1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng đào tạo lồng ghép bạo lực giới và kiến thức, thái độ của sinh viên về bạo lực giới tại trường cao đẳng y tế hà nam năm 2016

106 52 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 1,41 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kiến thức và thái độ về bạo lực giới và một số yếu tố liên quan đến kiến thức của sinh viên cao đẳng Điều dưỡng trường Cao đẳng Y tế Hà Nam.. Kiến thức và thái độ về bạo lực giới và một

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÁI BÌNH

NGUYỄN MẠNH CƯỜNG

THỰC TRẠNG ĐÀO TẠO LỒNG GHÉP BẠO LỰC GIỚI VÀ KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ CỦA SINH VIÊN VỀ BẠO LỰC GIỚI TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG Y TẾ HÀ NAM NĂM 2016

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG

THÁI BÌNH, 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG

Trang 3

LỜI CẢMƠN

Để hoàn thành luận văn này, tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, phòng Quản lý Đào tạo Sau đại học, Khoa Y tế Công cộngcùng các thầy, cô Trường Đại học Y Dược Thái Bình đã giảng dạy, giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu Trường Cao đẳng Y tế Hà Nam đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, làm việc và thu thập

số liệu để hoàn thành luận văn đúng tiến độ

Đặc biệt, với lòng biết ơn sâu sắc tôi xin gửi tới hai Thầy, Cô hướng dẫn của mình là GS.TS Lương Xuân Hiến và TS Đặng Bích Thủy Hai người Thầy đã hướng dẫn chỉ bảo tận tình cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến bạn bè, đồng nghiệp và người thân trong gia đình đã thường xuyên động viên, khích lệ và tạo điều kiện để tôi học tập nghiên cứu trong suốt khóa học vừa qua

Xin trân trọng cảm ơn!

Thái Bình, tháng 06 năm 2017

Nguyễn Mạnh Cường

Trang 4

LỜICAM ĐOAN

Tôixincamđoanrằng nghiêncứunày làcủa riêng tôi.Những sốliệu trongnghiêncứulàdo tôi thuthậptrongquátrìnhnghiêncứuvàlàm việctại Trường Cao đẳng Y tế Hà Nam

Trang 5

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

(Tổ chức Y tế Thế giới)

UNFPA The United Nations Population Fund

(Quỹ Dân số Liên hiệp quốc)

Bộ VHTTDL Bộ Văn hóa Thể thao Du lịch

CEDAW Convention on the Elimination of all forms of

Discrimination against Women

(Công ước của Liên Hợp Quốc về xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ)

Trang 6

MỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1:TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Khái niệm và phân loại về bạo lực 3

1.1.1 Khái niệm về bạo lực 3

1.1.2 Khái niệm về giới 3

1.1.3 Khái niệm về bạo lực giới 4

1.1.4 Bạo lực đối với phụ nữ 8

1.1.5 Bạo lực gia đình 9

1.1.6 Chu kỳ bạo lực 11

1.1.7 Phân loại bạo lực giới 12

1.2 Nghiên cứu thực trạng bạo lực giới 17

1.2.1 Trên thế giới 17

1.2.2 Tại Việt Nam 18

1.3 Thực trạng đào tạo lồng ghép bạo lực giới tại trường Cao đẳng Y tế Hà Nam 21

Chương 2:ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24

2.1 Địa điểm, đối tượng nghiên cứu 24

2.1.1 Địa điểm nghiên cứu 24

2.1.2 Đối tượng nghiên cứu 25

2.1.3 Thời gian nghiên cứu 26

2.2 Phương pháp nghiên cứu 26

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu 26

2.2.2 Phương pháp chọn mẫu và cỡ mẫu 26

2.3 Phương pháp thu thập số liệu 27

2.3.1.Sốliệuđịnhlượng 27

2.3.2 Số liệu định tính 28

2.3.3 Một số khái niệm và tiêu chuẩn đánh giá 28

2.4 Các biến số và chỉ số nghiên cứu 30

2.4.1 Biến số và chỉ số về thông tin chung 30

2.4.2 Biến số về kiến thức và thái độ về BLG 30

2.5 Xử lý số liệu 31

2.5.1 Nghiên cứu định lượng 31

2.5.2 Nghiên cứu định tính 31

Trang 7

2.6 Sai số và biện pháp khắc phục 31

2.6.1 Sai số có thể gặp: 31

2.6.2 Cách khắc phục: 31

2.7 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 32

Chương 3:KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 33

3.1 Thực trạng lồng ghép bạo lực giới trong đào tạo Cao đẳng Điều dưỡng tại trường Cao đẳng Y tế Hà Nam 33

3.1.1 Một số thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 33

3.1.2 Thực trạng đào tạo lồng ghép bạo lực giới tại trường Cao đẳng Y tế Hà Nam 34

3.1.3 Kết quả nghiên cứu định tính về đào tạo lồng ghép bạo lực giới 38 3.2 Kiến thức và thái độ về bạo lực giới và một số yếu tố liên quan đến kiến thức của sinh viên cao đẳng Điều dưỡng trường Cao đẳng Y tế Hà Nam 41

3.2.1 Kiến thức và thái độ của sinh viên về bạo lực giới 41

3.3.2 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức về bạo lực giới của sinh viên cao đẳng Điều dưỡng trường Cao đẳng Y tế Hà Nam 49

Chương 4:BÀN LUẬN 55

4.1 Thực trạng lồng ghép bạo lực giới trong đào tạo Cao đẳng Điều dưỡng tại trường Cao đẳng Y tế Hà Nam 55

4.1.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 55

4.1.2 Thực trạng đào tạo lồng ghép bạo lực giới tại trường cao đẳng y tế Hà Nam 57

4.2 Kiến thức và thái độ về bạo lực giới và một số yếu tố liên quan đến kiến thức của sinh viên cao đẳng Điều dưỡng trường Cao đẳng Y tế Hà Nam 60

4.2.1 Kiến thức của sinh viên về BLG 61

4.2.2 Thái độ của sinh viên về BLG 67

4.2.3 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức và thái độ về bạo lực giới 69 KẾT LUẬN 75

KHUYẾN NGHỊ 77 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Tỷ lệ sinh viên được đào tạo về BLG theo tuổi và giới tính 33

Bảng 3.2 Tỷ lệ sinh viên được đào tạo về BLG theo địa dư sinh sống 33

Bảng 3.3 Các đối tượng sinh viên đã được đào tạo bạo lực giới theo trình độ đào tạo 34

Bảng 3.4 Nội dung giảng dạy lồng ghép BLG trong học phần Pháp luật và tổ chức y tế 35

Bảng 3.5 Nội dung giảng dạy lồng ghép BLG trong học phần Sức khỏe, nâng cao sức khỏe và hành vi con người 36

Bảng 3.6 Nguồn cung cấp thông tin về bạo lực giới cho sinh viên 41

Bảng 3.7 Hiểu biết của sinh viên về các loại bạo lực giới 42

Bảng 3.8 Hiểu biết của sinh viên về bạo lực thể xác 42

Bảng 3.9 Hiểu biết của sinh viên về bạo lực tình dục 43

Bảng 3.10 Hiểu biết của sinh viên về bạo lực tinh thần 43

Bảng 3.11 Hiểu biết của sinh viên về bạo lực kinh tế 44

Bảng 3.12 Hiểu biết của sinh viên về biện pháp giảm hậu quả sau hành vi bạo lực 44

Bảng 3.13 Hiểu biết của sinh viên về nguyên nhân gây ra bạo lực giới 45

Bảng 3.14 Hiểu biết của sinh viên về đối tượng có nguy cơ bị bạo lực giới nhất 45 Bảng 3.15 Hiểu biết của sinh viên về hậu quả của bạo lực giới nhất 46

Bảng 3.16 Hiểu biết của sinh viên về cách phòng tránh bạo lực giới chủ yếu 46

Bảng 3.17 Thái độ của sinh viên khi thấy hành vi bạo lực giới 47

Bảng 3.18 Việc tìm hiểu các thông tin về bạo lực giới 48

Bảng 3.19 Kênh thông tin về bạo lực giới mà sinh viên mong muốn tìm hiểu 48

Bảng 3.20 Liên quan giữa kiến thức về bạo lực giới của sinh viên với nơi sinh sống 50

Bảng 3.21 Liên quan giữa kiến thức về bạo lực giới của sinh viên với điều kiện kinh tế gia đình 50

Trang 9

Bảng 3.22 Liên quan giữa kiến thức về bạo lực giới của sinh viên với nơi ở 51 Bảng 3.23 Liên quan giữa kiến thức về bạo lực giới của sinh viên với trình

độ đào tạo 51 Bảng 3.24 Liên quan giữa kiến thức về bạo lực giới của sinh viên với việc

thường xuyên tìm hiểu thông tin về bạo lực giới 52 Bảng 3.25 Mối liên quan giữa thái độ về bạo lực giới của sinh viên với nơi

sinh sống 53 Bảng 3.26 Mối liên quan giữa thái độ về bạo lực giới của sinh viên với điều

kiện kinh tế gia đình 53 Bảng 3.27 Mối liên quan giữa thái độ về bạo lực giới của sinh viên với nơi 54 Bảng 3.28 Mối liên quan giữa thái độ về bạo lực giới của sinh viên với trình

độ đào tạo 54

Trang 10

giới tính 49 Biểu đồ 3.7 Mối liên quan giữa thái độ về bạo lực giới của sinh viên với giới 52

Trang 11

DANH MụC HộP

Hộp 3.1 Lý do sự cần thiết trang bị các kiến thức về Bạo lực giới cho

sinh viên 38 Hộp 3.2 Các hoạt động giảng dạy về Bạo lực giới cho sinh viên 39 Hộp 3.3 Những thuận lợi và khó khăn trong việc cung cấp kiến thức

và thái độ cho sinh viên về bạo lực giới 39 Hộp 3.4 Lý do sự cần thiết trang bị các kiến thức về bạo lực giới cho

sinh viên 40 Hộp 3.5 Các hoạt động giảng dạy về Bạo lực giới cho sinh viên 40 Hộp 3.6 Những thuận lợi và khó khăn trong việc cung cấp Kiến thức

và Thái độ cho sinh viên về bạo lực giới 40 Hộp 3.7 Những giải pháp giải quyết khó khăn trong việc cung cấp

Kiến thức và Thái độ cho sinh viên về bạo lực giới 41

Trang 12

ĐẶT VẤN ĐỀ

Bạo lực trên cơ sở giới (hay bạo lực giới) là một vấn đề lớn liên quan đến sức khỏe cộng đồng và quyền con người, trong đó đa số nạn nhân là phụ

nữ Trên thế giới, cứ ba phụ nữ thì có ít nhất một người bị đánh đập, bị cưỡng

ép quan hệ tình dục hoặc bị lạm dụng trong cuộc đời của họ [42] Ở Việt Nam, nghiên cứu quốc gia về bạo lực gia đình đối với phụ nữ năm 2010 cũng cho kết quả tương tự [27]

Bạo lực giới nói chung, bạo lực gia đình nói riêng đã và đang gây ra những thiệt hại to lớn về kinh tế, xã hội, làm xói mòn giá trị đạo đức đối với

cá nhân, gia đình và toàn thể cộng đồng Đặc biệt với người phụ nữ, bạo lực gia đình để lại hậu quả tiêu cực trên nhiều phương diện: sức khỏe thể chất, sức khỏe sinh sản, tổn thương về tinh thần, tổn thất về kinh tế [2], [18].Đó là chưa kể đến khía cạnh “liên thế hệ” của bạo lực, khi trẻ em phải chứng kiến, thậm chí là chịu đựng những hành vi bạo lực gia đình [27]

Nhằm mục đích phòng chống tình trạng bạo lực, Liên hợp quốc đã ra Tuyên bố về xóa bỏ bạo lực đối với phụ nữ (1993), yêu cầu các nước có những cam kết về đảm bảo thực hiện các quyền cơ bản của con người, thực hiện bình đẳng giới Ở nước ta, việc thông qua Luật Bình đẳng giới (2006) và Luật Phòng chống bạo lực gia đình (2007) đã tạo ra hành lang pháp lý vững chắc cũng như môi trường thuận lợi để chống lại bạo lực với phụ nữ [21], [22] Mặc dù đã có khung pháp luật rõ ràng trong việc hỗ trợ bình đẳng giới tại Việt Nam, nhưng vấn đề thực thi tại địa phương không nhất quán giữa luật pháp và chính sách Kiến thức hạn chế về hệ thống pháp lý và trợ giúp pháp

lý của nạn nhân cũng làm cản trở họ tiếp cận với pháp luật Trong khi có nhiều chương trình tại cộng đồng và tư vấn hỗ trợ nạn nhân bạo lực giới vẫn chỉ giới hạn ở phạm vi hẹp Chính quyền địa phương, cán bộ y tế, cảnh sát, tòa án, nhân viên trợ giúp pháp lý và thành viên của các nhóm hòa giải còn

Trang 13

hạn chế về kiến thức bạo lực giới và thiếu kỹ năng cũng như thái độ nhạy cảm

về giới khi làm việc với nhóm nạn nhân

Trong các trường đại học, cho đến nay còn quá ít các cuộc điều tra khảo sát thực trạng nhận thức về bạo lực giới ở sinh viên để có thể có thông tin cần thiết nhằm cải tiến phương pháp và nội dung giảng dạy bạo lực giới trong các trường học Việc trang bị những kiến thức khoa học về bạo lực giới sẽ giúp người cán bộ y tế có cách tiếp cận toàn diện để xác định chính xác những vấn

đề sức khoẻ của phụ nữ và nam giới, những vấn đề giới của việc phòng ngừa, điều trị và chăm sóc các loại bệnh Trên cơ sở đó, không chỉ sức khoẻ của cá nhân người bệnh nam và nữ mà sức khoẻ của cộng đồng cũng được nâng cao, đồng thời sự bình đẳng giới cũng từng bước được cải thiện

Xuất phát từ tình hình thực tế trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề

tài: “Thực trạng đào tạo lồng ghép bạo lực giới và kiến thức, thái độ của

sinh viên về bạo lực giới tại trường Cao đẳng Y tế Hà Nam năm 2016” với

2 mục tiêu:

1 Mô tả thực trạng lồng ghép bạo lực giới trong đào tạo Cao đẳng Điều dưỡng tại trường Cao đẳng Y tế Hà Nam

2 Đánh giá kiến thức và thái độ về bạo lực giới và tìm hiểu một số yếu

tố liên quan đến kiến thức của sinh viên cao đẳng Điều dưỡng trường Cao đẳng Y tế Hà Nam năm 2016

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Khái niệm và phân loại về bạo lực

1.1.1 Khái niệm về bạo lực

Bạo lực là việc đe dọa hay dùng sức mạnh thể chất, quyền lực đối với người khác hoặc một nhóm người, một cộng đồng gây ra hoặc làm tăng khả năng gây ra tổn thương, tử vong, tổn hại về tâm lý, ảnh hưởng đến sự phát triển, gây ra sự mất mát [52]

1.1.2 Khái niệm về giới

Giới: chỉ đặc điểm, vị trí, vai trò của nam và nữ trong tất cả các mối

quan hệ xã hội Cụ thể hơn, giới đề cập đến những khác biệt và các mối quan

hệ xã hội giữa nam giới và phụ nữ có được do học hỏi, có thể thay đổi theo thời gian và có những biến đổi to lớn cả trong và giữa các xã hội và nền văn hóa Những khác biệt và các mối quan hệ này được xây dựng và được học hỏi qua quá trình xã hội hóa Chúng xác định điều gì được cho là phù hợp đối với các thành viên của mỗi giới Những khác biệt và các mối quan hệ này được đặc trưng theo bối cảnh và có thể điều chỉnh Ví dụ: Ở Việt Nam, cách đây khoảng 20 năm, lái xe ô tô được coi là một nghề chỉ dành riêng cho nam giới Trong Danh mục công việc không được sử dụng lao động nữ ban hành kèm theo Thông tư số 03/TTLB - BYT - BLĐTBXH ngày 28 tháng 01 năm 1994 của Liên Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội - Y tế, phụ nữ đang cho con

bú còn bị cấm làm những công việc như: lái máy kéo nông nghiệp, máy thi công (bất kể loại công suất nào) và lái ô tô (bất kể loại trọng tải nào) Với sự phát triển của công nghệ và năng lực của phụ nữ, thực tế này ngày nay đã hoàn toàn thay đổi [6], [20]

Trang 15

Giới tính: chỉ các đặc điểm sinh học của nam, nữ Những khác biệt

sinh lý phổ biến giữa nam giới và phụ nữ thường được xác định khi sinh ra Như vậy, giới tính khác biệt với giới là giới tính đề cập đến những đặc trưng

về thể chất của cơ thể, trong khi giới đề cập đến những vai trò và các mối quan hệ được hình thành mang tính xã hội của nam giới và phụ nữ Phân chia giới tính và giới không giống nhau [6], [20]

Vai trò giới: chỉ những hoạt động mà nam giới và nữ giới thực sự làm

Trong xã hội truyền thống, nam giới và nữ giới có những vai trò tách biệt nhau

Ví dụ, nam giới làm việc ngoài nhà, những việc nặng tại nơi làm việc, còn phụ

nữ ở nhà, có trách nhiệm chăm sóc gia đình và làm những công việc nội trợ trong gia đình Trong xã hội ngày nay, vai trò của nam giới và nữ giới ngày càng hoán đổi cho nhau Ví dụ, nam giới cũng bắt đầu làm việc nhà và ngày càng nhiều phụ nữ trở thành người kiếm thu nhập chính trong gia đình [6], [20]

1.1.3 Khái niệm về bạo lực giới

Bạo lực giới là sự vi phạm quyền con người nói chung, thể hiện ở bất kì hành vi bạo lực nào trái với mong muốn của phụ nữ, nam giới, trẻ em trai, trẻ

em gái, cả ở nơi công cộng và trong gia đình, mà nguyên nhân cơ bản là sự khác biệt về vai trò trong gia đình và xã hội của nam và nữ Bạo lực giới là một vấn đề nghiêm trọng, có thể nguy hiểm đến tính mạng con người, có nguyên nhân từ mối quan hệ quyền lực giữa nam giới và nữ giới, xảy ra dưới nhiều hình thức, bao gồm cả bạo lực thể xác, tinh thần và bạo lực tình dục Bạo lực giới có ảnh hưởng xấu đến gia đình, cộng đồng, gây tổn thất về xã hội, kinh tế, quyền con người cho cả quốc gia [10]

Bạo lực giới là một vấn đề lớn ở nhiều nơi trên thế giới Nó có nhiều hình thức, trong đó bao gồm:

- Sự lạm dụng về tình dục, thể chất, tâm lý và kinh tế

- Sự phân biệt đối xử mang tính cơ cấu (các cơ cấu thể chế dẫn đến sự phân biệt hoặc kỳ thị trong cung cấp dịch vụ)

Trang 16

- Những hành vi bạo lực do chính quyền phạm phải hoặc dung túng (như hành hạ người làm nghề mại dâm, nam giới có quan hệ tình dục đồng giới, phụ

nữ chung sống với HIV) Nạn buôn bán phụ nữ và trẻ em gái (LHQ, 2006) Bạo lực giới trước hết ảnh hưởng đến phụ nữ và trẻ em gái, nhưng nam giới, trẻ em trai và các cộng đồng thiểu số cũng bị tác động Cả nguyên nhân

và hậu quả của BLG đều diễn ra ở mọi cấp độ, cá nhân, gia đình, cộng đồng cho đến cấp độ quốc gia Một nghiên cứu đa quốc gia của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã cho thấy mối liên hệ đáng kể về mặt số liệu thống kê giữa nạn bạo hành và những tổn hại về sức khỏe thể chất và tinh thần ở phụ nữ [10]

Bạo lực giới là một hiện tượng phổ biến và phức tạp, thể hiện dưới nhiều hìnhthức, từ BLGĐ đến quấy rối tình dục Mặc dù BLG bao gồm cả BLGĐ nhưng BLG không chỉ giới hạn ở BLGĐ hay bạo lực đối với phụ nữ

mà là mọi hình thức bạo lực nhằm vào một cá nhân vì giới của người đó và xuất phát từ sự bất bình đẳng giới [50] BLG duy trì sự bất bình đẳng giữa nam giới và phụ nữ và là động lực duy trì, tăng cường các vai trò giới truyền thống Do các hệ thống xã hội mang tính phụ hệ vẫn chiếm ưu thế trên toàn thế giới làm hạ thấp tiếng nói của phụ nữ trong gia đình, trong các môi trường kinh tế, chính sách và công cộng khác, nên phụ nữ và trẻ em gái thường là nạn nhân của BLG Trong mọi hình thức BLG, phần lớn nạn nhân là phụ nữ

và trẻ em gái nhưng họ lại ít được tiếp cận và nhận được dịch vụ hỗ trợ pháp

lý BLG cũng có thể xảy ra với nam giới và trẻ em trai, người chuyển giới, người khuyết tật, người dân tộc thiểu số và những người có hoàn cảnh khó khăn (như đã nói ở trên) Hơn thế nữa, BLG không chỉ xảy ra ở riêng một độ tuổi nào, mà có thể xảy ra trong suốt cuộc đời một con người, từ khi chưa được sinh ra (dưới hình thức nạo phá thai lựa chọn giới tính) cho tới khi chết BLG cũng có thể xảy ra ở trong mọi bối cảnh, như trong gia đình, tại nơi làm việc hoặc nơi công cộng, hay trong xã hội BLG có thể gây ra bởi bạn tình, các thành viên trong gia đình, người quen, người xa lạ, đồng nghiệp, người có

Trang 17

quyền lực cũng như bởi cộng đồng hay cơ quan Nhà nước [51] Vì thế, để hiểu được BLG cần có định nghĩa bao quát trên các bối cảnh cụ thể để có thể nhận diện được các hình thức và sự thể hiện của BLG [36]

Thuật ngữ “bạo lực trên cơ sở giới” được sử dụng để phân biệt bạo lực

thông thường với bạo lực nhằm vào các cá nhân hoặc nhóm cá nhân trên cơ

sở sự phân cấp quyền lực do những khác biệt giới gây nên và ngoài phụ nữ thì nam giới và trẻ em trai cũng có thể trở thành nạn nhân

Cao uỷ Liên hợp quốc về người tị nạn (UNHCR 2003) [50] sử dụng thuật ngữ bạo lực trên cơ sở giới dựa trên Điều 1 và 2 của Tuyên bố của Đại hội đồng Liên hợp quốc về Xoá bỏ Bạo lực đối với Phụ nữ năm 1993 và Đề xuất thứ 19, đoạn 6 của Kỳ họp thứ 11 Hội đồng CEDAW Theo đó, bạo lực trên cơ sở giới là bạo lực nhằm vào một người dựa trên cơ sở giới tính của người đó Nó bao gồm các hành động gây ra những tổn hại về thể chất, tâm lý

và tình dục, những đe dọa dẫn đến những hành động nói trên, sự ép buộc và những hình thức khác nhằm tước bỏ tự do của người đó

Bạo lực trên cơ sở giới được hiểu là bao gồm nhưng không giới hạn ở

những hình thức sau:

a) Bạo lực thể chất, tình dục và tâm lý xảy ra trong gia đình bao gồm đánh đập, bóc lột tình dục, lạm dụng tình dục trẻ em trong gia đình, bạo lực liên quan đến của hồi môn, cưỡng hiếp trong hôn nhân, làm tổn thương bộ phận sinh dục phụ nữ, và những phong tục truyền thống khác tổn hại đến người phụ nữ, bạo lực ngoài mối quan hệ vợ chồng và bạo lực liên quan đến

sự bóc lột

b) Bạo lực thể chất, tình dục và tâm lý xảy ra trong cộng đồng bao gồm cưỡng hiếp, lạm dụng tình dục, đe dọa và quấy rối tình dục tại nơi làm việc, tại các cơ sở giáo dục, và bất kỳ đâu, buôn bán phụ nữ và ép buộc hoạt động mại dâm

Trang 18

c) Bạo lực thể chất, tình dục và tâm lý gây ra bởi hoặc được bỏ qua bởi nhà nước và các tổ chức nơi bạo lực xảy ra, ví dụ như ngăn cản phụ nữ đi bỏ phiếu, lái xe hoặc tham gia làm việc trên thị trường lao động

Mặc dù, nam giới và trẻ em trai cũng là nạn nhân, song chủ yếu phụ nữ

và trẻ em gái là nạn nhân của bạo lực trên cơ sở giới Những thiệt hại do bạo lực giới gây ra trong nhiều trường hợp là rất lớn, gồm cả thiệt hại vật chất và tinh thần như chi phí chăm sóc sức khỏe, thiệt hại tài sản của hộ gia đình, mất thu nhập

Theo một số tác giả, có 4 yếu tố dẫn đến khả năng xuất hiện bạo lực trên

cơ sở giới Đó là: Bất bình đẳng kinh tế; Tồn tại hình thức sử dụng bạo lực thể chất để giải quyết xung đột; Sự thống trị và kiểm soát của nam giới trong quá trình ra quyết định; Hạn chế khả năng tham gia công việc ngoài xã hội của phụ nữ [39]

Bạo lực đối với phụ nữ là một trong các hình thức bạo lực trên cơ sở giới Tuy nhiên, vì cho đến nay phụ nữ và trẻ em gái là nhóm đối tượng có nguy cơ cao nhất và bị tác động nặng nề nhất do bạo lực trên cơ sở giới gây ra cho nên thuật ngữ “bạo lực đối với phụ nữ” và “bạo lực trên cơ sở giới” thường được sử dụng như nhau trong nhiều tài liệu

Cho đến nay, trong văn bản chính thức ở Việt Nam chưa đưa ra định nghĩa về bạo lực trên cơ sở giới Luật Bình đẳng giới 2006 đã đề cập đến

thuật ngữ “bạo lực trên cơ sở giới”, tuy nhiên, hành vi này không được định

nghĩa trước đó Bên cạnh đó, các hành vi bạo lực giới trong gia đình cũng được qui định tại Điều 41 Luật Bình đẳng giới 2006 Cho dù không nêu ra định nghĩa chính thức, về cơ bản, trong các chính sách sử dụng ở Việt Nam, khái niệm bạo lực giới được hiểu như định nghĩa đã được Liên hợp quốc nêu ra [19]

Trang 19

Hình 1.1 Vòng xoáy Bạo lực giới [36 ] 1.1.4 Bạo lực đối với phụ nữ

Tuyên bố của Liên Hợp Quốc về Xóa bỏ Bạo lực đối với phụ nữ (1993)

định nghĩa bạo lực đối với phụ nữ là “bất kì hành vi bạo lực trên cơ sở giới

nào dẫn đến, hoặc có thể dẫn đến tổn hại về thể xác, tình dục hoặc tâm thần hoặc gây đau khổ cho phụ nữ, kể cả việc đe dọa có những hành vi như vậy, áp bức hoặc độc đoán tước bỏ tự do, dù diễn ra ở nơi công cộng hay trong cuộc sống riêng tư” [10] Cũng tại diễn đàn kêu gọi hành động tại Bắc Kinh

(1995), các Chính phủ đã tuyên bố: “bạo lực đối với phụ nữ là sự vi phạm các

quyền con người cơ bản nhất và là rào cản cho việc đạt được các mục tiêu bình đẳng, phát triển và hòa bình” [10]

Trang 20

Nhiều người quan niệm rằng, chỉ có những lạm dụng một cách có hệ thống và nghiêmtrọng chống lại phụ nữ làm tổn hại đáng kể đến quan hệ vợ chồng mới được người được hỏi coi là bạo lực [16]

1.1.5 Bạo lực gia đình

Bạo lực gia đình (BLGĐ) là một trong những dạng điển hình của bạo lực đối với phụ nữ, xảy ra ở phạm vi gia đình Ngày 21/11/2007, Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Luật Phòng chống

bạo lực gia đình, Luật có hiệu lực từ 1/7/2008 Luật định nghĩa “Bạo lực gia

đình là hành vi cố ý của thành viên gia đình gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần, kinh tế đối với thành viên khác trong gia đình” Thành viên gia đình là những người gắn bó với nhau bởi hôn nhân,

quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền giữa họ với nhau [22]

Tuyên ngôn thế giới về quyền con người đã khẳng định mọi nguời sinh

ra đều có quyền bình đẳng về phẩm giá và các quyền, cả nam và nữ đều bình đẳng với nhau Bất kỳ một hành vi bạo lực nào đối với phụ nữ đều vi phạm nhân quyền Nhưng trên thực tế, bạo lực đối với phụ nữ dưới nhiều hình thức

đã và đang xảy ra ở mọi cộng đồng, mọi quốc gia trên thế giới bất kể sự khác biệt về giai cấp, chủng tộc, tôn giáo Bạo lực đối với phụ nữ không chỉ là vấn

đề một quốc gia hay khu vực mà nó là một vấn đề mang tính chất toàn cầu [32] BLG là hành vi cố ý nhằm mục đích thiết lập, duy trì, phát triển quyền lực và sự kiểm soát với người khác Đó có thể là một hành vi bạo lực đơn lẻ hoặc tổng hợp nhiều hành động thông qua việc sử dụng các hành vi tấn công, kiểm soát.Luật Phòng, chống bạo lực gia đình Việt Nam quy định: một thành viên được coi là bị BLG khi bị một trong các hành vi dưới đây do một thành viên khác trong gia đình gây ra [22]

a) Hành hạ, ngược đãi, đánh đập hoặc hành vi cố ý khác xâm hại đến sức khỏe, tính mạng;

Trang 21

b) Lăng mạ hoặc hành vi cố ý khác xúc phạm danh dự, nhân phẩm;

c) Cô lập, xua đuổi hoặc gây áp lực thường xuyên về tâm lý gây hậu quả nghiêm trọng;

d) Ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông,

bà và cháu; giữa cha, mẹ và con; giữa vợ và chồng; anh, chị, em với nhau; e) Cưỡng ép quan hệ tình dục;

f) Cưỡng ép tảo hôn; cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ;

g) Chiếm đoạt, hủy hoại, đập phá hoặc có hành vi khác cố ý làm hư hỏng tài sản riêng của thành viên khác trong gia đình hoặc tài sản chung của các thành viên gia đình;

h) Cưỡng ép thành viên gia đình lao động quá sức, đóng góp tài chính quá khả năng của họ; kiểm soát thu nhập của thành viên gia đình nhằm tạo ra tình trạng phụ thuộc về tài chính;

i) Có hành vi trái pháp luật buộc thành viên gia đình ra khỏi chỗ ở

Hành vi bạo lực được quy định tại Luật Phòng chống BLG cũng được

áp dụng đối với thành viên gia đình của vợ, chồng đã ly hôn hoặc nam, nữ không đăng ký kết hôn mà chung sống với nhau như vợ, chồng [22]

Bạo lực giới trong gia đình:

Định nghĩa của Liên hợp quốc về bạo lực đối với phụ nữ có phạm vi rộng bao gồm các hành vi bạo lực chống lại phụ nữ trong cuộc sống riêng tư (bạo lực gia đình) và các hành vi bạo lực chống lại phụ nữ ở nơi công cộng (bạo lực ngoài gia đình) [1], [12], [13]

Một đặc điểm cần lưu ý là: phần lớn bạo lực trong gia đình là bạo lực giới Điều này có nghĩa bạo lực được thực hiện bởi nam giới đối với phụ nữ hoặc ngược lại của phụ nữ đối với nam giới trong phạm vi gia đình Do vậy, để đảm bảo hạnh phúc và duy trì sự tồn tại, phát triển của gia đình thì việc lên án và xoá bỏ những hành vi bạo lực trong gia đình là yếu tố đóng vai trò quan trọng

Trang 22

Nhất là trong thời đại ngày nay khi loài người chúng ta đang sống trong thế kỷ XXI - thế kỷ của tự do, bình đẳng, dân chủ, tiến bộ và văn minh thì sự tồn tại của bạo lực gia đình không chỉ gây tổn thương đến sức khoẻ, danh dự của thành viên trong gia đình, mà còn vi phạm tới chuẩn mực đạo đức xã hội, vi phạm luật bình đẳng giới đang được đề cao và tôn trọng trong xã hội hiện nay [12]

1.1.6 Chu kỳ bạo lực (hay “vòng tròn bạo lực”)

Các nghiên cứu cho thấy rất nhiều phụ nữ bị bạo lực trong một thời

gian dài, thậm chí trong suốt thời gian có chồng, họ phải đối mặt với tình trạng bạo lực nhiều lần theo chu kỳ sau đây

Sơ đồ 1 Chu kỳ bạo lực (Nguồn: theo WHO, 2002 [52])

Chu kỳ bạo lực (trong mối quan hệ vợ chồng) diễn ra qua 3 giai đoạn chính:

Giai đoạn “căng thẳng hình thành”: người chồng/bạn tình bắt đầu nổi cáu, chỉ trích, đe dọa, la hét, chửi rủa vợ Người phụ nữ thường cố gắng giữ cho chồng/bạn tình bình tĩnh, nhưng không khí gia đình vẫn tiếp tục căng thẳng

Giai đoạn “bạo lực xảy ra” (giai đoạn “bùng nổ”): có thể là bạo lực thể chất, tinh thần, tình dục, kinh tế hoặc là kết hợp các dạng bạo lực

Giai đoạn “xin lỗi, tha thứ” (giai đoạn “yên tĩnh”): người chồng xoa dịu, tặng quà, xin lỗi về hành vi của mình; hoặc coi như bạo lực chưa bao giờ

Căng thẳng hình thành

Bạo lực xảy ra

Xin lỗi, tha thứ,

tỏ ra ân hận với vợ/bạn tình

Trang 23

xảy ra, hứa hẹn không tái phạm Giai đoạn này người phụ nữ thường hy vọng bạo lực có thể sẽ qua đi, người chồng/bạn tình của mình sẽ thay đổi

Sau bạo lực, cuộc sống gia đình tưởng như có vẻ êm thấm trở lại với những lời xin lỗi, ân hận của người chồng và sự tha thứ của người vợ Người phụ nữ hi vọng mọi việc sẽ qua đi, không tái diễn và dần dần họ chấp nhận bạo lực vì mong muốn ổn định gia đình Điều này giúp chúng ta hiểu rõ hơn tại sao nhiều người phụ nữ lại có thể chung sống và chịu đựng bạo lực trong thời gian dài Tuy nhiên, thực tế cho thấy chu kỳ bạo lực thường lặp đi lặp lại

nhiều lần, ngày càng xấu hơn, ngắn hơn và nghiêm trọng hơn [24], [34]

1.1.7 Phân loại bạo lực giới

BLG bao gồm các hình thức khác nhau của bạo lực gây ra bởi một thành viên hoặc một nhóm thành viên trong gia đình chống lại một thành viên hoặc một nhóm thành viên khác trong gia đình đó (vợ - chồng, bố mẹ - con cái, bạo lực từ bố mẹ chồng/vợ, bạo lực đối với người già) Tuy nhiên trên thực tế, tình trạng BLG xảy ra phổ biến nhất là hành vi bạo lực đối với phụ nữ

do chồng/bạn tình gây ra

Trong phạm vi của đề tài, chúng tôi cũng chỉ nghiên cứu những hành vi bạo lực của người chồng/bạn tình đối với phụ nữ, mà không xét đến những người thân khác trong gia đình

Tuyên bố của Liên Hợp Quốc về Xóa bỏ Bạo lực đối với phụ nữ (1993) nêu rõ bạo lực đối với phụ nữ bao gồm ba hình thức bạo lực cơ bản: thể xác, tình dục và tinh thần [27] Luật Phòng, chống BLG Việt Nam (2007) thì chỉ ra các hình thức bạo lực: thể xác, tinh thần, kinh tế Các biểu hiện cụ thể của từng hình thức bạo lực như sau:

Bạo lực thể xác

Bạo lực thể xác là những hành vi gây tổn hại đến cơ thể với nhiều dạng

và mức độ khác nhau từ nhẹ đến nặng, thậm chí có thể gây tử vong: bạt tai, túm tóc, tát, đấm, đá, bóp cổ, lắc mạnh thân thể, giam hãm hay nhốt, đốt, tạt

Trang 24

axit, dùng hung khí… Ngoài việc gây đau đớn về thể chất, những hành vi đó còn gây ra những tổn thương tâm lý nặng nề, làm cho người phụ nữ luôn lo

âu, hoảng sợ [37], [38]

Ở Việt Nam, năm 2006, nghiên cứu cấp quốc gia về gia đình đã được tiến hành (Bộ VHTTDL, TCTK, UNICEF, IFGS) cho thấy có 21% các cặp vợ chồng trải nghiệm ít nhất một loại bạo lực gia đình, gồm lời nói, tinh thần, thể chất hoặc bạo lực tình dục Bạo lực thể chất là loại bạo lực giới được báo cáo với tần suất cao nhất - mặc dù vẫn còn dưới mức thực tế - và những vụ việc xảy ra trong các quan hệ ngoài hôn nhân thường hiếm khi được báo cáo Trong các nghiên cứu định lượng quy mô nhỏ ở cả thành thị lẫn nông thôn, tuy con số ước tính đưa ra

có khác nhau, nhưng thường dao động trong khoảng từ 16 đến 37% phụ nữ cho biết họ đã từng bị bạo lực về thể chất [13], [23], [35]

Bạo lực tình dục

Bạo lực tình dục là các hành vi ép buộc người phụ nữ phải quan hệ tình dục (thậm chí dùng vũ lực), làm điều có tính kích dục mà người phụ nữ cảm thấy nhục nhã, hạ thấp nhân phẩm, ép phải quan hệ tình dục với một người khác, người chồng ép buộc, xúi giục vợ làm gái điếm hay mỹ nhân kế vì mục đích riêng Ngoài ra, việc chồng ép vợ sinh con trai, không chịu sử dụng bao cao su theo yêu cầu của người phụ nữ, không cho vợ/bạn tình sử dụng biện pháp tránh thai cũng được coi là bạo lực tình dục Hiện nay một số nước coi chuyện chồng ép buộc vợ về mặt tình dục là hành vi cưỡng bức, thuộc phạm

vi hình sự [30], [37], [45]

Bạo lực tình dục ở Việt Nam gồm nhiều loại tội phạm và xâm hại mà người ta ít khi nói đến Bạo lực tình dục bao gồm hành động hiếp dâm và các hình thức lạm dụng tình dục khác trước và trong hôn nhân, do một thành viên trong gia đình, người có quan hệ tình dục đồng giới hoặc khác giới, người quen hoặc khách hàng của người làm mại dâm thực hiện (bao gồm cả hiếp dâm tập thể) [48] Bạo lực tình dục còn bao gồm cả hành động ép bán dâm và cưỡng ép

Trang 25

kết hôn, tấn công tình dục và hiếp dâm trẻ em, quấy rối tình dục tại nhà ở, trường học, cơ quan/tổ chức cộng đồng hoặc tại nơi làm việc Trên thế giới, bạo lực tình dục được báo cáo ở dưới mức thực tế, và ở các nước mà tình dục là chủ đề hiếm khi được bàn luận một cách cởi mở, như Việt Nam chẳng hạn, thì mức độ báo cáo thậm chí còn thấp hơn nữa [8] Điều 112 Bộ luật Hình sự định nghĩa tội hiếp dâm là “dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng lợi thế trong tình trạng nạn nhân không thểtự vệ hoặc những thủ đoạn khác để giao cấu với nạn nhân trái với ý muốn của họ” Hiếp dâm được coi là một tội nghiêm trọng và các hình phạt bị tăng nặng trong các trường hợp nạn nhân dưới 13 tuổi, hoặc kẻ phạm tội

có quan hệ huyết thống/loạn luân với nạn nhân, hoặc làm nạn nhân có thai, hoặc

kẻ phạm tội biết rõ bản thân có HIV dương tính Tuy nhiên, ở Việt Nam còn tồn tại những thái độ trái ngược nhau trước vấn đề cưỡng bức tình dục trong hôn nhân, điều này đã góp phần tạo nên con số thống kê như trên Một mặt, người ta cho rằng nam giới không nên cưỡng bức vợ mình sinh hoạt tình dục Mặt khác,

họ lại tin rằng phụ nữ phải “đáp ứng nhu cầu tình dục của chồng mình” Quấy rối tình dục trong nhà trường cũng bắt đầu được nghiên cứu, tìm hiểu Một nghiên cứu do CSAGA, Viện Nghiên cứu phát triển xã hội (ISDS) và Action Aid phối hợp thực hiện trên 314 học sinh của 3 trường phổ thông trung học, đã cho thấy: 15,6 % số học sinh trên từng bị một ai đó vuốt ve, sờ mó, hôn vào một vài bộ phận cơ thể, làm cho các em cảm thấy sợ hãi hoặc không thoải mái 4,3%, trong

đó chủ yếu là các em gái, bị người khác dùng lời nói hoặc hành động để cưỡng bức (đặt tay hoặc dùng bộ phận nào đó của cơ thể đưa vào bộ phận sinh dục hay hậu môn của các em), làm các em cảm thấy sợ hãi 4% trong số này bị ép buộc như vậy từ 1-6 lần, 0,3% bị ép buộc đến trên 10 lần 4,3% bị buộc giao cấu trong vòng 12 tháng trước đó và những kẻ tấn công có thể là bạn học cùng lớp, cùng trường, người lạ mặt, hàng xóm hoặc người quen [11], [44], [46]

Trang 26

Bạo lực tinh thần

Bạo lực tinh thần là những hành vi chửi mắng, đe dọa, lăng mạ hoặc hành vi cố ý khác xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín, cô lập, xua đuổi, quấy rối…, gây áp lực thường xuyên về tâm lý dẫn đến hậu quả nghiêm trọng đối với người phụ nữ Các hành vi kiểm soát thời gian, ngăn cản tình cảm của người vợ/bạn tình đối với người thân, “ghen bóng ghen gió” để kiếm cớ hạn chế tự do của vợ; dọa bỏ, hành hạ con cái, lợi dụng tình cảm gắn bó, không thể xa con để trói buộc, làm cho người phụ nữ phải sống cam chịu, không dám tố cáo…cũng được coi là bạo lực tinh thần [29], [37], [45]

Một điều khó khăn là chưa có khái niệm chính thức về bạo lực tinh thần Bạo lực tinh thần (hay còn gọi là bạo lực tâm lý) là hình thức bạo lực khó xác định nhất vì nhiều lý do Thứ nhất, không có dấu hiệu nào biểu hiện ra bên ngoài về sự tổn hại mà bạo lực tinh thần gây ra Thứ hai, phương thức hay hành vi được sử dụng như “lăng mạ” hay “hạ nhục, bôi nhọ” có thể xảy ra trong mọi mối quan hệ và có thể chưa đến mức bị gọi là

“bạo lực” Để xác định xem loại hành vi này có phải là một hình thức BLG hay không, chúng ta cần xem xét nó có dựa trên sự áp đặt quyền lực và sự kiểm soát hay không Nhìn chung, bạo lực tinh thần bao gồm cả những hành vi như thường xuyên đe dọa, hạ thấp phẩm giá chứ không chỉ đơn giản là tạo ra áp lực tinh thần hay xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm của người khác [7]

Một nghiên cứu với 883 phụ nữ có chồng cho biết mức độ phổ biến của bạo lực tinh thần là 55% [34] Nghiên cứu sau này cũng cho biết chi tiết về tình trạng bạo lực tâm lý như sau: 20% phụ nữ bị lăng nhục hoặc cảm thấy tồi tệ về bản thân, 10,6% từng bị coi thường hay bị làm bẽ mặt, 49,2% bị hăm dọa hay bị uy hiếp do chủ ý của người khác, 12,9% bị đe dọa hay dọa nạt rằng cô, hay người nào cô quan tâm, sẽ bị hại [34] Tương tự như với bạo lực tình dục, phụ nữ và các nhà cung cấp dịch vụ cảm thấy rất

Trang 27

khó xác định dạng bạo lực tinh thần, bởi vì thường không có các dấu hiệu bên ngoài của những tổn hại mà loại bạo lực này gây nên Ngoài ra, các nghiên cứu cũng cho thấy quan niệm cho rằng việc người chồng chửi bới hoặc quát mắng vợ mình là hành vi có thể hiểu được và có thể chấp nhận được Kết quả nghiên cứu năm 2001 của Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam [17], cho thấy có một bộ phận lớn trong số những người được hỏi cho là có thể chấp nhận được nếu một người chồng chửi rủa vợ mình khi người vợ

“không tuân theo ý chồng” (51,3 %); “không chăm sóc chồng và các con” (50,2%); “vô lễ với chồng” (46,0%); “chi tiêu phung phí” (44,6%); “lười biếng” (40,1%); hay “không giỏi kiếm tiền “(32,8%)

Bạo lực kinh tế

Bạo lực kinh tế là các hành vi chiếm đoạt, hủy hoại, làm hư hỏng tài sản riêng hoặc chung, bị cưỡng ép lao động quá sức, bị cản trở việc thực hiện quyền lao động hoặc bị kiểm soát thu, chi gây phụ thuộc về tài chính đối với người phụ nữ Bên cạnh đó, bạo lực về mặt kinh tế còn thể hiện ở hành động vô trách nhiệm, không chia sẻ công việc gia đình nặng nhọc, mặc vợ bươn trải kiếm tiền [29], [37], [47]

Cần lưu ý rằng BLG là hình thức cưỡng chế và kiểm soát mà một người hành xử đối với người khác BLG không chỉ là sự tấn công cơ học, thậm chí không buộc phải là hành động tác động đến thể chất của nạn nhân Nó thường

là việc lặp đi lặp lại một phương thức bao gồm nhiều hành động như đe dọa, tước đoạt về kinh tế, cô lập, lạm dụng bạo hành về tinh thần và tình dục Một

số hành vi mà kẻ gây ra bạo lực sử dụng đã khiến nạn nhân bị tổn thương cả

về thể chất và tinh thần Bên cạnh đó là những hành vi có thể không để lại thương tật trên cơ thể nạn nhân, nhưng nó vẫn gây ra những tổn thương sâu sắc trong tâm hồn họ [7]

BLG có thể xảy ra trong bất kỳ mối quan hệ gia đình nào, bao gồm quan hệ vợ - chồng, vợ cũ - chồng cũ, cha dượng/mẹ kế với con riêng của

Trang 28

vợ/chồng, cha mẹ và con cũng như quan hệ giữa những người cùng chung sống Tuy nhiên, trên thực tế nạn nhân của BLG chủ yếu là nữ giới Mặc dù

số liệu về BLG rất đa dạng, nhưng các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng số vụ việc

mà nạn nhân là phụ nữ chiếm khoảng 95% tổng số vụ BLG [7]

Mặc dù không có số liệu thống kê đầy đủ, nhưng các con số ước tính số

vụ buôn bán phụ nữ cho thấy hàng năm có tới hàng ngàn phụ nữ và trẻ em gái Việt Nam bị bán làm nô lệ tình dục ở Trung Quốc và Campuchia và thông qua Campuchia đến nước thứ ba Theo Báo cáo 5 năm thực hiện Quyết định Quốc gia phòng, chống tội phạm buôn bán phụ nữ và trẻ em giai đoạn 2004-

2010 (Quyết định 130/2004/QĐ-TTg), từ năm 2004 đến 2009, trên phạm vi toàn quốc đã có 1.586 vụ với 4.008 nạn nhân bị buôn bán và 2.888 thủ phạm

bị bắt giữ Trong số những người bị buôn bán, có hơn 60% bị buôn bán sang Trung Quốc, và 11% sang Campuchia Những con số này tăng lên đến 1.090

vụ, 2.117 thủ phạm và 2.935 nạn nhân so với số liệu trong 5 năm trước đó [11], [41]

Mặc dù Việt Nam đã có nhiều cố gắng trong việc tái hoà nhập các nạn nhân bị buôn bán, nhưng thái độ kỳ thị trong cộng đồng đối với những người bị buôn bán đang làm cho công tác này gặp nhiều khó khăn [4]

1.2 Nghiên cứu thực trạng bạo lực giới

1.2.1 Trên thế giới

Một nghiên cứu năm 2001 tại thành phố Yokohama, Nhật Bản trên 1371 phụ nữ ở độ tuổi 18 đến 49 cho thấy: 36,3% phụ nữ từng bị bạo lực thể chất trong đó có 9,2% bị đạp hoặc bị ném; 8,6% bị xô đẩy; 2,7% bị đá, kéo lê, đánh đập; 2,2% bị đấm, hoặc dùng vật sắc nhọn đâm, chém, cắt, cứa; 0,5% bị hăm dọa hoặc tấn công bằng vũ khí; 0,2% bị chẹn gây nghẹt thở, gây bỏng và 12,9%

bị các bạo lực thể chất khác; 15,4% phụ nữ từng bị bạo lực tình dục [52]

Trong Hội nghị chăm sóc sức khỏe bà mẹ toàn cầu tại New Dehli Ấn

Độ (2001), nghiên cứu trên 16000 phụ nữ của 5 khu vực nông thôn Saharan

Trang 29

của Châu Phi chỉ ra rằng: có từ 18% đến 64% phụ nữ bị bạo lực do chồng và bạn tình gây ra với bất kì hình thức nào [40]

Mức độ phổ biến của BLG có thể khác nhau ở các vùng lãnh thổ khác nhau, song chúng hiện diện trong đời sống gia đình ở mọi quốc gia.Khảo sát của Tổ chức y tế thế giới (WHO) năm 2001 tại 10 nước khu vực Đông Nam

Á cho thấy: có từ 10% đến 69% phụ nữ đã bị bạo lực thể xác bởi chồng/bạn tình của mình; 6% đến 59% phụ nữ bị bạo lực tình dục; 30% đến 50% phụ nữ

bị bạo lực thể xác và tình dục; 4% đến 12% phụ nữ mang thai bị bạo lực và 90% là do chồng gây ra [52] Bạo hành phụ nữ còn là nguyên nhân làm cho trẻ em phát triển lệch lạc nhân cách Gia đình là tổ ấm của mỗi người, là chỗ dựa cả về vật chất lẫn tinh thần trong những lúc khó khăn, hoạn nạn; là trường học đầu đời của mỗi con người Mỗi đứa trẻ được sinh ra, lớn lên và phát triển toàn diện dựa trên một nền tảng văn hóa gia đình lành mạnh và tràn đầy tình yêu thương, hạnh phúc Thật là bất hạnh và đáng thương cho những trẻ

em phải chứng kiến cảnh đau thương, tàn nhẫn ngay trong cách cư xử của chính người cha đối với mẹ của chúng [24]

Nghiên cứu đa quốc gia của WHO (2005) đã chỉ ra tỷ lệ hành vi bạo lực thể xác nghiêm trọng và lặp đi lặp lại của nam giới với vợ/bạn tình dao động từ 4% (số liệu ở khu vực thành thị Nhật Bản) đến 49% (số liệu từ một tỉnh của Peru) [42]

1.2.2 Tại Việt Nam

BLG là một vấn đề phổ biến tại Việt Nam ở cả khu vực nông thôn và thành thị, trung du, miền núi và đồng bằng, diễn ra ở gia đình giàu cũng như nghèo, học thức cao hay thấp, và ở tất cả các tầng lớp xã hội BLG có thể trầm trọng khiến người ta phải thiệt mạng, hoặc ít nghiêm trọng hơn, để lại những bầm dập, nước mắt và những đau khổ nhiều khi không chia sẻ được Mặc dù BLG thường được “châm ngòi” từ những yếu tố như rượu, ma túy, cờ bạc, thất nghiệp, nhưng những yếu tố này không phải là nguyên nhân gốc rễ

Trang 30

của những hành vi bạo lực Đó là một hành vi cố ý nhằm thiết lập và thể hiện quyền lực, sự kiểm soát với người khác

Bất kỳ thành viên nào trong gia đình cũng có thể là nạn nhân hoặc người gây bạo lực BLG có thể xảy ra trong mối quan hệ vợ - chồng, cha mẹ - con cái, anh chị em… Tuy vậy nhiều nghiên cứu cho thấy đa số nạn nhân BLG là phụ nữ và người gây ra bạo lực là chồng [9]

Kết quả từ nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thi ̣ Hường trên đối tượng

150 sinh viên nữ trư ờng Cao đẳng nghề Kỹ thuật – Mỹ nghệ Việt Nam và sinh viên Trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuậtTrung ương 100 sinh viên nữ Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn cho biết : Tỷ lệ sinh viên bị bạo hành tương đối cao Sinh viên bị bạo hành nhiều nhất là bạo hành về tinh thần, sau đó là bạo hành về thể chất Bạo hành về tình dục và bạo hành về kinh tế có tỷ lệ thấp hơn Sinh viên sống cùng người yêu/chồng, sống ở kí túc

xá hoặc nhà trọ, kết hôn, có người yêu là nhóm có nguy cơ bị bạo hành về thể chất, tinh thần và tình dục nhiều hơn nhóm sinh viên sống cùng cha mẹ, chị

em ruột, bạn bè, sống trong nhà của cha mẹ [14]

Cũng tại Ba Vì, nghiên cứu của Nguyễn Đăng Vững (2008) về bạo lực của chồng/bạn tình đối với phụ nữ trên 883 phụ nữ đã chỉ ra: có 30,9% đã từng

bị một hình thức bạo lực về thể xác trong cuộc đời và 8,5% trong năm trước; 32,7% phụ nữ bị kết hợp cả bạo lực thể xác và tình dục trong đời và 9,2% trong năm trước; 55,4% bị bạo lực tinh thần trong đời và trong 12 tháng trước là 33,7%; 6,6% phụ nữ phải chịu các hành vi bạo lực tình dục từ chồng/bạn tình trong quãng thời gian sống và 2,2% là tỷ lệ trong năm trước [33]

Điều tra quốc gia về vị thành niên và thanh niên Việt Nam lần thứ nhất, năm 2004 (SAVY I) với 7584 vị thành niên và thanh niên trong độ tuổi 14-25

ở 61 tỉnh, thành cho thấy: 21% nữ thanh niên từng bị chồng chửi mắng; 12,8% từng bị cấm đoán làm một việc gì đó; 5,8% từng bị đánh đập [25]

Trang 31

Điều tra quốc gia về vị thành niên và thanh niên Việt Nam lần thứ hai, năm 2008 (SAVY II) với 10044 vị thành niên và thanh niên trong độ tuổi 14-25 ở 63 tỉnh, thành trên toàn quốc cũng cho kết quả: 5,8% nữ thanh niên bị chồng đánh đập [26]

Nghiên cứu của Ủy ban các vấn đề xã hội của Quốc hội tại 8 tỉnh (2006) với mẫu điều tra 2000 người cho thấy: 2,3% gia đình có các hành vi bạo lực về thể chất; 25% gia đình có hành vi bạo lực tinh thần và 30% cặp vợ chồng xảy ra hiện tượng ép buộc quan hệ tình dục [31]

Năm 2009, Bộ Y tế phối hợp với Hội đồng Dân số thế giới, Sở Y tế Hà Nội, Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng điều tra tại 4 bệnh viện của

Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh Trong điều tra, các cán bộ y tế đã xác nhận các dạng thương tích mà họ thường gặp ở phụ nữ bị bạo lực: tổn thương phần mềm (trên 80%), tổn thương ở chỗ hiểm (đầu, ngực…) (24% và 53%); sảy thai (12% và 20%); tổn thương cơ quan sinh dục (25% và 28%), gãy xương tay/chân (13% và 36%), tổn thương tinh thần, căng thẳng, rối loạn tâm

lý (75% và 55%) [43]

Báo cáo chuyên đề về bạo lực trên cơ sở giới của Liên hợp quốc tại Việt Nam (2010) do Gardsbane và cộng sự tiến hành đã khẳng định lại những phát hiện về mức độ bạo lực gia đình với phụ nữ cao và những tập quán, quan niệm bất bình đẳng về giới là nguồn gốc của bạo hành Gardsbane và các tác giả cho rằng những quan niệm truyền thống về giới, nam quyền và những mối liên hệ của nó với rượu và bạo lực đã góp phần hình thành quan niệm thông thường rằng BLG là kết quả của đói nghèo và rượu chè, và phụ nữ phải là người chịu trách nhiệm cho việc bị ngược đãi, chứ không phải người đàn ông

đã gây ra hành động đó [18]

Nghiên cứu quốc gia đầu tiên về BLG với phụ nữ ở Việt Nam do Tổng cục thống kê thực hiện năm 2010 đã chỉ ra bức tranh tổng thể về vấn đề nhạy cảm và nhức nhối này: phụ nữ Việt Nam đã và đang phải chịu đựng tất cả các

Trang 32

hình thức bạo lực gia đình Trong đó, 32% phụ nữ từng kết hôn phải chịu bạo lực thể xác trong đời và 6% từng trải qua bạo lực thể xác trong vòng 12 tháng trước thời điểm nghiên cứu; tỷ lệ phụ nữ bị bạo lực tình dục, bạo lực tinh thần và bạo lực về kinh tế do chồng gây ra trong đời lần lượt là 10%, 54%, 9% Khi kết hợp ba loại bạo lực thường gặp (thể xác, tình dục và tinh thần) do chồng gây ra,

đã có hơn nửa số phụ nữ (58%) trả lời từng bị ít nhất một trong ba loại bạo lực này trong cuộc đời; tỷ lệ này trong 12 tháng qua là 27% Hơn 60% phụ nữ từng

bị chồng/bạn tình bạo hành khi được hỏi đã trả lời rằng hành vi bạo lực đã ảnh hưởng đến sức khỏe của họ, và 26% phụ nữ từng bị đánh đập hoặc bị bạo lực tình dục cho biết đã bị tổn thương do bị bạo lực [27]

Năm 2011, nghiên cứu của Nguyễn Thị Vân Anh trên 1885 bệnh nhân nữ

là nạn nhân bị bạo lực đã đến khám, điều trị và tư vấn tại hai Bệnh viện đa khoa Đức Giang và Đông Anh (Hà Nội), cho thấy: bạo lực đối với phụ nữ do người chồng gây ra chiếm tỷ lệ lớn trong các loại bạo lực (89.2%) Bạo lực tinh thần và thể chất chiếm tỷ lệ cao trong các hình thức bạo lực (80.3% và 66.2%) Trong bạo lực tình dục, người chồng là đối tượng gây bạo lực với tỷ lệ cao nhất (69.3%) Tình trạng bạo lực kéo dài gây hậu quả nặng nề cho người phụ nữ, tổn thương nhiều nhất ở vùng đầu, mặt, cổ (48.5%) [2]

1.3 Thực trạng đào tạo lồng ghép bạo lực giới tại trường Cao đẳng Y tế

Hà Nam

Theo điều 6 của Thông tư liên tịch về việc: “Hướng dẫn thực hiện

chuyển đổi hành vi về xây dựng gia đình và phòng, chống bạo lực gia đình trong các cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân” đã quy định

trách nhiệm của các cơ sở giáo dục về lồng ghép việc giảng dạy các môn học [3] Do vậy, việc lồng ghép bạo lực giới trong giảng dạy là một hoạt động cần thiết, qua đó nhằm nâng cao nhận thức cho sinh viên về bình đẳng giới và bạo lực giới Cho nên lồng ghép trong giảng dạy tại các trường chuyên ngành y tế nhằm giúp trang bị cho sinh viên những kiến thức về bình đẳng giới và bạo

Trang 33

lực giới nhằm nâng cao nhận thức và kỹ năng truyền thông, tư vấn góp phần làm thay đổi thái độ và hành vi vi phạm, từ đó thực hiện thắng lợi mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới và bạo lực giới

Năm 2011, được sự hỗ trợ của Quỹ Dân số Liên hiệp quốc (UNFPA), Cục Khoa học Công nghệ và Đào tạo - Bộ Y tế đã triển khai chương trình đào tạo lồng ghép Bạo lực giới tại 5 trường Cao đẳng Y tế thuộc các tỉnh: Hà Nam, Lạng Sơn, Đồng Nai, Bình Định và Cà Mau Các cán bộ giảng dạy và lãnh đạo các trường đã tham gia đầy đủ các buổi tập huấn do Bộ Y tế tổ chức về các nội dung: Nội dung giảng dạy, phương pháp giảng dạy, thời gian giảng dạy và phương pháp lượng giá sinh viên [5]

Bắt đầu từ năm học 2012 – 2013 trường Cao đẳng Y tế Hà Nam đã tổ chức triển khai đào tạo lồng ghép vềbạo lực giới đối với sinh viên Cao đẳng Điều dưỡng Chương trình đào tạo trang bị cho sinh viên các kiến thức cơ bản về bình đẳng giới, bạo lực giới để tuyên truyền phòng chống bạo lực đối với gia đình và cộng đồng Chương trình được lồng ghép giữa kiến thức phòng chống bạo lực giới với các học phần Pháp luật và Tổ chức y tế, Sức khỏe, nâng cao sức khỏe và hành vi con người Tổng số tiết học được lồng ghép: 36 tiết [28]

Về đội ngũ giảng viên tham gia giảng dạy đảm bảo đạt yêu cầu, các giảng viên đã được tham gia học tập về phương pháp giảng dạy lồng ghép cũng như kiến thức chuyên môn về Bạo lực giới Khoa Y tế cộng đồng phụ trách giảng dạy lồng ghép học phần Sức khỏe, nâng cao sức khỏe và hành vi con người có

08 giảng viên, trong đó thạc sỹ và chuyên khoa 1: 03 giảng viên Khoa Điều dưỡng phụ trách giảng dạy lồng ghép học phần Pháp luật và Tổ chức y tế có 11 giảng viên, trong đó thạc sỹ và chuyên khoa 1: 02 giảng viên

Về cơ sở vật chất: Do được quy hoạch, đầu tư xây dựng mới từ ban đầu nên cơ bản cơ sở vật chất đáp ứng tốt yêu cầu triển khai công tác đào tạo Các khu nhà từ nhà Hành chính – Hiệu bộ, giảng đường, nhà thí nghiệm thực hành, khu KTX, nhà ăn, giáo dục thể chất, sân vườn được bố trí liên hoàn thuận lợi cho

Trang 34

việc điều hành, quản lý, giảng dạy và sinh hoạt.Số lượng giảng đường lý thuyết

và phòng thí nghiệm, thực hành đáp ứng yêu cầu giảng dạy cho các đối tượng đào tạo Các mô hình, dụng cụ, trang thiết bị dạy học trong các phòng thực hành được bổ sung hàng năm cơ bản đáp ứng các yêu cầu giảng dạy theo tiêu chuẩn các phòng thực hành của trường Cao đẳng Nhà trường đã phân công giáo viên

có chuyên môn phù hợp quản lý, giảng dạy và sử dụng có hiệu quả các phòng thực hành

Đã xây dựng quy chế phối hợp giữa nhà trường và cơ sở thực tập, thực địa, hệ thống các cơ sở thực hành, thực địa tại các bệnh viện, trung tâm y tế, công ty Dược tuyến tỉnh, tuyến huyện và hệ thống các trạm y tế xã đạt chuẩn quốc gia đảm bảo đủ điều kiện cho học sinh, sinh viên nhà trường thực tập

Trang 35

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Địa điểm, đối tượng nghiên cứu

2.1.1 Địa điểm nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành tại Trường Cao đẳng Y tế Hà Nam

Một số đặc điểm về địa bàn nghiên cứu:

Trường Cao đẳng Y tế Hà Nam thành lập ngày 31/10/2007 theo Quyết địnhsố 6875/QĐ-BGDĐT của Bộ GD&ĐT trên cơ sở nâng cấp Trường Trung học Y tế Hà Nam thành lập ngày 26/8/1999 theo Quyết định 770/QĐ-UBND của UBND tỉnh Hà Nam

Trường có nhiệm vụ: Tổ chức đào đạo cán bộ y tế có trình độ Cao đẳng

và Trung cấp chuyên nghiệp theo kế hoạch; bồi dưỡng và đào tạo lại đội ngũ cán bộ y tế của tỉnh nhằm nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ đáp ứng nhu cầu nhiệm vụ của tỉnh và của ngành; tổ chức nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ về giáo dục và y tế trong hoạt động giảng dạy của nhà trường

và chăm sóc sức khỏe nhân dân trong tỉnh, tăng cường liên kết và hợp tác đào tạo đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực y tế tỉnh Hà Nam và xã hội

Hiện nay mô hình tổ chức nhà trường gồm: Ban Giám hiệu, 05 phòng chức năng, 07 khoa chuyên môn và Trạm y tế với tổng số 96 giảng viên, viên chức Trong đó giảng viên là 79 người, viên chức khác là 17 người, giảng viên có trình độ Đại học đạt 100% trong đó Sau Đại học chiếm trên 40% 100% giảng viên có chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm, trong đó 80% chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm bậc II, 100% giảng viên, giáo viên có Chứng chỉ nghiệp

vụ sư phạm cho giảng viên đại học, cao đẳng

Do làm tốt công tác về cơ sở vật chất, trang thiết bị và đội ngũ giảng viên, đến nay nhà trường đang đào tạo các ngành: Điều dưỡng; Dược sỹ; Y

Trang 36

sỹ; Hộ sinh và Dân số y tế Sau 15 năm tổ chức đào tạo có trên 6.000 HSSV tốt nghiệp ra trường, trên 500 cán bộ y tế được đào tạo lại, đào tạo nâng cao góp phần cung cấp nguồn cán bộ y tế cho các cơ sở y tế tuyến trung ương, địa phương và nhu cầu xuất khẩu điều dưỡng

Hiện nay, quy mô đào tạo của nhà trường với 1054 học sinh, sinh viên đang theo học với các chuyên ngành điều dưỡng, dược sỹ và y sỹ Trong đó,

số lượng sinh viên Điều dưỡng cao đẳng hệ chính quy là 255 sinh viên

Từ năm 2011, được sự hỗ trợ của Quỹ Dân số Liên hiệp quốc (UNFPA), Cục Khoa học công nghệ và Đào tạo – Bộ Y tế đã giao cho Trường Cao đẳng Y

tế Hà Nam xây dựng Kế hoạch và tổ chức đào tạo lồng ghép bạo lực giới với đối tượng cao đẳng điều dưỡng và bắt đầu từ năm học 2012 – 2013, Nhà trường đã

tổ chức triển khai đào tạo lồng ghép về bạo lực giới đối với sinh viên Cao đẳng Điều dưỡng nhằm trang bị cho sinh viên các kiến thức cơ bản về bình đẳng giới, bạo lực giới để tuyên truyền phòng chống bạo lực đối với gia đình và cộng đồng

2.1.2 Đối tượng nghiên cứu

- Sinh viên đang theo học cao đẳng Điều dưỡng hệ chính quy tại trường Cao đẳng Y tế Hà Nam Hiện nay tại nhà trường hiện đang có 03 khóa Cao đẳng điều dưỡng hệ chính quy theo học với tổng số sinh viên là 255, trong đó:

Số sinh viên năm thứ nhất là 71, sinh viên năm thứ 2 là 69 và sinh viên năm thứ 3 là 115

- Trưởng phòng quản lý đào tạo: 01 người

- Giáo viên phụ trách học phần đào tạo lồng ghép Hiện nay tại nhà trường, bạo lực giới được lồng ghép vào 02 học phần thuộc Khoa Y tế cộng đồng giảng dạy đó là học phần Pháp luật - Tổ chức y tế và học phần Nâng cao hành vi sức khỏe con người Hai học phần này do 02 giáo viên khác nhau phụ trách nội dung

Trang 37

* Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng tham gia nghiên cứu

Sinh viên Cao đẳng Điều dưỡng hệ chính quy học tập tại trường, bao gồm các sinh viên từ năm thứ nhất, thứ hai và năm thứ ba của Trường

Sinh viên tự nguyện tham gia nghiên cứu, không bị tác động bởi bất cứ yếu tố ép buộc nào

* Tiêu chuẩn loại trừ đối tượng nghiên cứu

Loại trừ các đối tượng là sinh viên học liên thông, học chuyển đổi các lớp dược sỹ, điều dưỡng tại trường

Sinh viên không đồng ý tham gia nghiên cứu

2.1.3 Thời gian nghiên cứu: Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 8/2016 đến

tháng 05/2017

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu

Áp dụng phương pháp nghiên cứu dịch tễ học mô tả với điều tra cắt ngang có phân tích, kết hợp giữa nghiên cứu định lượng và định tính

2.2.2 Phương pháp chọn mẫu và cỡ mẫu

2.2.2.1 Nghiên cứu định lượng

) 1 (

d

p p

nz   Trong đó:

- n: là số lượng sinh viên cần cho nghiên cứu

- Z(1-α/2): là trị số mức tin cậy mong muốn là 95% thì Z=1,96

- p: Tỷ lệ sinh viên có kiến thức đúng về bạo lực giới (Được lấy từ mô ̣t nghiên cứu th ử p= 0,85)

- d: là mức chính xác của nghiên cứu: 0,05

Trang 38

Theo tính toán , cỡ mẫu là n = 245 sinh viên Thực tế tổng số sinh viên trường là 255, do vậy chúng tôi tiến hành điều tra toàn thể sinh viên điều dưỡng cao đẳng hệ chính quy

2.2.2.2 Nghiên cứu định tính

- Cỡ mẫu cho nghiên cứu định tính:

Chủ động lựa chọn một số đối tượng để phỏng vấn sâu nhằm phát hiện chi tiết hơn về nhận thức, thái độ về BLG và một số yếu tố liên quan Các đối tượng được chọn:

+ Trưởng/phó phòng đào tạo: 01 người

+ Giảng viên phụ trách và tham gia giảng dạycác học phần đào tạo lồng ghép: 14 người

- Phương pháp chọn mẫu: Chọn toàn bộ các đối tượng trên vào nghiên cứu

2.3 Phương pháp thu thập số liệu

2.3.1.Sốliệuđịnhlượng

- Phương pháp thuthậpsố liệu: thông qua phỏng vấn trực tiếp đối tượng nghiên cứu bằngbộcâuhỏiđượcthiếtkế trước hoặc trả lời phỏng vấn trực tiếp các câu hỏi của tác giả nghiên cứu

- Quy trình xây dựng bộ câu hỏi: Cáccâuhỏi đượcsoạnthảodựatrênmụctiêunghiêncứu,chủyếulàcâuhỏiđóng;có tham khảo bảnghỏi trongđiềutramẫunhận thức, thái độ về BLG Sau khi xây dựng xong

bộ câu hỏi điều tra thì được điều tra thử trên nhóm tình nguyện 30 sinh viên để tìm ra những sai sót hoặc sự thiếu thông tin, sau đó chỉnh sửa thành bộ câu hỏi chính thức để đi điều tra

- Điều tra viên: Là 10 cán bộ giảng viên trẻ trong trường có hiểu biết, nhận thức đầy đủ về BLG Các cán bộ này có kinh nghiệm đã tham gia các nghiên cứu khác

- Tập huấn điều tra: Sau khi xây dựng bộ câu hỏi đảm bảo yêu cầu mục tiêu và tính khoa học chúng tôi đã giải thích cho 10 điều tra viên về nội dung,

Trang 39

mục đích và kiến thức của phiếu điều tra đồng thời tổ chức cho các điều tra đóng giả là đối tượng nghiên cứu để phỏng vấn lẫn nhau cho đến khi thành thạo thì tiến hành lấy số liệu trên đối tượng nghiên cứu

- Tổ chức điều tra: Nhóm điều tra viên căn cứ tên, số lượng sinh viên đã được lựa chọn ở mỗi lớp tiến hành tiếp cận giữa giờ nghỉ giải lao các tiết học; điều tra viên giải thích mục đích nghiên cứu và tiến hành phỏng vấn theo mẫu phiếu

- Tổ chức điều tra: Mỗi nhóm điều tra bao gồm1giám sát viên và 2 điều tra viên Các phiếu điều tra được thu lại vào cuối mỗi buổi để rà soát lại các nội dung của phiếu Các điều tra viên được tập hợp lại để rút kinh nghiệm trong việc điều tra ngay saumỗi buổi điều tra

2.3.2 Số liệu định tính:

-Phương pháp thu thập số liệu: Số liệu được thu thập qua ghi âm, ghi chép, sau đó phân tích để thu được số liệu định tính, dựa theo những câu hỏi

và tiến trình phỏng vấn đã được xác định trước

- Điều tra viên: Phần phỏng vấn sâu đối với các đối tượng nghiên cứu

được thực hiện bởi tác giả nghiên cứu

- Tổ chức điều tra:

Chọn vị trí yên tĩnh là Phòng Đào tạo, văn phòng Khoa, tránh sự chú ý của những người khác và tác giả tiến hành phỏng vấn sâu đại diện Trưởng phòng Đào tạo và giảng viên tham gia giảng dạy lồng ghép Ghi chép lại quá trình điều tra, ký tên và hoàn thiện bảng theo dõi phỏng vấn

2.3.3 Một số khái niệm và tiêu chuẩn đánh giá

2.3.3.1 Một số khái niệm dùng trong nghiên cứu

- Kiến thức BLG: Là những thông tin mà đối tượng nghiên cứu biết về

BLG theo ý hiểu của đối tượng nghiên cứu

- Thái độ về BLG: Là những quan điểm, cách cư xử với người bị BLG

trong trường và gia đình, về việc ủng hộ hay không ủng hộ người thân, bạn

Trang 40

bè tham gia phòng chống BLG và ý kiến về bồi dưỡng bằng vật chất và tinh thần cho người bị BLG

2.3.3.2 Thang điểm đánh giá kiến thức và thái độ của sinh viên cao đẳng điều dưỡng về bạo lực giới

Thang điểm đánh giá kiến thức và thái độ của sinh viên cao đẳng điều dưỡng được tiến hành phỏng vấn sinh viên bằng cách cho sinh viên trả lời qua bộ câu hỏi (Phụ lục số 4), cụ thể:

Thang điểm đánh giá kiến thức của sinh viên về bạo lực giới được đánh giá qua các câu hỏi từ C20 đến C54 Tại mỗi câu hỏi sinh viên trả lời

03 ý: Đồng ý được 01 điểm, còn lại không đồng ý và không biết được 0 điểm Sau khi sinh viên trả lời các câu hỏi, tiến hành cộng điểm và đánh giá kiến thức của sinh viên về bạo lực giới: Những sinh viên có điểm trả lời đạt điểm từ 0 đến 17 điểm là có không đầy đủ kiến thức về bạo lực giới, những sinh viên có điểm trả lời đạt điểm từ 18 đến 35 điểm là có đầy đủ kiến thức

về bạo lực giới

Thang điểm đánh giá thái độ của sinh viên về bạo lực giới được đánh giá qua các câu hỏi từ C60 đến C67 Tại mỗi câu hỏi sinh viên trả lời 03 ý: Đồng ý được 01 điểm, còn lại không đồng ý và không biết được 0 điểm Sau khi sinh viên trả lời các câu hỏi, tiến hành cộng điểm và đánh giá sinh viên về thái độ với bạo lực giới: Những sinh viên có điểm trả lời đạt điểm từ 0 đến 3 điểm là

có thái độ không tích cực về bạo lực giới, những sinh viên có điểm trả lời đạt điểm từ 4 đến 8 điểm là có thái độ tích cực về bạo lực giới

Từ các điểm đánh giá trên về kiến thức và thái độ của sinh viên với bạo lực giới, tiến hành nhận xét cụ thể về thực trạng kiến thức và thái độ về bạo lực giới của sinh viên Cao đẳng điều dưỡng nói chung và sinh viên của từng năm Qua đó rút ra các kiến nghị để việc lồng ghép bạo lực giới trong đào tạo tại nhà trường có hiệu quả cao nhất

Ngày đăng: 24/05/2020, 14:19

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm