1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe tuyến xã và nhu cầu đào tạo của nhân viên y tế xã về truyền thông phòng chống bệnh không lây nhiễm tại huyện lục nam, tỉnh bắc giang

117 444 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 1,78 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÁI BÌNH VŨ VĂN HUẤN THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TRUYỀN THÔNG GIÁO DỤC SỨC KHỎE TUYẾN XÃ VÀ NHU CẦU ĐÀO TẠO CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ XÃ VỀ TR

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÁI BÌNH

VŨ VĂN HUẤN

THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TRUYỀN THÔNG GIÁO DỤC SỨC KHỎE TUYẾN XÃ VÀ NHU CẦU ĐÀO TẠO

CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ XÃ VỀ TRUYỀN THÔNG

PHÒNG CHỐNG BỆNH KHÔNG LÂY NHIỄM TẠI HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG

THÁI BÌNH, 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÁI BÌNH

VŨ VĂN HUẤN

THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TRUYỀN THÔNG GIÁO DỤC SỨC KHỎE TUYẾN XÃ VÀ NHU CẦU ĐÀO TẠO CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ XÃ VỀ TRUYỀN THÔNG PHÒNG CHỐNG BỆNH KHÔNG LÂY NHIỄM TẠI HUYỆN LỤC

Trang 3

NVYT Nhân viên y tế

Trang 4

ĐẶT VẤN ĐỀ

Sức khỏe là vốn quý nhất của mỗi con người và của toàn xã hội, đầu tư cho sức khỏe chính là đầu tư cho phát triển kinh tế, xã hội Trong những năm vừa qua, hệ thống truyền thông giáo dục sức khỏe (TT-GDSK) đã có những đóng góp không nhỏ vào công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân bằng việc nâng cao nhận thức, cung cấp kiến thức, kỹ năng và thực hành có lợi cho sức khỏe cá nhân và cho cộng đồng TT-GDSK góp phần phổ biến sâu rộng những kiến thức phòng chống bệnh tật nói chung và các bệnh không lây nhiễm nói riêng

Bệnh không lây nhiễm (KLN), thường là các bệnh mạn tính, bao gồm những bệnh không có khả năng lây truyền, có thời gian bị bệnh dài và nhìn chung tiến triển chậm Có bốn loại bệnh không lây nhiễm chính được quan tâm hiện nay là các bệnh tim mạch, ung thư, hô hấp mạn tính (như bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, hen phế quản) và đái tháo đường.Tử vong do các bệnh KLN luôn chiếm tỷ lệ cao và có xu hướng tăng lên ở hầu hết các quốc gia Theo nghiên cứu gánh nặng về bệnh tật toàn cầu cho biết: trong tổng số 52,7 triệu ca tử vong năm 2010, có 65,5% là do các bệnh KLN Điều đáng báo động là các ca tử vong do các bệnh KLN ở các nước đang phát triển xảy

ra ở nhóm tuổi trẻ hơn Theo WHO, năm 2011 ước tính ở các nước có thu nhập cao, tỷ lệ tử vong do bệnh KLN đối với người dưới 70 tuổi khoảng 26%, trong khi ở các nước thu nhập thấp và trung bình tại Đông Nam Á là 56% và Tây Thái Bình Dương là 40% Dự báo của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) cho thấy trên toàn cầu tỷ lệ tử vong do bệnh KLN sẽ tăng 15% trong khoảng thời gian từ 2010-2020 (khoảng 44 triệu ca tử vong) Tỷ lệ tăng cao nhất (khoảng 20%) là ở châu Phi, Đông Nam Á, Đông Âu[33]

Trang 5

Tại Việt Nam, ước tính trong năm 2008 có 430.000 trường hợp tử vong

do bệnh KLN, chiếm 75% tổng số tử vong Trong số này các bệnh tim mạch chiếm 40%, ung thư chiếm 14%, bệnh phổi mạn tính chiếm 8% và bệnh đái tháo đường chiếm 3% [57] Hiện nay, Chiến lược Quốc gia phòng, chống bệnh các bệnh KLN giai đoạn 2015-2025 đã được Chính phủ phê duyệt, với mục tiêu nêu rõ “Khống chế tốc độ gia tăng tiến tới làm giảm tỷ lệ người mắc bệnh tại cộng đồng, hạn chế tàn tật và tử vong sớm do mắc các bệnh KLN…” Trong chiến lược cũng đã đưa ra các giải pháp trọng tâm trong đó có giải pháp về truyền thông và vận động xã hội,

Hệ thống chăm sóc sức khỏe ban đầu (chủ yếu là trạm y tế xã/phường) đóng vai trò chính trong thực hiện hoạt động y tế tuyến xã/phường Tuyến chăm sóc sức khỏe ban đầu cần được nâng cao năng lực cả về chuyên môn và TT- GDSK để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người dân, nhưng thực tế tình hình hoạt động về truyền thông của nhân viên y tế tuyến cơ sở hiện nay như thế nào? Để có cở khoa học và cung cấp những thông tin chính xác chocác nhàhoạch địnhxây dựng các chương trình hành động về TT-GDSK nói

chung và phòng chống bệnh KLN nói riêng chúng tôi thực hiện đề tài: “Thực

trạnghoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe tuyến xã và nhu cầu đào tạo của nhân viên y tế xã về truyền thôngphòng chống bệnh không lây nhiễm tại huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang” với 02 mục tiêu sau:

1 Mô tả thực trạng hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe tại các trạm y tế xã của huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang năm 2016

2 Xác định nhu cầu đào tạo truyền thông giáo dục sức khỏe phòng chống bệnh không lây nhiễm của nhân viên y tế tại địa bàn nghiên cứu

Trang 6

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Thực trạng hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe

1.1.1.Một số khái niệm

* Giáo dục sức khỏe

Truyền thông - Giáo dục sức khỏe (TT- GDSK) là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong công tác chăm sóc sức khỏe, góp phần giúp mọi người đạt được tình trạng sức khỏe tốt nhất TT-GDSK giống như giáo dục chung, là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch đến suy nghĩvàtìnhcảm của con người, nhằm nâng cao kiến thức, thay đổi thái độ và thực hành các hành vi lành mạnh để bảo vệ và nâng cao sức khỏe cho cá nhân, gia đình và cộng đồng[19]

* Vai trò của truyền thông giáo dục sức khỏe

TT- GDSK là nội dung số một trong các nội dung chăm sóc sức khỏe ban đầu mà Hội nghị quốc tế về chăm sóc sức khỏe ban đầu tại Alma Ata năm

1978 đã nêu ra Tất cả các nội dung khác của chăm sóc sức khỏe ban đầu đều

có nội dung quan trọng cần TT-GDSK Hoạt động TT-GDSK không thay thế được các hoạt động dịch vụ chăm sóc sức khỏe khác, nhưng nó góp phần quan trọng nâng cao hiệu quả của các dịch vụ chăm sóc sức khỏe khác

Giáo dục sức khỏe (GDSK)là một bộ phận hữu cơ, không thể tách rời của hệ thống y tế là một chức năng nghề nghiệp bắt buộc của mọi cán bộ y tế

và của mọi cơ quan y tế từ Trung ương đến cơ sở GDSK cũng là một chỉ tiêu hoạt động quan trọng của cơ sở y tế;đồng thời nó là một hệ thống các biện pháp Nhà nước, xã hội và y tế, nghĩa là phải xã hội hoá công tác này, nhằm lôi cuốn mọi ngành, mọi giới, mọi tổ chức xã hội cùng tham gia, trong đó ngành y tế làm nòng cốt và tham mưu [15],[19]

Trang 7

* Vị trí của truyền thông giáo dục sức khỏe

Ngành Y tế Việt Nam đã có những sự thay đổi sau hội nghị Alma Ata và

đã xác định để TT- GDSK ở vị trí số1 trong 10 nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu của tuyến y tế cơ sở TT- GDSK có liên quan mật thiết với tất cả các nội dung của các chương trình y tế Chính TT- GDSK đã tạo ra điều kiện thuận lợi cho các bước chuẩn bị, thực hiện và củng cố các kết quả của các mặt công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu Do đó cần phải được thực hiện trước, trong và sau khi triển khai mọi kế hoạch, chương trình y tế

Mặc dù không thể thay thế được các dịch vụ y tế khác nhưng TT- GDSK bao giờ cũng góp phần thúc đẩy hoạt động của các dịch vụy tế đó đạt kết quả vững bền hơn.Thực tế đã cho thấy rõ, nếu không có TT- GDSK thì nhiều chương trình y tế đạt kết quả thấp và về lâu dài có nguy cơ thất bại So với các giải pháp dịch vụ y tế khác, TT- GDSK là một công tác khó làm và khó đánh giá, nhưng nếu làm tốt thì sẽ mang lại hiệu quả cao nhất với chi phí ít nhất, đặc biệt là tuyến y tế cơ sở, nơi cần được áp dụng các kỹ thuật thích hợp chữ không phải là các kỹ thuật hiện đại đắt tiền [19]

* Bệnh không lây nhiễm

Bệnh KLN là bệnh không truyền từ người này sang người khác hoặc từ động vật sang người Hầu hết bệnh KLN là bệnh mạn tính, khó chữa khỏi Phần lớn bệnh KLN có chung 4 yếu tố nguy cơ là thuốc lá, rượu, bia, ít hoạt động thể lực và chế độ ăn không hợp lý Cónhiềuloạibệnh KLNkhácnhau,tuynhiênhiệnnaynhiềuchínhsáchcủaLiênHợpQuốc

(UN),WHOtậptrungvào4nhómbệnhchính,gồmbệnhtimmạch(tănghuyếtáp,độtquỵ,suy tim, bệnh mạch vành,…), đái tháo đường (chủ yếu là týp 2), ung thư, bệnh đường hô hấp mạn tính(bệnhphổitắcnghẽnmạntínhvàhensuyễn)

Bệnhtimmạchlàmộtthuậtngữđểchỉmộtnhómbệnhpháttriểnkhông chỉ do tình trạng bệnh lý của tim, mạch, cơ và van tim… mà còn do tình trạng cao

Trang 8

huyết áp, bệnh lý của não bộ và hệ thống mạch ngoại vi Hiện nay ở Việt Nam, Chương trình mục tiêu quốc gia chủ yếu can thiệp để xử lý tăng huyết

áp, tức là một yếu tố nguy cơ quan trọng của bệnh tim mạch Chưa có nguồn

số liệutoànquốcvềtỷlệhiệnmắcvàtỷlệmớimắccácbệnhtimmạch[33]

Ung thư là một nhóm các bệnh liên quan đến việc phân chia tế bào một cách vô tổ chức và những tế bào đó có khả năng di căn Hiện có khoảng 200 loại ung thư Nhiều loại ung thư có thể phòng được bằng tránh tiếp cận với yếu

tố nguy cơ như thuốc lá, rượu, hoá chất gây ung thư trong nơi làm việc hoặc trong thực phẩm Một số loại ung thư có thể phòng bằng vắc xin như ung thư gan (tiêm phòng vi rút gây viêm gan B), ung thư cổ tử cung (tiêm phòng vi rút Papilloma ở người) hoặc bằng điều trị bệnh H pylori để phòng ung thư dạ dày Một số loại ung thư nếu được phát hiện sớm có khả năng điều trị khỏi[33] Đái tháo đường là một nhóm các bệnh lý chuyển hóa đặc trưng bởi tăng glucose máu do khiếm khuyết tiết insulin, khiếm khuyết hoạt động insulin, hoặc cả hai Tăng glucose máu mạn tính trong đái tháo đường sẽgây tổn thương, rối loạn chức năng hay suy nhiều cơ quan, đặc biệt là mắt, thận, thần kinh, tim và mạch máu” Đái tháo đường cũng là yếu tố nguy cơ của những

so với nữ, với tỷ sốgiữa nam và nữ là 1,63 và 1,24 ở người lớn Ước tính tỷ lệ

Trang 9

hiện mắc hen phế quản ở các tỉnh dao động từ 1,5% đến 6,9%[33]

1.1.2 Thực trạng cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ truyền thông giáo dục sức khỏe ở các cở y tế

Để thực hiện được các nhiệm vụ được giao, các phòng TT-GDSK cần

có các điều kiện cơ sở vật chất và trang thiết bị nhất định Ngay từ năm 2010,

Bộ Y tế đã ban hành danh mục trang thiết bị và phương tiện làm việc của Trung tâm truyền thông – giáo dục sức khỏe để thực hiện được các nhiệm vụ được giao [4] Trên thực tế, tùy thuộc theo khả năng mà từng địa phương, đơn

vị tự trang bị hoặc khai thác các trang thiết bị sẵn có Tuy nhiên, hiện nay hầu hết các trạm y tế đều thiếu về cả cơ sở vật chất, trang thiết bị và phương tiện hoạt động

Theo kết quả nghiên cứu của tác giả Lê Thị Tài và cộng sự về thực trạng cơ sở vật chất, trang thiết bị của phòng truyền thông giáo dục sức khỏe thuộc trung tâm y tế huyện thì đa số phòng TT-GDSK thiếu các điều kiện cơ

sở vật chất, trang thiết bị được coi là tối thiểu cho hoạt động của phòng GDSK, trên 50% thiếu phòng làm việc độc lập cho phòng TT-GDSK, tủ sách chuyên môn, tủ trưng bày các ấn phẩm truyền thông, bảng ghi lịch công tác vàtrên 70% số phòng TT-GDSK thiếu các trang thiết bị nhưmáy ảnh; máy cassette loại có chức năng thu, phát; bộ truyền thông hỗn hợp, đèn chiếu, bộ truyền thông lưu động, máy tính, máy in, ti vi màu 15 inch trở lên, đầu đĩa hoặc đầu băng, loa tay dùng pin, máy phát điện công suất nhỏ Trên cơ sở đó tác giả cũng chỉ ra nhu cầu về cơ sở vật chất, trang thiết bị của các phòng truyền thông GDSK bao gồm: Cơ sở vật chất, trang thiết bị chuyên môn cần cho hoạt động TT-GDSK nhưng chưa có chiếm tỷ lệ 9,6-55,8%trong đó những trang thiết bị cần thiết nhưng chưa có chiếm tỷ lệ cao (50-74%) ở hai tỉnh đồng bằng và hai thành phố tương đối giống nhau, gồm đèn chiếu, máy ảnh, máy vi tính để bàn, bộ truyền thông hỗn hợp Ở hai tỉnh miền núi những trang thiết bị cần thiết chiếm tỷ lệ cao (50-55%) là: máy ảnh, bộ truyền thông

Trang 10

TT-hỗn hợp, loa tay dùng pin và bộ truyền thông lưu động[25]

Nghiên cứu mô tả cắt ngang thực hiện năm 2013 nhằm đánh giá thực trạng cơ sở vật chất trang thiết bị, phương tiện, nhân lực, hoạt động của phòng TT- GDSK tại Hải Phòng kết quả cho thấy tất cả các phòng TT- GDSK đều được bố trí phòng làm việc với diện tích trung bình 1 phòng là 15,1m2, nhưng

có tới 5/10 ghép với các phòng khác;các phòng có bàn ghế ngồi và tủ tài liệu nhưng chỉ ở mức tối thiểu; có 9/10 phòng được trang bị máy tính bàn, 10/10 phòng chỉ có <50% trong 11 phương tiện truyền thông; cán bộ làm truyền thông chiếm 12.9% (38/295), 63,1% chuyên tránh (25/28), cán bộ nữ chiếm 64%, trình độ trung học chiếm cao nhất (52,6%), sau đại học thấp nhất (8%), không có bác sĩ y học dự phòng làm truyền thông, 100% cán bộ chưa được đào tạo bài bản về truyền thông … Nghiên cứu cho thấy phần lớn các phòng TT-GDSK chưa đủ điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị và nhân lực Hoạt động của các phòng TT-GDSK chủ yếu dựa vào kế hoạch của cấp trên, hiệu quả không được như mong muốn và cần phải đầu tư cơ sở vật chất, nâng cao năng lực cho cán bộ làm công tác truyền thông [11]

Theo kết quả nghiên cứu đánh giá tổ chức mạng lưới, nhân lực, cơ sở vật chất, trang thiết bị của hệ thống truyền thông tuyến tỉnh, huyện tại Hà Tĩnh của tác giả Bùi Quang Tâm và cộng sự cho thấy hệ thống tổ chức, mạng lưới TT-GDSK từ tỉnh đến huyện của tỉnh Hà Tĩnh đã được kiện toàn và tương đối đầy đủ Tuy nhiên vẫn còn tồn tại những bất cập về nhân lực, cơ sở vật chất, trang thiết bị và cơ chế hoạt động Công tác truyền thông tại các đơn vị cán bộ truyền thông chỉ làm kiêm nhiệm, kinh phí dành cho truyền thông quá ít, nội dung truyền thông chủ yếu tập trung vào các hình thức cấp phát tờ rơi, áp phích, làm các phóng sự, bài viết trên báo đài tỉnh Trang thiết bị phục vụ công tác truyền thông của các đơn vị tuyến huyện chưa được quan tâm đầu tư đúng mực, còn thiếu nhiều phương tiện truyền thông cần thiết để phục vụ việc

Trang 11

TTGDSK tại cộng đồng.Số cán bộ làm công tác truyền thông được trang bị các kỹ năng truyền thông hiện nay đạt ở mức trung bình Các tài liệu truyền thông tại tuyến huyện chủ yếu lấy từ các Chương trình mục tiêu Y tế quốc gia Có một số huyện tự sản xuất nhưng rất ít, chủ yếu khi có dịch bệnh xảy

ra Việc thiết kế in ấn tài liệu còn rất hạn chế và vấn đề kinh phí dành cho mục này hầu như không có vì vậy khi in ấn tài liệu chủ yếu lấy mẫu từ trung ương và sửa đổi cho phù hợp với phong tục tập quán và đặc điểm từng vùng, miền [26]

Nghiên cứu cắt ngang, kết hợp định tính và định lượng của tác giả Nguyễn Nhật Cảm và Trần Thị Phương Thảo được thực hiện nhằm mô tả thực trạng cơ sở vật chất, trang thiết bị và phương tiện truyền thông giáo dục sức khỏe của trạm y tế xã về phòng chống bệnh truyền nhiễm, thành phố Hà Nội năm 2015kết quả cho thấy về cơ sở vật chất trang thiết bị cho truyền thông giáo dục sức khỏe ở các trạm y tế xã vẫn còn thiếu Đối chiếu với quyết định 2420/QĐ-BYT, không có trạm y tế xã nào có đủ 100% trang thiết bị, chưa đầy 1/3 xã, phường có đủ trang thiết bị TT- GDSK cho nhân viên y tế thôn bản, chỉ có 0,35% trạm y tế xã có đủ 100%, 1,39% trạm y tế xã có đủ 75% trang thiết bị cho nhân viên y tế thôn bản Vì vậy, cần thiết có chính sách bổ sung, cung cấp trang thiết bị và phương tiện một cách đầy đủ và kịp thời cho trạm y tế xã để thực hiện tốt công tác TT- GDSK phòng chống bệnh truyền nhiễm [10]

1.2 Nhu cầu đào tạo về truyền thông giáo dục sức khỏecủa nhân viên y tế

TT-GDSK là 1 trong 10 nội dung chăm sóc sức khỏe ban đầu ở Việt Nam, đóng vai trò quan trọng trong công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân Quyết định số 89/QĐ-BYT ngày 11/01/2008 của Bộ Y tế về việc việc ban hành điều lệ của đơn vị đã chỉ ra rằng đào tạo nâng cao trình độ

Trang 12

chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ làm công tác TT-GDSK các cấp là một trong những nhiệm vụ của Trung tâm Truyền thông GDSK [17]

Kết quả tự đánh giá mức độ thực hiện các hoạt động cho thấy công việc

mà các Trung tâm truyền thông GDSK thực hiện thường xuyên là quản lý, chỉđạo các hoạt động truyền thông (95,2% ), lập kếhoạch (83,9%), thực hiện các hoạt động truyền thông (88,7%) Các hoạt động khác như phát triển tài liệu và các ấn phẩm truyền thông; đào tạo tập huấn được thực hiện ở mức độ thường xuyên thấp hơn với tỷ lệ tương ứng là 54,8% và 46,8% Kết quả này

đã phản ánh phần nào các chức năng nhiệm vụ của các Trung tâm truyền thông GDSK theo Quyết định số 911/1999/QĐ-BYT ngày 31/2/1999 của Bộ trưởng Bộ Y tế Mặc dù nghiên cứu khoa học (NCKH) cũng là 1 trong các chức năng nhiệm vụ của Trung tâm TT- GDSK thành phố Hồ Chí Minh nhưng 48,4% đơn vị mới chỉ thực hiện ở mức độ thỉnh thoảng và có đến hơn 25% số đơn vị rất ít làm nghiên cứu khoa học Điều này cũng được thể hiện trong nghiên cứu “Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến công tác nghiên cứu khoa học của trung tâm Truyền thông GDSK các tỉnh Miền Bắc Năm 2011” trong 3 năm (2008-2010) trung bình Trung tâm TT- GDSK các tỉnh miền bắc chỉ thực hiện 1,44 đề tài, có một số tỉnh không thực hiện bất cứ đề tài nào Tự đánh giá về khả năng đáp ứng của cán bộ với yêu cầu công việc, lãnh đạo các Trung tâm truyền thông GDSK cho rằng năng lực quản lý, chỉ đạo và thực hiện hoạt động TT của cán bộ đơn vị tốt (72,6%) bởi đây cũng là những hoạt động mà các trung tâm thực hiện thường xuyên nhất Tuy nhiên, năng lực về NCKH của cán bộ trung tâm truyền thông tuyến tỉnh chỉ ở mức

độ đáp ứng một phần (66,1%) hoặc chưa đáp ứng (21,0%) [17]

Nghiên cứu phân tích tương tác giữa nhân lực y tế và chất lượng di ̣ch vụ

y tế dựa trên mô ̣t số khung lý thuyết và phân tích sự tương tác này đối vớ i hê ̣ thống y tế Viê ̣t Nam Chất lượng dịch vụ y tế cần gắn bó chặt chẽ với chất

Trang 13

lượng nhân lực y tế và đào tạo nhân lực y tế Để nâng cao chất lượng dịch vụ

y tế, cần nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực y tế không chỉ dạy kiến thức

mà còn đào tạo liên tục, nâng cao kinh nghiệm ứng dụng lý thuyết trong thực hành [14]

Nhân lực là yếu tố quyết định giúp cho cơ sở y tế hoàn thành được các yêu cầu nhiệm vụ được giao Đánh giá nhu cầu nguồn nhân lực của các cơ sở

y tế dự phòng là một việc làm cần thiết giúp cho hoạt động của các cơ sở y tế trong thời gian tới Phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang kết quả nghiên cứu cho thấy nhu cầu về nhân lực tại các cơ sở y tế dự phòng tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2014 – 2020 như sau, về số lượng đến năm 2020, tổng số cán bộ y tế dự phòng toàn tỉnh cần tuyển thêm là 229 cán bộ;về trình độ,nhu cầu đào tạo lại của cán bộ y tế dự phòng tuyến tỉnh thì đào tạo, tập huấn chiếm tỷ lệ cao nhất 35,6% ở tuyến tỉnh và 44,4% ở tuyến huyện, xét nghiệm đứng thứ hai với 28,8% ở tuyến tỉnh và 35% ở tuyến huyện, trong đó đào tạo ngắn hạn về chuyên môn chiếm tỷ lệ cao nhất[37]

Trong kết quả nghiên cứu thực trạng nguồn nhân lực trung tâm y tế huyện Sơn Động tỉnh Bắc Giang của tác giả Đàm Thị Tuyết và Bùi Huy Tuân

đã cho rằng củng cố mạng lưới y tế cơ sở là điều kiện tiên quyết để làm tốt công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân,kết quả nghiên cứu cho thấysố lượng cán bộ y tế trong biên chế của Trung tâm Y tế huyện Sơn Độngnăm 2013 là

171 người, năm 2014 là 170 người Tỷ lệ bác sỹ chiếm 15,9%, dược sỹ đại học chiếm 0,6%, cao đẳng điều dưỡng chiếm 0,6%, dược sỹ trung cấp chiếm 9,4%,nữ hộ sinh chiếm 10,5% Nhu cầu nhân lực giai đoạn 2015 – 2020 cần

bổ sung05 bác sỹ, 10 nữ hộ sinh trung học, 8 trung cấp dược[38]

Từ nội dung của cuộc khảo sát về nhân lực y tế bảo đảm chăm sóc sức khỏe toàn dân cho kết quả CSSK toàn dân gặp khó khăn về nhân lực y tế do

sự phân bổ không đều giữa các vùng miền; những chính sách hiện nay chưa

Trang 14

đủ để thu hút và lưu giữ nhân lực y tế y ở lại tuyến dưới; lý do nhân lực y tế không chịu ở lại tuyến dưới và ở lại các vùng khó là thu nhập thấp, thiếu điều kiện làm việc và thiếu cơ hội thăng tiến nghề nghiệp Chất lượng dịch vụ y tế gắn bó chặt chẽ với chất lượng nhân lực y tế và đào tạo nhân lực y tế Để nâng cao chất lượng dịch vụ y tế, cần nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực y

tế không chỉ dạy kiến thức mà còn đào tạo liên tục, nâng cao kinh nghiệm ứng dụng lý thuyết trong thực hành [12],[14]

Khi phân tích yếu tố ảnh hưởng đến số lượng, cơ cấu và trình độ cán bộ của các cơ sở y tế dự phòng là một việc làm cần thiết giúp cho hoạt động của các cơ sở y tế trong thời gian tới được tốt hơn,kết quả nghiên cứu cho thấy đa

số cán bộ thích và muốn tiếp tục công việc đang làm, tuyến tỉnh là 93,2% và tuyến huyện là 97,7% Lý do không muốn tiếp tục công việc chủ yếu là chế

độ đãi ngộ không thỏa đáng và công việc không phù hợp, tuyến tỉnh là 87,5%

và tuyến huyện là 100% Tỷ lệ không đáp ứng về cơ cấu và trình độ cao 53,1% vàlý do không đáp ứng chủ yếu là thiếu cán bộ 88,2%;về những công việc cần hỗ trợ từ tuyến trên cần có chính sách ưu đãi nhân lực tại chỗ và nơi khác về chiếm tỷ lệ cao nhất là 87,5%, tiếp đến cần bổ sung nhân lực phù hợp

cơ cấu và trình độ là 78,1%;về những công việc cần làm tại đơn vị cần có chế

độ khuyến khích học tập và nghiên cứu ứng dụng khoa học chiếm tỷ lệ cao nhất là 81,3%, tiếp đến là bố trí nhân lực hợp lý 75%[36]

Nghiên cứu của tác giả Phạm Hồng Hải sử dụng số liê ̣u thứ cấp của thống kê y tế Viê ̣t Nam và các tài liê ̣u của Bô ̣ y tế để phân tích thực tr ạng nhân lực y tế và tình hình sức khỏe của người dân khu vực miền núi phía Bắc

so sánh với các chỉ số cả nước và các vùng miền khác nhằm tìm ra mô ̣t số bất

câ ̣p giữa nhân lực y tế và kết quả chăm sóc sức khỏe cho ng ười dân Với kết quả thu được là số lượng bác sĩ tại vùng Trung du miền núi phía Bắc cao (7,1bác sĩ/10.000 dân) hơn so vớ i cả nước (5,3) nhưng hiê ̣u suất khám chữa

Trang 15

bệnh lại thấp hơn (2411 lần khám/năm/1 bác sĩ so với cả nước 4123 lần), các chỉ số về tử vong trẻ em (35,2‰) cao hơn cả nước (23,1‰)[13]

Nghiên cứu mô tả cắt ngang về thực trạng hoạt động của nhân viên y tế thôn bản tại huyện Bắc Yên, tỉnh Sơn La năm 2013-2014 cho thấycó 11,1% nhân viên y tế thôn bản chưa được qua đào tạo về chuyên môn nghiệp vụ; có 54,8% NVYT thôn bản được đào tạo lại 1 lần; số nhân viên y tế thôn bản được đào tạo lại 2 lần là 11,9%; số chưa được đào tạo lại là 33,3% Nội dung đào tạo chủ yếu là về chức năng nhiệm vụ của NVYT thôn bản, kỹ năng truyền thông, giáo dục sức khỏe, vệ sinh phòng bệnh, dinh dưỡng và an toàn thực phẩm, cấp cứu chấn thương Các hoạt động mà NVYT đã làm là sơ cứu ban đầu và cấp cứu các tai nạn (60,3%); phát hiện, chăm sóc bệnh thông thường (83,3%); và chăm sóc bệnh xã hội tại nhà theo quy định của TYT xã (22,8%) [35]

Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ là việc làm cần thiết đặc biệt là ở tuyến y tế cơ sở nguồn nhân lực thiếu cả về số lượng và chất lượng Củng cố mạng lưới y tế cơ sở là điều kiện tiên quyết để làm tốt công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân Trong đó nhân lực là yếu tố quyết định giúp cho Trung tâm y

tế hoàn thành được các yêu cầu nhiệm vụ được giao Đánh giá thực trạng nguồn nhân lực của Trung tâm y tế, để có các giải pháp khắc phục là việc làm cần thiết giúp cho hoạt động của Trung tâm y tế trong thời gian tới Phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết quả nghiên cứu cho thấy số lượng cán

bộ y tế của Trung tâm Y tế huyện Thuận Châu năm 2013 là 221 người, trong đó: Tuyến huyện là 38 người, trạm Y tế xã là 183 người kể cả chuyên trách dân số xã, NVYT thôn bản là 559 đang hoạt động tại các thôn bản Cán bộ có trình độ đại học trở lên là chiếm 12,3%, bình quân cán bộ y tế đạt 13,4 cán bộ/10.000 dân [39]

Trang 16

Nghiên cứu cắt ngang sử dụng số liệu sẵn có được thực hiện tại các cơ sở

y tế nhằm mô tả thực trạng nguồn nhân lực y tế của Bình Lục, tỉnh Hà Nam vào năm 2014, kết quả nghiên cứu cho thấy, bệnh viện đa khoa huyện thiếu 8 nhân viên y tế, không có dược sĩ đại học, tỷ lệ bộ phận cận lâm sàng, dược thấp hơn 7-11%, tỷ lệ bộ phận quản lý hành chính cao hơn 8,3-10,3% so với quy định; trung tâm y tế huyện thiếu 7-11 nhân viên y tế, tỷ lệ bộ phận chuyên môn vượt 7,4-12,4%, tỷ lệ bộ phận xét nghiệm thấp hơn 2,8% và tỷ lệ bộ phận quản lý-hành chính thấp hơn 4,7-9,7% so với quy định; 84,2% trạm y tế

xã có đủ biên chế, 68,4% trạm y tế xã có bác sĩ, 1/19 trạm y tế xã có 2 bác sĩ, 6/19 trạm y tế xã không có bác sĩ Từ đó khuyến cáo các nhà lãnh đạo huyện Bình Lục cần có những chính sách đãi ngộ nhằm thu hút, duy trì cán bộ, đồng thời có kế hoạch phân bổ nguồn nhân lực hợp lí góp phần đáp ứng tốt cho công tác CSSK nhân dân [28]

Để đáp ứng cho nhu cầu nhân lực y tế dự phòng trên toàn quốc, với truyền thống đào tạo của các nhà trường y – dược hơn 60 năm qua, đặc biệt trong vòng 10 năm gần đây, chúng ta đã thành lập một mạng lưới các trường đại học, cao đẳng và trung cấp y, dược học trên cả ba miền và ở hầu hết các tỉnh, thành phố Thực trạng hiện nay về đào tạo đại họccả nước có 26 cơ sở đào tạo nhân lực y tế trình độ đại học trong đó có 18 cơ sở công lập Hiện có

5 trường đại học đào tạo cử nhân y tế công cộng và 7 trường đào tạo Bác sỹ y học dự phòng;đào tạo cao đẳng thì tính đến năm 2010, có 74 trường cao đẳng, trong đó có 3 trường trực thuộc Bộ Y tế, các trường còn lại trực thuộc tỉnh, thành phố Số trường cao đẳng y tế được nâng cấp từ trường trung cấp y tăng rất nhanh trong 2 năm gần đây Đào tạo trung cấp,có 44 trường trực thuộc các tỉnh, thành phố hoặc trực thuộc trung ương và Bộ Y tế quản lý Hầu hết các tỉnh thành trong cả nước đều đã có một cơ sở đào tạo nhân lực y tế bậc trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề (dược tá, công nhân kỹ thuật dược)

Trang 17

Hiện chúng ta đang duy trì 8 phương thức đào tạo cho cán bộ y tế dự phòng tại các trường đại học, cao đẳng và trung cấp trên cả nước bao gồm: đào tạo chính quy; đào tạo hợp đồng theo địa chỉ; đào tạo liên thông; đào tạo

cử tuyển; đào tạo vừa làm vừa học; đào tạo văn bằng hai; đào tạo cấp chứng chỉ cho người học có yêu cầu và đào tạo liên tục Với mạng lưới các nhà trường y – dược rộng khắp và phương phức đào tạo khá đa dạng, phong phú như trên, trong những năm qua hệ đào tạo đã cơ bản cung cấp đầy đủ cán bộ cho lĩnh vực y tế dự phòng theo trình độ văn bằng cũng loại hình văn bằng chuyên môn như hiện nay Tuy nhiên so với nhu cầu nhân lực quy định tại Thông tư liên tịch số 08/2007/TTLT của Bộ Y tế và Bộ Nội vụ về định mức biên chế sự nghiệp trong các cơ sở y tế nhà nước thì khả năng đáp ứng của các cơ sở đào tạo y - dược trên cả nước cũng cần phải tăng lên khoảng gấp 2 lần so với khả năng đào tạo hiện nay [22]

Theo quyết định số 26/QĐ-BYT quy định việc triển khai thực hiện các hoạt động chuyên môn, kỹ thuật về phòng, chống dịch bệnh, HIV/AIDS, các bệnh xã hội, tai nạn thương tích, sức khoẻ lao động và bệnh nghề nghiệp, chăm sóc sức khoẻ sinh sản, sức khoẻ môi trường, sức khoẻ trường học, dinh dưỡng cộng đồng, an toàn vệ sinh thực phẩm, TT- GDSK theo phân cấp và theo quy định của pháp luật Từ đó hướng dẫn và giám sát chuyên môn, kỹ thuật về các hoạt động thuộc lĩnh vực phụ trách đối với các trạm y tế xã, phường, thị trấn, các cơ sở y tế trên địa bàn Tham gia đào tạo, đào tạo lại, tập huấn, bồi dưỡng kiến thức về chuyên môn, nghiệp vụ thuộc lĩnh vực phụ trách cho cán bộ y tế cấp xã, nhân viên y tế thôn, bản và các cán bộ khác [6]

Tỷ lệ dược sĩ/vạn dân trung bình tại 5 tỉnh rất thấp (0,56) Để bảo đảm đạt được mục tiêu 2,5 dược sĩ/vạn dân trong đó dược sĩ lâm sàng chiếm 30% theo chiến lược quốc gia phát triển ngành dược Việt Nam giai đoạn đến năm

2020 và tầm nhìn đến năm 2030, tại 5 tỉnh khu vực biển đảo phía Bắc của

Trang 18

nước ta thiếu khoảng 2208 dược sĩ đại học: số lượng thiếu nhiều gấp 3,5 lần

số lượng dược sĩ hiện có và phân bố không đều, tập trung ở các khu đô thị Phần lớn dược sĩ có trình độ đại học và chưa được đào tạo chuyên sâu về dược lâm sàng Vì vậy đây là một hướng đi mới đầy triển vọng cho các trường đào tạo dược đặc biệt theo định hướng dược lâm sàng [23]

Nhân lực ngành y tế, đặc biệt là nhân lực tại tuyến y tế cơ sở trong những năm gần đây luôn trong tình trạng thiếu hụt, nhất là cán bộ có trình độ bác sĩ và dược sĩ đại học Mục tiêu của nghiên cứu nhằm khảo sát thực trạng nhân lực tại tuyến y tế cơ sở năm 2010 và mô tả một số giải pháp đã được triển khai nhằm thu hút nhân lực cho các cơ sở y tế công lập tại tỉnh Hòa Bìnhkết quả cho thấy tỷ lệ cán bộ y tế/giường bệnh thấp hơn so với quy định;tỷ lệ bác sĩ/chức danh chuyên môn khác tại bệnh viện (đạt 19%) còn thấp

so với yêu cầu (≥ 31%) Tỷ lệ này tại trung tâm y tế dự phòng đạt 13% (yêu cầu ≥ 26%) Tất cả các trung tâm y tế dự phòng tuyến huyện đều thiếu kỹ thuật viên xét nghiệm Chỉ có 45,3% số trạm y tế xã có bác sĩ và 32% trạm y

tế xã có cán bộ dược Cần có các đề án can thiệp nhằm từng bước cải thiện cả

về số lượng và chất lượng của cán bộ công tác tại tuyến y tế cơ sở [18]

1.3 Các nghiên cứu về truyền thông giáo dục sức khỏe và các vấn đề liên quan đến phòng chống bệnh bệnh không lây nhiễm

Hiện nay, các nghiên cứu về thực trạng nguồn lực, tổ chức và hoạt động TT-GDSK cũng như về hiệu quả,ưu, nhược điểm của các mô hình thực hiện TT-GDSK ở các nước trên thế giới còn rất ít Lý do là mỗi nước trên thế giới

có cấu trúc tổ chức hệ thống y tế khác nhau, các báo cáo thường chỉ mang tính chất quốc gia, thậm chí chỉ bó hẹp trong một khu vực nào đó của một nước, vì vậy ít được phổ biến trên thế giới [15]

Trang 19

1.3.1 Trên thế giới

Dựa trên kinh nghiệm toàn cầu và các khuyến nghị hiện đại để làm rõ các hướng ưu tiên của cuộc chiến chống lại các bệnh không lây nhiễm mãn tính Định hướng phòng ngừa các bệnh không lây nhiễm cần dựa trên động cơ thúc đẩy sức khoẻ, của chính họ và cộng sự, tổ chức các chương trình kiểm tra quần chúng trong các nhóm đối tượng đích và định hướng lại chăm sóc sức khoẻ để làm việc với người khỏe mạnh [55]

Các bệnh KLN mãn tính ở Ghana đã gây ra bệnh nặng và tử vong ở Ghana trong nhiều năm Tuy nhiên, cho đến gần đây, họ đã bị bỏ rơi và không được coi là ưu tiên về sức khoẻ Báo cáo này xem xét lại chính sách quốc gia

và chương trình ứng phó với bệnh KLN mãn tính trong giai đoạn 2009.Một số sáng kiến của chính sách và chương trình đã được theo đuổi với

1992-sự thành công còn hạn chế Một chương trình kiểm soát quốc gia đã được thành lập, các bệnh KLN hiện đang là một ưu tiên chính sách quốc gia, dự thảo luật về kiểm soát thuốc lá, các chiến dịch giáo dục công cộng về lối sống lành mạnh, sàng lọc ung thư cổ tử cung và một hệ thống bảo hiểm y tế quốc gia để giảm chi phí y tế cho chăm sóc bệnh KLN mãn tính Những thách thức chính bao gồm quản lý chương trình không hiệu quả, kinh phí thấp, ít quan tâm về chính trị, sự hiểu biết của cộng đồng thấp, chi phí thuốc cao và không

có các chương trình kiểm tra có cấu trúc Các cơ hội đang nổi lên bao gồm cải thiện ý chí chính trị, tài trợ của chính phủ cho chương trình kiểm tra ung thư quốc gia, sử dụng các quỹ từ các chương trình sức khoẻ có nguồn lực để tăng cường hệ thống y tế tổng thể Việc phân phối dịch vụ phân chia với sự thiếu hiệu quả trong các hệ thống y tế là một trong những mối quan tâm chính được nâng lên khi mở rộng các chương trình cụ thể về bệnh tật trong hai thập kỷ qua[49],[56]

Trang 20

Theo nghiên cứu của tác giả Unwin N và cộng sự về các bệnh mạn tính không lây nhiễm thu được kết quả là Một phần tư số người tử vong - gần

9 triệu người vào năm 2005 - ở nam giới và phụ nữ <60 tuổi Cùng với nhau, bệnh không lây nhiễm đại diện cho toàn cầu là nguyên nhân lớn nhất gây tử vong ở người trong độ tuổi lao động, và tỷ lệ mắc của họ ở người trẻ tuổi cao hơn đáng kể ở các nước nghèo trên thế giới so với người giàu [48].Các bệnh KLN là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trên toàn cầu và trong khu vực Đông Địa Trung Hải của Tổ chức Y tế Thế giới Báo cáo này báo cáo về sự hợp tác nghiên cứu giữa Văn phòng Địa Trung Hải Địa Trung Hải của Tổ chức Y tế Thế giới và Viện Y tế Quốc gia và Luật Y tế Toàn cầu O'Neill tại Đại học Georgetown Các yếu tố chính hỗ trợ cho các luật liên quan đến bệnh KLN có hiệu quả bao gồm năng lực quản lý; Các cơ chế quản trị thúc đẩy sự hợp tác đa dạng và trách nhiệm giải trình; Và điều chỉnh các can thiệp vào các bối cảnh luật pháp, kinh tế và xã hội địa phương Kết quả nghiên cứu ngăn chặn không truyền nhiễm bệnh ở Oman cho rằng gánh nặng của bệnh bệnh KLN là một mối quan tâm lớn toàn cầu và dự kiến sẽ tăng 15% trong 10 năm tiếp theo Bệnh KLN là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở Oman và các nước khác trong Hội đồng hợp tác vùng Vịnh [45],[50]

Nhóm nghiên cứu củaCaretto A và cộng sự cho rằng các bệnh KLN còn được gọi là bệnh mãn tính kéo dài trong thời gian dài và sự tiến triển chậm, lối sống không lành mạnh và hành vi ăn uống đóng một vai trò quan trọng để xác định các bệnh như vậy Duy trì lối sống lành mạnh có giá trị rất lớn trong việc giảm bệnh và tuổi thọ dài hơn không chỉ ở cấp độ cá nhân mà còn đối với cộng đồng nói chung [52]

Ở các nước đang phát triển, tỷ lệ thừa cân đang tăng lên trong khi tỷ lệ hiện mắc thừa cân vẫn còn cao Tình trạng này được gọi là gánh nặng dinh dưỡng gấp đôi Cả thiếu cân và thừa cân liên quan đến tăng nguy cơ bệnh mạn

Trang 21

tính không truyền nhiễm, giảm phúc lợi và chất lượng cuộc sống…Cư dân đô thị có nhiều khả năng bị thừa cân và ít bị suy dinh dưỡng hơn so với người dân nông thôn trong cả hai năm Sự thay đổi từ thừa cân sang thừa cân rõ ràng hơn trong số các mức chi tiêu lương thực cao hơn[51].Trên toàn cầu, có bằng chứng về gánh nặng bệnh tật không lây nhiễm, đặc biệt ở các nước đang phát triển bao gồm Tanzania Quá trình chuyển đổi kinh tế xã hội và nhân khẩu học có một vai trò lớn trong sự gia tăng các bệnh không lây nhiễm ở Tanzania Có những sáng kiến để kiểm soát gánh nặng của các bệnh không lây nhiễm trong nước [54]

Theo kết quả nghiên cứu của Robinson H M và cộng sự năm 2012 cho rằng có nhiều bằng chứng cho thấy các bệnh KLN là vấn đề sức khoẻ và kinh

tế xã hội ở các quốc gia có thu nhập thấp và trung bình Theo Tổ chức Y tế Thế giới ước tính, tử vong do bệnh tim mạch, ung thư, bệnh hô hấp mãn tính

và đái tháo đường chiếm 63% tỷ lệ tử vong toàn cầu trong năm 2008, trong đó 80% là ở nhóm có thu nhập thấp và trung bình [53]

Báo cáo về các bệnh KLN ở các nước có thu nhập thấp và trung bình: bối cảnh, các yếu tố quyết định và chính sách y tế của tác giả Miranda J

J nhấn mạnh rằng sự gia tăng của các bệnh không lây nhiễm và tác động của

họ ở các quốc gia có thu nhập thấp và trung bình ngày càng được chú ý nhiều trong những năm gần đây Cuối cùng, nhu cầu cải cách hệ thống y tế để tăng cường chăm sóc ban đầu được nhấn mạnh như là một chính sách chính để giảm số lượng bệnh dịch đang gia tăng này[40]

Theo quan điểm của Siegel K R và cộng sự cho rằng gánh nặng của bệnh KLN ở Nam Á đang tăng lên với tốc độ vượt quá mức tăng toàn cầu của các điều kiện này Thay đổi các nhân tố nguy cơ hàng đầu - đặc biệt là thói quen ăn kiêng, sử dụng thuốc lá và cao huyết áp - được cho là cơ sở gánh nặng chết người và tàn tật do bệnh KLN Cải thiện tuổi thọ, tăng sự phát triển

Trang 22

kinh tế xã hội và đô thị hóa ở Nam Á dự kiến sẽ dẫn tới sự leo thang thêm của bệnh KLN [41]

Theo kết quả nghiên cứu của các bệnh KLN dẫn đến tử vong và bệnh tật đáng kể trên toàn thế giới Các bệnh bệnh KLN phổ biến nhất là các bệnh tim mạch (CVD), tiểu đường, ung thư và các bệnh hô hấp mãn tính Với sự gia tăng nhanh chóng số ca tử vong liên quan đến bệnh KLN ở các nước Châu

Á Thái Bình Dương, các bệnh KLN hiện là nguyên nhân chính gây tử vong và gánh nặng bệnh tật trong khu vực Các bệnh KLN cản trở việc thực hiện các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ (MDG) Người thuộc nhóm kinh tế xã hội thấp bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi các bệnh bệnh KLN do họ không tiếp cận chính sách, pháp luật, các quy định và dịch vụ chăm sóc sức khoẻ kém để đối phó với bệnh KLN Điều này làm giảm năng suất lao động của một lực lượng lao động đang giảm với hàm ý ở cấp độ kinh tế vĩ mô, các bệnh bệnh KLN chủ yếu ở khu vực Châu Á Thái Bình Dương là CVD, ung thư và tiểu đường

do sự gia tăng số năm sống bị mất của người khuyết tật (DALYs), 4 yếu tố nguy cơ hành vi chính đối với bệnh KLN là: sử dụng thuốc lá, uống rượu, hoạt động thể chất không đầy đủ và chế độ ăn uống không lành mạnh Các yếu tố nguy cơ tiềm ẩn là đô thị hoá, toàn cầu hóa, lối sống định canh, béo phì

và cao huyết áp Các chiến lược chống lại bệnh KLN ở khu vực Châu Á Thái Bình Dương như sau: Giảm muối ăn kiêng chế độ ăn uống, giáo dục sức khoẻ, can thiệp tâm lý, chẳng hạn như liệu pháp hành vi nhận thức và phỏng vấn tạo động lực, đánh thuế và cấm quảng cáo thuốc lá, thực hiện các khu vực không khói thuốc và giám sát bởi WHO Các biện pháp kiểm soát phải tập trung vào việc ngăn ngừa và tăng cường hợp tác liên ngành Một cam kết quốc gia về hành động hợp tác và thực dụng là cần thiết để tận dụng các cơ hội để tiến bộ hơn nữa trong công tác phòng ngừa và kiểm soát bệnh KLN ở New Zealand[42],[47]

Trang 23

Ali M K và cộng sự đã thu thập số liệu về tử vong do các cơ quan có thẩm quyền tại 43 quốc gia đưa ra cho các bệnh tim mạch; bệnh tiểu đường; bệnh hô hấp mãn tính; bệnh ung thư phổi, ung thư vú, ung thư cổ tử cung, gan và ung thư dạ dày Từ năm 1980 đến năm 2012, trung bình ở tất cả các nước, tỷ lệ tử vong do bệnh tim mạch, ung thư dạ dày, và ung thư cổ tử cung giảm, trong khi tỷ lệ tử vong do bệnh tiểu đường, ung thư gan, cải thiện

cả phạm vi bảo hiểm và tính chính xác của các tài liệu về tử vong ở các nước

có thu nhập thấp và trung bình là một ưu tiên, cũng như nhu cầu đánh giá chặt chẽ các mức độ can thiệp ở cấp xã hội[43]

Mukanu M M và cộng sự đã phân tích chính sách của chính phủ là kết quả của các chiến lược quốc tế của WHO, bằng chứng về việc gia tăng gánh nặng bệnh tật từ bệnh KLN và áp lực từ các nhóm lợi ích Chính phủ đã xây dựng kế hoạch chiến lược cho bệnh KLN dựa trên Kế hoạch hành động toàn cầu của WHO cho các Bệnh bệnh KLN 2013-2030 Quá trình xây dựng chính sách là dài và điều này ảnh hưởng đến tính nhất quán trong thành phần của các bên liên quan và đà phát triển chính sách Thiếu bằng chứng nghiên cứu đại diện cho một số bệnh KLN ưu tiên và sử dụng các mục tiêu chung và các chỉ số dẫn đến kế hoạch chiến lược bệnh KLN không đầy đủ đối với bối cảnh Zambia Các can thiệp trong kế hoạch chiến lược cũng không tận dụng được tiềm năng ngăn ngừa bệnh KLN thông qua giáo dục sức khoẻ [46]

Các chính sách và chiến lược quốc gia mạnh mẽ do các cơ quan quốc gia xây dựng và sở hữu là căn bản để phòng ngừa và kiểm soát các bệnh KLN Mục tiêu của bài báo này là nhằm vào các lĩnh vực chính sách rộng rãi liên quan đến công tác phòng ngừa và kiểm soát bệnh bệnh KLN từ quan điểm y tế công cộng, đặc biệt chú trọng đến các quốc gia có thu nhập thấp và trung bình Báo cáo này là bản báo cáo của WHO trong lĩnh vực này được hỗ trợ bởi các tài liệu có liên quan thu được từ một cuộc tìm kiếm cho giai đoạn

Trang 24

2000-2010 Có một cơ sở bằng chứng mạnh mẽ là nền tảng của chương trình nghị sự về chính sách bệnh KLN Các chính sách bệnh KLN quốc gia có thể tạo ra một tác động đáng kể đến sức khoẻ cộng đồng nếu chúng được hướng tới việc phòng ngừa và công bằng chính của các hệ thống y tế Các chính sách quốc gia về bệnh KLN giúp thúc đẩy và kết hợp chặt chẽ các quy định, hành động lập pháp và đa ngành đối với các lĩnh vực y tế và các lĩnh vực liên quan đến y tế khác là không thể tách rời để tạo ra những môi trường thuận lợi để hỗ trợ các hành vi lành mạnh [44]

1.3.2 Tại Việt Nam

Số liệu thống kê của Bộ Y tế trong những năm gần đây cho thấy Việt Nam cũng như các nước khác trong khu vực đang có sự thay đổi về mô hình bệnh tật từ bệnh lây nhiễm sang bệnh KLN

Các bệnh ung thư, bệnh tim mạch, đái tháo đường, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, hen phế quản và các bệnh không lây nhiễm khác làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe cộng đồng và sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước do số người mắc bệnh nhiều, bệnh gây tàn tật và tử vong cao Phòng, chống các bệnh KLN hiệu quả sẽ hạn chế số người mắc bệnh này trong cộng đồng, ngăn chặn tàn tật, tử vong sớm và giảm quá tải tại các bệnh viện Phòng, chống các bệnh KLN là trách nhiệm của các cấp, các ngành và của mỗi người dân, trong đó các cấp chính quyền trực tiếp chỉ đạo, ngành Y tế là nòng cốt Kiểm soát nguy cơ gây bệnh như hút thuốc lá, lạm dụng đồ uống có cồn, dinh dưỡng không hợp lý, thực phẩm không an toàn, thiếu hoạt động thể lực, cùng với chủ động giám sát, phát hiện bệnh sớm, điều trị, quản lý liên tục

và lâu dài tại cơ sở chăm sóc sức khỏe ban đầu là yếu tố quyết định hiệu quả trong phòng, chống các bệnh không lây nhiễm Nguồn lực đầu tư cho hoạt động phòng, chống các bệnh KLN được huy động từ nhi ều nguồn, trong đó

Trang 25

ngân sách nhà nước tập trung vào kiểm soát yếu tố nguy cơ, dự phòng, giám sát, phát hiện bệnh sớm[32]

Theo nghiên cứu của tác giả Phan Thanh Bình và cộng sự tiến hành tại 4 tỉnh phía nam về nguồn lực và thực trạng công tác truyền thông giáo dục sức khỏe tuyến y tế xã, kết quả cho thấy: 95,8 % (69/72 trạm y tế xã) tuyến xã có thành lập phòng tư vấn sức khỏe, có 88,7% tuyến xã chưa được cung cấp đủ nguồn lực cho hoạt động TT-GDSK, trên 62,5% cán bộ truyền thông tuyến xã kiêm nhiệm Công tác đào tạo, tập huấn có 70% cán bộ truyền thông tuyến xã được tập huấn 1 lần trong năm, 30% chưa được tập huấn [3] Theo một nghiên cứu của tác giả Lê Trung Quân về thực trạng truyền thông ở tuyến xã, phường cho thấy tỷ lệ cán bộ y tế có thái độ rất đúng chiếm 67,7% nhưng tỷ

lệ thực hành tốt chỉ chiếm 14,3% và không có cán bộ y tế (CBYT) nào có kiến thức loại tốt; vẫn còn thiếu hụt về kiến thức: chỉ 7,9% CBYT biết các dấu hiệu cơn sốt rét điển hình, 5,0% biết được đầy đủ các bước chế biến của một bữa ăn bổ sung [24] Chất lượng hoạt động TT-GDSK ở tuyến huyện vẫn còn rất nhiều hạn chế, cụ thể 1/3 số huyện không có phòng làm việc riêng cho phòng TT-GDSK; hoạt động chủ yếu là tư vấn, truyền thông tại cộng đồng; hoạt động viết bài truyền thanh chỉ chiếm 40% 82,9% nhận định thiếu trang thiết bị cho hoạt động TT-GDSK; 51,4% thiếu kiến thức, kỹ năng; 42,6% thiếu điều kiện làm việc [21]

Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) là một trong những bệnh KLN đang ngày càng phổ biến và trở thành một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trên toàn cầu và ở Việt Nam Tuy nhiên, các nghiên cứu dịch

tễ học của bệnh này ở nước ta còn hạn chế và ít được cập nhật, nhất là ở người cao tuổi sống ở cộng đồng nông thôn Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng trong đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính nhập viện là vấn đề đáng quan tâm [1],[20]

Trang 26

Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Tâm và công sự cho thấy trong các bệnh KLN thì bệnh đái tháo đường cũng chiếm tỷ lệ cao cần xây dựng một chương trình chẩn đoán sớm bệnh đái tháo đường cũng như dự phòng các yếu tố nguy cơ để phòng bệnh đái tháo đường [27].Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Thu Thảo đánh giá ảnh hưởng truyền thông giáo dục trên kiến thức, thái độ thực hành và các chỉ số kiểm soát trên bệnh nhân đái tháo đường túyp 2 cho thấy chương trình truyền thông giáo dục có cải thiện tốt trên kiến thức, thái độ thực hành và làm giảm có ý nghĩa thống kê HbA1c, đường huyết đói, tiểu đạm đại thể, tiểu đạm vi thể, lipid máu, huyết áp… Các chỉ số vòng eo, cân nặng, béo phì giảm không có ý nghĩa thống kê [29]

Nghiên cứu mô tả cắt ngang của tác giả Nguyễn Thị Thơ và cộng sự đã cho thấy tính đến năm 2014, có 81% các trung tâm Y tế dự phòng tuyến tỉnh/thành phố đã tham gia hoạt động phòng, chống bệnh KLN nhưng ở các quy mô và mức độ khác nhau Đa số các trung tâm Y tế dự phòng tham gia vào hoạt động phòng, chống bệnh đái tháo đường (65,0%) và tăng huyết áp (55,6%), trong đó chủ yếu thực hiện nội dung sàng lọc/phát hiện sớm và tư vấn cho người bệnh Các trung tâm Y tế dự phòng chưa tham gia hoạt động phòng chống ung thư và bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính và ít trung tâm tham gia hoạt động phòng, chống yếu tố nguy cơ Các hoạt động chủ yếu liên quan đến phòng, chống bệnh đáo tháo đường và tăng huyết áp có 65,5% và 82,8% các trạm y tế xã thực hiện khám sàng lọc, và hơn 85% trạm y tế xã thực hiện

tư vấn cho bệnh nhân, 80,0% và 50,0% trạm y tế xã quản lý, điều trị duy trì, trên 85% xã thực hiện truyền thông, giáo dục sức khỏe Các hoạt động liên quan đến phòng, chống ung thư và bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính/hen phế quản hiện nay ít được triển khai tại tuyến xã Các hoạt động phòng chống yếu

tố nghiên cứu cũng đã được triển khai tại cộng đồng, công sở và trong trường học nhưng chưa đồng đều và được thực hiện riêng lẻ với từng yếu tố nghiên

Trang 27

cứu Số lượng cán bộ y tế tuyến xã được tập huấn về phòng, chống các bệnh KLN còn thấp: 1,77 ± 1,07 cán bộ được tập huấn về phòng, chống tăng huyết

áp và 1,52 ± 1,03 đối với bệnh đái tháo đường, rất ít cán bộ được đào tạo về phòng, chống ung thư và bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính Thực trạng thiếu thiết bị và thuốc thiết yếu cho hoạt động phòng và kiểm soát bệnh KLN còn phổ biến, chỉ có 13,8% và 7,8% trạm y tế xã có trên 70% danh mục thiết bị

và thuốc thiết yếu theo yêu cầu của Bộ Y tế[31]

Trong phạm vi nghiên cứu yếu tố nguy cơ bệnh KLN tại Cần Thơ năm 2009-2010 của tác giả Trần Quốc Bảovà cộng sựvới mục tiêu xác định tỷ lệ hiện mắc các yếu tố nguy cơ phổ biến của bệnh KLN và các thông số liên quan trong quần thể 25-64 tuổi,kết quả cho thấy các yếu tố nguy cơ phổ biến chiếm tỷ lệ cao trong quần thể: 57,1% nam giới hút thuốc lá hàng ngày; 17,3% nam giới uống rượu bia ở mức có hại và 33,3% uống ở mức nguy hiểm; 84,4% nam giới và 88% nữ giới ăn dưới 5 suất rau và trái cây trong một ngày; 32,6% nam và 39,7% nữ giới ít hoạt động thể lực; tỷ lệ quá cân ở nam và nữ giới tương ứng là 12,9% và 17,7%, tỷ lệ béo phì tương ứng là 0,9% và 2,1%; tỷ lệ tăng huyết áp ở nam giới là 18,8% và ở nữ giới là 16,9%; tỷ lệ tăng đường huyết (≥ 6,1 mmol/L) ở nam và nữ giới tương ứng 4,8% và 4,7% [2]

Trang 28

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Địa điểm, đối tượng và thời gian nghiên cứu

2.1.1 Địa điểm nghiên cứu

Nghiên cứu được triển khai tại huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang

Một số đặc điểm chung về địa điểm nghiên cứu

Lục Nam là một huyện miền núi nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh Bắc Giang, cách trung tâm thành phố Bắc Giang khoảng 27km và cách thủ đô Hà Nội khoảng 70km về phía Đông Bắc Tọa độ địa lý nằm trong khoảng 21011’ đến 21027’ vĩ độ Bắc, 106018’ đến 106041’ kinh độ Đông; phía bắc giáp với huyện Hữu Lũng – Lạng Sơn, phía nam giáp với Thị xã Chí Linh – Hải Dương và Thị xã Đông Triều – Quảng Ninh, phía đông giáp với huyện Lục Ngạn và Sơn Động, phía tây giáp với huyện Lạng Giang và Yên Dũng Huyện

có 27 xã/thị trấn, với tổng diện tích khoảng 597 km2 và dân số là 227.278 người năm 2015, sự phân bố không đồng đều giữa các khu vực thành thị và nông thôn.Kinh tế của huyện chủ yếu là trồng lúa, hoa màu và cây ăn quả (dứa, vải thiều, na, nhãn, …), những năm gần đây huyện đã có nhiều công ty,

xí nghiệp được đầu tư xây dựng góp phần giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho hàng ngàn hộ gia đình trên địa bàn và các vùng lân cận

Hệ thống Y tế tại huyện Lục Nam gồm có: Phòng Y tế, Trung tâm y tế, Bệnh viện đa khoa hạng II và 27 trạm y tế xã; về nhân lực tuyến huyện có 229 cán bộ, viên chức và tuyến xã có 199 cán bộ, viên chức Trong đó, các trạm y

tế là đơn vị thực hiện TT-GDSK là chủ yếu dưới sự chỉ đạo của cấp trên

Do địa hình là trung du miền núi, giao thông chưa thuận tiện đi lại giữa các thôn, xóm với trung tâm xã, huyện nên việc trao đổi thông tin cũng như hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe tại trạm y tế và trong cộng đồng đã được triển khai tuy nhiên hiệu quả chưa cao

Trang 29

2.1.2 Đối tượng nghiên cứu

- Cán bộ, nhân viên y tế củatrạm y tế xã/thị trấn

- Phòng truyền thông giáo dục sức khỏe của trạm y tế xã/thị trấn

 Tiêu chuẩn lựa chọn nhân viên y tế

- Các cán bộ, nhân viên y tế hiện đang làm việc tại các trạm y tế xã/thị trấn củahuyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang

- Hợp tác trong quá trình nghiên cứu

 Tiêu chuẩn loại trừ:loại trừ đối tượng nghiên cứu là các trường hợp cán

bộ, nhân viên y tế bao gồm một trong những đặc điểm sau:

- Cán bộ, nhân viên y tế thuộc đơn vị y tế tuyến tỉnh hoặc huyện đang công tác tăng cường tại các trạm y tế theo chương trình đưa bác sĩ về trạm y

tế xã/thị trấn

- Cán bộ, nhân viên y tếthuộc biên chế trạm đang đi học dài hạn trên 6 tháng tại thời điểm nghiên cứu không thể sắp xếp được thời gian để tham gia phỏng vấn

2.1.3 Thời gian nghiên cứu

Thời gian nghiên cứu từ tháng 8/2016 đến tháng 5/2017

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu

Sử dụng thiết kế nghiên cứu dịch tễ học mô tả thông qua cuộc điều tra cắt ngang Với mục đích mô tả thực trạng hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe của tuyến xã, thị trấn thuộc huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang năm

2016 và xác định nhu cầu đào tạo vềtruyền thông giáo dục sức khỏe phòng chống các bệnh không lây nhiễm của nhân viên y tế xã, thị trấn trên địa bàn nghiên cứu

Trang 30

2.2.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu

-=

Trong đó:

+ n: Là cỡ mẫu cần điều tra

+ Z: Là giá trị tương ứng của hệ số tin cậy, được lấy ở ngưỡng =0,05 (Z(1-  /2) = 1,96)

+ p: Là tỷ lệ nhân viên y tế xã có thực hiện về truyền thông giáo dục sức khỏe, được lấy từ nghiên cứu thử, p= 0,6

+ d: Là giá trị sai số cho phép 7% (d = 0,07)

Thay vào công thức trên, cỡ mẫu sẽ là 195 người

Vì cỡ mẫu trên gần bằng tổng số cán bộ y tế xã, thị trấn của huyện, nên nghiên cứu này chọn toàn bộ cán bộ y tế xã, thị trấn thỏa mãn tiêu chuẩn của nghiên cứu  n= 199

Phương pháp chọn mẫu:

- Chọn toàn bộ 199 cán bộ y tế thuộc biên chế của trạm, đây là những cán bộ đang và sẽ tiếp tục công tác ổn định lâu dài tại trạm, là đối tượng sẽ tiếp tục hưởng lợi sau khi có những khuyến nghị dựa trên kết quả nghiên cứu Trong đó gồm 172 nhân viên y tế và 27 trưởng trạm y tế

- Chọn toàn bộ 27 phòng truyền thông giáo dục sức khỏe của các trạm

y tế xã/thị trấn thuộc huyện Lục Nam

Trang 31

2.2.3 Các biến số nghiên cứu

2.2.3.1 Các biến số về thực trạng hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe phòng chống bệnh không lây nhiễm tại trạm y tế xã, thị trấn

* Trang thiết bị phục vụ công tác TT-GDSK tại trạm y tế xã

- Thông tin chung về hoạt động truyền thông: phòng truyền thông, cán

bộ chuyên trách, kế hoạch hoạt động

- Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ công tác truyền thông

- Công tác quản lý, theo dõi, giám sát và đánh giá các hoạt động truyền thông của đơn vị và cá nhân

* Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu và tình hình hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe của đối tượng nghiên cứu tại các trạm y tế

- Tuổi: Do đặc điểm của đối tượng nghiên cứu là cán bộ, nhân viên y tế đang làm việc tại cơ sở y tế công lập nên có tuổi đời từ 18 – 60, do vậy tuổi của đối tượng nghiên cứu được phân thành các nhóm tuổi: ≤25; 26-35; 36-45; 46-55 và >55 tuổi

- Giới: nam hay nữ

- Dân tộc: Dân tộc kinh và nhóm dân tộc khác

- Trình độ chuyên môn: phân thành các nhóm: bác sĩ, điều dưỡng, y sĩ,nữ

Trang 32

- Phân bố nhân viên y tế có phương tiện, trang thiết bị phục vụ công tác truyền thông

- Sự tham gia, phối hợp của bản thân nhân viên y tế và của trạm y tế xã, thị trấn với các tổ chức Đảng, Chính quyền, các đoàn thể địa phương trong truyền thông GDSK tại trạm y tế, trong cộng đồng

- Đánh giá theo các mức độ tốt, khá, trung bình, chưa đạt về các hoạt động truyền thông GDSK bệnh KLN

- Lượng giá nội dung thực hiện kế hoạch, loại kế hoạch trong các hoạt động truyền thông GDSK bệnh KLN

- Phân bố nhân viên tham gia lập kế hoạch truyền thông GDSK theo thâm niên công tác

* Hoạt động truyền thông GDSK của trưởng trạm y tế xã

- Một số đặc điểm về tuổi, giới, dân tộc, thâm niên công tác, số lượng cán bộ tham gia truyền thông

- Lượng giá về công tác TT-GDSK của trưởng trạm y tế xã thông qua việc phối hợp liên ngành, lồng ghép, nhân lực, kinh phí, trang thiết bị, tài liệu/

- Các giải pháp để đẩy mạnh các hoạt động truyền thông

- Phân bố nguồn nhân lực và kinh phí cho hoạt động truyền thông

2.2.3.2 Nhu cầu đào tạo của nhân viên y tế về truyền thông giáo dục sức khỏe phòng chống một số bệnh không lây nhiễm của cán bộ y tế xã

- Các lớp đào tạo/tập huấn đã qua về truyền thông GDSK và phòng chống các bệnh KLN

Trang 33

- Chủ đề/nội dung được tập huấn

- Khả năng, thực tiễn áp dụng sau khi tham gia các khóa đào tạo để thực hiện nhiệm vụ được giao

- Kỹ năng thực hiện về: Lập kế hoạch TT-GDSK, viết bài báo, viết bài tuyên truyền, thảo luận nhóm, nói chuyện, …

- Đề xuất nội dung đào tạo, tập huấn về: Lập kế hoạch TT-GDSK, viết bài báo, viết bài tuyên truyền, thảo luận nhóm, nói chuyện, …

- Đào tạo liên tục nâng cao kiến thức chuyên môn về các bệnh KLN

- Hình thức đào tạo, tập huấn phù hợp

- Địa điểm đào tạo, tập huấn phù hợp

- Thời lượng đào tạo, tập huấn

- Khó khăn, vướng mắc gặp phải cần giải quyết khi tham gia đào tạo, tập huấn

2.2.4 Một số khái niệm, phương tiện và phương pháp đánh giá

* Một số khái niệm sử dụng trong nghiên cứu:

- Trạm y tế xã, phường, thị trấn là cơ sở chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân, chức năng nhiệm vụ được Bộ Y tế quy định tại Thông tư số 33/TT-BYT ngày 27/5/2015 hướng dẫn chức năng nhiệm vụ của trạm y tế xã, phường, thị trấn [8] Do đó nhiệm vụ/công việc chính, kiêm nhiệm của đối tượng nghiên cứu được phân tách thành các lĩnh vực: khám chữa bệnh; phụ trách chương trình y tế; dược; công tác quản lý; khác

- Tần suất: Là số lần xảy ra một việc gì đó hoặc xuất hiện một cái gì đó trong một khoảng đơn vị thời gian Tần suất được thể quan một số trạng từ sau: thường xuyên (tần suất xảy ra/xuất hiện hàng ngày, hàng tuần đều đặn);thỉnh thoảng (tần suất xảy ra/xuất hiện hàng tháng, hàng quý nhưng không đều đặn); hiếm khi (tần suất xảy ra/xuất hiện rất ít)

Trang 34

* Phương tiện truyền thông giáo dục sức khỏe

- Khái niệm: Phương tiện truyền thông là những phương tiện để giúp

người giáo dục sức khỏe chuyển các thông điệp sức khỏe tới đối tượng giáo dục sức khỏe

- Các phương tiện TT – GDSK: Bao gồm các phương tiện sau:

+ Lời nói,

+Cử chỉ, điệu bộ (ngôn ngữ thân thể),

+ Các phương tiện trực quan nghe nhìn (mô hình, hiện vật, mẫu vật; bảng đen; áp phích; tranh vẽ; thư báo, khẩu hiệu; phát thanh; …) Trong đó phát thanh là một phương tiện thông tin nhanh, thuận tiện ít tốn kém, rất thích hợp với điều kiện tuyến cơ sở[19]

*Phương pháp truyền thông giáo dục sức khỏe

- Khái niệm: Phương pháp giáo dục sức khỏelà cách thức người làm

công tác giáo dục sức khỏe thực hiện một chương trình giáo dục sức khỏe Có hai loại phương pháp GDSK là: phương pháp GDSK gián tiếp và phương pháp GDSK khỏe trực tiếp[15]

- Phương pháp gián tiếp (sử dụng nguồn thông tin đại chúng): Là

phương pháp TT-GDSK có tính chất chiến dịch thông qua các phương tiện nghe nhìn phong phú và hấp dẫn

+ Ưu điểm: Có khả năng truyền tin nhanh, nhạy, rộng khắp những khối lượng thông tin lớn với quảng đại quần chúng

+ Nhược điểm: Phương pháp này ít làm thay đổi hành vi sức khỏe, đặc biệt ở khía cạnh thái độ và thực hành

Để khắc phục mặt hạn chế và tăng hiệu quả của các phương pháp này cần phải phối hợp và tranh thủ sự giúp đỡ của các cơ quan thông tin đại chúng của Đảng và Nhà nước, từ Trung ương đến địa phương [19]

Trang 35

- Phương pháp trực tiếp: Là phương pháp tư vấn, thảo luận trực tiếp

giữa người với người, ví dụ: Thảo luận nhóm, thăm hộ gia đình, … Để làm thay đổi hành vi sức khỏe của đối tượng giáo dục chúng ta sử dụng phương pháp này, nhưng cũng có những khó khăn đó là khó có đủ số người có khả năng để sẵn sàng đáp ứng với các yêu cầu của việc TT-GDSK Hiệu quả của phương pháp trực tiếp phụ thuộc rất nhiều vào cán bộ tham gia công tác truyền thông [19],[15]

*Lập kế hoạch và quản lý hoạt động truyền thông

- Khái niệm lập kế hoạch: Lập kế hoạch giáo dục sức khỏe là những

công việc được tiến hành trước khi giáo dục sức khỏe[15],[30]

- Một số nguyên tắc cơ bản trong lập kế hoạch giáo dục sứckhỏe

+ Điều tra trước: nhằm có được những số liệu chính xác, khoa học, làm cơ

sở cho việc xác định đúng đắn các mục tiêu GDSK và lập kế hoạch hoạt động

+ Lồng ghép: kế hoạch GDSK phải được lồng ghép vào việc thực hiện

các chương trình y tế, các hoạt động kinh tế, văn hoá, xã hội đang triển khai tại địa phương

+ Cần phải thống nhất trước với lãnh đạo địa phương: thuyết phục được

các cấp lãnh đạo tạo điều kiện thực hiện; tranh thủ được sự giúp đỡ đồng tình, hưởng ứng của mọi người; động viên được quần chúng tích cực tham gia hoạt động ngay từ đầu và duy trì phong trào được lâu bền

+ Phôi hợp liên ngành: cần phải phối hợp với các ngành ngoài y tế như

kinh tế, văn hoá, xã hội để chủ động cùng thực hiện

* Quản lý truyền thông giáo dục sức khỏe:

- Tăng cường đầu tư nguồn lực, chú trọng đầu tư các trang thiết bị,

phương tiện kỹ thuật cần thiết phục vụ thực hiện các nhiệm vụ truyền thông giáo dục sức khoẻ

Trang 36

- Đẩy mạnh các hoạt động chỉ đạo, quản lý, giám sát và đánh giá và tổ chức thực hiện các hoạt động truyền thông giáo dục sức khoẻ để nâng cao

chất lượng, hiệu quả và đạt được các mục tiêu đề ra [19],[22]

* Phương pháp đánh giá các hoạt động công tác TT – GDSK

+ Quy định về phương tiện truyền thông

- Phương tiện truyền thông giáo dục sức khỏe: cơ bản bao gồm có tivi; loa pin; loa nén, micro và máy tăng âm; có bàn để sách, mô hình, có giá treo

áp phích, …[6]

- Có tủ các ngăn đựng và các tài liệu truyền thông như sổ tay tuyên tuyền, bộ tài liệu truyền thông, bộ công cụ làm mẫu, cẩm nang thực hiện các hoạt động TT-GDSK[4]

+ Quy định về triển khai tốt các hoạt động thông tin, truyền thông – giáo dục sức khỏe trên địa bàn xã, thị trấn

- Thực hiện thường xuyên TT-GDSK thông qua truyền thông đại chúng, truyền thông tại cộng đồng, khi thăm hộ gia đình và khi người dân đến khám chữa bệnh tại TYT xã và trong trường học

- Phối hợp với các tổ chức xã hội (Phụ nữ, Thanh niên, Hội nông dân ) thực hiện các hoạt động TT-GDSK tại cộng đồng

- Cán bộ TYT xã và nhân viên y tế thôn bản thực hiện TT-GDSK và tư vấn các vấn đề về sức khỏe khi người dân đến khám chữa bệnh hoặc khi đến thăm hộ gia đình; có các hoạt động về TT-GDSK trong trường học tại địa phương [9]

Khi đánh giá về chất lượng và nhu cầu đào tạo của cán bộ y tế về truyền thông giáo dục sức phòng chống bệnh KLN dựa trên quy định hướng dẫn việc đào tạo liên tục cho cán bộ y tế[9]

Trang 37

2.3 Phương pháp thu thập thông tin

- Phỏng vấn trực tiếp đối tượng nghiên cứu bằng bộ câu hỏi được thiết kế sẵn (phụ lục 1, 2) Điều tra viên sẽ đến để phỏng vấn trực tiếp đối tượng tại các trạm y tế

- Quan sát đánh giá bằng bảng kiểm (phụ lục 3) Điều tra viên đến các trạm y tế xã/thị trấn quan sát trực tiếp các phòng truyền thông GDSK và điền các thông tin vào bảng kiểm

- Các bước thu thập thông tin:

Bước 1: Xây dựng bộ công cụ

Bộ phiếu điều tra xây dựng dựa vào nội dung và mục tiêu nghiên cứu Được hoàn thiện khi điều tra thử

Bước 2: Tập huấn cho cán bộ tham gia nghiên cứu

Tổ chức tập huấn chu đáo cho các cán bộ tham gia nghiên cứu giúp điều tra viên hiểu về mục đích, đảm bảo thống nhất phương pháp chọn đối tượng

và phương pháp thu thập thông tin giữa các cán bộ điều tra tại địa bàn nghiên cứu Đồng thời hướng dẫn điều tra viên cách thức xử trí tình huống gặp phải trong quá trình điều tra và cách thu thập thông tin một cách chính xác và khách quan nhất

Tổ chức điều tra thử

Bước 3: Tiến hành phỏng vấn, quan sát

- Đối với phỏng vấn bằng bộ câu hỏi: điều tra viên đến từng trạm y tế gặp

gỡ đối tượng nghiên cứu và tiến hành thu thập thông tin theo quy trình sau:

+ Phỏng vấn trực tiếp với các đối tượng là cán bộ y tế đang công tác tại trạm bằng bộ công cụ điều tra đã thiết kế sẵn

+ Trong quá trình phỏng vấn chỉ có hai người (điều tra viên và đối tượng phỏng vấn) và ngồi đối diện nhau

Trang 38

- Đối với quan sát đánh giá bằng bảng kiểm: Điều tra viên đến quan sát trực tiếp các phòng truyền thông GDSK của các trạm y tế xã/thị trấn và điền các thông tin vào ô thích hợp theo phụ lục 3

2.5 Đạo đức trong nghiên cứu

Nghiên cứu tuân theo các yêu cầu của Hội đồng Khoa học và Đạo đức của nhà trường Nghiên cứu tiến hành khi đã được Hội đồng Khoa học và Đạo đức trường Đại học Y Dược Thái Bình phê duyệt

Những nhân viên y tế được chọn vào nghiên cứu thông báo rõ về mục đích nghiên cứu và đồng ý tham gia trả lời phỏng vấn

Các điều tra viên tôn trọng sự lựa chọn và trả lời của nhân viên y tế những kiến thức, thái độ và thực hành của họ, không có ý kiến chê bai, phê phán trong quá trình điều tra

Nghiên cứu này không phải một cuộc kiểm tra, đánh giá thi đua của các

cơ sở y tế tuyến trên đối với tuyến dưới Các thông tin thu thập được từ đối tượng tham gia nghiên cứu tuyệt đối được giữ bí mật

Đối với các nhân viên y tế đang đi học dài hạn, họ cũng có quyền không tham gia phỏng vấn nếu không thể sắp xếp được thời gian rỗi

Kết quả nghiên cứu cũng được đề xuất với các đơn vị chức năng để có những hoạt động hỗ trợ nhằm nâng cao kiến thức, thái độ, thực hành cho nhân viên y tế trong thời gian đến thu thập thông tin

Trang 39

2.6 Hạn chế sai số và phương pháp khắc phục

Để khắc phục sai số cán bộ tham gia nghiên cứu là những người trung thực, thành thạo về chuyên môn và được tập huấn trước khi tiến hành nghiên cứu tại cộng đồng

Trước khi phỏng vấn điều tra viên giải thích rõ mục tiêu, ý nghĩa, tầm quan trọng của cuộc điều tra, phỏng vấn với đối tượng nghiên cứu để họ hiểu

và hài lòng hợp tác để đảm bảo tính trung thực, khách quan của số liệu

Tuân thủ nghiêm ngặt quy trình kiểm tra, làm sạch số liệu trước khi phân tích

Trang 40

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Thực trạng hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe phòng chống bệnh không lây nhiễm tại các trạm y tế thuộc huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang năm 2016

3.1.1 Tình hình cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ truyền thông giáo dục sức khỏe tại các trạm y tế

Bảng 3.1 Một số thông tin chung về hoạt động truyền thông (n=27 )

Ngày đăng: 24/05/2020, 14:19

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w