Việc đánh giá tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân trong bệnh viện chưa được coi trọng, nếu có thì chỉ đánh giá tình trạng dinh dưỡng qua các chỉ số nhân trắc chiều cao, cân nặng và chỉ s
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÁI BÌNH
HỒ VĂN THĂNG
ĐÁNH GIÁ TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG VÀ CÁC HOẠT ĐỘNG CHĂM SÓC BỆNH NHÂN ĐIỀU TRỊ TẠI CÁC KHOA LÂM SÀNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA HUYỆN TÂN KỲ TỈNH NGHỆ AN
LUẬN ÁN BÁC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP II
THÁI BÌNH - 2014
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÁI BÌNH
HỒ VĂN THĂNG
ĐÁNH GIÁ TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG VÀ CÁC HOẠT ĐỘNG CHĂM SÓC BỆNH NHÂN ĐIỀU TRỊ TẠI CÁC KHOA LÂM SÀNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA HUYỆN TÂN KỲ TỈNH NGHỆ AN
Trang 3LỜI CẢM ƠN !
Tôi xin trân trọng cảm ơn: Ban Giám hiệu, Phòng Quản lý đào tạo sau Đại học, Khoa Y tế công cộng - Trường Đại học Y Dược Thái Bình cùng các Thầy Cô giáo đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận án
Trân trọng cám ơn ban lãnh đạo và cán bộ nhân viên Bệnh viện đa khoa huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện nghiên cứu để hoàn thành luận án
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cám ơn TS Khổng Thị Hơn và PGS.TS Ninh Thị Nhung những người thày đã dành
nhiều thời gian hướng dẫn, tận tình chỉ bảo giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu để hoàn thành luận án
Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành nhất tới gia đình, những người bạn thân thiết đã luôn giúp đỡ, động viên khích lệ, chia sẻ khó khăn trong thời gian tôi học tập để hoàn thành khóa học
Học viên
Hồ Văn Thăng
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được đăng tải trên bất kỳ một phương tiện thông tin nào
Tác giả luận án
Hồ Văn Thăng
Trang 5DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chỉ số khối cơ thể BHYT Bảo hiểm y tế
BVĐK Bệnh viện đa khoa
MNA Minimal Nutrition Assessment
Phương pháp đánh giá dinh dưỡng tối thiểu SGA Subjective Global Assessment
Phương pháp đánh giá chủ quan toàn diện
Trang 6MỤC LỤC
Trang DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG SỐ LIỆU
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 3
1.1 Một số khái niệm về tình trạng dinh dưỡng ở bệnh viện 3
1.1.1 Khái niệm về tình trạng dinh dưỡng 3
1.1.2 Vai trò của dinh dưỡng trong điều trị 4
1.2 Tình hình nghiên cứu về dinh dưỡng tại các bệnh viện 7
1.2.1.Thế giới 7
1.2.2 Ở Việt Nam 10
1.3 Các phương pháp đánh giá tình trạng dinh dưỡng 14
1.3.1 Phương pháp điều tra khẩu phần 15
1.3.2 Phương pháp nhân trắc 16
1.3.3 Đánh giá toàn diện 20
1.3.4 Phương pháp đánh giá tình trạng dinh dưỡng tối thiểu 21
1.4 Thực trạng các hoạt động chăm sóc dinh dưỡng tại các bệnh viện hiện nay 22
1.5 Các nghiên cứu về kiến thức, thái độ của cán bộ Y tế về chăm sóc dinh dưỡng tại bệnh viện 24
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
2.1 Đối tượng nghiên cứu 28
2.1.1 Địa bàn nghiên cứu 28
2.1.2 Đối tượng nghiên cứu 30
2.1.3 Thời gian nghiên cứu 30
Trang 72.2.2 Cỡ mẫu và chọn mẫu: 31
2.2.3 Các biến số và chỉ số trong nghiên cứu 32
2.2.4 Các kỹ thuật áp dụng trong nghiên cứu 33
2.2.6 Các tiêu chuẩn đánh giá sử dụng trong nghiên cứu 34
2.2.7 Phân tích sử lý số liệu khống chế sai số 37
2.2.8 Đạo đức trong nghiên cứu: 38
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 39
3.1 Xác định tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân điều trị tại các khoa lâm sàng Bệnh viện Đa khoa huyện Tân Kỳ 39
3.2 Đánh giá hoạt động quản lý, chăm sóc dinh dưỡng cho bệnh nhân và kiến thức, thái độ của cán bộ y tế về chăm sóc dinh dưỡng tại bệnh viện đa khoa huyện Tân Kỳ, Nghệ An 51
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 61
4.1 Tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân điều trị tại các khoa lâm sàng Bệnh viện Đa khoa huyện Tân Kỳ 61
4.2 Đánh giá hoạt động quản lý, chăm sóc dinh dưỡng cho bệnh nhân và kiến thức, thái độ của cán bộ y tế về chăm sóc dinh dưỡng tại bệnh viện đa khoa huyện Tân Kỳ, Nghệ An 72
KẾT LUẬN 81
KHUYẾN NGHỊ 83 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Trang Bảng 3.1 Đặc điểm về tuổi và giới của đối tượng nghiên cứu 39 Bảng 3.2 Giá trị trung bình cân nặng (kg) của bệnh nhân theo nhóm tuổi 40 Bảng 3.3 Giá trị trung bình cân nặng (kg) của bệnh nhân theo khoa 40 Bảng 3.4 Giá trị trung bình chiều cao (cm) của bệnh nhân theo nhóm tuổi 41 Bảng 3.5 Giá trị trung bình chiều cao (cm) của bệnh nhân theo khoa 41 Bảng 3.6 Giá trị trung bình chỉ số BMI của bệnh nhân theo nhóm tuổi 42 Bảng 3.7 Giá trị trung bình BMI của bệnh nhân theo khoa 42 Bảng 3.8 Tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân trước và sau 7 ngày điều trị
theo phương pháp BMI tại khoa Nội 43 Bảng 3.9 Tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân trước và sau 7 ngày điều trị
tại khoa Nội theo phương pháp BMI theo giới 44 Bảng 3.10 Tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân trước và sau 7 ngày điều trị
theo phương pháp BMI tại khoa Ngoại 44 Bảng 3.11 Tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân trước và sau 7 ngày điều trị
tại khoa Ngoại theo phương pháp BMI theo giới 45 Bảng 3.12 Tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân trước và sau 7 ngày điều trị
theo phương pháp SGA theo Khoa 46 Bảng 3.13 Tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân trước và sau 7 ngày điều trị
tại khoa Nội theo phương pháp SGA theo giới 47 Bảng 3.14 Tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân trước và sau 7 ngày điều trị
tại khoa Ngoại theo phương pháp SGA theo giới 48 Bảng 3.15 Tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân tại thời điểm nhập viện theo
phương pháp MNA theo khoa 49
Trang 9Bảng 3.16 Tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân tại thời điểm nhập viện
theo phương pháp MNA theo giới 50
Bảng 3.17 Tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân trước và sau 7 ngày điều trị theo phương pháp MNA tại bệnh viện Tân Kỳ 50
Bảng 3.18 Người phụ trách chính việc ăn uống của người bệnh tại bệnh viện 51 Bảng 3.19 Nguồn thông tin cung cấp để bệnh nhân lựa chọn chế độ ăn uống 52 Bảng 3.20 Nhận xét của bệnh nhân về những hướng dẫn chế độ dinh dưỡng của cán bộ y tế 53
Bảng 3.21 Sở thích của bệnh nhân với các món ăn, thức ăn 54
Bảng 3.22 Nhu cầu của bệnh nhân về phòng tư vấn dinh dưỡng và khoa dinh dưỡng tại bệnh viện 55
Bảng 3.23 Các chế độ can thiệp dinh dưỡng đã thực hiện tại các khoa 56
Bảng 3.24 Tỷ lệ cán bộ y tế biết khái niệm suy dinh dưỡng 57
Bảng 3.25 Tỷ lệ cán bộ y tế biết nguyên nhân suy dinh dưỡng 57
Bảng 3.26 Tỷ lệ cán bộ Y tế biết hậu quả suy dinh dưỡng 58
Bảng 3.27 Lý do cán bộ Y tế thấy cần thiết phải đánh giá tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân 58
Bảng 3.28 Tỷ lệ cán bộ y tế đánh giá về sự cần thiết phải xây dựng khoa dinh dưỡng 59
Bảng 3.29 Tỷ lệ cán bộ y tế biết nhiệm vụ của khoa dinh dưỡng 60 Bảng 3.30 Ý kiến của cán bộ y tế về khó khăn khi thành lập khoa dinh dưỡng 60
Trang 10DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Trang Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ bệnh nhân gày trước và sau 7 ngày điều trị theo phương
pháp BMI tại bệnh viện Tân Kỳ 43Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ bệnh nhân Gày trước và sau 7 ngày điều trị theo phương
pháp BMI theo giới tại bệnh viện Tân Kỳ 45Biểu đồ 3.3 Tỷ lệ bệnh nhân SDD trước và sau 7 ngày điều trị theo phương
pháp SGA tại bệnh viện Tân Kỳ 47Biểu đồ 3.4 Tỷ lệ bệnh nhân SDD trước và sau 7 ngày điều trị theo phương
pháp SGA theo giới tại bệnh viện Tân Kỳ 49Biểu đồ 3.5 Tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân trước và sau 7 ngày điều
trị theo ba phương pháp tại bệnh viện Tân Kỳ 51Biểu đồ 3.6 Tỷ lệ bệnh nhân được nhân viên y tế hướng dẫn chế độ ăn theo
khoa 52
Trang 11ĐẶT VẤN ĐỀ
Dinh dưỡng tốt là nền tảng của ngôi nhà sức khỏe Theo số liệu nghiên cứu của Viện Dinh dưỡng, hiện nay có tới 60% bệnh nhân ở Việt Nam bị suy dinh dưỡng khi nằm viện Tại Bệnh viện Bạch Mai, trong số 308 bệnh nhân nằm trị ở khoa Tiêu hóa và khoa Nội tiết, thì có đến 71,9% bệnh nhân bị suy dinh dưỡng [17] Nghiên cứu của Nguyễn Thị Lâm khoảng 50% bệnh nhân
đã có biểu hiện suy dinh dưỡng ngay khi nhập viện nhưng chỉ 12,5% bệnh nhân được phát hiện có suy dinh dưỡng Ngay cả các nước đã phát triển như Anh, Mỹ, tỷ lệ suy dinh dưỡng tại các bệnh viện cũng từ 30-50%, nhất là ở các khoa nội, hô hấp, tiêu hóa, nội tiết, lão khoa Suy dinh dưỡng (SDD) của bệnh nhân liên quan tới tăng nguy cơ mắc bệnh, tử vong và kéo dài thời gian nằm viện SDD không chỉ là một bệnh đơn thuần mà liên quan tới nhiều vấn
đề trong bệnh viện, bằng chứng là nhiều bệnh nhân tiếp tục bị SDD trong thời gian nằm viện [6]
Hiện nay vấn đề suy dinh dưỡng trong bệnh viện còn ít được quan tâm, việc đánh giá tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân trong bệnh viện chưa được tiến hành thường xuyên Suy dinh dưỡng là một hiện tượng phổ biến của bệnh nhân nằm viện dẫn đến tăng biến chứng đối với bệnh, kéo dài thời gian nằm viện, tăng tỷ lệ tử vong, tăng chi phí y tế Việc xác định những bệnh nhân có nguy cơ cao cần hỗ trợ dinh dưỡng tích cực sẽ làm giảm được những vấn đề trên Việc đánh giá tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân trong bệnh viện chưa được coi trọng, nếu có thì chỉ đánh giá tình trạng dinh dưỡng qua các chỉ số nhân trắc (chiều cao, cân nặng và chỉ số BMI) Trong khi các công
cụ đánh giá tình trạng dinh dưỡng như công cụ "đánh giá dinh dưỡng tối thiểu" (Mini-Nutrition Assessment) (MNA) cho người bệnh > 65 tuổi, phương pháp đánh giá chủ quan toàn diện (Subjective Global Assessment)
Trang 12(SGA) cho người bệnh từ 16 đến < 65 tuổi được sử dụng rộng rãi trong bệnh viện của các nước trên thế giới thì việc sử dụng các công cụ này còn rất xa lạ với hầu hết các bệnh viện ở nước ta
Trên bệnh nhân có suy dinh dưỡng tỷ lệ xuất hiện biến chứng nhiều hơn từ 2 - 20 lần [11] Việc trị bệnh bằng dinh dưỡng đang là một xu thế mới hình thành trên cơ sở lựa chọn một chế độ dinh dưỡng phù hợp để giữ gìn sức khỏe, mỗi nhóm bệnh, tùy thuộc vào thể trạng bệnh nhân đòi hỏi phải có một thực đơn dinh dưỡng riêng Theo đánh giá của Bộ Y tế cho thấy hiện có đến 31% bệnh viện tỉnh không có khoa dinh dưỡng Vì vậy việc chăm sóc dinh dưỡng cho bệnh nhân trong bệnh viện rất quan trọng Bộ Y tế đã có Thông tư 08/2011/TT-BYT về hướng dẫn công tác dinh dưỡng tiết chế trong bệnh viện nhằm khắc phục tình trạng dinh dưỡng ở các bệnh viện hiện nay
Tuy nhiên ở bệnh viện tuyến huyện nói chung và Bệnh viện đa khoa huyện Tân Kỳ nói riêng việc chăm sóc dinh dưỡng cho bệnh nhân còn chưa được quan tâm đúng mức, nhằm đánh giá tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân đang điều trị tại các khoa lâm sàng và tạo cơ sở cho việc tư vấn dinh
dưỡng cho bệnh nhân chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Đánh giá tình
trạng dinh dưỡng và các hoạt động chăm sóc bệnh nhân điều trị tại các khoa lâm sàng bệnh viện đa khoa Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An” với các mục tiêu sau:
1 Đánh giá tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân đang điều trị tại các khoa lâm sàng bệnh viện đa khoa huyện Tân Kỳ năm 2014
2 Đánh giá hoạt động quản lý, chăm sóc dinh dưỡng cho bệnh nhân và kiến thức, thái độ của cán bộ y tế về chăm sóc dinh dưỡng tại bệnh viện đa khoa huyện Tân Kỳ, Nghệ An
Trang 13CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN
1.1 Một số khái niệm về tình trạng dinh dưỡng ở bệnh viện
1.1.1 Khái niệm về tình trạng dinh dưỡng
Từ lâu người ta đã biết có mối liên quan chặt chẽ giữa dinh dưỡng và tình trạng sức khoẻ Tình trạng dinh dưỡng có thể được định nghĩa là tập hợp các đặc điểm cấu trúc, các chỉ tiêu hoá sinh và đặc điểm các chức phận của cơ thể phản ánh mức đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng Khi mới hình thành khoa học dinh dưỡng, để đánh giá tình trạng dinh dưỡng, người ta chỉ dựa vào các nhận xét đơn giản như gầy, béo; tiếp đó là một số chỉ tiêu nhân trắc như Brock, Quetelet, Pignet Nhờ phát hiện về vai trò các chất dinh dưỡng và các tiến bộ
kỹ thuật, phương pháp đánh giá tình trạng dinh dưỡng ngày càng hoàn thiện
và ngày nay trở thành một chuyên khoa của dinh dưỡng học
Tình trạng dinh dưỡng của các cá thể là kết quả của ăn uống và sử dụng các chất dinh dưỡng của cơ thể Số lượng và chủng loại thực phẩm cần để đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của con người khác nhau tùy theo tuổi, giới, tình trạng sinh lý (ví dụ: thời kỳ có thai, cho con bú ) và mức độ hoạt động thể lực và trí lực Cơ thể sử dụng các chất dinh dưỡng có trong thực phẩm không những phải trải qua quá trình tiêu hoá, hấp thu, phụ thuộc vào các yếu tố khác như sinh hoá và sinh lý trong quá trình chuyển hoá Việc sử dụng thực phẩm chủ yếu phụ thuộc vào tình trạng sức khoẻ của cá thể Ví dụ: tiêu chảy ảnh hưởng tức thì đến tiêu hoá hấp thu thức ăn Tình trạng dinh dưỡng tốt phản ảnh sự cân bằng giữa thức ăn ăn vào và tình trạng sức khoẻ, khi cơ thể có tình trạng dinh dưỡng không tốt, (thiếu hoặc thừa dinh dưỡng) là thể hiện có vấn
đề về sức khoẻ hoặc dinh dưỡng hoặc cả hai [8], [11], [19]
Trang 14Tình trạng dinh dưỡng của một quần thể dân cư được thể hiện bằng tỷ
lệ của các cá thể bị tác động bởi các vấn đề dinh dưỡng Tình trạng dinh dưỡng của trẻ em từ 0 đến 5 tuổi thường được coi là đại diện cho tình hình dinh dưỡng và thực phẩm của toàn bộ cộng đồng Đôi khi người ta cũng lấy tình trạng dinh dưỡng của phụ nữ tuổi sinh đẻ làm đại diện Các tỷ lệ trên phản ánh tình trạng dinh dưỡng của toàn bộ quần thể dân cư ở cộng đồng đó,
ta có thể sử dụng để so sánh với số liệu quốc gia hoặc cộng đồng khác
1.1.2 Vai trò của dinh dưỡng trong điều trị
Người ta đã biết chế độ ăn này hay chế độ ăn khác có thể không chỉ làm tăng sức chống đỡ của cơ thể đối với những bệnh khác nhau mà còn có tác động ngược lại nghĩa là làm giảm sức chống đỡ cửa cơ thể Chuyển chế độ ăn này sang chế độ ăn khác gây ra sự xáo trộn cơ thể trong đó có khả năng phản ứng của cơ thể Về phương diện này chế độ ăn biểu hiện tác động của mình không chỉ tới toàn bộ cơ thể mà còn tới tất cả các quá trình vận chuyển trong
cơ thể đang ở tình trạng bệnh lý hay kích thích gây bệnh
Nước ta đang ở trong thời kì kinh tế chuyển tiếp Bên cạnh mô hình bệnh tật của một nước kém phát triển trong đó suy dinh dưỡng và nhiễm khuẩn là phổ biến đang xuất hiện sự gia tăng nhiều loại bệnh hay gặp ở các nước phát triển Các bệnh mạn tính không lây là mô hình bệnh tật chính ở các nước có nền kinh tế phát triển Tuy còn đôi điều chưa sáng tỏ nhưng các ý kiến cho rằng dinh dưỡng có vai trò quan trọng trong việc phòng cũng như góp phần điều trị các bệnh này Béo phì là một tình trạng sức khỏe có nguyên nhân dinh dưỡng (chiếm 60-80% các trường hợp) Vào cơ thể các chất protein, lipit, gluxit đều có thể chuyển thành chất béo dự trữ Nhiều nghiên cứu cho thấy hàm lượng cholesterol trong máu và huyết áp tăng lên theo mức
độ béo, khi cân nặng giảm sẽ kéo theo giảm huyết áp và cholesterol Thực hiện một chế độ ăn uống hợp và hoạt động thể lực đúng mức để duy trì cân
Trang 15nặng ổn định ở người trưởng thành là nguyên tắc cần thiết để tránh béo phì Hiện nay, hầu như mọi người đều thừa nhận rằng chế độ ăn uống là một nhân
tố quan trọng trong phòng ngừa và xử trí một số bệnh tim mạch, trước hết là bệnh tăng huyết áp và bệnh mạch vành Một chế độ ăn hạn chế muối, giảm năng lượng và rượu có thể đủ để làm giảm huyết áp ở phần lớn đối tượng có tăng huyết áp nhẹ Ở những người tăng huyết áp nặng chế độ ăn đó cũng làm giảm bớt liều lượng các thuốc giảm huyết áp cần thiết
Mối liên quan giữa bệnh mạch vành với số lượng cholesterol toàn phần trong máu đã được thừa nhận rộng rãi Người ta thấy thành phần chính trong chế độ ăn có ảnh hưởng đến hàm lượng cholesterol huyết thanh là các axit béo
no Axit béo no có nhiều trong chất béo động vật Do đó một chế độ ăn giảm chất béo động vật, tăng dầu thực vật, bớt ăn thịt, tăng ăn cá là có lợi cho người có rối loạn chuyển hóa cholesterol Chế độ ăn nhiều rau và trái cây có tác dụng bảo vệ cơ thể đối với bệnh mạch vành tuy cơ chế còn chưa rõ ràng
có thể đó là do tác dụng của chất xơ có nhiều trong rau quả, cũng có thể một chế độ ăn thực vật sẽ làm giảm huyết áp, một nhân tố nguy cơ của các bệnh mạch vành
Những nghiên cứu gần đây cho thấy chế độ ăn ít xơ và nhiều chất béo đặc biệt là chất béo bão hòa làm tăng nguy cơ ưng thư đại tràng Tác dụng của chất xơ có thể là do chúng chống táo bón pha loãng các chất có thể gây ung thư trong thực phẩm và giảm thời gian tiếp xúc của niêm mạc đường tiêu hóa với các chất này Người ta còn thấy vai trò của chế độ ăn trong bệnh đái đường, chế độ ăn thực vật, nhiều rau có liên quan đến hạ tháp tỉ lệ mắc đái đường thể không phụ thuộc vào Insulin
Không thể phủ nhận được vai trò của ăn uống đối với các bệnh dinh dưỡng như suy dinh dưỡng protein năng lượng, thiếu Vitamin A và bệnh khô mắt, bướu cổ do thiếu iốt, thiếu máu do thiếu sắt
Trang 16Trong trường hợp bị thương phần mềm, gãy xương, cơ thể suy nhược sau sốt rét, sau mổ, chế độ ăn hợp lí sễ giúp cho vết thương chóng lành và phục hồi cơ thể (đặc biệt là protein và vitamin C) Một số trường hợp, bệnh cấp tính qua đi rất nhanh, nếu bệnh nhân coi mình đã khỏe và không có chế
độ ăn thích hợp thì bệnh có thể chuyển sang mạn tính
Khi nền kinh tế ngày càng phát triển, đời sống của nhân dân ngày càng được quan tâm hơn, lượng cung cấp lương thực, thực phẩm ngày càng tăng lên Điều này đã làm giảm tỷ lệ CED ở người trưởng thành, tuy nhiên vẫn còn
ở mức cao Ở Việt Nam, theo một nghiên cứu về tình trạng dinh dưỡng ở phụ
nữ lứa tuổi sinh đẻ (tuổi từ 15-49) tại một huyện tỉnh Hải Dương (2006), tỷ lệ thiếu năng lượng trường diễn (CED) là 36,8% Theo Hà Huy Khôi và cs (1997) nghiên cứu về TTDD của 1070 sinh viên Đại học Y Hà Nội, Thái Bình
và Bắc Thái cho thấy tỷ lệ thiếu năng lượng trường diễn ở nam là 39,2%, ở nữ
là 47,9% Tác giả Hà Huy Tuệ và Lê Bạch Mai (2008) nghiên cứu TTDD và mức tiêu thụ lương thực thực phẩm trung bình của người từ 16-60 tuổi tại xã Duyên Thái tỉnh Hà Tây, kết quả cho thấy tỷ lệ CED của người trưởng thành
là 22,2% [37] Tác giả Phạm Anh Đức và Hoàng Thị Thanh năm 2006 đã chỉ
ra viêm phổi, tiêu chảy và thiếu máu ở trẻ em có liên quan rõ, chặt chẽ với tình trạng nhẹ cân [7]
Dinh dưỡng và điều kiện vệ sinh là những yếu tố chính làm giảm tỷ lệ mắc bệnh nhiễm trùng Nhiều nghiên cứu đã chứng minh vài trò quan trọng của dinh dưỡng đối với sự hình thành và duy trì khả năng miễn dịch của cơ thể BMI như là một chỉ số tốt để đánh giá khả năng miễn dịch và tăng tính nhạy cảm đối với các bệnh nhiễm trùng BMI thấp làm giảm khả năng miễn dịch và tăng tính nhạy cảm đối với các bệnh đó BMI thấp cũng có mối liên quan với sự biến đổi nhiều chức năng quan trọng của tế bào dẫn đến sự thay đổi sự chuyển hoá và tác động vật lý của thuốc Điều này đã ảnh hưởng tới tác
Trang 17dụng, liều lượng, thời gian và sự thành công của thuốc Người ta cũng nhận thấy rằng có sự liên quan giữa BMI thấp và tỷ lệ tử vong
1.2 Tình hình nghiên cứu về dinh dưỡng tại các bệnh viện
1.2.1 Thế giới
Ngày xưa, với những kinh nghiệm hiểu biết về đặc tính của thực phẩm, con người đã khám phá được giá trị phòng bệnh và trị bệnh của thực phẩm, đối với cơ thể Theo “Hoàng Đế Nội Kinh”, cổ y Trung Hoa, năm 2697 trước Công nguyên, vua Hoàng Đế đã biết dạy dân áp dụng những đặc tính thực phẩm, để nâng cao sức khỏe Theo các sử sách y học phương tây, trong những tài liệu cổ y được lưu truyền của Hippocrates (460 - 357 trước Công nguyên), Sáng tổ nền y học cổ truyền phương tây, đã nêu cao vai trò quan trọng của yếu tố thiên nhiên, và đặc tính thực phẩm, trong việc phòng bệnh và trị bệnh cho con người
Đến thời kỳ phát triển kỹ nghệ Châu Âu, những kỹ thuật tân tiến về canh tác, và chăn nuôi đã đóng góp lớn lao, vào mức gia tăng năng suất thực phẩm Các nước văn minh tiền tiến có được nguồn thực phẩm dồi dào Cho nên, tại Âu Châu, Úc Châu, Hoa Kỳ, hàng năm, đa số người dân đạt được mức lợi tức cao, và được nuôi dưỡng đầy đủ Với tiêu chuẩn dinh dưỡng cao, chính phủ có những chương trình trợ cấp thực phẩm, giúp cho những gia đình nghèo có lợi tức thấp, các trẻ em học sinh nghèo có những khẩu phần trong ngày tại các trường học Ngoài ra, có những người lạm dụng thực phẩm, ăn uống quá độ, đã tạo nên tình trạng dư thừa chất bổ dưỡng, trong cơ thể của
họ, để sinh ra các bệnh chứng như: béo phì, ung thư, đau tim, áp huyết cao, xơ cứng động mạch, tiểu đường, đau dạ dày, ruột, Theo các tài liệu nghiên cứu, các bệnh do thừa chất dinh dưỡng đã chiếm một tỷ lệ chết người cao nhất, hàng năm tại các nước tiền tiến [6], [55], [59]
Trang 18Trái lại, tại Châu Á, Châu Phi, phần lớn các nước nghèo đói chậm tiến, hầu hết, người dân có lợi tức rất thấp (so với người Tây phương), đời sống của họ rất nghèo đói, thiếu thốn mọi mặt, nguồn cung cấp thực phẩm khan hiếm Đa số người dân được nuôi dưỡng, trong điều kiện thiếu chất dinh dưỡng, sức khỏe của họ suy yếu, và thường sinh ra nhiều bệnh tật như: Cơ thể
bị suy nhược, thiếu sinh tố sinh ra những bệnh Percicious Anemia, thiếu khoáng chất như Calcium sinh ra bệnh xốp (mềm) xương (Osteoporosis), thiếu chất Iodine sinh ra bệnh bướu cổ (Goiter), thiếu chất Đạm sinh ra bệnh Marasmus Sức đề kháng cơ thể yếu kém rất dễ cho các loại vi trùng Lao Pneumococcus, và Salmonella xâm nhập cơ thể
Những bệnh sinh ra bởi việc ăn uống, vì thiếu hoặc thừa chất bổ dưỡng, đều có ảnh hưởng lớn mạnh đến tính chất di truyền cho các thế hệ con cháu
về sau Do đó, hầu hết các nước tiền tiến, trên thế giới, đều có những tổ chức dinh dưỡng, bảo vệ sức khỏe người dân Những tổ chức này có nhiệm vụ nghiên cứu, phát triển, giáo dục về dinh dưỡng, và ấn định tiêu chuẩn dinh dưỡng, để giúp người dân bản xứ hiểu biết tỷ lệ chất dinh dưỡng cần thiết, trong việc ăn uống hàng ngày [49], [53]
Kết quả nghiên cứu tình trạng thiếu dinh dưỡng của bệnh nhân vào thời điểm nhập viện tại Anh (1994), tỷ lệ SDD là 56% bệnh nhân Nội khoa, 25% bệnh nhân khoa hô hấp và 43% bệnh nhân lão khoa Tỷ lệ suy dinh dưỡng tại các bệnh viện của Mỹ là 30-50% [59]
Nghiên cứu về các nguy cơ suy dinh dưỡng trên 374 bệnh nhân phẫu thuật dạ dày ruột bằng sử dụng phương pháp đánh giá chủ quan toàn diện (SGA) tại ở Braxin năm 1996 cho thấy [41]: tỷ lệ suy dinh dưỡng là 55% trong đó suy dinh dưỡng nặng chiếm 19%, tuổi của bệnh nhân là một yếu tố ảnh hưởng tới tỷ lệ suy dinh dưỡng, các bệnh nhân > 60 tuổi có tỷ lệ suy dinh dưỡng là 64%, trong khi đó với bệnh nhân < 60 tuổi thì tỷ lệ suy dinh dưỡng
Trang 19chiếm 50% Suy dinh dưỡng liên quan tới thời gian nằm viện, hơn 81% bệnh nhân có thời gian nằm viện trên 15 ngày là những bệnh nhân suy dinh dưỡng Đội ngũ cán bộ y tế dường như không coi suy dinh dưỡng như một vấn đề nghiêm trọng trong bệnh viện, chỉ có 50% số bệnh nhân suy dinh dưỡng có thông tin về tình trạng dinh dưỡng trong bệnh án, chỉ có 16,6% bệnh nhân được cân khi nhập viện và chỉ có 19,2% được ghi chép về cân nặng trong bệnh án
Khoảng 30% trong tổng số bệnh nhân trong bệnh viện bị suy dinh dưỡng, phần lớn trong số họ bị SDD khi nhập viện và một số lượng không nhỏ bị SDD trong quá trình nằm trong bệnh viện [36]
Nghiên cứu trên 309 bệnh nhân viêm cầu thận cấp cho thấy có tới 42% suy dinh dưỡng nặng Các chỉ số nhân trắc, sinh hóa và miễn dịch dinh dưỡng đều giảm có ý nghĩa so với nhóm bệnh nhân có tình trạng dinh dưỡng bình thường Suy dinh dưỡng nặng làm tăng nguy cơ nhiễm trùng (OR 2,88;CI 95%, p<0,001), shock nhiễm trùng (OR 4,05; CI 95%, p<0,001), chảy máu (OR 2,8; CI 95%, p<0,001), viêm phổi (OR 3,35; CI 95%, p<0,001) so với nhóm bệnh nhân có TTDD bình thường Thời gian nằm bệnh viện cao hơn có
ý nghĩa so với nhóm bệnh nhân có dinh dưỡng tốt (p<0,01), tỷ lệ tử vong cao hơn có ý nghĩa (OR 7,21; CI 95%, p<0,001) [35]
Nghiên cứu tìm hiểu liên quan giữa tình trạng suy dinh dưỡng của bệnh nhân trong bệnh viên và tỷ lệ mắc bệnh, tử vong, thời gian nằm viện và chi phí cho thấy: Nguy cơ biến chứng của bệnh nhân suy dinh dưỡng có RR là 1,6
Tỷ lệ tử vong ở bệnh nhân suy dinh dưỡng là 12,4% so với 4,7% ở người dinh dưỡng tốt Bệnh nhân có suy dinh dưỡng có số ngày nằm viện là 16,7 + 24,5 ngày so với 10,1 + 11,7 ngày ở người dinh dưỡng tốt Chi phí của bệnh nhân
có suy dinh dưỡng tăng tới 308,9% so với chi phí của người bệnh có dinh dưỡng tốt
Trang 201.2.2 Ở Việt Nam
a, Tình trạng thiếu năng lượng trường diễn
Thiếu năng lượng trường diễn và cơ cấu chất lượng khẩu phần không hợp lý là nguyên nhân dẫn đến sự phát triển thể chất, trí tuệ kém, có thể nói tình trạng dinh dưỡng là trạng thái sức khoẻ, phản ánh mức đáp ứng nhu cầu các chất dinh dưỡng của cơ thể
Nguyên nhân gây thiếu năng lượng trường diễn là do khẩu phần ăn thấp
cả về số lượng và chất lượng, do điều kiện lao động nặng, kéo dài, nhất là ở nông thôn do điều kiện kinh tế, xã hội còn kém phát triển, thu nhập thấp do giá trị ngày công lao động thấp Một nghiên cứu trên 1845 đối tượng là nông dân, trong đó có 632 nam và 1313 nữ cho thấy tỷ lệ có BMI dưới mức bình thường là 69,46% ở nam và 39,49% ở nữ [32]
Theo kết quả tổng điều tra toàn quốc của Viện Dinh Dưỡng năm 2000 trên 40.000 người trưởng thành trên 20 tuổi cho thấy: tỷ lệ người bị thiếu năng lượng trường diễn là 25% Tỷ lệ này ở nữ cao hơn ở nam, ở các xã nghèo lớn hơn ở các xã khác, ở vùng thành phố thấp hơn ở vùng nông thôn Vào năm 2005, một cuộc tổng điều tra khác trên 16.230 đối tượng từ 25-64 tuổi cho thấy tỷ lệ thiếu năng lượng trường diễn đã giảm đi một cách đáng kể (còn 18,7%) Sự thay đổi này có thể là do mức sống của người dân nói chung
và bữa ăn nói riêng đã được cải thiện nhiều Hơn thế nữa, các quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đã tạo cơ hội cho việc giảm tiêu hao năng lượng cho lao động và hoạt động sống của người dân [21], [22]
b, Tình trạng thừa cân, béo phì
Tổ chức Y tế thế giới định nghĩa béo phì là tình trạng tích luỹ mỡ quá mức và không bình thường của một vùng cơ thể hay toàn thân đến mức ảnh hưởng tới sức khoẻ Béo phì là tình trạng sức khoẻ có nguyên nhân dinh
Trang 21dưỡng Người béo phì, ngoài thân hình nặng nề còn có nguy cơ mắc nhiều bệnh như rối loạn lipid máu, tăng huyết áp, sỏi mật, đái tháo đường, xương khớp và ung thư Một điểm cần chú ý là bệnh béo phì, chất mỡ tập trung nhiều vùng quanh eo lưng thường được gọi là béo kiểu “trung tâm” có nhiều nguy cơ đối với sức khoẻ bệnh tật hơn là mỡ tập trung phần háng Vì vậy, bên cạnh theo dõi chỉ số BMI nên theo dõi thêm chỉ số vòng eo/vòng mông, khi tỷ
lệ này vượt quá 0,9 ở nam giới và 0,8 ở nữ giới thì các nguy cơ tăng huyết áp, bệnh tim mạch, bệnh đái tháo đường đều tăng rõ rệt Các mô mỡ dư thừa là nguồn phóng thích vào tuần hoàn các acid béo không este hoá, các cytokin, PAI-1 (Plasminogen activator inhibitor 1 và adiponectin) Các yếu tố này làm tăng sự đề kháng insulin, tạo khả năng gây viêm của lớp tế bào nội mô mạch máu, tạo thuận lợi cho mảng xơ vữa hình thành và phát triển
Hiện nay tình hình thừa cân béo phì đang tăng lên với tốc độ đáng báo động không những ở các quốc gia phát triển mà còn ở các quốc gia đang phát triển Đây thực sự là mối đe doạ tiềm ẩn trong tương lai Ở nước ta, công cuộc đổi mới kinh tế đã tạo cho mức sống chung của dân cư có những bước tiến bộ
rõ nét, song sự phân cực xã hội đã hình thành, việc sử dụng đồ ăn nhanh, nước ngọt cùng lối sống tĩnh tại, ít hoạt động thể lực, các hình thức giải trí ít tiêu hao năng lượng và bữa ăn chứa nhiều năng lượng đã làm tăng nguy cơ thừa cân, béo phì
c/ Tình trạng dinh dưỡng tại bệnh viện
Từ trước đến nay, phần lớn người bệnh khi bước chân vào bệnh viện chỉ chú ý tới việc dùng thuốc trị bệnh và hỗ trợ sức khỏe Tuy nhiên, việc lạm dụng các loại tân dược sẽ gây hại với sức khỏe người bệnh Việc trị bệnh bằng dinh dưỡng đang là một xu thế mới hình thành trên cơ sở lựa chọn một chế độ dinh dưỡng phù hợp để giữ gìn sức khỏe Mỗi nhóm bệnh, tùy thuộc vào thể trạng bệnh nhân đòi hỏi phải có một thực đơn dinh dưỡng riêng
Trang 22Có tới hơn 60% bệnh nhân nhập viện không được xét nghiệm nguy cơ thiếu hụt dinh dưỡng Ngay tại những bệnh viện chuyên khoa hàng đầu, việc đánh giá dinh dưỡng cho bệnh nhân cũng rất hạn chế do thiếu hụt đội ngũ chuyên môn, trang thiết bị Chỉ một số trường hợp bệnh nặng mới được mời hội chẩn dinh dưỡng Hậu quả là cứ 3 người nhập viện thì có ít nhất một suy dinh dưỡng, tình trạng trầm trọng hơn khi họ xuất viện Các chuyên gia dinh dưỡng nhận định có khoảng 30-50% bệnh nhân nằm viện bị suy dinh dưỡng;
có tới 2/3 số bệnh nhân nằm viện không được thầy thuốc quan tâm đến tình trạng dinh dưỡng Trong khi đó, bản thân người bệnh rất ít để ý đến vấn đề này, họ chủ yếu nghĩ đến thuốc, bác sĩ, các thủ thuật, phẫu thuật
Theo ước tính của Viện Dinh dưỡng quốc gia, tỉ lệ suy dinh dưỡng của những bệnh nhân đang nằm điều trị nội trú tại các bệnh viện chiếm khoảng 40-50% Tại Bệnh viện Bạch Mai, có đến 65% người bệnh điều trị tại Khoa Hồi sức tích cực nhập viện trong tình trạng suy dinh dưỡng Điều tra cắt ngang 95/300 bệnh nhân vào bệnh viện Bạch Mai trong giai đoạn từ tháng 8 đến tháng 12/2010 cho thấy tỉ lệ suy dinh dưỡng lên tới 65% (BMI < 18,5) trong đó suy dinh dưỡng vừa và nặng là chủ yếu và 65% suy dinh dưỡng (chủ yếu là nhẹ) khi ra viện Tỉ lệ này ở Việt Nam rõ ràng tương đương, thậm chí cao hơn mức trung bình của thế giới (khoảng 50% bệnh nhân nội trú bị suy dinh dưỡng)
và đây là tình hình chung tại các cơ sở y tế ở tất cả quy mô, công và tư
Theo nghiên cứu của Phạm Thu Hương và cộng sự năm 2006 trên 308 bệnh nhân khoa Nội tiết và khoa Tiêu hoá Bệnh viện Bạch Mai nhằm xác định tình trạng thiếu dinh dưỡng trong các bệnh nhân nhập viện Các bệnh nhân được đo các chỉ số nhân trắc và khẩu phần ăn của bệnh nhân được đánh giá bằng phương pháp hỏi ghi 24 giờ Bệnh nhân được đánh giá bằng phương pháp đánh giá chủ quan toàn diện (SGA) và phương pháp đánh giá dinh dưỡng tối thiểu (MNA) Kết quả cho thấy tỷ lệ suy dinh dưỡng thiếu năng
Trang 23lượng trường diễn (BMI <18,5) là 25,2%, tính riêng ở bệnh nhân khoa Tiêu hoá (28,9%) cao hơn so với khoa Nội tiết (21,7%); tỷ lệ thừa cân (BMI>23) là 19,9%, ở bệnh nhân khoa Nội tiết và Tiêu hoá tương ứng là 24,8% và 14,8%;
tỷ lệ thiếu dinh dưỡng của bệnh nhân dưới 65 tuổi (bằng phương pháp SGA)
là 13,4% (khoa Nội tiết) và 58,5% (khoa Tiêu hóa) và tỷ lệ SDD của bệnh nhân trên hoặc bằng 65 tuổi (bằng công cụ MNA) 31,6% (khoa Nội tiết) 68,4% (khoa Tiêu hóa) [21]
Kết quả khảo sát tình trạng dinh dưỡng của 144 bệnh nhân suy thận mạn tính lọc máu chu kỳ theo bảng điểm đánh giá chủ quan toàn diện (SGA)
có tỷ lệ SDD (SGA>7 điểm) là 98,6%, SGA trung bình 15,2 ±3,8 [7] Kết quả nghiên cứu đánh giá tình trạng dinh dưỡng bằng các chỉ số hóa sinh và nhân trắc ở người trưởng thành tại một vùng nông thôn Việt Nam năm 2008 cho thấy các chỉ tiêu nhân trắc hóa sinh có ý nghĩa rất lớn trong việc phát hiện sớm và dự báo cộng đồng có nguy cơ cao về dinh dưỡng đặc biệt là ở vùng nông thôn [25] Kết quả nghiên cứu các chỉ số liên quan tới dinh dưỡng của bệnh nhân theo tình trạng dinh dưỡng (BMI) tại Bệnh viện tỉnh Hải Dương cho thấy các chỉ số liên quan đến SDD của nhóm SDD đều cao hơn nhóm không SDD: Tỷ lệ giảm cân trong 2 tuần trước khi nhập viện của bệnh nhân SDD là 66,7%, cao hơn nhóm bình thường (43,5%) sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,001; tỷ lệ bệnh nhân giảm khẩu phần ăn khi nhập viện ở nhóm SDD là 59,3% cao hơn nhóm bình thường (46,1%), ở nhóm SDD tỷ lệ giảm 1/2 chức năng vận động (44,4%) và nằm liệt tại giường (33,3%), cao hơn ở nhóm bình thường tương ứng là 22,7% và 9,1%, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,01 [14] Nghiên cứu thực trạng dinh dưỡng của bệnh nhân tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Giang năm 2012 cho thấy tỷ lệ thiếu dinh dưỡng của bệnh nhân trong bệnh viện cao, đánh giá theo BMI tỷ lệ thiếu năng lượng trường diễn (CED) là 27,7% và tỷ lệ nguy cơ SDD và SDD theo
Trang 24SGA 47,0% Tỷ lệ bệnh nhân có nguy cơ về SDD đều có xu hướng tăng lên theo thời gian nằm viện khi đánh giá tình trạng dinh dưỡng bằng nhân trắc hay SGA [20] Kết quả nghiên cứu tình trạng dinh dưỡng tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Điện Biên năm 2012 cho thấy tỷ lệ thiếu dinh dưỡng của bệnh nhân trong bệnh viện đánh giá theo phương pháp nhân trắc ở mức độ trung bình (tỷ
lệ bệnh nhân thiếu năng lượng trường diễn - CED là 18,6%), đánh giá bằng phương pháp SGA là rất cao (tỷ lệ bệnh nhân nguy cơ SDD và SDD là 33,4%) So sánh tỷ lệ SDD bằng phương pháp SGA giữa nam và nữ sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,05
1.3 Các phương pháp đánh giá tình trạng dinh dưỡng
Hiện nay có 4 nhóm chỉ tiêu được dùng trong đánh giá tình trạng dinh dưỡng:
- Điều tra khẩu phần và tập quán dinh dưỡng
- Các chỉ tiêu nhân trắc dinh dưỡng
- Các thăm khám thực thể để phát hiện các dấu hiệu lâm sàng của bệnh tật có liên quan đến ăn uống
- Các xét nghiệm hoá dinh dưỡng
Mỗi nhóm chỉ tiêu có những giá trị riêng, nó thường có nhiều kỹ thuật khác nhau, do vậy việc lựa chọn những chỉ tiêu, những kỹ thuật áp dụng cho mỗi cuộc điều tra tại cộng đồng hay trong bệnh viện cần được cân nhắc kỹ để đảm bảo sao cho vừa có những dẫn liệu đáng tin cậy, lại vừa giảm chi phí, phù hợp với điều kiện thực tế
Đánh giá tình trạng dinh dưỡng là quá trình thu thập và phân tích thông tin, số liệu về tình trạng dinh dưỡng và nhận định tình hình trên cơ sở các thông tin, số liệu đó Mục đích của quá trình đánh giá tình trạng dinh dưỡng là xác định thực trạng dinh dưỡng, xác định nhóm đối tượng có nguy cơ cao, tìm
ra những yếu tố có liên quan đến tình trạng dinh dưỡng, là xác định thực trạng dinh dưỡng, trên cơ sở đó dự báo tình hình dinh dưỡng trong tương lai và đề
Trang 25ra những biện pháp can thiệp nhằm cải thiện tình trạng dinh dưỡng hiện tại Phương pháp đánh giá tình trạng dinh dưỡng ngày càng hoàn thiện và hiện nay đã trở thành một chuyên ngành sâu của dinh dưỡng học
1.3.1 Phương pháp điều tra khẩu phần
Điều tra khẩu phần là thu thập số liệu về tiêu thụ lương thực, thực phẩm và tập quán ăn uống, qua đó cho phép rút ra kết luận về mối quan hệ giữa ăn uống và tình trạng sức khoẻ Tùy theo mục đích nghiên cứu, người ta
có thể điều tra khẩu phần của một cá thể hoặc tập thể, có thể tìm hiểu ăn uống trong thời gian đã qua (hỏi tiền sử dinh dưỡng), hiện tại hoặc sắp tới Vì vậy, điều tra khẩu phần là một bộ phận thiết yếu của các cuộc điều tra dinh dưỡng
Có nhiều phương pháp điều tra khẩu phần khác nhau nhưng phổ biến nhất là phương pháp tường thuật một ngày ăn gần nhất, điều tra tần suất tiêu thụ thực phẩm, là những phương pháp tương đối đơn giản có tính khả thi cao
ở cộng đồng
* Điều tra khẩu phần của cá thể
- Điều tra tần suất tiêu thụ thực phẩm
Phương pháp này được dùng để thu thập các thông tin về chất lượng khẩu phần, đưa ra một “bức tranh” về bữa ăn của đối tượng Thường thì nó không có tác dụng cung cấp các số liệu chính xác về số lượng các thực phẩm cũng như các chất dinh dưỡng được sử dụng nhưng đôi khi người ta cũng có thể lượng hóa để ước tính về năng lượng và các chất dinh dưỡng của khẩu phần Tần suất tiêu thụ một thực phẩm nào đó có thể phản ánh sự có mặt của một hoặc nhiều chất dinh dưỡng tương ứng trong khẩu phần mà chúng ta cần quan tâm
- Phương pháp nhớ lại 24 giờ qua
- Phương pháp ghi sổ và kiểm kê
- Phương pháp cân đong
- Phương pháp phân tích hoá học
Trang 26* Điều tra tập tính dinh dưỡng
Tập tính dinh dưỡng bao gồm toàn bộ các thói quen có liên quan tới cách lựa chọn và chế biến thức ăn, cách phân phối các bữa ăn trong ngày Tìm hiểu tập tính dinh dưỡng và xác định được nguyên nhân của chúng là cần thiết vừa để tiến hành giáo dục dinh dưỡng có hiệu quả vừa đề ra phương hướng sản xuất thích hợp Sự hình thành và phát triển của tập tính dinh dưỡng chịu ảnh hưởng của các yếu tố tâm lý, kinh tế xã hội, tôn giáo lịch sử và địa lý Phương pháp nghiên cứu hay dùng nhất là phương pháp hỏi phỏng vấn trực tiếp qua phiếu điều tra Điều tra nguyên nhân của tập tính dinh dưỡng là một điều tra có khó khăn và còn ít kinh nghiệm
* Điều tra các yếu tố sinh thái khác
Suy dinh dưỡng ở người luôn là một vấn đề sinh thái Với ý nghĩa đó,
ta hiểu nguyên nhân của suy dinh dưỡng là tập hợp nhiều yếu tố tác động lẫn nhau trong môi trường vật lý, sinh học và văn hoá quần thể Số lượng thức ăn
và chất dinh dưỡng tuỳ thuộc theo các điều kiện tự nhiên như khí hậu, chất đất, tình hình thuỷ lợi các tập quán văn hoá như cách thức chế biến, hiểu biết
về dinh dưỡng
Trong các năm gần đây, người ta đã hiểu thêm về mối quan hệ qua lại giữa chất dinh dưỡng và nhiễm khuẩn, giữa căng thẳng về tinh thần với nhu cầu các chất dinh dưỡng Vì vậy, cần thiết phải tìm hiểu vai trò các yếu tố sinh thái trong sinh bệnh học của thiếu dinh dưỡng để có thể đề ra những chương trình dự phòng thích hợp, giải quyết các vấn đề ở khâu yếu nhất
1.3.2 Phương pháp nhân trắc
Nhân trắc học dinh dưỡng có mục đích xác định đo lường các biến đổi
về kích thước và cấu trúc cơ thể theo tuổi và tình trạng dinh dưỡng Số đo nhân trắc được sử dụng để đánh giá tình trạng dinh dưỡng để theo dõi thay đổi
về tình trạng dinh dưỡng và tình trạng mất khối cơ [21]
Trang 27Phương pháp nhân trắc học có những ưu điểm là đơn giản, an toàn và có thể điều tra trên một mẫu lớn Trang thiết bị không đắt, dễ vận chuyển Có thể khai thác đánh giá được các dấu hiệu về TTDD trong quá khứ và xác định được mức độ suy dinh dưỡng Tuy nhiên phương pháp nhân trắc học cũng có một vài nhược điểm như: Không đánh giá được sự thay đổi về TTDD trong giai đoạn ngắn hoặc không nhạy để xác định các thiếu hụt dinh dưỡng đặc hiệu
Trong thực hành trên lâm sàng, các số đo thường được sử dụng là: trọng
lượng cơ thể (bao gồm cả tỷ lệ thay đổi trọng lượng), chiều cao (liên quan tới
trọng lượng cơ thể dùng để xác định khối mỡ), khối mỡ (vòng eo, BMI, bề dầy lớp mỡ dưới da), khối cơ (vòng cánh tay), thành phần cơ thể, lượng nước [24]
Trọng lượng cơ thể: Số đo trọng lượng đơn thuần không được sử dụng
đặc hiệu để xác định tình trạng dinh dưỡng mà thường kết hợp với các số đo khác như BMI Xác định trọng lượng cơ thể thường xuyên có tác dụng rất quan trọng để ghi nhận được thay đổi về trọng lượng theo thời gian và để tính toán tỷ lệ tăng hoặc giảm cân
Tỷ lệ thay đổi trọng lượng cơ thể:
Trọng lượng trước đây (kg)
Công thức này thường được sử dụng để tính toán tỷ lệ trọng lượng cơ thể giảm đi hơn là tỷ lệ tăng lên bởi vì tỷ lệ giảm đi là một chỉ tiêu quan trọng để
xác định nguy cơ suy dinh dưỡng của bệnh nhân Khi sử dụng "tỷ lệ giảm cân" như một thông số để can thiệp dinh dưỡng khi: Bệnh nhân giảm cân
không mong muốn > 10% trong vòng 3 đến 6 tháng hoặc bệnh nhân có BMI
< 18,5 và có giảm cân không mong muốn > 5% trong 3 đến 6 tháng Trong
lâm sàng, tỷ lệ giảm cân có tác động không tốt tới bệnh nhân gầy hơn là tác động tới bệnh nhân béo phì với cùng một tỷ lệ giảm cân Giảm cân trong một
Trang 28thời gian ngắn (vài ngày) phản ánh thay đổi về cân bằng dịch hơn là thay đổi
về thành phần tổ chức mô của cơ thể Công thức tỷ lệ giảm cân này cũng được sử dụng để xác định mục tiêu điều trị và theo dõi đối với bệnh nhân có giảm cân
Chiều cao đứng: Có thể đo bằng thước đo chiều cao riêng biệt hoặc loại
gắn trên tường
Chỉ số khối cơ thể (BMI):
Chỉ số khối cơ thể thường được dùng cho người trưởng thành, khi có số
đo chính xác cân nặng và chiều cao, người ta cho rằng tỷ lệ này có liên quan chặt chẽ với tình trạng béo Chính vì vậy, người ta thường gọi chỉ số đánh giá tình trạng béo phì hay chỉ số khối cơ thể Chỉ số khối cơ thể BMI được tính theo công thức:
Cân nặng (Kg)
BMI = - - -
[Chiều cao (m)]2 Người ta phân loại TTDD của người trưởng thành dựa vào các thang phân loại sau:
+ Để đánh giá tình trạng gầy hay thiếu năng lượng trường diễn (Chronic Energy Deficiency - CED), dựa vào chỉ số khối cơ thể BMI như sau:
CED độ 1: 17 – 18,49 (gầy nhẹ) CED độ 2: 16 – 16,99 (gầy vừa) CED độ 3: < 16 (quá gầy) + Để đánh giá tình trạng thừa cân ở người trưởng thành theo chỉ số BMI, dựa vào bảng phân loại của Tổ chức Y tế Thế giới chung cho toàn cầu
và thang phân loại có điều chỉnh cho các nước Châu Á
Trang 29Phân loại TTDD theo BMI
2)
- Các chỉ số nhân trắc dinh dưỡng
Nhân trắc học dinh dưỡng có mục đích đo các biến đổi về kích thước
và cấu trúc cơ thể theo tuổi và tình trạng dinh dưỡng Ngay từ thời xa xưa, qua kinh nghiệm và các quan sát, người ta có những nhận xét về sự tương quan giữa các đặc điểm hình thái và đặc điểm thể lực Nhân trắc học hiện đại tìm cách định lượng hoá việc đánh giá thể lực qua các thang phân loại Đặc điểm nổi bật của các thang đo là lấy cộng đồng làm căn cứ đánh giá cá thể và dùng phương pháp thống kê để thiết lập các thang đo
Đặc điểm đó làm cho các chỉ số nhân trắc nói lên thể lực một cách đơn giản bằng phương pháp xử lý thống kê, rất dễ tiếp cận Vì vậy, trong những giới hạn nhất định, các chỉ số nhân trắc cùng với các thang đo đã có giá trị nhất định trong đánh giá thể lực Có thể nói mọi số đo nhân trắc đều có quan
hệ với thể lực Tuy nhiên, thực tiễn chỉ ra rằng, chỉ có những số đo có quan hệ với thể lực một cách trực quan, rõ ràng và quan trọng hơn cả là phải định lượng hoá được quan hệ ấy mới có thể sử dụng rộng rãi
Có thể chia ra nhóm kích thước nhân trắc sau đây:
- Khối lượng cơ thể, biểu hiện bằng cân nặng
- Các kích thước về độ dài, đặc hiệu là chiều cao
Trang 30- Cấu trúc cơ thể và các dự trữ về năng lượng và mô mỡ như tỷ lệ %
mỡ cơ thể
- Một số kích thước chủ yếu thường được dùng trong cuộc điều tra dinh dưỡng người trưởng thành tại thực địa bao gồm cân nặng, chiều cao, vòng mông, vòng eo, phần trăm mỡ cơ thể
1.3.3 Đánh giá toàn diện (phương pháp SGA - Subjective Global Assessment)
- Phương pháp SGA là một công cụ để sàng lọc suy dinh dưỡng đối với bệnh nhân nằm viện, không cần phân tích chính xác thành phần cơ thể Đây là phương pháp phân loại chủ quan bệnh nhân có tình trạng dinh dưỡng tốt, suy dinh dưỡng vừa và nặng dựa vào các kết quả thay đổi cân nặng, khẩu phần, các triệu chứng dạ dày- ruột, các thay đổi chức năng và các dấu hiệu lâm sàng liên quan đến thiếu dinh dưỡng SGA lần đầu tiên được Detsky, trường đại học Toronto, Canada, mô tả năm 1982 Từ đó nó được phát triển và sử dụng rộng rãi trong các quần thể bệnh nhân khác nhau Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra SGA hiện nay là công cụ tốt để đánh giá tình trạng dinh dưỡng của người lớn trong nhiều loại bệnh nhân khác nhau như trong phẫu thuật, bệnh thận, ung thư, bệnh xơ gan, bệnh nhân nặng SGA xác định suy dinh dưỡng tốt hơn và
độ nhậy cao khi so sánh với nhiều chỉ số như protein nội tạng, số đo nhân trắc
và thành phần cơ thể
- Các nghiên cứu cho rằng SGA là một kĩ thuật lâm sàng đơn giản, không tốn kém, phương pháp đáng tin cậy nhất và hiệu quả để đánh giá tình trạng dinh dưỡng và suy dinh dưỡng, ngoài ra nó còn tiên đoán các biến chứng và tử vong liên quan đến dinh dưỡng Có thể hướng dẫn SGA một cách
dễ dàng cho các cán bộ lâm sàng
- Ưu điểm của phương pháp là có thể đánh giá nhiều số liệu khách quan
từ giai đoạn bệnh, đến thay đổi về cân nặng, những biểu hiện của tình trạng dinh dưỡng kém, những đánh giá về lâm sàng của thầy thuốc
Trang 31- Phương pháp đánh giá bằng SGA được sử dụng để đánh giá tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân lúc nhập viện trong vòng khoảng 48 giờ SGA là công cụ đánh giá “nhẹ nhàng”, không tốn kém, nhạy, tin cậy và đặc hiệu SGA được sử dụng rộng rãi trong nhiều bệnh viện, nhiều loại hình chăm sóc y tế
Theo Detsky AS (1987) SGA là một kỹ thuật kết hợp dữ liệu từ các khía cạnh chủ quan và khách quan SGA có 2 phần đánh giá:
Phần 1: Kiểm tra bệnh sử (Thay đổi cân nặng, chế độ ăn uống, các triệu chứng tiêu hóa, và những thay đổi chức năng)
Phần 2: Kiểm tra lâm sàng (mất lớp mỡ dưới da, teo cơ, phù mắt cá chân và cổ chướng) giúp sàng lọc dinh dưỡng khi bệnh nhân vào viện Hiệu quả của ưu điểm này là biết rõ được thời điểm gần đây bệnh nhân có thay đổi tình trạng dinh dưỡng
- Áp dụng cho người dưới 65 tuổi
- Là công cụ lâm sàng có độ lặp lại cao
1.3.4 Phương pháp đánh giá tình trạng dinh dưỡng tối thiểu (phương pháp MNA - Minimal Nutrition Assessment)
Công cụ “đánh giá dinh dưỡng bỏ túi” (MNA) được xây dựng nhằm đánh giá nhanh và hiệu quả để sàng lọc suy dinh dưỡng ở người già Nhược điểm của MNA là không có những câu hỏi liên quan tới các hội chứng ảnh hưởng của ung thư do vậy ít có giá trị trong lão khoa Phương pháp áp dụng cho người bệnh trên 65 tuổi, tương tự như SGA tính điểm để xác định bệnh nhân nguy cơ suy dinh dưỡng: Với thang điểm từ 17 đến 23,5 điểm là nguy cơ suy dinh dưỡng; dưới 17 điểm là suy dinh dưỡng
Phương pháp đánh giá tình trạng dinh dưỡng MNA được phát triển để đánh giá nguy cơ suy dinh dưỡng ở người cao tuổi trong thực tế nói chung và sau khi tiếp nhận vào nhà dưỡng lão hay bệnh viện Theo nghiên cứu phát
Trang 32triển, nó đã được chứng minh là có độ chính xác 92% so với đánh giá lâm sàng được thực hiện bởi hai bác sĩ chuyên về dinh dưỡng, và 98% khi so sánh với sự đánh giá dinh dưỡng toàn diện, bao gồm cả xét nghiệm sinh hóa, đo nhân trắc học và đánh giá chế độ ăn uống
1.4 Thực trạng các hoạt động chăm sóc dinh dưỡng tại các bệnh viện hiện nay
Dinh dưỡng là nền tảng của sức khỏe, đối với bệnh nhân, dinh dưỡng không chỉ nuôi sống mà còn có vai trò cực kỳ quan trọng trong điều trị đối với một số bệnh Dinh dưỡng tốt sẽ giúp bệnh nhân mau chóng hồi phục, rút ngắn thời gian nằm viện, giảm được chi phí cho bệnh nhân và xã hội, đồng thời góp phần nâng cao chất lượng trong điều trị Dinh dưỡng điều trị không thể thiếu được trong các biện pháp chữa bệnh và phục hồi sức khỏe Vì vậy đã có chỉ thị 11/1995-BYT ngày 11/12/1995 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc cũng cố công tác phục vụ ăn uống cho bệnh nhân Chỉ thị 07/2001/CT-BYT ngày 05 tháng 07 năm 2001 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc phục hồi và xây dựng khoa Dinh Dưỡng bệnh viện Thông tư số 08/2011/TT-BYT ngày 26 tháng 1 năm
2011 về hướng dẫn về công tác dinh dưỡng tiết chế trong bệnh viện, nhằm góp phần nâng cao chất lượng điều trị, góp phần giảm ngày điều trị, giảm chi phí điều trị [4]
Dinh dưỡng không phù hợp khiến cơ thể suy kiệt, ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng điều trị Nhiều người cho rằng có bệnh thì chỉ uống thuốc và bệnh nặng lên là do nó phải như thế, mà không ý thức điều chỉnh bữa ăn hợp
lý để cải thiện tình trạng bệnh tật” Rau xanh, trái cây là thực phẩm “lành” nhất, được khuyến khích tiêu thụ trong khẩu phần ăn hằng ngày; nhưng với một số bệnh lý, rau quả cũng cần được lựa chọn phù hợp Ví dụ, người suy thận cần tránh một số rau quả chứa hàm lượng kali cao; nên ăn rau cải, bí xanh vì ít đạm; nên hạn chế rau muống vì lượng đạm cao hơn Với chất đạm
Trang 33(protit) người suy thận cần được hướng dẫn ăn phù hợp để giảm nguy cơ tăng
ni tơ máu vì ni tơ do các nguồn protit sinh ra Khi ni tơ máu tăng cao có thể gây hội chứng thần kinh: mệt mỏi, chóng mặt, nhức đầu, hoa mắt, lơ mơ, vật
vã Hoặc với người có bệnh đái tháo đường, cần ăn kiêng để duy trì đường huyết ổn định, nhưng ăn kiêng quá mức dẫn đến hạ đường huyết cũng rất nguy hiểm Nhiều người quan niệm đái tháo đường là tránh xa hoa quả ngọt, không ăn cơm Tuy nhiên, tùy thuộc vào giai đoạn bệnh, người mắc đái tháo đường vẫn có thể ăn trái cây ngọt như: dưa hấu, nhãn, vải; vẫn ăn cơm tuy nhiên cần được hướng dẫn về lượng ăn vào phù hợp và cần được chia nhỏ để tránh đường huyết tăng cao đột ngột Với bệnh nhân xơ gan, cần bổ sung dinh dưỡng phù hợp, hạn chế các chất chuyển hóa ở gan để giúp cho gan được nghỉ ngơi, giảm tải Thể trạng bệnh nhân được cải thiện, chế độ dinh dưỡng hợp lý
và điều kiện chăm sóc tốt giúp nâng cao khả năng chống đỡ với bệnh tật
Ngày 24/4/2014 tại Hà Nội, Bộ Y tế đã tổ chức Hội nghị đánh giá 3 năm thực hiện Thông tư 08/2011/TT-BYT về hướng dẫn về công tác dinh dưỡng, tiết chế trong bệnh viện Tại Hội nghị, PGS.TS Lương Ngọc Khuê, Cục trưởng Cục quản lý Khám, chữa bệnh cho biết, sau 3 năm thực hiện, đã
có trên 70% bệnh viện thành lập khoa Dinh dưỡng và tổ Dinh dưỡng bệnh viện Tuy nhiên, Khoa Dinh dưỡng chỉ mới được thành lập ở 88% bệnh viện Trực thuộc Bộ; 47,4 bệnh viện tuyến tỉnh và 23% bệnh viện huyện có khoa Dinh dưỡng Đa số cán bộ khoa Dinh dưỡng có trình độ từ Trung cấp và chỉ
Trang 34quá trình suy dinh dưỡng kéo dài trước thời điểm nhập viện Một mặt cần cảnh giác vì những trẻ này dù thiếu cân so với tuổi nhưng trông khá tròn trịa nên tình trạng này thường ít được nhận biết Mặt khác khi điều trị suy dinh dưỡng trẻ dễ bước sang tình trạng béo phì tương đối do cân nặng hồi phục nhanh hơn chiều cao [5] Cùng thời điểm này tác giả Vũ Thị Thanh Hương
và Phạm Văn Hoan công bố kết quả nghiên cứu cắt ngang tại hai thời điểm cách nhau 5 năm (2001-2006) tại Sóc Sơn, Hà Nội cho thấy tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ dưới 5 tuổi theo 3 chỉ tiêu cân nặng/tuổi; chiều cao/tuổi và cân nặng/chiều cao là 31,9%; 33,3% và 7,9% (2001) và 21,2%; 27,9% và 7,5% (2006) Khẩu phần ăn của trẻ thiếu cả về số lượng và chất lượng, trong đó đặc biệt là thiếu protein năng lượng và protein do với khuyến nghị của Viện dinh dưỡng [16]
1.5 Các nghiên cứu về kiến thức, thái độ của cán bộ Y tế về chăm sóc dinh dưỡng tại bệnh viện
Vấn đề ăn uống và cho ăn uống là một phương tiện để chữa bệnh và giữ gìn sức khoẻ đã được các nhà khoa học nói tới từ rất lâu trong lịch sử y học Dinh dưỡng sớm giúp ngăn ngừa và phục hồi suy dinh dưỡng, nâng cao miễn dịch, tác động đến sự phản ứng, đến quá trình hồi phục các cơ chế điều hòa, thích nghi và bảo vệ cơ thể Nhiều bệnh có thể được chữa khỏi thông qua việc
áp dụng một chế độ ăn thích hợp Do đó vấn đề tư vấn ăn uống cho bệnh nhân cũng là một yếu tố quan trọng, giúp cho bệnh nhân biết cách ăn uống hợp lý,
từ đó cải thiện được tình trạng dinh dưỡng bệnh nhân, góp phần làm tăng hiệu quả trị bệnh Tuy nhiên trên thực tế vấn đề tư vấn ăn uống cho bệnh nhân ở bệnh viện vẫn chưa được thực hiện rộng rãi
Hiện nay chưa có nhiều các nghiên cứu của Việt Nam cũng như trên thế giới về kiến thức, thái độ của cán bộ y tế về chăm sóc dinh dưỡng tại bệnh viện Các nghiên cứu chỉ chủ yếu tập trung nghiên cứu, khảo sát tình trạng
Trang 35dinh dưỡng của bệnh nhân trong bệnh viện nói chung và bệnh nhân một số bệnh đặc thù như COPD, Suy thận mạn, đặt thông dạ dày, và một số bệnh mạn tính không lây như: Đái tháo đường, tim mạch, cao huyết áp [6], [9], [25], [40] Chính vì vậy chúng tôi thực hiện nghiên cứu này nhằm tìm hiểu về kiến thức, thái độ của cán bộ y tế, những người trực tiếp và gián tiếp quyết định tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân tại bệnh viện, và góp thêm một cái nhìn vào bức tranh toàn cảnh về thực trạng dinh dưỡng tại bệnh viện và một
số yếu tố liên quan Trong một nghiên cứu trên bệnh nhi tại Bệnh viện Nhi Đồng 2 năm 2005, tác giả Trần Kim Cúc đã cho thấy sự đánh giá cao của thân nhân bệnh nhi về vai trò của dinh dưỡng trong điều trị 84,4% số người được hỏi coi dinh dưỡng và thuốc quan trọng như nhau, 8,1% đánh giá dinh dưỡng
và 7% đánh giá thuốc cao hơn Đáng chú ý, con của những cha mẹ coi trọng dinh dưỡng hơn thì sụt cân trong thời gian điều trị ít hơn Tuy nhiên do cỡ mẫu nhỏ nên sự khác biệt là không có ý nghĩa thống kê Ở các khoa tách mẹ (hồi sức và sơ sinh) 100% bệnh nhân được chỉ định chế độ ăn hàng ngày chỉ
có 64% bác sĩ hỏi và hướng dẫn thân nhân bệnh nhân về chế độ ăn uống của trẻ khi bị bệnh [5]
Kết quả nghiên cứu tại bệnh viện đa khoa tỉnh Thái Bình cho thấy, người trực tiếp đến chăm sóc bệnh nhân tại bệnh viện gồm nhiều đối tượng khác nhau Trong số các bệnh nhân tham gia nghiên cứu, đa số bệnh nhân có người thân trong gia đình trực tiếp lo việc ăn uống trong bệnh viện 85,6%, số
ít bệnh nhân được những người không trong gia đình chăm sóc (như bạn bè, hàng xóm, người trong hội, chính quyền địa phương…) Số bệnh nhân tự lo
về dinh dưỡng cho bản thân khi điều trị trong bệnh viện chiếm tỷ lệ cao: 10,5%, nguyên nhân có thể do hoàn cảnh gia đình không có điều kiện đến chăm sóc, hoặc do bệnh nhân có thể tự đi lại phục vụ được
Khi cơ thể thiếu hụt hoặc thừa dinh dưỡng sẽ dấn đến các rối loạn bệnh
Trang 36lý; và ngược lại, khi cơ thể mắc bệnh mà khẩu phần dinh dưỡng không đủ cho nhu cầu chuyển hoá hàng ngày của cơ thể, hoặc có tình trạng rối loạn tiêu hoá
và hấp thu, chuyển hoá kém hoặc do cơ thể tăng cường bài tiết các chất dinh dưỡng thiết yếu… sẽ dẫn đến các rối loạn chuyển hoá của cơ thể, làm cho tình trạng bệnh diễn biến không thuận lợi hoặc làm giảm hiệu quả điều trị bệnh Vì vậy ngoài việc sử dụng các chế phẩm y học trong can thiệp dinh dưỡng, người bệnh cũng phải có những kiến thức nhất định về khẩu phần ăn hàng ngày, đặc biệt là chế độ ăn kiêng và ăn bồi dưỡng thích hợp
Kết quả nghiên cứu tại bệnh viện đa khoa tỉnh Thái Bình cho thấy: tỷ lệ bệnh nhân cần có chế độ ăn kiêng đặc thù theo bệnh là 41,0%; trong đó bệnh nhân ở khoa nội tổng hợp chiếm tỷ lệ cao nhất là 49,6% số bệnh nhân của khoa, bệnh nhân mắc bệnh lý tim mạch cần ăn kiêng là 48,6%, bệnh lý thần kinh 28,6%, bệnh truyền nhiễm 24,4% số bệnh nhân của khoa tham gia nghiên cứu
Tỷ lệ bệnh nhân cần có chế độ ăn bồi dưỡng theo bệnh cũng chiếm tỷ lệ tương đương: 41,9%; tỷ lệ này cao nhất ở khoa nội tim mạch 45,3%; khoa thần kinh 42,9%; khoa nội tổng hợp 41,5%; thấp nhất là ở khoa truyền nhiễm 37,0% Như vậy tỷ lệ bệnh nhân có những kiến thức về chế độ ăn kiêng và ăn bồi dưỡng trong điều trị bệnh còn chưa cao, trong khi mỗi bệnh lại cần có một chế độ ăn khác nhau và cũng khác nhau ở từng bệnh nhân
Sự lựa chọn món ăn của bệnh nhân trong quá trình điều trị
Ảnh hưởng tới tình trạng suy dinh dưỡng người bệnh tại bệnh viện còn phải nói đến sự chăm sóc dinh dưỡng của bản thân bệnh nhân và người nhà bệnh nhân Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy: tỷ lệ bệnh nhân lựa chọn món ăn khi nằm viện điều trị theo sở thích của bản thân đối với mỗi món
ăn là khác nhau Có 90,4% bệnh nhân thích ăn rau xanh nhưng tỷ lệ bệnh nhân có ăn rau khi nằm viện lại ít hơn (86,2%) Thịt nạc và cháo hầm nước
Trang 37xương có tỷ lệ bệnh nhân lựa chọn khi vào viện điều trị là 83,3% và 57,9% cao hơn tỷ lệ bệnh nhân có thích ăn món ăn đó: 84,9% và 58,6% Đối với nhiều món ăn khác như: phủ tạng động vật, món ăn nhiều mỡ, nhiều muối, đồ ngọt, bánh kẹo, rượu, bia… đều có tỷ lệ bệnh nhân thích ăn khá cao và cao hơn tỷ lệ bệnh nhân có ăn các món đó khi điều trị bệnh Nguyên nhân có thể
là do bệnh nhân có những kiến thức hiểu biết về chế độ dinh dưỡng điều trị, hoặc có thể là do khi nằm viện bệnh nhân không có nhiều lựa chọn cho những món ăn theo sở thích của mình
Theo tác giả Nguyễn Thị Vân Anh nghiên cứu năm 2008 tại bệnh viện Bạch Mai có 76% bệnh nhân được nhân viên y tế tư vấn dinh dưỡng
Trang 38CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Địa bàn nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện tại khoa Nội và khoa Ngoại của Bệnh viện huyện Tân Kỳ Đây là 2 trong các số khoa thường có số lượng bệnh nhân đông nhất của Bệnh viện đa khoa Tân Kỳ
Theo báo cáo lưu lượng bệnh nhân nhập viện tại Bệnh viện đa khoa Tân Kỳ là 20-26 bệnh nhân/ngày Bệnh nhân nằm nội trú tại Khoa Nội là 80-120 bệnh nhân; tại Khoa Ngoại - CK là 40-60 bệnh nhân, tại Khoa sản
là 20-25 bệnh nhân
* Một số đặc điểm về địa lý - tự nhiên
Trang 39Huyện Tân Kỳ là huyện miền núi Tỉnh Nghệ An nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, chịu sự tác động trực tiếp của gió mùa Tây Nam khô và nóng (từ tháng 4 đến tháng 8) và gió mùa Đông Bắc lạnh, ẩm ướt (từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau) nằm trong vùng Bắc Trung Bộ nước Việt Nam Ranh giới và diện tích đất tự nhiên: Phía Bắc giáp huyện Quỳ Hợp, phía Tây giáp huyện Anh Sơn, phía Nam giáp huyện Đô Lương, phía Đông giáp huyện
Nghĩa Đàn, Quỳnh Lưu và Yên Thành
* Bệnh viện đa khoa huyện Tân Kỳ
Bệnh viện đa khoa huyện Tân Kỳ là BV hạng 3 theo xếp hạng bệnh viện của Bộ Y tế tại Thông tư số 23/TT-BYT ngày 13/9/2005 về việc hướng dẫn
xếp hạng các đơn vị sự nghiệp y tế
Về vị trí, chức năng, nhiệm vụ, tổ chức thực hiện theo mô hình BVĐK tuyến huyện hạng 3 được qui định tại Qui chế Bệnh viện ban hành kèm theo Quyết định 1895/1997/QĐ - BYT ngày 10 tháng 9 năm 1997 của Bộ trưởng
Bộ Y tế BVĐK các huyện - thị xã (theo phân tuyến kỹ thuật) là nơi đầu tiên tiếp nhận điều trị nội trú với các kỹ thuật cơ bản và giải quyết các bệnh tật thông thường mà chưa cần chuyên khoa sâu
Tổ chức bộ máy bệnh viện có 11 khoa, phòng gồm: Khoa Nội-Nhi-Lây, Khoa Ngoại-Chuyên khoa, Khoa sản, Phòng khám trung tâm, Phòng khám đa khoa Đồng Văn, Khoa cận lâm sàng, Khoa Dược, Phòng Hành chính-Tổ chức, Phòng Kế hoạch tổng hợp, Phòng Điều dưỡng, Phòng Tài chính
Theo qui định của BHYT Nghệ An, BVĐK huyện cũng là nơi đăng ký KCB ban đầu của các đối tượng có thẻ BHYT
Về qui trình khám chữa bệnh tại BVĐK huyện thực hiện thống nhất theo qui định của Bộ Y tế, cơ quan BHYT, Sở y tế và các qui định có liên quan khác Người bệnh được giới thiệu từ TYT đến (hoặc tự đến) BVĐK huyện,
Trang 40thực hiện các thủ tục hành chính và tài chính, được khám bệnh Tuỳ mức độ bệnh, người bệnh sẽ được giải quyết bằng một trong các hình thức: Điêu trị ngoại trú, điêu trị nội trú hoặc chuyển viện
2.1.2 Đối tượng nghiên cứu
- Là các bệnh nhân từ 18 tuổi trở lên được điều trị nội trú từ 01/4/2014 đến 30/6/2014 tại khoa Nội và khoa Ngoại Bệnh viện Đa khoa huyện Tân Kỳ
- Cán bộ y tế: là Bác sỹ và Điều dưỡng viên, Y sỹ, Y tá các khoa, phòng trong bệnh viện
* Tiêu chuẩn loại trừ khỏi mẫu nghiên cứu
- Những bệnh nhân cấp cứu do các bệnh cấp tính
- Bệnh nhân bị phù
- Bệnh nhân không đồng ý tham gia nghiên cứu
- Bệnh nhân không kiểm tra được cân nặng, chiều cao cơ thể; phụ nữ có thai; các bệnh nhân không thực hiện phỏng vấn được (như các bệnh nhân có bệnh lý tâm thần, bệnh nhân giảm thính lực )
- Bệnh nhân xuất viện trước 7 ngày
- Các cán bộ y tế có thời gian đi học trên 3 tháng
2.1.3 Thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện từ 01 tháng 4 đến 30 tháng 6 năm 2014
- Đối với mỗi bệnh nhân: Bắt đầu khi bệnh nhân đến khám và nhập viện đã được thăm khám, theo dõi dọc và thu thập các biến nghiên cứu tại các thời điểm Bệnh nhân nhập viện (ngày thứ nhất)
Bệnh nhân sau 7 ngày điều trị
- Đối với cán bộ y tế thì thông tin được thu thập vào ngay tuần đầu triển khai nghiên cứu