1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và kết quả điều trị sớm chấn thương – vết thương động mạch ngoại vi tại bệnh viện đa khoa tỉnh thái bình từ tháng 5 năm 2015 đến tháng 5 năm 2018

108 43 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 4,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nguyên nhân gây tổn thương ĐM ngoại vi thì khá đa dạng, thường gặp nhất là các vết thương ĐM do tai nạn sinh hoạt đâm - chém nhau, vật sắc nhọn 72,98%, mảnh bom, đạn bắn 10,4%; ít gặp hơ

Trang 1

BỘ Y TẾ BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÁI BÌNH

ĐỖ TẤT THÀNH

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ SỚM CHẤN THƯƠNG – VẾT THƯƠNG ĐỘNG MẠCH NGOẠI VI TẠI BỆNH VIỆN

ĐA KHOA TỈNH THÁI BÌNH

LUẬN VĂN THẠC SỸ Y HỌC

Thái Bình - 2018

Trang 2

BỘ Y TẾ BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÁI BÌNH

ĐỖ TẤT THÀNH

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ SỚM CHẤN THƯƠNG – VẾT THƯƠNG ĐỘNG MẠCH NGOẠI VI TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào

Tác giả

Đỗ Tất Thành

Trang 5

MỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1 3TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Sơ lược lịch sử điều trị tổn thương mạch máu [1], [12] 3

1.2 Giải phẫu hệ tuần hoàn và ứng dụng 5

1.2.1 Giải phẫu động mạch chi trên [3], [21], [41], [50] 5

1.2.2 Giải phẫu mạch máu chi dưới 11

1.3 Giải phẫu - sinh lý bệnh [27], [20], [19], [14] 18

1.3.1 Cấu trú c và chức năng bình thường của thành ĐM: 18

1.3.2 Thương tổn đại thể 19

1.3.3 Thương tổn vi thể [13], [16], [5], [30], [27] 23

1.3.4 Sinh lí bệnh [18], [4] 23

1.4 Chẩn đoán chấn thương, vết thương động mạch ngoại vi 26

1.4.1.Chẩn đoán lâm sàng [13], [18], [27], [29], [14] 27

1.4.2 Cận lâm sàng 30

1.5 Điều trị 33

1.5.1 Sơ cứu ban đầu: [49], [38], [14], [51, 68], [61] 34

1.5.2 Điều trị phẫu thuật [37], [54], [64], [49], [48], [62], 35

1.5.3 Điều trị hậu phẫu [15], [11], [18], 37

1.6 Biến chứng và di chứng sau mổ nối mạch 38

1.6.1 Biến chứng: 38

1.6.2 Di chứng [57], [66], [46], [61] 38

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 40

2.1 Đối tượng nghiên cứu 40

2.2 Phương pháp nghiên cứu 40

Trang 6

2.2.2 Cách lấy mẫu 40

2.2.3 Thiết kế nghiên cứu 40

2.3 Các chỉ số nghiên cứu 41

2.3.1 Đặc điểm dịch tễ học 41

2.3.2 Đặc điểm lâm sàng trước mổ 42

2.3.3 Đặc điểm cận lâm sàng chính 43

2.3.4 Đặc điểm phẫu thuật 43

2.3.5 Kết quả sau mổ: Kết quả sớm: (Kết quả trong thời gian nằm viện) 50

2.3.6 Đánh giá kết quả chung: Chúng tôi tạm chia làm 3 mức [17] 51

2.4 Thu thập và xử lý số liệu 51

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 53

3.1 Đặc điểm dịch tễ 53

3.2 Đặc điểm lâm sàng- cận lâm sàng 56

3.3 Đặc điểm về phẫu thuật 59

3.4 Kết quả điều trị sớm 61

CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 64

KẾT LUẬN 84

KIẾN NGHỊ 86

TÀI LIỆU THAM KHẢO 87

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Độ tuổi 53

Bảng 3.2 Giới tính 53

Bảng 3.3 Phân bố đối tượng theo nguyên nhân gây tổn thương mạch máu 54

Bảng 3.4 Phân bố địa dư 54

Bảng 3.5 Phân bố vị trí tổn thương mạch máu theo nguyên nhân 55

Bảng 3.6 Cơ chế tổn thương ĐM 56

Bảng 3.7 Phương pháp sơ cứu 56

Bảng 3.8 Thời gian từ khi bị tai nạn đến lúc phẫu thuật 56

Bảng 3.9 Vị trí Động mạch tổn thương 57

Bảng 3.10 Dấu hiệu lâm sàng của chấn thương – vết thương mạch máu 58

Bảng 3.11 Phân bố thăm dò cận lâm sàng trước mổ: Siêu âm Doppler mạch, Chụp cắt lớp mạch chi 59

Bảng 3.12 Phân loại tổn thương giải phẫu ĐM, và tổn thương TM- Thần kinh 59

Bảng 3.13 Phân bố kỹ thuật can thiệp trên tổn thương mạch máu 60

Bảng 3.15 Siêu âm sau mổ 61

Bảng 3.14 Bắt mạch ngoại vi sau mổ 61

Bảng 3 16 Biến chứng sớm sau mổ: 62

Bảng 3.17 Thời gian điều trị trung bình 62

Bảng 3.18 Đối chiếu cơ chế tổn thương và kết quả sớm 62

Trang 8

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1 Giới tính 54 Biểu đồ 3.3 Nghề nghiệp 55

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1: Giải Phẫu ĐM cánh tay [21], [3] 7

Hình 1.2: Đường vào động mạch nách [41] 8

Hình 1.3: Đường vào động cánh tay [41] 8

Hình 1.4: Giải phẫu vùng cằng tay (nhìn trước)[21], [3] 10

Hình 1.5: Đường vào động mạch quay- động mạch trụ [28], [41] 10

Hình 1.6 Động mạch đùi [21] 11

Hình 1.7: Đường vào ĐM đùi chung [41], [28] 12

Hình 1.8: Đường vào ĐM đùi nông [28], [41] 12

Hình 1.9: Động mạch khoeo[21] 13

Hình 1.10: Đương vào ĐM khoeo đoạn trên gối[28], [41] 13

Hình 1.11: Đường vào ĐM khoeo đoạn giữa[28], [41] 13

Hình 1.12: Đường vào ĐM khoe đoạn dưới gối [28], [41] 14

Hình 1.13: Bộc lộ ĐM Khoeo đi đường sau khoeo[28], [41] 14

Hình 1.14: Động mạch cẳng chân [3], [21] 15

Hình 1.15: Đường vào bộc lộ ĐM chày trước [28], [41] 16

Hình 1.16: Đường vào bộc lộ ĐM chày sau [41], [28] 17

Hình 1.17: Cấu tạo của thành mạch máu [50] 18

Hình 1.18: Các hình thái tổn thương động mạch do chấn thương [10], [18], [12] 21

Hình 1.19: Vết thương đứt rờ i và vết thương bên đô ̣ng mạch 22

Hình 1.20: Các hình thái tổn thương động mạch do vết thương [13] 22

Hình 1.21 Đường vào giải áp khoang cẳng chân [50] 37

Trang 10

DANH MỤC ẢNH

Ảnh 1.1: Hình ảnh đụng dâ ̣p mô ̣t đoa ̣n ma ̣ch máu + Huyết khối ở bên trong [5] 20Ảnh 1.2 Hình ảnh CTĐM khoeo có đụng dập và tụ máu vùng khoeo 28 Ảnh 1.3: Hình ảnh thiếu máu đứt ĐM khoeo 28 Ảnh 1.4: Hình ảnh Xquang gãy 1/3 trên xương chày và xương mác gây đứt đôi ĐM chày trước và bán phần ĐM chày sau 30 Ảnh 1.5: Hình ảnh Xquang sai khớp gối ở BN tổn thương đô ̣ng mạch

khoeo[61], [7] 30 Ảnh 1.6: Hình ảnh siêu âm Doppler mạch [50] 31 Ảnh 1.7: Hình ảnh tắc đô ̣ng mạch khoeo trong chụp mạch 32 Ảnh 1.8: Hình ảnh tắc đoa ̣n đô ̣ng mạch đùi chung- ĐM khoeo do chấn thương mạch 33

Trang 11

DANH MỤC ẢNH

Ảnh 1.1: Hình ảnh đụng dâ ̣p mô ̣t đoa ̣n ma ̣ch máu + Huyết khối ở bên trong 20Ảnh 1.2: Hình ảnh trâ ̣t khớp gối và đụng dâ ̣p ĐM có tụ máu dưới da ta ̣i chỗ 28Ảnh 1.3: Hình ảnh thiếu máu không hồi phục hoàn toàn do tắc ĐM khoeo, và

tắc ĐM cánh tay 28Ảnh 1.4: Hình ảnh Xquang gãy 1/3 trên xương chày và xương mác gây đứt

đôi ĐM chày trước và bán phần ĐM chày sau 30

Ảnh 1.6: Hình ảnh siêu âm Doppler mạch 31Ảnh 1.7: Hình ảnh tắc đô ̣ng mạch khoeo trong chụp mạch 32Ảnh 1.8: Hình ảnh tắc đoa ̣n đô ̣ng mạch chày sau kèm gãy 1/3 trên xương

cẳng chân trên phim chụp cắt lớp vi tính 33

Trang 12

ĐẶT VẤN ĐỀ

Vết thương và chấn thương mạch máu ngoại vi ( VT và CTMM) là các cấp cứu ngoại khoa khá thường gặp hiện nay Thống kê tại Bệnh viện Việt Đức trong 3 năm 1998-2000 [12], cho thấy thương tổn mạch máu chiếm tỉ lệ 2,1% tổng số mổ cấp cứu, trong đó chủ yếu là CT-VT động mạch (ĐM) ở chi trên, chiếm >90% Theo Dueck A D., Kucey D.S (2003) thì tổn thương này chiếm 2% tổng số thương tích do tai nạn [66]

Hệ động mạch ngoại vi được đề cập đến gồm: Động mạch chi trên (động mạch nách, động mạch cánh tay, động mạch quay, động mạch trụ); Động mạch chi dưới (động mạch chậu ngoài, động mạch đùi chung, động mạch đùi sâu, động mạch kheo, động mạch chày trước, động mạch chày sau, động mạch mác)

Nguyên nhân gây tổn thương ĐM ngoại vi thì khá đa dạng, thường gặp nhất là các vết thương ĐM do tai nạn sinh hoạt (đâm - chém nhau, vật sắc nhọn 72,98%), mảnh bom, đạn bắn (10,4%); ít gặp hơn là các chấn thương

ĐM do va đập trực tiếp hoặc gãy xương trong tai nạn giao thông, tai nạn lao động gây nên (16,7%).[46]

Ngày nay, chẩn đoán CT-VT ĐM ngoại vi thường không khó, chủ yếu dựa vào các dấu hiệu lâm sàng (chảy máu qua vết thương, hội chứng thiếu máu cấp tính chi …) Với một số trường hợp khó như tổn thương động mạch

do chấn thương, thì có thể cần kết hợp thêm với siêu âm Doppler mạch hoặc chụp dựng hình động mạch (MS CTscan).[64], [63], [16]

Về mặt điều trị CT-VT động mạch ngoại vi, thì chủ yếu là khâu nối phục hồi lưu thông mạch máu, kết hợp với xử trí thương tổn thần kinh nếu có Với trường hợp tổn thương mạch máu gây thiếu máu chi ở giai đoạn muộn thì thường kết hợp với thủ thuật mở cân để giải ép khoảng

Kết quả điều trị của CT-VT động mạch ngoại vị phụ thuộc nhiều vào những sơ cứu ban đầu, giới hạn thời gian trong vòng 6 giờ kể từ khi xảy ra tai

Trang 13

nạn đến khi phẫu thuật [11], [6], tính chất phức tạp của loại tổn thương, chẩn đoán và tiên lượng chính xác, phẫu thuật kịp thời và đúng kỹ thuật Chẩn đoán muộn, xử trí không đúng dẫn đến các biến chứng do thiếu máu chi không hồi phục như: mất chức năng chi do hoại tử một phần cơ hoặc cắt cụt chi do hoại

tử hoàn toàn chi thể, nặng nhất là tình trạng nhiễm trùng nhiễm độc toàn thân

năm 2010- 2014, tỷ lê ̣ cắt cụt chi sau phục hồi lưu thông động mạch có 4/533 trường hợp, chiếm 6,9 % các biến chứng sau mổ [7]

Tại Thái Bình, tai nạn lao động trong nông nghiệp vẫn là nguyên nhân chính gây tổn thương ĐM ngoại vi Nhưng trong những năm gần đây tỷ lệ tổn thương ĐM ngoại vi còn gia tăng nhiều hơn do tính phức tạp của mạng lưới giao thông và sự phát triển mạnh mẽ của ngành công nghiệp, thủ công Tất cả những trường hợp có tổn thương ĐM ngoại vi đều được sơ cứu và chuyển tuyền trên Thời gian vào viện, sơ cứu và chuyển tuyến trên đã làm mất đi

“thời gian vàng” để điều trị các tổn thương ĐM ngoại vi Vì vậy việc triển khai phẫu thuật điều trị các tổn thương động mạch ngoại vi là cần thiết tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Thái Bình Tuy nhiên phẫu thuật điều trị các tồn thương

ĐM ngoại vi mới triển khai những năm gần đây mà chưa có một nghiên cứu về

kết quả điều trị, vì vậy tôi tiến hành làm đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm lâm

sàng và kết quả điều trị sớm chấn thương – vết thương động mạch ngoại vi tại Bệnh viện Đa Khoa Tỉnh Thái Bình từ tháng 5 năm 2015 đến tháng 5 năm 2018” Với hai mục tiêu sau:

1 Mô tả đặc điểm lâm sàng chấn thương – vết thương động mạch ngoại

vi tại Bệnh viện Đa Khoa Tỉnh Thái Bình

2 Đánh giá kết quả sớm phẫu thuật phục hồi lưu thông dòng máu điều trị chấn thương – vết thương động mạch ngoại vi tại Bệnh viện Đa Khoa Tỉnh Thái Bình

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Sơ lược lịch sử điều trị tổn thương mạch máu [1], [12]

Từ thời xa xưa, người ta đã nhận thấy tổn thương mạch máu thường dẫn đến chảy máu không cầm được và tử vong, vì vậy những phương pháp điều trị đầu tiên là buộc cầm máu Phương pháp này dần bị lãng quên và được thay thế bằng nước sôi hay thanh sắt nung đỏ để đốt nơi chảy máu

Đầu thế kỉ 15, phương pháp buộc cầm máu lại được Ambroise phục hồi lại 1674 Morel giới thiệu garrot để cầm máu tạm thời [59] Vào cuối thế kỷ

19, cột cầm máu cùng với đốt bằng nhiệt là những phương pháp chính để điều trị vết thương mạch máu, tuy nhiên kết quả thu được rất đáng thất vọng Theo Murphy, tỉ lệ tử vong khi thắt động mạch chủ ở 10 bệnh nhân bị tổn thương là 100%, 31 bệnh nhân thắt động mạch đùi là 40%

Năm 1759 Hallowell, bác sĩ người Anh, là người đầu tiên khâu chỗ rách động mạch cánh tay J.B.Murphy là người đầu tiên nối động mạch tận tận ở người thành công vào năm 1897, ông thừa nhận nhiễm trùng là nguyên nhân chính gây thất bại trong phẫu thuật mạch máu bị tổn thương

Đầu thế kỷ 20, Carrel và Guthrie đã đề ra những kỹ thuật cơ bản của khâu thành bên mạch máu và nối mạch máu tận tận, vẫn còn phổ biến cho đến ngày nay Các tác giả nhấn mạnh kỹ thuật khâu lộn nội mạc ra ngoài Công trình này đã giúp cho Carrel nhận giải Nobel năm 1912

Năm 1906 Goyanes đã sử dụng tĩnh mạch ghép cho động mạch kheo trong phẫu thuật phình động mạch kheo theo phương pháp Carrel Sau đó nhiều tác giả đã báo cáo những thành công của phẫu thuật các tổn thương động mạch bằng nối tận tận hay ghép tĩnh mạch

Trang 15

Trong chiến tranh thế giới thứ 2, De Bakey và cộng sự khi hồi cứu

2471 ca tổn thương mạch máu, đã cho thấy sự cải thiện tỷ lệ đoạn chi khi phục hồi lưu thông động mạch so với thắt động mạch (35,8% so 49%) Trong thời bình, với những kinh nghiệm rút ra rừ chiến tranh cũng như sự phát triển của các phương tiện chẩn đoán, hồi sức, cấp cứu, phẫu thuật phục hồi lưu thông động mạch đã trở nên thông dụng và ngày càng hoàn thiện hơn

Năm 1953, Seldinger giới thiệu phương pháp chụp động mạch, giúp cho chẩn đoán sớm tránh bỏ sót thương tổn cũng như loại bỏ một số lớn phẫu thuật thăm dò không cần thiết Năm 1963 Fogarty đã sử dụng ống thông có quả bóng ở đầu để lấy khối máu đông tắc mạch, giúp cho phẫu thuật lấy huyết khối trong lòng mạch đơn giản và hiệu quả hơn và ống thông này mang tên ông

Ngày nay mặc dù những điểm cơ bản trong chẩn đoán và điều trị tổn thương mạch máu không thay đổi, những tiến bộ trong điều trị tổn thương tĩnh mạch, gãy xương, sử dụng ống ghép nhân tạo, rạch cân giải áp, sử dụng kháng đông đã giúp cho phẫu thuật mạch máu ngày càng hoàn chỉnh hơn, tỷ

lệ tử vong và cắt đoạn chi ngày càng giảm

Tại Việt Nam, [22], [8]

Cùng với sự phát triển của chuyên ngành phẫu thuật mạch máu trên thế giới, phẫu thuật tim mạch cũng đã phát triển ở Việt Nam từ đầu những năm

60 của thế kỷ trước, trong đó có phẫu thuật chấn thương – vết thương mạch máu ngoại vi Sau chiến tranh, cùng với sự phát triển chung của y học, phẫu thuật mạch máu đã dần trở thành một chuyên khoa sâu và phát triển rộng khắp trên cả nước Đã có hàng loạt các công trình khoa học nghiên cứu về chẩn đoán và điều trị thương tổn mạch máu, ví dụ như : nghiên cứu của Lương Từ Hải Thanh (1986) về vết thương mạch máu ngoại vi thời bình tại bệnh viện Việt Đức , của Hoàng Kỷ (1993) về chẩn đoán thương tổn mạch ngoại vi bằng

Trang 16

siêu âm Doppler , của Nguyễn Sinh Hiền (1999) về chẩn đoán và điều trị tổn thương mạch máu ngoại vi do chấn thương , của Đoàn Quốc Hưng và cs (2000) về sử dụng tĩnh mạch tự thân trong phẫu thuật mạch máu , của Phạm Quang Phúc và Nguyễn Hữu Ước (2002) về hội chứng thiếu máu chi trong tổn thương mạch máu , và hàng loạt nghiên cứu khác [31], [20], [9], [2], [7], [15] trong vài năm trở lại đây Qua đó thấy rõ là sự hiểu biết về tổn thương mạch máu ngoại vi ngày càng nâng cao, khả năng chẩn đoán ngày càng tốt và hiện đại hơn, kỹ thuật điều trị chủ yếu là phục hồi lưu thông tuần hoàn và chất lượng điều trị ngày càng nâng cao, với tỷ lệ cắt cụt chi sau khâu nối động mạch chỉ chiếm 1,9% Tuy nhiên tỷ lệ cắt cụt chi thì đầu do thiếu máu giai đoạn muộn vẫn còn cao ở nhóm chấn thương mạch (22,2%), nhưng hầu hết ở chi dưới với nguyên nhân chính là bỏ sót tổn thương mạch máu trong chẩn đoán ban đầu

1.2 Giải phẫu hệ động mạch ngoại vi và ứng dụng

1.2.1 Giải phẫu động mạch chi trên [3], [21], [41], [50]

Liên quan: ĐM nách nằm giữa các cơ ở thành hố nách, đặc biệt là nằm dọc bờ trong cơ quạ cánh tay Nó có mối liên quan chặt chẽ với đám rối thần kinh cánh tay, ở đoạn trên cơ ngực bé - đám rối nằm sau ngoài so với động mạch; còn ở đoạn dưới cơ ngực bé thì có 3 dây thần kinh quay, giữa và trụ vây quanh ðộng mạch

Trang 17

Phân nhánh: từ trung tâm ra ngoại vi, ĐM nách cho ra các nhánh bên như ĐM ngực trên, ĐM cùng vai, ĐM ngực ngoài, ĐM dưới vai, ĐM mũ cánh tay trước và sau

Vòng nối: các nhánh bên của ĐM nách có nhiều tiếp nối với các nhánh bên của ĐM dưới đòn qua các vòng nối quanh vai, nhất là đoạn trên ĐM dưới vai Các nhánh ĐM mũ cánh tay có các tiếp nối quan trọng với ĐM cánh tay ở phía dưới

Áp dụng ngoại khoa: thương tổn ĐM nách đoạn nằm giữa động mạch dưới vai và động mạch mũ cánh tay có nguy cơ gây thiếu máu chi nặng Vết thương ĐM nách có nguy cơ tổn thương phối hợp vào thần kinh cao

b Động mạch cánh tay:

Nguyên ủy và đường đi: ĐM cánh tay là đoạn tiếp theo động mạch nách, bắt đầu từ bờ dưới cơ ngực lớn Nó đi xuống qua vùng cánh tay trước và vùng khuỷu trước, dọc theo đường định hướng giống như ĐM nách Dưới nếp gấp khuỷu 3 cm, ĐM cánh tay chia thành hai nhánh tận là động mạch quay và động mạch trụ

Liên quan: ở vùng cánh tay trước, ĐM cánh tay nằm trong ống cánh tay, dọc phía sau bờ trong cơ nhị đầu cánh tay, thần kinh giữa và thần kinh trụ

đi cùng động mạch cánh tay trong ống cánh tay Tới vùng khuỷu trước, ĐM chạy trong rãnh nhị đầu trong cùng với thần kinh giữa

Phân nhánh và vòng nối:

+ ĐM cánh tay sâu: là nhánh bên đầu tiên và lớn nhất của ĐM cánh tay,

nó tiếp nối với ĐM nách ở trên qua các ĐM mũ cánh tay, và tiếp nối với ĐM quay qua vòng nối quanh khuỷu (ĐM quặt ngược quay)

+ ĐM bên trụ trên và dưới: là các nhánh bên nhỏ của ĐM cánh tay, tiếp nối với các ĐM ở cánh tay và cẳng tay qua các vòng nối quanh khuỷu

Trang 18

Áp dụng ngoại khoa: thương tổn vào ĐM cánh tay đoạn trên nhánh cánh tay sâu có thể gây thiếu máu chi nặng Ngoài ra thương tổn ĐM cánh tay kèm theo chấn thương nặng vào vùng khuỷu (gãy xương, trật khớp) cũng có nguy

cơ gây thiếu máu cẳng – bàn tay do ảnh hưởng đến vòng nối quanh khuỷu

Hình 1.1: Giải Phẫu ĐM cánh tay [21], [3]

Ứng dụng:

Trang 19

Liên quan: ở 1/3 trên cẳng tay, ĐM đi dọc bờ trên ngoài cơ sấp tròn, tới 1/3 giữa ĐM cùng với nhánh nông của thần kinh quay nằm dưới cơ cánh tay quay, và ở đoạn 1/3 dưới ĐM đi trong rãnh mạch quay giữa gân cơ cánh tay quay và cơ gấp cổ tay quay ở vùng cổ tay ĐM đi qua hõm lào giải phẫu

Phân nhánh và vòng nối: từ trên xuống dưới, ĐM quay tách ra các nhánh bên là ĐM quặt ngược quay, ĐM gan cổ tay, ĐM mu cổ tay, ĐM gan tay nông, ĐM chính ngón cái Các nhánh bên của ĐM quay tiếp nối với ĐM

Trang 20

cánh tay qua vòng nối quanh khuỷu, và có rất nhiều tiếp nối với các nhánh bên của ĐM trụ

d Động mạch trụ: [3], [21]

Nguyên ủy và đường đi: ĐM trụ là một trong hai nhánh tận của ĐM cánh tay, tách ra ở dưới nếp gấp khuỷ 3 cm Nó đi xuống dưới dọc theo cơ gấp cổ tay trụ, sau đó đi qua vùng gan cổ tay và vào bàn tay Tận cùng ở gan tay bằng cung động mạch gan tay nông

Liên quan: ở 1/3 trên cẳng tay, ĐM đi sau cơ sấp tròn và bắt chéo sau thần kinh giữa, tới 2/3 dưới ĐM chạy giữa cơ gấp cổ tay trụ ở phía trong và

cơ gấp các ngón sâu ở phía ngoài Thần kinh trụ đi phía trong của động mạch

Phân nhánh và vòng nối: từ trên xuống dưới, ĐM trụ tách ra các nhánh bên là ĐM quặt ngược trụ, ĐM gian cốt chung, ĐM gan cổ tay, ĐM

mu cổ tay, và ĐM gan tay sâu Các nhánh bên của ĐM trụ tiếp nối với ĐM cánh tay qua vòng nối quanh khuỷu, và có rất nhiều tiếp nối với các nhánh bên của ĐM quay

Áp dụng ngoại khoa: do có nhiều vòng nối, nên khi thương tổn 1 trong hai ĐM của cẳng tay (quay hoặc trụ) thì rất hiếm khi gây thiếu máu cấp tính chi, đây cũng là vùng cho phép thắt ĐM cầm máu trong điều trị phẫu thuật Vết thương vào ĐM trụ có nguy cơ gây tổn thương thần kinh trụ phối hợp

Trang 21

Hình 1.4: Giải phẫu vùng cằng tay (nhìn trước)[21], [3]

Ứng dụng:

Hình 1.5: Đường vào động mạch quay- động mạch trụ [28], [41]

Trang 22

1.2.2 Giải phẫu mạch máu chi dưới

a Động mạch đùi [21], [3]

Nguyên ủy và đường đi: Đường đi của động mạch đùi bắt đầu từ giữa

dây chằng bẹn đến vòng gân cơ khép, theo hướng một đường vạch từ trung

điểm của gai chậu trước trên và củ mu đến củ cơ khép xương đùi

+ Ở 1/3 trên đùi, động mạch nằm nông, trong tam giác đùi

+ Ở 1/3 giữa, động mạch nằm sâu dần, trong ống cơ khép

+ Ở 1/3 dưới thì đi dần ra sau và cuối cùng, chui qua vòng gân cơ khép

và đổi tên thành động mạch khoeo

+ Động mạch thượng vị nông, đi lên rốn trong lớp mỡ dưới da bụng

Trang 23

+ Động mạch mũ chậu nông, đi về mào chậu, trong mô dưới da

+ Động mạch thẹn ngoài nông và sâu đi đến bộ phận sinh dục ngoài + Động mạch đùi sâu, lớn nhất, tách ra từ động mạch đùi dưới dây chằng bẹn 4 cm, chạy ra sau, nuôi dưỡng vùng đùi

+ Ðộng mạch gối xuống: góp phần tạo nên mạng mạch khớp gối Ứng

Ðường đi: Tiếp tục đô ̣ng mạch đùi, đi từ vòng gân cơ khép đến bờ dưới

cơ khoeo, theo một đường dọc giữa trám khoeo Ðộng mạch tận hết bằng cách

Trang 24

Hình 1.9: Động mạch khoeo[21]

1 Dây thần kinh chày 2 Tĩnh mạch khoeo 3 Động mạch khoeo

Ứng dụng:

Hình 1.10: Đương vào ĐM khoeo

đoạn trên gối[28], [41]

Hình 1.11: Đường vào ĐM khoeo

đoạn giữa[28], [41]

Trang 25

Hình 1.12: Đường vào ĐM khoe

đoạn dưới gối [28], [41]

Hình 1.13: Bộc lộ ĐM Khoeo đi đường sau khoeo[28], [41]

c Ðộng mạch chày trước [3], [21]

Ðưòng đi: Bắt đầu từ bờ dưới cơ khoeo, đô ̣ng mạch chày trước vượt

qua bờ trên màng gian cốt để ra khu cẳng chân trước, chạy cùng thần kinh

mác sâu xuống cổ bàn chân

sau, góp phần tạo nên mạng mạch khớp gối

phần tạo nên các mạng mạch mắt cá

Trang 26

Hình 1.14: Động mạch cẳng chân [3], [21]

1 Động mạch chày sau 2 Động mạch mác

+ Động mạch mu chân:

Ðường đi: Khi qua khớp cổ chân, đô ̣ng mạch chày trước đổi tên thành

đô ̣ng mạch mu chân, chạy từ trung điểm hai mắt cá đến khoảng gian đốt bàn

Nhánh bên: Động mạch mu chân có các nhánh bên nuôi dưỡng mu

d Ðộng mạch chày sau [21], [3]

Ðường đi: Từ bờ dưới cơ khoeo chạy dọc xuống sau mắt cá trong và

phân làm hai nhánh tận là động mạch gan chân trong và đô ̣ng mạch gan

chân ngoài

Nhánh bên: Ngoài các nhánh cơ, đô ̣ng mạch chày sau còn cho các

Trang 27

khoảng 2,5cm dưới bờ dưới cơ khoeo, chạy chếch ra ngoài sát dần vào xương

mác để xuống cổ chân

mạch chày sau, chạy từ sau mắt cá trong xuống bàn chân, dọc theo phía trong gân gấp ngón chân cái dài, ra trước, chia nhánh nuôi ngón chân cái và nối với nhánh đô ̣ng mạch gan đốt bàn chân thứ nhất Chia các nhánh nuôi dưỡng gan chân

xuống gan chân chạy đến nền xương đốt bàn V thì quặt ngang vào trong tạo

mu chân tạo nên cung mạch gan chân sâu Động mạch gan chân ngoài cho các nhánh nuôi dưỡng gan chân và nối với đô ̣ng mạch mu chân

Hình 1.15: Đường vào bộc lộ ĐM chày trước [28], [41]

Trang 28

Hình 1.16: Đường vào bộc lộ ĐM chày sau [41], [28]

Hình 1.16: Đường vào bộc lộ ĐM chày sau [41], [28]

Trang 29

1.3 Giải phẫu - sinh lý bệnh [27], [20], [19], [14]

Thành ĐM gồm 3 lớp áo

Lớp áo trong (lớp nội mạc) là lớp áo trong cùng được giới hạn về

chun (màng ngăn chun trong)

Hình 1.17: Cấu tạo của thành mạch máu [50]

Những đặc điểm và chức năng của lớp nội mô:

+ Chuyển hóa: với việc tạo ra chất Prostacycline, kháng yếu tố 8 và yếu tố tham gia tổng hợp phức hợp dưới nội mô

+ Làm kín lòng mạch, ngăn không cho máu đi qua khỏi thành mạch

mô liên kết dưới nội mô Nếu lớ p này bị tổn thương sẽ gây tăng đông, tạo huyết khối trong lòng mạch

Lớp áo giữa tạo bởi các tế bào cơ trơn, bao quanh là các sợi

collagene, elatine và các chất kháng proteoglycane Lớ p dầy ngăn cách với

áo ngoài bởi màng ngăn chun ngoài

Trang 30

+ Các sợi collagene và elatine chiếm ưu thế trong các mạch máu có

khi có chấn thương và vết thương động mạch

+ Cấu tạo củ a lớp áo giữa với các đơn vi ̣ dạng elatin, sắp xếp song song nhau có thể đ ột ngột tách ra khởi đầu cho m ột quá trình bóc tách khi có m ột yếu tố làm vỡ không hoàn toàn thành mạch (tổn thương lớp áo ngoài)

+ Các tế bào cơ trơn có nhiều đặc điểm quan trọng trong chấn thương:

co thắt, mở đầu cho quá trình co thắt động mạch, đặc biệt ở các mạch máu có khẩu kính nhỏ

Lớp áo ngoài: gồm các tế bào xơ, cơ trơn xen lẫn các bó collagene

và bao bo ̣c ba lớp áo trên còn có m ột bao tạo thành bởi mô liên kết thưa và

mô mỡ chứa mạch máu và thần kinh của mạch

1.3.2 Thương tổn đa ̣i thể

Nguyên nhân: hay gặp trong các tai nạn giao thông hoặc lao động,

thường do cơ chế chấn thương gián tiếp (gãy xương, trật khớp gây di lệch đầu xương làm dập nát đoạn ĐM chạy sát xương - khớp), ít gặp cơ chế chấn thương trực tiếp (vật tù - cứng chọc thẳng vào vùng ĐM gây đụng dập rộng phần mềm và cả ĐM, có thể kèm theo gẫy xương tại chỗ Đối với chi trên, gãy trên lồi cầu xương cánh tay là thương tổn dễ gây chấn thương ĐM theo

cơ chế gián tiếp nhất

Trang 31

Ảnh 1.1: Hình ảnh đụng dập một đoạn mạch máu + Huyết khối ở bên trong [5]

Dập nát + đứt rời một đoạn mạch: đụng dập toàn bộ một đoạn mạch (2-

5cm) gây đứt rời mạch hoặc còn dính nhau bởi một phần tổ chức mạch Khi phục hồi lưu thông bắt buộc phải ghép mạch

Đụng dập một đoạn ngắn (<5mm): Lúc đầu đoạn mạch còn thông, sau

thương chỉ tím nhẹ nên rất dễ bỏ sót Phục hồi lưu thông mạch bằng lấy huyết khối và khâu nối trực tiếp

Co thắt ĐM [58], [54], [25], [10], [5], [13]

+ Co thắt mạch máu đơn thuần - không kèm theo tổn thương nội mạc: nguyên nhân là do các yếu tố cơ học (va đập trực tiếp, sự chèn ép của các mảnh xương gãy, sự kéo giãn do trâ ̣t khớp, dị vâ ̣t chèn ép tại vết thương) hoặc do mất cân bằng hệ thần kinh tự động điều hòa thành mạch Về nguyên tắc thì loại này không cần can thiệp mạch máu mà chỉ cần loại bỏ các tác nhân cơ học

thể gây co thắt các tế bào cơ trơn lớp áo giữa khi chúng tổn thương thông qua chất trung gian hóa học Acetylcholin

Đụng dập nội mạc ĐM: Nhìn qua thành mạch thấy giữa vùng thành

mạch trắng bóng có chỗ tổn thương thay đổi màu sắc, cắt ngang sẽ thấy có tổn thương lớp nội mạc Có thể kèm theo máu cục nhỏ, nếu thương tổn lớn hoặc những động mạch nhỏ có thể hình thành máu cục gây tắc mạch Loại này rất dễ bỏ sót

Trang 32

A B C D E

[12]

D Đụng dập nội mạc hình thành huyết khối lòng mạch

Nguyên nhân: thường do dao, mảnh kính, các vật nhọn đâm vào, đôi khi

do các dị vật bắn vào (phôi bào) hoặc đạn bắn Trong hầu hết các trường hợp,

lỗ vào của vết thương nằm trên đường đi của mạch máu lớn

Các hình thái của vết thương ĐM

Vết thương đứt rời ĐM (Hình 1.6.A): ĐM bị đứt rời thường co tụt vào

tổ chức phần mềm, hình thành cục huyết khối ở hai đầu, nên dễ cầm máu bằng băng ép hơn Chắc chắn gây thiếu máu cấp tính chi

Trang 33

Hình 1.19: Vết thương đứt rơ ̀i và vết thương bên động mạch

Vết thương bên lớn (Hình 1.6.B) (rộng>1/3 chu vi mạch): hay gặp, sớm

hình thành huyết khối gây tắc mạch, nên được coi như vết thương đứt rời về mặt cấp máu Có đặc điểm chảy nhiều máu qua vết thương, rất khó cầm khi

sơ cứu (hay phải dùng garo), nhưng dễ tìm thấy và kiểm soát trong mổ

Vết thương bên nhỏ (<1/3 chu vi mạch): Ít gặp, có thể tiến triển theo hai

hướng nếu không được phát hiê ̣n và điều trị thương tổn ĐM sớm:

Trường hợp thường gặp: Mạch máu vẫn lưu thông bình thường và không hình thành huyết khối gây tắc mạch nhưng máu tiếp tục chảy ra ngoài lòng mạch qua vết thương, dần hình thành khối giả phồng động mạch

Trường hợp ít gặp: Tạm thời vẫn còn lưu thông dòng máu trong những giờ đầu tiên tương ứng vớ i dấu hiê ̣u mạch yếu trên lâm sàng Sau đó hình thành huyết khối gây tắc mạch, rất dễ bỏ sót gây thiếu máu chi nặng và hoại

từ đầu, cần can thiệp ngay hoặc theo dõi sát

Trang 34

1.3.3 Thương tổn vi thể [13], [16], [5], [30], [27]

Dựa trên cấu tạo của ba lớp áo động mạch

và màng ngăn chun ngoài đều bị tổn thương gây chảy máu ngoài lòng mạch Phân biệt hai loại:

thành mạch

Tổn thương lớp nội mạc- áo giữa: tổn thương cả lớp nội mạc và áo

máu thành mạch, có thể gây bóc tách lớp nội mạc-áo giữa kèm huyết khối lòng mạch

là làm rối loạn chức năng lớp tế bào nội mô (chuyển hóa, chống đông) dẫn tới tình trạng tăng đông, ngưng tập tiểu cầu Phân biệt hai loại tổn thương:

+ Vạt nội mạc nhỏ: phất phơ theo chiều dòng máu, thường không có biểu hiện lâm sàng (không mổ mà chỉ theo dõi lâm sàng, chụp động mạch, dùng chống đông để tránh hiện tượng dài đuôi huyết khối)

một vạt nội mạc dạng van gây huyết khối tắc mạch (trường hợp này phải mổ lấy huyết khối bằng Fogarty)

1.3.4 Sinh lí bệnh [18], [4]

Tổn thương mạch máu gây hậu quả rối loạn sinh lý tại chỗ và hệ thống Rối loạn hệ thống gây nên bởi tình trạng mất máu, nếu không được kiểm soát tốt sẽ gây nên sốc giảm thể tích Những tổn thương tại chỗ thường được quyết định bởi hình thái tổn thương động mạch và liên quan

Trang 35

đến cơ chế chấn thương Huyết khối gây cản trở dòng máu động mạch và

có thể gây nên thiếu máu chi bị tổn thương Khối máu tụ gây chèn ép các cấu trúc lân cận và gây đau Thêm vào đó nó chứa cục huyết khối có thể vỡ ra và gây tắc mạch ngoại biên, gây nên thiếu máu chi Mảng nội mạc bị bong có thể gây huyết khối cấp tính hay là nguồn gây nên tắc mạch ngoại biên

1.3.4.1 Thiếu máu ngoại vi:[7], [24], [12], [62], [67], [66]

Tổn thương đứt rời động mạch hay tắc mạch làm ngừng cấp máu đột ngột cho tuần hoàn ngoại vi qua đường động mạch chính nên chỉ còn nhờ vào hệ thống vòng nối Tuy nhiên trong thời gian ngắn, nếu hệ thống vòng nối chưa kịp phát triển để đảm bảo thay thế sẽ nhanh chóng dẫn đến thiếu máu cấp tính của tổ chức ở phía ngoại vi

Khi lớp nội mạc của động mạch bị tổn thương thì thiếu máu ngoại vi

là do huyết khối hình thành huyết khối gây tắc mạch Theo thời gian sự thiếu máu mô nặng dần lên, gây hủy hoại từng phần rồi toàn bộ chi, lan dần từ phía ngoại vi đến chỗ tổn thương động mạch Atterberry L.R [68] cho rằng giai đoạn thiếu máu chi có hồi phục diễn ra trong vòng 6 giờ sau khi bị thương, nếu kịp thời lập lưu thông mạch máu Nếu xử trí muộn sau 6 giờ, thiếu máu sẽ tiến triển từ không hồi phục từng phần đến toàn phần Đến giai đoạn này dù chi chưa bị hoại tử hoàn toàn nhưng chỉ phục hồi một phần và để lại di chứng nặng nề Thiếu máu chi đến 24 giờ thì tổn thương không hồi phục hoàn toàn

Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến cấp máu ngoại vi Trước hết thiếu máu chỉ phụ thuộc vào vị trí động mạch tổn thương Nếu tổn thương động mạch tổn thương dưới chổ chia các nhánh sẽ có nhiều nhánh lớn nên việc cung cấp máu ngoại vi sẽ tốt hơn Nếu vị trí tổ thương trên chổ chia các nhánh thì

sẽ hạn chế máu cung cấp cho ngoại vi Các tổn thương phối hợp như dập nát hoặc mất tổ chức phần mềm lớn thì hệ thống tuần hoàn bên bị mất làm

Trang 36

thiếu máu nặng hơn Khi tổn thương tĩnh mạch sẽ gây ứ trệ máu ngoại vi làm tăng phù nề tổ chức, nguy cơ hình thành hội chứng khoang gây cản trở sự tưới máu động mạch Cuối cùng tình trạng toàn thân người bệnh cũng đóng vai trò rất quan trọng, đặc biệt khi có sốc nặng sẽ ảnh hưởng đến nuôi dưỡng ngoại vi Theo Văn Đình Hòa giai đoạn đầu của sốc dưới tác dụng của stress chấn thương sẽ tăng tiết catecholamine gây co cơ thắt trước và sau mao mạch của cơ thể gây thiếu oxy mô trong đó có đoạn chi

bị tổn thương Do đó, thiếu máu tiến triển nhanh hơn do giảm tưới máu qua hệ thống tuần hoàn phụ Cuối cùng phương pháp cầm máu ban đầu bằng garo cũng làm tăng nguy cơ thiếu máu chi không hồi phục

Hậu quả của thiếu máu ngoại vi là hoại tử cơ Theo thống kê của Salazar [37], sự nhạy cảm với sự thiếu oxy của các loại tế bào là khác nhau

Ở chi, thần kinh bị tổn thương đầu tiên, tiếp đến là da mỡ và xương Nếu

tổ chức cơ thiếu máu sau 4 giờ, thần kinh thiếu máu sau 8 giờ, tổ chức mỡ thiếu máu sau 13 giờ, da sau 24 giờ, xương sau 4 ngày thì rất khó hồi phục khi được cấp máu lại Phạm vi tổn thương cơ sau 3 giờ, 4 giờ, 5 giờ là 2%, 30%, 90% Cơ bị hoại tử phần trung tâm nhiều hơn ngoại vi nên trên lâm sàng khó đánh giá ở giai đoạn đầu, sau 6 giờ tổn thương cơ chuyển sang giai đoạn không hồi phục

1.3.4.2 Hội chứng tái tưới máu [33], [36], [37], [60], [45]

Do quá trình chuyển hóa thiếu oxy kéo dài nhiều giờ cộng với đụng giập phần mềm lớn tại chi bị thiếu máu nên khi được cấp máu trở lại, các sản phẩm chuyển hóa từ quá trình hủy hoại cơ vân như Serum Glutamic Oxaloacetic Transaminase (SGOP), Lactate Dehydrogenase (LDH), Creatine Phosphokinase (CPK), Creatinkinase, myoglobine, Acid lactic, K+, H+ sẽ tràn vào máu đột ngột Nghiên cứu cho thấy nếu Kali máu tăng cao trên 7 mEq/l sẽ làm giảm tính chịu kích thích của cơ tim gây ngừng tim đột ngột

Trang 37

ở thì tâm trương Creatinkinase máu đạt > 1000 đv/l có thể gây rối loạn vận mạch trong thận, tắc và hoại tử ống thận là 2 cơ chế chính gây ra suy thận cấp Rối loạn vận mạch trong thận làm giảm tưới máu thận do hiện tượng giảm thể tích máu rất nhanh khi dịch bị tích lũy ở vùng cơ lớn bị tổn thương

và do mất máu Các tế bào biểu mô ống thận sẽ bị quá tải vì thiếu oxy và năng lượng, do đó rất dễ bị thoái hóa, hoại tử Tình trạng toan chuyển hóa do chuyển hóa thiếu oxy sẽ giải phóng ra acid lactic và các acid hữu cơ khác từ đó làm suy thận nặng thêm tạo ra vòng xoắn bệnh lý rất khó điều trị

Mennetrey[63] cho rằng sau khi được tái cấp máu, các chất trung gian hóa học làm tổn thương cơ, làm tăng tính thấm thành mạch, thoát dịch và protein vào khoang gian bào Hậu quả là phù nề trong cơ và các cơ có các khoang được giới hạn bởi các cân ít chun giãn làm áp lực trong khoang tăng lên và xuất hiện hội chứng khoang Hội chứng khoang cản trở tưới máu chi tạo thành vòng xoắn bệnh lý rất khó hồi phục Ở chi dưới hay gặp ở cẳng chân

Hội chứng khoang [43], [45], [67]

trong một khoang cơ, giới hạn ngoài là xương, màng xương, cân, da…không thể chun giãn, dẫn đến ngừng tưới mao mạch, thiếu máu và hoại tử các cơ, thần kinh trong khoang đó Trong chi thể có các khoang sau: khoang cẳng chân, đùi, bàn tay, cẳng tay…Theo Mubarack và Carroll, áp lực khoang bình thường dao động từ 0-8mmHg Hội chứng khoang xảy ra khi áp lực đạt trên

30 mmHg [24]

1.4 Chẩn đoán chấn thương, vết thương động mạch ngoại vi

Chẩn đoán chủ yếu dựa vào lâm sàng, thăm dò chính là siêu âm Doppler mạch Chụp cắt lớp mạch chi và chụp ĐM chỉ áp dụng cho những

Trang 38

1.4.1.Chẩn đoán lâm sàng [13], [18], [27], [29], [14]

Gồm nhiều triê ̣u chứng khác nhau nhưng hầu hết đều đưa ra các cách xếp loại sau

- Có tác nhân gây chấn thương, vết thương ĐM: Chi thể bị chấn thương gián tiếp do gãy xương, trâ ̣t khớp (vùng gối hoặc vùng khuỷu) hoặc chấn thương trực tiếp do va đập mạch vào vùng đường đi của mạch máu Hoặc chi thể bị đâm bằng vật nhọn hay hỏa khí

- Tại chỗ: Bệnh nhân bị sưng nề bầm tím chi tổn thương hoặc thấy vết thương chảy nhiều máu hoặc máu phun thành tia sau tai nạn

- Cảm giác: Đau, tê bì, giảm cảm giác ngọn chi Nặng hơn là mất hoàn toàn cảm giác chi do tắc ĐM hoặc có tổn thương thần kinh phối hợp

- Vận động: Giảm hoặc mất vâ ̣n động chi do gãy xương, đụng dâ ̣p

Triê ̣u chứng toàn thân

- Sốc chấn thương thường gặp trong chấn thương ĐM kèm theo gãy xương lớn (xương đùi) hoặc trong bê ̣nh cảnh đa chấn thương làm che lấp tổn thương mạch máu

đa chấn thương đi kèm trong chấn thương ĐM (ngực, bụng, gãy xương chậu)

Triê ̣u chứng thực thể

- Dấu hiệu tại chỗ của tổn thương ĐM

+ Sưng nề, bầm tím do đụng dập và tụ máu dướ i da, trong cơ, trong phần mềm trên đường đi của ĐM (ảnh 1.2.B) hoặc biến dạng lệch trục chi nếu có gãy xương – trật khớp (ảnh 1.2.A)

Trang 39

Ảnh 1.2 Hình ảnh CTĐM khoeo có đụng dâ ̣p và tụ máu vùng khoeo

BN: Nguyễn Văn P MBA 87276

+ Có vết thương nằm trên đường đi của ĐM hoặc hướng của vết thương tới đường đi ĐM

+ Vết thương chảy máu nhiều hoặc phun thành tia khi mở băng kiểm tra

điển hình thấy khối máu tụ đập theo nhịp tim, giãn nở

- Dấu hiệu thiếu máu ngoại vi:

+ Trong giai đoạn thiếu máu còn hồi phục (<6 giờ): mạch ngoại vi mất, chi nhợt, lạnh, rối loạn vận động và cảm giác, tuần hoàn mao mạch kém

+ Trong giai đoạn thiếu máu không hồi phục một phần: Xuất hiện dấu hiệu sưng nề đau bắp cơ

+ Trong giai đoạn thiếu máu không hồi phục hoàn toàn: có mất vận động

và cảm giác, cứng khớp tử thi, ngọn chi tím đen (ảnh 1.3A,B), xuất hiện

Ảnh 1.3: Hình ảnh thiếu máu đứt ĐM khoeo BN: Đỗ Quang V MBA:147067

Trang 40

 Hội chứng khoang [30], [23], [24]: Chẩn đoán dựa vào các triệu

chứng sau:

tổn thương, đau tồn tại liên tục dù đã cắt bỏ băng, tháo bột

+ Đoạn chi thương tổn nắn rất căng, đau, tăng cảm giác

+ Tê bì, giảm hoặc mất cảm giác (khám khi bệnh nhân tỉnh)

tử thần kinh, cơ)

+ Mạch ngoại vi thường là còn, nếu mất phải nghĩ ngay đến thương tổn động mạch Rất ít trường hợp mất mạch do áp lực khoang tăng lên quá cao, nếu mất mạch ngoại vi là có tổn thương thần kinh-cơ không hồi phục

+ Da tím hoặc nhợt do cản trở dòng máu tĩnh mạch về hoặc ngừng dòng máu động mạch

Mọi trường hợp nghi ngờ hội chứng khoang đều nên đo áp lực khoang để khẳng đi ̣nh chẩn đoán, đặc biê ̣t ở bệnh nhân có rối loạn tri giác, tổn thương tủy sống hoặc thần kinh ngoại vi chi phối chi đó

Ngày đăng: 24/05/2020, 14:43

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w