Một số người cho rằng, nước trong thế kỷ XXI sẽ quý như dầu mỏ trong thế kỷ XX, nói như vậy không sai nhưng chưa phải hoàn toàn đúng, vì dầu mỏ chỉ tác động chủ yếu về mặt năng lượng, cò
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ QUỐC PHÒNG
HỌC VIỆN QUÂN Y
NGÔ THỊ NHU
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ YẾU TỐ CHẤT LƯỢNG NƯỚC SINH HOẠT VÀ BỆNH LIÊN QUAN Ở 6 XÃ
NÔNG THÔN ĐÔNG HƯNG - THÁI BÌNH
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ BIỆN PHÁP CAN THIỆP
LUẬN ÁN TIẾN SỸ Y HỌC
HÀ NỘI - 2008
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ QUỐC PHÒNG
HỌC VIỆN QUÂN Y
NGÔ THỊ NHU
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ YẾU TỐ CHẤT LƯỢNG NƯỚC SINH HOẠT VÀ BỆNH LIÊN QUAN Ở 6 XÃ
NÔNG THÔN ĐÔNG HƯNG - THÁI BÌNH
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ BIỆN PHÁP CAN THIỆP
Chuyên ngành: DỊCH TỄ HỌC
Mã số: 62 72 70 01
LUẬN ÁN TIẾN SỸ Y HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS ĐOÀN HUY HẬU PGS.TS TRẦN QUỐC KHAM
HÀ NỘI - 2008
Trang 3MỤC LỤC
Trang phụ bìa Trang
Lời cảm ơn
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các biểu đồ
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Tầm quan trọng của nước và chất lượng nước 4
1.1.1 Tầm quan trọng và sự tiêu thụ nước 4
1.1.2 Một số chỉ tiêu cơ bản đánh giá chất lượng nước 8
1.1.3 Thực trạng cung cấp và chất lượng nước ở một số vùng tại 15 Việt Nam và trên thế giới 1.2 Một số bệnh liên quan đến nước 24
1.2.1 Tác nhân gây bệnh liên quan đến nước 24
1.2.2 Ô nhiễm nước và một số bệnh liên quan đến nước 27
1.3 Một số kỹ thuật xử lý nước 32
1.3.1 Làm trong nước 32
1.3.2 Quá trình sa/lắng 33
1.3.3 Kỹ thuật lọc 34
1.3.4 Khử khuẩn nước 35
1.3.5 Xử lý nước ngầm 36
Trang 4CHUƠNG 2 ĐỐI TUỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 39
2.1 Đối tượng nghiên cứu 39
2.2 Địa bàn nghiên cứu 40
2.3 Phương pháp nghiên cứu 41
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu 41
2.3.2 Chọn mẫu và tính cỡ mẫu 46
2.3.3 Biến số và chỉ số trong nghiên cứu 48
2.3.4 Các kỹ thuật áp dụng trong nghiên cứu 49
2.3.5 Tiêu chuẩn đánh giá 56
2.4 Phương pháp xử lý số liệu 58
2.5 Khống chế sai số 59
2.6 Đạo đức trong nghiên cứu 59
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 60
3.1 Thực trạng nhiễm asen và một số yếu tố chất lượng nước 60
3.1.1 Thực trạng nhiễm asen ở các nguồn nước 60
3.1.2 Thực trạng một số yếu tố chất lượng nước giếng khoan và giếng khơi 62
3.1.3 Xác định một số yếu tố liên quan đến chất lượng nguồn nước 66 3.1.4 Một số yếu tố liên quan đến các chỉ tiêu xét nghiệm 68
3.2 Kiến thức, thực hành của người dân về sử dụng, bảo quản nước 74
và phòng bệnh liên quan đến nước 3.3 Tỷ lệ mắc một số bệnh liên quan đến nước 79
3.4 Hiệu quả các biện pháp can thiệp 82
3.4.1 Hoạt động các biện pháp can thiệp 82
3.4.2 Chuyển biến về kiến thức và thực hành của người dân về sử dụng, 84
bảo quản nước và phòng bệnh liên quan ở hai xã nghiên cứu 3.4.3 Kết quả xét nghiệm chất lượng nước ở hai xã trước và sau 92 can thiệp
Trang 53.4.4 Tỷ lệ mắc một số bệnh liên quan đến nước ở hai xã trước và 99
sau can thiệp 3.4.5 Hiệu quả biện pháp giảm thiểu các chất trong nước 100
CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 102
4.1 Thực trạng nhiễm asen và chất lượng nước ở địa bàn nghiên cứu 102
4.1.1 Thực trạng nhiễm asen 105
4.1.2 Thực trạng chất lượng vệ sinh nguồn nước giếng khoan 108
4.1.3 Thực trạng chất lượng vệ sinh nước giếng khơi 114
4.1.4 Một số yếu tố liên quan đến chất lượng nước 117
4.2 Thực trạng kiến thức, thực hành của người dân ở địa bàn nghiên 119
cứu về sử dụng, bảo quản và phòng bệnh liên quan đến nước 4.2.1 Thực trạng kiến thức 119
4.2.2 Thực trạng thực hành 121
4.3 Tỷ lệ hiện mắc một số bệnh liên quan đến nước 122
4.4 Các giải pháp can thiệp và kết quả can thiệp 125
4.4.1 Lựa chọn giải pháp can thiệp 125
4.4.2 Hiệu quả can thiệp 126
KẾT LUẬN 136
KIẾN NGHỊ 138
DANH MỤC BÀI BÁO CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 139 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng Tên bảng Trang
2.1 Giá trị giới hạn của một số chỉ tiêu xét nghiệm 56 3.1 Tỷ lệ (%) mẫu nước phát hiện thấy asen tại các xã nghiên cứu 60 3.2 Tỷ lệ (%) mẫu nước đạt tiêu chuẩn vệ sinh về chỉ tiêu pH 62
Trang 8Bảng Tên bảng Trang
3.24 Tỷ lệ hiện mắc bệnh tiêu chảy theo nhóm tuổi 79
3.25 Tỷ lệ hiện mắc bệnh ngoài da theo nhóm tuổi 80
3.26 Tỷ lệ hiện mắc bệnh mắt theo nhóm tuổi 81
3.27 Tỷ lệ nhiễm florua ở răng theo nhóm tuổi 81
3.28 Nghề nghiệp của đối tượng điều tra ở hai xã 84
3.29 Trình độ học vấn của đối tượng điều tra ở hai xã 84
3.30 Thực trạng kinh tế của người dân ở hai xã 85
3.31 Kiến thức của người dân về bệnh liên quan đến nước trước và 87
sau can thiệp 3.32 Kiến thức của người dân về cách bảo vệ nguồn nước của gia đình 88 trước và sau can thiệp 3.33 Thực hành của người dân về vệ sinh bể lọc trước và sau can thiệp 89 3.34 Thực hành của ngưòi dân về cách bảo vệ nguồn nước của gia đình 89 trước và sau can thiệp 3.35 Kết quả tham gia các hoạt động bảo vệ, phòng chống các bệnh liên quan đến nước trước và sau can thiệp 91
3.36 Tỷ lệ (%) mẫu nước đạt tiêu chuẩn vệ sinh asen ở hai xã 93
3.37 Tỷ lệ (%) mẫu nước xét nghiệm đạt tiêu chuẩn natri clorua, sắt, mangan và florua ở hai xã 94
3.38 Tỷ lệ (%) mẫu nước đạt tiêu chuẩn vệ sinh Coliform ở hai xã 95
3.39 Tỷ lệ (%) mẫu nước đạt tiêu chuẩn vệ sinh Feacal coliform 95
ở hai xã 3.40 Tỷ lệ (%) mẫu nước đạt tiêu chuẩn vệ sinh Clostridium welchii 96
3.41 Thực trạng vệ sinh nguồn nước giếng khoan ở hai xã 97
3.42 Thực trạng vệ sinh nguồn nước giếng khơi ở hai xã 98
3.43 Tỷ lệ bệnh liên quan đến nước ở hai xã trước và sau can thiệp 99
3.44 Hàm lượng trung bình các chỉ tiêu hoá học trước và sau lọc 100
3.45 Kết quả số mẫu nước đạt các chỉ tiêu trước và sau lọc 101
Trang 9DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ Tên biểu đồ Trang
3.1 Tỷ lệ (%) mẫu nước không đạt tiêu chuẩn vệ sinh chỉ tiêu asen 61 3.2 Liên quan giữa chiều sâu của giếng khoan và hàm lượng asen 61 3.3 Mức độ nguy cơ ô nhiễm các nguồn nước 67 3.4 Thực trạng kinh tế của người dân ở địa bàn nghiên cứu 75 3.5 Tỷ lệ (%) hộ gia đình sử dụng giếng khoan, giếng khơi và bể lọc 75 3.6 Thực hành của người dân về vệ sinh dụng cụ chứa nước 78 3.7 Tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy trong 2 tuần trước ngày điều tra 80 3.8 Tỷ lệ hiện mắc một số bệnh liên quan đến nước 81 3.9 Tỷ lệ hộ gia đình sử dụng bể lọc nước trước và sau can thiệp 85
ở hai xã
3.10 Kiến thức của người dân về thay rửa bể lọc nước dưới 3 tháng 86 3.11 Số lần tham gia cuộc họp về nước và vệ sinh môi trường 90 sau can thiệp
3.12 Tỷ lệ (%) mẫu nước đạt tiêu chuẩn vệ sinh chất hữu cơ ở hai xã 92 3.13 Tỷ lệ (%) mẫu nước đạt tiêu chuẩn vệ sinh amoni ở hai xã 93 3.14 Tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy chung ở hai xã trước và sau can thiệp 99 3.15 Kết quả xét nghiệm các chỉ tiêu vi sinh vật trước và sau lọc 100
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
Nước sạch và vệ sinh môi trường là một nhu cầu cơ bản trong đời sống hàng ngày của con người Hiện nay, vấn đề này đã trở thành một đòi hỏi bức bách trong việc bảo vệ sức khoẻ và cải thiện điều kiện sống của nhân dân, trong sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước
Chính phủ đã ưu tiên việc phát triển cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn, quyết định đưa việc giải quyết nước sạch và vệ sinh nông thôn trở thành một trong bảy chương trình mục tiêu Quốc gia quan trọng nhất từ năm 2000 Nhiều dự án xây dựng công trình cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn do Nhà nước và Quốc tế tài trợ đã và đang được triển khai ở các địa phương Mặc dù, đã đạt được nhiều thành tích trong cấp nước sạch ở cộng đồng, nhưng sự tiếp cận với nước sạch, đáp ứng thực sự tiêu chuẩn vệ sinh nước ăn uống chưa phải cao Hiện nay, vẫn còn 70% dân số nông thôn chưa thật sự được tiếp cận với nước sạch, 1/2 số hộ dân nông thôn không có hố xí hợp vệ sinh Các bệnh liên quan đến nước và vệ sinh môi trường như bệnh tiêu chảy, giun sán, đường ruột, ngoài da, mắt phổ biến và chiếm
tỉ lệ cao nhất trong các bệnh thường gặp [17], [41], [134]
Trong điều kiện hiện nay, sự gia tăng dân số, quá trình đô thị hoá và nền kinh tế mở cửa là những nguy cơ gây gia tăng ô nhiễm môi trường tự nhiên và môi trường nước Đặc biệt, do lạm dụng phân bón trong nông nghiệp, xử lý nước thải của các doanh nghiệp nhà nước cũng như tư nhân chưa đảm bảo yêu cầu Lượng nước thải trong sinh hoạt hàng ngày của nhân dân rất lớn, bên cạnh những nguồn chất thải khác như phân, rác thải còn không ít những tồn tại Những nguyên nhân trên làm thâm nhiễm vào nguồn nước tự nhiên các chất hữu cơ, thành phần vô cơ
và các vi sinh vật gây bệnh Điều đó đe doạ nghiêm trọng đến môi trường sống và sức khoẻ con người thông qua những bệnh liên quan đến nước
Trang 11Nguy cơ bị nhiễm mặn và ô nhiễm các chất thải: Công nghiệp, nông nghiệp
và sinh hoạt trong nguồn nước ngầm đang có xu hướng gia tăng Hiện nay, trên thế giới, người ta đã thấy sự ô nhiễm asen trong nước ngầm, gây nên các căn bệnh hiểm nghèo xảy ra ở một số nước như: Mỹ, Chi Lê, Hungari, Mexicô, Thái Lan Bangladesh, Ấn Độ là những Quốc gia đã bị nhiễm asen nặng
Ở Việt Nam, qua khảo sát của UNICEF và các cơ quan chức năng cho biết, những vùng nhiễm asen nghiêm trọng như phía Nam thành phố Hà Nội, Hà Nam,
Hà Tây, Hưng Yên, Nam Đinh và Thái Bình Tất cả những vấn đề này đang đòi hỏi nhiều giải pháp để đảm bảo an toàn cho nhân dân [100]
Ở Thái Bình đã có các nghiên cứu về chất lượng nước sinh hoạt [46] Tuy nhiên, nghiên cứu về một số chất trong nước ảnh hưởng lâu dài đến sức khoẻ người dân như asen, mangan, và những giải pháp cải thiện chất lượng nước dễ áp dụng
và được thực hiện bởi chính người dân chưa thực sự được quan tâm đầy đủ Chính
vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: "Nghiên cứu một số yếu tố chất ỉượng nước sinh hoạt và bệnh liên quan ở 6 xã nông thôn Đông Hưng - Thái Bình Đánh giá hiệu quả biện pháp can thiệp"
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Xác đinh tình trạng nhiễm asen và một số chỉ tiêu hoá học, vi sinh vật trong nước sinh hoạt tại 6 xã nông thôn huyện Đông Hung tỉnh Thái Bình năm 2005-2006
2 Đánh giá kiến thức, thực hành của người dân về sử dụng, bảo quản nước
và tỷ lệ mắc một số bệnh liên quan đến nước tại địa điểm nghiên cứu
3 Đánh giá hiệu quả một số biện pháp can thiệp nâng cao chất lượng nước sinh hoạt
Trang 12Giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài:
Trong khuôn khổ của đề tài này, chúng tôi giới hạn phạm vi nghiên cứu như sau:
- Nguồn nước sinh hoạt: chúng tôi nghiên cứu 2 loại đó là giếng khoan, giếng khơi bởi trong địa bàn nghiên cứu của chúng tôi có nguồn nước ngầm khá dồi dào, đây là hai hình thái cung cấp nước mà người dân sử dụng chủ yếu trong sinh hoạt hàng ngày
- Một số chỉ tiêu chất lượng nước: Chúng tôi nghiên cứu một số chỉ tiêu đánh giá mức độ nhiễm bẩn, thời điểm nhiễm bẩn, mức độ và thời điểm nhiễm phân Hiện nay, Thế giới và trong nước đang quan tâm đến ô nhiễm asen trong nước ngầm, do vậy nghiên cứu của chúng tôi trong điều kiện cho phép chỉ xác định được thực trạng nhiễm asen qua test thử (bán định lượng) Từ đó, tiến hành thử nghiệm và xây dựng biện pháp giảm thiểu asen trong nước với mục đích đơn giản,
dễ thực hiện ở cộng đồng
- Bệnh liên quan đến nước Chúng tôi điều tra tỷ lệ hiện mắc một số bệnh cấp tính có liên quan Bệnh có liên quan đến ô nhiễm asen, chúng tôi chưa có điều kiện nghiên cứu do thời gian không cho phép
Trang 13CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Tầm quan trọng của nước và chất lượng nước
1.1.1 Tầm quan trọng và sự tiêu thụ nước
Nước cần thiết để duy trì sự sống của con người và sinh vật Theo Học thuyết Đac-Uyn, cuộc sống của sinh vật bắt nguồn từ nước Người ta có thể nhịn
ăn (tuyệt thực) nhiều ngày, nhưng không thể nhịn uống (ngừng uống nước) quá một ngày Nước là thành phần tham gia cấu tạo cơ thể và tham gia vào các quá trình chuyển hoá, phản ứng sinh hoá trong cơ thể Tuy nhiên, nước cũng là yếu tố trung gian của các bệnh truyền nhiễm lây truyền theo đường tiêu hoá và là môi trường hoà tan các chất độc từ nước thải công nghiệp, hoá chất bảo vệ thực vật, chất phóng xạ [9], [15], [142]
Nước là thành phần chủ yếu của hệ sinh thái, là nhu cầu cơ bản của mọi sự sống trên trái đất và cần thiết cho các hoạt động kinh tế-xã hội của loài người Cùng với các dạng tài nguyên thiên nhiên khác, tài nguyên nước là một trong bốn nguồn lực cơ bản để phát triển kinh tế-xã hội, là đối tượng lao động và là một yếu
tố cấu thành lực lượng sản xuất [9]
Luật môi trường nước ta được Quốc hội thông qua tháng 12/1993 đã nêu:
“Môi trường, bao gồm yêu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau bao quanh con người có ảnh hưởng tới đời sôhg, sản xuất, sự tồn tại phát triển của con người và thiên nhiên" [10]
Nước là tài nguyên có thể tái tạo lại được, sau một thời gian nhất định được dùng lại Trong cơ thể sống, nước chiếm tỷ lệ lớn: 70% khối lượng cơ thể người trưởng thành Nước tác động trực tiếp đến thạch quyển, khí quyển dẫn tới sự biến đổi khí hậu, thời tiết [15]
Trang 14Tài nguyên nước trên trái đất là khổng lồ, song lượng nước ngọt cho phép con người sử dụng chỉ chiếm một phần rất nhỏ Hơn nữa sự phân bố các nguồn nước ngọt lại không đều theo không gian và theo thời gian, điều đó càng khiến cho nước trở thành một tài nguyên đặc biệt cần phải được bảo vệ và sử dụng hợp lý [12], [9], [64] Nguồn tài nguyên nước ngầm ở Việt Nam khá dồi dào với tổng trữ lượng khai thác của nước ta ước lượng dự trữ khoảng 60 tỷ m3/năm [146]
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã khuyến cáo việc lựa chọn và bảo vệ nguồn nước là vấn đề quan trọng hàng đầu trong việc cung cấp nước hợp vệ sinh Bảo vệ nguồn nước luôn tốt hơn là phải xử lý khi bị ô nhiễm Khi thêm được một nguồn nước sạch là bớt đi mười giường bệnh Uớc tính số với nước/1000 dân là một chỉ tiêu quan trọng hơn chỉ tiêu số giường bệnh [144]
Cung cấp nước an toàn và hiệu quả có thể cứu được hàng triệu người thoát khỏi các bệnh nguy hiểm mạn tính và cấp tính có liên quan đến nước Theo WHO, nếu cải thiện được cả chất lượng và số lượng nước thì sẽ giảm được 37% các bệnh trên [142], [145]
Nước cần thiết để duy trì sự sống Việc cung cấp nước phải thoả mãn nhu cầu của người sử dụng Mọi sự cố gắng phải tiến đến mục đích chất lượng nước uống cao và mang tính chất khả thi Việc cấp nước an toàn về chất lượng có một ý nghĩa quan trọng, làm giảm đi 50% số tử vong của trẻ em và giảm đi 25% các trường hợp tiêu chảy [27]
Ngày nay, mọi người đều hiểu rằng nước là nguồn tài nguyên thiên nhiên cơ bản và quý giá nhất Hàng loạt tài liệu khoa học công bố trong nhiều thế kỷ qua trên Thế giới đã nói lên điều đó Một số người cho rằng, nước trong thế kỷ XXI sẽ quý như dầu mỏ trong thế kỷ XX, nói như vậy không sai nhưng chưa phải hoàn toàn đúng, vì dầu mỏ chỉ tác động chủ yếu về mặt năng lượng, còn nước thì tác động đến mọi mặt của cuộc sống vật chất và tinh thần của con người
Trang 15Tài nguyên nước Việt Nam khá phong phú Về nước mặt, trung bình lãnh thổ Việt Nam nhận được khoảng 310 tỷ m3 Nước ngầm của Việt Nam khá lớn: 1513.445m3/s nhưng nguồn phân bố không đều trong các vùng địa chất thủy văn Tổng trữ lượng có tiềm năng khai thác được ước tính gần 2000m3/s, tương ứng khoảng 60 tỷ m3/năm Trữ lượng này thay đổi nhiều theo các vùng, dồi dào nhất là vùng đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông Cửu Long, Đông Nam Bộ, khá nhiều
ở Tây Nguyên và ở các vùng núi Tây Bắc, Đông Bắc, vùng Duyên Hải Bắc, Nam Trung Bộ thì ít hơn [36] Theo kết quả điều tra, khảo sát và nghiên cứu đến năm
1999, lượng nước ngầm đã khai thác được mới chỉ đạt 5% tổng trữ lượng Trong những năm tới, lượng khai thác có thể lên tới khoảng 12 tỷ m3/năm So sánh với thế giới thì trữ lượng nước ngầm của nước ta vào loại trung bình [39]
Tuy nhiên, nguồn nước phân bố không đều theo cả thời gian và không gian Một số vùng rất khan hiếm nước, nguyên nhân chủ yếu là: sử dụng ngày càng nhiều nước mặt để tưới ruộng, nạn phá rừng ảnh hưởng nghiêm trọng tới các nguồn nước, nước ngầm chứa nhiều sắt, mangan nên phải xử lý tốn kém, các vùng đồng bằng và vùng ven biển tương đối rộng lớn thì nguồn nước bị nhiễm mặn, sự ô nhiễm nguồn nước ngầm và nước mặt ngày càng tăng do chất thải công nghiệp và sinh hoạt [16]
Ở nước ta, tiêu chuẩn cấp nước mới đạt 50-60 lít/người/ngày, chỉ gần 1/2 dân số đô thị và 32% dân số nông thôn được cấp nước Trong đó sử dụng nước giếng khoan, giếng đào, nước sông ngòi không qua xử lý khoảng 28%, nước mưa 10%, còn lại là các nguồn khác [9] Nghiên cứu về chất lượng nước sinh hoạt nông thôn, Cục Y tế dự phòng cho biết, nhiều hộ nông thôn ở một số địa phương sử dụng hai nguồn nước, một nguồn để ăn uống thường là nước mưa [27] Hơn 50%
số hộ nông thôn dùng nước giếng đào; 25% dùng nước sông suối, ao hồ và hơn 10% dùng nước mưa nước giếng khoan và rất ít hộ được cấp nước bằng hệ thống đường ống [16] Một nghiên cứu về mô hình nước sạch ở vùng núi Tây Bắc cho biết, thực trạng sử dụng nước giếng khoan mới chiếm 6,7% [80]
Trang 16Mục tiêu đến năm 2010, 85% dân số nông thôn sử dụng nước hợp vệ sinh với số lượng 60lít/người/ngày, mục tiêu đến năm 2020 là tất cả dân cư nông thôn Việt Nam sử dụng nước sạch đạt tiêu chuẩn chất lượng Quốc gia với số lượng tối thiểu 601ít/người/ngày [16], [62]
Theo thống kê mới nhất [16], cấp nước và vệ sinh môi trường, tính đến năm 2003, trung bình cả nước có đến 54% dân số vùng nông thôn được cung cấp nước sạch Trong đó 32 tỉnh đạt tỷ lệ dân số nông thôn được sử dụng nước sạch
từ 54% trở lên, điển hình là Bà Rịa-Vũng Tàu (86%), Bình Dương (78%), Trà Vinh (75%), Tiền Giang (71%), Hà Nội (71%), Hưng Yên (66%) Theo báo cáo của Trung tâm Nước sạch và VSMT nông thôn (CERWASS) cho biết đến hết năm 2004 có 34.734.000 người dân nông thôn được hưởng nước sạch, chiếm tỷ lệ 58% Trong đó vùng đồng bằng có 8.489.000 số dân nông thôn (61 %) được hưởng nước sạch
Nhân loại đang đứng trước những triển vọng phát triển to lớn do tiến bộ khoa học và công nghệ mang lại, mặt khác lại phải đương đầu với những vấn đề vô cùng gay cấn về tài nguyên thiên nhiên và môi trường Thiếu nước ngọt là một trong những vấn đề gay cấn nhất Liên Hiệp Quốc đã nhận định rằng: Trên thế giới thường xuyên có khoảng 2 tỷ người đang khát, trong khoảng thời gian 8 phút lại có
1 bé chết vì các bệnh liên quan đến nước Có dự báo rằng, đến năm 2020 khoảng 40% nhân loại sẽ phải sống trong những vùng thiếu nước
Những tài liệu nghiên cứu gần đây đã đưa ra những yêu cầu cao hơn về dùng nước ở Việt Nam Dự báo, nếu so với năm 2000, thì năm 2010 sử dụng nước tăng lên 14%, năm 2020 tăng 25%, năm 2030 là 30% và cũng dự đoán đến năm 2010 số người dân được dùng nước sạch là 95%
Khó khăn về tài nguyên nước ở Việt Nam là 2/3 tổng lượng nước mặt của Việt Nam phụ thuộc vào nước ngoài, bởi vì 63% tổng lượng dòng chảy nước mặt trên lãnh thổ Việt Nam là từ các nước láng giềng như Trung Quốc, Thái Lan,
Trang 17Mianma, Lào và Cămpuchia Ở nước ta, tài nguyên nước phân bố không đều theo không gian và thời gian Nhiều thiên tai gắn liền với nước Đặc biệt, chất lượng nước ngầm đang giảm sút tại nhiều nơi Một khó khăn nữa là nhu cầu về nước đang tăng nhanh [39]
1.1.2 Một số chỉ tiêu cơ bản đánh giá chất lượng nước
Chất lượng môi trường nước tự nhiên được xác định bởi nhiều thông số lý, hoá và sinh học Căn cứ vào các trị số của chúng, người ta đánh giá bằng cách đo
và so sánh với nồng độ giới hạn cho phép [65], [75]
1.1.2.1 Các chỉ tiêu cảm quan và thành phần vô cơ
Cung cấp nước uống không chỉ đảm bảo chất lượng an toàn mà còn phải coi trọng hình thức bề ngoài, mùi và vị của nước- chỉ tiêu cảm quan Cấp nước có chỉ tiêu cảm quan không thích hợp sẽ dẫn đến mất lòng tin ở người tiêu thụ, họ sẽ có ý thức phản kháng và có thể đi đến tìm nguồn nước khác ít an toàn hơn để sử dụng Nồng độ các chất gây cảm giác khó chịu cho người tiêu thụ phụ thuộc vào bản chất của chất đó và tuỳ thuộc vào cảm giác từng người, từng địa phương [12], [15]
Các chỉ tiêu lý học đó là: Màu sắc, mùi, vị, nhiệt độ, độ trong
• Chất hữu cơ: Sự có mặt của các chất hữu cơ trong các nguồn nước thiên
nhiên và các nguồn nước sinh hoạt là do: Chất thải của con người và động vật, chất thải công nghiệp và sự thối rữa, phân huỷ của các sinh vật Sự tồn tại của chất hữu
cơ trong nước là môi trường thuận lợi cho vi sinh vật tồn tại, phát triển Thành phần của chất hữu cơ chủ yếu là: C, H, O, N, S, Trong nguồn nước bị ô nhiễm nếu đủ ôxy, chất hữu cơ sẽ được phân huỷ đến cùng thành các sản phẩm: H20, C02, N02, N03, S04, PO4, Còn khi nước bị ô nhiễm nặng (thiếu ôxy), chất hữu cơ không được phân huỷ hoàn toàn tạo ra các sản phẩm khí: H2S, CH4, NH3, Làm thay đổi màu sắc của nước và nước có mùi hôi thối Thành phần chất hữu cơ rất phức tạp, nên thực tế người ta không xác định trực tiếp các chất này, mà dùng phương pháp định lượng gián tiếp qua lượng ôxy sử dụng để ôxy hoá chất hữu cơ
Trang 18trong nước Độ ôxy hoá là tổng số các chất hữu cơ trong nước có thể bị ôxy hoá bởi các chất ôxy hoá (Total Organic Cacbon) Độ ôxy hoá được dùng như một chỉ tiêu cơ bản để đánh giá chất lượng nước Sự có mặt của chất hữu cơ trong nước đánh giá mức độ nhiễm bẩn của nước Chất hữu cơ càng nhiều, mức độ ô nhiễm càng cao và nước càng sẫm màu [64], [66]
• Amoni (amoniac): Thuật ngữ Amoni bao gồm cả hai dạng là dạng không
ion hoá (NH3) và dạng ion hoá (NH4+) Amoni có mặt trong môi trường là do các quá trình chuyển hoá, nông nghiệp, công nghiệp và từ sự khử trùng nước bằng cloramin Amoni trong nguồn nước ngầm và nước bề mặt thường khác nhau Việc chăn nuôi gia súc có thể làm tăng chất này trong nước bề mặt Amoni trong nước không phải là nguyên nhân trực tiếp ảnh hưởng đến sức khoẻ nên không có hướng dẫn dựa trên cơ sở sức khoẻ Tuy vậy, Amoni làm hại cho quá trình khử trùng nước, nó tạo ra nitrit trong hệ thống phân phối, làm hại quá trình tách loại mangan
và tạo ra mùi Amoni thực ra không quá độc đối với cơ thể người Nhưng trong quá trình khai thác, xử lý và lưu trữ nước nó chuyển hoá thành nitrit và nitrat Nitrit là chất độc rất có hại cho cơ thể nên khi người uống phải, nó sẽ chuyển thành nitrosamin, một chất có tiềm năng gây ung thư Các nghiên cứu cho thấy, lg amoni khi chuyển hoá sẽ tạo thành 2,7g nitrit và 3,65g nitrat [91], [92]
• Nitrat và nitrit (NO3, N02): là những ion xuất hiện tự nhiên, là một phân tử trong chu trình chuyển hoá nitơ Lượng nitrat tự nhiên trong nước bề mặt và nước ngầm chỉ vài mg/1 Nồng độ chất này có thể tăng lên do thâm canh Ở một vài Quốc gia, có đến 10% dân số sử dụng nguồn nước uống bị nhiễm nitrat ở nồng độ trên 50mg/l
Thực nghiệm cho thấy rằng, cả nitrat và nitrit không phải là chất trực tiếp gây ung thư trên động vật thí nghiệm Tuy nhiên, có điểm đáng ngại là nguy cơ gây ung thư trên người do các hợp chất N- nitroso nội sinh hoặc ngoại sinh mà đa số
Trang 19các hợp chất này đã biết là gây ung thư cho động vật Những nghiên cứu về dịch tễ học sinh thái và sự liên quan về địa lý đã cho đủ bằng chứng về sự liên quan giữa chế độ ăn uống có nitrat và bệnh ung thư, tuy nhiên kết quả này không được khẳng định trong các nghiên cứu về dịch tễ học phân tích sau đó Vì vậy, tiêu chuẩn nitrat trong nước uống được thiết lập chỉ là để phòng bệnh mất huyết sắc tố máu (Methaemoglobinaemia) [92]
• Iron (sắt, Fe) là một trong những kim loại có nhiều trong vỏ trái đất Nồng
độ của nó trong nước thiên nhiên có thể từ 0,5-5mg/l Sắt có thể còn hiện diện trong nước uống do quá trình keo tụ hoá học bằng hợp chất của sắt hoặc do sự ăn mòn đường ống dẫn nước trong hệ thống phân phối [14]
• Sodium (Natri, Na): Thực tế các muối của natri (natri clorua) có mặt trong
tất cả các thực phẩm và nước uống Không có kết luận khẳng định khả năng liên quan giữa natri trong nước uống và bệnh tật, vì vậy không có giá trị hướng dẫn về sức khoẻ cho natri trong nước uống Tuy nhiên, khi nồng độ natri vượt quá 200mg/l có thể làm tăng vị khó uống của nước [15], [92]
• Fluoride (Florua, F ): Florua chiếm tỷ lệ 0,3g/kg vỏ trái đất Các hợp
chất vô cơ của florua được dùng trong sản xuất nhôm Sự thâm nhiễm florua xảy ra trong các quá trình công nghiệp và sử dụng phân bón phosphat (phân phosphat có chứa đến 4% florua) Sự phơi nhiễm florua do nước uống tuỳ thuộc rất nhiều vào điều kiện thiên nhiên Nồng độ florua trong nước thô thường dưới 1,5 mg/l, nhưng nước ngầm ở những vùng có nhiều chất khoáng chứa florua có thể nồng độ florua khoảng 10mg/l Không có chứng cứ nào để xem xét lại giá trị hướng dẫn florua đã được đề nghị năm 1984 là l,5mg/l Nồng
độ cao hơn mức này sẽ tăng nguy cơ bị nhiễm florua ở răng và nếu cao hơn nữa
sẽ bị nhiễm ở xương [15]
• Manganese (Mangan, Mil) là một trong những kim loại có nhiều trong vỏ
trái đất, nó thường xuyên xuất hiện với sắt Nước ngầm và nước bể mặt nghèo ôxy
Trang 20có thể có chứa mangan hoà tan với nồng độ lên tới vài miligam trong 1 lít, khi tiếp xúc với ôxy, mangan sẽ trở thành các dạng ôxit không tan và tạo thành cặn lắng vì vậy làm cho nước trong hệ thống phân phối có mầu
Người ta ghi nhận được những chứng cứ về tính nhiễm độc thần kinh ở công nhân mỏ do tiếp xúc lâu dài với bụi có chứa mangan Không có bằng chứng thuyết phục về độc tính của mangan trên người theo đường uống, tuy vậy số lượng nghiên cứu về vấn đề này còn ít
Lượng mangan xâm nhập vào cơ thể lên đến 20mg mỗi ngày mà không có tác động xấu Với lượng tiếp nhận là 12mg/ngày thì một người nặng 60kg sẽ nhận 0,2mg mangan/kg trọng thể/ ngày Lấy tỷ phần mangan do nước uống là 20% và chọn hệ số bất định bằng 3 do tính sẵn sàng sinh học có thể được tăng lên của mangan trong nước uống, người ta tính được giá trị là 0,4mg/l Những nghiên cứu trên động vật thí nghiệm được cho uống nước có mangan cho thấy sự nhiễm độc thần kinh và những tác động độc hại khác [14], [92]
• Asen (Arsenic, As) Asen phân bố rộng rãi trong vỏ quả đất và được sử
dụng trong thương trường, trước hết để làm tác nhân hợp kim hoá Asen thâm nhiễm vào nước từ các công đoạn hoà tan trong các chất và quặng mỏ, từ nước thải công nghiệp và từ sự lắng đọng không khí Ở một vài nơi, đôi khi asen xuất hiện trong nước ngầm do sự ăn mòn các nguồn khoáng vật thiên nhiên Lượng hấp thu asen vô cơ trung bình hàng ngày từ nước tương đương với lượng thực phẩm, lượng hấp thu từ không khí không đáng kể
Từ lâu, asen vô cơ được xem là chất gây ung thư cho người và đã được IARC xếp vào nhóm 1 Tỷ lệ mắc ung thư da tương đối cao và có thể các ung thư khác gia tăng theo liều lượng asen và tuổi đời đã được ghi nhận ở các cụm dân cư uống nước có nồng độ asen cao
Asen không thể hiện đặc tính gây ung thư trong những thử nghiệm sinh học hạn định ở các loại động vật có sẵn, nhưng nó cho kết quả dương tính trong những nghiên cứu được nhằm đánh giá khả năng tăng trưởng khối u Asen là chất cũng
Trang 21không gây biểu hiện đột biến gene ở vi khuẩn và động vật có vú, mặc dù nó có làm rối loạn nhiễm sắc thể trong một số loại tế bào được nuôi cấy, bao gồm cả tế bào con người
Dữ liệu về sự tương quan giữa các bệnh ung thư và sự tiêu hoá asen có trong nước uống đã không đầy đủ để có thể định lượng nguy cơ Thay vì dựa vào tài liệu chứng minh tính gây ung thư cho những quần thể dân cư do sự có mặt asen trong nước uống, nguy cơ mắc ung thư da trong một đời người đã được lượng định bằng
mô tả hình đa bậc Dựa trên những ghi nhận từ một quần thể dân cư uống nước bị nhiễm asen, người ta tính được nồng độ asen tương ứng với mức nguy cơ mắc ung thư da trong một vòng đời vượt 10-5
là 0,17µg/lít Tuy vậy, giá trị này có thể cao hơn nguy cơ gây ung thư trong thực tế bởi vì có thể có những yếu tố khác tham gia vào nguyên nhân gây bệnh và vì những biến đổi trong sự trao đổi chất có thể phụ thuộc vào liều hấp thụ khiến cho ta không thể theo dõi được Những triệu chứng của bệnh do nhiễm asen phải từ 5-15 năm sau mới xuất hiện Việc nhiễm asen qua đường tiêu hoá có thể gây tác hại tới đường tiêu hoá, tim, hệ thống mạch và hệ thống thần kinh trung ương Hàm lượng asen tối đa cho phép trong nước uống là 0,05mg/l [20], [100], [1], [114]
1.1.2.2 Các chỉ tiêu vi sinh vật
Các tác nhân gây bệnh có vài đặc tính khác với các hoá chất ô nhiễm như sau:
- Các tác nhân gây bệnh tồn tại riêng biệt và không hoà tan
- Chúng thường tụ tập và kết bám vào các chất rắn huyền phù trong nước cho nên có thể tạo thành liều có thể gây nhiễm không thể dự đoán được nếu dựa trên nồng độ trung bình của chúng trong nước
- Khả năng gây bệnh phụ thuộc vào sự xâm nhập và độc lực của tác nhân gây bệnh cũng như khả năng miễn dịch của từng cá thể
- Các tác nhân gây bệnh tăng sinh trong cơ thể sau khi gây nhiễm Một số cũng có thể tăng sinh trong thực phẩm và đồ uống
Trang 22- Tác động của tác nhân gây bệnh không mang tính chất tích trữ
Chính vì những đặc tính trên mà đối với các tác nhân gây bệnh không thể có mức thấp hơn có thể chịu đựng được, nước chuẩn bị cho nước uống, chuẩn bị thức
ăn, vệ sinh cá nhân phải không có tác nhân gây bệnh cho người
Các vi sinh vật, chỉ điểm vệ sinh về chất lượng nước thường được chọn là các vi sinh vật chỉ điểm cho ô nhiễm phân, các vi sinh vật này phải đáp ứng tiêu chuẩn sau: Có mặt với số lượng lớn, phổ biến trong phân người và động vật máu nóng; phương pháp xác định phải nhanh chóng và đơn giản; chúng không sinh sản trong nước thiên nhiên Các vi sinh vật được chọn làm chỉ điểm cho ô nhiễm phân
là: Escherichia coli, Coliform chịu nhiệt, liên cầu phân, Clostridium Tuy nhiên
không có một vi sinh vật nào có thể thoả mãn đầy đủ các tiêu chuẩn trên, trong các
vi sinh vật nêu trên chỉ có Escherichia coli là tương đối đáp ứng nhiều tiêu chuẩn
trên nhất [18], [92]
• Escherichia coli là thành viên của họ vi khuẩn đường ruột Phát triển ở
nhiệt độ thích hợp nhất là 44°C-45°C trên môi trường tổng hợp, lên men lactose, manidol, sinh hơi và sinh axit, sinh indol từ triptophan Một số chủng có thể phát triển ở nhiệt độ 37°c và một số chủng không sinh hơi Phản ứng oxydase và ureaza
âm tính Escherichia coli có nhiều trong phân người và động vật với nồng độ có
thể 107-109/g phân Có thể tìm thấy Escherichia coli trong nước thải sinh hoạt, nước thiên nhiên, đất [92]
• Coliform chịu nhiệt: Coliform chịu nhiệt được định nghĩa là nhóm vi khuẩn Coliform có khả năng lên men đường lactosae ở nhiệt độ 44°C-45°C Chúng bao gồm giống Escherichia coli, một số loài Klepsiella, Enterobacter Ngoài Escherichia coli, các coliform chịu nhiệt khác cũng có thể có nguồn gốc từ các
nguồn nước giàu chất hữu cơ như nước thải công nghiệp, đất hoặc xác thực vật
phân huỷ
Có phương pháp xác định nhanh Conform nên có thể sử dụng chúng để đánh
giá chất lượng nước như một biện pháp thường xuyên hàng ngày Mặt khác,
Trang 23Coliform chịu nhiệt có phương pháp xác định nhanh nên chúng còn có vai trò thứ 2
quan trọng là được sử dụng để đánh giá hiệu quả của công tác xử lý nước về mặt vi sinh vật [92], [103]
• Tổng số Coliform Từ lâu, các Coliform đã được nhìn nhận như là một chỉ
điểm vi sinh vật thích hợp cho chất lượng vi sinh vật, thích hợp cho chất lượng nước uống một cách rộng rãi vì đã có phương pháp xác định và định lượng chúng
dễ dàng Các coliform bao gồm các vi khuẩn gram âm, hình que có khả năng phát
triển trên môi trường muối mật hoặc các chất có hoạt chất bề mặt khác có đặc tính
ức chế phát triển cũng như muối mật Có khả năng lên men đường lactose ở nhiệt
độ từ 35°C-37°C và sinh acid, sinh hơi, aldehyt trong 24-48 giờ Không tạo nha bào và có phản ứng oxidase âm tính
Coliform không được có trong nước đã được xử lý, vì vậy khi tìm thấy
chúng phải nghĩ rằng công tác xử lý chưa đảm bảo, bị nhiễm sau khi xử lý hoặc
nước còn nhiều chất dinh dưỡng Như vậy, qua kết quả xét nghiệm Coliform chúng
ta có thể đánh giá được hiệu quả của các biện pháp xử lý cũng như khả năng rò rỉ
của hệ thống phân phối Mặc dù không phải Coliform luôn luôn liên quan đến ô
nhiễm phân hoặc sự hiện diện của tác nhân gây bệnh trong nước uống, vẫn có thể
sử dụng kết quả xét nghiệm chúng để theo dõi chất lượng nước máy về phương diện vi sinh học Nếu có sự nghi ngờ, đặc biệt là trong trường hợp tìm thấy
Coliform, nhưng không thấy các Coliform chịu nhiệt, Escheirichia coli thì phải xác
định loài và xét nghiệm các vi sinh vật chỉ điểm khác để tìm ra bản chất của sự ô nhiễm Thanh tra vệ sinh cần được thực hiện trong trường hợp này Tiêu chuẩn cho phép 50 khuẩn lạc/100ml [14], [92]
• Clostridium khử sunfit Đây là những vi khuẩn kỵ khí có nha bào, mà
trong đó Clostridium perfringens (Clostridium welchii) là đại biểu đặc trưng nhất,
bình thường có mặt trong phân với số lượng nhỏ hơn nhiều so với E coli Tuy nhiên, loại vi khuẩn này không phải chỉ có nguồn gốc từ phân, mà còn có từ các
nguồn gốc khác trong môi trường Clostridium perfringens tồn lại trong nước lâu
Trang 24hơn so với Coliform và chúng có khả năng đề kháng các hoá chất khử trùng Sự có
mặt của vi khuẩn này trong nước đã được xử lý nói lên rằng, nước chưa được xử
lý an toàn và các tác nhân gây bệnh kháng hoá chất khử trùng, đòi hỏi phải có biện pháp xử lý thêm Đặc biệt sự có mặt của nó trong nước xử lý cho biết trên thực tế, quá trình lọc hoạt động không hiệu quả Vì có thời gian tồn tại lâu dài trong nước nên chúng được coi là chỉ điểm sự ô nhiễm đã lâu [92]
1.1.3 Thực trạng cung cấp và chất lượng nước ở một số vùng tại Việt Nam và trên thế giới
Việt Nam là một nước đang phát triển, trên 80% dân số làm nông nghiệp nên việc cung cấp nước sạch gặp nhiều khó khăn Tính đến những năm 90, có khoảng 60% dân số nông thôn được cấp nước giếng các loại, trong đó khoảng 5 triệu người được dùng nước giếng khoan Theo Tổ chức Y tế Thế giới và Quỹ nhi đồng Liên Hiệp Quốc (UNICEF), tình hình cấp nước sạch và vệ sinh môi trường của Việt Nam so với một số nước khu vực Châu Á-Thái Bình Dương, dân số được tiếp cận với nguồn nước sạch ở nước ta thuộc tỷ lệ thấp nhất (24,5%), tương đương với Mianma [16]
Năm 1993, tình hình cấp nước đô thị đã đảm bảo số lượng, người dân đô thị Việt Nam đã được cấp nước bình quân 50 1/người/ngày, một số thành phố lớn như thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh được cấp với số lượng khá hơn [11], [61] Năm 1998, có 32% dân số nông thôn được hưởng nước sạch, trong đó vùng đồng bằng sông Hồng có 5.625.000 người dân (38%) được hưởng nước sạch Tỉnh Khánh Hoà, năm 1999 chỉ có 222.785 người dân nông thôn được tiếp cận với nước sạch chiếm tỷ lệ 3,7% đến năm 2003 con số này là 52,6% [60], ở một số xã thuộc miền Trung, nguồn nước chính được người dân sử dụng trong ăn uống và sinh hoạt
là giếng khơi (66,5%), sau đó đến giếng khoan (22,5%) [87] Tính đến năm 2005,
số dân cư nông thôn được cấp nước sạch khoảng 40 triệu người, đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 4,3%/năm [134]
Trang 25Kết quả nghiên cứu về thực trạng cung cấp nước của một số xã huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên, Trần Thị Thanh Phương cho biết, người dân chủ yếu sử dụng nước giếng đào (94%), trong đó 53% số giếng hợp vệ sinh, còn lại là giếng khoan và máng lần [72] Nguồn nước sử dụng chủ yếu trong ăn uống và sinh hoạt của người dân xã Long Biên huyện Gia Lâm thành phố Hà Nội chủ yếu là giếng khoan (94%) [47], một số xã huyện Thanh Oai tỉnh Hà Tây, tỷ lệ hộ sử dụng giếng khoan là 66-76%, giếng khơi 10-17% [107] Ở Hải Phòng, có tỷ lệ hộ sử dụng nước giếng khoan là 82,4%, tỷ lệ hộ sử dụng nước mưa là 88,6% [43] Làng nghề tỉnh Hưng Yên, nguồn nước được người dân sử dụng cho ăn uống và sinh hoạt như sau: Nước giếng khoan đạt 89-94%, nước mưa: 6-11% [63] Ở các tỉnh Tây Nguyên đã giải quyết cấp nước cho 1.397 triệu người, chiếm tỷ lệ 45% dân số nông thôn toàn khu vực Nếu so với cả nước, Tây Nguyên vẫn là vùng có tỷ lệ dân cư nông thôn được cấp nước sạch thấp hơn so với các khu vực khác [24] Nghiên cứu của Phạm Thị Minh Tâm, năm 2002 cho biết, nguồn nước sử dụng chính của người dân ở một
số xã tỉnh Ninh Bình là: Giếng khơi từ 7-11%, giếng khoan từ 34-49% [79] Một nghiên cứu của tác giả khác cho biết, ở hai xã huyện Chợ Đồn tỉnh Bắc Cạn, người dân sử dụng nước giếng là 41,7%, còn tới trên 50% sử dụng nước máng lần [74] Tỷ
lệ hộ sử dụng giếng xây ở tỉnh B́nh Thuận là 23,9%, Ninh Thuận là 5,4%, có 43% số
hộ ở Ninh Thuận và 65% số hộ B́nh Thuận bị khan hiếm nước [98] Viện YHLĐ
&VSMT cho biết, nguồn nước sử dụng ăn uống sinh hoạt tại huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương: Giếng khơi: 39%, giếng khoan: 57% [102]
Thái Bình là một tỉnh 90% dân số sống bằng nghề nông, theo thống kê đến năm 2002, Thái Bình đã đạt tỷ lệ 70% dân số được cấp nước sạch Mục tiêu cấp nước sinh hoạt nông thôn Thái Bình đến năm 2003 là 55% dân số nông thôn, tương ứng 905.500 người có đủ nước sạch để dùng trong sinh hoạt hàng ngày, với tiêu chuẩn tối thiểu 601/người/ngày, mỗi năm cần đảm bảo tăng 3% dân số nông thôn, ứng với 50.000 người Trong 10 năm từ 1994-2003, các công trình cấp nước truyền
Trang 26thống là những nguồn nước chính phục vụ cho đời sống, sinh hoạt của người dân như sau: Giếng khoan là 91.200 giếng cung cấp cho 364 000 người, giếng khơi là 10.260 giếng cung cấp cho 30.780 người và chắc hẳn con số hiện nay còn lớn hơn rất nhiều [31], [69] Tỷ lệ hộ gia đình ở Thái Bình sử dụng nguồn nước chính trong sinh hoạt: Giếng khơi là 47,2%, giếng khoan là 43,7%, tất cả các nguồn nước có nguy cơ bị ô nhiễm, không đạt tiêu chuẩn về chỉ tiêu coliform [46]
Nghiên cứu của Desmarchelier và cộng sự về các mẫu nước của các hộ gia
đình nông thôn ở Malaysia cho thấy, Coliform và Feacal coliform là một dự báo
tốt về sự ô nhiễm phân vào các nguồn nước [119]
Các tác giả khi nghiên cứu về sức khoẻ và mô hình bệnh tật của người dân ở một số vùng trọng điểm cho thấy, vấn đề nước và vệ sinh môi trường còn nhiều bất cập: Tỷ lệ hộ gia đình sử dụng giếng khoan còn ít, chất lượng không đảm bảo, 30-40% hộ gia đình sử dụng nước giếng khơi và chất lượng vệ sinh chưa đảm bảo, do lọc chưa tốt và trong sử dụng bảo quản còn gây ô nhiễm [5]
Tại các nước đang phát triển ở khu vực Tây Thái Bình Dương, qua thập kỷ nước sạch đã có thêm 88 triệu dân đô thị và 301 triệu dân nông thôn được cấp nước sạch Như vậy số dân được cấp nước sạch tăng từ 10-100% [143]
Nước sạch đã trở thành mối quan tâm hàng đầu của nhân loại, đòi hỏi bức xúc của mỗi Quốc gia, chính vì vậy, Liên hiệp quốc đã chọn năm 2003 là “Năm quốc tế về nước ngọt” Nhân ngày môi trường thế giới, Tổng thư ký Liên hiệp quốc
đã ra thông điệp trong đó có đề cập đến chất lượng nước: Cứ 6 người có 1 người thường xuyên không có nguồn nước an toàn
Một số chuyên gia về nước sạch và VSMT cho biết, cứ 1m3 nước bị ô nhiễm
sẽ làm cho 50-60 m3 nước ngọt khác không sử dụng được Trên thế giới hiện nay, mỗi năm có tới 5.000 km3 nước bị ô nhiễm phát thái vào các nguồn nước tự nhiên, chính điều đó, làm cho 2 tỷ người thiếu nước ngọt hợp vệ sinh [32]
Trang 27Nước cần thiết cho đời sống và nhu cầu sinh lý của cơ thể, vì vậy nguồn nước cấp cho ăn uống và sinh hoạt phải đảm bảo về số lượng và chất lượng Khi nhận xét
về chất lượng nước ở Huế, Nguyễn Thị Ái và cộng sự cho thấy, chất lượng nước bề mặt của sông Hương có thể hiện sự ô nhiễm [3], Khi phân tích 20 điểm của 18 con sông ở Kanagawa (Nhật Bản) từ những năm 1987- 1995 cho thấy 64,7% số mẫu nước
bị nhiễm Vibrio cholera, 98% mẫu nước xét nghiệm ở sông Cama (Nga) có chỉ số E
co li là 102-104vk/100ml [6]
Các công trình nghiên cứu của một số tác giả về chất lượng và triển vọng nguồn nước dùng cho ăn uống sinh hoạt ở một số tỉnh phía Bắc cho thấy, với hai loại nguồn nước bề mặt: Nước sông Hồng có chỉ số vi khuẩn, hàm lượng cặn mùa mưa rất lớn, các chỉ số khác như ôxy hoá, clorua đều thấp và rất thấp, với nước giếng nông (giếng khơi) đáng lẽ sạch hơn, nhưng chỉ số vi sinh đều vượt quá giới hạn tiêu chuẩn quy định rất nhiều lần, các chỉ số như ôxy hoá, clorua đều cao hơn nước sông Tại vùng đồng bằng ven biển, hàm lượng sắt rất cao, sự nhiễm mặn tăng dần một cách đáng kể Về chất lượng nguồn nước ngầm sâu ở một số tỉnh miền Bắc, từ phạm vi nhỏ do Tổng cục khai hoang quản lý, nội dung cấp nước nông thôn đã trở thành một chương trình lớn do UNICEF tài trợ và Bộ Lao động-Thương binh Xã hội quản lý, đang được phát triển ở nhiều tỉnh thành trong cả nước Chất lượng các nguồn nước giếng khoan được đánh giá là nguồn nước tốt,
nếu được khai thác tốt hơn Một nghiên cứu khác, khi đánh giá về mức độ nhiễm Feacal coliform ở 217 mẫu nước giếng khoan thì có tới 35% số mẫu có số lượng Feacal coliform trên 2 vk/100ml [7], [56], [57] Tuy nhiên nước ngầm là nguồn nước sinh hoạt
không thể thiếu được của mỗi quốc gia, trên Thế giới có một số nước hoàn toàn sử dụng nguồn nước này cho ăn uống và sinh hoạt như: Đức, Hà Lan, Song nguồn nước ngầm đang có nguy cơ ô nhiễm do việc khai thác bừa bãi, do chất thải bỏ công nghiệp, do việc
đô thị hoá và phát triển nông nghiệp Cơ quan bảo vệ môi trường của Mỹ cũng cho biết 12.000 căn hầm ở Mỹ đã làm ô nhiễm nguồn nước ngầm của nước này mà hiện nay 1/2 dân số Mỹ sử dụng nước ngầm cho sinh hoạt [70], [99]
Trang 28Ở Việt Nam, nước ngầm đạt tiêu chuẩn khá cao Hiện nay, nguồn nước này đang bị ô nhiễm nghiêm trọng bằng những mũi khoan tự do Cơ quan chức năng đã thống kê cho biết, 70% trong số trên 3.500 giếng khoan ở Bình Chánh, 80% trong
số gần 3.000 giếng khoan ở Củ Chi và hơn 90% trong số những giếng khoan ở Long Thới, Nhà Bè không sử dụng được, vì nước bị nhiễm vi khuẩn, phèn và các chất độc hại khác
Tại Hà Nội, Hà Tây, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình, Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình, xác suất các nguồn nước ngầm nhiễm amoni cao hơn tiêu chuẩn khoảng 70-80% Ngoài ra không ít nguồn còn chứa khá nhiều hợp chất hữu cơ Như vậy, tình trạng nhiễm bẩn amoni và hợp chất hữu cơ trong nước ngầm ở đồng bằng Bắc Bộ đã đến mức báo động và khả năng tác động lên sức khoẻ con người là chắc chắn
Tại thị xã Phủ Lý tỉnh Hà Nam, các tác giả nghiên cứu cho biết, hầu hết các mẫu nước xét nghiệm không đạt tiêu chuẩn vệ sinh với cả 3 tiêu chuẩn và bị nhiễm bẩn ở các mức độ khác nhau, nhất là về vi sinh vật [28], [76]
Võ Thị Hồ Vân khi xét nghiệm đánh giá chất lượng nước trong trường Đại học Y Hà Nội, tác giả cho biết các mẫu nước được lấy tại các vị trí khác nhau trong trường có tới 50% số mẫu được xét nghiệm không đạt tiêu chuẩn vệ sinh về
coliform, 94% số mẫu không đạt tiêu chuẩn về Feacal coliform [101] Hiện nay,
nguồn nước chính được sử dụng trong các trường tiểu học thuộc một số tỉnh thành như: Quảng Ngãi, Quảng Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh, Điện Biên và Lai Châu năm
2006 là giếng đào ngay tại trường học với chất lượng khác nhau, chỉ có 35,5% số trường có thể tiếp cận sử dụng nước sạch trong suốt năm học [42]
Một nghiên cứu khác về chất lượng nước vùng trọng điểm Thanh Trì, kết quả như sau: về vi sinh vật 100% số mẫu xét nghiệm của các xã đều vượt quá tiêu chuẩn cho phép, về hoá học, các nguồn nước giếng khoan, giếng khơi không đạt tiêu chuẩn cho phép [41]
Trang 29Khi nghiên cứu về chất lượng nước cấp cho quân đội ở Sư đoàn Bộ binh A, tác giả cho biết, kết quả xét nghiệm vi sinh vật ở nguồn nước giếng như sau:
Feacal coliform ở giếng đào là 900vk/lit, giếng khoan là 63vk/Iit, không tìm thấy Fecal streptococcus [25]
Nghiên cứu về thực trạng vệ sinh môi trường và sức khoẻ ở 2 xã làng nghề huyện Từ Liêm Hà Nội tác giả cho biết, các mẫu nước xét nghiệm trước và sau khi
xử lý bị nhiễm Coliform, amoni [34], Khi nghiên cứu khả năng ảnh hưởng của môi
trường lên sức khoẻ, tác giả cho biết có tới 94% số hộ dùng nước giếng khơi, 5% dùng nước giếng khoan Kết quả xét nghiệm vi sinh vật trong mẫu nước cao hơn tiêu chuẩn cho phép, các xét nghiệm về hoá học chưa thấy gì đặc biệt, điểm nguy
cơ trung bình cho giếng khơi là 0,69, giếng khoan là 0,49 [104]
Chất lượng nước ở 6 xã huyện Văn Chấn tỉnh Yên Bái được tác giả mô tả như sau: Số mẫu đạt tiêu chuẩn lý, hoá học chiếm tỷ lệ 39,9%, số mẫu đạt tiêu chuẩn vi sinh vật là 21,3%, tổng hợp cả 2 tiêu chuẩn trên có số mẫu đạt tiêu chuẩn là 20% Nghiên cứu cũng cho thấy, các nguồn nước bị nhiễm bẩn phần lớn
có khoảng cách đến công trình vệ sinh rất ngắn [58] Khi đánh giá chất lượng nước dùng cho sinh hoạt tại 3 đơn vị quân đội ở Thái Nguyên, trên 30 mẫu giếng khoan và 14 mẫu giếng khơi kết quả cho thấy chất hữu cơ: 2,86 mg0/1, NH3: 0,75 mg/1, N02: 0,04 mg/1, NaCl: 51 mg/1, sắt: 0,36 mg/1 (giếng khoan) Giếng khơi: Chất hữu cơ: 3,6 m0/1, NH3: 1,8 mg/1, N02: 0,12mg/l, NaCl: 71 mg/1, sắt: 0,76 mg/I [81]
Kết quả nghiên cứu về chất lượng nước ăn uống và sinh hoạt của huyện Hồng Ngự tỉnh Đồng Tháp tác giả cho biết, chất lượng các nguồn nước chưa đảm bảo vệ sinh cụ thể nguồn nước giếng khoan: Chất hữu cơ: 18,9+5,lmg0/1, NH3: 3,06+l,29mg/l, NOz: 0,05+0,02mg/l, NaCl: 37,5+2,5mg/l, sắt: l,51+0,07mg/l,
coliform: 928+16vk/100ml, Feacal coliform: 9+1, vi khuẩn kỵ khí: 0vk/10ml (mùa
khô), mùa mưa: Các chỉ số này cao hơn [29] Thực trạng cấp nước, các yếu tố gây ô
Trang 30nhiễm và chất lượng các nguồn nước sử dụng cho ăn uống và sinh hoạt ở 3 huyện thuộc tỉnh Kiên Giang, tác giả cho biết, nguồn nước cấp chính cho người dân trong sinh hoạt hàng ngày ở 3 huyện như sau: Ao hồ: 52,72%, nước mưa: 42,74, nước giếng khoan chiếm tỷ lệ thấp: 4,08 Một số yếu tố nguy cơ gây nhiễm bẩn đối với giếng khoan: Không có hàng rào bảo vệ giếng là 91%, có nước thải ứ đọng trong sân giếng: 51,3%, nguồn nhiễm bẩn trong phạm vi 10m: 3,8% Phần lớn các mẫu nước xét nghiệm đều không đạt tiêu chuẩn lý hoá và vi sinh vật Đặc biệt, kết quả
xét nghiệm Feacal coliform có tới 84,7% số mẫu có trên 10vk/100ml; Clostridium welchii trên 2vk/10ml, chiếm 30,7% số mẫu; số mẫu đạt tiêu chuẩn: N03: 95,7%;
NH4: 95,1%; Fe: 77,8% [48], [49], [50], [52], [53], [54]
Một nghiên cứu về chất lượng nước giếng đào tại thành phố Buôn Ma Thuật năm 2001, các tác giả cho thấy chỉ có 4,4% số mẫu đạt tiêu chuẩn vi sinh vật [73] Nguyễn Minh Tâm và cs khi nghiên cứu chất lượng nước giếng đào tại thị xã Gia Nghĩa tỉnh Đắc Nông, kết quả xét nghiệm 300 mẫu nước có số mẫu không đạt
Coliform: 87,33%, Clostridium welchii: 72,67%, sắt: 20,67%, chất hữu cơ: 28%,
mangan: 5,67%, amoni: 5,67%, nitrit: 5% Các yếu tố chính gây ô nhiễm nguồn nước: Hố xí dưới 10m là 53,67%, nguồn nhiễm bẩn khác là 53%, các yếu tố khác giao động từ 28,33-38,33% Điểm trung bình nguy cơ là 0,39 [78]
Nghiên cứu về chất lượng nước sử dụng cho ăn uống và sinh hoạt ở một số
xã thuộc hai huyện An Hải và Kiến Thuỵ thành phố Hải Phòng, kết quả thu được như sau: Phần lớn các mẫu nước giếng khoan đạt tiêu chuẩn amoni, nitrit, pH, nhưng hàm lượng muối và sắt đều cao, hầu hết các mẫu nước giếng khơi đạt tiêu chuẩn độ trong, pH, chất hữu cơ, amoni, nitrit và hàm lượng muối, sắt vượt quá tiêu chuẩn cho phép [67], [68]
Bùi Hoàng Tụng, Đỗ Lê Vân và cs (2000) tiến hành xét nghiệm 150 mẫu nước giếng khoan, giếng khơi, nước sông ao hồ ở 127 xã thuộc vùng nông thôn ở 3 vùng sinh thái tỉnh Thanh Hoá: Chất hữu cơ đạt 72,2 % (giếng khơi) ở miền núi;
Trang 3137,7% (giếng khơi) ở miền đồng bằng; 33% (giếng khoan), vùng ven biển: 23,3% (giếng khơi), 31% (giếng khoan) [97]
Tìm hiểu về tình hình sử dụng nước và vệ sinh môi trường ở một số vùng đồng bằng sông cửu Long tác giả cho biết, tình hình cung cấp nước sạch tại đây đã tăng rõ rệt từ năm 1986 đến năm 1992 Tại thời điểm 1992 đã có 9 - 12% dân số nông thôn được cấp nước giếng [90]
Khi xét nghiệm 216 mẫu nước về các tiêu chuẩn hoá học và vi sinh vật của giếng khơi và giếng khoan ở thị xã Sầm Sơn tỉnh Thanh Hoá, Phạm Thị Xá và cộng sự cho thấy, tỷ lệ mẫu nước đạt tiêu chuẩn vệ sinh nguồn nước giếng khơi là 4,5% (vi sinh vật) và 32,7% (lý, hóa), nguồn nước giếng khoan tỷ lệ đạt tiêu chuẩn
vệ sinh là 61,4% và 47,3% Một nghiên cứu khác của cùng tác giả, đánh giá chất lượng nước dùng cho ăn uống và sinh hoạt tại tỉnh Thanh Hoá kết quả cho thấy, ở
cả 3 vùng sinh thái (đồng bằng, miền biển và vùng núi) các mẫu nước giếng khơi đạt tiêu chuẩn cho phép 20%, giếng khoan 57,7% [105], [ 106]
Hiện nay, nhiều nước xung quanh ta đang quan tâm đến vấn đề nhiễm độc thạch tín (asen) ở các nguồn nước ngầm Hàm lượng thạch tín cao hơn mức cho phép nhiều lần được phát hiện trong các giếng khoan ở Bangladesh, Ấn Độ và Trung Quốc Người ta báo cáo các trường hợp ung thư da, tổn hại da, tổn thương thần kinh và mạch máu ngoại vi ở những quần thể dân cư dùng nước giếng khoan
bị nhiễm thạch tín [17], [116], [117] Một nghiên cứu khác ở Trung Quốc chỉ rõ có 522.566 người sử dụng nước uống có asen cao hơn 0,05 mg/1 [128]
Thực trạng ô nhiễm asen lan rộng đã ảnh hưởng đến sức khoẻ hàng triệu
người tại Bangladesh Các cư dân ở Matlab của Bangladesh đang có nguy cơ bị
nhiễm độc asen Kết quả điều tra cho thấy, việc thiếu các điều kiện thuận lợi để thực hiện đảm bảo an toàn nước dùng cho ăn uống đã buộc người dân phải tiếp tục
sử dụng nguồn nước ô nhiễm asen [109]
Trang 32Chương trình giảm ô nhiễm asen và cung cấp nước sạch ở Bangladesh đã triển khai nghiên cứu ở nguồn nước ngầm với test thử cho gần 5000 giếng Kết quả dựa vào sự nhiễm asen, người ta vẽ được bản đồ địa lý về sự phân bố nhiễm asen trong nước ngầm bằng kỹ thuật mobile-phone ở Araihaza Dựa vào bản đồ đó người ta hướng dẫn rất nhiều người dân ở các làng tại Araihaza sử dụng các giếng
số mẫu có asen trong tiêu chuẩn cho phép chiếm tỷ lệ cao [35], [56] Một nghiên cứu ở Thái Nguyên cho thấy hàm lượng asen trong nước giếng khoan của các hộ gia đình từ 0,007-0,009mg/l [33]
Khoảng 1/4 số hộ gia đình sử dụng trực tiếp nước ngầm ở ngoại thành Hà Nội bị nhiễm asen, tập trung nhiều ở huyện Thanh Trì (54%) và Gia Lâm (26,6), khu vực nội thành là 32%
Những nghiên cứu gần đây cho thấy, vùng châu thổ sông Hồng có nhiều giếng khoan có hàm lượng asen vượt quá tiêu chuẩn hướng dẫn của Tổ chức Y tế Thế giới Những vùng bị nhiễm nghiêm trọng nhất là phía Nam Hà Nội, Hà Nam,
Hà Tây, Hưng Yên, Nam Định, Ninh Bình, Thái Bình và Hải Dương, ở đồng bằng sông Cửu Long, các nhà khoa học phát hiện nhiều giếng khoan có nồng độ asen cao như các tỉnh Đồng Tháp, An Giang Khảo sát ngẫu nhiên 12 tỉnh với 12.461 giếng khoan ở các tỉnh Thái Nguyên, Quảng Ninh, Hà Tây, Hải Dương, Hưng Yên, Nam Định, Hà Nam, Huế, thành phố Hồ CM Minh, Long An, Đồng Tháp, An Giang có nhiễm asen [1]
Trang 331.2 Một số bệnh liên quan đến nước
1.2.1 Tác nhân gây bệnh liên quan đến nước
Cải thiện CN&VS nông thôn là điều kiện tiên quyết để đạt đến nhiều mục đích và mục tiêu sức khoẻ đã đặt ra trong chiến lược Quốc gia toàn diện về tăng trưởng và xoá đói giảm nghèo Cải thiện CN&VS nông thôn và giảm bớt gánh nặng về sức khoẻ cho người dân nông thôn là hai vấn đề có mối liên quan chặt chẽ Mối liên quan giữa CN&VS nông thôn và tỷ lệ đau ốm tồn tại theo 2 dạng chính thức: Nước là môi trường truyền dẫn tác nhân gây bệnh và nước cũng là môi trường nuôi sống cho vật chủ gây bệnh và vật chủ trung gian của tác nhân gây bệnh Có những bệnh do thiếu nước để giữ gìn vệ sinh cơ bản, bao gồm bệnh đau mắt, bệnh phụ khoa Ngoài ra còn xét thêm về tầm quan trọng của việc có nước ở vùng nông thôn để quyết định an ninh thực phẩm và tình trạng dinh dưỡng, yếu tố quyết định đối với sức khoẻ Cải thiện CN&VS nông thôn một cách bền vững là mấu chốt để cải thiện tình trạng sức khoẻ trong dân cư nông thôn [44], [92]
Ở các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam, có tới 80% các bệnh có liên quan đến nước và vệ sinh Các bệnh chủ yếu là: Tiêu chảy, thương hàn, giun sán, viêm gan, nguyên nhân chủ yếu do bị nhiễm bẩn từ các chất hữu cơ và vi sinh vật, Qua đó tác động trực tiếp đến sức khoẻ con người, nhất là người già và trẻ
em [138]
Những thống kê nghiên cứu gần đây cho thấy khoảng 750 triệu trẻ em dưới 5 tuổi ở Châu Á, Châu Phi, Châu Mỹ La tinh đã bị bệnh tiêu chảy cấp trong một năm và khoảng 3-6 triệu trẻ ở nhóm tuổi đó bị chết hàng năm, 80% chết trong hai năm đầu sau khi ra đời Nguyên nhân chủ yếu do suy dinh dưỡng, thiếu sữa mẹ, hấp thụ kém, do thiếu nước sạch hoặc nước không sạch hoặc do ô nhiễm phân [45]
Trang 34Việc cấp nước an toàn và đủ số lượng có một ý nghĩa quan trọng, có thể sẽ giảm bớt 25% số trường hợp bệnh tiêu chảy (WHO, 1992) và làm giảm từ 16-30%
số trường hợp bị nhiễm giun đũa ở trẻ em, nếu đảm bảo cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường sẽ làm giảm các bệnh đường tiêu hoá (CSHQ:25,2%) [30], [133] Một nghiên cứu ở các huyện vùng thấp Thanh Hoá, tác giả đã chứng minh được vai trò quyết định và hiệu quả của cung cấp nước tốt và quản lý vệ sinh môi trường trong việc dự phòng bệnh tiêu chảy ở trẻ em dưới 5 tuổi [71]
Theo số liệu thống kê của Bộ Y tế về các bệnh truyền nhiễm, trong năm
2003, các bệnh này chiếm tới gần 1/2 số bệnh nhân đến khám ở các phòng khám
và bệnh viện Một nửa trong số các bệnh này bắt nguồn trực tiếp từ các vấn đề nước và vệ sinh môi trường, qua đây càng nhấn mạnh vai trò và tầm quan trọng của việc tăng cường đầu tư điều kiện vệ sinh Tỷ lệ tử vong của các bệnh truyền nhiễm đã giảm 53% năm 1976 xuống còn 16% năm 2001 Tuy nhiên, tỷ lệ tử vong của người nghèo ở nông thôn do các bệnh truyền nhiễm gây ra còn cao hơn 22% so với đô thị Một điều đáng báo động nữa là tỷ lệ tử vong của trẻ em thuộc nhóm dân
cư nghèo nhất đang tiếp tục tăng Một yếu tố chính gây nên tình trạng này là do điều kiện cấp nước và vệ sinh thiếu hợp lý, nhất là ở các vùng nông thôn [44]
Có dự báo rằng đến năm 2020, khoảng 40% nhân loại sẽ phải sống trong những vùng thiếu nước So sánh với nhiều nước trên thế giới, Việt Nam là nước có nguồn tài nguyên nước lục địa tương đối lớn và đa dạng Tuy nhiên, với tiến trình gia tăng dân số, thâm canh nông nghiệp, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá,
đô thị hoá nên tài nguyên nước và môi trường Việt Nam đang thay đổi hết sức nhanh chóng Nguy cơ cạn kiệt về số lượng, ô nhiễm về chất lượng nước, tác động tiêu cực đến cuộc sống của nhân dân và sự lành mạnh về sinh thái của đất nước [39]
Trang 35Sử dụng hố xí không hợp vệ sinh làm nhiễm bẩn nguồn nước, đất và môi trường tự nhiên, nguy cơ gây bệnh cho người Các công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước đều cho thấy nước ăn uống sinh hoạt bị nhiễm phân và nước thải là yếu tố rất nguy hiểm đối với sức khoẻ cộng đồng [108], [84] Sau đây
là một số sinh vật gây bệnh liên quan đến nước [12], [14]:
Tên sinh vật Bệnh liên quan đến nước
- Salmonella typhi Thương hàn
- Salmonella paratyphi Phó thương hàn
- Shigella Lỵ trực khuẩn
- Vibrio cholera Tả
- Enterovirus Nhiều bệnh
- Rotavirus Tiêu chảy
- Giardia lamblia Tiêu chảy
- Crytosporium Tiêu chảy
- Giun đũa, giun kim, sán lá gan, Giun,sán
sán lá ruột, sán lợn, amíp,
Trong thực tế không thể xác định tất cả các loại sinh vật gây bệnh liên quan đến nước vì phức tạp và đòi hỏi nhiều thời gian Mặt khác, trong nước khi xuất hiện các loại sinh vật gây bệnh tồn tại và phát triển, có xuất hiện các loại vi khuẩn
Coliform Người ta thường dùng loại chỉ tiêu này để đánh giá mức độ nhiễm các vi sinh vật gây bệnh liên quan đến nước hoặc chỉ tiêu Escherichia coli để đánh giá
nước có bị nhiễm phân và chất thải sinh hoạt hay không [12], [66]
Ngoài tác nhân gây bệnh liên quan đến nước đã nêu ở trên, còn có các tác nhân gây bệnh cơ hội có mặt ở môi trường một cách tự nhiên và không chính thức, được gọi là tác nhân gây bệnh Chúng có khả năng gây bệnh đối với những người
có cơ chế tự bảo vệ suy yếu cục bộ hoặc tổng quát, chẳng hạn như người già, người
Trang 36quá nhỏ tuổi, bệnh nhân bị bỏng, người bị thương, những người đang được điều trị
ức chế miễn dịch, bị hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải (AIDS) Những người này nếu uống hoặc tắm phải nước chứa một lượng lớn tác nhân gây bệnh nêu trên sẽ bị nhiễm trùng nặng ở da, ở niêm mạc của mắt, tai, mũi và họng Các
tác nhân gây bệnh cơ hội là Pseudomonas aeruginosa, Klebsiella, Aeromonas và một số Mycobacteria phát triển chậm [92]
1.2.2 Ô nhiễm nước và một số bệnh liên quan đến nước
Trong hầu hết các bệnh lây truyền từ người sang, người là vật chủ chính Phân người là nguồn chứa các loại mầm bệnh truyền nhiễm đường ruột như tả, lỵ, thương hàn, giun sán, Các vi rút đường ruột Các mầm bệnh này có thể sống nhiều ngày trong đất, nước, thậm chí nhiều tháng như trứng giun sán Từ đất, nước thải chúng làm ô nhiễm cây trồng, môi trường thực phẩm nhất là các loại rau và củ
ăn sống Đường lây lan của các mầm bệnh từ phân sang người qua tay bẩn, ruồi, nước, thực phẩm bị ô nhiễm, dụng cụ phế thải, đất Sau đó các mầm bệnh này lại theo phân, rác, đất, nước, thực phẩm, Xâm nhập vào cơ thể con người và hình thành quá trình dịch [44]
Bệnh thương hàn do vi khuẩn Salmonella typhi gây nên Báo cáo của Bộ Y
tế đã ghi lại được phần lớn các ca mắc bệnh này, vì thương hàn là bệnh khá nghiêm trọng Đây là chỉ số có ích để theo dõi những tiến triển trong CN&VS Thương hàn cũng được coi là một chỉ số có lợi cho mục đích trên vì diện phân bố bệnh theo không gian địa lý rất rộng; các ca mắc bệnh mới từ năm 1999 đến 2003 đã được ghi lại ở cả 8 vùng Hơn nữa, bệnh thương hàn không dễ quản lý theo điều kiện địa
lý hoặc khí hậu mà bằng điều kiện CN&VS Có thể thấy rõ những tiến bộ về mặt CN&VS nông thôn nếu sử dụng số liệu về các ca mắc bệnh thương hàn làm chỉ số đánh giá Trong phạm vi toàn quốc, tỷ lệ các ca mắc bệnh đã giảm từ năm 1993 đến 2003, mặc dù tỷ lệ này vẫn khá cao ở vùng Tây Bắc, đồng bằng sông Cửu
Trang 37Long Vùng duyên hải Nam Trung Bộ là nơi duy nhất mà tỷ lệ mắc bệnh chưa hề giảm đều theo suốt thời kỳ theo dõi và báo cáo từ năm 1999 đến 2003 [44], [92]
Bệnh tiêu chảy là tình trạng cơ thể rối loạn hấp thu nước và điện giải dẫn đến bài tiết quá mức các thành phần chứa trong ruột Bệnh tiêu chảy dẫn đến tử vong là một chỉ số có ích thứ hai để đánh giá tình hình chung của một số bệnh liên quan đến đường nước Bệnh tiêu chảy cũng lan truyền rộng theo không gian địa lý Theo báo cáo, tỷ lệ mắc bệnh liên quan đến tử vong tương đối cao Chỉ số mắc bệnh tiêu chảy cấp trẻ em dưới 5 tuổi năm 1985 là 2,2 đợt/trẻ/năm, năm
1997 giảm xuống còn 1,5 đợt/trẻ/năm [45] Từ năm 1999 đến 2003, số trường hợp tử vong do bệnh tiêu chảy đã giảm đều trong cả nước, nhất là ở các vùng Đồng bằng sông Cửu Long, Tây Nguyên và Duyên hải Bắc Trung Bộ Các vùng này có đặc thù là tỷ lệ người dân tộc thiểu số và dân nghèo nông thôn cao Khảo sát sức khoẻ quốc gia Việt Nam năm 2002 cho thấy trẻ em từ sơ sinh đến 24 tháng tuổi là đối tượng dễ mắc bệnh nhất, có đến 10% trẻ em trong diện khảo sát
đã từng bị bệnh tiêu chảy 4 tuần trước khi khảo sát [4], [37] Nguyễn Thị Thanh khi nghiên cứu mức độ ô nhiễm nước ở thành phố Thái Nguyên cho thấy, nguồn nước dùng cho ăn uống và sinh hoạt, thực trạng vệ sinh hố xí có liên quan chặt chẽ đến bệnh tiêu chảy [84]
Bệnh tả là một loại bệnh chủ yếu khác liên quan đến nước, thực ra đây chính
là bệnh tiêu chảy ở dạng cấp tính do một loại vi khuẩn là Vibrio cholera gây nên
Ảnh hưởng của bệnh thường nhẹ hoặc không có triệu chứng, nhưng cũng có thể rất nghiêm trọng Trên thực tế từ năm 1999 đến 2003 đã có sự gia tăng một số ca bệnh
tả trong phạm vi cả nước Các đợt bùng phát dịch tả nghiêm trọng thường tập trung chủ yếu ở các vùng ven biển và đồng bằng châu thổ sau khi có lũ lụt Điều này phù hợp với thực tế là bệnh dịch này thường là do chất thải con người làm cho nguồn nước bị ô nhiễm, thường xẩy ra khi có lũ lụt Do sự bùng phát không thường xuyên
và chủ yếu liên quan đến các điều kiện khí hậu cụ thể như lũ lụt, nên bệnh tả không
Trang 38được coi là một chỉ số đặc biệt có ích để đánh giá những tiến triển chung của Việt Nam trong công tác đảm bảo CN&VS [16], [92]
Bệnh lỵ amíp là bệnh liên quan đến nước, được giám sát thường xuyên và do
một loại ký sinh trùng nguyên sinh có tên là Entamoeba histolytica gây ra Khi ăn
thức ăn hoặc uống nước có ký sinh trùng này sẽ bị nhiễm bệnh Mặc dù tỷ lệ mắc bệnh vẫn còn cao ở một số vùng (ví dụ như ở Tây Nguyên, tỷ lệ này cao gấp 3,5 lần so với tỷ lệ bình quân cả nước), nhưng số liệu thống kê của Bộ Y tế cho thấy,
tỷ lệ này có xu hướng giảm đều và giảm nhiều trong cả nước [16]
Sốt xuất huyết là bệnh lây truyền qua vật gây bệnh trung gian Càng ngày bệnh này càng được coi là bệnh có liên quan đến nước và điều kiện vệ
sinh môi trường, vì vật chủ gây bệnh là muỗi Aedes aegypti thường đẻ trứng
trong các vật dụng chứa nước Ở Việt Nam, mô hình này rất đặc biệt, vì phần lớn các ca mắc sốt xuất huyết và gây tử vong đều ở miền Nam Ðông Nam Bộ
và đồng bằng sông Cửu Long là những nơi chịu ảnh hưởng nhiều nhất, bệnh này có xu hướng gia tăng từ năm 1999-2003 Tỷ lệ tử vong do sốt xuất huyết cao gấp 6-30 lần so với tiêu chảy trong cùng thời kỳ ở đồng bằng sông cửu Long Cũng giống như bệnh tiêu chảy phần lớn các trường hợp tử vong do sốt xuất huyết là trẻ em [44]
Bệnh đau mắt hột là bệnh viêm màng kết mạc có tính kinh niên, lâu dần tạo thành sẹo ở giác mạc Bệnh này có mối liên quan rõ rệt với điều kiện vệ sinh kém, nhất là không rửa mặt bằng nước sạch Ở mức độ nào đó người ta vẫn sử dụng tỷ lệ bệnh đau mắt hột làm chỉ số thay thế để đánh giá sự khan hiếm nước Ở Việt Nam, bệnh đau mắt hột phân bố theo không gian không đều và phổ biến ở trẻ em, đang
có xu hướng tập trung theo cụm với tỷ lệ mắc bệnh rất phổ biến, nhất là ở miền Bắc và miền Trung [44]
Trang 39Một số bệnh nặng xảy ra do hít phải nước chứa các tác nhân cơ hội đã được
nhân lên do nước có nhiệt độ ấm và giàu các chất dinh dưỡng Đó là các bệnh do amip, Legionella Bệnh sán máng là một bệnh phổ biến ở vùng nhiệt đới và cận
nhiệt đới, các bệnh này khởi phát do tiếp xúc với nước qua việc tắm rửa [44]
Một số loại bệnh ký sinh trùng khác do nước bị ô nhiễm phân có thể làm lan truyền như: Giun chỉ, giun đũa, giun tóc, giun móc, giun kim, giun toxocara, giun lươn, sán lá, sán lợn Trong trường hợp thông thường, phương thức lan truyền các bệnh này là do trứng xâm nhập qua thức ăn bị nhiễm phân hoặc thức ăn dính đất nhiễm phân vào cơ thể, mặt khác quá trình lan truyền bệnh này là qua đường nước uống bị nhiễm phân [92]
Trong tất cả các bệnh dịch tễ học, nhiễm độc asen dịch tễ được phát hiện và biết đến muộn nhất trên thế giới Người nhiễm asen ở mức độ thấp sẽ có những biểu hiện như mệt mỏi, buồn nôn và nôn, hồng cầu và bạch cầu giảm, rối loạn nhịp tim, mạch máu bị tổn thương, ảnh hưởng đến thai nhi khi phụ nữ mang thai Nhiễm độc asen mãn tính thường gặp các biểu hiện như hắc tố và mất sắc tố da, sừng hoá
da, ung thư da, bệnh đen và rụng móng chân Hàng năm trên thế giới vẫn phát hiện thêm nhiều bệnh nhân mắc căn bệnh này Điều nguy hiểm là cho đến nay căn bệnh này vẫn chưa có thuốc chữa, nên hàng triệu bệnh nhân trên thế giới phải chấp nhận sống chung với căn bệnh ghê người này Ở Việt Nam, căn bệnh này có vẻ như rất
xa lạ Vừa qua Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã đưa ra thông tin nghiên cứu về tình trạng nhiễm asen ở nước ta với những con số giật mình Qua khảo sát một số vùng thuộc 12 tỉnh thành phố ở cả 3 miền đã có những vùng có asen vượt quá tiêu chuẩn cho phép 50 lần, có nơi tới 100 lần [1], [93], [139]
Theo báo cáo của cơ quan giám sát dịch tễ học thuộc Bộ Y tế, ngày càng có thêm nhiều ca mắc bệnh tiêu chảy Năm 1998 số ca mắc bệnh tiêu chảy lên tới một
Trang 40triệu ca/năm Đặc biệt theo dự đoán của chuyên gia dịch tễ học, các bệnh liên quan đến nước như lỵ, thương hàn, tả, sốt rét, sốt xuất huyết đang có nguy cơ bùng nổ
và lan rộng Năm 1998, trong cả nước đã có 20.811 ca thương hàn, 93.442 ca lỵ trực khuẩn, 13 ca tả, 234.940 ca sốt xuất huyết [17]
Theo thống kê của Quốc gia Mỹ, năm 1992 cho thấy, bệnh liên quan đến đã gây ra 1.702 vụ dịch với 542.018 trường hợp mắc, trong đó tử vong 1.089 trường hợp và đã ghi nhận 13% các vụ dịch là do nước Những năm gần đây, các vụ dịch đường tiêu hoá liên quan đến nước ô nhiễm ngày càng nhiều hơn, chiếm tới 67% tổng số người mắc, trong đó do nước bề mặt chiếm 24% số vụ và 32% số mắc, do nước ngầm tỷ lệ này là 49% và 47% [112]
Khi nghiên cứu về ô nhiễm nước ngầm ở Lombardy (miền Bắc Italia) do các hợp chất Halogen hữu cơ, người ta cho biết nguyên nhân chính dẫn đến sự ô nhiễm các chất này là do sự rò rỉ các chất thải công nghiệp Những hợp chất halogen hữu cơ này đã có trong 510 giếng trên 92 quận ở Italia và đã tác động đến 1.934.133 người [113]
Nước ngầm có thể bị ô nhiễm trầm trọng do các chất thải trong sinh hoạt của con người Trong một nghiên cứu về nguồn nước giếng khơi ở Philippine tác giả
cho thấy, 50% tổng số mẫu nước giếng khơi được xét nghiệm có chỉ tiêu Feacal coliform trên l0lvk/l00ml, 6,9% số mẫu đạt trên 10 vk/100ml [133]
Tìm hiểu mối liên quan giữa môi trường nước và bệnh tật ở các huyện miền núi phía Bắc là Yên Bình và Sa Pa, tác giả cho biết, nồng độ vi lượng tố florua trong nước tại 2 huyện thấp hơn rất nhiều so với nồng độ thích hợp ở Việt Nam Nồng độ florua trong nước ở khu vực Thái Bình có 76% số mẫu dưới 0,3mg/l; 17% từ 0,3-0,5mg/l và 6% trên 0,8mg/l [89] Một nghiên cứu khác về mối liên quan giữa nồng độ florua trong nước uống và tỷ lệ bệnh sâu răng của học sinh tiểu học thị xã Bắc Cạn, kết quả florua trong các mẫu nước uống như sau: Trong khoảng từ 0,1-0,6 mg/1 chiếm 99,13%; từ l,2-l,3mg/l chiếm 0,87% Như vậy, tất cả