1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu một số biện pháp vệ sinh môi trường nhằm hạn chế sự phát triển của ruồi nhặng, bệnh tiêu chảy và nhiễm giun đường ruột tại 3 xã tỉnh thái bình lương xuân hiến

107 84 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 3,8 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu một số biện pháp vệ sinh môi trường nhằm hạn chế sự phát triển của ruồi nhặng, bệnh tiêu chảy và nhiễm giun đường ruột tại 3 xã

Trang 1

BỘ QUỐC PHÒNG

HỌC VIỆN QUÂN Y

========*=========

LƯƠNG XUÂN HIẾN

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BIỆN PHÁP

VỆ SINH MÔI TRƯỜNG NHẰM HẠN CHẾ SỰ PHÁT TRIỀN CỦA RUỒI NHẶNG, BỆNH TIÊU CHẢY VÀ NHIỄM GIUN ĐƯỜNG RUỘT TẠI 3

Trang 2

1.3 Các nghiên cứu vê sinh thái, tập tính ruồi nhặng 6

1.5 Các biện pháp phòng chống ruồi nhặng 12

2.1 Phương pháp điều tra điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và 20

vệ sinh môi trường tạỉ các xã phòng chống ruồi nhặng

2.2 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm sinh thái và 22

ý nghĩa dịch tễ của ruồi nhặng

2.2.1 Phương pháp điều tra hiện trạng vệ sinh hố xí và chuồng lợn 22

2.2.2 Phương pháp điều tra ổ phát sinh ruồi nhặng 22

2.2.3 Phương pháp điều tra số lượng ruồi nhặng trong và ngoài nhà 23

2.2.4 Phương pháp xét nghiệm Feacal coliform 24

2.2.5 Phương pháp dịch học môi trường nghiên cứu 25

mối quan hệ giữa số lượng ruồi nhặng và bệnh tiêu chảy

2.2.6 Phương pháp xét nghiệm trứng giun trên cơ thể ruồi nhặng 26

2.3 Phương pháp triển khai phòng chống ruồi nhặng 26

2.4 Phương pháp đánh giá kết quả phòng chống ruồi nhặng 29

2.4.1 Phương pháp đánh giá sự thay đổi nhận thức, thái độ, 29

thực hành của nhân dân

2.4.2 Phương pháp đánh giá kết quả hạn chế sự phát triển của ruồi nhặng 31

2.4.3 Phương pháp giám sát bệnh tiêu chảy và nhiễm giun 32

Trang 3

3.2 Tình hình kinh tế, xã hội và vệ sinh môi trường 41 tại các xã phòng chống ruồi nhặng

3.3 Một số đặc điểm sinh thái và ý nghĩa dịch tễ của ruồi nhặng 47

3.3.2 Số lượng ruồi nhặng ở trong và ngoài nhà 49 3.3.3.Tình hình mang Feacal coliform trên cơ thể ruồi nhặng 54 3.3.4 Mối quan hệ giữa số lượng ruồi nhặng và diễn biến bệnh tiêu chảy 54 3.3.5 Khả năng mang trứng giun trên cơ thể ruồi nhặng 55

3.4 Các biện pháp phòng chống ruồi nhặng đã được thực hiện 56 3.4.1 Các biện pháp giáo dục cộng đồng 56

3.5 Kết quả các biện pháp phòng chống và duy trì kết quả đã đạt được 66

3.5.1 Thay đổi nhận thức, thái độ và thực hành (KAP) 66 của nhân dân truớc và sau tác động

3.5.3 Kết quả khống chế bệnh tiêu chảy và nhiễm giun 76

4.1 Điều kiện tự nhỉên, kinh tế, xã hội, vệ sinh môi trường tỉnh Thái Bình 82 4.2 Điều kiện kinh tế xã hội và vệ sinh môi trường tại các điểm nghiên cứu 83 4.3 Một số đặc điểm sinh thái, dịch tễ của 3 loại ruồi nhặng 85 4.4 Các biện pháp phòng chống ruồi nhặng 91 4.5 Kết quả của các biện pháp phòng chống 95

1 Phiếu phỏng vấn hộ gia đình thực hiện vệ sinh môi trường

2 Phiếu điều tra hộ gia đình vệ sinh môi trường cấp xã

3 Phiếu điều tra tiêu chảy

Trang 4

BẢNG CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CDD: Chương trình phòng chống bệnh tiêu chảy (Control of

Diarrhoea Diseases Programme)

Trang 5

ĐẶT VẤN ĐỀ

Thông báo của tổ chức Y tế thế giới (WHO, 1992) cho biết hàng năm có khoảng 4 triệu trẻ nhỏ và sơ sinh chết vì bệnh tiêu chảy, hàng trăm triệu người bị nhiễm giun đường ruột Một nguyên nhân quan trọng của sự lây lan hai loại bệnh trên tại các nước đang phát triển là tập quán dùng phân tươi trong nông nghiệp Sự lây lan các mầm bệnh từ người bệnh sang người bình thường thông qua nước sinh hoạt, thức ăn bị ô nhiễm và đặc biệt là ruồi nhặng - Vector truyền bệnh quan trọng đối với các nước có khí hậu nhiệt đới Trong số các loài gặp ở khu dân cư nước ta

có 3 loài : Ruồi nhà (Musca domestica L), nhặng xanh (Chrysomyia me gacephala Fabr.) và ruồi chợ (Musca sorbens Wd) là phổ biến nhất

Thái Bình là một tỉnh nông nghiệp ở vùng đồng bằng ven biển, có mật

độ dân số cao và đa số nhân dân sống ở nông thôn trồng lúa Tại các địa phương trong tỉnh, tập quán dùng phân tươi và phân chưa ủ kỹ trong nông nghiệp vẫn còn phổ biến, ý thức giữ gìn vệ sinh môi trường của nông dân còn thấp Phân và rác sinh hoạt trong khu vực dân cư tạo điều kiện thuận lợi cho các loài ruồi nhặng sinh sống và phát triển, làm cho tỷ lệ những người mắc bệnh tiêu chảy và nhiễm giun đường ruột tại các khu vực đó khá cao

Để dự phòng hai loại bệnh trên có hiệu quả, một biện pháp quan trọng cần phải tiến hành là hạn chế sự sinh sản của ruồi nhặng Muốn phòng chống ruồi nhặng có kết quả chúng ta phải nghiên cứu đặc điểm phát triển của chúng trong hệ sinh thái nông nghiệp chủ yếu là trồng lúa nước ở vùng nông thôn Thái Bình nhằm làm cơ sở khoa học cho việc đề ra các biện pháp thích hợp Biện pháp sử dụng hóa chất diệt côn trùng thường có tác dụng nhanh nhưng gây độc cho người cũng như ô nhiễm môi trường và hiệu quả không bền vững Vì vậy, việc triển khai các biện pháp vệ sinh môi trưòng vào mục đích này là vấn đề thực sự cần thiết

Phòng chống ruồi nhặng là công việc đòi hỏi sự tham gia của đông đảo nhân dân, trong đó công tác giáo dục môi trường, tuyên truyền vận động, tổ chức

Trang 6

cộng đồng nhằm thay đổi tập quán không hợp vệ sinh, chấp nhận và áp dụng các biện pháp vệ sinh môi trường là rất quan trọng

Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:

“Nghiên cứu một số biện pháp vệ sinh môi trường nhằm hạn chế sự phát triển của ruồi nhặng, bệnh tiêu chảy và nhiễm giun đường ruột tại 3 xã tinh Thái Bình”

Luận án của chúng tôi có những mục tiêu sau đây :

1- Đánh giá hiện trạng vệ sinh việc sử lý phân người và chuồng lợn của nhân dân tại vùng nông thôn Thái Bình

2- Nghiên cứu đặc điểm của các chủng loại ruồi nhặng chính trong hệ sinh thái lúa nước tại vùng nông thôn Thái Bình

3- Áp dụng một số biện pháp vệ sinh môi trường và đánh giá hiệu quả của chúng tới sự phát triển của ruồi nhặng, góp phần dự phòng bệnh tiêu chảy

và nhiễm giun đường ruột của nhân dân tại vùng nông thôn Thái Bình

Trong luận án, chúng tôi đã áp dụng các biện pháp vệ sinh môi trường tại xã Bình Minh, xã Vũ Hòa và xã An Vinh, lấy xã Hòa Bình không áp dụng các biện pháp trên làm xã đối chứng

Chúng tôi đã nghiên cứu tình hình bệnh tiêu chảy và nhiễm giun đường ruột bằng phương pháp dịch học môi trường Việc xác định các chủng loại ruồi nhặng được tiến hành theo phương pháp của Viện Sinh thái và tài nguyên sinh vật thuộc Trung tâm khoa học tự nhiên và công nghệ Quốc gia

Các xét nghiệm về khả năng mang trứng giun, Feacal coliform trên cơ thể ruồi nhặng và sự ô nhiễm đất được tiến hành tại Trung tâm Nghiên cứu ứng dụng cấp nước và vệ sinh môi trường Trường Đại học Y Thái Bình

Chúng tôi hy vọng những kết quả đạt được trong luận án có thể được vận dụng rộng rãi tại Thái Bình và các vùng nông thôn trong cả nước

Trang 7

CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.1 TÌNH HÌNH QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG PHÂN

Theo tài liệu của tổ chúc y tế thế giới (WHO, 1992), đường lan truyền các mầm bệnh trong phân người sang người có thể qua tay bẩn, ruồi, nước bề mặt và nước thải, chất thải rắn và đất Vì thế, việc quản lý phân người và sử dụng phân đảm bảo vệ sinh sẽ cắt các đường lan truyền trên tới người, tránh cho con người bị mắc các bệnh liên quan tới phân như các bệnh giun sán và tiêu chảy

Nước ta là một nước nông nghiệp, trên 80% nhân dân sống ở nông thôn, việc sử dụng phân bắc phục vụ cho nuôi trồng đã là một tập quán từ lâu đời Trong quá trình sử dụng đó, đã có nhiều cách quản lý phân khác nhau và hiệu quả cũng khác nhau

Hoàng Tích Mịnh (1960) cho rằng việc quản lý chặt chẽ nguồn phân nguời là rất quan trọng vì đó là nguồn gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng Nguyễn Thiện Hòa (1964) đưa ra ý kiến hố xí hợp vệ sinh đảm bảo được những tiêu chuẩn về mặt vệ sinh, không làm ô nhiễm đất, nước và không khí xung quanh

Từ những năm của thập kỷ 60, hố xí 2 ngăn đã được áp dụng rộng rãi

và có hiệu quả tốt Hoàng Tích Mịnh (1960) cho biết ủ phân với tro bếp sau một tháng hủy được 80 - 100% trứng giun đũa và kén amíp Khi ủ phân với tro bếp vào mùa hè sau 1 tháng tỷ lệ trứng giun đũa bị hủy diệt là 79% ở giai đoạn I và 100% trứng ở giai đoạn IV, trong khi đó nếu không có tro bếp, tỷ

lệ bị hủy diệt tương ứng chỉ còn 10% và 20% (51) Hố xí 2 ngăn trong nhiều thập kỷ qua là một trong số ít giải pháp kỹ thuật vệ sinh được nghiên cứu kỹ

và áp dụng rộng rãi, góp phần bảo vệ tốt sức khỏe con người (6) Bên cạnh

đó, hố xí 2 ngăn có nhiều thuận lợi cho việc khai thác phân tuơi hoặc ủ

Trang 8

không kỹ phục vụ nuôi trồng trong nông nghiệp, gây nên sự ô nhiễm (13) Nghiên cứu của Lê Cương (1971) tại Nam Ninh thấy 98% hố xí 2 ngăn hở, ít chất độn, 100% hố xí không ủ phân, có rất nhiều dòi ruồi nhặng (15) Xét nghiệm 332 mẫu đất quét ở 39 hố xí 2 ngăn với 1064 mẫu xét nghiệm thấy số mẫu ở bậc lên xuống của hố xí có 39% có trứng giun, ở cửa lấy phân phía sau là 43,8%, còn mặt bệ xí là 40,79% (25)

Trong một số năm gần đây, một số loại hố xí đã được sử dụng Loại hố xí thấm dội nước kiểu SULABH theo mẫu của Ấn độ được Unicef khuyến cáo, tính đến hết năm 1991 đã triển khai tại 23 tỉnh thành phố gồm 474 xã ở 130 huyện với 40.766 hố xí Sulabh được xây dựng (36) Loại này có ưu điểm bể chứa phân kín nên không có mùi hôi, ruồi nhặng không phát triển được, có mức thấm tốt và không gây ô nhiễm tới nguồn nước ở khoảng cách ngoài 8 m (3) Nghiên cứu khả năng ô nhiễm của mầm bệnh từ phân người, từ hố xí thấm dội nước ra môi trường đất xung quanh, Nguyễn Mạnh Liên và Hoàng Đình Hồi (1991) đã khảo sát gián tiếp bằng K40 , NaCl và xanh Metylane trong các thí nghiệm ngắn hạn ở đất pha 5% (hạt >0,1 ram) với lượng thủy phần là 18%, kết quả cho thấy sự khuyếch tán tối đa theo bề mặt cắt ngang từ miệng hố là 40 - 50 cm (43)

Loại hố xí bán tự hoại cải tiến VS - 77, hố xí thấm dội nước cải tiến, xử lý cả phân chuồng nước tiểu và nước tắm rửa dẫn vào hệ thống AMATS để trồng cây và nuôi cá (Nguyễn Mạnh Liên, 1991) Loại hố xí tự hoại cũng đã được nhiều nơi xây dựng và sử dụng, trong đó có cả vùng nông thôn (35)

Tuy nhiên, việc quản lý phân còn chưa tốt biểu hiện ở tỷ lệ số hộ có hố xí: theo thống kê 1990 của Bộ Y tế, mới chỉ có 50% số gia đình nông thôn (tương đương 40 triệu dân) có hố xí (36) Theo Hoàng Đình Hồi và cộng sự (1990) điều tra 2437 hộ tại 7 xã tỉnh Thái Bình thấy hố xí 2 ngăn hợp vệ sinh chỉ có 4%, còn hố xí cầu 82% Còn ở đồng bằng sông Cửu Long chỉ có 1/2 số gia đình có cầu tiêu, 65% cầu tiêu ao cá thông với kênh rạch, 3% đặt trực tiếp trên kênh rạch (89)

Trang 9

Ở miền núi, theo điều tra của Vũ Đức Vọng (1985) tại 2087 gia đình đồng bào dân tộc ít người chỉ có 35% có hố xí chìm, còn lại đại tiện trong rừng

1.2 TÌNH HÌNH Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG VÀ MẮC BỆNH ĐƯỜNG RUỘT, GIUN SÁN DO PHÂN

Tình trạng quản lý và sử dụng phân ở nước ta như trên đã dẫn tới sự ô nhiễm nguồn nước, đất, ruồi nhặng phát triển gây ra hậu quả số người mắc bệnh giun sán và tiêu chảy tăng cao

Ở Philippin có tới 50,4% số mẫu nước giếng khơi có lượng Feacal coliform cao hơn 101/100 ml nước, chỉ có 6,9% số mẫu nước dưới 10 Feacal coliform/100 ml nước (133)

Theo Hoàng Đình Hồi (1993) thì ở nông thôn nước ta cần phải chú ý 2 vấn đề lớn là:

Cung cấp nước sạch để ăn uống và sinh hoạt cho các hộ gia đình

Xử lý phân và các chất thải sinh hoạt (36)

Qua xét nghiệm cho thấy nhiều nguồn nuớc bị ô nhiễm nặng Nước sông Hồng và nước giếng nông ở đồng bằng Bắc Bộ, nước bề mặt ở đồng bằng sông Cửu Long bị ô nhiễm nặng do phân người (12) Nước sông Mê Công, các nhánh sông, ao đều bị nhiễm vi sinh vật có nguồn gốc từ phân ở 100% số mẫu xét nghiệm (21) Cầu tiêu ao cá ở đồng bằng sông Cửu Long gây ô nhiễm nặng nề cho tất cả các nguồn nước bề mặt với mật độ từ hàng chục ngàn đến hàng triệu Feacal coliform trong một lít nước, đó là nguồn gốc các bệnh dịch lưu hành thường xuyên ở đồng bằng sông Cửu Long (12) Ở Tây nguyên các xét nghiệm cho biết nước bị nhiễm bẩn đạt tới 60% Ảnh hưởng của việc quản lý và sử dụng phân không hợp vệ sinh tới sức khỏe con người rất lớn Các đường lây truyền trung gian như nước, đất, ruồi nhặng đưa mầm bệnh từ phân người vào con người đã sẵn có, con người hàng ngày phải tiếp xúc, sử dụng chúng, hậu

Trang 10

quả con người sẽ mắc bệnh Tại các nước đang phát triển có khoảng 14 triệu trẻ

em dưới 5 tuổi bị chết, hơn 3 triệu trẻ em tàn tật nặng là hậu quả của nhiễm bẩn nước, vệ sinh kém và ô nhiễm môi trường (134)

Theo thống kê của Hòa Kỳ từ 1981 - 1990 xảy ra 291 vụ dịch do đường nuớc uống, xử lý nước ngầm không đầy đủ chiếm 43% và nước bề mặt

bị nhiễm bẩn chiếm 24% (102) Vụ dịch tả ở Peru đầu từ 1991 nhanh chóng lan ra các nước khác ở châu Mỹ La tinh làm 250.000 nguời mắc và 2500 người chết, ở nước các nước đang phát triển (kể cả Trung Quốc) có khoảng

340 triệu trẻ em dưới 5 tuổi có số lượt tiêu chảy là một tỷ lượt/năm, trung bình 3 lượt/trẻ/năm (139)

Ở Việt Nam, tỷ lệ tiêu chảy ở trẻ dưới 5 tuổi chung cho cả nước là 2,2 lượt/trẻ/năm (14)

Trên thế giới có khoảng 1000 triệu người nhiễm giun đũa, 900 triệu người nhiễm giun móc và giun tóc là 500 triệu người Tỷ lệ mắc tùy theo từng nước: Brazil nhiễm giun đũa từ 26,7% - 97,6%, Malaysia trẻ 6-12 tuổi tỷ lệ nhiễm giun đường ruột là 89% (139) Ở Việt Nam theo nhiều nghiên cứu cho thấy tỷ lệ nhiễm giun đũa chiếm khoảng 80% dân số, giun tóc từ 28,5 - 87%, giun móc từ 6 - 70%, trung bình khoảng 30 - 40% (67, 68, 69)

1.3 CÁC NGHIÊNCỨU VỀ ĐẶC ĐIỂM SINH THÁI, TẬP TÍNH CỦA RUỒI NHẶNG

Về những đặc điểm sinh thái tập tính của ruồi nhặng, người ta thấy chúng là những côn trùng gần người đã quen biết từ thời cổ xưa Vào giữa thế

kỷ 18, trên thế giới, từ những kết quả nghiên cứu về hình thái, phân loại học, tất cả các loài động vật trong đó có nhóm ruồi được hệ thống hóa và đặt danh pháp khoa học Cho tới hết thế kỷ 19, phần lớn các loài ruồi phổ biến nhất đã được định loại và đặt tên khoa học

Trang 11

Cùng thời kỳ đó, những nghiên cứu về sinh học, sinh thái của các loài ruồi phổ biến đã được tiến hành Đầu tiên Reaumur (1740), tiếp đến De Geer (1776) đã công bố các dẫn liệu về đời sống ấu trùng của một số loại ruồi sống

ở phân Những nghiên cứu về phương thức sống của các loại ruồi liên quan tới phân người, phân gia súc được tiếp tục bởi Bouche (1834), Taschenberg (1880)

Howard (1900, 1901) lần đầu tiên sử dụng thuật ngữ ruồi gần người với nghĩa “ruồi có liên quan với con người và khu dân cư” Khái niệm “gần người” ngày càng được nhiều người quan tâm tìm hiểu và làm sáng tỏ bởi vì đó là một đặc tính quan trọng làm cho loại ruồi nào đó có ý nghĩa dịch tễ (Graham - Smith, 1916; Merrier, 1929; Thomson et Hamer, 1936; Townsend, 1935) (Theo Tạ Huy Thịnh, 1989) Những nghiên cứu về ruồi gần nguời trong suốt nửa thế kỷ vừa qua cho thấy: ở các vùng khác nhau trên thế giới có các tổ hợp ruồi gần người khác nhau, nghĩa là các loại ruồi có ý nghĩa dịch tễ ở các địa phương khác nhau không hoàn toàn như nhau Trừ trường hợp ruồi nhà Musca domestica có phân

bố toàn thế giới, còn ở mỗi địa phương còn tồn tại một số loài nữa có ý nghĩa dịch tễ Ruồi gần người sinh trưởng và phát triển được là nhờ chủ yếu vào các sản phẩm từ sinh hoạt của con người, bởi vậy công việc đấu tranh với chúng trước hết là nhằm hạn chế và thủ tiêu những ổ phát sinh đó (75, 107, 120, 145,

158, 159, 160, 161)

Giữa những nghiên cứu về sinh học, tập tính thì tìm hiểu những ổ phát sinh đặc trưng của ấu trùng ruồi nhặng là có ý nghĩa thực tiễn lớn nhất, vấn đề này thường được xem xét từ 2 phía : Một là tính thích nghi của ruồi nhặng với loài giá thể ưa thích để ăn và đẻ trứng, hai là sự tồn tại của các ổ phát sinh này trong khu dân c ư như hậu quả của việc giữ gìn vệ sinh môi trường không tốt Những ổ phát sinh này có 4 dạng chính: Phân người, phân gia súc, rác thải hữu cơ và xác súc vật chết Tùy theo điều kiện sinh hoạt, tập quán thói quen và mức độ giữ gìn vệ sinh môi trường ở các địa phương khác nhau mà ổ phát sinh này hoặc ổ phát sinh kia nổi lên

Trang 12

chủ yếu, đặc trưng cho các loại ruồi gần người ở đó Thường thường ổ phát sinh ruồi nhặng ở các vùng nông thôn là phân người và phân gia súc, còn ở thành phố

là rác thải hữu cơ và phân người Ở các nước phát triển, khi phân nguời được sử

lý bằng hệ thống hố xí tự hoại thì ổ phát sinh ruồi nhặng tại các vùng nông thôn

là phân gia súc Còn ở các nước đang phát triển, khi các hố xí chưa được cải tạo thành hố xí hợp vệ sinh thì phân người là ổ phát sinh quan trọng nhất để các loài ruồi nhặng phát triển (107,141,150,157,158)

Nhiều nghiên cứu đã đi đến kết luận: Giữa vệ sinh môi trường và

số lượng ruồi nhặng có mối liên quan chặt chẽ Vệ sinh môi trường không đảm bảo sẽ là nguyên nhân làm gia tăng số lượng ruồi nhặng trong một khu dân cư Số lượng cực lớn của ấu trùng ruồi nhặng trong phân người, đồng thời chính phân người là nguồn lây lan các bệnh truyền nhiễm, ký sinh trùng cho người

Do đó phân người là ổ phát sinh đáng quan tâm hàng đầu trong các nghiên cứu và là đối tượng cần giải quyết trước hết (136, 137, 138, 150)

Ở nước ta, người Việt Nam đầu tiên nghiên cứu các loài ruồi nhặng như những côn trùng y học là GS Đặng Văn Ngữ Theo Đỗ Dương Thái (1972), trong cuộc đời hoạt động khoa học của mình GS Đặng Văn Ngữ đã xác định 16 loài ruồi nhặng ở Việt Nam GS Trịnh Văn Thịnh (1963, 1964, 1966) cũng mô tả một số loài ruồi có ý nghĩa y học và thú y Trong những năm 1961 - 1962, đoàn nghiên cứu của Nhật Bản điều tra tại Đông Nam Á, trong đó có miền Nam Việt Nam đã công bố các loại ruồi nhặng có ý nghĩa y học của vùng này bao gồm ruồi nhà Musca domestica ruồi chợ musca sorlens, nhặng xanh chrysomyoa megacephala và một vài loài phổ biến khác (103) Mẫu vật của một số loài ruồi nhặng Việt Nam đã được chuyển ra nước ngoài định loại từ trước đó (122) Sau này, theo nhiều điều tra cơ bản tại các vùng khác nhau của các cơ quan khác nhau ở Việt nam đã ghi tên khoa học một số loài ruồi nhặng chủ yếu Trong các

Trang 13

tài liệu phổ biến kiến thức hoặc tuyên truyền vệ sinh ở nước ta trong vài chục năm qua thường xuyên nhắc tới thuật ngữ ruồi nhặng hoặc ruồi nhà Ruồi nhà ở nước ta đã được sử dụng với danh pháp khoa học là Musca domestica hoặc M vicina (16, 54, 58, 69, 73)

Theo nghiên cứu của các tác giả thì 3 loài ruồi nhà M domestica, nhặng xanh Ch.megacephala và ruồi chợ M.sorbens là phổ biến nhất và có ý nghĩa dịch

tễ lớn nhất Các đặc điểm sinh học, sinh thái và tập quán của ruồi gần người, đặc biệt 3 loài chủ yếu nói trên đã được đề cập tới trong nhiều công trình nghiên cứu khoa học (15, 74, 77, 79, 80, 87)

1.4 VAI TRÒ DỊCH TỄ CỦA RUỒl NHẶNG

Việc tìm hiểu vai trò dịch tễ của ruồi nhặng như yếu tố trung gian truyền các bệnh truyền nhiễm và ký sinh cũng được song song nghiên cứu với thành phần loài và sinh thái của chúng Đầu tiên Mercuriadse (1577), sau

đó Sandenhem (1666) và Pringle (1768) nêu vai trò của ruồi nhặng trong việc lan truyền các bệnh đường ruột Năm 1892 Ca ko phân lập phẩy khuẩn

tả từ phân của ruồi nhà, năm 1902 Gali Valerio tìm thấy trực khuẩn lỵ trong

cơ thể ruồi nhà và 2 loài nhặng khác (theo Tạ Huy Thịnh, 1989) Tiếp theo, trong tư liệu khoa học thế giới xuất hiện nhiều dẫn liệu về vai trò truyền bệnh của ruồi nhặng (Howard, 1901; Mercier, 1925; Graham - Smith, 1914;

u u u Tetepobcka, 1943 - theo Tạ Huy thịnh, 1989) Người ta cho rằng có tới 90% các trường hợp bệnh đường ruột ruồi có thể tham gia đóng góp vào việc lan truyền Nguồn nước không đảm bảo vệ sinh cũng như việc quản lý vệ sinh môi trường và khống chế ruồi nhặng không tốt đã dẫn tới số lượng trẻ

em mắc ỉa chảy trên thế giới tăng cao Theo WHO hàng năm ở các nước Châu Á, Phi, Mỹ La Tinh có khoảng 5 triệu trẻ em bị chết vì bệnh ỉa chảy (tính trung bình cứ mỗi phút có 10 trẻ em bị chết) và trong số 338 triệu trẻ

em thuộc nhóm tuổi này bị mắc hàng nghìn triệu lượt ỉa chảy (tính trung bình mỗi trẻ bị mắc ỉa chảy 3 lần trong một năm) (97)

Trang 14

Ruồi nhặng có khả năng bay, đậu trên mọi vật khác nhau, chúng thích đậu và thức ăn nước uống của người và súc vật, đồng thời cũng đậu trên nơi nhiễm bẩn phân người và súc vật, bãi rác, đờm rãi, máu mủ, vết thương, xác chết Sau khi đậu vào chỗ bẩn đó, người ta thấy trên thân, chân, cánh, ống tiêu hóa của ruồi nhặng có mang nhiều mầm bệnh Vì thế, ruồi nhặng đóng vai trò trung gian truyền bệnh nguy hiểm cho người và súc vật Chúng có khả năng làm lây truyền các bệnh đường tiêu hóa, nhất là về mùa hè như các bệnh nhiễm vi khuẩn (lỵ trực trùng, thương hàn, tả), các bệnh ký sinh trùng (amíp, giun kim, giun tóc, giun đũa, sán dây), các bệnh vi rút (bại liệt, viêm gan, các bào nang nấm Penicillium, Aspergillus, Mucor, Chaccharomyces ) Ngoài ra ruồi nhặng còn

có thể lây truyền các nhiễm khuẩn khác như lao, bạch hầu, các nhiễm khuẩn ở mắt, da … (89, 101, 115, 116, 119, 133, 135, 149, 157)

Kết quả nghiên cứu của một số tác giả thấy rằng ruồi nhặng có khả năng mang các loại mầm bệnh một thời gian tương đối dài so với tuổi thọ và đời sống hoạt động của chúng Nguồn cung cấp mầm bệnh là phân, đờm, của người bệnh hoặc người đã khỏi bệnh, người lành mang trùng và người bệnh mãn tính đào thải vi khuẩn Theo V.U.Vaskop (1962) trên cơ thể ruồi nhà có thể tồn tại vi khuẩn thương hàn 7 ngày ở chân, đầu, 8 ngày ở họng, 7 ngày ở ruột, vi khuẩn lao 3 ngày ở họng, 16 ngày ở ruột, 13 ngày ở phân; vi khuẩn bạch hầu 5 ngày ở chân, cánh và đầu, 7 ngày ở họng, 5 ngày ở ruột, 2 ngày ở phân (100, 111)

Nói chung, các tác giả đều cho rằng ruồi nhặng là vector truyền một cách cơ học các mầm bệnh, đồng thời ruồi nhặng chỉ là một trong các khâu lan truyền các bệnh đó Vai trò trung gian truyền bệnh của ruồi nhặng thường được giải thích bởi những lý do sau :

- Mối quan hệ chặt chẽ của ruồi nhặng với con người, chúng hầu như chỉ sống trong khu dân cư, đặc biệt là một vài loài thường xuyên ra vào nhà ở

Trang 15

- Ruồi nhặng đồng thời tiếp xúc với vật nhiễm bẩn, thức ăn, vật dụng của người và bản thân con người

- Ruồi nhặng hoạt động rất tích cực, di chuyển liên tục, rất phàm ăn, ăn đầy diều lại nôn ra và bài tiết rất thường xuyên

- Ruồi nhặng có thể mang một số lượng lớn các mầm bệnh trên cơ thể chúng và trong bộ máy tiêu hóa

- Ruồi nhặng có tính thích ứng rất cao và có thể đạt số lượng rất lớn trong khu dân cư

Tuy nhiên, khả năng lan truyền mầm bệnh do ruồi nhặng còn phụ thuộc vào:

- Số lượng mầm bệnh thực tế do ruồi nhặng mang và lượng mầm bệnh cần thiết đủ để gây bệnh cho người

- Khả năng phát triển của mầm bệnh trong thực phẩm bị ruồi nhặng gây nhiễm (132, 136, 137, 138)

Ruồi nhặng được coi là vật chỉ thị ô nhiễm vệ sinh môi trường bởi lẽ:

- Thể hiện sự hiện diện của chất thải, đặc biệt là phân người chưa được xử lý

- Bản thân ruồi nhặng là vật trung gian truyền các bệnh truyền nhiễm và

ký sinh phổ biến (161)

Để đánh giá vai trò truyền bệnh của ruồi nhặng người ta thường kết hợp các phương pháp: vi sinh vật học, ký sinh trùng học, dịch tễ học và côn trùng học Riêng trong côn trùng học, một số tác giả đã xây dựng các chỉ số để đánh giá như chỉ số nguy hiểm (denger index) của Michalyi (1967), chỉ số gần người (N-Index) của Nuorteva (1963), chỉ số tiềm năng nguy hiểm dịch tễ (IPED) (116, 120, 161)

Ở Việt Nam, nhiều tác giả nghiên cứu đã thừa nhận vai trò của ruồi nhặng trong việc lan truyền các bệnh lỵ amíp, lỵ trực trùng, tả, viêm gan vi rút, đau mắt hột và giun (15, 22, 59, 60, 62, 63) Một số tác giả đã xét nghiệm ruồi

Trang 16

nhặng (bên ngoài cơ thể và đường ruột) để xác định vai trò mang, vận chuyển mầm bệnh của chúng

Bào nang E.hystolitica xét nghiệm thấy nhiều lần trên cơ thể hoặc trong

bộ máy tiêu hóa của ruồi nhặng (57) Nguyễn Văn Hiếu và cộng sự (1983) phân lập được Vibrio eltor từ ruồi trong dịch tả ở Hải Phòng Đoàn Trí Thông và các tác giả (1978) phân lập được 14 loài vi khuẩn gây bệnh đường ruột từ 5 loài ruồi nhặng, trong đó có Vibrio parahaemolyticus Trần Thảnh (1972) xét nghiệm thấy trung bình có 3 trứng giun đũa/13 ruồi, còn theo Đỗ Dương Thái và các tác giả (1976) có 2, 3 trứng giun đũa/100 ruồi và tỷ lệ ruồi mang trứng giun tóc là 1/100

- 1/380 Theo Đỗ Thị Đáng, Lương Xuân Hiến và các tác giả (1993) cả ruồi nhà, ruồi chợ và nhặng xanh đều mang trứng giun đũa và giun tóc

Các bệnh do ruồi nhặng lan truyền đều là những bệnh truyền nhiễm và

ký sinh chủ yếu hoặc phổ biến ở nước ta Theo thông báo của Bộ Y tế, trong năm 1989 tỷ lệ người mắc các bệnh (trên 100.000 dân) như sau: tả: 0,16; thương hàn và phó thương hàn: 7,6; các bệnh salmonellos khác: 306; lỵ amíp: 187; viêm gan vi rút: 23 (10) Tình hình nhiễm các loại giun truyền qua đất rất nặng nề Riêng ở đồng bằng Bắc Bộ, tỷ lệ nhiễm giun đũa ở vào khoảng 90 - 95%, giun tóc 58,1 - 81% (92) Do điều kiện vệ sinh môi trường thấp kém, 12 triệu người

bị mắt hột cần điều trị trong 2 năm sẽ tốn đến 72 tỷ đồng/năm, để tẩy giun đũa cho 40 triệu người bị nhiễm giun đũa từ phân người, nếu tẩy một năm 2 lần trong 3 - 5 năm, cũng tiêu tốn số tiền đến 400 tỷ đồng (31) Cũng theo thống kê

Bộ Y tế năm 1990, trong số 10 bệnh thường gặp nhất trong các bệnh viện thì mắt hột và các bệnh tiêu chảy đứng hàng thứ hai và ba chỉ sau bệnh sốt rét với số người mắc mắt hột là 99.639, tỷ lệ mắc 24,11/100.000 dân, các bệnh tiêu chảy 75.877 với tỷ lệ mắc là 18,36/100.000 dân (45)

1.5 CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG CHỐNG RUỒl NHẶNG

Ý nghĩa dịch tễ rõ rệt của ruồi nhặng buộc con ngưòi phải triển khai các biện pháp nhằm làm giảm số lượng của chúng

Trang 17

Đấu tranh phòng chống ruồi nhặng được tiến hành theo hai hướng: phòng ngừa và diệt

Cốt lõi của các biện pháp phòng ngừa là biện pháp quản lý và vệ sinh môi trường Đây là phương pháp tích cực, chủ động nhằm thủ tiêu tận gốc các ổ phát sinh ruồi nhặng và ngăn chặn khả năng lan truyền mầm bệnh của chúng Những biện pháp phòng ngừa chủ chốt đều xoay quanh công việc quản lý, xử lý phân, rác, sử dụng hố xí hợp vệ sinh, cải tạo chuồng gia súc và ủ phân, thu gom,

xử lý chất thải Hiệu quả kiềm chế số lượng ruồi nhặng trong khu dân cư hoặc trang trại của các biện pháp trên đã được thực tiễn chứng minh rõ ràng (142,

146, 152, 163)

Gắn liền với việc xử lý phân và việc sử dụng hố xí Việc phát triển các loại hố xí ngày càng vệ sinh và thuận tiện thể hiện một khía cạnh của lịch sử văn minh nhân loại Ở các nước tiên tiến và ở các thành phố của các quốc gia, hiện nay phổ cập hố xí máy - hệ thống hố xí dội nước, tự hoại Tuy nhiên ở các vùng nông thôn của phần lớn các quốc gia, mà ở đó dân số chiếm phần lớn dân số thế giới vẫn ở tình trạng sử dụng các loại hố xí chưa vệ sinh hoặc thiếu hố xí Chính

vì vậy, hiện nay nhiều quốc gia khác nhau vẫn đang tiến hành những nghiên cứu thiết kế mẫu hố xí vệ sinh, thích hợp với điều kiện cụ thể của từng địa phương

và nghiên cứu triển khai xây dựng, sử dụng chúng Các loại hố xí kiểu một ngăn,

2 ngăn, xây chìm hay nổi, có xây lát hay không xây lát được xem xét phân tích mọi khía cạnh (114) Hố xí đơn giản hợp vệ sinh đã được phổ biến cho nhân dân

tự xây dựng ở một số vùng của Ethiopi (110) Hố xí 2 ngăn của Việt Nam cũng được giới thiệu ra thế giới như là một giải pháp xử lý phân (104) Ở Botswana

và Tanzania còn nghiên cứu thiết kế loại bẫy ruồi bán kiên cố đặt trên lỗ xí của

hố xí khô Malaixia giới thiệu 5 phương án hố xí rẻ tiền cho nông dân với phương châm tự dân làm lấy được Họ cho biết hố xí không lát đáy có lẽ là kinh

Trang 18

tế nhất và vẫn hợp vệ sinh Còn ở Nigeria, người ta lại dựa theo tập quán sinh hoạt của người dân để giới thiệu 2 loại hố xí: hố xí 2 ngăn không thích hợp cho các hộ dùng giấy hoặc vật dụng khác để lau chùi và hố xí dội nước thuận tiện cho những người theo đạo Hồi vì họ dùng nước để rửa Ấn Độ đặt ra quốc sách

là thanh toán các hố xí thùng, thay vào đó là hố xí dội nước 2 bể chứa Loại hố

xí này đã được giới thiệu ở 29 nước Á, Phi và Mỹ Latinh Các hố xí truyền thống ở Tonga đang được cải tiến thành hố xí dội nước (100) Cũng hướng tới phát triển hố xí dội nước, ở Thái Lan nghiên cứu hạ giá thành xây dựng Còn ở

Mỹ, người ta nghiên cứu sự phát tán của vi khuẩn và cả chất dinh dưỡng qua lớp vữa trát trên thành bể và tính chất của lớp đất xung quanh (118)

Trong hệ thống các biện pháp phòng ngừa, người ta còn tính cả việc ngăn cản ruồi tiếp xúc với thức ăn, vật dụng của người thông qua việc sử dụng các dụng cụ chứa đựng, bảo quản thức ăn và che chắn ruồi (tủ lạnh, tủ thức ăn, trạn bát, lồng bàn, rèm mành lưới che của) (136, 137, 138)

Ở các nước đang phát triển thì biện pháp vệ sinh môi trường mang tính chất quyết định trong đấu tranh phòng chống ruồi nhặng Tại Quảng Đông (Trung Quốc) trong 5 năm 1987 - 1991 đã tiến hành đấu tranh tổng hợp chống ruồi gần người, trong đó sử dụng chủ yếu là các biện pháp vệ sinh môi trường (cải tạo hố xí, xử lý phân rác, sửa sang, làm vệ sinh nhà hàng, chợ) còn thuốc hóa học chỉ sử dụng khi cần thiết Kết quả cho thấy ổ phát sinh ruồi và số lượng ruồi giảm đi rõ rệt (140)

Diệt ruồi là một bộ phận quan trọng trong hệ thống các biện pháp phòng chống ruồi Trong số 4 biện pháp phòng chống ruồi (cơ học, vật lý, hóa học và sinh học) thì biện pháp hóa học được sử dụng rộng rãi hơn cả

Trong những năm 40 và 50 của thế kỷ này, các hợp chất Clo hữu cơ (DDT, Hexachloran, Lindan) đã được sử dụng diệt ruồi có hiệu quả Sau đó, do

sự phát triển của tính kháng thuốc của ruồi đối vối các hợp chất Clo hữu cơ, chúng được thay thế bằng hóa chất lân hữu cơ hoặc carbamat Đầu tiên, các

Trang 19

thuốc này đã thể hiện hiệu quả diệt ruồi rất tốt, nhưng dần dần nhiều quần thể ruồi nhặng cũng tỏ ra kháng với chúng (99, 113, 153, 154)

Thuốc diệt ruồi có nguồn gốc thảo mộc cũng đã được sử dụng khá sớm Sau này, thuốc thảo mộc thường được dùng là Pyrethrin, ngoài ra nhiều dịch chiết từ các loại cây khác nhau cũng được thử nghiệm chống ruồi (98, 106)

Người ta cũng sử dụng các Pyrethroit tổng hợp (Permethrin, Allethrin, Del- tamethrin) có hoạt lực diệt ruồi rất cao (111, 123, 131, 143)

Các phương thức diệt ruồi bằng hóa chất thường dùng là: xông hơi, thăng hoa, phun sương, bả độc (lỏng, sơn, khô), bả dính, bả dây treo (138)

Biện pháp hóa học diệt ruồi trưởng thành chiếm vị trí quan trọng trong phòng chống nhưng chỉ được đánh giá như biện pháp hỗ trợ nhằm kiềm chế số lượng ruồi nhặng phát sinh từ các ổ mà biện pháp vệ sinh môi trường chưa khắc phục được Ý nghĩa của việc diệt ruồi trưởng thành không cao vì phần lớn ruồi nhặng trước khi bị tiêu diệt đã tham gia vào quá trình dịch tễ và đã đẻ trứng để duy trì, bảo tồn số lượng quần thể

Diệt ấu trùng ruồi nhặng ngay từ ổ phát sinh là cách thức tốt hơn cả

do đạt hiệu quả cao và ít sử dụng thuốc hóa học tránh ô nhiễm môi trường (156) Từ lâu người ta đã dùng các chất vô cơ hoặc hữu cơ cổ điển (vôi bột, dầu hỏa, dầu ma dút, Creolin) để diệt ấu trùng ruồi nhặng Cho tới nay trong nhiều trường hợp, vôi bột vẫn đuợc sử dụng có hiệu quả (155, 161) Phổ biến hơn, người ta sử dụng Clo hữu cơ,hoặc lân hữu cơ để xử lý ổ phát sinh ruồi nhặng (136, 137, 138, 144, 147, 148, 151) Một biện pháp diệt ấu trùng khá đặc biệt là cho vật nuôi ăn hóa chất diệt côn trùng có hoạt lực cao nhưng

ít độc đối với súc vật (156)

Bên cạnh hiệu quả còn có những hạn chế, tiêu cực trong các biện pháp diệt ruồi (trưởng thành và ấu trùng) Đó là sự ô nhiễm thuốc trừ sâu hóa học tới

Trang 20

môi trường xung quanh đã tác động trực tiếp tới sức khỏe con người Mặt khác

sự phân hủy chậm các thuốc trừ sâu, đặc biệt Clo hữu cơ trong môi trường và các sản phẩm phân hủy của chúng cũng rất độc là một nguyên nhân phá vỡ cân bằng sinh thái trong tự nhiên

Ngoài biện pháp hóa học, người ta còn dùng các biện pháp cơ học, vật lý

và sinh học để diệt ruồi nhặng Các biện pháp diệt ruồi đơn giản bằng vỉ ruồi, các dạng bẫy hom, bẫy dính đã đượcc phổ biến nhiều nơi (136, 137, 138) Gần đây, bẫy đèn với nguồn sáng thích hợp đã được chế tạo và áp dụng (124)

Trong những năm gần đây, các biện pháp sinh học được nghiên cứu và

áp dụng theo các hướng sau đây: sử dụng các chế phẩm từ Bacillus thuringiensis, sử dụng các vật ký sinh và ăn thịt, sử dụng các hoạt chất sinh học như chất gây bất thụ, pheromon, chất điều tiết sinh trưởng và juvenoid (108,

kể tình hình vệ sinh môi trường và nâng cao sức khỏe toàn dân Cần nói rằng ruồi là một yếu tố trung gian truyền bệnh có liên quan chặt chẽ với vệ sinh môi trường, do vậy các phong trào trên đã tác động trực tiếp đến chúng Trong chương trình 5 dứt điểm của ngành y tế Việt Nam cho thấy hết thế kỷ này thì mục tiêu cải tạo vệ sinh môi trường trong đó có các hạng mục “3 công trình vệ sinh” và “3 diệt” được xếp vào dứt điểm thứ nhất (51, 69)

Trang 21

Gần đây, trong nội dung của phong trào vệ sinh môi trường (Chương trình hợp tác UNICEF - Bộ Y tế) đã có sự kết hợp khá nhuần nhuyễn nhiệm vụ xây dựng hố xí dội nước và nhiệm vụ phòng chống ruồi nhặng Lần đầu tiên ở Việt Nam, mật độ ruồi được xác định là một chỉ tiêu để đánh giá điều kiện vệ sinh môi trường ở địa phương và sự có mặt của ruồi nhặng được coi là một chỉ

số đánh giá chất lượng công trình vệ sinh (33)

Trên thực tế, công tác diệt ruồi phòng bệnh đã được tuyên truyền vận động thường xuyên liên tục trên các phương tiện truyền thông đại chúng (đài, báo, truyền hình, tranh tuyên truyền v.v ) Diệt ruồi cũng đã được đưa vào chương trình giảng dạy ở trường phổ thông, có mặt trong sách giáo khoa cho học sinh (1) Trong chương trình vệ sinh môi trường, công tác giáo dục tuyên truyền được coi là một trong những hoạt động quan trọng nhất, có tác dụng đòn bẩy nhằm tiến tới thay đổi thói quen tập quán của nhân dân (32, 34, 36) Nghiên cứu riêng về việc tổ chức cộng đồng tham gia phòng chống ruồi nhặng cho thấy đây là công tác cực kỳ quan trọng trong hệ thống các biện pháp phòng chống (29)

Song song với việc giới thiệu các biện pháp phòng chống ruồi thông dụng nhất trên các tài liệu tuyên truyền và sách giáo khoa, những nghiên cứu tìm hiểu các biện pháp diệt ruồi có hiệu quả đã được thực hiện

Trong tập sách “những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” Đỗ Tất Lợi (1965) đã giới thiệu một số cây có độc tính đối với côn trùng và đã từng được sử dụng diệt ruồi theo kinh nghiệm dân gian Trong số các cây này, cây

cổ giải đã được thử nghiệm làm bả diệt ruồi (54, 93) Biện pháp cổ điển xử

lý phân với vôi cục vẫn được áp dụng và cho hiệu quả diệt dòi rất tốt (13) Tuy nhiên, các thuốc hóa học diệt côn trùng như lân hữu cơ, carbamat là phương tiện diệt ruồi được sử dụng nhiều nhất với các phương tiện mồi bả hoặc phun (15, 66, 84, 85, 86)

Trang 22

Hóa chất tuyệt sinh và chất điều tiết sinh trưởng cũng được thử nghiệm phòng chống ruồi nhà (76, 78, 83, 85) Tính hấp dẫn của một số hóa chất và mồi

tự nhiên đối với ruồi nhặng đã được thử nghiệm (58) Các biện pháp diệt ruồi cơ học dễ áp dụng như bẫy lồng, bẫy thủy tinh được khôi phục và mở rộng áp dụng trên diện rộng (32, 77)

Các nghiên cứu diệt ruồi nêu trên đã đóng góp công lao nhất định vào công tác phòng chống ruồi ở nuớc ta Một số phương tiện (thí dụ: bả ruồi của Viện Vệ sinh phòng dịch Hà Nội) có chất lượng khá tốt và được sử dụng khá rộng rãi Tuy nhiên, chúng ta cũng thấy rằng chỉ riêng biện pháp diệt ruồi không thể kiềm chế được số lượng ruồi nhặng trong khi các ổ phát sinh của chúng vẫn tồn tại

Đấu tranh phòng chống ruồi nhặng gắn liền với công tác vệ sinh phân người Ở nước ta, phân người là nguồn gốc của sự ô nhiễm môi trường, là nguyên nhân cụ thể của nhiều vụ dịch có tỷ lệ mắc và tử vong cao (5, 6) Vì vậy, xử lý phân trước hết là nhằm vào xử lý các mầm bệnh có trong phân, ngăn chặn mầm bệnh ô nhiễm đất, nước, thực phẩm và giải pháp xử lý phân người là hố xí (70)

Trong mấy thập kỷ vừa qua giải pháp hố xí 2 ngăn đã được áp dụng rộng rãi trong cả nước và đưa lại các kết quả lớn lao về vệ sinh môi trường góp phần bảo vệ sức khỏe người dân Đây là giải pháp xử lý phân khô được nghiên cứu kỹ lưỡng trong suốt thời gian dài từ công thức ủ phân, quy cách xây dựng và bảo quản, cải tiến kỹ thuật tới hiệu quả tiêu diệt các mầm bệnh (9, 15 ,23, 24, 46, 47,

53, 64, 65, 69, 94, 104) Nếu xây dựng đúng kỹ thuật, sử dụng đúng quy cách, loại hố xí này ngăn cản được ruồi sinh trưởng Tuy nhiên, trong quá trình sử dụng, nhiều hố xí 2 ngăn đã bị hư hại hoặc người dân không thực hiện đúng quy cách sử dụng bảo quản, thiếu nắp đậy lỗ đại tiện, cửa moi hở, thiếu chất độn làm cho hố xí trở thành ổ phát sinh ruồi nhặng (32) Một số biến dạng của hố xí 2 ngăn cũng xuất hiện (5, 6)

Theo thống kê của Bộ Y tế năm 1990, 50% số gia đình nông thôn đã có

hố xí, tuy nhiên qua điều tra cho thấy tỷ lệ hố xí hợp vệ sinh chỉ đạt 5 - 10%

Trang 23

(31) Khảo nghiệm lại của chương trình VSMT (1985 - 1987) cho thấy hố xí 2 ngăn không đạt yêu cầu giữ sạch môi trường vì có mùi hôi, thu hút ruồi nhặng (31, 36) Cũng qua khảo nghiệm này, hố xí thấm dội nước, một mô hình xử lý phân xuất xứ từ Ấn Độ, được tổ chức UNICEF khuyến cáo, được chọn làm giải pháp kỹ thuật chính của chương trình Loại hố xí này được đánh giá là: bước đầu đạt được một số yêu cầu quan trọng: không có ruồi, gián, có thể xây dựng gần nhà và trong nhà, giá thành hạ, hợp vệ sinh, kỹ thuật xây dựng đơn giản, được nhân dân chấp nhận và có triển vọng phát triển (3, 4, 18, 29, 31, 33, 34, 36, 38,

Song song với những giải pháp kỹ thuật nói trên, trong suốt những năm vừa qua có nhiều nghiên cứu về quản lý, sử dụng phân bắc, phân chuồng (3, 13,

19, 50, 52 53) Nói chung, các tác giả đều nhìn nhận rằng quản lý phân là một dây chuyền thu gom - xử lý - tái sử dụng chứ không thể là công tác xử lý thanh trừng và loại bỏ phân và công việc này có liên quan trực tiếp với tập quán sản xuất nông nghiệp của nhân dân ta

Như đã nói ở trên, mặc dù các giải pháp kỹ thuật xử lý phân đã được triển khai trong nhiều năm ở nước ta nhưng thực sự trong vài năm gần đây trong chương trình vệ sinh môi trường các giải pháp này mới đồng thời trở thành giải pháp cơ bản của đấu tranh phòng chống ruồi nhặng bằng biện pháp vệ sinh môi trường đã được thực hiện ở cấp xóm và cấp xã (27, 30, 32, 82)

Trang 24

CHƯƠNG II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 PHƯƠNG PHÁP ĐIẾU TRA TÌNH HÌNH VĂN HÓA, KINH TẾ, XÃ HỘI

VÀ VỆ SINH MÔI TRƯỜNG TẠI CÁC XÃ PHÒNG CHỐNG RUỒl NHẶNG

Các điểm nghiên cứu phòng chống ruồi nhặng là xóm 7 - xã Bình Minh (huyện Kiến Xương), xã Vũ Hòa (huyện Vũ Thư) và xã An Vinh (huyện Quỳnh Phụ), điểm đối chứng là xã Hòa Bình (huyện Kiến Xương) tỉnh Thái Bình

Tại các điểm trên đã điều tra toàn bộ các hộ theo mẫu phiếu điều tra của Bộ

Y tế (phần phụ lục) Số liệu về dân số được thu thập từ các báo cáo của Uỷ ban nhân dân xã Một số chỉ tiêu về điều kiện sống và tình hình vệ sinh môi trường được điều tra trực tiếp tới từng hộ gia đình vào thời điểm trước khi tiến hành các biện pháp phòng chống ruồi nhặng Cụ thể là: xóm 7 xã Bình Minh và xã Hòa Bình: tháng 10/1990, xã Vũ Hòa tháng 12/1991, xã An Vinh tháng 10/1992

Chúng tôi đã tiến hành điều tra tình hình bệnh tiêu chảy tại Bình Minh, Hòa Bình tháng (12/1990) (tỷ lệ mắc tiêu chảy chung, tỷ lệ mắc tiêu chảy ở trẻ

em dươi 5 tuổi trong 2 tuần trước khi điều tra) thông qua mẫu phiếu điều tra của chương trình CDD, 1986 (Mẫu phiếu ở phần phụ lục) (97)

Phương pháp điều tra như sau:

- Đối tượng điều tra: toàn bộ số người trong hộ gia đình

- Quy mô mẫu nghiên cứu: theo công thức:

P.Q

N = Z2

E2 Trong đó:

+ N: Quy mô mẫu

+ Z: yếu tố giới hạn để tin cậy, nếu 95%, z = l,96

90%, z = l,65

+ P: Xác suất sự kiện xảy ra được tính toán

+ Q: xác suất sự kiện xảy ra không được tính toán

+ e: Giới hạn độ chính xác mong muốn

Trang 25

Thời gian nghiên cứu: điều tra tỷ lệ ỉa chảy trong 2 tuần vừa qua

Chọn mẫu: theo phương pháp ngẫu nhiên đơn Khung mẫu là danh sách các hộ gia đình Dùng bảng số ngẫu nhiên xác định hộ đầu tiên Bằng phương pháp cổng liền cổng (door to door) điều tra các hộ tiếp theo Nếu không gặp gia đình phải quay lại ít nhất 2 lần nữa, nếu không gặp mới được thay thế bằng hộ khác

Các điều tra viên là các bác sĩ được tập huấn và thống nhất kế hoạch, kỹ thuật điều tra

Số liệu được xử lý để tính tỷ lệ trẻ dưới 5 tuổi và tỷ lệ mắc tiêu chảy chung trong 2 tuần qua

Số mẫu điều tra tại Bình Minh là 318 người, xã Hòa Bình là 417 người Trong tháng 12 năm 1990 đã xét nghiệm 158 mẫu phân ở Bình Minh và

160 mẫu phân ở Hòa Bình theo phương pháp Kato để xác định tỷ lệ nhiễm (%)

và cường độ nhiễm giun truyền qua đất (giun đũa, tóc, móc) trong nhân dân (số trứng/gam phân)

Trang 26

- Lật lại lam kính để 10 - 30 phút ở nhiệt độ phòng, rồi quan sát tiêu bản dưới kính hiển vi

2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH THÁI VÀ Ý NGHĨA DỊCH TỄ CỦA RUỒI NHẶNG

2.2.1 Phương pháp điều tra hiện trạng vệ sinh hố xí và chuồng lợn Điều tra hiện trạng hố xí và chuồng lợn tại 8 xã phường là Hòa Bình,

Bình Minh, Vũ Hòa (huyện Kiến Xương), Đông Xuân (huyện Đông Hưng), Tân Bình (huyện Vũ Thư), An Vinh (huyện Quỳnh Phụ), Nam Thịnh (huyện Tiền Hải) và phường Kỳ Bá (thị xã Thái Bình) Sáu xã đầu tiên là các xã trồng lúa, Nam Thịnh là xã ven biển gồm thôn ngoài làm nghề chài và thôn trong làm nghề lúa, trong nghiên cứu này chúng tôi lấy thôn ngoài làm đại diện cho khu vực nghề chài ven biển Phường Kỳ Bá đại diện cho khu vực thị

xã, bao gồm phần lớn các hộ phi nông nghiệp và một số ít hộ sản xuất nông nghiệp trồng rau, lúa, màu

Chúng tôi đã điều tra hiện trạng hố xí và chuồng lợn toàn bộ số hộ tại 8 điểm trên (trừ xã Nam Thịnh chỉ điều tra thôn chài ven biển) trong thời gian từ tháng 10 năm 1990 đến tháng 10 năm 1993, tại các xã triển khai phòng chống ruồi nhặng tiến hành điều tra cụ thể các hộ trước khi cải tạo công trình vệ sinh Số hộ được điều tra tại khu vực nông thôn trồng lúa là

6033, thôn chài xã Nam Thịnh là 127 và phường Kỳ Bá là 2903 (mẫu phiếu

ở phần phụ lục)

2.2.2 Phương pháp điều tra ổ phát sinh ruồi nhặng

Tại 8 xã phường nghiên cứu (Hòa Bình, Bình Minh, Vũ Hòa, Đông Xuân, Tân Bình, An Vinh, Nam Thịnh và Kỳ Bá) chúng tôi điều tra định tính khả năng bắt gặp ấu trùng ruồi nhặng trong mọi chỗ: hố xí, chuồng gia súc, rác thải, vại mắm v.v để xác định ổ phát sinh ruồi nhặng Riêng ở xã Tân Bình, Hòa Bình và phường Kỳ Bá chúng tôi chọn ngẫu nhiên 461 hố xí và 461 chuồng

Trang 27

lợn để điều tra tần xuất bắt gặp ấu trùng ruồi nhặng có định qua 4 quý trong năm

1992 (vào các tháng 2, 5, 8 và 11) Tần xuất bắt gặp ấu trùng ruồi nhặng được tính bằng tỷ lệ % của số hố xí (hoặc chuồng lợn) điều tra

Trong quá trình điều tra này chúng tôi cũng xác định sự phân bố của ấu trùng ruồi nhặng theo chiều sâu bằng cách kiểm tra làn lượt từng lớp 5 cm từ bề mặt xuống dưới

Mật độ ấu trùng ruồi nhặng (con/kg phân) trong phân người ở hố xí và chuồng lợn được theo dõi ở xã Hòa Bình từ tháng 9/1990 tới tháng 12/1991: Chọn ngẫu nhiên và giữ cố định 20 hố xí hở và trên 20 chuồng lợn để kiểm tra định kỳ tháng/lần Từ mỗi hố xí (hoặc chuồng lợn) lấy 2 mẫu (1 kg/mẫu) phân người lẫn tro (hoặc phân chuồng lợn) Một mẫu mang về phòng thí nghiệm nuôi cho đến khi ruồi vũ hóa để kiểm chứng loài ruồi, nhặng Một mẫu được xử lý ở ngay tại hiện trường bằng dung dịch muối NaCl bão hòa để thu ấu trùng ruồi nhặng

2.2.3 Phương pháp điều tra số lượng ruồi nhặng trong nhà và ngoài nhà

Nghiên cứu được tiến hành tại 2 xã là Hòa Bình (huyện Kiến Xương), Tân Bình (huyện Vũ Thư) và phường Kỳ Bá (thị xã Thái Bình) Trong 24 tháng liên tục (từ tháng 1/1991 đến tháng 12/1992) đã giám sát định kỳ tháng/ lần số lượng ruồi nhặng Tại từng điểm nghiên cứu, trong mỗi đợt giám sát đã đặt 8 bẫy lồng với mồi cá ươn ngoài nhà (vườn nhà), 4 bả ruồi ngoài nhà (ở hiên nhà) 4 bả ruồi trong nhà ở và 4 bả ruồi trong bếp (bả ruồi do Viện Vệ sinh dịch tễ Hà Nội sản xuất) Bẫy và bả được đặt 8h/ngày từ 8 giờ tối 16 giờ (mỗi điểm chọn ngẫu nhiên 4 hộ cách nhau vài nhà, mỗi hộ đặt 2 bẫy lồng, 1 bả ruồi trong nhà, 1 bả ngoài nhà, 1 bả trong bếp)

Tất cả các mẫu vật ruồi nhặng (thu được từ các phương pháp thu mẫu) được sấy khô và định loại Ruồi nhặng được định loại theo tài liệu phân loại

Trang 28

của Fan Tze Ten , 1965; Shinonaga et Kano, 1971 và Tạ Huy Thịnh, 1988 (74, 105, 130)

Các chỉ số giám sát cho từng loài là:

- Tính ưu thế (%): là phần trăm số mẫu của một loài trên tổng số mẫu thu được theo cùng một phương pháp

- Mật độ ruồi (nhặng) trong nhà tính bằng số mẫu của một loài/bả/ngày (trong nhà ở) và số mẫu bả/ngày (trong bếp)

- Mật độ ruồi (nhặng) ngoài nhà: tính bằng số mẫu của một loài/bẫy lồng/ngày và số mẫu/bả/ngày (đặt ngoài nhà)

Số liệu được tổng hợp bằng cách tính trung bình từ 3 xã, phường và trung bình trong 2 năm giám sát tính trên cơ sở phân tích 152.000 mẫu vật ruồi nhặng

2.3.4 Phương pháp xét nghiệm Feacal conform

Với mục đích xác định loài ruồi nào ở Thái Bình mang nhiều Feacal coliform và với số lượng là bao nhiêu Trong tháng 7/1993 chúng tôi đã thu sống

300 mẫu ruồi nhà và 300 mẫu nhặng xanh ở trong nhà và quanh nhà tại các xã Hòa Bình, Tân Bình, và phường Kỳ Bá (mỗi điểm thu 100 mẫu/loài trong đó 50 đực và 50 cái)

Sử dụng phương pháp màng lọc trên máy DELAGUA WATER TESTING KIT để xác định khuẩn lạc Feacal coliform (7) Phương pháp xét nghiệm như sau:

+ Dụng cụ:

- Ống nghiệm có nút bông vô trùng chứa 10 ml nước cất

- Hộp Petri được đánh số bằng bút chì kính

+ Cách làm: bắt sống cho vào mỗi ống 1 ruồi (nhặng ), lắc nhẹ ống trong

5 phút lấy ra 10 ml nước Mẫu nước được lọc hút chân không qua một màng lọc bằng Cellulose có các lỗ lọc đường kính 0,45 /µm Vi khuẩn được giữ lại trên

Trang 29

mặt màng lọc Trong môi trường Dehydrate và ở nhiệt độ 44 ± 0,5°c, khuẩn lạc của Feacal coliform sẽ phát triển trong thời gian 16 - 24 giờ

+ Mô tả phương pháp:

Đặt màng lọc vào vị trí cổ phễu, nối phễu hứng nước với bình lọc và nối bình lọc với bơm hút chân không, đổ 10 ml mẫu nước vào phễu và hút chân không cho nước qua màng lọc xuống bình lọc

Mở đĩa Petri, đặt vào trong một miếng giấy thấm (tròn bằng cỡ màng lọc

47 - 50 mm) Nhỏ 2 ml môi trường và láng đều mặt giấy thấm Dùng kẹp lấy màng lọc từ cổ phễu đặt khít lên giấy thấm đậy nắp đĩa Petri, lộn ngược đĩa và đưa vào buồng ấm của máy Sau thời gian 16 giờ đếm số lượng khuẩn lạc trên màng lọc theo thứ tự các ô vuông kẻ sẵn

2.2.5 Phương pháp dịch học môi trưòng nghiên cứu mối quan hệ giữa số lượng ruồi nhặng và bệnh tiêu chảy

Trong năm 1991 đã tiến hành điều tra hàng tháng tình hình bệnh tiêu chảy tại 2 xã Hòa Bình, Tân Bình và phường Kỳ Bá theo phiếu điều tra của chương trình cDD, 1986 (phương pháp điều tra được trình bày ở phần 2.1) (97) với cỡ mẫu điều tra tại Hòa Bình 417 người, Tân Bình 380 người và phường Kỳ

Bá 650 người

Cùng thời gian và cùng địa điểm nghiên cứu này đã tiến hành giám sát ruồi nhặng định kỳ hàng tháng theo phương pháp đã nêu ở phần 2.2.3 Diễn biến bệnh tiêu chảy được đánh giá qua tỷ lệ tiêu chảy ở trẻ em dưới 1 tuổi (%) (tính trung bình từ 3 xã phường) Biến động số lượng ruồi nhặng được tính chung cho

3 loại ruồi, nhặng (ruồi nhà, nhặng xanh và ruồi chợ) cả ở trong và ngoài nhà theo phương pháp cộng đồ thị

Số liệu thu thập được xử lý bằng phương pháp hồi quy tuyến tính để tìm mối tương quan của 2 yếu tố (26)

Trang 30

Công thức tính r tương quan và mối tương quan tuyến tính giữa 2 yếu tố cần nghiên cứu x, y như sau:

Tương quan tuyến tính của 2 đặc tính nghiên cứu:

Nếu r > rb Tương quan chặt chẽ

Nếu r < rb Tương quan không chặt chẽ

2.2.6 Phương pháp xét nghiệm trứng giun trên cơ thể ruồi nhặng

Trong năm 1993 đã thu sống 870 mẫu ruồi nhà (420 đực, 450 cái), 750 mẫu nhặng xanh (340 đực, 410 cái), 400 mẫu ruồi chợ (200 đực, 200 cái) ở trong

và quanh nhà tại xã Hòa Bình, xét nghiệm trứng giun trên cơ thể từng loài theo phương pháp Romanenco Tính trung bình số trứng trên 100 ruồi (hoặc nhặng )

ở riêng con đực, con cái và chung cho cả loài đó Cách làm cụ thể như sau:

Rửa cồn trước (chỉ cần cồn 70°), rửa nước sau

Mỗi ống nghiệm chỉ rửa 10 ruồi Sau khi rửa nước (lắc 15 phút), vớt ruồi

ra ngay rồi đem nước ly tâm hoặc để lắng, sau đó lấy cặn đem soi

2.3 PHƯƠNG PHÁP TRIỂN KHAI PHÒNG CHỐNG RUỒI NHẶNG

Triển khai phòng chống ruồi nhặng tại các địa bàn nghiên cứu bao gồm các công việc: tuyên truyền giáo dục sức khỏe trong cộng đồng, lựa chọn các biện pháp phòng chống (giải pháp xây dựng hố xí dội nước và các biện pháp bổ

Trang 31

trợ) và tổ chức cộng đồng triển khai phòng chống Nội dung các công việc này được đưa vào phần kết quả nghiên cứu (phần 3.4)

Thời gian triển khai phòng chống ruồi nhặng tại các địa bàn như sau:

Tại xã Vũ Hoà các hộ xây dựng hố xí thấm dội nước được cấp 70% vật

tư đủ để xây dụng hố xí gồm 2 bao xi măng, 5 kg sắt phi 6 và 1 chiếc bệ Còn xã chi hỗ trợ thêm khoảng 10% bằng thóc còn lại của gia đình phải bỏ ra 20% kinh phí để hoàn chỉnh việc xây dựng công trình này

Tại xã An Vinh các hộ xây dựng hố xí thấm dội nước nói riêng và cụm công trình vệ sinh nói chung không có hỗ trợ vật tư của Bộ Y tế - UNICEF như 2 xã trên Phần chi phí xây dựng được xã hỗ trợ 10% kinh phí bằng thóc, còn lại gia đình bỏ khoảng 90% kinh phí xây dựng, chủ yếu là vật

vệ sinh về giữ vệ sinh môi trường nói chung

Trang 32

- Tại xã An Vinh nơi mở đầu thí điểm đề án mở rộng chương trình vệ sinh môi trường, công tác vận động cộng đồng được đặc biệt quan tâm với mục đích để người dân hiểu, thay đổi nhận thức và tự nguyện bỏ tiền xây dựng cụm công trình vệ sinh cho gia đình mình trong đó cốt lõi là xây dựng

hố xí dội nước Vì vậy Bộ Y tế - UNICEF đã hỗ trợ một cách tích cực cho công tác truyền thông, vận động tuyên truyền như các phương tiện ô tô, video, máy nổ, camera, catset, và có kinh phí nhỏ cho công tác vận động của cán

bộ đề án các cấp

Các phương pháp tiến hành, các hình thức vận động tuyên truyền giáo dục cộng đồng là nội dung nghiên cứu của chúng tôi và được trình bày trong phần 3.4

Việc đánh giá chất lượng kỹ thuật công trình vệ sinh, đánh giá việc sử dụng và bảo quản của nhân dân đuợc tiến hành như sau:

- Thời gian nghiệm thu: tùy số lượng hố xí được xây dựng mà đề ra thời điểm nghiệm thu nhưng thường khoảng 2 tháng Ban chỉ đạo xã kết hợp với cán bộ kỹ thuật đề án nghiệm thu 1 lần, phần quan tâm là kỹ thuật xây dựng Sau nghiệm thu địa phương sẽ trả kịp thời phần kinh phí (thường là bằng thóc) hỗ trợ những gia đình này và thưởng cho những tuyên truyền viên

Trang 33

sành hình chữ L Loại 3 bể gồm 2 bể phốt chứa phân và 1 bể ga chứa nước, loại

4 bể gồm 3 bể phốt và 1 bể ga

- Xếp loại kinh tế gia đình xây dựng hố xí thành 4 loại là khá, giàu, trung bình và nghèo dựa trên sự điều tra phân loại của chính quyền xã, xóm, trong đó chủ yếu dựa vào loại nhà cửa, phương tiện sinh hoạt, mức thu nhập chi tiêu ăn uống trong năm

Việc xếp loại về chất lượng khi nghiệm thu và tình hình sử dụng bảo quản dựa theo mẫu phiếu điều tra của chương trình vệ sinh môi trường Bộ Y tế

Xếp loại chất lượng nghiệm thu hố xí dội nước theo 3 mức :

+ Tốt : có nút nước kín, chất lượng hố đảm bảo về độ sâu, thấm nước tốt (

hố xí thấm ), kín ( hố xí tự hoại và bán tự hoại ) nắp trát kín, có bể chứa nước dội

+ Chấp nhận: có một số khiếm khuyết như thiếu hố nước dội, vị trí xây

bể không thuận lợi cho nước thấm, nút nước có độ sâu dưới 2 cm hoặc nắp bể chứa phân không kín hoàn toàn

+ Kém : không có nút nước hoặc nắp bể đậy không trát kín, hố xí tự hoại

bể dò, đặt bể không đúng qui định làm phân không trôi khi dội nước…

- Xếp loại tình hình sử dụng và bảo quản hố xí theo 3 mức:

+ Tốt : hố xí kín đáo, sạch sẽ, không có mùi hôi, không có ruồi nhặng,

có sọt đựng giấy, đủ nước dội…

+ Chấp nhận : còn ruồi nhặng đậu trên bệ xí, bệ bẩn, giấy để chưa gọn + Kém : không có cánh cửa, không có sọt đựng giấy, thiếu nước dội nên mùi hôi, nhiều ruồi nhặng, bẩn, tắc phân ở bệ

2.4 PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ KẾT QUẤ PHÒNG CHỐNG RUỒI NHẶNG

2.4.1 Phương pháp đánh giá sự thay đổi nhận thức, thức hành của nhân dân

Kết quả của việc tuyên truyền giáo dục được thể hiện bằng sự thay đổi nhận thức, thái độ, thực hành của nhân dân tại các địa bàn nghiên cứu Sự thay

Trang 34

đổi này dược đánh giá qua phiếu điều tra (KAP) vào 2 thời điểm trước và sau tác động

Phương pháp cụ thể như sau:

- Phỏng vấn bằng phiếu điều tra đã được xây dựng sẵn để đánh giá nhận thức, thái độ, thực hành của nhân dân về vệ sinh môi trường Các điều tra viên là các bác sĩ được tập huấn và thống nhất kế hoạch, kỹ thuật điều tra

- Đối tượng điều tra: là chủ hộ có thể đại diện cho mọi người trong gia đình

- Qui mô mẫu nghiên cứu: tối thiểu điều tra 50% số hộ ở cấp xóm và 10% số hộ ở cấp xã

- Thời gian nghiên cứu: trước và sau tác động của các biện pháp vệ sinh môi trường

- Chọn mẫu: theo phương pháp ngẫu nhiên đơn Khung mẫu là danh sách các chủ hộ đầu tiên Bằng phương pháp cổng liền cổng ( door to door ) điều tra các hộ tiếp theo Nếu không gặp gia đình phải quay lại 2 lần nữa, nếu vẫn không gặp mới được thay đổi bằng hộ khác

- Tính tỷ lệ % câu trả lời dương tính Dùng p để so sánh sự khác biệt trước và sau tác động giữa 3 điểm nghiên cứu và điểm đối chứng, trong từng điểm nghiên cứu ( 33, 61)

Cụ thể : ở xóm 7 Bình Minh điều tra vào tháng 12/ 1990 và tháng 11/

1991 mỗi đợt 82 người, ở Vũ Hòa vào tháng 12/1991 và tháng 12/1992 mỗi đợt

140 người, ở An Vinh vào tháng 11/1992 và tháng 12/1993 mỗi đợt 150 người,

ở Hòa Bình vào tháng 12/ 1990 với 109 người

Điều tra tình hình nhận thức thái độ, thực hành của cộng đồng theo các câu hỏi như sau :

1- Ruồi nhặng có thể truyền bệnh

Trang 35

2- Tiêu chảy do ăn uống không hợp vệ sinh

3- Hố xí hở là ổ phát sinh ruồi nhặng

4- Dùng phân tươi bón ruộng có hại tới sức khỏe

5- Coi hố xí là một bộ phận cần thiết của 1 căn hộ

6- Không muốn dùng phân tươi bón ruộng

7- Cần thiết phải diệt ruồi

8- Muốn xây dựng, sử dụng hố xí dội nước

9- Cần rửa tay trước khi ăn và sau đại tiện

10- Sẵn sàng mua các dụng cụ ngăn cản và diệt ruồi

11- Tổng vệ sinh ngoại cảnh sẽ làm bớt ruồi

12- Muốn làm giếng khoan và bể lọc nước

13- Đã xây dựng hố xí dội nước

14- Dùng vỉ ruồi, bẫy thủy tinh

15- Tham gia tổng vệ sinh

Các loài ruồi nhặng được giám sát là : ruồi nhà, nhặng xanh và ruồi chợ Đây là 3 loại ruồi nhặng có số lượng lớn nhất và có ý nghĩa dịch tễ tại các điểm nghiên cứu

Ruồi nhặng được giám sát trong nhà và ngoài nhà ở Tại mỗi điểm chọn ngẫu nhiên 8 hộ gia đình, tại mỗi hộ đặt 1 đĩa bả (bả ruồi của Viện VSDT Hà

Trang 36

Nội) trong nhà ở (ở độ cao 60 - 80 cm so với mặt đất, bả đặt trên tờ giấy kích thước 50 cm x 50 cm) và 1 bẫy lồng vải màn treo, mồi cá ươn ở ngoài vườn nhà Các bẫy, bả đặt từ 8 giờ - 16 giờ

Mật độ ruồi trong nhà tính bằng số con trung bình/bả/ngày Mật độ ruồi (nhặng) ngoài nhà tính bằng số con trung bình/bẫy/ngày

Tại xóm 7 Bình Minh và xã Vũ Hòa ruồi nhặng được giám sát trong năm tác động và một năm tiếp theo (năm 1991 - 1992 ở Bình Minh, 1992 - 1993

ỏ Vũ Hòa) Xã An Vinh được giám sát trong năm 1993

Số liệu được xử lý bằng phương pháp thống kê toán học trên máy vi tính

để tính P và vẽ đồ thị

2.4.3 Phương pháp giám sát bệnh tiêu chảy và nhiễm giun

Chúng tôi đã tiến hành điều tra định kỳ hàng tháng tình hình bệnh tiêu chảy theo phiếu điều tra CDD (chương trình CDD, 1986) tại xóm 7 Bình Minh năm 1991 với cỡ mẫu điều tra là 350 người, tại xã Vũ Hòa năm 1992 với cỡ mẫu điều tra là 610 ngưòi và xã Hòa Bình năm 1991, 1992 với cỡ mẫu điều tra là 521 người Phương pháp điều tra được trình bày ở phần 2.1

Chúng tôi đã tiến hành xét nghiệm phân xác định tỷ lệ nhiễm các loại giun đũa, tóc, móc (%) và cường độ nhiễm các loại giun này (số trứng/1 gam phân) tại Bình Minh từ 1990 - 1992: tháng 12/1990 xét nghiệm 158 mẫu (đã nói

ỏ phần 2.1), tháng 6/1992 xét nghiệm 71 mẫu và tháng 11/1992 xét nghiệm 70 mẫu: So sánh kết quả giữa thời điểm trưóc và sau tác động bằng p Phương pháp

cu thể đã được trình bày ở phần 2.1

Để xác định sự ô nhiễm trứng giun trong đất (số trứng/100 g đất), chúng tôi đã xét nghiệm đất ở các vị trí khác nhau với các thời điểm khác nhau theo phương pháp cải tiến của Spindler

Trang 37

Cách làm cụ thể như sau:

Thu mẫu đất ở nhà nơi mọi người thường có mặt như trong nhà, sân nhà, đường đi vườn Lấy 10 - 15 điểm ở độ sâu khác nhau (0, 5, 10 cm)

- Dùng KOH hoặc NaOH: 5%

- Cho 10 gam đất vào ống ly tâm có 20 ml dung dịch NaOH, ly tâm 2 phút đổ nước kiềm đi Đổ NaNO3 (tỷ trọng 1,4) vào cặn, khuấy đều, rồi lại ly tâm 2 phút Hớt lấy váng đem ly tâm hoặc để láng lấy cặn phết lên phiến kính có

1 giọt Glyxerin để soi kính tìm trứng giun

Trong các năm 1990- 1991 đã xét nghiệm tổng số 596 mẫu đất tại Bình Minh, 376 mẫu tại Hoà Bình, cụ thể như sau: tháng 12 năm 1990 (trước tác động) đã xét nghiệm 230 mẫu đất tại Bình Minh, 236 mẫu đất tại Hòa Bình (đã nói ở phần 2.1), tháng 12/1991 (sau tác động) đã xét nghiệm 140 mẫu đất tại Hòa Bình, tháng 11/1992 (1 năm sau tác động) đã xét nghiệm 226 mẫu đất tại Bình Minh Số liệu được sử lý trên máy vi tính và tính p để đánh giá sự sai khác giữa các điểm, trong từng điểm trước và sau tác động (26, 52)

Trang 38

CHƯƠNG III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ, Y TẾ CỦA TỈNH THÁI BÌNH

3.1.1 Đặc điểm địa lý, khí hậu

Thái Bình là một tỉnh đồng bằng ven biển thuộc vùng hạ lưu châu thổ sông Hồng Diện tích tụ nhiên của Thái Bình là 1508,8 km2, phía đông nam giáp Vịnh Bắc bộ với 50 km bờ biển, phía tây nam giáp tỉnh Nam hà, phía Bắc giáp tinh Hải Hưng và thành phố Hải Phòng

Địa hình Thái Bình bằng phẳng Độ cao trung bình là + 1 - 2 m so với mặt biển Khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình của các tháng trong năm là 22,33°C, tổng số giờ nắng trung bình là 1700 giờ/năm, độ ẩm tương đối

Trang 39

trung bình của các tháng trong năm là 84,5%, lượng mưa trung bình 1777 mm/năm (số liệu của Uỷ ban Kế hoạch và Uỷ ban Khoa học kỹ thuật tỉnh Thái Bình)

Hình 2: Tình hình diễn biến của nhiệt độ và độ ẩm trong từng tháng trong năm của tỉnh Thái Bình (1991)

3.1.2 Tình hình dân số và thu nhập của nhân dân tỉnh Thái Bình

Về mặt hành chính Thái Bình có 7 huyện và 1 thị xã gồm 285 xã phường, dân số 1.708.856 người, trong đó năm 835.630 người, chiếm 48,9%, nữ

Trang 40

873.226 người, chiếm 51,1% Mật độ dân số 1154 người/km2 (đứng hàng thứ 3 sau thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội) Chủ yếu nhân dân sống ở nông thôn (94,68%) Mật độ người sống ở các huyện thị trong tỉnh không đồng đều, trong

đó cao nhất là Thị xã (2900 ngưòi/km2), sau đó là Đông Hưng (1101 - 2900 người/km2

)

Hình 3: Mật độ dân số (người/km 2 )

Ngày đăng: 24/05/2020, 14:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm