoảng 4500 năm
trước công nguyên được xem là cuốn sách cổ nhất về sử dụng cây thuốc trong lịch sử loài người, giúp cho hệ thống y học cổ truyền Ấn Độ phát triển mạnh mẽ Vào khoảng
100 năm sau công nguyên, một học giả Ấn Độ đã mô tả chi tiết 341 loại dược thảo có nguồn gốc từ khoáng chất và động vật [1] Ở thế kỷ thứ 6 trước công nguyên, Sushruta
đã viết “Sushruta Amhita”, trong đó mô tả 700 cây thuốc, nhiều cây thuốc vẫn được sử
dụng làm thuốc hay vị thuốc trong y học hiện đại Gần đây, y học cổ truyền Ấn Độ Ayurveda phát triển vượt bậc đã nghiên cứu, đánh giá và sử dụng hiệu quả khoảng 2.000 cây cỏ làm thuốc [2]
Nhiều tài liệu kinh nghiệm của người Trung Quốc trong sử dụng cây cỏ chữa
bệnh vẫn được lưu truyền đến ngày nay Cuốn dược điển “Pen T’Sao” do Shen Nung
biên soạn năm 2500 trước công nguyên đã đề cập đến 365 vị thuốc và cây thuốc để
phòng và chữa bệnh [3] Cuốn “Thủ hậu cấp thư” viết thời nhà Hán (năm 168 TCN) thống kê có hơn 52 đơn thuốc trị bệnh từ cây cỏ Cuốn “Bản thảo cương mục” viết
giữa thế kỷ XVI của Lý Thời Trân đã thống kê được 1.200 vị dược liệu làm thuốc [4] Cộng đồng dân tộc thiểu số Trung Quốc cũng biết sử dụng khoảng 8.000 loài cây cỏ làm thuốc, trong đó, Tây Tạng (sử dụng 3.294 loài), Mông Cổ (1.430 loài), Thái (800
loài),…[5] Năm 1985, cuốn sách “Cây thuốc Trung Quốc” thống kê hầu hết các loài
cây cỏ có tác dụng chữa bệnh ở Trung Quốc [6] Gần đây Li công bố hơn 1.000 loài cây thuốc được sắp xếp theo bảng chữ cái Latinh [7]
Trang 14Năm 1950, các nhà khoa học Liên Xô cũ đã nghiên cứu về cây thuốc trên quy
mô rộng lớn Tác giả N.G Kovalena (1972) công bố trên toàn quốc việc sử dụng cây thuốc vừa mang lại lợi ích cao vừa không gây hại cho sức khỏe của con người thông
qua cuốn sách “Chữa bệnh bằng cây thuốc” giúp người đọc tìm được loại cây thuốc để
chữa đúng bệnh với liều lượng được định sẵn
Các nhà thực vật người Pháp được coi là những người đầu tiên của châu Âu nghiên cứu về thực vật Ðông Dương Ðầu thế kỷ XX, Perry đã công bố 1.000 loài cây
và dược liệu tại Ðông Nam Á (1985) để tổng hợp thành cuốn “Medicinal Plants of Eats and Southeast Asia” trong chương trình nghiên cứu về thực vật nơi đây [8]
Tại Kenya có 448 loài cây thuốc được người dân Mt Nyiru Turkana dùng để điều trị những bệnh khác nhau [9]
Ở Kosovo, người dân ở Alps Albania sử dụng 89 loài thuộc 39 họ để điều trị các bệnh khác nhau, trong đó loài được sử dụng nhiều nhất thuộc các họ: Hoa hồng (Rosaceae), Cúc (Asteraceae), Bạc hà (Lamiaceae) [10]
Nghiên cứu về việc sử dụng cây thuốc của người dân tộc Douala, Cameroon đã xác định được 94 loài cây thuộc 84 chi và 46 họ [11]
Cuốn sách đầu tiên viết về thảo dược của Châu Mỹ là cuốn “Badianus” do tác
giả Martin de la Cruz viết năm 1552 liệt kê 251 loài thảo dược của Mexico dùng để điều trị bệnh, đồng thời chỉ ra người Aztec có các bác sĩ giàu kinh nghiệm với nhiều truyền thuyết y học của người da đỏ [12]
Do vài trò quan trọng đối với đời sống con người, hiện nay tài nguyên cây thuốc luôn là đối tượng được điều tra, nghiên cứu ở hầu hết các quốc gia Thổ dân Yaegl tại Châu Úc dùng 32 loại thuốc thuộc 21 loài để điều trị bệnh [13]
Kết quả điều tra, nghiên cứu đó còn được thể hiện rõ ở nhiều công trình được công bố rộng rãi [14][15]16][7][17] Các công trình này đã áp dụng vào thực tế, đem lại nhiều lợi ích to lớn cho nhân loại [18][19] Ước tính có khoảng 25% các loại thuốc được sử dụng hiện nay trên thế giới có nguồn gốc từ thực vật hoặc từ thực vật tổng hợp nên những loại thuốc mới có hiệu lực chữa bệnh cao, 121 hợp chất có hoạt tính được chiết xuất từ cây cỏ đang được sử dụng WHO liệt kê 252 loại thuốc thiết yếu thì có tới 11% có nguồn gốc từ thực vật [19]
Trang 151.1.2 Giá trị sử dụng và giá trị kinh tế
Từ xa xưa, thảo dược đã được sử dụng hiệu quả để điều trị những căn bệnh mà
y học hiện đại còn đang bối rối như: nhai thảo mộc để giảm đau hoặc đắp lá cây làm lành vết thương, thậm chí cứu chữa người sắp chết Các sản phẩm chế biến từ cây dược liệu thường được sử dụng cho bệnh nhân mắc một số bệnh mãn tính, bao gồm ung thư vú 12%, các bệnh về phổi 21%, virut gây suy giảm miễn dịch ở người (HIV) 22%, bệnh hen suyễn 24% và rối loạn thấp khớp 26% [17][20][21]
Ở các nước công nghiệp phát triển, giá trị thương m ại của cây thuốc không ngừng tăng lên Chỉ tính riêng giá tr ị của 12 loại dược liệu có nhu cầu sử dụng cao ở
Mỹ là Bạch quả, Sâm Triều Tiên, Tỏi năm 1998 đã là 552 triệu USD [22] Ngoài phương thức sử dụng cây thuốc theo y học cổ truyền, ngày nay người ta đi sâu nghiên cứu cơ chế, hợp chất hoá học nào trong cây cỏ có tác dụng chữa khỏi bệnh, từ đó chiết
xuất, chế tạo ra hàng trăm loại thuốc hiện đại, có giá trị chữa bệnh cao [23]
Trung Quốc, đoạn từ 1979 - 1990 đã có 41 chế phẩm thuốc mới từ cây thuốc đưa ra thị trường Có khoảng 1.000 loài cây thuốc thường xuyên được sử dụng tại quốc gia này, chiếm 80% số thuốc bán trên thị trường trong nước với tổng giá trị (1992) là 11 tỉ nhân dân tệ [24]
Hồng Kông là nơi có thị trường thuốc cây cỏ lớn nhất thế giới, hàng năm nhập lượng dược liệu trị giá 190 triệu USD (trong đó 70% được sử dụng tại địa phương, 30% được tái xuất) và chỉ có 80 triệu USD thuốc tây được nhập cùng thời gian Tiền
sử dụng thuốc cây cỏ của người dân Hồng Kông là 25 USD/năm [24]
Nhật Bản, có đến 41,7% dân sử dụng thuốc cổ truyền trong chữa bệnh với tổng chi tiêu cho y học cổ truyền là 150 triệu USD (1983) [24]
Ấn Độ, có 400 loài trong số 7.500 loài cây thuốc thường xuyên được sử dụng với lượng lớn ở các xưởng sản xuất thuốc nhỏ [24]
Doanh số bán thuốc cây cỏ ở các nước Tây Âu năm 1989 là 2,2 tỉ USD so với tổng doanh số buôn bán dược phẩm là 65 tỉ USD Tổng giá trị về thuốc có nguồn gốc thực vật trên thị trường Âu - Mỹ và Nhật Bản vào năm 1985 là hơn 43 tỷ USD Nhật Bản năm 1979 nhập 21.000 tấn, đến năm 1980 tăng lên 22.640 tấn dược liệu, tương đương 50 triệu USD và đạt 1,1 tỷ USD năm 2006 [24]
Trang 16Mỹ đạt 17 tỷ USD (2004), Hàn Quốc 250 triệu USD (2007), châu Âu đạt 4,55
tỷ Euro (2004) ; ngành công nghiệp chế biến dược liệu chiếm 62 tỷ USD và có tiềm năng phát triển rất tốt Những thống kê của Ngân hàng Thế giới cho thấy, các sản phẩm dược từ thực vật và nguyên liệu thô trong những năm gần đây tăng từ 5-10% [25] Dự đoán, nếu phát triển tối đa thuốc cây cỏ từ các nước nhiệt đới có thể làm ra khoảng 900 tỷ USD mỗi năm cho nền kinh tế các nước thế giới thứ ba
Bảng 1 Giá trị thương mại của cây thuốc trên thế giới (1987-1991)
Nhập khẩu 960,39 1.046,61 1059,38 1.122,87 1.080,12 853,87 Xuất khẩu 733,38 829,64 795,79 901,87 694,25 590,99
(Nguồn COMTRADE data base)
Việc phát hiện ra hợp chất chữa trị bệnh ung thư hiệu nghiệm trong cây Thông
đỏ vùng Thái Bình Dương là một thành công trong nghiên cứu cây thuốc Trong vòng hai mươi năm qua, ngành công nghiệp chế biến thuốc chữa ung thư từ loài cây này đã mang lại lợi nhuận là khoảng 500 triệu USD/năm, những thuốc này đang được sử dụng rộng rãi ở châu Âu và châu Á [26]
Đầu tư nghiên cứu các thực vật làm thuốc không chỉ giải quyết vấn đề về giá trị
sử dụng của chúng mà từ đó mang về nguồn lợi nhuận khổng lồ Như việc phát hiện ra thuốc Vincrisrine Vinblastine dùng chữa bệnh Hodkin và bệnh bạch cầu ở trẻ em từ một loài dừa cạn ở Madagaxca (châu Phi) đã mang lại cho Viện bào chế Eli Lilly and
Co của Mỹ 160 triệu đô la hàng năm [27]
Năm 2002, tại Trung Quốc đã thống kê được khoảng 1.141 loại thuốc thực vật truyền thống có hoạt tính chữa bệnh, trong đó có một số hoạt chất mới như artemisinin (chống sốt rét), indirubin (chống ung thư) Năm 2003, loại thuốc đầu tiên từ y học cổ truyền Trung Quốc đưa vào thử nghiệm điều trị ở Mỹ hiệu quả có tên là Kanglaite từ -
iijen (Coix lachryma - jobi) có thể điều trị các tế bào ung thư phổi [28] Năm 2014, các
nhà nghiên cứu đã tìm thấy hoa kim ngân có tính năng chống chọi trực tiếp với các vi khuẩn gây nên bệnh cúm Tây Ban Nha và cúm gia cầm và điều chế thành công loại thuốc chữa bệnh này
Trang 17Tại Philippin, lá của cây Psychotria rubra (Lour.) Poir được phụ nữ dùng chữa
kinh nguyệt không đều, chữa ho, trị giun, giúp tiêu hoá tốt [29 ]
Dân tộc Sheko ở Tây Nam Ethiopia thì sử dụng chủ yếu các cây thân thảo để chữa các bệnh về da, dạ dày Trong tổng số 71 loài được công nhận thì lá là bộ phận chủ yếu được dùng [29]
Các nhà nghiên cứu thuộc Viện ung thư quốc gia Mỹ (NIC) tìm ra hoạt chất Mihentamin B có thể tiêu diệt HIV từ một loài cây dây leo tại vùng rừng rậm phía Nam nước Camorun (châu Phi) [30]
Ở Châu Âu, cây Roseroot được sử dụng trong y học dân gian suốt hơn 3.000 năm qua Gần đây các nghiên cứu đã chứng minh rằng loài cây này có tiềm năng chữa trị chứng trầm cảm, dùng để tăng cường khả năng chịu đựng trong công việc, tăng cường tuổi thọ và cải thiện sức đề kháng nhiều loại bệnh
Người Ai Cập, Hy Lạp cổ đại thậm chí đã chữa bệnh bằng hành, loại gia vị quen thuộc hàng ngày mà chắc rằng đến 90% người hiện đại không hề biết Hành giúp cân bằng máu trong cơ thể Các đấu sĩ thời cổ đại thường xuyên xoa hành giã nát lên
cơ thể giúp săn chắc bắp thịt cực kỳ hiệu quả Thời Trung cổ, lang y dùng hành để trị bệnh rụng tóc, hãm bớt cơn ho, đau bụng, đau đầu và trị rắn cắn Sau này, các thầy thuốc ở Nga tìm ra hành có tác dụng thanh trùng đường hô hấp, đặc biệt là khi ăn sống hay trộn dầu giấm
Các nhà khoa học từ Trung tâm Khoa học Sinh học phân tử, Đại học Nottingham, Vương quốc Anh và Tiến sĩ Christina đã khám phá ra cách điều trị mới đối với căn bệnh MRSA (vi khuẩn tụ cầu vàng kháng Methicillin) vào tháng 4/2015 bằng sử dụng các loại thảo mộc, gồm: tỏi, hành tây (hoặc tỏi tây), rượu vang và mật bò
- một bài thuốc cổ truyền có giá trị hơn hẳn các loại kháng sinh thông thường
Hiểu biết về nền y dược Ayarvedic ở Ấn Độ, ngày nay thế giới tăng cường nghiên cứu về các hợp chất chống viêm từ nghệ, gừng cũng như các loài thực vật khác
để có được hợp chất chống ung thư [31] Qua nhiều thế kỷ, các loại thuốc từ thực vật
đã ngày càng cung cấp nhiều cơ hội để cải thiện phạm vi chữa bệnh cho loài người Nhiều loài cây dùng chữa các bệnh từ thông thường (cảm, sốt…) đến nan y (gan, thận, tim mạch, ung thư…) như cây Thạch xương bồ (Acorus gamineus) chữa mê sảng, điếc, đau lưng, đau khớp…[32]
Trang 181.1.3 Tiềm năng phát triển
Trong nền y học cổ xưa, những nghiên cứu về cây thuốc đôi khi chỉ dừng lại ở mức độ mô tả, thống kê và chỉ ra công dụng mà chưa có cơ sở khoa học chứng minh thành phần hoá học của cây thuốc được tồn tại và tham gia vào việc chữa bệnh như thế nào Ngày nay, khoa học kỹ thuật phát triển đến mức độ nhất định nên vấn đề này mới được làm sáng tỏ Các sản phẩm và dịch chiết tự nhiên từ thực vật chữa bệnh được nghiên cứu, xác định thành phần hóa học và cấu trúc hóa học cho thấy có ít nhất 120 hợp chất khác nhau từ thực vật được sử dụng là biệt dược để cứu sống con người [33] Các hợp chất này được sàng lọc mới chỉ khoảng 6% trên tổng số loài thực vật Như vậy, nguồn tài nguyên thực vật chưa khai thác cần được điều tra nghiên cứu để chữa trị các bệnh hiểm nghèo như AIDS, ung thư, đái đường là vô cùng lớn
Nghiên cứu cây thuốc trên thế giới thường tập trung theo các mục đích ứng dụng cụ thể như chữa bệnh ung thư, chữa bệnh tiểu đường.v.v.[34] Viện Ung thư Quốc gia Mỹ đã tập trung đầu tư nghiên cứu, sàng lọc đến 35.000 trong số trên 250.000 loài cây cỏ trên khắp thế giới để tìm và phát hiện hàng trăm cây thuốc có khả năng chữa trị bệnh ung thư, 25% đơn thuốc ở Mỹ sử dụng chế phẩm mang dược tính mạnh có nguồn gốc từ thực vật Theo nguồn dữ liệu NAPRALERT, đến năm 1985 đã
có khoảng 3.500 cấu trúc hoá học mới có nguồn gốc từ thiên nhiên được phát hiện, trong đó 2.618 từ thực vật bậc cao, 512 từ thực vật bậc thấp và 372 từ các nguồn khác Như vậy, nguồn tài nguyên thực vật và tiềm năng khai thác, sử dụng chúng làm thuốc chữa bệnh là một kho tàng khổng lồ mà phần khám phá, khai thác còn quá ít ỏi [35] Nhiều nghiên cứu khẳng định, hầu hết các cây cỏ đều có tính kháng sinh, là một trong những yếu tố miễn dịch tự nhiên Vì vậy, nghiên cứu cây thuốc theo các nhóm hợp chất được tiến hành đã thu được những kết quả khả quan Ví dụ: Tác dụng kháng
khuẩn là do các hợp chất tự nhiên hay gặp như: Sulfur, saponin (Allium odium); becberin (Coptis chinensis Franch.); tanin (Zizyphus jụuba Miller)
Các vùng nhiệt đới trên thế giới, bao gồm lưu vực sông Amazon của Châu Mỹ, Đông Nam Á, Ấn Độ - Mã Lai, Tây Phi chứa đựng kho tàng cây cỏ khổng lồ cũng như giàu có về tri thức sử dụng, có tiềm năng lớn trong nghiên cứu và phát triển dược phẩm mới từ cây cỏ Theo số liệu thống kê được, trên dãy Hymalaya, Ấn Độ có khoảng 1.748 loài được sử dụng làm thuốc Khu vực Hy Mã Lạp Sơn (IHR) tìm thấy 175 loài [35]
Trang 19Trong khoảng 750.000 loài thực vật hiện được dùng làm thuốc mới có 35.000 loài được nghiên cứu và chỉ hơn 1.000 loài được phân tích kỹ Ở khu vực các nước nhiệt đới, trong số 90.000 loài cây cỏ làm thuốc, ngành dược học mới nghiên cứu được gần 2% trong khi có tới 60% sản phẩm thuốc trên thị trường thế giới hiện nay ít nhiều được chiết xuất từ cây cỏ (thực vật vùng nhiệt đới chiếm 2/3) Mỗi loài cây thuốc ở từng địa phương lại được sử dụng theo bản sắc dân tộc riêng Ngày nay, nghiên cứu công năng tác dụng chữa bệnh của từng loài cây thuốc và bản chất hoá học của chúng
đã vượt ra khỏi biên giới quốc gia, được quan tâm trên quy mô toàn thế giới
Thế giới ngày nay có hơn 35.000 loài thực vật được dùng làm thuốc Khoảng 2.500 loài cây thuốc được buôn bán trên thế giới Có ít nhất 2.000 loài cây thuốc được
sử dụng ở châu Âu, nhiều nhất ở Đức là 1.543 loài, ở Châu Á có 1.700 loài, ở Ấn Độ có 5.000 loài và ở Trung Quốc có 5.000 loài Trong đó, 90% thảo dược được thu hái hoang dại [36] Nguồn tài nguyên cây thuốc là kho tàng đầy tiềm năng có thể giải quyết vấn đề chữa bệnh, giúp nhân loại chăm sóc sức khỏe một cách kịp thời và hiệu quả
1.1.4 Tình hình nghiên cứu bảo tồn nguồn tài nguyên cây thuốc trên thế giới
Để bảo tồn, hiện nay trên thế giới mới chỉ có vài trăm loài được trồng, 20 - 50 loài ở Ấn Độ, 100 - 250 loài ở Trung Quốc, 40 loài ở Hungari, 130 - 140 loài ở Châu
Âu Những phương pháp trồng truyền thống được thay thế bởi các phương pháp công nghiệp đã ảnh hưởng tai hại đến chất lượng của nguồn tài nguyên cây thuốc [9]
Hội nghị lần thứ 40 do WHO tổ chức vào tháng 5 năm 1987 đã tái xác định
những quan điểm chính được đưa ra ở Hội nghị Alma - Ata (1979) là: “Cần phải khởi xướng những chương trình nhằm nhận biết về giá trị, bào chế và trồng trọt, cùng với việc bảo tồn cây thuốc” [37] Năm 1988 tại Thái Lan, các tổ chức WHO, IUCN, WWF
đã phối hợp với Bộ Y tế - Chính phủ Hoàng gia Thái Lan tổ chức một Hội thảo Quốc
tế đầu tiên về chuyên đề bảo tồn cây thuốc Qua hội thảo đã khẳng định vai trò to lớn của nguồn tài nguyên cây thuốc trong sự nghiệp chăm sóc sức khỏe của nhân loại, đồng thời kêu gọi Liên hợp quốc, Chính phủ các quốc gia cùng với các Tổ chức quốc
tế khác có những hành động thiết thức nhằm bảo tồn nguồn tài nguyên này vì bảo tồn
đa dạng sinh học cũng chính là bảo tồn giá trị văn hóa của mỗi quốc gia [38]
Trang 20Năm 1993, WHO, IUCN và WWF đã ban hành các hướng dẫn cho việc bảo vệ
và khai thác cây thuốc với sự cam kết của các tổ chức Việc phát triển, quản lý cây thuốc đều là những hoạt động phục vụ mục đích bảo tồn [38]
Năm 1993, toàn thế giới có 8.619 khu bảo tồn thì đến năm 1997 đã có 12.754 khu bảo tồn được Liên hợp quốc công nhận Ngoài ra còn khoảng hơn 17.500 điểm khác không được đưa vào danh sách của Liên hợp quốc do chưa đạt chuẩn Tổng diện tích các khu bảo tồn được Liên hợp quốc công nhận hiện nay khoảng 8 triệu km2 [9]
Ngoài các khu bảo tồn, hiện nay có khoảng 2.000 vườn thực vật trên toàn thế giới, mỗi vườn đang lưu giữ và trồng đến vài nghìn loài, trong đó không ít loài cây thuốc [2]
Vườn thực vật lớn nhất thế giới là vườn thực vật Hoàng gia Anh tại Kew, lưu giữ đến 38.000 loài, trong đó có rất nhiều thực vật làm thuốc Năm 1983, vườn đã đăng ký là một tổ chức từ thiện và là vườn cây thuốc đầu tiên mở ra công chúng [9]
Vườn thực vật Missouri có đội ngũ nhân viên tham gia các hoạt động nghiên cứu khoa học và bảo tồn ở 35 nước trên thế giới Vườn cam kết chặt chẽ về sử dụng trách nhiệm và bền vững nguồn tài nguyên cây cỏ [9]
Vườn cây thuốc Quảng Tây (Trung Quốc) được thành lập năm 1959 trên diện tích 202 ha Đây là vườn cây thuốc lớn nhất ở Trung Quốc, lưu giữ hơn 2.400 loài cây
cỏ làm thuốc [9]
Ở Mỹ, mạng lưới 19 vườn thực vật đã được mở rộng góp phần quan trọng trong việc bảo tồn đa dạng sinh học và cây thuốc hiện nay Tại đây ước tính có 3.000 taxon đặc hữu đang bị đe dọa được bảo vệ…[39] Các vườn thực vật góp phần quan trọng vào chương trình phục hồi các loài cây thuốc bị suy thoái [38]
Việc bảo tồn tài nguyên cây thuốc trên thế giới được thực hiện theo hai hình thức chính:
- Bảo tồn tại chỗ (theo hình thức bảo tồn nguyên vị) - In situ: Ở hình thức này,
cây thuốc được bảo tồn ngay tại nơi chúng phân bố hoặc đã từng phân bố [9]
- Bảo tồn chuyển vị - Ex situ: Thường thực hiện tại các vườn thực vật, trang trại
hoặc vườn rừng Hình thức này còn gồm cả các biện pháp bảo tồn trong phòng thí nghiệm, viện nghiên cứu (các ngân hàng hạt, ngân hàng mô, ngân hàng gen…) [40]
Trang 21Hiện nay, công tác bảo tồn thực vật trong đó có thực vật làm thuốc đã đạt được nhiều thành tựu trên phạm vi toàn thế giới, tuy nhiên, cần căn cứ vào tình hình thực tế của mỗi quốc gia để có chương trình hành động phù hợp
1.2 Tình hình nghiên cứu về nguồn tài nguyên cây thuốc ở Việt Nam
1.2.1 Tình hình điều tra, thống kê
Việt Nam là quốc gia nằm dọc trên bờ biển của bán đảo Đông Dương, kéo dài theo hướng Bắc - Nam Tổng diện tích phần đất liền 330.000km2
trong đó gần 3/4 là địa hình đồi núi Ngoài ra Việt Nam còn có nhiều đảo lớn như Cát Bà, Bạch Long Vĩ, Hòn Mê, Cù Lao Chàm, Côn Đảo, Phú Quốc [41] Việt Nam nằm trọn vẹn trong vành đai khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, nhiệt độ trung bình hàng năm khác nhau giữa miền Bắc (23,4oC - Hà Nội) và miền Nam (27oC - Thành phố Hồ Chí Minh), lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 1.500 mm Khí hậu nhiệt đới gió mùa và sự chia cắt phức tạp của bề mặt địa hình là nhân tố quan trọng tạo nên sự đa dạng của thảm thực vật, đa dạng nguồn tài nguyên cây thuốc Theo ước tính, Việt Nam có tới 12.000 loài thực vật bậc cao có mạch, 800 loài rêu, 600 loài nấm và hơn 2.000 loài tảo [42] Rất nhiều loài trong số này được sử dụng làm thuốc và có triển vọng làm thuốc
Trong lịch sử Việt Nam đã có nhiều danh y nghiên cứu, thống kê cây thuốc,
như: Chu Tiên biên soạn cuốn sách "Bản thảo cương mục toàn yếu" là cuốn sách thuốc đầu tiên xuất bản năm 1429 [43] Năm 1471, Tuệ Tĩnh đã viết cuốn “Nam Dược thần hiệu”gồm 11 quyển với 496 vị thuốc Nam, trong đó có 241 vị thuốc có nguồn gốc
thực vật và thống kê được 579 - 630 loài cây làm thuốc [44] Năm 1595, Lý Thời Chân
đã xuất bản cuốn “Bản thảo cương mục” đề cập tới 1.094 vị thuốc thảo mộc Năm
1772, Hải Thượng Lãn Ông cho xuất bản bộ sách “Lãn Ông tâm lĩnh” gồm 66 quyển
về y lý và cây thuốc [45]
Trong thời kỳ 1884 - 1945, thực dân Pháp thực hiện chính sách ngu dân, loại y học dân tộc nước ta ra khỏi chính sách bảo hộ nên việc nghiên cứu gặp nhiều khó khăn Có một số nhà thực vật học, dược học người Pháp nghiên cứu nhưng với mục đích chính là để khai thác tài nguyên như Croevost, Petelot…đã xuất bản bộ
“Catalogue des produits de L’indochine” (1928-1935), trong đó tập V (Produits medicinaux, 1928) đã mô tả 368 cây thuốc và vị thuốc [45]
Trang 22Nhận thức được vai trò và tiềm năng của cây thuốc trong công tác chăm sóc sức khỏe, phát triển kinh tế, bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến công tác điều tra, nghiên cứu nguồn cây thuốc ở Việt Nam Ngày 27/02/1955, trong thư gửi Hội nghị ngành Y tế, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra đường lối xây dựng nền y học Việt Nam khoa học, dân tộc và đại chúng dựa trên sự kết hợp giữa y học cổ truyền của dân tộc với y học hiện đại Bộ Y tế cũng quan tâm, tạo điều kiện cho đông y phát triển nên việc nghiên cứu thuốc Nam cũng được phát triển mạnh
mẽ thể hiện ở việc xây dựng một hệ thống tổ chức y học cổ truyền từ trung ương đến địa phương như hệ thống các bệnh viên Y học dân tộc, Hội đông y…Ngoài ra, Nhà nước cũng quan tâm đầu tư cho việc sưu tầm các nguồn tài liệu về thuốc Nam, tổ chức điều tra, phân loại, tìm hiểu dược tính, thành phần hoá học, lập bản đồ dược liệu trong
cả nước Bên cạnh đó chú trọng phát triển việc nghiên cứu, sản xuất các loại thuốc từ nguồn cây cỏ trong thiên nhiên Người có công lớn trong lĩnh vực này là GS.TS Đỗ Tất Lợi, một người đã dày công nghiên cứu và xuất bản nhiều tài liệu liên quan đến
các bài thuốc của dân tộc Đáng chú ý nhất là năm 1957, ông đã biên soạn bộ “Dược liệu học và các vị thuốc Việt Nam” gồm 3 tập (năm 1961 tái bản in thành 2 tập) Trong
cuốn sách này ông đã mô tả hơn 100 cây thuốc Nam [46] Từ 1962 - 1965, Đỗ Tất Lợi
lại cho xuất bản bộ "Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam" gồm 6 tập giới thiệu trên
500 vị thuốc có nguồn gốc thảo mộc, động vật và khoáng vật Lần tài bản thứ 7 (1995)
số loài cây thuốc được nghiên cứu đã lên đến 792 loài, trong đó mô tả tỉ mỉ tên khoa học, phân bố, công dụng, thành phần hoá học và chia các cây thuốc theo các nhóm bệnh khác nhau Gần đây nhất là lần tái bản thứ 13 năm 2005 Đây là bộ sách có giá trị lớn về khoa học và thực tiễn, kết hợp giữa khoa học dân gian với khoa học hiện đại
Năm 1978, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương phát triển y học dân tộc với phương châm “Thừa kế, phát huy, phát triển y học của Việt Nam” Năm 1980, Đỗ
Huy Bích, Bùi Xuân Chương đã xuất bản cuốn “Sổ tay cây thuốc Việt Nam” nhằm giới
thiệu 519 loài cây thuốc, trong đó có 150 loài mới phát hiện [47] Viện Dược liệu, tập
thể các nhà khoa học đã xuất bản cuốn "Dược điển Việt Nam" tập I, II trong đó đã tổng
kết các công trình nghiên cứu về cây thuốc những năm qua
Viện Dược liệu (Bộ Y Tế) cùng với hệ thống các trạm nghiên cứu dược liệu đã điều tra ở 2.795 xã, phường thuộc 351 huyện, thị xã của 47 tỉnh, thành phố trong cả
Trang 23nước để có những đóng góp đáng kể trong công tác điều tra, sưu tầm nguồn tài nguyên cây thuốc và kinh nghiệm sử dụng cây thuốc trong y học dân gian cổ truyền Kết quả
của công trình này tổng hợp thành cuốn "Danh lục cây thuốc Miền Bắc Việt Nam",
"Danh lục cây thuốc Việt Nam, tập Atlas (Bản đồ) cây thuốc" Trong các công trình
này đã công bố một danh sách về cây thuốc từ năm 1961 - 1972 ở Miền Bắc là 1.114 loài, từ 1977 - 1985 ở Miền Nam là 1.119 loài [48] Tổng hợp cả nước đến năm 1985
là 1.863 loài và dưới loài phân bố trong 1.033 chi, 236 họ, 101 bộ, 17 lớp, 11 ngành được xếp theo hệ thống của nhà thực vật học Takhtajan và mỗi loài đều giới thiệu công dụng và cách sử dụng chúng Quá trình điều tra cụ thể đến cả nấm và tảo cho thấy Việt Nam hiện có 3.948 loài cây thuốc thuộc 307 họ của 9 ngành và nhóm thực vật [48]
Võ Văn Chi là người từ lâu có rất nhiều tâm huyết với cây thuốc Năm 1976, trong luận án phó tiến sỹ khoa học, ông đã thống kê được 1.360 loài cây thuốc thuộc
192 họ trong ngành thực vật hạt kín ở Miền Bắc Năm 1997, ông biên soạn và xuất bản
cuốn "Từ điển cây thuốc Việt Nam" trong đó đề cập đến 3.165 loài Năm 1991, Võ
Văn Chi đã giới thiệu một danh sách các cây thuốc Việt Nam trong đó có 2.280 loài
cây thuốc bậc cao có mạch thuộc 254 họ, trong 8 ngành Năm 2012, trong cuốn "Từ điển cây thuốc Việt Nam" (bộ mới), ông giới thiệu 4.472 loài cây thuốc thuộc 1.862
chi, trong 338 họ của 9 nhóm, ngành từ sinh vật tiền nhân đến ngành Ngọc lan Công
bố này đã giới thiệu một số lượng cây thuốc lớn nhất tính tới thời điểm đó [42]
Năm 2016, Viện Dược liệu - Bộ Y tế cho xuất bản cuốn sách “Danh lục cây thuốc Việt Nam”, trong đó công bố tổng số loài cây thuốc ở Việt Nam đến cuối 2015
đã đạt tới con số 5.117 loài và dưới loài, thuộc 1.823 chi, 360 họ của 8 ngành thực vật
bậc cao có mạch cùng với một số taxon thuộc nhóm Rêu, Tảo và Nấm lớn
Ngoài ra cũng có nhiều công trình nghiên cứu về cây thuốc Việt Nam thuộc các địa phương hoặc thuộc phạm vi nhỏ của các hệ sinh thái Trong những công trình nghiên cứu này phải kể tới công trình của: Đỗ Huy Bích, Bùi Xuân Chương và một số tác giả
khác với cuốn "Sổ tay cây thuốc Việt Nam" (1980 ) [49] và "Tài nguyên cây thuốc Việt Nam" (1993); Võ Văn Chi, Trần Hợp với "Cây cỏ có ích" (1991); Vũ Văn Chuyên với
“Tóm tắt đặc điểm các họ cây thuốc” (1976); Vương Thừa Ân với cuốn “Thuốc quý quanh ta” (1995); Trần Văn Ơn và “Thực vật và nhận biết cây thuốc” (2004)…[50]
Trang 241.2.2 Giá trị sử dụng và giá trị kinh tế
Theo Viện Dược liệu (2016) thì Việt Nam có đến 5.117 loài cây làm thuốc, thuộc 1.823 chi và 360 họ thực vật, vượt qua con số 3.200 loài được ghi nhận trong Từ điển cây thuốc Việt Nam [51]
Trong số các loài thực vật làm thuốc nói trên, chỉ có khoảng 350 loài được trồng với mục đích làm thuốc hoặc thuộc các nhóm cây trồng khác, còn đại đa số là cây mọc tự nhiên Số lượng cây thuốc có giá trị sử dụng cao và có khả năng khai thác trong tự nhiên đã xác định là 206 loài thuộc 79 họ Đa số các loài thuộc nhóm này nằm trong danh lục 185 loài cây thuốc và vị thuốc thiết yếu của Bộ Y tế cũng như được thị trường dược liệu quan tâm Trong số tài nguyên thực vật làm thuốc Việt Nam đã thống
kê, có 136 loài thuộc 81 chi của 55 họ là những loài cây thuốc cần được bảo vệ Đó là những cây thuốc quý về giá trị sử dụng, giá trị nguồn gen do hiếm gặp hoặc đặc hữu, giá trị sử dụng cao nên thường xuyên bị tìm kiếm khai thác Một số loài khác tuy chưa
bị khai thác nhưng thuộc nhóm có nguy cơ do số lượng cá thể ít [51] Dự đoán, nếu được khảo sát đầy đủ, số loài cây thuốc ở Việt Nam có thể là 6.000 loài [51]
Ngày nay, các nhà khoa học càng hướng tới sản phẩm thuốc thiên nhiên vì chúng
có tiềm năng vô cùng lớn Qua các đợt điều tra sưu tầm từ năm 1961 đến 1985 có đến 3/4 cây thuốc là các loài cây mọc hoang dại Số loài cây thuốc được phát hiện ở Việt Nam liên tục tăng theo thời gian [51] Việc sử dụng cây cỏ làm thuốc là một trong những bộ phận cấu thành các nền văn hóa, tạo nên nét đặc trưng của các dân tộc khác nhau
Theo nghiên cứu của Viện Dược liệu, trong tổng số 3.948 loài cây thuốc đã được biết đến ở Việt Nam hiện nay phần lớn được dùng theo kinh nghiệm cổ truyền trong nhân dân Chúng được điều trị các bệnh thông thường như cảm sốt, đau bụng, đau xương khớp, cầm máu, gan, thận, tiểu đường [51]
Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển cây thuốc dân tộc cổ truyền (CREDEP) cho biết: ở nhiều địa phương trong nước ta, nhân dân đều biết sử dụng cây cỏ để chữa bệnh Nhiều bài thuốc chữa các bệnh thường gặp hàng ngày được phát triển từ kinh nghiệm bản địa trong nhân dân và luôn đạt hiệu quả tốt Như vậy, dù y học hiện đại ngày nay rất phát triển song các bài thuốc cổ truyền từ cây cỏ luôn có một vị trí quan trọng trong quá trình chăm sóc sức khỏe của nhân dân
Trang 25Năm 1995, thống kê chưa đầy đủ thì chỉ riêng ngành đông dược cổ truyền tư nhân của nước ta đã sử dụng 20.000 tấn dược liệu khô đã chế biến từ khoảng 200 loài cây; ngoài ra còn xuất khẩu trên 10.000 tấn nguyên liệu thô [51] Hiện nay, dược liệu
để xuất khẩu mỗi năm đạt từ 5.000 đến gần 10.000 tấn với giá trị khoảng 15 triệu USD Tổng Công ty Dược Việt Nam năm 1998 đã xuất khẩu được 13 triệu USD, trong
đó dược liệu, tinh dầu và các hoạt chất từ cây thuốc chiếm 74% Tiềm năng cung cấp dược liệu có thể đạt 500 - 800 tỷ đồng [52] Các công ty dược sử dụng nhiều dược liệu như Xí nghiệp Dược phẩm TW 26, Xí nghiệp Dược phẩm TW 3, Công ty Dược liệu
TW 1, Công ty Cổ phần TRAPHACO, Công ty TNHH Bảo Long, Xí nghiệp Chế biến Đông dược Quận 5 (Thành phố Hồ Chí Minh).v.v Riêng Công ty Cổ phần TRAPHACO hàng năm sử dụng lượng dược liệu là 500 tấn của hơn 100 loài cây thuốc khác nhau Việt Nam còn xuất khẩu một số thành phẩm hoặc bán thành phẩm thuốc hoạt chất như Berberin, Palmatin, Rotundin, Artesunat và nhiều dạng đông dược khác [51] Trong khối công nghiệp dược, cả nước có 286 cơ sở sản xuất dược phẩm (bao gồm các doanh nghiệp nhà nước, công ty, tổ hợp sản xuất, doanh nghiệp tư nhân), đang sản xuất 1.294 loại dược phẩm được sản xuất từ nguyên liệu thực vật hoặc chất chiết xuất từ thực vật, chiếm 23% số loại dược phẩm được phép sản xuất và lưu hành
từ năm 1995 đến năm 2000, sử dụng 435 loài cây cỏ [51]
Theo IMS Health, Việt Nam thuộc 17 nước có ngành công nghiệp dược đang phát triển Thị trường dược phẩm Việt Nam có mức tăng trưởng cao nhất Đông Nam Á khoảng 16% hàng năm Năm 2013 tổng giá trị tiêu thụ thuốc là 3,3 tỷ USD, tiềm năng xuất khẩu dược liệu có thể đạt 40 - 50 triệu USD, dự báo sẽ tăng lên khoảng 10 tỷ USD vào năm 2020 [53] Kết quả điều tra đánh giá tại một số vùng trong cả nước, việc trồng dược liệu có thể cho thu nhập trên 100 triệu đồng/ha Phát triển các khu vực trồng cây thuốc đã giúp cho nhiều vùng nông thôn, miền núi xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội và bảo vệ môi trường
Ngoài tiềm năng kinh tế to lớn đã được khẳng định, thảo dược được sử dụng hiệu quả điều trị những căn bệnh mà y học hiện đại còn đang bối rối Như thời vua Hùng, nhân dân đã biết ăn trầu để làm ấm người, chống sốt rét; ăn sống tỏi, gừng để trị đau bụng, dễ tiêu; dùng rễ cây cà pháo hoặc cà tím trị nứt gót chân; chữa lang ben, nấm bằng chuối xanh; chữa tiêu chảy bằng búp ổi; chữa ho bằng hoa hồng bạch Quá
Trang 26trình thu thập dữ liệu tri thức, bên cạnh các văn tự Hán Nôm còn sót lại (Đại Việt sử ký ngoại ký, Lĩnh Nam chích quái liệt truyện ) đã tìm được các bài thuốc y học cổ truyền
gắn liền với tên tuổi những danh y như Tuệ Tĩnh, Hải Thượng Lãn Ông cho thấy các
vị thuốc rất dễ kiếm, có sẵn trong cây cỏ không chỉ để kích thích ăn ngon miệng mà còn chữa được rất nhiều bệnh tật [28][54][55][56]
1.2.3 Tiềm năng phát triển
Cùng với sự phát triển và tiến hoá của xã hội, ngày nay kho tàng kiến thức và kinh nghiệm dùng cây thuốc của nhân dân đã trở nên vô cùng phong phú và đa dạng
Số lượng các loại cây cỏ được dùng làm thuốc ngày càng được ghi nhận nhiều hơn, trong số đó có trên 90% tổng số loài cây thuốc mọc tự nhiên Nhưng qua điều tra thì con số này có thể được nâng lên vì kiến thức sử dụng cây thuốc của một số đồng bào dân tộc thiểu số chúng ta nghiên cứu chưa được đầy đủ Tri thức kinh nghiệm sử dụng cây thuốc thường được lưu truyền trong phạm vi hẹp (gia đình, dòng họ ) nên không phát huy được tính cộng đồng rộng rãi, nguy cơ thất truyền rất cao Tri thức sử dụng
cây cỏ làm thuốc ở nước ta được chia thành 2 loại chính: tri thức trong nền Y học Cổ truyền chính thống (có nguồn gốc từ Trung Hoa) với các hệ thống lý luận và thực hành như học thuyết Âm Dương, Ngũ hành, Tạng tượng và tri thức trong nền Y học nhân dân (hay Y học Cổ truyền dân tộc) thường được gọi là thuốc Nam vốn ít được tư liệu
hóa hay chưa được nghiên cứu đầy đủ
Trong nền Y học Cổ truyền chính thống, cả nước có hơn 40 bệnh viện y học cổ
truyền và các khoa y học cổ truyền trong các bệnh viện đa khoa Có hơn 5.000 người hành nghề thuốc y học cổ truyền với gần 4.000 cơ sở chuẩn đông y Thực vật dùng làm thuốc ở đây có khoảng 700 loài thường được nhắc đến trong sách đông y, sách về cây thuốc, 150 - 180 vị thuốc thường được sử dụng ở các bệnh viện y học cổ truyền và sử
dụng bởi các lương y Nhu cầu dược liệu cho y học cổ truyền chính thống khoảng
30.000 tấn/năm Hiện đã tập hợp được 39.381 bài thuốc kinh nghiệm dân gian gia truyền của 12.531 lương y
Trong nền Y học nhân dân, mỗi cộng đồng nhân dân hoặc dân tộc miền núi (cấp
xã) thường biết sử dụng từ 300 - 500 loài cây cỏ sẵn có trong khu vực để làm thuốc Mỗi gia đình biết sử dụng từ vài cây đến vài chục cây để chữa các chứng bệnh thông thường Thường có từ 2 - 5 thầy lang (hay nhiều hơn) có kinh nghiệm sử dụng cây
Trang 27thuốc để chữa bệnh tại chỗ trong cộng đồng Ước lượng số loài sử dụng tại các cộng đồng ở Việt Nam là khoảng 6.000 loài Để bảo đảm công tác chăm sóc sức khỏe ban
đầu tại tuyến y tế cơ sở, Bộ Y tế đã ban hành “Danh mục Thuốc thiết yếu”; trong Danh
mục thuốc thiết yếu lần thứ IV có quy định 188 vị thuốc YHCT và 60 loài cây cỏ làm thuốc cần trồng tại tuyến xã, gọi là thuốc Nam thiết yếu [57]
Nhiều năm trở lại đây, nghiên cứu cây thuốc dân tộc được quan tâm đặc biệt và
đã thu được nhiều kết quả khả quan Thời gian từ 2000 đến 2010, Phòng Thực vật dân tộc học thuộc Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật Việt Nam đã triển khai nghiên cứu vấn đề này tại cộng đồng người dân tộc H'mông, Dao, Tu Dí, Mường, Thái, Khơ Mú, Tày, Nùng, Hoa tại các tỉnh Lào Cai, Lai Châu, Sơn La, Hòa Bình, Hà Giang…[58]
Theo nghiên cứu của Viện Dược liệu, trong tổng số 3.948 loài cây thuốc đã được biết đến ở Việt Nam hiện nay, phần lớn là sử dụng kinh nghiệm trong nhân dân
Số loài được xác minh khoa học về giá trị và cơ chế chữa bệnh chỉ chiếm khoảng 20 - 30% được dùng điều trị các bệnh thông thường như: cảm lạnh, ăn uống khó tiêu, làm lành vết thương, bong gân, Riêng đối với những bệnh nan y như tim mạch, gan thận, nhân dân dùng thuốc y học cổ truyền là khá phổ biến [59]
Khắp nơi trong dân gian, bên cạnh những thầy thuốc y học cổ truyền nổi tiếng
có lý luận, đội ngũ các ông lang, bà mế vẫn rất đông đảo, thế hệ nọ nối tiếp thế hệ kia liên tục bổ sung kinh nghiệm và liên tục phát hiện những cây thuốc, bài thuốc mới Tri thức bản địa trong sử dụng cây thuốc được lưu truyền trong dân gian từ đời này qua đời khác bằng cách truyền khẩu
Việt Nam với 54 dân tộc có truyền thống văn hoá tập quán khác nhau, trong quá trình khai thác tự nhiên để tồn tại và phát triển đã tích luỹ riêng cho mình các tri thức
và kinh nghiệm sử dụng thực vật để phòng và chữa bệnh Với cùng một cây thuốc, các dân tộc có thể sử dụng vào các mục đích chữa bệnh khác nhau, ngược lại để điều trị cùng một bệnh các dân tộc lại sử dụng nhiều loài cây thuốc khác nhau Ví dụ về cách
sử dụng cây thuốc để ngâm tắm của người Dao có thể điều trị tới 38 chứng bệnh (phù,
áp huyết cao, thần kinh tọa, rắn cắn, phụ nữ sau khi sinh,…) Một số cây thuốc dân tộc cũng từ tri thức kinh nghiệm của nhân dân đã được nghiên cứu, phát triển thành các dạng thuốc mới như Ampelop - dựa trên tri thức sử dụng cây Chè dây (Ampelopsis cantoniensis (Hook Et Arn.)) để chữa bệnh của người Tày ở Cao Bằng, "Trà Bạch tật
Trang 28lê" chế từ cây Gai chông (Tribulus terrestris L.), một cây thuốc của người Chăm; Berberin clorid để sản xuất viên “Berberin”, được chiết xuất từ cây Vàng đắng (Coscinium fenestratum (Gaertn.) Colebr.) dựa trên kinh nghiệm sử dụng của một số dân tộc trên dãy Trường Sơn Ngoài ra, còn rất nhiều cây thuốc dân tộc độc đáo mà đến nay các nhà khoa học vẫn chưa biết như: thành phần bài thuốc của cụ Ama Kông ở Đắc Lắk, hoặc cây thuốc chống thụ thai của dân tộc Vân Kiều ở Quảng Trị, dân tộc Cao Lan ở Tuyên Quang Đặc biệt, có những bài thuốc cổ truyền dân tộc còn chữa được một số bệnh nan y
Hiện tại, số loài thực vật nước ta đưa vào chiết xuất hợp chất để làm thuốc còn rất hạn chế Với nguồn tài nguyên thực vật phong phú cùng vốn tri thức kinh nghiệm
về cây thuốc dồi dào, đây chính là tiềm năng to lớn để đầu tư nghiên cứu, tạo ra những loại thuốc mới có hiệu lực chữa bệnh cao
1.2.4 Tình hình nghiên cứu bảo tồn nguồn tài nguyên cây thuốc ở Việt Nam
Các công trình nghiên cứu về cây thuốc hiện nay đều có hướng nghiên cứu chung là mô tả các loài, sự phân bố của chúng trong mỗi sinh cảnh, thực trạng đe dọa đến sự sống của chúng, đặc biệt chú ý công dụng và cách chế biến chúng để có thêm
sự hiểu biết cơ bản nhằm lên kế hoạch bảo tồn chúng trong tương lai
Những công trình Nhà nước về bảo tồn cây thuốc (Bảo tồn nguồn gen cây thuốc
- Viện Dược liệu, Bộ Y tế) hoặc các mô hình bảo tồn nguồn gen cây thuốc ở các Dự án đầu tư của Nhà nước hay các dự án của Tổ chức phi Chính phủ (Bảo tồn cây thuốc của đồng bào Dao tại Ba Vì, Hà Tây - CREDEP; Bảo tồn nguồn gen cây thuốc - Bộ Y tế;
Mô hình Bảo tồn và Phát triển cây thuốc ở Sa Pa; Mô hình Bảo tồn cây thuốc ở Nà Ớt, Sơn La, của Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật) đã được hình thành nhằm duy trì
bảo tồn nguồn gen cây thuốc quý hiếm
Trước hiện trạng cây thuốc phân bố trong rừng tự nhiên bị đe dọa nghiêm trọng, Nguyễn Tập và các cán bộ Viện Dược liệu đã nghiên cứu xây dựng Danh lục Đỏ cây thuốc Việt Nam làm cơ sở để xác định các loài cần ưu tiên bảo tồn Tất cả các loài trong Danh lục Đỏ được đánh giá theo khung phân hạng IUCN (2001) Năm 2007, số loài trong Danh lục Đỏ cây thuốc Việt Nam đã ghi nhận 144 loài thuộc 58 họ thực vật bậc cao có mạch [60]
Trang 29Thời gian qua, Việt Nam bảo tồn nguyên vị các cây thuốc chủ yếu tại các khu bảo tồn Hiện tại hệ thống khu bảo tồn đã mở rộng, bổ sung cả về quy mô và diện tích,
hệ thống bảo vệ, quản lý [61][62][63] Việt Nam đã có 211 khu bảo tồn bao gồm: các Khu bảo tồn rừng (rừng đặc dụng) thuộc quản lý của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Khu bảo tồn biển do Bộ Thủy sản (nay là Tổng cục Thủy sản) quản lý; Khu bảo tồn đất ngập nước do Bộ Tài nguyên và Môi trường quản lý và một vài khu bảo tồn khác đang được đề xuất…
Đến thời điểm này, bảo tồn cây thuốc được mở rộng nghiên cứu tại nhiều vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên của Việt Nam Nhiều công trình đang triển khai điển hình như:
- Nguyễn Duy Thuần điều tra, nghiên cứu, bảo tồn nguồn tài nguyên cây thuốc tại Vườn Quốc gia Bạch Mã [64]
- Trần Văn Ơn xây dựng cơ sở khoa học và mô hình bảo tồn cây thuốc tại cộng đồng người Dao - Vườn Quốc gia Ba Vì trên cơ sở các cây thuốc bị thu hái quá mức [65]
Bên cạnh đó, khá nhiều đề tài nghiên cứu bảo tồn chuyển vị cây thuốc cũng được triển khai rộng rãi Các đề tại tập trung nghiên cứu chủ yếu những cây thuốc có giá trị cao đang bị đe dọa nghiêm trọng trong tự nhiên, như:
- Dự án bảo tồn nguồn cây thuốc cổ truyền do Viện Dược liệu chủ trì Giai đoạn thực hiện từ 1997 - 2009, Viện Dược liệu đã thu thập hơn 500 loài cây thuốc đem trồng, nhân giống ở các vườn cây thuốc, trong đó 65 loài có nguy cơ cao được trồng tại Sa Pa, Vườn Quốc gia Bạch Mã, Yên Bái, Nghệ An, Hòa Bình, Thanh Hóa, Hà Giang, Hà Nội, Vĩnh Phúc, Lạng Sơn Đồng thời tổ chức các lớp tập huấn nâng cao nhận thức cho nhân dân về cây thuốc cũng như biện pháp bảo tồn, tri thức bản địa về cách thức sử dụng, công dụng của cây thuốc [66]
- Lưu Đàm Cư và cộng sự nghiên cứu để đưa vào bảo tồn chuyển vị hơn 40 loài cây thuốc trong vườn rừng của các dân tộc thiểu số tỉnh Lào Cai [67]
Với nỗ lực của các nhà nghiên cứu, nhiều loài cây thuốc có nguy cơ tuyệt chủng
đã được nhân giống và trồng phục hồi; một số loài đã trở thành hàng hóa lưu thông trên thị trường dược liệu thoát khỏi nguy cơ bị đe dọa Có thể nói, việc nghiên cứu, bảo tồn cây thuốc là việc làm quan trọng, khó khăn, đòi hỏi nhiều tâm huyết
Trang 301.3 Nghiên cứu các hoạt chất có hoạt tính sinh học từ tài nguyên cây thuốc tại các huyện ven biển tỉnh Thái Bình
Thái Bình là tỉnh ven biển thuộc đồng bằng châu thổ sông Hồng, có đường bờ biển trải dài qua hai huyện Thái Thụy và Tiền Hải Rừng ngập mặn ven biển Thái Thụy, Tiền Hải có đặc thù riêng với sự đa dạng của hệ sinh thái (hệ sinh thái nước mặn, hệ sinh thái nước ngọt) nên nguồn tài nguyên thực vật vô cùng phong phú, giàu tiềm năng, nhiều loài thực vật có giá trị khoa học - y học - thương mại cao
Địa hình Thái Bình bằng phẳng, điều kiện tự nhiên thuận lợi, đặc biệt chất đất phù sa màu mỡ phù hợp cho thực vật phát triển nên nguồn tài nguyên cây thuốc ở đây khá dồi dào
Từ lâu Thái Bình được biết đến là một địa phương có nhiều cây thuốc có giá trị kinh tế cao như cây hòe, diệp hạ châu v.v Việc chăm sóc sức khỏe theo y học cổ truyền và sử dụng thuốc có nguồn gốc thảo dược cũng khá quen thuộc trong nhân dân Hiện tại, Hội Đông y Thái Bình có 92 chi hội cơ sở với hơn 1.033 hội viên Nhiều bài thuốc cổ truyền dân tộc được các hội viên sử dụng rộng rãi để chăm sóc, bảo vệ sức khỏe nhân dân Ngoài Hội Đông y, tỉnh Thái Bình còn có Bệnh viện Y học cổ truyền chữa bệnh cho nhân dân theo phương pháp cổ truyền Bên cạnh đó, Trường Đại học
Y Dược Thái Bình, Trường Cao đẳng Y tế Thái Bình là những nơi đào tạo bác sĩ, dược
sĩ y học cổ truyền rất uy tín, chất lượng cao, kịp thời phục vụ nhu cầu chữa bệnh Nhiều địa phương trong tỉnh có các phòng chẩn trị Y học cổ truyền với những lương y giỏi đã chữa khỏi một số bệnh nan y cho nhân dân trong tỉnh và các tỉnh lân cận Tuy nhiên, đến nay các công trình nghiên cứu về tài nguyên cây thuốc và sử dụng, khai thác nguồn tài nguyên cây thuốc trên địa bàn Thái Bình còn rất ít, chủ yếu là nghiên cứu về cây lương thực; ngay cả nghiên cứu tri thức sử dụng tài nguyên cây thuốc trong nhân dân của tỉnh Thái Bình cũng cực kỳ hạn chế Sau đây là một số nghiên cứu nổi bật:
- Năm 2013, Công ty Cổ phần Thương mại Dược Vật tư Y tế Khải Hà có đề tài
về “Ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ trong sản xuất, chế biến cây thuốc Đương quy và Ngưu tất phục vụ phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Thái Bình”
- Nguyễn Xuân Quýnh, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia
Hà Nội có đề tài “Nghiên cứu đánh giá hiện trạng đa dạng sinh học và xây dựng cơ sở
Trang 31dữ liệu về tài nguyên sinh vật nhằm phục vụ quản lý, sử dụng hợp lý hệ sinh thái bãi bồi huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình”
- Trần Văn Đạt, Viện Kinh tế và Quản lý Thuỷ lợi có đề tài: “Nghiên cứu đề xuất phương án quy hoạch, phát triển rừng ngập mặn nhằm tăng cường khả năng bảo
vệ đê biển Thái Bình dưới tác động của nước biển dâng do biến đổi khí hậu”
- Năm 2014, Lê Minh Hà, Viện Hóa học các Hợp chất thiên nhiên, Viện Hàn
lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam có đề tài: “Nghiên cứu và xây dựng quy trình chiết tách hoạt chất rotundin trong cây Bình vôi trồng ở quy mô sản xuất thử, áp dụng tại tỉnh Thái Bình”
- Nguyễn Văn Song, Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội có đề tài: “Tạo lập, quản lý và phát triển nhãn hiệu tập thể “Tỏi Thái Thụy” dùng cho sản phẩm tỏi của huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình”
Như vậy, hầu như các nghiên cứu trên mới chỉ đề cập đến thành phần loài, các
số liệu chưa được cập nhật, bổ sung mới; chưa nghiên cứu để nhân giống và đánh giá thực trạng cụ thể của từng loài gắn với tri thức bản địa trong sử dụng chúng để có kế hoạch bảo tồn hiệu quả cho tương lai
1.3.1 Các nghiên cứu về cây Mỏ quạ (Cudrania tricuspidata)
Mỏ quạ có tên khoa học là Cudrania tricuspidata (Carr.) Bur, thuộc họ Dâu tằm
(Moraceae), còn gọi là Mỏ quạ ba múi (ba mũi), Hoàng lồ, Vàng lồ, Xuyên phá thạch [68]
Mỏ quạ ba múi là cây bụi, phân nhiều cành, chịu khô hạn rất khỏe, có nhựa mủ trắng, rễ hình trụ có nhiều nhánh, mọc ngang, rất dài, nếu gặp đá có thể xuyên qua được (do đó có tên xuyên phá thạch có nghĩa là phá chui qua đá) Vỏ thân màu xám nâu, trên có nhiều bì khổng màu trắng, thân và cành có rất nhiều gai, gai già hơi cong xuống trông như mỏ con quạ (do đó có tên cây Mỏ quạ) Lá mọc cách, hình trứng thuôn, hai đầu nhọn, mặt lá nhẵn, bóng, mép nguyên, có phiến xoan, dài 5 - 14cm, rộng 3 - 4,5cm, đầu có mũi dài, gốc tù, gân bên 6 - 7 đôi, cuống dài 10 - 13mm Hoa đầu ở nách lá, từng cặp, hoa đực có 4 lá dài, 4 nhị, hoa cái có 4 lá đài Cụm hoa hình cầu, đường kính 7 - 10mm, màu vàng nhạt, mọc thành đôi hay mọc đơn độc ở kẽ lá Hoa đơn tính, đực cái khác gốc Cây mọc rải rác trên đồi cây bụi, ra hoa vào tháng 4 -
Trang 325, có quả vào tháng 5 - 7 Mùa hoa là tháng 4 Quả màu hồng họp thành quả kép Mùa quả tháng 10 - 11
Hình 1 Hình ảnh quả của cây mỏ quạ ba múi
Mỏ quạ ba múi có tác dụng dược lý rất đa dạng: kìm khuẩn, tăng cường thực bào, chống dị ứng ở mức độ nhất định, làm lành nhanh vết thương phần mềm, trị đau nhức, phong thấp, một số chứng ho…
Lá Mỏ quạ ba múi tươi đã được dùng chữa vết thương phần mềm theo kinh nghiệm của cụ lang Long (Hải Dương) như sau: Chủ yếu dùng lá tươi, rồi tùy theo vết thương, thêm một hai vị khác Lá tươi lấy về rửa sạch, bỏ cọng, giã nhỏ đắp vào vết thương Nếu vết thương xuyên thủng thì phải đắp cả hai bên, băng lại Mỗi ngày rửa và thay băng một lần Thuốc rửa vết thương là lá trầu không nấu với nước (40g lá trầu, 2 lít nước, nấu sôi để nguội, thêm vào đó 8g phèn phi, hòa tan, lọc và dùng rửa vết thương) Sau 3 - 5 ngày đã đỡ, khi đó hai ngày mới cần rửa và thay băng một lần Trường hợp vết thương tiến triển tốt nhưng lâu đầy thịt thì thay thuốc sau: Lá Mỏ quạ tươi và lá thòng bong, hai vị bằng nhau, giã lẫn cả hai thứ đắp lên vết thương, mỗi ngày rửa và thay băng một lần; 3 - 4 ngày sau lại thay thuốc sau: lá Mỏ quạ tươi, lá thòng bong, lá hàn the (Desmodium heterophyllum DC.) ba thứ bằng nhau, cứ 3 ngày mới thay băng một lần để vết thương chóng lên da non Sau 2 - 3 lần thay băng bằng 3
vị trên thì rắc lên vết thương thuốc bột chế bằng phấn cây cau (sao khô) 20g, phấn cây chè (sao khô) 16g, ô long vĩ (bồ hóng) 8g, phèn phi 4g Các vị tán mịn, trộn đều rắc lên vết thương rồi để yên cho vết thương đóng vẩy và róc thì thôi
Rễ được dùng trong nhân dân ta và ở Trung Quốc (Quảng Tây) làm thuốc khứ phong, hoạt huyết phá ứ, chữa ứ tích lâu năm, bị đả thương, phụ nữ kinh bế Ngày
Trang 33dùng 10 - 30g rễ dưới dạng thuốc sắc Theo kinh nghiệm nhân dân, phụ nữ có thai không dùng được
Flavonoit chứa rất nhiều trong cây Mỏ quạ, những lớp chất này có rất nhiều hoạt tính sinh học đáng quan tâm Các chất flavonoit là những chất oxy hóa chậm, các chất này ngăn chặn quá trình oxy hóa do các gốc tự do gây ra nên các hợp chất này có hoạt tính chống oxi hóa cao, tác dụng đến nhiều hệ enzym và ít độc đối với cơ thể sống Khi đưa vào cơ thể sống, flavonoit có thể tác động lên các biến đổi sinh hóa học bằng cách trực tiếp hay gián tiếp như thông qua hoạt động của các enzym hay hệ thống thần kinh, nội tiết Các kết quả thực nghiệm cho thấy một số flavonoit có tác dụng chống ung thư thông qua khả năng hoạt hoá các enzym trong gan có nhiệm vụ chuyển hoá các chất gây ung thư
Một số tác giả nghiên cứu tác dụng của anthocyanin, leucoanthocyanin và axit
phenolic lên vi khuẩn Salmonella và thấy có tác dụng kìm hãm rõ rệt Hầu hết các chất
này có khả năng kìm hãm sự hô hấp hay phân chia của vi khuẩn khi có mặt glucoza Theo nghiên cứu của Pilar Almajano và cộng sự đã cho thấy: Hầu hết các polyphenol đều có khả năng chống khuẩn Trong một vài nghiên cứu điều tra về ảnh hưởng của polyphenol đối với các bệnh về đường ruột đã chỉ ra rằng: các catechin, các polyphenol, các proanthocyanidin và tannin thủy phân có hoạt tính chống khuẩn Tác dụng chống viêm của nhiều flavonoit thuộc các nhóm flavon, flavanon, dihydroflavonol, anthocyanin, flavan-3-ol, chalcon, isoflavon, biflavon, 4-aryl coumarin, 4-aryl chroman đều được chứng minh bằng thực nghiệm do các chất flavonoit này ức chế con đường sinh tổng hợp prostagladin Ngoài ra, các flavonoit có khả năng tác động đến hoạt động của nhiều hệ
enzym động vật trong các điều kiện in vitro và in vivo
Ở Trung Quốc, rễ và vỏ cây Mỏ quạ ba múi được dùng để làm trà thảo dược và
đồ uống chức năng từ hàng nghìn năm trước Cây Mỏ quạ ba múi cũng đã được dùng như một vị thuốc cổ truyền để điều trị các bệnh viêm, ung thư, viêm gan, cúm và viêm thần kinh Trong vài thập kỷ gần đây, Mỏ quạ ba múi được coi là một trong những phương thuốc cổ truyền dùng điều trị bệnh ung thư ở Hàn Quốc [69]
Các nghiên cứu về thành phần hóa học cho thấy cây Mỏ quạ ba múi chứa hàm lượng cao các hợp chất dạng xanthone và flavonoid với tác dụng chống ung thư, kháng viêm, chống béo phì và bảo vệ thần kinh Các hợp chất xanthone với tên gọi
Trang 34cudraxanthone D, L, M thể hiện hoạt tính mạnh với dòng tế bào ung thư dạ dầy Các hợp chất flavonoid có chứa nhánh prenyl như là senegalensin và isoerysenegalensein E
có tác dụng kháng viêm thông qua việc ức chế sự sản sinh NO trong đại thực bào chuột; trong khi đó các xanthone chứa nhánh prenyl (ví dụ: cudratrixanthones C, G-I,
O, 3-O-metylcudratrixanthone G) và các isoflavonoid (ví dụ: cudraisoflavones H-J) có tác dụng bảo vệ thần kinh Bên cạnh đó, các chất ức chế enzyme đối với các enzyme
protein tyrosine phosphatase 1B, neuraminidase, α-glucosidase [40] và tyrosinase [70]
cũng được tìm thấy từ cây Mỏ quạ ba múi
1.3.2 Các nghiên cứu về cây Tầm bóp (Physalis angulata)
Tầm bóp, còn gọi là lồng đèn hay Thù lù cạnh, có nơi còn gọi là Bôm bốp, tên
khoa học là Physalis angulata, thuộc họ Cà (Solanaceae) [69]
Hình 2 Hình ảnh cây, hoa và quả của cây Tầm bóp
Tầm bóp ở Việt Nam có rất nhiều, chúng có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới, sau trở thành liên nhiệt đới Cây mọc hoang khắp nơi, ở trên các bờ ruộng, bãi cỏ, đất hoang hay ven đường làng quê; ở ven rừng từ vùng thấp đến vùng có độ cao 1.500m
so với mặt nước biển Dược liệu sử dụng tươi hay phơi khô dùng dần
Là loại cây thảo, cao 50 - 90 cm, phân nhiều cành Thân cây có góc, thường rủ xuống Lá mọc so le, hình bầu dục, chia thuỳ hay không, dài 30 - 35mm, rộng 20 - 40mm; cuống lá dài từ 15 - 30mm Hoa mọc đơn độc, có cuống mảnh, dài khoảng
1 cm Đài hình chuông, có lông, chia ra từ phía giữa thành 5 thuỳ, tràng hoa màu vàng tươi hay màu trắng nhạt, có khi điểm những chấm màu tím ở gốc, chia 5 thuỳ Quả mọng tròn, nhẵn, lúc non màu xanh, khi chín màu đỏ, có đài cùng lớn với quả, dài 3 -
4 cm, rộng 2 cm, bao trùm lên ở ngoài như cái túi, hạt nhiều hình thận Khi bóp quả vỡ
Trang 35phát ra tiếng bộp Cây ra hoa kết quả quanh năm Bộ phận sử dụng làm thuốc là toàn cây có tên dược là Herba physalis Angulatae
Theo tác giả Võ Văn Chi, ở Việt Nam có 4 loài thuộc chi Physalis (thuộc họ Cà
- Solanaceae) là P angulata (Tầm bóp, Lu lu cái), P alkekengi (Thù lù kiểng), P peruviana (Lồng đèn, Thù lù lông) và P minima (Thù lù nhỏ) [69]
Bảng 2 Thống kê về các loài thuộc chi Physalis của Việt Nam
P.angulata P.alkekengi P peruviana P minima
Phân
bố
Có ở nhiều nước nhiệt
đới Châu Á, châu Phi,
châu Mỹ Ở Việt Nam:
Lạng Sơn, Bắc Giang,
Ninh Bình, Gia Lai…
Nguồn gốc từ châu Phi đến Nhật Bản và miền Nam Việt Nam
Nguồn gốc Nam Mỹ Ở Việt Nam: Bắc Giang, Hà Nội,
Đà Nẵng, Đồng Nai
Mọc rải rác ven rừng, các bãi hoang
Mọc rải rác trên các bãi hoang
sinh ho, thủy thũng và
đắp ngoài chữa đinh
sang Rễ tươi nấu với
tim lợn, chu sa dùng ăn
chữa đái đường
Ở Ấn Độ dùng trị bệnh về đường tiết niệu
và bệnh ngoài
da
Ở Vân Nam (TQ) dùng trị cảm mạo, ho nóng, đau họng
Giống P
angulata
Ở Hải Nam (TQ), cả cây dùng trị cảm sốt, ho nhiều đờm, nhọt
Số liệu ở bảng trên cho th ấy chủ yếu dân ta coi đây là các loài cây hoang dại nên không được quan tâm nhiều mà quên đi các tác dụng của các loài thuộc chi Physalis này Do đó, cho đến nay chưa có nghiên cứu nào trong nước liên quan đến các loài thuộc chi Physalis ở Việt Nam
Trái ngược với Việt Nam, các loài thuộc chi Physalis lại được các nhà khoa học trên thế giới quan tâm và đầu tư nghiên cứu Nhiều kết quả khả quan đã được các nhà khoa học trên thế giới công bố Về thành phần hóa học thì lớp chất chính của chi Physalis
là các withanolide, rồi đến các labdane diterpene, các sucrose este, các flavonoid, các
Trang 36ceramide và một số chất khác Các hợp chất withanolide được phân chia thành 2 dạng là các withanolide có khung không biến đổi và các withanolide có khung bị biến đổi
- Các hợp chất withanolide có khung không biến đổi là nhóm các steroid dạng ergostane C28 với vòng -lactone ở vị trí 26, 22 Đây là nhóm chất chính trong chi
Physalis bao gồm các chất chất 5,6-epoxide withanolide (41 chất), các chất 5-ene withanolide (13 chất) và các withanolide trung gian (35 chất)
- Các hợp chất withanolide có khung bị biến đổi được phân chia thành các chất physalin (15 chất), các chất neophysalin (7 chất), các chất withaphysalin (10 chất), các chất 14,20-epoxide - epoxide (2 chất), các withanolide có vòng D thơm (15 chất), các ixocarpalactone (7 chất), các perulactone (6 chất) và các withanolide khác (8 chất)
Các hợp chất thứ cấp này của chi Physalis có chứa nhiều hoạt tính sinh học quý nhưng tập trung chính vào hoạt tính chống ung thư, kháng viêm, kháng khuẩn, chống sốt rét, chống oxi hóa, antinociceptive, anti-trypanosoma cruzi, và antileishmanial Các
kết quả nghiên cứu ở mức độ in vitro và in vivo đã phần nào chứng minh được tác
dụng truyền thống của chi Physalis về khả năng kháng ung thư, được cho là do lớp chất withanolide có trong chi này
+ Hoạt tính chống ung thư
Qua nghiên cứu thu được kết quả dịch chiết clorofor loài P minima có chứa hoạt tính gây độc tế bào trên dòng tế bào ung thư phổi người NCI-H23 dựa vào đồ thị biểu diễn sự phụ thuộc liều lượng và thời gian Dịch chiết CHCl3 cũng thể hiện hoạt tính kháng ung thư với dòng tế bào ung thư vú người T-47D Hoạt tính này được cho
là do khả năng gây chết tế bào theo chương trình apoptosis Bên cạnh đó, dịch chiết clhoroform cũng thể hiện hoạt tính đối với dòng tế bào ung thư buồng trứng người Caov-3 Cơ chế gây chết tế bào được xác định bằng việc sử dụng 4 phương pháp khác biệt để chứng minh tác dụng chống ung thư là do khả năng phối hợp giữa cơ chế gây chết tế bào theo apoptosis và autophagic (quá trình sinh lý bình thường trong cơ thể dẫn đến sự phá hủy tế bào trong cơ thể) trên tế bào ung thư Caov-3
Trang 371 R1=R4=-OH, R2=R3=-OH
2 R1=-OH, R2=R3=R4=-OH
4 R1=R3=-OH, R2=-OH, R4=-OAc
5 R1=-OH, R2=R3=-OH, R4=-OCH3
6 R1=-OH, R2=R3=-OH, R4=-OCH3
8 R1=-OCH3, R2=R3=-OH, R4=-OAc
19 R1=R3=-OH, R2=-OH, R4=-OAc
20 R1=R2=-epoxy, R3=-OH, R4=-OAc
21 R1=-Cl, R2=-OH, R3=-OH, R4=-Oac
10 R1==-OCH3, R2 =-OH, R3=OAc
-11 R1=-OCH3, R2=R3=R5=-OH, R4=-OAc,R6= H
13 R1=-OH, R2=-OH, R3=R5=-H, R4=-OAc, R6= H
14 R1=R4=-OH, R2=-OH, R3=R5=-H, R6= OH
17 R1=R2=-epoxy, R3=-OH, R4=-OCH3, R5=-H, R6= H
18 R1=-OH, R2=R3=-OH, R4=-OCH3, R5=-H, R6= H
27 R1=-OCH3, R2=R3=-OH, R4=-OAc
28 R1= -OH, R2=R3=R5=-OH, R4=-OAc, R6= H
Các kết quả nghiên cứu về tác dụng chống ung thư của các hợp chất phân lập được
từ chi Physalis cũng rất khả quan, cho thấy tiềm năng ứng dụng vào thực tế rất cao
Theo công bố của Sun và cộng sự thì trong số 16 hợp chất withanolide mới có
14 chất được đặt tên là physangulatin A-N; 2 chất được đặt tên là withaphysalin Y-Z cùng với 12 hợp chất đã biết khác được phân lập từ thân và lá loài P anglulata L Các hợp chất này được đánh giá khả năng ức chế sự tăng sinh của các dòng tế bào ung thư người như tuyến tiền liệt (C4-2B và 22Rvl), thận (786-O, A-498, và ACHN), và u ác
Trang 38tính (A375-S2), cũng như khả năng ức chế sự sản sinh NO gây ra bởi lipopolysaccharide (LPS) trong đại thực bào Kết quả cho thấy các hợp chất
physangulatin I (9), physagulide I-J (27,17), physagulin A-B (20-21) và I (25) thể hiện
hoạt tính tốt trên tất cả các dòng tế bào với giá trị IC50 trong khoảng 0.18-7.43 μM
Các hợp chất physangulatin C-E (3-5), physangulatin I-K (9-11), physagulide I-J (27,17), physagulin A-B (20-21), H-I (24-25) và N (11) có khả năng ức chế sự sản
sinh NO với giá trị IC50 trong khoảng 1,36-11,59 μM [71]
Maldonado và cộng sự báo cáo kết quả thử hoạt tính gây độc tế bào in vitro trên 6 dòng tế bào
ung thư người của 3 hợp chất physangulide B (29), 4-O-acetylphysangulide B (30) và physangulide acetamide (31) Ở nồng độ 20µM, các hợp chất 29 và 30 ức chế 100% sự tăng
sinh của tế bào, trong khi chất còn lại không đến 30% Giá trị IC50 của các hợp chất 29 và 30 được xác định đối với dòng tế bào ung thư tương ứng PC-3 (29: 0,43 ± 0,03 µM; 30: 0,32 ± 0,02 µM) và SKLU-1 (29: 0,35 ± 0,01 µM; 30: 0,27 ± 0,01 µM), camptothecin được sử dụng
là chất đối chứng dương (IC50: 0,12 ± 0,01 µM với dòng PC-3 và 0,15 ± 0,009 uM với dòng SKLU-1) cho thấy các hợp chất này có hoạt tính mạnh Thêm nữa, chất physangulidine A
(31) được phân lập từ loài P angulata, có thể làm hỗn loạn chu kỳ tế bào và gây ra sự chết của
tế bào theo apoptosis với dòng tế bào ung thư tuyến tiền liệt người DU145 [72]
Trang 39Ở một công trình khác, tám hợp chất withanolide mới, đặt tên physagulide A-H
(33-40) cùng 10 hợp chất đã biết (41-50) đã được phân lập từ dịch chiết toàn thân cây
P angulata var villosa bởi Ma và cộng sự Các hợp chất này được thử hoạt tính trên 3
dòng tế bào ung thư người là ung thư gan (HepG2), ung thư vú (MCF-7) và ung thư
xương ác tính Chất 41, 42, 46, 49 và 50 thể hiện hoạt tính mạnh trên cả 3 dòng tế bào
ung thư với giá trị IC50 trong khoảng 0,06-6,73 µM, có thể so với chất tham khảo
cisplatin Một trong các chất tiềm năng, physagulide I (41) bắt giữ các tế bào trong pha
G2/M và kích hoạt các con đường biểu hiện sự phụ thuộc caspase với apoptosis Ngoài
ra, quá trình apoptosis gây ra bởi physagulide I trong các tế bào MG-63 được cho có liên quan tới sự tạo thành các loại oxy phản ứng (reactive oxygen species - ROS) và sự kích hoạt của extracellular signal-regulated kinase (ERK) và c-Jun N-terminal kinases
(JNK) Các kết quả này cho thấy hợp chất physagulide I (41) có thể là 1 tác nhân tiềm
năng dùng để điều trị bệnh ung thư
Lan và cộng sự báo cáo về hoạt tính gây độc tế bào tiềm năng của 3 hợp chất
phyperunolide A (51), 4 - hydroxywithanolide E (52) và withanolide E (53) phân lập
từ loài P peruvian trên các dòng tế bào ung thư người HepG2, Hep3B, A549, MB-231, MCF-7 với giá trị IC50 trong khoảng 0,10-4,03 mg/m [73] Gần đây nhất,
Trang 40MDA-Park và cộng sự đã chứng minh tiềm năng của hợp chất 52 này trong điều trị ung thư
ruột kết [74] Bên cạnh đó, Yen và cộng sự cũng cho thấy hợp chất 4 -
hydroxywithanolide E (52) có khả năng ức chế sự phát triển của các tế bào ung thư
phổi người thông qua sự phá hoại DNA, apoptosis và bắt giữ G2/M [75]
Hợp chất Physalin F (54) (1 chất secosteroid) được ghi nhận như 1 chất chống
ung thư tiềm năng từ loài P minima L Tác giả Ooi và cộng sự đã nghiên cứu độc tính
và cơ chế gây chết tế bào có thể gây ra bởi thành phần chứa hoạt tính trên dòng tế bào ung thư vú người T-47D Kết quả sàng lọc cho thấy physalin F có tác dụng ức chết đáng kể sự phụ thuộc liều lượng trên tế bào T-47D với giá trị EC50 thấp hơn của dịch chiết thô (3,50 µg/mL) Phân tích biểu hiện mRNA cho thấy sự đồng điều chỉnh các gen c-myc- và caspase-3-apoptotic trong các tế bào đã được điều trị với peak biểu hiện tương ứng ở 9h và 12h Cơ chế apoptosis được khẳng định thêm bằng sự phân mảnh DNA và phosphatidylserine externalization Các phát hiện này chỉ ra rằng physalin F
(54) có thể đóng vai trò là tác nhân ngăn ngừa và/hoặc điều trị ung thư bởi cơ chế kích
hoạt apoptosis thông qua sự hoạt động theo con đường caspase-3 và c-myc trong tế bào T-47D Trước đấy, năm 2012, Wu và cộng sự cũng đã thông báo khả năng gây ra apoptosis với dòng tế bào ung thư thận người A498 Do đó, physalin F giống như 1 tác nhân kháng ung thư tiềm năng cần tiến hành nghiên cứu lâm sàng tiếp theo [76]
Nghiên cứu về tác dụng kháng u ác tính của physalin B (55), hoạt chất có hàm
lượng chính trong 1 loại thảo dược được sử dụng rộng rãi - P angulata đã được công
bố bởi Hsu và cộng sự Nghiên cứu của họ chứng minh rằng physalin B có hoạt tính với các dòng tế bào u ác tính A375 và A2058 (IC50 thấp hơn 4,6 µg/mL) Các kết quả cho thấy physalin B có thể gây ra apoptosis của tế bao ung thư ác tính qua con đường trung gian NOXA, caspase-3 và mitochondria, nhưng không gây ra apoptosis với các