1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Dịch tễ học và thống kê ứng dụng trong nghiên cứu khoa học

175 124 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 175
Dung lượng 4,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sau khi giải đáp thoả đáng 4 câu hỏi trên, người ta tiến hành cho điểm để đánh giá tính xác đáng của vấn đề nghiên cứu với thang điểm cho tiêu chuẩn này được tính như sau: 0 = Không xác

Trang 3

LỜI GIỚI THIỆU

Dịch tễ học trong những năm gần đây phát triển rất nhanh chóng, nhất là về khía cạnh phương pháp học Phương pháp dịch tễ học đã được ứng dụng ngày càng rộng rãi trong nghiên cứu lâm sàng cũng như nghiên cứu sức khoẻ cộng đồng

Nhằm mục đích nâng cao chất lượng cho đội ngũ cán bộ giảng dạy, trong những năm gần đây Trường Đại học Y Thái Bình đã cử hàng trăm lượt cán bộ đi tập huấn, học sau đại học tại Hà Nội Ngoài ra, Nhà trường cũng đã tổ chức một số lớp tập huấn về Phương pháp Nghiên cứu khoa học cho cán bộ tại trường, do vậy chất lượng các công trình nghiên cứu khoa học ngày càng được nâng lên, góp phần nâng cao hiệu quả đào tạo và chăm sóc sức khoẻ nhân dân

Được thành lập năm 1968, đến nay Trường Đại học Y Thái Bình vừa tròn 30 tuổi Với thời gian chưa nhiều, từ nhận thức đúng đắn về vai trò quan trọng của công tác NCKH và lao động sản xuất theo ngành nghề, Trường đã thực hiện thành công nhiều đề tài theo định hướng của trường và của ngành có giá trị thực tiễn cao, góp phần chăm sóc sức khoẻ cho nông dân ở nông thôn đồng bằng Bắc bộ trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Để phục vụ cho các lớp đào tạo, đào tạo lại của Nhà trường, đồng thời giúp cho cán bộ trong và ngoài trường có thêm tài liệu tham khảo trước khi xây dựng đề cương nghiên cứu khoa học, chúng tôi xin giới thiệu cuốn sách ―Dịch tễ học và thống kê ứng dụng trong nghiên cứu khoa học‖ được biên soạn với sự hợp tác giữa Phòng Quản lý khoa học trường Đại học Y Thái Bình và Trung tâm Dịch tễ học lâm sàng trường Đại học Y khoa Hà Nội Cuốn sách đã tập trung giới thiệu về những vấn đề cơ bản theo 4 chủ đề chính:

- Phương pháp xây dựng đề cương nghiên cứu

- Phương pháp thiết kế nghiên cứu

- Phương pháp thống kê trong nghiên cứu

- Phương pháp viết báo cáo tổng kết đề tài

Hy vọng cuốn sách sẽ đáp ứng được phần nào nhu cầu của bạn đọc

Lần đầu tiên xuất bản, sẽ không tránh khỏi thiếu sót, chúng tôi rất mong được sự góp ý của các cán bộ khoa học trong và ngoài trường Chúng tôi xin chân thành cảm ơn

PGS PTS Trần Văn Quế

Trang 4

MỤC LỤC Trang

1- Phương pháp chuẩn bị đề cương nghiên cứu khoa học 7

PTS Phạm Ngọc Khái 2- Giới thiệu sơ lược về các loại thiết kế nghiên cứu dịch tễ học 25

PGS.PTS Dương Đình Thiện 3- Phương pháp nghiên cứu ngang 31

PGS.PTS Dương Đình Thiện 4- Phương pháp nghiên cứu thuần tập 46

ThS Nguyễn Trần Hiển 5- Phương pháp nghiên cứu bệnh chứng 59

ThS Nguyễn Trần Hiển 6- Thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng 69

PGS.PTS Dương Đình Thiện, PTS Phạm Ngọc Khái 7- Quần thể và mẫu nghiên cứu 93

ThS Lưu Ngọc Hoạt, PTS Phạm Ngọc Khái 8- Xác định các biến số trong nghiên cứu 119

ThS Lưu Ngọc Hoạt 9- Thiết kế một số công cụ thu thập số liệu 125

ThS Lưu Ngọc Hoạt 10-Phân tích và trình bày các số liệu của nghiên cứu định tính 131

ThS Lưu Ngọc Hoạt, ThS Hoàng Thị Hoa

11- Phân tích số liệu với các biến định tính và định lượng 141

ThS Lưu Ngọc Hoạt, PTS Phạm Ngọc Khái 12- Lựa chọn các test Ihống kê thích hợp trong phân tích số liệu nghiên cứu 157

ThS Lưu Ngọc Hoạt

13- Trình bày các kết quả nghiên cứu 162

ThS Lưu Ngọc Hoạt 14- Cách viết một báo cáo khoa học 171

PTS Phạm Ngọc Khái, ThS Hoàng Thị Hoa

Trang 5

Dưới đây xin nêu 1 số nét khái quát về NCKH:

1.1 - ĐỊNH NGHĨA VỀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

NCKH là sự tìm tòi nhằm phát hiện quy luật của sự vật và hiện tượng và/hoặc vận dụng quy luật để tạo dựng nguyên lý công nghệ

1.2- MỤC ĐÍCH CỦA NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

- Nhận thức thế giới, phát triển kho tàng trí thức của nhân loại, mở mang kiến thức

xã hội

- Tạo ra công nghệ, nâng cao năng suất và trình độ văn minh của xã hội trong tất cả các lĩnh vực XH

- Mở mang dân trí, nâng cao văn hóa xã hội, hoàn thiện con người

1 3- CÁC BƯỚC CỦA NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

- Xác định tính cấp thiết của vấn đề

- Nhận dạng các vấn đề nghiên cứu

- Nêu giả thuyết khoa học

- Đặt ra mục tiêu nghiên cứu

- Xác định đối tượng, phạm vi nghiên cứu

- Lựa chọn phương pháp, thiết kế quá trình nghiên cứu

- Thu thập dữ liệu nghiên cứu

- Xử lý, phân tích số liệu

- Thẩm tra lại hiện trường

- Viết báo cáo tổng kết, nghiêm thu

1.4- NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CÓ 9 ĐẶC ĐIỂM DƯỚI ĐÂY

- Bao giờ cũng hướng tới cái mới

- Có tính tin cậy cao: lặp lại được những kết quả đúng như đã công bố

- Có tính thông tin

Trang 6

- Có tính mạo hiểm vì có thể gặp rủi ro, thất bại cũng phải tổng kết, và được coi là kết quả nghiên cứu

- Có tính kế thừa

- Có tính cá nhân

- Có tính phi kinh tế, khó khấu hao trang thiết bị

- Rất khó tìm ra các định mức

- Rất khó tìm ra tiêu chuẩn để định giá sản phẩm

Sau khi người nghiên cứu đã lựa chọn được 1 một công trình (1 đề tài) nghiên cứu khoa học cho mình, muốn tiến hành nó thì trước hết phải xây dựng được bản đề cương nghiên cứu khoa học Muốn làm được bản đề cương phải qua một quá trình lao động trí tuệ nghiêm túc, tỉ mỉ, cụ thể Bản để cương NCKH hoàn thành cũng được coi là 1 dạng sản phẩm ban đầu của quá trình NCKH

1.5- HÌNH THỨC TRÌNH BẦY CỦA 1 BẢN ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU

Hình thức trình bầy một bản đề cương nghiên cứu nhiều khi lại phụ thuộc vào bản mẫu của cơ quan quản lý, đầu tư cho nghiên cứu đó Nhưng nói chung thì đề cương NCKH thường có 1 số phần như sau:

- Phần hành chính: tên đề tài, tên và địa chỉ cơ quan quản lý, tên và địa chỉ cơ quan chủ trì, họ tên và địa chỉ chủ nhiệm đề tài, thời gian thực hiện, các cơ quan và cán bộ tham gia chính

- Đặt vấn đề

- Các giả thuyết của đề tài

- Mục tiêu nghiên cứu

- Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

- Nhu cầu thị trường, địa chỉ ứng dụng

- Triển vọng ứng dụng kết quả nghiên cứu

- Nhu cầu hợp tác quốc tế

- Các dạng sản phẩm, kết quả tạo ra

- Yêu cầu khoa học đối với sản phẩm

- Kế hoạch nghiên cứu

- Dự toán kinh phí đề tài

- Những điều kiện khả thi của đề tài (Assumpions of the study)

Dưới đây, chúng tôi chỉ phân tích 1 số phần chính trong quá trình chọn đề tài và viết

đề cương nghiên cứu khoa học

2- PHƯƠNG PHÁP CHỌN ĐỂ TÀI NGHIÊN CỨU

Muốn lựa chọn được 1 đề tài nghiên cứu để có thể bắt tay vào viết đề cương nghiên cứu thường phải trải qua các bước:

Tham khảo tư liệu khoa học có liên quan

Phân tích vấn đề nghiên cứu

Lựa chọn ưu tiên cho 1 chủ đề nghiên cứu

Trang 7

2.1- TRA CỨU CÁC TƯ LIỆU KHOA HỌC CÓ LIÊN QUAN

2.1.1- Đây là phần việc rất quan trọng, góp phần cho sự thành công của công trình nghiên cứu

Việc tra cứu các tài liệu tham khảo phải trở thành công việc thường xuyên đối với cán bộ khoa học Nó diễn ra trước khi nghiên cứu, trong khi làm đề cương nghiên cứu, trong khi tổ chức triển khai đề tài và ngay cả khi ngồi viết báo cáo tổng kết đề tài

Trước hết phải tìm hiểu tất cả các tư liệu có liên quan bao gồm cả tài liệu trong nước và tài liệu ngoài nước và cả những thông tin riêng chưa công bố, của các nhà khoa học đang nghiên cứu những vấn đề có liên quan tới đề tài của mình

Cần phải có ý thức tiếp thu hết sức nghiêm túc và khách quan, không nên có định kiến trước với bất kì một thông tin nào Chắc chắn không một nhà khoa học nào có thể thành đạt được, nếu không biết kế thừa trí tuệ của những người đã làm trước mình về những vấn đề

có liên quan đến việc mình sắp làm

2.2.2 Khi tham khảo tài liệu cần tổng hợp và xử lý thông tin để trả lời 10 câu hỏi dưới đây

- Những ai đã quan tâm đến vấn đề này?

- Họ đã làm những gì?

- Họ nghiên cứu bao giờ?

- Họ nghiên cứu ở đâu?

- Họ nghiên cứu trong điều kiện như thế nào?

- Phương pháp nghiên cứu của họ như thế nào?

- Họ thành công đến đâu?

- Trong những mục đích nghiên cứu có mục đích nào chưa đạt được?

- Tại sao mục đích đó chưa đạt được?

- Những gì họ chưa quan tâm giải quyết?

2.2.3 Một số khả năng có thể sảy ra khi tham khảo tài liệu

Trong quá trình tổng hợp và sử lý thông tin nhà khoa học phải vận dụng tối đa trí tuệ, tầm nhìn, sự phán đoán của mình để đề ra những giả thuyết làm việc thích hợp và sáng tạo Từ đó chúng ta có thể sẽ gặp 1 trong các khả năng dưới đây:

* Nhiều khi sẽ tìm ra những điều lý thú, mở đường cho sự thành công của chúng ta Trong thực tế, không ít những tư liệu khoa học của những tác giả đã chứa đựng những nhân

tố, những tiền đề khám phá, xác minh những sự việc và bản chất sự việc, nhưng những tác giả ấy vì những lý do nào đó đã không quan tâm và vô tình bỏ qua

* Cũng có thể phải kiểm định lại 1 vài kết quả nghiên cứu trước đó của mình hoặc tác giả khác với những phương pháp mới, kỹ thuật mới, môi trường (xã hội, tự nhiên)

Trang 8

* Cũng có thể phải từ bỏ việc đề xuất nội dung nghiên cứu của mình vì vấn đề nêu

ra để nghiên cứu thì đã được các tác giả giải quyết 1 cách thỏa đáng

Chú ý: Không được coi nhẹ khâu thu thập tư liệu khoa học hoặc chỉ xem qua một

vài tài liệu và làm việc theo một định hướng chủ quan của mình Những công trình như vậy thường không đủ tính thuyết phục hoặc lặp lại những nghiên cứu trước đây, ít tính hiệu quả

2.2 PHÂN TÍCH VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU:

2.2.1- Tại sao phải phân tích vấn đề?

Trước khi quyết định lựa chọn đề tài nghiên cứu nhất thiết phải phân tích vấn đề nghiên cứu, bởi vì công việc này sẽ giúp chúng ta:

- Định rõ hướng cần tập trung trong vấn đề nghiên cứu

- Làm rõ các yếu tố liên quan đến vấn đề nghiên cứu

- Giúp quyết định trọng tâm và phạm vi nghiên cứu

2.2.2- Các bước phân tích vấn dề:

a)- Bước 1- Làm rõ vấn đề nghiên cứu

Vấn đề nghiên cứu thường được các nhà quản lý, các chủ nhiệm đề tài đưa ra lúc đầu thường ở dạng chung chung, ví dụ như:

Ví dụ 1: Tình hình chấn thương nông nghiệp ở tỉnh Thái Bình trong mấy năm gần đây

Ví dụ 2: Điều trị bệnh A

Khi vấn đề được nêu ra dưới dạng chung chung như trên, không thể tiến hành nghiên cứu ngay được vì không có phương huớng cụ thể Ta cần liệt kê tất cả các khía cạnh có liên quan đến vấn đề theo kinh nghiệm và hiểu biết của bản thân cũng như của những người cùng tham gia nghiên cứu hoặc những người quan tâm và hiểu biết về vấn

đề này

Chẳng hạn, từ vấn đề được nêu ra một cách chung chung ở ví dụ 1, người nghiên cứu có thể liệt kê ra 1 số vấn đề cụ thể như sau:

Số lượng bệnh nhân tăng nhanh

Số bệnh nhân tử vong cao hơn hẳn các năm trước

Mức độ chấn thương nặng hơn

Các loại nguyên nhân ngày càng phong phú hơn

b)- Bước 2 - Cụ thể hoá và mô tả rõ hơn vấn đề, xác định mấu chốt, lựa chọn trọng tâm và lượng hoá vấn đề

Sau khi xác định vấn đề nghiên cứu, cần phải mô tả vấn đề theo 3 khía cạnh dưới đây:

- Bản chất của vấn đề là gì?

Trang 9

- Sự phân bố của vấn đề: Ai (hoặc cái gì) ảnh hưởng ai (hoặc cái gì)? Khi nào? Bao giờ?

- Tầm cỡ của vấn đề: Có rộng lớn không? Có quan trọng không? Hậu quả (hay hiệu quả) ra sao?

Trong ví dụ 1 ở trên, người nghiên cứu có thể xác định trọng tâm nghiên cứu là: Số

tử vong cao hơn hẳn các năm trước

c)- Bước 3 - Phân tích vấn đề

Để có thể có được 1 cái nhìn tổng thể về toàn bộ vấn đề thì cần phân tích để xác

định được các yếu tố đóng góp vào vấn đề, làm rõ mối quan hệ giữa vấn đề nghiên cứu và

các yếu tố ảnh hưởng Trên cơ sở đó chúng ta có thể vẽ ra được 1 sơ đồ phân tích vấn đề

Các bước để lập ra 1 sơ đồ có thể gồm có:

- Xác định trọng tâm

- Xác định các yếu tố trực tiếp liên quan đến vấn đề

- Biểu diễn mối quan hệ giữa vấn đề nghiên cứu với các yếu tố liên quan cũng như mối quan hệ giữa các yếu tố liên quan với nhau Với các nghiên cứu mô tả thì người ta thường chỉ dừngviệc phân tích vấn đề ở mức độ này

- Phát hiện thêm những yếu tố liên quan gián tiếp, tìm ra những nguyên nhân sâu xa của vấn đề, từ đó lựa chọn biện pháp can thiệp cho thích hợp để giải quyết vấn đề

Chú ý:

- Để hình thành sơ đồ vấn đề nghiên cứu cần có sự hiểu biết đầy đủ về toàn bộ vấn

đề, cần tham khảo ý kiến của những người có kinh nghiệm và hiểu biết trong các lĩnh vực

có liên quan, có như vậy, sơ đồ mới tránh được sự phiến diện, chủ quan và mới có tính khoa học và thực tiễn

- Sau khi phân tích vấn đề nghiên cứu, nếu thấy vấn đế phức tạp và có nhiều yếu tố liên quan, ta cần xác định và vạch ra giới hạn cho các chủ đề nghiên cứu nhỏ hơn Nếu sau khi giới hạn vẫn thấy còn nhiều chủ đề nghiên cứu thì cần lựa chọn nghiên cứu theo các tiêu chuẩn ưu tiên

2.3 MỘT SỐ TIÊU CHUẨN ĐỂ ƯU TIÊN CHỌN ĐỀ TÀI

Đôi khi người nghiên cứu thường đứng trước 1 số ý tuởng khoa học cần được làm sáng tỏ, vì vậy họ phải ưu tiên lựa chọn lấy 1 đề tài nghiên cứu Mặt khác, ngay khi người nghiên cứu chỉ đưa ra 1 chủ đề nghiên cứu thì vẫn cần phải xét để lựa chọn ưu tiên giữa nghiên cứu của người này với nghiên cứu của người kia Thậm chí ngay cả khi chỉ đứng trước 1 vấn đề của 1 người đưa ra cũng vẫn phải xét xem có cần ưu tiên cho nghiên cứu đó hay không

Vì vậy việc lựa chọn này cần được cân nhắc kỹ lưỡng Thường có nhiều tiêu chuẩn khác nhau để ưu tiên lựa chọn, đồng thời người ta cũng đã đưa ra thang điểm để lượng giá

sự ưu tiên lựa chọn một chủ đề nghiên cứu:

Trang 10

* Vấn đề đó có cần thiết đến mức phải can thiệp không?

Sau khi giải đáp thoả đáng 4 câu hỏi trên, người ta tiến hành cho điểm để đánh giá tính xác đáng của vấn đề nghiên cứu với thang điểm cho tiêu chuẩn này được tính như sau:

0 = Không xác đáng

1= Xác đáng

2 = Rất xác đáng

2.3.2- Tránh lặp lại (Avoidance of duplication)

Trước khi quyết định thực hiện một nghiên cứu, điều quan trọng là phải biết vấn đề nghiên cứu đó đã có ai nghiên cứu chưa, nghiên cứu ở khu vực nào, trong điều kiện nào, kết quả đạt được tới đâu,

Thang điểm cho tiêu chuẩn này được tính như sau:

0 = Đã có sẵn những thông tin một cách đầy đủ

đã có từ trước Như vậy có thể hạ thấp được giá thành của nghiên cứu Những điều kiện này

sẽ đảm bảo tính khả thi của đề tài nghiên cứu

Thang điểm cho tiêu chuẩn này được tính như sau:

0 = Nghiên cứu không thể khả thi dựa vào nguồn vốn (nhân, vật lực, trang thiết bị

kỹ thuật) sẵn có

1 = Nghiên cứu có tính khả thi dựa vào các nguồn vốn sẵn có

2 = Nghiên cứu rất khả thi dựa vào các nguồn vốn sẵn có

2.3.4- Sự chấp nhận của chính quyền và cơ quan quản lý đề tài (Political acceptability)

Mọi nghiên cứu đều phải căn cứ vào chiến lược phát triển Khoa học công nghệ

của cả nước, của ngành trong từng giai đoạn phát triển của nền kinh tế xã hội để lựa chọn đề tài nghiên cứu, có thể góp phần giải quyết 1 vấn đề nào đó theo nhu cầu của ngành, của khu vực, Có như vậy đề tài mới có thể dễ được các cơ quan Nhà nước xét

Trang 11

hỗ trợ kinh phí, các cấp chính quyền sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho phép triển khai nghiên cứu

Thang điểm cho tiêu chuẩn này được tính như sau:

0 = Chủ đề không được sự chấp nhận của các nhà lãnh đạo

1 = Chủ đề được chấp nhận có mức độ của các nhà lãnh đạo

2 = Chủ đề được chấp nhận hoàn toàn

2.3.5-Tính ứng dụng của các kết quá có thể đạt được (Applicability)

Khi xem xét giá trị của nghiên cứu là không thể không quan tâm đến ý nghĩa thực tiễn của đề tài Nhất là trong điều kiện của nước ta hiện nay thì những để tài nghiên cứu ứng dụng, nghiên cứu triển khai luôn luôn thu hút được sự quan tâm của các nhà đầu tư Ngay cả với những nghiên cứu cơ bản cũng cần xét đến tính ứng dụng của các kết quả có thể đạt được

Chúng ta cần phải trả lời một số câu hỏi khi lựa chọn nghiên cứu:

- Liệu những thông tin thu thập được từ nghiên cứu này có giúp gì cho việc cải thiện sức khoẻ nhân dân không?

- Ai sẽ sử dụng những kết quả của nghiên cứu này?

- Những kết quả nghiên cứu này sẽ được sử dụng như thế nào?

Thang điểm cho tiêu chuẩn này được tính như sau:

0 = Chủ đề không có cơ hội ứng dụng

1 = Chủ đề có một vài cơ hội để ứng dụng

2 = Chủ đề có cơ hội tốt để ứng dụng

2.3.6-Tính bức thiết của vấn đề nghiên cứu (Urgency)

Khi các nhà quản lý làm kế hoạch hoạt động Khoa học công nghệ, thường phải gắn liền với kế hoạch của các ngành, cơ quan, các cấp chính quyền Có những kế hoạch KHCN mang -tính chiến lược cho một giai đoạn, trên cơ sở đó có thể hoạch định ra những kế hoạch cụ thể cho từng năm, 2 năm, 2-5 nãm,

Vậy nghiên cứu này có cấp thiết cho các kế hoạch trên không? Có cấp thiết trước nhu cầu hay trước một vấn đề nào đó của thực tiễn khách quan hay không?

Khi xác định tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu cũng cần lưu ý đến khả năng hoàn thành đề tài trong khoảng thời gian là bao lâu?

Thang điểm cho tiêu chuẩn này được tính như sau:

0 = Thông tin không đòi hỏi tính cấp thiết

1 = Các thông tin cần được sử dụng ngay nhưng không loại trừ sau đó một vài tháng

2 = Các số liệu rất cần thiết cho việc quyết định những giải pháp

2.3.7- Sự chấp nhận đạo đức (Ethical acceptability)

Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu khoa học phải luôn luôn được coi trọng Trong mỗi một nghiên cứu, nhất là những nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng, những nghiên cứu can thiệp, những nghiên cứu về một thuốc mới, về một phác đồ điều trị mới, cần phải xét đến vấn đề đạo đức trong nghiên cứu

Trang 12

Trong những nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng có đối chứng, người nghiên cứu cần cân nhắc xem có gì nguy hại, có gì thiệt thòi cho những bệnh nhân được xếp vào lô đối chứng hay không và do vậy mà phải lựa chọn hướng nghiên cứu để có thể trả lời là: không! Ngược lại cũng cần phải đặt vấn đề an toàn cao nhất cho những đối tượng được áp dụng một phác đồ điều trị mới hay một thuốc mới,

Thang điểm cho tiêu chuẩn này được tính như sau:

0 = Ở đây có vấn đề đạo đức lớn, không được cộng đồng chấp nhận, cần được quan tâm xem xét lại

1 = Có một vấn đề nhỏ về đạo đức

2 = Không có vấn đề gì về đạo đức

Chú ý: Khi lựa chọn ưu tiên nghiên cứu cần đặc biệt cân nhắc một số điểm sau

- Nếu đã có 1 trong 7 tiêu chuẩn trên chỉ đạt 0 điểm thì đề cương nghiên cứu cũng cần thiết phải xem xét lại

- Thông tin này liệu có ích cho cải thiện tình hình?

- Ai sẽ sử dụng những kết quả nghiên cứu này?

- Những kết quả này sẽ được sử dụng như thế nào?

- Liệu việc đề tài được thực hiện trong 1 khoảng giới hạn về thời gian, kinh phí, vật

tư, nhân lực, là có khả thi hay không?

- Đã có thông tin liên quan đến nghiên cứu hay chưa? Độ tin cậy của thông tin đó?

- Có yếu tố nào đã từng được nghiên cứu? Có yếu tố nào cần nghiên cứu lại? Nghiên cứu thêm về 1 khía cạnh nào đó

3- PHƯƠNG PHÁP ĐẶT VẤN ĐỀ

3.1 LÀ PHẦN ĐẦU TIÊN CỦA ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU

Mở đầu cho mọi đề cương nghiên cứu bao giờ cũng là ―Đặt vấn đế‖ Đây là phần rất quan trọng vì:

- Là cơ sở để phát triển các phần khác của bản đề cương nghiên cứu

- Tạo điều kiện để cán bộ nghiên cứu tìm kiếm thông tin về nghiên cứu khác có thể

có ích cho nghiên cứu của mình

- Cán bộ nghiên cứu có thể trình bày một cách hệ thống, rõ ràng về lý do nghiên cứu và những hy vọng kết quả sẽ đạt được qua nghiên cứu

3.2- NHỮNG THÔNG TIN NÀO CẦN NÊU TRONG PHẦN ĐẶT VẤN ĐỀ

3.2.1- Tóm tắt tình hình chung

Mô tả bối cảnh của vấn đề cần nghiên cứu và cần nêu ra một vài con số thống kê có tính chất minh hoạ

3.2.2- Tóm tắt các nghiên cứu trước

Trang 13

Cần phải mô tả tóm tắt các nghiên cứu ở trong nước và ở nước ngoài mà chúng có liên quan đến đề tài dự kiến nghiên cứu Nếu là các biện pháp can thiệp đã được nghiên cứu thì nêu rõ kết quả, lý do nghiên cứu tiếp? - Trong đó có cả những điểm còn bỏ ngỏ từ các nghiên cứu trước đó

3.2.3 Sự cần thiết, tầm quan trọng của nghiên cứu

Mô tả đẩy đủ bản chất của vấn đề, tầm cỡ của vấn đề (Phạm vi nghiên cứu có rộng không? Nghiên cứu có quan trọng? Có hiệu quả như thế nào?)

Mô tả sự phân bố của vấn đề (Ai, ở đâu chịu ảnh hưởng? Khi nào? Bao lâu? Hậu quả của ảnh hưởng? Liên hệ với hệ thống y tế như thế nào?)

3.2.4 Nêu vấn đề

Phân tích các yếu tố liên quan chính, để thuyết phục người đọc rằng ―những dẫn liệu và hiểu biết sẵn có là không đủ để giải quyết vấn đề‖

3.2.5 Mô tả loại kết quả

Nêu tóm tắt những kết quả dự kiến đề tài sẽ thu được, cách sử dụng kết quả này để giải quyết vấn đề

3.2 6 Danh sách ngắn các khái niệm

Nếu có những khái niệm cơ bản sử dụng trong nghiên cứu thì có thể đưa vào trong phần đặt vấn đế (trong 1 số nghiên cứu, nếu thấy cần thiết)

4- PHƯƠNG PHÁP NÊU GIẢ THUYẾT

Trong mỗi nghiên cứu thường phải nêu ra 1 hoặc 1 số giả thuyết của nghiên cứu đó (Hypotheses of the study) Việc nêu giả thuyết thường dựa vào kinh nghiệm của bản thân nhà nghiên cứu cùng với những kết quả thu được trong quá trình chọn đề tài ở trên và rồi nhà khoa học lại đi tìm cách để kiểm định nó

Khi nêu giả thuyết của đề tài bao giờ cũng cần chú ý tới mục đích của nghiên cứu Giả thuyết cũng luôn có liên quan đến mục tiêu nghiên cứu bởi vì các giả thuyết này cần được nêu ra để định hướng cho nghiên cứu

Để cho đề tài có tính khả thi, có thể nghiệm thu đúng kế hoạch thì số lượng giả thuyết cần kiểm định trong mỗi đề tài có thể chỉ có 1 hoặc có nhiều hơn, nhưng không nên quá nhiều Số lượng giả thuyết cần kiểm định trong mỗi đề tài cũng còn phụ thuộc vào quy

mô tổ chức nghiên cứu, khả năng, của cơ quan chủ trì, khả năng của chủ nhiệm đề tài và các cộng sự

Vì chỉ là nêu giả thuyết nên khi viết nó thì thường phải dùng các từ, cụm từ hoặc câu có tính chất giả định trong mỗi một giả thuyết

Người ta thường nêu các giả thuyết dưới 2 loại là: giả thuyết nhân quả và giả thuyết thống kê

Trong đó loại giả thuyết nhân quả luôn luôn được trú trọng Trong mỗi giả thuyết loại này cần nêu rõ cả phần nguyên nhìn và phần hậu quả

Trang 14

* Dưới đây là một số ví dụ mô phỏng về giả thuyết:

- Có thể tình hình bệnh A ở Thái Bình đã giảm so với 10 năm trước đây

- Có thể làm giảm tỷ lệ mắc bệnh A nhờ biện pháp can thiệp B

- Tinh hình bệnh A tăng có lẽ do yếu tố Y

- Nếu có Z thì có thể dẫn tới tăng D một cách rõ rệt

* Chúng tôi xin nêu ra đây 1 ví dụ cụ thể:

Từ tháng 4-8/1998 với sự giúp đỡ của WHO và Bộ Y tế, Trường Đại học Y Thái Bình đã chủ trì tiến hành đề tài ―Evaluation of anli - malaria activites at the communal level along the Viet Nam - Lao bordder‖, trong đề cương nghiên cứu đã nêu ra 1 số giả thuyết nghiên cứu của đề tài là:

- Có thể trong kế hoạch đầu tư phòng chống sốt rét (PCSR) còn 1 số điểm chưa sát với nhu cầu thực tế đồng thời trong quá trình thực hiện lại không đúng kỳ hạn do vậy mà đầu tư tại cộng đồng có lúc thiếu, có lúc lại thừa

- Có thể mạng lưới cán bộ, cộng tác viên xã, thôn còn quá mỏng, chưa được đào tạo, đào tạo lại một cách đầy đủ, điều kiện làm việc không thuận lợi do vậy phần lớn cán bộ không đáp ứng được yêu cầu công tác

- Có thể phần lớn người trưởng thành chưa hiểu rõ về nguyên nhân, tác hại và phương pháp phòng chống sốt rét do vậy họ chưa tích cực tham gia phòng chống sốt rét

- Có thể có 1 số yếu tố kiến thức, văn hoá xã hội môi trường phản ánh tình trạng nghèo nàn lạc hậu ở vùng biên giới đã cản trở hiệu quả của chương trình PCSR

5- MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI

5.1 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU LÀ GÌ?

Mục tiêu của một nghiên cứu chính là phần tóm tắt nhất những gì mà nghiên cứu mong muốn đạt được

Mục tiêu cần liên quan chặt chẽ với phần đặt vấn đề Mục tiêu phải phù hợp với tên đề tài, với nhiệm vụ của công trình Tuy nhiên, chúng ta đều biết rằng, công tác nghiên cứu khoa học là một quá trình khó khăn phức tạp, không phải muốn sao được vậy, cho nên có khi ta cũng phải điều chỉnh mục tiêu cho thích hợp khi có vấn đề mới nảy sinh trong quá trình nghiên cứu

Mục tiêu phải được xác định sao cho phù hợp với với nội dung và khả năng giải quyết của đề tài, không thể nêu ra mục tiêu theo ý muốn chủ quan mà nội dung và khả năng của đề tài không thể giải quyết được

Mỗi đề tài nghiên cứu bao giờ cũng cần đưa ra được:

a)- Mục tiêu chung:

Mục tiêu chung còn được coi là mục tiêu tổng quát của đề tài, nên nêu khái quát điều mà nghiên cứu mong muốn đạt được Có thể tách mục tiêu tổng quát thành các phần nhỏ hơn, liên quan với nhau 1 cách logic Các phần này có thể coi là các mục tiêu cụ thể

b)- Các mục tiêu cụ thể:

Trang 15

Các mục tiêu cụ thể cần đề cập một cách có hệ thống, đầy đủ những khía cạnh khác nhau của vấn đề và các yếu tố chủ yếu được cho là ảnh hưởng đến hoặc gây ra vấn đề đó như đã xác định trong phần đặt vấn dề

Các mục tiêu cụ thể của nghiên cứu có thể chia thành 3 nhóm chính

* Nhóm 1: các mục tiêu nghiên cứu để lượng hoá vấn đề

* Nhóm 2: các mục tiêu nghiên cứu để cụ thể hoá vấn đề

* Nhóm 3: các mục tiêu nghiên cứu để khuyến nghị và giải pháp

5.2 CÁCH NÊU MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Cần chú ý đảm bảo cho mục tiêu nghiên cứu có thể:

- Đề cập đến tất cả các khía cạnh của vấn đề và các yếu tố liên quan một cách ngắn gọn, mạch lạc và logic

- Dùng các thuật ngữ rõ ràng, cụ thể, chỉ rõ ta sắp làm gì, ở đâu, và để làm gì

- Căn cứ vào tình hình thực tế của cơ sở nghiên cứu và áp dụng kết quả nghiên cứu

- Bao giờ cũng sử dụng các động từ hành động trong câu (VD: xác định, so sánh, tính toán, mô tả, thiết lập, đánh giá, ), tránh các từ chung, trừu tượngnhư tìm hiểu, nghiên

cứu,

5.3 ĐẶT TÊN CHO ĐỂ TÀI

Sau khi đã xây dựng song mục tiêu nghiên cứu ta mới có thể đặt tên cho đề tài nghiên cứu của mình Tên đề tài nên gắn với mục tiêu tổng quát

Tên đề tài phải được nêu ra một cách cụ thể, ngắn gọn, chính xác và khái quát bao hàm được nội dung nghiên cứu, không nêu ra một cách dài dòng, kể lể và cũng không nêu

ra những đầu đề trống rỗng, hoa mỹ, không phù hợp với nội dung nghiên cứu

Tuy nhiên, trên thực tế, nhiều khi tên đề tài nêu ra lúc đầu chỉ có định hướng, trong quá trình tiến hành nghiên cứu lại nảy sinh ra vấn đề mới, do đó phải điều chỉnh lại tên đề tài ở mức độ nhất định để phù hợp với nội dung nghiên cứu

6- PHƯƠNG PHÁP TRÌNH BẦY NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

6 1 - MỘT SỐ YÊU CẦU CHUNG

Muốn thực hiện đề tài nghiên cứu, cần phải xác định rõ những nội dung nghiên cứu cần thiết phải làm Trước mỗi nội dung nghiên cứu lại phải xác định được phương pháp nghiên cứu của nó, phải xác định những căn cứ khoa học, những chỉ số và thông số, số liệu

có liên quan trực tiếp và gián tiếp cần phải thu thập và tìm hiểu

Mỗi một nội dung có thể có nhiều phương pháp nghiên cứu, vì vậy cần phải xác định những phương pháp nghiên cứu chính và những phương pháp kèm theo Việc này là cực kỳ quan trọng, nếu xác định được phương pháp nghiên cứu thích hợp thì công trình nghiên cứu sẽ thành công, nếu phương pháp nghiên cứu không thích hợp thì kinh phí và công sức đầu tư cho công trình sẽ là vô ích, hoặc sẽ dẫn đến những kết quả giả tạo, hoặc chỉ

là những hiện tượng bề ngoài

Trang 16

Mỗi nghành khoa học sẽ có những phương pháp nghiên cứu khoa học riêng; Các nghành khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật, khoa học xã hội, khoa học y dược sẽ có những phương pháp tiếp cận vấn đề và phương pháp nghiên cứu khoa học mang tính đặc thù chủ yếu

Cần phải biết kết hợp một cách thông minh với những phương pháp có liên quan, để

hỗ trợ, để minh họa cho những kết quả nghiên cứu được đầy đủ, hoàn hảo và đáng tin cậy hơn Dĩ nhiên là trong phương pháp nghiên cứu phải bao hàm cả phương pháp đối chứng (nếu công trình cần có đối chứng)

Một điều cần phải chú ý, không nên nhầm nhầm lẫn phương pháp nghiên cứu với các biện pháp kỹ thuật Mỗi phương pháp nghiên cứu cần phải thực hiện hàng loạt các biện pháp kỹ thuật Khi đã xác định được phương pháp rồi thì việc thực hiện nghiêm túc các biện pháp kỹ thuật để thu thập tìm hiểu những căn cứ khoa học, những chỉ tiêu, những thông số có liên quan một cách chính xác là điều rất quan trọng

Những chỉ tiêu, thông số, số liệu thu lượm được là những căn cứ khoa học; qua quá trình xử lý, tổng hợp, tác giả có thể miêu tả được bản chất của sự vật hoặc hiện tượng: cần nghiên cứu, hoặc cũng có thể từ những kết quả nghiên cứu đã thu được mà suy luận ra những vấn đề tìm hiểu, hoặc xa hơn nữa có thể đưa ra những giả thuyết làm tiền đề cho những công trình nghiên cứu tiếp theo

6.2- CÁC PHẦN CẦN TRÌNH BẦY VỀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

6.2.1- Mô tả rõ về địa bàn nghiên cứu

Mỗi nghiên cứu cần nói rõ nghiên cứu ở đâu, những nét đặc trưng nhất của địa bàn nghiên cứu (điều kiện kinh tế, văn hoá, xã hội, tự nhiên, đặc điểm dân số )

Cũng cần nói rõ thời gian và không gian nghiên cứu Sự mô tả này càng trở nên cần thiết cho những đề tài được thực hiện trong khoảng thời gian dài, hoặc ở nhiều vùng sinh thái khác nhau

6.2.2 Đối tượng nghiên cứu

Cần mô tả rõ về đối tượng nghiên cứu, trong đó có những điểm chính cần mô tả là:

- Đối tượng nghiên cứu là ai? giới, tuổi (nếu cần có thể phải mô tả: đặc điểm sinh lý như phụ nữ có thai, phụ nữ cho con bú, trẻ em tuổi dậy thì, sức khoẻ, nghề, địa chỉ, )?

- Đối tượng nghiên cứu là cái gì ? Thời gian, không gian lấy mẫu (đặc điểm thời tiết, đặc điểm môi trường tự nhiên, xã hội?

- Đối tượng nghiên cứu được chia thành mấy nhóm (hoặc mấy lô)

- Các tham số quần thể (µ, δ2, δ, p, )

6.2.3 Phương pháp nghiên cứu

a)- Mô tả thiết kế nghiên cứu:

Trang 17

Mỗi đề tài đều cần có một thiết kế nghiên cứu rõ ràng và phù hợp với mục tiêu nghiên cứu Nếu có được một thiết kế đúng đắn và rõ ràng sẽ giúp ích cho quá trình tổ chức nghiên cứu đạt được mục tiêu nghiên cứu

b) Nêu rõ phương pháp chọn đối tượng nghiên cứu

- Mô tả rõ về phương pháp chọn mẫu, nếu quá trình chọn mẫu được tiến hành qua nhiều giai đoạn thì nên vẽ sơ đồ chọn mẫu để người đọc dễ hiểu

- Nếu trong nghiên cứu có nhiều nhóm đối tượng thì cần mô tả rõ phương pháp

chọn mẫu cho từng nhóm đối tượng đó

- Nêu công thức tính cỡ mẫu:

Trong một nghiên cứu có thể phải áp dụng 1 hay 1 số công thức tính cỡ mẫu cho phù hợp với thiết kế nghiên cứu

Cũng cần lưu ý rằng ngay khi chỉ dùng 1 công thức tính cỡ mẫu nhưng để chọn mẫu cho phù hợp với mỗi chỉ tiêu, kỹ thuật hoặc mỗi bước nghiên cứu thì cũng cần phải tính toán cỡ mẫu dựa theo các thông số của từng chỉ tiêu, từng kỹ thuật nghiên cứu,

c) Phương pháp thu thập số liệu

- Lựa chọn và mô tả các phương pháp nghiên cứu

- Mô tả các biện pháp kỹ thuật áp dụng trong từng phương pháp nghiên cứu

d) Phương pháp xử lý số liệu:

Cần mô tả rõ phương tiện kỹ thuật để xử lý số liệu nghiên cứu Ngày nay, phần lớn các nghiên cứu đều đã xử lý số liệu trên máy vi tính, nhưng cần nói rõ những ngôn ngữ nào được sử dụng để lập trình xử lý số liệu trên máy vi tính (EPI-ìno, STATA, SPSS,FOXPRO, ) I

Nêu ra những công thức và những thông số áp dụng trong các công thức đó trong quá trình tính toán, xử lý số liệu nghiên cứu:

- Tính các tham số mẫu (X, S2, S, p, )

- Các tính toán về yếu tố liên quan: OR, RR, I

- Các phép so sánh thống kê?

7- PHƯƠNG PHÁP XÂY DỰNG KẾ HOẠCH NGHIÊN CỨU

Mục đích của xây dựng kế hoạch nghiên cứu:

Là nhằm cụ thể hoá nội dung nghiên cứu thành các công việc cụ thể theo lịch trình nghiên cứu, có sự phân công nhiệm vụ nghiên cứu một cách rõ ràng cho các thành viên tham gia nghiên cứu, trong đó mỗi công việc cụ thể đều có dự kiến kết quả cụ thể phải đạt được trong một khoảng thời gian đã được ấn định theo lịch trình nghiên cứu

Ý nghĩa của xây dựng kế hoạch nghiên cứu:

Trang 18

- Giúp cho nhà khoa học dự kiến được các hoạt động cần thiết, các nguồn lực cần thiết cho nghiên cứu, bao gồm cả nguồn nhân lực, kinh phí, phương tiện, trang thiết bị và thời gian nghiên cứu

- Tạo cở sở cho việc dự toán kinh phí đề tài một cách phù hợp với nội dung nghiên

7.1 XÁC ĐỊNH CHỦ NHIỆM, CỐ VẤN, CÁN BỘ THAM GIA CHÍNH

Để thực hiện đề tài nghiên cứu, trước hết phải xác định chủ nhiệm đề tài, những người cộng tác và nơi thực hiện Trong đó cần phải xác đinh rõ trách nhiệm của người chủ trì và của từng cộng tác viên

Cần hiểu rõ vai trò và trách nhiệm của người chủ trì khác với người cố vấn Người chủ trì là linh hồn của người của quá trình nghiên cứu, có trách nhiệm đối với thành công hay thất bại của công trình nghiên cứu Người chủ nhiệm đề tài phải khởi thảo ra bản đề cương nghiên cứu, phải trực tiếp chỉ đạo các cộng tác viên hoặc trợ lý của mình trong từng phần việc cụ thể và phải điều hoà phối hợp một cách nhịp nhàng ăn khớp với nhau

Trước các cơ quan quản lý Nhà nước thì Chủ nhiệm đề tài là người trực tiếp chịu trách nhiệm về mọi phương diện có liên quan đến đề tài

Uy tín và kinh nghiệm là điều rất cần thiết của một nhà khoa học, nhưng nếu chỉ

có thế thì chưa đủ để làm nhiệm vụ chủ nhiệm một công trình nghiên cứu khoa học Người chủ nhiệm phải tổng hợp những tư liệu khoa học của các phần việc đã thu nhập được và phải trực tiếp viết bản tổng kết khoa học của công trình nghiên cứu

Còn cố vấn khoa học có thể đưa ra những gợi ý hoặc những lời khuyên và không

có hoặc có rất ít trách nhiệm về đề tài nghiên cứu Vì vậy người chủ nhiệm đề tài hay một công trình nghiên cứu phải là người am hiểu vấn đề dự định nghiên cứu, phải có những hiểu biết vững vàng về phương pháp nghiên cứu khoa học và biết các điều hành một công trình nghiên cứu

Các cán bộ tham gia chính trong mỗi đề tài cần được lựa chọn kỹ và thường phải

ổn định nhân sự trong quá trình nghiên cứu Cần hạn chế việc thay đổi nhân sự để đảm bảo tính đồng nhất về kỹ thuật trong quá trình nghiên cứu

Nếu đề tài nghiên cứu có liên quan tới nhiều chuyên ngành thì trong số các cán

bộ tham gia chính phải đủ đại diện cho các chuyên ngành mà đề tài đang quan tâm

Khi lựa chọn kỹ để có một đội ngũ cán bộ có chất lượng trong quá trình nghiên cứu sẽ làm tăng độ tin cậy của các kết quả nghiên cứu thu được

7.2 DỰ KIẾN CÁC CƠ QUAN PHỐI HỢP CHÍNH

Trang 19

Công trình nghiên cứu có thể do các nhà khoa học của nhiều đơn vị tham gia, do đó phải phân công cụ thể cho từng đơn vị đó Các cơ sở tham gia nghiên cứu cũng phải được

xem xét về cơ sở vật chất, kỹ thuật và khả năng cụ thể, không thể giao cho những cơ sở khoa học nào đó tham gia những đề tài nghiên cứu mà các cơ sở này không đủ điều kiện thực hiện, mặc dù họ có nguyện vọng (tha thiết trong nghiên cứu

7.3 DỰ KIẾN TIẾN ĐỘ ĐỂ TÀI

Để thực hiện một đề tài nghiên cứu, phải dự kiến được tiến độ của quá trình nghiên cứu Việc dự báo tiến dộ này chỉ là tương đối nhưng cần thiết Nếu không dự báo tiến độ thì

có thể sảy ra hiện tuợng tuỳ tiện trong các nhà nghiên cứu, nhưng trong quá trình nghiên cứu có thể nảy sinh nhiều vấn đề mà trước đó chưa lường hết được, cho nên tiến độ thời gian không phải là một quy định máy móc

Để xây dựng tiến độ đề tài cần phải chia quá trình tiến hành đề tài thành các phần việc nhỏ, từ đó dự kiến khung thời gian bắt đầu và lúc kết thúc, phân công trách nhiệm chính cho các cán bộ và cơ quan thực hiện, đồng thời dự kiến kết quả đạt được của phần việc đó là gì

Tiến độ thực hiện đề tài thường được trình bầy bằng 2 cách dưới đây:

a)- Bảng trình bầy tiến độ thực hiện đề tài

SỐ

TT

Nội dung công việc

Thời gian tiến hành (Từ đến )

Người, cơ quan thực hiện

Dự kiến kết quả đạt được

1

2

Hiện nay, mẫu bảng tiến độ thực hiện đề tài trên đây thường được dùng trong các đề

cương nghiên cứu của các đề tài trong nước, và đã được trình bầy trong nhiều tài liệu tập

huấn cho cán bộ làm công tác quản lý KHCN trong ngành Y tế và ngành Giáo dục & Đào

tạo

b)- Biểu đồ về kế hoạch thực hiện đề tài

Người ta cũng có thể trình bầy kế hoạch nghiên cứu dưới dạng biểu đồ GRANTT (GRANNT chart) Đây là một công cụ của việc lập kế hoạch mà được biểu thị dưới dạng biểu đồ của các hoạt động theo một trình tự nhất định và trong một khoảng thời gian tương ứng với mỗi hoạt động đó

Trang 20

- Ước tính được chi phí cho nghiên cứu để lo liệu tìm nguồn vốn

- Phát hiện những công việc chưa được ghi trong kế hoạch triển khai nghiên cứu (dựa vào tính logic trong chỉ tiêu)

- Tìm các cách để chi phí cho nghiên cứu thấp nhất

8.2- NHỮNG ĐIỂM C HÖ Ý KHI D Ự TOÁN KINH PHÍ ĐỀ TÀI:

Muốn thực hiện công trình nghiên cứu khoa học, không thể không tính toán một cách nghiêm túc về những điều kiện vật chất kỹ thuật và tài chính vì không có những điều kiện này thì không thể nào tiến hành nghiên cứu được Những điều kiện này phải được tính toán một cách nghiêm túc, càng cụ thể càng tốt

Phải xem xét, tính toán đầy đủ các khoản chi phí, hoá chất, súc vật thí nghiệm , đối tượng nghiên cứu, máy móc chuyên dùng, kể cả cơ sở điện nước, phòng thí nghiệm

Cũng không nên quên những khoản sử dụng bất thường khác và cuối cùng là phải

tìm nguồn và khả năng cung cấp các điều kiện kỹ thuật khác, phải tìm từ nhiều nguồn vì

nhiều khi một nguồn thường không đủ đáp ứng cho công trình nghiên cứu

Việc dự toán kinh phí đề tài cần phải diễn giải 1 cách cụ thể cho từng nội dung công

việc, cho từng giai đoạn nghiên cứu và phải tuân thủ các nguyên tắc quản lý tài chính của Nhà nước hiện hành

8.3 DỰ TOÁN KINH PHÍ NHƯ THẾ NÀO

- Dựa vào các hoạt động được liệt kê trong bản kế hoạch triển khai nghiên cứu

- Tính giá thành cho mỗi hoạt động theo ngày công đã dự trù

- Tính giá thành cho các chi phí hỗ trợ để thực hiện được các nhiệm vụ đề ra (như đi lại, trang thiết bị cần thiết, thuốc men, hoá chất, giấy bút, )

- Dự kiến nguồn kinh phí hổ trợ cho từng hoạt động (tại chỗ, tuyến trên cấp, xin tài trợ từ các tổ chức, )

- Nên có một khoản dự trữ phát sinh (khoảng 5% kinh phí dự trù)

- Cân nhắc các giải pháp khác nhau để triển khai nghiên cứu sao cho có hiệu quả cao nhất

- Cần có phần giải thích cho việc dự trù trên để người đọc hiểu rõ hơn

Trang 21

8.4- CÂN NHẮC ĐỂ HẠ GIÁ THÀNH NGHIÊN CỨU

Việc lựa chọn để đưa ra những giải pháp nhằm hạ giá thành nghiên cứu là vấn đề rất đáng quan tâm của các nhà nghiên cứu, nó làm tăng tính khả thi cho các đề tài nghiên cứu Chính vì vậy mà nó luôn luôn thu hút được sự quân tâm của các nhà đầu tư và của các cơ quan quản lý khoa học

Có thể cân nhắc để hạ giá thành nghiên cứu với một số giải pháp dưới đây:

- Chọn đối tượng hợp tác trong nghiên cứu: Người ta thường lựa chọn để hợp tác với những cơ quan có khá đầy đủ những phương tiện kỹ thuật có thể phục vụ cho nghiên cứu để hạn chế những mua sắm mới Việc lựa chọn cán bộ tham gia nghiên cứu (như điều tra viên, giám sát viên, trợ lý nghiên cứu, ) cũng được ưu tiên hợp tác với những người đã

có kinh nghiệm trong những nghiên cứu trước đó, đã qua những lớp tập huấn, đào tào từ 1

số nghiên cứu trước có liên quan tới nghiên cứu này

- Tăng cường sử dụng các nguồn lực sẵn có từ địa phương: như vậy có thể tiết kiệm được các chi phí đi đường, số ngày công cũng giảm xuống (không phải tính công trong thời

gian đi đường),

-Kiểm tra chặt chẽ các chi phí trong nghiên cứu, đảm bảo chi đúng nội dung công việc phục vụ cho nghiên cứu Chủ nhiệm đề tài kiên quyết xuất toán những khoản chi tiêu của cán bộ tham gia nghiên cứu mà không phục vụ cho mục đích nghiên cứu 8.5- NHỮNG NỘI DUNG CHI CẦN DIỄN GIẢI Hiện nay, việc dự toán kinh phí trong bản mẫu đề cương cho các đề tài trong nước thường được được giải trình theo 5 khoản chi dưới đây: Bảng: Dự toán kinh phí thực hiện đề tài Số TT Nguồn kinh phí Tổng số Trong đó Thuêkhoán chuyên môn (1) Nguyên vật liệu, năng lượng (2) Thiết bị máymóc(3) Xây dựng, sửa chữa nhỏ (4) Chi khác (5) Tổng số: Trong đó: -Ngân sách -Vốn tín dụng -Vốn tự có Thu hồi

Các khoản chi trên cần được giải trình một cách cụ thể, phù hợp với thời giá

và các văn bản pháp quy của Nhà nước về vấn đề tài chính

8.2.1 Chi thù lao và thuê khoán chuyên mòn

Trang 22

Phần này (cột 1) cần dự tính cụ thể ra số người tham ra rồi tính ra số ngày công để nhân với số tiền chi cho 1 ngày công

Chi thù lao đươc tính cho những người không có lương: người làm hợp đồng,

các cộng tác viên địa phương, người dẫn đường, phiên dịch,

Chi thuê khoán chuyên môn theo khâu việc được tính cho các cán bộ nghiên

8.2.3 Dự trù thiết bị, máy móc chuyên dùng

Phần này bao gồm mua thiết bị công nghệ, mua thiết bị thử nghiệm, đo

lường, khấu hao thiết bị, thuê thiết bị, vận chuyển lắp đặt,

Ở đây cũng cần tính cụ thể cho từng loại mặt hàng, qui cách chất lượng, giá đơn vị, số lượng, thành tiền của từng mặt hàng

Nhưng cũng cần lưu ý đến 1 thực tế rằng để giảm giá thành nghiên cứu, các nhà đầu tư, quản lý thường lựa chọn để giao đề tài cho những đơn vị, cơ quan nào

đã có đầy đủ thiết bị, máy móc hoặc có thể tự góp vốn để mua thiết bị, máy móc

Thông thường, trong các đề tài có nguồn vốn thấp như đề tài cấp Bộ, cấp tỉnh, cấp cơ sở, người ta ít khi đưa dự toán này vào kinh phí của đề tài

8.2.4 Xây dựng, sửa chữa nhỏ

Cần tính cụ thể diện tích xây dựng, sửa chữa, đơn giá,

Trong các đề tài KHCN cấp Bộ, cấp tỉnh, cấp cơ sở, cũng ít thấy người ta đưa dự toán này vào kinh phí của đề tài

8.2.5 Chi phí khác

Các chi phí khác bao gồm công tác phí, quản lý phí cơ sở, văn phòng phẩm, dịch thuật, phí bưu điện, chi cho kiểm tra, đánh giá, nghiệm thu

Trên đây chúng tôi chỉ xin trình bầy một số vấn đề về ―Phương pháp chuẩn

bị một bản đề cương nghiên cứu khoa học‖ Còn trong thực tế, trước khi nhà nghiên cứu dự định viết 1 bản để cương nghiên cứu khoa học để đăng ký với các cơ quan quản lý đề tài hoặc các nhà đầu tư để họ xét duyệt, thì cần tham khảo kỹ những bản mẫu đề cương, và những yêu cầu khác của họ

Trang 23

GIỚI THIỆU SƠ LƯỢC VỂ CÁC LOẠI THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU DỊCH TỄ HỌC

HAI LOẠI THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU DỊCH TỄ HỌC

Có hai loại thiết kế nghiên cứu dịch tễ học cơ bản: nghiên cứu quan sát (observational study) và nghiên cứu can thiệp (interventional study)

- Nghiên cứu quan sát: là loại nghiên cứu mà nhà nghiê n cứu không hề tác động gì vào hiện tượng mình quan tâm mà chỉ đơn thuần quan sát hiện tượng đó mà không can thiệp gì

Nghiên cứu quan sát được chia làm hai loại dựa trên tính chất của sự quan sát: quan sát mô tả (descriptive study) và quan sát phân tích (analytic study)

Các thiết kế mô tả thường chỉ quan tâm đến việc mô tả bệnh cùng với một (hay một số) yếu tố được cho là nguy cơ để tìm ra các mối liên quan có thể là kết hợp nhân quả tại một thời điểm nên chỉ có giá trị để hình thành giả thuyết

Các thiết kế phân tích quan tâm đến cả quá trình diễn biến của mối liên hệ giữa nhân và quả và thường tập trung đi sâu vào q uan sát và phân tích một kết hợp nhân - quả Vì thế nghiên cứu phân tích thường đi sâu nghiên cứu mô tả để kiểm định giả thuyết nhân quả mà nghiên cứu mô t ả đã hình thành Và trong

các loại thiết kế quan sát dịch tễ học thì chỉ có nghiên cứu phân tích mới được phép

kết luận về giả thuyết nhân quả

- Nghiên cứu can thiệp: Nghiên cứu can thiệp hay nghiên cứu thực nghiệm là loại nghiên cứu mà để kiểm định giả thuyết nhân quả, nhà nghiên cứu can thiệp vào hoặc tạo ra yếu tố được coi là nguyên nhân rồi theo dõi, ghi nhận kết quả của can thiệp đó và phân tích mối quan hệ giữa nhân và quả đó

1 NGHIÊN CỨU QUAN SÁT

1.1 CÁC LOẠI THIẾT KẾ QUAN SÁT MÔ TẢ:

Mục đích của một nghiên cứu mô tả dịch tễ học:

- Để xây dựng nên một giả thuyết nhân-quả (chứ không chứng minh được tính nhân-quả)

- Phải mổ tả được cả bệnh và một hay nhiều yếu tố nguy cơ của bệnh

- Dựa trên cách thu thập thông tin, có thể chia thành 2 loại thiết kế cơ bản:

Trang 24

1.1 Mô tả dựa trên dữ kiện chung của quần thể ( nghiên cứu tương quan - Correlational study)

Nhà nghiên cứu dựa trên những dữ kiện chung của quần thể để tìm ra mối liên quan giữa yếu tố nguy cơ và bệnh Đây thường là những nghiên cứu dựa trên các số liệu thống kê, tính toán

Chẳng hạn như người ta tính tổng lượng thịt tiêu thụ hàng năm của một số nước, chia cho số dân để có để có lượng thịt tiêu thụ bình quân đầu người Bên cạnh đó, lấy tổng số ung thư đại tràng để tính tỷ lệ ung thư đại tràng trên 100.000 dân Và người ta nhận thấy, nước nào có mức tiêu thụ thịt bình quân càng cao thì tỷ lệ ung thư đại tràng càng cao

1 1.2 Mô tả dựa trên dữ kiện thu thập từ từng cá thể:

Các nghiên cứu loại này thu thập dữ kiện từ từng cá thể rồi mới tập hợp lại thành

kết quả chung cho nghiên cứu (trừ nghiên cứu một trường hợp) Các nghiên cứu mô tả lâm sàng chủ yếu sử dụng phương pháp này

Mô tả dựa trên dữ kiện thu thập từ từng cá thể bao gồm:

a )Mô tả hiện tượng lạ, hiếm gặp:

- Đòi hỏi phải khai thác đầy đủ, tỉ mỉ, đặc biệt là về căn nguyên nghi ngờ của

bệnh và kết quả là phải có một hay nhiều giả thuyết nhân quả được hình thành

*Mô tả một chùm bênh:

-Cũng tương tự như mô tả một trường hợp nhưng để áp dụng mô tả cho một vài

trường hợp cùng mắc một bệnh hay cùng có một hiện tượng sức khoẻ lạ, hiếm gặp

- Mô tả một chùm bệnh có giá trị hình thành giả thuyết cao hơn so với mô tả một trường hợp đơn độc

b) Mô tả các bệnh hoặc hiện tượng sức khoẻ mà nhiều người mắc:

* Mô tả một loạt các trường hợp

Trang 25

- áp dụng để mô tả một loạt các trường hợp cùng mắc một bệnh hoặc có cùng một hiện tượng sức khoẻ, thường trong một giới hạn thời gian và không gian nhất định

- Đây là loại nghiên cứu thường được sử dụng trong lâm sàng, trong các mô tả bệnh viện, đặc biệt là trong những trường hợp không thể tiến hành chọn mẫu ngẫu nhiên

- Mục tiêu của nghiên cứu một loạt các trường hợp thường là để mô tả về bệnh đang

quan tâm Sản phẩm thường là tỷ lệ mắc từng triệu chứng, độ nhậy, độ đặc hiệu và giá trị tiên đoán của các triệu chứng hoặc các bộ triệu chứng

- Hạn chế của loại nghiên cứu này là phần suy lý thống kê bị hạn chế, kết quả nghiên cứu khó có thể ngoại suy ra cho quần thể, chỉ trừ trường hợp tiêu chuẩn chọn bệnh nhân hết sức chặt chẽ để bệnh nhân trong nghiên cứu có thể đại diện cho một quần thể nhất định

* Nghiên cứu ngang

- Áp dụng để mô tả hiện tượng sức khoẻ và các yếu tố được cho là có liên quan đến hiện tượng sức khoẻ đó của quần thể tại một thời điểm nhất định Khác với nghiên cứu một loạt các trường hợp, đối tượng nghiên cứu không nhất thiết phải mắc bệnh hoặc có yếu tố nguy cơ đang được quan tâm mà chỉ là nằm trong quần th ể được quan tâm

- Sản phẩm của nghiên cứu ngang thường là tỷ lệ hiện mắc và các giả thuyết

nhân quả

1.2- CÁC THIẾT KẾ QUAN SÁT PHÂN TÍCH

1.2.1- Nghiên cứu bệnh chứng (case-control study):

- Là nghiên cứu dọc hồi cứu

- Căn cứ trên một giả thuyết nhân quả, nghiên cứu bệnh chứng được thiết kế nhằm so sánh và tìm sự khác biệt giữa 2 nhóm bệnh và không bệnh (nhóm chứng) trong mối quan hệ với yếu tố được coi là "nhân"

- Điểm xuất phát của nghiên cứu bệnh chứng là b ệnh Đây cũng là đặc trưng nổi bật của loại nghiên cứu này Xuất phát từ hiện tượng có hay không có bệnh đang được quan tâm, người ta hồi cứu về việc phơi nhiễm với yếu tố bị nghi ngờ là nguyên nhân của bệnh đó

- Loại nghiên cứu này được sử dụng nhiều để kiểm định giả thuyết vì tương đối dễ

thực hiện, không đòi hỏi thời gian theo dõi dài nhưng khi thiết kế phải thận trọng để tránh sai lầm do việc không xác định được nhóm bệnh hoặc nhóm chứng, đặc biệt là nhóm chứng và chú ý hạn chế sai số nhớ lại

SƠ ĐỒ THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU BỆNH CHỨNG

Trang 26

Khai thác trong quá khứ Chủ động chọn

1.2.2 Thiết kế nghiên cứu thuần tập (cohort study):

- Là nghiên cứu dọc mang tính theo dõi

- Thiết kế nghiên cứu thuần tập là một trong những nghiên cứu chủ yếu để kiểm định giả thuyết, Nghiên cứu thuần tập xuất phát từ hiện tượng có hoặc không phơi nhiễm với yếu tố bị nghi ngờ là nguy cơ của bệnh, theo dõi để ghi nhận sư xuất hiện của bệnh và căn cứ vào mức độ xuất hiện bệnh trong 2 nhóm có và không phơi nhiễm kết luận về mối kết hợp giữa yếu tố phơi nhiễm đó và bệnh

- Đặc trưng nổi bật của loại nghiên cứu này là xuất phát từ việc có hay không phơi nhiễm rồi theo dõi trong tương lai để ghi nhận sự xuất hiện của bệnh Hiện nay, tôn trọng đặc trưng này và vận dụng cho phù hợp với điều kiện thực tế, người ta đã đưa ra nhiều biến thể của nghiên cứu thuần tập Các loại hình nghiên cứu thuần tập

đã được đưa vào nghiên cứu hiện nay gồm có:

+ Nghiên cứu thuần tập tương lai (prospective cohort study), có thể là:

Nghiên cứu thuần tập tương lai hoàn toàn (concurrent prospective cohort study) Nghiên cứu thuần tập lương lai không hoàn toàn (non-concurrent prospective cohort study)

+ Nghiên cứu thuán tập hồi cứu (retrospective cohort study)

SƠ ĐỔ THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU THUẦN TẬP

Cơ phơi nhiễm với yếu tố nguy cơ

Nhóm có thể có mắc bệnh

Nhóm cá thể không mắc bệnh Không phơi nhiễm với

yếu tố nguy cơ

Trang 27

Chủ động hơn Theo dõi nghi nhận

trong tương lai

2- NGHIÊN CỨU CAN THIỆP:

Nghiên cứu can thiệp là loại nghiên cứu có giá trị nhất trong số các nghiên cứu y học nhưng là loại nghiên cứu đòi hỏi thiết kế đúng đắn, tiến hành nghiên cứu kiên trì và nghiêm túc theo đề cương, thời gian thường dài và tốn kém

2.1- CAN THIỆP CỘNG ĐỒNG (COMMUNITY INTERVENTION)

- Là loại nghiên cứu thực nghiệm tiến hành trên cộng đồng Đối tượng nghiên cứu

là tất cả cư dân sinh sống trong cộng đồng được quan tâm không kể là có bệnh hay không

- Có nhiều cách tiến hành thiết kế nghiên cứu can thiệp cộng đồng, có giá trị và phổ biến nhất là can thiệp cộng đồng có đối chứng nhưng đơn giản và dễ thực hiện nhất là can thiệp trước - sau

2.2 THỬ NGHIỆM THỰC ĐỊA (HAY NGHIÊN CỨU CAN THIỆP PHÒNG

BỆNH - FIELD TRIAL OR PROPHYLACTIC INTERVENTION)

Cũng là nghiên cứu thực nghiệm tiến hành trên cộng đồng nhưng đối tượng nghiên cứu là những người không có bệnh nhằm phòng bệnh cho họ

2.3 THỬ NGHIỆM LÂM SÀNG (CLINICAL TRIAL)

- Là nghiên cứu tiến hành trong bênh viện (có thể một hay nhiều bệnh viện) nhằm

so sánh hiệu quả điều trị của 2 hay nhiều phương án điều trị Đây cũng là nghiên cứu về mối quan hệ nhân quả mà nhân ở đây là phương án điều trị và quả là hiên tượng khỏi hoặc không khỏi bệnh

Có phơi nhiễm với yếu tố nguy cơ

Không phơi nhiễm với yếu tố nguy cơ

Nhóm cá thể có mắc bệnh

Nhóm cá thể không mắc bệnh

Trang 28

- Có nhiều cách thiết kế thử nghiệm lâm sàng: ngẫu nhiên hoặc không ngẫu nhiên,

có đối chứng hoặc không có đối chứng

Một thử nghiệm lâm sàng được đánh giá cao là thử nghiêm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng (Randomized Controlled Clinical Trial - RCT)

Dưới đây chỉ đề cập đến thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng (xem cụ thể

ở bài "Thử nghiêm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng")

Tuỳ thuộc vào vấn đề cần nghiên cứu và số lượng bệnh nhân trong mỗi nhóm mà có thể chọn một trong 2 kiểu phân bổ bệnh nhân:

+ Thiết kế ngẫu nhiên hoàn toàn (Completely Random Design - CRD)

+ Thiết kế ngẫu nhiên theo khối (Randomized Complete Block design - RCB) Tuỳ thuộc vào vấn đề nghiên cứu và điều kiện thực tế về số lượng bệnh nhân mà có thể áp dụng các kiểu thiết kế khác nhau:

+ Thiết kế theo kiểu nghiên cứu ngang hoặc nghiên cứu dọc

+ Thiết kế song song, hoặc bắc cầu, hoặc nối tiếp

Trang 29

Nghiên cứu ngang là nghiên cứu được thực hiện trên những cá thể có mặt trong quần thể nghiên cứu, vào đúng thời điểm nghiên cứu được thực hiện

Mục tiêu chủ yếu của các nghiên cứu ngang là mô tả dịch tễ học, nhằm tìm ra tần số của một phơi nhiễm (hay một bệnh) hoặc phân bố của một hiện tượng sức khỏe nào đó

Ngoài ra, người ta còn sử dụng nghiên cứu ngang với mục tiêu nghiên cứu tìm căn nguyên như đã được sử dụng rất rộng rãi trong dịch tễ và phát hiện các nguy cơ nghề nghiệp Nghiên cứu ngang cũng được áp dụng trong những lĩnh vực riêng biệt để tìm kiếm

và đánh giá các điểm chỉ báo và các dấu hiệu chỉ điểm của tình trạng tiền lâm sàng

Một ứng dụng phổ biến khác của nghiên cứu ngang trong lâm sàng là mô tả các hiện tượng lâm sàng và phát hiện mối tương quan giữa các triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng với bản chất của bệnh Trong kiểu nghiên cứu này thì thường chỉ có việc tuyển chọn đối tượng vào nghiên cứu là tuân thủ quy tắc ―cắt ngang― và tiêu chuẩn để thu dung cá thể vào nghiên cứu thường dựa trên hiện tượng đang phơi nhiễm, nhưng việc thu thập thông tin

về phơi nhiễm và đôi khi cả về tình trạng sức khỏe lại có thể liên quan đến hiện tại và cả quá khứ

Khi tiến hành các nghiên cứu ngang, bao giờ chúng ta cũng gặp phải hai khó khăn chủ yếu Một mặt, mối quan hệ thời gian giữa yếu tố nguy cơ nghiên cứu và bệnh là rất khó thiết lập (liệu có đúng phơi nhiễm xảy ra trước bệnh và có liên quan với bệnh hay không) Mặt khác, việc tuyển mộ các cá thể ở một thời điểm theo kiểu nghiên cứu ngang đã loại trừ những người không có mặt vào thời điểm nghiên cứu được tiến hành hoặc do đi vắng hoặc

do đã di chuyển khỏi quần thể nghiên cứu trước đó Và việc đó có thể là nguồn gốc của sai

số chọn Cho nên khi phân tích và phiên giải các kết quả nghiên cứu ngang nhằm tìm kiếm căn nguyên, chúng ta phải rất thận trọng ngay từ khi thiết kế nghiên cứu đến khi thực hiện nghiên cứu và khi xử lý và phiên giải kết quả

Nghiên cứu ngang trước đây chỉ được các nhà khoa học y tế công cộng sử dụng nhưng ngày nay những người làm công tác nghiên cứu khoa học về y học lâm sàng cũng đang sử dụng ngày càng nhiều không những để không bị tách rời khỏi cộng đồng mà còn để nâng cao chất lượng công tác chẩn đoán và điều trị bệnh

1 NGHIÊN CỨU NGANG MÔ TẢ VÀ NGHIÊN CỨU

NGANG TÌM CĂN NGUYÊN

Trong các cuộc điều tra nghiên cứu ngang theo nghĩa chặt chẽ của nó thì quần thể được quan sát ở trong một thời điểm nhất định và các thông tin cần thu thập về phơi nhiễm và/hoặc tình trạng sức khỏe là trong một thời gian ngắn nhất định (Bản chất các

Trang 30

thông tin về tình trạng sức khỏe là theo quan niệm rất rộng, có thể là một bệnh, một triệu

chứng hoặc một đặc trưng sinh học nào đó nhưng để tiện dụng ta dùng thuật ngữ

―bệnh‘ để chỉ chung tất cả các tình trạng sức khòe này)

Các nghiên cứu ngang mô tả đều có đặc điểm là ước lượng ra tỷ lệ hiện mắc của bệnh, nghĩa là phần trăm các cá thể hiện đang bị ốm trong quần thể, chứ không ước lượng được tỷ lệ mới mắc Điều này có thể làm hạn chế việc sử dụng các nghiên cứu ngang đối với các bệnh mà tỷ lệ hiện mắc là một chỉ điểm quan trọng như trong các bệnh vừa là phổ biến lại vừa là bệnh mạn tính hoặc tái phát Ví dụ như các bệnh xương khớp, hoặc các bệnh ngoài da Trong môi trường lao động cũng nên hạn chế sử dụng nghiên cứu ngang với các bệnh mà khi mắc không cần phải ngừng lao động hoặc thay đổi nghề nghiệp

Thời gian nghiên cứu để tìm ra tỷ lệ hiện mắc có thể rất ngắn như một bệnh có thể khám lâm sàng hoặc thêm một vài xét nghiệm đơn giản là có thể chẩn đoán được thì thời gian xác định bệnh chỉ cần trong ngày và như thế là xác định xem cá thể đó, trong ngày hôm ấy có mắc bệnh đang nghiên cứu hay không Nhưng đôi khi phải mất nhiều thời gian hơn, kéo dài hơn và đôi khi phải khai thác cả những triệu chứng hoặc yếu tố xuất hiện hàng tháng trước nghiên cứu

Các nghiên cứu ngang tìm căn nguyên, nghĩa là người ta muốn tìm ra kết hợp giữa

một yếu tố nguy cơ và một bệnh, thì thường gặp nhất là các nghiên cứu bệnh-chứng hoặc

thuần tập theo kiểu đặt vấn đề của nghiên cứu ngang Trong trường hợp này người ta thường đem so sánh tần số của bệnh ở hai nhóm có phơi nhiễm và không phơi nhiễm hoặc người ta nghiên cứu tần số của bệnh theo các mức độ phơi nhiễm ở hai hoặc nhiều nhóm khác nhau Trong các nghiên cứu ngang tìm căn nguyên này, mẫu nghiên cứu được cấu trúc theo kiểu nghiên cứu ngang, nghĩa là người ta lấy vào mẫu nghiên cứu những cá thể có mặt trong thời gian nghiên cứu, và cả yếu tố phơi nhiễm lẫn tình trạng sức khỏe đều được thu thập, tìm hiểu ngay trong lúc tiến hành điều tra Những nghiên cứu kiểu này thích hợp với trường hợp mà sự phơi nhiễm với yếu tố nguy cơ không thay đổi theo thời gian với những thời khoảng có thể xấp xỉ với thời kỳ ủ bệnh của bệnh nghiên cứu Nếu không, người ta thường phải đồng thời đánh giá theo kiểu hồi cứu

2- LẤY MẪU CHO CÁC NGHIÊN CỨU NGANG

Các nghiên cứu ngang, như chúng ta đã biết, có thể được thực hiện trên một mẫu trong quần thể toàn bộ Thí dụ, ta muốn tìm ra tỷ lệ hiện mắc của tình trạng bất túc của những người có tuổi hoặc tình trạng đái tháo đường ở những người trung niên thì rghiên cứu thường được tiến hành trên những quần thể với những đặc thù nhất định (như môi trường lao động, nghề nghiệp nhất định, chẳng hạn như ở trong một nhà dưỡng lão hay một

cơ quan, nhà máy nhất định nào dó ) Hoặc để tìm ra tỷ lệ hiện mắc của một bệnh trong từng quần thể xác định Thí dụ, tỷ lệ hiện mắc các triệu chứng hô hấp ở những người thợ hàn, hay tỷ lệ mắc một bệnh nào đó ở trẻ em trong những độ tuổi nhất định

Trang 31

Khi mục tiêu của cuộc nghiên cứu chủ yếu là mô tả rõ ràng như vậy thì điều chủ yếu là kiến tạo một mẫu đại diện quần thể muốn nghiên cứu

Còn khi mục tiêu chủ yếu của cuộc nghiên cứu là tìm căn nguyên thì tính đại diện của mẫu nghiên cứu sẽ bị đặt xuống hàng thứ yếu mà vấn đề cần thiết lúc này là kiến tạo nên được các nhóm có thể đem so sánh nhau dươc

2 1 CHỌN MẪU NGHIÊN CỨU NGANG MÔ TẢ

Trong thiết kế nghiên cứu ngang mô tả, công việc trước hết phải làm là xác định quần thể tiến hành nghiên cứu Có nhiều cách để xác định nhiều quần thể khác nhau Sát hợp nhất và tối thiểu trước một nghiên cứu ngang mô tả cũng phải xác định được hai loại quần thể: quần thể định danh và quần thể nguồn

Quần_thể định danh là tập hợp những cá thể mà kết quả nghiên cứu sẽ được tổng quát hóa ra cho quần thể đó Còn quần thể nguồn là quần thể tập hợp những cá thể mà từ đó mẫu được lấy ra để tiến hành nghiên cứu Tất nhiên, kết quả của nghiên cứu mẫu trước hết phải suy ra được cho quần thể nguồn trước khi tổng quát hóa ra cho quần thể định danh

Trong nhiều trường hợp thì hai loại quần thể này rất gần nhau hoặc thậm chí là một, nhưng có những trường hợp thì lại rất có khoảng cách Như trường hợp người ta muốn biết

tỷ lệ hiện mắc bệnh đái đường ở nam 35-55 tuổi thì có thể tiến hành nghiên cứu trên nam công nhân của một xí nghiệp lớn, một công trường lớn Trong trường hợp này thì quần thể định danh là tất cả đàn ông 35-55/tuổi và quần thể nguồn bao gồm tất cả những người đàn ông trong độ tuổi nghiên cứu tại công trường, xí nghiệp đó

2.1.1- Chọn quần thể nghiên cứu (còn gọi là quần thể nguồn),,

Việc chọn lựa quần thể nghiên cứu rất quan trọng nhưng nó phụ thuộc vào các mục tiêu và tính thực thi của nghiên cứu Thí dụ khi người ta muốn biết tỷ lệ hiện mắc của một bệnh trong quẩn thể toàn bộ thì có rất nhiều vấn đề thực tế của quần thể này khiến cho người ta phải coi một quần thể tương tự như quần thể mà ta muốn tổng kết hóa kết quả ra cho là quần thể nghiên cứu khi trên quần thể này có thể tiến hành nghiên cứa một cách dễ dàng hơn do tính tập hợp của nó

Ví dụ như những nghiên cứu tiến hành trong những đơn vị đông người như một nhà máy, trường học, cơ quan xí nghiệp, bệnh viện

Một ví dụ kinh điển là nghiên cứu về trẻ đẻ thiếu cân, Rumeau Rouquette và cộng sự (1984) đã lấy mẫu nghiên cứu đại diện cho các trẻ sơ sinh từ danh sách trẻ sinh tại các nhà hộ sinh công và tư mà không lấy các trẻ sinh ở nhà riêng Sở dĩ như vậy là vì biết được rằng tỷ lệ trẻ được sinh ở nhà là rất thấp (ở Pháp vào khoảng dưới 1 %) nên việc tổng quát hóa kết quả nghiên cứu từ mẫu đó ra cho toàn bộ trẻ sơ sinh của nước Pháp trong thời gian đó là hợp lý

Còn có những trường hợp khác, ngược lại, khi muốn ước lượng tỷ lệ hiện mắc một bệnh mà chọn một quần thể tích cực làm quần thể nghiên cứu thì tỷ lệ hiện mắc thu được có thể chỉ là một ước lượng non mà thôi Vì các cá thể của quần thể tích cực thường có thể lực tốt hơn so với quần thể toàn bộ và sở dĩ kết quả thu được chỉ là ước lượng

Trang 32

non của tỷ lệ hiện mắc thật sự là do hiện tượng "hậu quả lao động khỏe‖ Thí dụ như trong nghiên cứu tìm tỷ lệ hiện mắc bệnh đái đường mà chọn quần thể nghiên cứu là công nhân xây dựng thì chắc chắn sẽ chỉ thu được ước lượng non Vì bệnh đái đường là một nguy cơ đặc biệt nguy hiểm đối với những người phải làm việc trên cao Do đó, bản thân những người bị đái đường đã không chọn nghề này và y tế cũng không cho phép họ làm nghề này

2.1.2- Lấv mẩu đai diện từ quần thể nghiên cứu

Cần nhắc lại rằng nghiên cứu ngang được thực thi trên những người hiện có mặt trong quần thể nên cũng có thể coi quần thể nghiên cứu bao gồm mọi cá thể hiện đang có mặt trong quần thể đó vào thời điểm nghiên cứu Nhưng cần phải vận dụng vào thực tế nghiên cứu sao cho tránh được tối đa các sai số Như khi làm nghiên cứu trong một xí nghiệp, người ta có thể quan niệm rằng "những cá thể có mặt trong thời điểm nghiên cứu"

là tất cả những người có tên trong danh sách của phòng tổ chức vào ngày điều tra, nghĩa

là bao gồm cả những người vắng mặt tại xí nghiệp trong ngày nghiên cứu dù nghỉ vì bất

cứ lý do nào (nghỉ đẻ, nghỉ ốm, đi công tác ) Trên thực tế, những người này vẫn là một

bộ phận của quần thể nghiên cứu, nếu không thu nhận họ vào nghiên cứu thì sai số xảy ra phải được coi như sai số từ chối, sai số bỏ cuộc như trong các nghiên cứu khác

Tuy kích thước của quán thể nghiên cứu đã chọn và số cá thể cần thiết cho nghiên cứu,

có thể quyết định nghiên cứu toàn bộ hay chỉ một bộ phận của quần thể đó: 1 mẫu nghiên cứu Trong trường hợp nghiên cứu mẫu thì chỉ có rút ra một cách ngẫu nhiên mới đảm bảo được tính đại diện của mẫu đối với quần thể, nghĩa là mỗi cá thể trong quần thể nghiên cứu đều có một xác suất nhất định phản ánh vào mẫu (thường thì xác suất này của mọi cá thể là như nhau)

Có nhiều cách rút ngẫu nhiên từng cá thể vào mẫu đảm bảo cho họ có cùng xác suất, ở đây ta không nhắc lại toàn bộ kỹ thuật lấy mẫu, nhưng cần nhấn mạnh rằng chọn cách lấy mẫu là tùy thuộc vào bản chất của khung mẫu có được (danh sách cá nhân hay danh sách tập thể theo địa

dư, nghề nghiệp ) và nhất là tùy thuộc vào khả năng tâp trung hay phân tán nhiều ít của số đo đặc trưng cần nghiên cứu của quần thể nghiên cứu Có thể tóm tắt 3 loại mẫu cơ bản như sau:

- Lấy mẫu đơn: mẫu ngẫu nhiên đơn là mẫu mà tính ngẫu nhiên rơi vào chính từng đơn vị thống kê cho nên phải có một danh sách các cá thể của quần thể nghiên cứu, rồi rút ngẫu nhiên ra từng đơn vị từ danh sách đó Như vậy sẽ đảm bảo cho mọi cá thể trong quần thể đều

có xác suất được vào mẫu như nhau

- Lấy mẫu tầng; thường dùng khi số đo tiêu thức nghiên cứu chênh lệch nhau quá, phân tán quá trong quần thể mà không muốn tăng cỡ mẫu (tốn kém hơn nhiều) Lúc đó người

ta chia quần thể ra thành các tầng khác nhau sao cho ở trong mỗi tầng sự phân tán của số đo nghiên cứu là nhỏ nhất có thể được, rồi trong mỗi tầng lấy ngẫu nhiên đơn ra số đơn vị nghiên cứu cần thiết Số tầng có thể ít hay nhiều nhưng không nên quá nhiều tầng Song cần phải đảm bảo trong một tầng thì các cá thể phải đồng nhất tối đa và giữa các tầng với nhau lại phải khác biệt rõ rệt Có thể rút số cá thể đều nhau ở các tầng vào mẫu song muốn cho chính xác phải rút vào mẫu tỷ lệ với kích thước của từng tầng

Trang 33

Và tính kết quả của mẫu tầng bao giờ cũng phải chú ý đến phân số lấy mẫu trong các tầng khác nhau

- Lấy mẫu chùm: Khi không có được danh mục cá thể trong khu vực nghiên cứu (quần thể lớn, phạm vi nghiên cứu rộng) mà chỉ có thể có được danh mục các gia đình, làng xóm, lớp học, phân xưởng, khoa phòng thì tiến hành nghiên cứu theo mẫu chùm Trái ngược hẳn với khái niệm về tầng trong mẫu tầng, chùm trong mẫu chùm là một tập hợp các cá thể có số đo đặc trưng nghiên cứu có thể khác nhau nhiều hay ít Nghĩa là ta không cần quan tâm đến đặc trưng nghiên cứu trong nội bộ mỗi chùm, nhưng lại phải cân nhắc rất kỹ lưỡng về đặc trưng nghiên cứu giữa chùm nọ với chùm kia kể cả về chất và về lượng đo đặc trưng nghiên cứu của các chùm phải sàn sàn bằng nhau nghĩa là không chênh lệch nhau mấy Và về cỡ chùm cũng không quá chênh lệch Sau khi đã có được danh mục các chùm rồi thì ta có thể tiến hành lấy mẫu chùm: rút ngẫu nhiên ra số chùm cần thiết cho nghiên cứu (có công thức để tính số chùm cần thiết này, nhưng để cho đơn giản ta có thể dùng số chùm là 30) bằng cách lấy ngẫu nhiên đơn hoặc ngẫu nhiên hệ thống Sau khi đã chọn ra được các chùm cần cho nghiên cứu rồi thì hoặc là nghiên cứu tất cả các cá thể trong từng chùm (mẫu chùm hoàn toàn) hoặc là chỉ nghiên cứu một số nhất định cá thể được chọn ngẫu nhiên trong từng chùm (mẫu chùm không hoàn toàn) Mẫu chùm dễ tiến hành, vì không bắt buộc phải có danh mục tất cả các cá thể trong nghiên cứu, mà chỉ cần danh mục cá thể ở các chùm được chọn mà thôi Nhưng mẫu chùm lại không làm giảm thiểu được phương sai của số đo đặc trưng nghiên cứu Nên, nếu ta chọn được các chùm càng đồng nhất với nhau và các chùm được rút ra đúng kỹ thuật ngẫu nhiên thì phương sai đặc trưng nghiên cứu sẽ là nhỏ nhất Ngược lại thì các ước lượng đặc trưng nghiên cứu bằng mẫu chùm sẽ kém chính xác

2.2- CHỌN MẪU NGHIÊN CỨU NGANG TÌM CĂN NGUYÊN

Các nghiên cứu tìm căn nguyên, nghĩa là nghiên cứu liên quan giữa một bệnh và một yếu tố phơi nhiễm, về kinh điển mà nói, thì đòi hỏi phải thực hiện những cuộc nghiên cứu thuần tập hoặc bệnh chứng Song vì nghiên cứu ngang để thực hiện và giá thành hạ nên người

ta đã phát triển loại nghiên cứu ngang nàv trong việc tìm căn nguyên, đặc biệt là để nghiên cứu những chỉ điểm sớm của bệnh Chẳng hạn như những nghiên cứu tế bào học về chức năng thận, sinh lý thần kinh hoặc các tổn thương xương khớp thấy trên X quang có liên quan với môi trường nghề nghiệp vì trên các ấn chỉ tiền lâm sàng thì nguy cơ mắc sai số chọn khá nhỏ

Người ta phân biệt riêng rẽ các nghiên cứu đối với các giả thuyết không đặc hiệu Thí dụ như nghiên cứu tình trạng sức khỏe trong điều kiện lao động ở xí nghiệp giầy dép với các nghiên cứu kiểm định một giả thuyết đặc hiệu xác định, như tác động nhiễm độc hồng cầu của Styrène-X Đối với các giả thuyết không đặc hiệu thì nghiên cứu vừa có dạng

mô tả vừa có dạng tìm căn nguyên Và chính vì mục tiêu mô tả mà nghiên cứu sẽ tiến hành trên một mẫu đại diện như trong một xí nghiệp, hoặc người ta nghiên cứu trên tất cả các công nhân, hoặc trên một mẫu ngẫu nhiên về phân bố các tham số sức khỏe khác nhau theo bản chất và/hoặc mức độ phơi nhiễm với một hoặc nhiều yếu tố nguy cơ

Trang 34

Còn đối với các giả thuyết mang tính chất đặc hiệu thì nghiên cứu đơn thuần là tìm căn nguyên và như vậy không cần thiết mẫu phải đại diện cho quần thể nguồn

2.2.1- Chọn quần thể nghiên cứu (quần thể nguồn)

Khi mục tiêu của nghiên cứu đơn thuần là tìm căn nguyên thì như trong nghiên cứu thuần tập, người ta chọn một quần thể có những điều kiện tối ưu để quan sát được hiệu quả muốn nghiên cứu Nghiên cứu càng có kết quả cao khi quần thể có phơi nhiễm nhiều và tỷ

lệ hiện mắn bệnh là lớn Trong nghiên cứu về hậu quả nhiễm độc hồng cầu của Styrène,

người ta chọn những công nhân lao động trong công nghiệp plastic ép là nơi mà mức độ phơi nhiễm rất cao-khoảng từ 20 đến 200 ppm hơn là khi chọn xí nghiệp sản xuất những

polymère từ styrène là nơi có mức phơi nhiễm thấp khoảng từ 1 đến 20 ppm Hoặc nghiên

cứu vai trò của tiếng đập trong bệnh cao huyết áp thì người ta nhằm vào quần thể gồm chủ yếu là những người có tuổi là quần thể có tỷ lệ hiện mắc huyết áp tương đối cao hơn là ở một quần thể trẻ

Các nghiên cứu kiểu này thường tiến hành trong quần thể toàn bộ hoặc trong các quần thể xác định như kiểu quẩn thể công nhân, học sinh Ngược lại, thường ít tiến hành trong bệnh viện, trừ những tình huống đặc biệt; Thí dụ như như tỷ lệ hiện mắc của các biến chứng thận trên những bệnh nhân đái tháo đường

2.2.2- Cấu trúc của nhóm nghiên cứu

Trong nội bộ quần thể nghiên cứu, ta có thể quan tâm đến toàn bộ các cá thể trong quần thể đó hoặc cấu tạo nên một mẫu sao cho có thể có được những nhóm có liên quan chặt chẽ với phơi nhiễm, nhằm nâng cao độ mạnh của nghiên cứu Để có thể đạt được điều

đó, một mặt, người ta thử tách ra một nhóm có phơi nhiễm tối thiểu rồi lại chia ra những nhóm nhỏ hơn ở các mức độ phơi nhiễm khác nhau để có thể phân tích được sự hiện diện của những mối kết hợp liều lượng phơi nhiễm – hậu quả Mặt khác, tùy thuộc vào bản chất của hậu quả nghiên cứu, ta có thể tuyển vào nghiên cứu những cá thể có thời gian phơi nhiễm nhất định với yếu tố nguy cơ, có chú ý đến thời gian tiềm ẩn và thời hạn tối thiểu cần thiết

để phát sinh hậu quả

Có những biện pháp khác có thể cho phép nâng cao xác suất quan sát được hậu quả của phơi nhiễm Thí dụ như việc giới hạn vào nghiên cứu chỉ những nhóm cá thể đồng nhất tối đa có thể loại trừ được những yếu tố làm thay đổi biến nghiên cứu Như trong nghiên cứu về gây ngộ độc hồng cầu của styrène, người ta đã giới hạn vào nghiên cứu chỉ những cá thể là nam giới, không hút thuốc và có cùng một độ tuổi Và người ta đã có thể nhận thấy rằng phương sai của những tham số gây ngộ độc do hồng cầu ở nhóm chứng trong nghiên cứu này là rất nhỏ so với nhóm chứng của những nghiên cứu khác như thế trong cùng quần thể mà không áp dụng kỹ thuật thu hẹp các đặc tính như trên Điều này, ngược lại, cũng có điều bất tiện là không khai thác được tác động của các yếu tố bị thu hẹp ấy và làm cho kết quả nghiên cứu chỉ tổng quát hóa ra được cho quần thể bị thu hẹp mà thôi

2.3- CHỌN QUẦN THỂ THAM KHẢO

Trang 35

Về lý thuyết mà nói, người ta có thể so sánh tỷ lệ hiện mắc một bệnh nào đó trong một quần thể phơi nhiễm với tỷ lệ hiện mắc bệnh đó trong quần thể toàn bộ Song, điều này

ít được thực hiện vì rằng rất ít dữ kiện sẵn có về tỷ lệ mắc trong quần thể toàn bộ có giá trị Hơn nữa, trong khung cảnh nghiên cứu về những nguy cơ nghề nghiệp, thì việc so sánh một quần thể đang lao động nghề nghiệp đó với quần thể toàn bộ có thể bị sai lạc và sẽ có những sai số chọn, đặc biệt là hiện tượng "lao động khỏe"

Khi nghiên cứu những tham số sinh học thì thường sử dụng những trị số tham khảo của các phòng xét nghiệm và cũng không có nhóm đối chứng, nhưng sẽ có những biến đổi rất khác nhau Hơn nữa, các số liệu của các phòng xét nghiệm thường được làm từ một quần thể tham khảo mà người ta không nắm được những tính chất của nó và cũng chỉ có mục đích phát hiện ra những tình trạng đã bị bệnh rõ ràng Còn trong các nghiên cứu dịch tễ học về các chỉ điểm sớm

có tính chất tiền lâm sàng thì người ta không nhằm xác định bệnh nhân mà nhằm phát hiện ra những khác biệt giữa các trung bình của tham số sinh học ở những đối tượng phơi nhiễm và không phơi nhiễm Dó đó, điều chủ yếu là nhóm quần thể tham khảo phải đem so sánh được với nhóm nghiên cứu để có thể kiểm soát được tác động của các yếu tố biến thiên khác nhau

Trong những nghiên cứu nhằm vào cả tập hợp công nhân một xí nghiệp thì không phải bao giờ cũng có thể có được một nhóm đối chứng ở trong xí nghiệp đó Vì rằng tất cả mọi người đều phơi nhiễm hoặc những người không phơi nhiễm lại thuộc về một tầng lớp

xã hội khác với số người có phơi nhiễm; thí dụ như các cán bộ hành chính chẳng hạn thì dường như cũng khó mà làm cho so sánh có giá trị Trong những trường hợp như thế thì tỷ

lệ hiện mắc của bệnh (hoặc phân bố một thông số sức khỏe nào đó) phải được nghiên cứu theo mức độ phơi nhiễm Muốn đạt được điều đó thì cần phải có đủ số lượng cá thể cho mỗi mức độ phơi nhiễm và bằng mọi cách có thể được, tìm ra một nhóm tham khảo không phơi nhiễm trong nghiên cứu

Về nguyên tắc chung mà nói thì trong nghiên cứu bao giờ cũng phải có nhóm tham khảo Nhóm tham khảo này phải là có thể so sánh được với nhóm nghiên cứu Song, cũng như trong các nghiên cứu thuần tập, nhóm tham khảo có thể lấy ở bên trong hoặc bên ngoài quần thể nguồn Như trong nghiên cứu mô tả các thông số huyết học ở những cá thể phơi nhiễm với Styrene (Stengel và cộng sự 1990) thì nhóm tham khảo đã được tuyển lựa bao gồm một nửa là số cá thể trong cùng nhà máy nhưng không phơi nhiễm (nhóm tham khảo bên trong) và một nửa là công nhân cùng tầng lớp nhưng ở xí nghiệp khác không có styrène (nhóm tham khảo bên ngoài) Dùng nhóm tham khảo bên trong có lợi là dễ tìm kiếm và là cùng từ một hoàn cảnh xã hội và nghề nghiệp như nhóm phơi nhiễm nhưng nhóm đó có thể có những phơi nhiễm bất ngờ rất quan trọng khó có thể khẳng định là không phơi nhiễm hoàn toàn (như nhóm bao gồm các nhân viên hành chính, văn thư chẳng hạn), và có khi khác hẳn với nhóm không phơi nhiễm trong quần thể chung Hơn nữa, những người hiện đang không phơi nhiễm ở thời điểm nghiên cứu, rất có thể là

đã phơi nhiễm trước đây nên vấn đề này cần phải được kiểm soát chặt chẽ

2.4- SỐ CÁ THỂ CẦN THIẾT CHO MỘT NGHIÊN CỨU – CỠ MẨU

Trang 36

Trong các nghiên cứu mẫu nói chung, việc chọn mẫu là cực kỳ quan trọng Nếu số

cá thể cần thiết không đủ cũng sẽ làm cho nghiên cứu không có giá trị Chúng ta phân ra hai trường hợp:

2.4.1 Cỡ mẫu cho nghiên cứu ngang mô tả

Mục tiêu quan trong cửa nghiên ngang mô tả là có được một kết quả không sai chệch và là ước lượng chính xác của tham số quẩn thể: mức độ phơi nhiễm, tình hình bệnh tật

Muốn cho kết quả không sai chệch thì mẫu phải đại diện cho quần thể và kỹ thuật

để mẫu đại diện là kỹ thuật chọn mẫu bao gồm nhiều kỹ năng khác nhau (trong đó có kỹ năng ngẫu nhiên) cần được đặc biệt tôn trọng và tuân thủ

Còn muốn cho ước lượng chính xác thì phải ấn định được một khoảng tin cậy hợp lý: khoảng tin cậy hẹp và mức tin cậy không quá nhỏ mà khoảng tin cậy lại phụ thuộc chãt chẽ vào cỡ mẫu n Ở đây chỉ đề cập đến cỡ mẫu n với khoảng tin cậy CI

Ta nhắc lại, công thức của khoảng tin cậy, trắc nghiệm 2 phía:

- Của tỷ lệ

- Của trung bình

Và nếu ta muốn có môt độ chính xác tuyệt đối d tương ứng với sai số chuẩn của ước lượng thì cỡ mẫu n sẽ được tính bằng công thức sau:

- Đối với nghiên cứu tỷ lệ:

- Đối với nghiên cứu trung bình

Cỡ mẫu nêu trên áp dụng cho các nghiên cứu ngang mô tả theo mẫu ngẫu nhiên đơn

và là cỡ mẫu tối thiểu hợp lý (các nghiên cứu mô tả theo mẫu tầng hoặc mẫu chùm thì công thức tính phương sai lại khác và do đó công thức tính khoảng tin cậy cũng khác đi, và tất nhiên việc tính cỡ mẫu mô tả cho các loại mẫu chùm, mẫu tầng phải tuân theo các công thức tương ứng)

2.4.1 Cỡ mẫu cho các nghiên cứu ngang tìm căn nguyên

Mục tiêu chính của các nghiên cứu ngang tìm căn nguyên là tìm ra một kết hơp giữa phơi nhiễm và bệnh Nên ngoài những quan niệm thông thường liên quan đến nghiên cứu mẫu mô tả, ở đây nó còn cần phải có một lưc thống kê đủ để phát hiện ra kết hợp đó khi kết hợp đó là có thực công thức tính cỡ mẫu với trắc nghiệm 2 phía:

Trong đó n1= kno

Trang 37

- Cho nghiên cứu tỷ lệ C = 2 | Arc sin |

- Cho nghiên cứu trung bình C =

Vấn đề này được trình bày rõ hơn ở các nghiên cứu phân tích so sánh tương ứng

2.5- SỐ ĐO PHƠI NHIỄM

Các nghiên cứu ngang có lợi điểm là có thể lượng hóa được phơi nhiễm hiện có, trong những tình huống nhất định Và có thể coi nó như là một phản ánh của phơi nhiễm trong quá khứ

Trong các nghiên cứu ngang mô tả, người ta thường mô tả phơi nhiễm ở một thời điểm nhất dinh Thí dụ mức độ phơi nhiễm với chỉ ở trong các ngành nghề khác nhau hoặc phơi nhiễm với pólychlorobiphényl trong quần thể chung Các số đo đó cũng thường được mô tả theo những đăc trưng nhân khẩu học, kinh tế xã hội của từng cá thể , như tuổi, giới, nơi cư trú, công việc làm Và sau cùng người ta thường tiến hành những nghiên cứu ngang mô tả nhắc đi nhắc lại để theo dõi diễn biến của các phơi nhiễm đó theo thời gian vào những thời điểm cần thiết, cùng với diễn biến ảnh hưởng của chúng lên sức khỏe con người

Trong các nghiên cứu tìm căn nguyên, thì mục tiêu chính là đánh giá các phơi nhiễm

đã xảy ra trước bệnh Như vậy phải đặc biệt chú trong đến khoảng thời gian phơi nhiễm nhất định nào đó, đủ để cho một mức độ phơi nhiễm nào đó phát huy được tác động của chúng (thời gian đáp ứng theo liều đáp ứng) Khoảng thời gian này khác nhau tùy theo bản chất của bệnh nghiên cứu, đặc biệt là sinh lý bệnh học của nó trước phơi nhiễm nghiên cứu (Thí dụ sẽ là một khoảng thời gian ngắn trong trường hợp biểu hiện bệnh dị ứng trước một

dị nguyên nào đó, hoặc sẽ dài trong trường hợp mạn tính như bệnh tim mạch với rượu, bệnh ung thư phổi với hút thuốc lá)

Cần chú ý là trong các nghiên cứu ngang thì phơi nhiễm lại được ghi nhân cùng lúc với bệnh vào thời điểm nghiên cứu nên cần phải rất thận trong trong việc xác định căn nguyên Đặc biệt là khi phơi nhiễm của các đối tượng là không ổn định (và điều đó thường gặp trong đa số các cuộc nghiên cứu) thì không thể coi là phơi nhiễm trước đó được Lúc này, phải đánh giá đồng thời phơi nhiễm đó trong một thời gian đã quá dài hay ngắn phù hợp với bệnh và phơi nhiễm nghiên cứu về mặt sinh lý bệnh học và cơ chế bệnh sinh đối với phơi nhiễm đó

Cho nên, trong các nghiên cứu ngang mô tả cũng như các nghiên cứu ngang tìm căn nguyên, việc đánh giá phơi nhiễm hiện tại đặt ra một vấn đề quan trọng là chọn chỉ điểm của phơi nhiễm với công cụ và phương thức nghiên cứu giống như khi thu thập thông tin bằng bộ câu hỏi, dùng các ấn chỉ sinh học hay môi trường, thu thập thông tin từ các cá thể hay tập thể, không hay có nghiên cứu nhắc lại

2.5.1- Đánh giá phơi nhiễm hiện tại

Trang 38

Trong những nghiên cứu ngang, người ta có thể đánh giá phơi nhiễm hiện tại bằng định lượng nhờ vào những khả năng thực hiện những kỹ thuật định lượng sinh học hoặc môi trường một cách chính xác được

Như khi muốn đánh giá phơi nhiễm với một hóa chất trong môi trường lao động nghề nghiệp, người ta thực hiện việc định lượng nồng độ chất độc trong không khí qua khí thở hoặc các dẫn suất chuyển hóa trong một vài sinh chất nhất định Thí dụ, người ta đã đánh giá phơi nhiễm với styrène trong không khí, hoặc định lượng acid mandélique và phényglyoxilique là những dẫn suất chính của chúng trong nước tiểu Một loại ấn chỉ khác nữa, mặc dầu ít phổ biến hơn, lại dựa vào những số đo một phản ứng sinh học không độc của hóa chất nghiên cứu, như trong các trường hợp ngộ độc thuốc trừ sâu lân hữu cơ thì người ta định lượng pseudocholinesterase huyết thanh Gần đây nhất, trong các nghiên cứu về các chất sinh ung thư, nhiều ấn chỉ đã được chú ý phát triển để có thể cho phép ước lượng liều lượng những chất độc

cố định trên những phân tử mục tiêu

Tùy theo loại ấn chỉ sử dụng và tùy theo môi trường sinh học từ đó lấy các ấn chỉ này ra, người ta đánh giá phơi nhiễm vào một thời điểm như định lượng trichloréthylène trong máu hoặc khí thở ra Hoặc trong những ngày trước đó như trường hợp định lượng các chất chuyển hóa của trichloréthylène trong nước tiểu Một số ấn chỉ khác còn cho phép đánh giá các phơi nhiễm tích lũy, như trong trường hợp định lượng một vài kim loại nặng trong móng tay hoặc tóc có thể đo lường được những phơi nhiễm từ vài tháng trước Ngoài ra còn một số ấn chỉ mà việc định lượng được chúng có thể đo lường được phơi nhiễm tích lũy từ nhiều năm trước như các polychlorobiphényls trong các mô mỡ Các phương pháp này không chỉ dành riêng cho các môi trườmg nghề nghiệp mà còn ứng dụng trong cả việc đánh giá ô nhiễm không khí hoặc thức ăn nhiễm độc

2.5.2- Đánh giá phơi nhiễm đã xảy ra trong quá khứ

Trong các nghiên cứu ngang tìm căn nguyên thì những thông tin thu thập được trong đa số các trường hợp đều có thể cho phép nhà nghiên cứu hình thành một giả thuyết tương đối vững vàng về phơi nhiễm đối với những đối tượng được nghiên cứu trong một thời gian dài Nói cách khác, nó giúp cho nhà nghiên cứu có thể coi những số đo của phơi nhiễm hiện tại là một phản ánh tốt của phơi nhiễm trong quá khứ Trong trường hợp này, có thể dùng khoảng thời gian phơi nhiễm hoặc một chỉ số thời gian x mức độ phơi nhiễm làm cường độ phơi nhiễm Thí dụ như trong nghiên cứu về những hậu quả độc trên thận của styrène, các tác giả đã đánh giá phơi nhiễm bằng cách định lượng những sản phẩm chuyển hóa của styrène trong nước tiểu và đã thấy rằng mức độ phơi nhiễm của các đối tượng nghiên cứu là có cùng cường độ với mức độ phơi nhiễm ghi trong các hồ sơ y tế và

cả các kết quả điều tra môi trường đã thực hiện vào thời gian trước đó

Trên thực tế, các phơi nhiễm thường rất ít khi bền vững, đặc biệt là về mức độ phơi nhiễm Và điều đó có thể dẫn tới những sai lầm trong việc nhận định, xếp loại phơi nhiễm xảy ra trước bệnh Do đó phải đánh giá cẩn thận những phơi nhiễm từ trong quá khứ

Phương pháp thông dụng nhất là thu thập thông tin bằng bộ câu hỏi giống như trong các nghiên cứu bệnh chứng Tuy nhiên, trong một số trường hợp, người ta có thể chuẩn bị

Trang 39

được những dữ kiện khách quan và định lượng cho những phơi nhiễm trước đây của đối tượng nghiên cứu Như trong các cuộc điều tra về các nguy cơ sảy thai liên quan tới phơi nhiễm với thủy ngân của người cha, các tác giả đã sử dụng những lưu trữ về định lượng Hg trong nước tiểu được tiến hành hàng năm trên những công nhân ăn lương của nhà máy

2.6-CÁC SỐ ĐO HIỆN TƯỢNG SỨC KHỎE

Ở đây, ta không nhắc lại về tất cả những phương pháp đo lường sức khỏe và bệnh trạng Chỉ nhấn mạnh ở đây đến tầm quan trọng của việc chuẩn hóa các phương pháp và dụng cụ để đo lường sức khỏe và bệnh trạng sao cho có thể so sánh giữa các quần thể khác nhau và giữa các giai đoan thời gian khác nhau Nếu không chuẩn hóa về phương pháp, về dụng cụ, về người thực hiện thì không được phép đem so sánh và nếu cứ đem so sánh thì kết quả là không có giá trị gì Thí dụ những định nghĩa và phương pháp xác định thiếu dinh dưỡng, viêm phế quản mạn, huyết áp cao, huyết áp thấp sử dụng trong các cuộc điều tra trên phạm vi quốc tế đã cho phép người ta so sánh tỷ lệ hiện mắc của những hiện tượng đó trong các quốc gia khác nhau và theo dõi diễn biến của chúng

Về kinh điển mà nói thì các nghiên cứu ngang đo lường hiện tượng sức khỏe chỉ trong thời gian tiến hành nghiên cứu Tuy nhiên, trong các nghiên cứu ngang tìm căn nguyên, việc phiên giải các mối kết hợp quan sát được giữa một phơi nhiễm và một bệnh hiện có của quần thể còn đòi hỏi phải có hiểu biết về tiền sử của các đối tượng nghiên cứu Ngoài ra, trong những nghiên cứu đặc biệt như những nghiên cứu về bệnh học của các bệnh tái phát hoặc tái nhiễm thì những dữ kiện thu thập lại chủ yếu là hồi cứu

2.6.1- Đo lường tình trạng sức khỏe hiện tại

Nghiên cứu ngang cho phép ta thu thập đuợc tình trạng sức khỏe khá trung thực vì

có thểthực hiện được những thăm khám, xét nghiệm chính xác vì quần thể đều có mặt vào lúc nghiên cứu, giúp loại trừ được các sai số xếp lẫn trong chẩn đoán bệnh so với việc sử dụng bộ câu hỏi Nó còn cho ta tìm tòi những chỉ điểm sớm của bệnh Và như vậy có hai cái lợi là có thể phát hiện ra được những nhóm nguy cơ ở giai đoạn rất sớm và lại có thể tìm hiểu đươc một vài cơ chế tác động của yếu tố nguy cơ (thí dụ các chất độc) lên cơ thể người Thí dụ như trong nghiên cứu về nguy cơ nhiễm độc thận của các dung môi, người ta

đã làm ngay những định lượng các tham số miễn dịch và chức năng thận trên những người đang có mặt và đã xác định được những ấn chỉ nhạy nhất để phát hiện các nhóm nguy cơ và

cơ chế tác động của các dung môi đối với thận

Tuy rằng có những lợi điểm rõ rệt không thể chối cãi được trong việc sử dụng những dấu ấn sớm trong nghiên cứu ngang, song về dịch tễ học thì việc sử dụng này vẫn cần phải được cân nhắc Trong thực hành lâm sàng, người ta thường dùng để phát hiện ra những giá trị chênh lệch nhau của một tham số Còn trong nhiều nghiên cứu dịch tễ học khác, những biến thiên thường rất nhỏ so với những biến đổi gặp trong lâm sàng Nói

Trang 40

cách khác, những biến thiên đó của nhiều tham số trong bệnh lý thường có biến đổi khá lớn Còn cũng những tham số đó trong quần thể người lành lại biến thiên rất ít Điều đó cho chúng ta thấy rằng, nếu các khai thác trong nghiên cứu ngang không tiến hành trong những điều kiện chuẩn mực nhờ các phương pháp lấy bệnh phẩm, các phương pháp đo trong sinh hóa học, vi khuẩn học, huyết học không chuẩn thì sai số xếp lẫn lại rất hay gặp phải

Trong các nghiên cứu ngang, tình trạng sức khỏe được xác định ở một thời điểm nhất định nên rất khó biết được những biến dổi của một dấu ấn thấy được là thường xuyên hay chỉ là tạm thời Hơn nữa, ngay cả khi biến đổi đó là thường xuyên thì các giá trị tiên đoán lâu dài của các biến đổi đó cũng không biết được Người ta phân biệt 3 tình huống:

Thứ nhất, người ta đã biết rõ ràng phơi nhiễm với một chất độc Ví dụ như một chất gây ung thư chẳng hạn, thì một mặt nó kết hợp với những biến loạn chromosom của tế bào lympho ở những biến thiên rất thay đổi Mặt khác lại là một nguy cơ rất quan trọng của ung thư Trong tình huống này, mặc dù giá trị tiên đoán là không thể biết được ở mức cá thể, song hai loại thông tin liên quan với chất đó lại phù hợp nhau

Thứ hai, người ta biết rằng phơi nhiễm với một chất có thể dẫn tới sự biến đổi của một số sinh học và sự thay đổi này lại liên quan với một nguy cơ rất quan trọng của một bệnh Thí dụ như ở những người phơi nhiễm với Cadmium đều có albumin niệu rất nhẹ Nhưng ở những người mắc bệnh đái tháo đường thì thì albumin- niệu dù rất nhẹ cũng là một chỉ điểm tiên đoán một bệnh thận mạn tính Trong tình huống này, giá trị tiên đoán của tham số là biết được nhưng lại là ở trong một quần thể khác với quần thể mà ta đang cần nghiên cứu

Thứ ba là, người ta quan sát thấy những biến đổi có thể nghĩ đến là có kết hợp với một nguy cơ của bệnh do những hiểu biết về sinh học hoặc thực nghiệm nhưng lại không có chứng cớ nào dù gián tiếp để lý giải trên cơ thể người

Cho nên có thể nói rằng sử dụng những ấn chỉ xuất hiện sớm rõ ràng là có một lợi điểm to lớn trong dịch tễ học thì vẫn còn có những thay đổi tiền lâm sàng của một vài tham

số có thể quan sát được về mặt dịch tễ học có thể vẫn khó phiên giải xem có phải là những giá trị dự kiến cho một bệnh trên một cá thể hoặc có phải là có sự gia tăng nguy cơ của bệnh trong quần thể hay không

2.6.2- Đánh giá tình trạng sức khỏe trước đây

Việc đánh giá tình trạng sức khỏe ở những thời gian trước cuộc nghiên cứu tuy không khó khăn lắm trong việc khai thác nhưng lại rất khó khăn trong việc đảm bảo tính chính xác của nó và có làm cũng phải rất công phu mới được

Trong một vài trường hợp, sự kiện sức khỏe cần nghiên cứu là một bệnh cấp tính ngắn hạn hoặc một bênh lý tái phát thì chỉ một lần thăm khám vào thời điểm nghiên cứu là

vô nghĩa, không khai thác được gì chính xác cả Trong những trường hợp như thế, người ta thường phòng vấn các đối tượng nghiên cứu về tần số xuất hiện của sự kiện trong một khoảng thời gian hoặc dài hoặc ngắn tùy theo bản chất của sự kiện Như người ta đã tiến hành nghiên cứu trong các lò mổ thịt gia cầm về hậu quả lên sức khỏe của

Ngày đăng: 24/05/2020, 14:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w