1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Khía cạnh pháp lý của hoạt động sáp nhập và mua lại ở Việt Nam

72 1,6K 19
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khía cạnh pháp lý của hoạt động sáp nhập và mua lại ở Việt Nam
Tác giả Lê Thị Hồng Cẩm
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Hòa Nhân, Thầy Giáo Nguyễn Hoàng Duy Linh, Thầy Giáo Trần Văn Quang
Trường học Đại học Kinh tế - Đại học Đà Nẵng
Chuyên ngành Tài chính tiền tệ
Thể loại Đề án
Năm xuất bản 2023
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 406,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chương I: Cơ sở lý thuyết về hoạt động sáp nhập và mua lại doanh nghiệp. Nội dung của chương đề cập đến những lý luận chung về hoạt động M&A theo thông lệ của quốc tế, trong đó đặc biệt chú

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Cùng với sự phát triển sôi động trên thị trường Việt Nam hiện nay mà theo nhiều

người gọi là “bùng nổ”, hoạt động “sáp nhập và mua lại doanh nghiệp” (M&A) xuất hiện

với tần suất ngày càng gia tăng trên các phương tiện truyền thông đại chúng, gây được nhiều

sự chú ý của dư luận

Thực tế thì M&A đã có lịch sử lâu dài trên thế giới mà điển hình là tại những quốc gia

có nền kinh tế thị trường phát triển Riêng ở Việt Nam, hoạt động này mới bắt đầu được quan tâm kể từ khi Luật doanh nghiệp 1999 ra đời Tuy nhiên chỉ với lịch sử 10 năm ấy, cho đến nay M&A tại Việt Nam đã có những bước đi đáng kể, chiếm giữ vai trò là một công cụ quan trọng góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp Đặc biệt, trong bối cảnh nền kinh tế ảm đạm chung, khi tiềm lực tài chính của nhiều doanh nghiệp suy giảm, thì hoạt động này càng được quan tâm Song, để hỗ trợ M&A phát huy tốt hiệu quả thì trước hết

cần phải có một hành lang pháp lý đầy đủ và hoàn thiện Do đó, tìm hiểu về Thực trạng pháp luật của hoạt động M&A ở Việt Nam hiện nay đang là nhu cầu của rất nhiều người.

Nắm bắt tính thời sự của vấn đề trên cùng với sự gợi ý ban đầu của TS Nguyễn Hòa Nhân – Trưởng khoa Tài chính Ngân hàng – Đại học kinh tế - Đại học Đà Nẵng, tôi đã quyết

định chọn “Khía cạnh pháp lý của hoạt động M&A ở Việt Nam” làm đề tài tìm hiểu trong

cuốn đề án Nhập môn Tài chính tiền tệ này Cụ thể, đề án gồm ba chương:

Chương I: Cơ sở lý thuyết về hoạt động sáp nhập và mua lại doanh nghiệp.

Nội dung của chương đề cập đến những lý luận chung về hoạt động M&A theo thông

lệ của quốc tế, trong đó đặc biệt chú ý khai thác khía cạnh pháp lý của hoạt động M&A trong tiến trình thực hiện giao dịch M&A

Chương II: Thực trạng pháp lý hoạt động sáp nhập và mua lại ở Việt Nam.

Trên tinh thần là nội dung cốt lõi của toàn bộ đề án, chương này đã liệt kê tất cả những quy định của pháp luật Việt Nam hiện nay về hoạt động M&A (trong phạm vi có thể) Sau

đó, kết hợp phân tích đánh giá chúng và chỉ ra những “lỗ hỏng” trong khung pháp lý M&A

Trang 2

Chương III: Hoàn thiện khung pháp lý cho hoạt động M&A ở Việt Nam.

Kế thừa những vấn đề được chỉ ra ở Chương II, chương này đi đề xuất những giải pháp có thể góp phần hoàn thiện khung pháp lý M&A ở Việt Nam, xoay quanh những vấn đề như: liệu có cần soạn thảo thêm một bộ luật riêng về M&A, những định hướng chung và cách tháo gỡ những vấn đề cụ thể

Mặc dù đã rất cố gắng trong quá trình tìm hiểu, song do những hạn chế về khả năng tìm kiếm thông tin cũng như sự non nớt trong việc phân tích tổng hợp những kiến thức về pháp luật, đề án này có thể còn nhiều thiếu sót, thậm chí cả sai lầm về kiến thức chuyên môn

Vì vậy, tôi rất mong nhận được sự góp ý của quý thầy cô và bạn đọc để nâng cao hơn nữa những hiểu biết còn sơ khai của mình về M&A

Cuối cùng, tôi xin chân thành cám ơn: TS Nguyễn Hòa Nhân và thầy giáo Nguyễn Hoàng Duy Linh, thầy giáo Trần Văn Quang – giảng viên bộ môn Luật kinh tế, khoa Kinh tế

- đã hướng dẫn và giúp đỡ tôi tìm kiếm thông tin để hoàn thành cuốn đề án này

Sinh viên

Lê Thị Hồng Cẩm

Trang 3

MỤC LỤC

Lời mở đầu 1

Mục lục 3

Chương I: Cơ sở lý thuyết của hoạt động sáp nhập và mua lại doanh nghiệp (M&A) 6

1.1 Khái niệm và động lực của hoạt động sáp nhập và mua lại doanh nghiệp 6

1.1.1 Các khái niệm 6

1.1.1.1 Sáp nhập doanh nghiệp 6

1.1.1.2 Mua lại doanh nghiệp 7

1.1.1.3 Phân biệt sáp nhập và mua lại 8

1.1.2 Những động lực thúc đẩy hoạt động sáp nhập và mua lại doanh nghiệp 9

1.1.2.1 Động lực hiệu quả kinh tế 9

1.1.2.2 Động lực hiệu quả tài chính 10

1.1.2.3 Động lực phát triển 11

1.1.2.4 Động lực đa dạng hóa các hoạt động kinh doanh 11

1.2 Tiến trình thực hiện giao dịch sáp nhập và mua lại doanh nghiệp 11

1.2.1 Tìm kiếm doanh nghiệp mục tiêu 12

1.2.2 Thẩm định pháp lý và xác định giá trị giao dịch 14

1.2.3 Đàm phán, giao kết và thực hiện hợp đồng 15

1.3 Các vấn đề tài chính trong hoạt động sáp nhập và mua lại doanh nghiệp 18

1.3.1 Định giá thỏa thuận sáp nhập và mua lại doanh nghiệp 18

1.3.1.1 Trường hợp thanh toán bằng tiền 18

1.3.1.2 Trường hợp thanh toán bằng cổ phần 19

1.3.2 Tác động của giao dịch M&A đối với thu nhập trên mỗi cổ phần (EPS) và sự tăng trưởng của công ty 21

1.3.3 Kế toán các giao dịch M&A 23

Trang 4

1.3.3.1 Theo phương pháp mua lại 23

1.3.3.2 Theo phương pháp gộp chung giản đơn 23

Chương II: Thực trạng pháp lý hoạt động sáp nhập và mua lại ở Việt Nam hiện nay 25

2.1 Thực tiển hoạt động sáp nhập & mua lại ở Việt Nam 25

2.1.1 Nhu cầu của hoạt động M&A tại Việt Nam 25

2.1.2 Đánh giá hoạt động M&A tại Việt Nam 29

2.1.2.1 Đặc điểm của hoạt động M&A ở Việt Nam trong thời gian qua 29

2.1.2.2 Những hạn chế của hoạt động M&A ở Việt Nam hiện nay 32

33

2.2.1 Cơ sở pháp lý của hoạt động M&A ở Việt Nam 33

2.2.1.1 Luật doanh nghiệp 2005 34

2.2.1.2 Luật đầu tư 2005 37

2.2.1.3 Luật cạnh tranh 2004 38

2.2.1.4 Một số quy định khác 42

a) Nghị định 108/2006/NĐ-CP 42

b) Nghị định 139/2007/NĐ-CP 44

c) Quyết định 88/2009/QĐ-TTg 45

d) Quyết định số 55/2009/QĐ-TTg 47

e) Nghị định 109/2008/NĐ-CP 48

f) Dự thảo Thông tư hướng dẫn M&A các tổ chức kinh doanh chứng khoán 49

g) Dự thảo Thông tư hướng dẫn M&A các ngân hàng thương mại 50

2.2.2 Một số tồn tại trong khung pháp lý M&A ở Việt Nam 50

Chương III: Hoàn thiện khung pháp lý hoạt động M&A ở Việt Nam 60

3.1 Sự cần thiết việc hoàn thiện khung pháp lý của hoạt động M&A ở Việt Nam.60 3.2 Các giải pháp hoàn thiện khung pháp lý của hoạt động M&A ở Việt Nam 61

Trang 5

3.2.2 Định hướng chung trong việc ban hành các quy định về M&A 62

3.2.3 Những giải pháp cụ thể hoàn thiện khung pháp lý cho hoạt động M&A 64

3.2.4 Một số giải pháp hỗ trợ khác 69

Kết luận 71

MUA LẠI DOANH NGHIỆP

Trang 6

1.1 Khái niệm và động lực của hoạt động sáp nhập và mua lại doanh nghiệp

1.1.1 Các khái niệm

Sáp nhập và mua lại (merges and acquisitions), viết tắt: M&A, là thuật ngữ được sử dụng để chỉ hoạt động kết hợp hai hay nhiều doanh nghiệp lại với nhau theo một số cách thức nhất định nhằm mục đích tận dụng các giá trị cộng hưởng từ việc kết hợp đó Cụ thể như sau:

1.1.1.1 Sáp nhập doanh nghiệp (Merges)

Sáp nhập doanh nghiệp là việc hai hoặc nhiều doanh nghiệp (doanh nghiệp bị sáp nhập) chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình sang một doanh nghiệp mới, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của các doanh nghiệp bị sáp nhập

Sáp nhập gồm hai hình thức là sáp nhập cổ phần và sáp nhập tài sản:

Sáp nhập cổ phần xảy ra khi doanh nghiệp bên mua mua cổ phần của doanh

nghiệp bên bán Cổ phần được mua một cách trực tiếp từ cổ đông mà không phụ thuộc vào sự chấp thuận hay không chấp thuận của ban lãnh đạo công ty bên bán Một trong những vấn đề mà công ty bên mua phải đương đầu là một số cổ đông sẽ không bán cổ phần của họ, do đó ngăn cản sự thuần nhất hoàn toàn của công ty

Sáp nhập về tài sản là một hình thức hợp nhất mà trong giao dịch đó, bên doanh

nghiệp mua mua tài sản của bên bán trực tiếp từ doanh nghiệp (không thông qua

cổ đông) Trong giao dịch này bên mua không cần phải đánh giá các khoản nợ của doanh nghiệp bán tài sản bởi chúng không liên quan đến bên mua Bên bán tài sản chấm dứt hoạt động sau khi nhận được tiền hay cổ phần của mình theo sự thỏa thuận giữa hai bên Do không còn tài sản để hoạt động, bên bán thường phân phối

cổ phần (do bên mua trả) cho cổ đông của họ rồi tự giải tán

1.1.1.2 Mua lại doanh nghiệp (Acquisitions) (*)

(*) Trên thực tế hoạt động này còn được gọi là “mua bán doanh nghiệp”.

Mua lại doanh nghiệp là việc một doanh nghiệp (doanh nghiệp mua lại) mua toàn bộ hoặc một phần tài sản của doanh nghiệp khác (doanh nghiệp bị mua lại) đủ để kiểm soát, chi

Trang 7

Như vậy, mua lại doanh nghiệp gồm hai trường hợp: mua lại toàn bộ và mua lại một phần doanh nghiệp Hoạt động mua lại toàn bộ doanh nghiệp có nhiều nét tương đồng với hoạt động sáp nhập doanh nghiệp, vì thế chúng ta rất dễ nhầm lẫn giữa hai trường hợp này

(cách thức phân biệt chúng sẽ được đề cập ở phần tiếp theo) Hoạt động mua lại một phần

doanh nghiệp thì thường được thực hiện dưới hình thức mua tài sản, cổ phần của doanh nghiệp khác đủ để kiểm soát, chi phối hoạt động của doanh nghiệp bị mua đó Việc mua lại này hoàn toàn khác với hoạt động góp vốn và mua cổ phần của các nhà đầu tư nhỏ lẻ Do đó, chỉ khi một doanh nghiệp đạt được mức sở hữu phần vốn góp, cổ phần của doanh nghiệp khác đủ để tham gia quyết định các vấn đề quan trọng của doanh nghiệp đó thì mới có thể coi đây là hoạt động mua lại Ngược lại, khi doanh nghiệp sở hữu phần vốn góp, cổ phần không đủ để quyết định các vấn đề quan trọng của doanh nghiệp khác thì đây chỉ được coi là hoạt động đầu tư thông thường

Dù một doanh nghiệp tiếp quản một doanh nghiệp khác dưới hình thức mua lại hay sáp nhập, thì những hoạt động đó cũng chỉ thuộc một trong ba hình thức kết hợp sau: kết hợp theo chiều ngang, kết hợp theo chiều dọc và kết hợp theo phương thức liên nghành

Kết hợp theo chiều ngang được tiến hành giữa các doanh nghiệp trong cùng ngành

kinh doanh Khi các doanh nghiệp hoạt động hợp nhất theo hình thức này sẽ làm cho mức độ cạnh tranh trên thị trường giảm xuống Điều này đặc biệt đúng trong những ngành có mức độ cạnh tranh cao Tuy nhiên, thường thì luật pháp của nhiều quốc gia không cho phép tiến hành một sự hợp nhất tiềm ẩn sự giảm bớt tính cạnh tranh trên thương trường

Kết hợp theo chiều dọc được tiến hành giữa một doanh nghiệp kết hợp với một bên

khác chính là một trong số những nhà cung cấp của nó (mở rộng về phía trên) hay với một trong những khách hàng của doanh nghiệp (mở rộng về phía dưới) Nói tóm lại, đây là sự kết hợp giữa các doanh nghiệp cùng tuyến sản phẩm, nhưng khác nhau về trạng thái sản xuất

Kết hợp theo phương thức liên ngành được tiến hành giữa hai công ty không cùng

hoạt động trong một lĩnh vực kinh doanh Các công ty này không cạnh tranh với nhau, cũng như không có mối liên hệ cung ứng hay mua bán với nhau

Trang 8

1.1.1.3 Phân biệt “sáp nhập” và “mua lại”

Mặc dù “sáp nhập” và “mua lại” thường được đề cập cùng nhau với thuật ngữ quốc tế phổ biến là “M&A” nhưng giữa chúng vẫn có sự khác biệt về hình thức lẫn bản chất

Theo các khái niệm trên thì điểm khác nhau cơ bản giữa “sáp nhập” và “mua lại” là:

***“Sáp nhập” diễn ra đối với toàn bộ tài sản của các doanh nghiệp bị sáp nhập, còn

“mua lại” có thể diễn ra với toàn bộ hoặc một phần tài sản của doanh nghiệp bị mua lại đủ để nắm quyền kiểm soát doanh nghiệp đó

***“Sáp nhập” sẽ dẫn đến việc chấm dứt sự tồn tại của tất cả các doanh bị sáp nhập, đồng thời cho ra đời một pháp nhân mới Còn “mua lại” không cho ra đời pháp nhân mới Trường hợp chỉ mua lại một phần doanh nghiệp thì doanh nghiệp bị mua lại vẫn còn tài sản

để hoạt động, và do đó vẫn tiếp tục tồn tại Trường hợp mua lại toàn bộ doanh nghiệp thì việc doanh nghiệp bị mua lại có còn tồn tại hay không sẽ phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của doanh nghiệp đi mua lại, nếu doanh nghiệp bị mua lại vẫn tiếp tục hoạt động như một chủ thể kinh doanh độc lập thì nó sẽ trở thành một công ty con trong một tập đoàn kinh tế

Trên thực tế để phân biệt hoạt động “sáp nhập” doanh nghiệp với hoạt động “mua lại” toàn bộ doanh nghiệp người ta thường phải xem xét nhiều yếu tố Xét đến cùng thì bản chất của “M&A” vẫn là quyền sở hữu công ty Trong giao dịch M&A, nếu “sáp nhập” buộc các bên vào một “giao dịch bình đẳng” thì “mua lại” sẽ khó có sự “bình đẳng” mà thường mang mục đích thôn tính kiểu “cá lớn nuốt cá bé”

Khi một doanh nghiệp tiếp quản một doanh nghiệp khác và đặt mình vào vị trí chủ sở hữu mới thì thương vụ đó được gọi là “mua lại” Doanh nghiệp bị mua lại thường ngừng hoạt động và doanh nghiệp đi mua lại “nuốt” trọn hoạt động kinh doanh của nó, song cổ phiếu của công ty đi mua lại vẫn được giao dịch bình thường Còn theo cách hiểu thông thường nhất thì “sáp nhập” diễn ra khi hai doanh nghiệp, thường có cùng quy mô, đồng thuận gộp lại thành một công ty mới thay vì hoạt động và sở hữu riêng lẻ Loại hình này thường được gọi là “Sáp nhập ngang bằng” Cổ phiếu của cả hai công ty sẽ ngừng giao dịch

và cổ phiếu của công ty mới sẽ được phát hành Ví dụ trường hợp hai hãng Daimler-Benz và Chrysler đã thực hiện sáp nhập và một công ty mới (pháp nhân mới) ra đời mang tên DaimlerChrysler

Trang 9

Tuy nhiên trên thực tế hình thức sáp nhập ngang bằng không diễn ra thường xuyên do nhiều lý do Một trong những lý do chính là việc truyền tải thông tin ra công chúng cần có lợi cho cả công ty bị mua và công ty mới sau khi sáp nhập Trong khá nhiều trường hợp, một công ty mua lại một công ty khác và trong thỏa thuận đàm phán sẽ cho phép công ty bị mua tuyên bố với bên ngoài rằng hoạt động này là sáp nhập ngang bằng cho dù về bản chất là hoạt động mua lại Một thương vụ mua lại cũng có thể được gọi là sáp nhập khi cả hai bên đồng thuận liên kết cùng nhau vì lợi ích cho cả hai công ty Nhưng một khi bên bị mua không không muốn bị thâu tóm và thậm chí sử dụng các kỹ thuật tài chính để chống lại việc

bị thâu tóm đó thì hoạt động M&A ở đây hoàn toàn mang màu sắc của một thương vụ mua lại

Tóm lại, một thương vụ được coi là sáp nhập hay mua lại (trường hợp toàn bộ doanh nghiệp) hoàn toàn phụ thuộc vào việc nó được diễn ra một cách thân thiện giữa hai bên hay hay bị ép buộc thâu tóm nhau Mặt khác, còn là cách truyền tải thông tin ra bên ngoài cũng như sự nhìn nhận của ban giám đốc, nhân viên và cổ đông của công ty.

1.1.2 Những động lực thúc đẩy hoạt động sáp nhập và mua lại doanh nghiệp

1.1.2.1 Động lực hiệu quả kinh tế

Đây được xem là động lực chủ yếu thúc đẩy hoạt động M&A Hiệu quả kinh tế thu được từ hoạt động sáp nhập và mua lại doanh nghiệp để phát triển sản xuất chủ yếu xuất phát

từ lợi thế của sản xuất qui mô lớn Vì sự sáp nhập và mua lại dẫn đến qui mô sản xuất của doanh nghiệp phát triển, trong khi các chi phí cố định hoặc giảm xuống hoặc không tăng lên cùng qui mô này nên hiệu quả sản xuất nhờ đó được nâng cao Mặt khác, khi qui mô sản xuất

lớn được triển khai hoạt động sẽ đem lại sự cộng hưởng Sự cộng hưởng là hoạt động phối

hợp đem lại tổng hiệu quả toàn bộ lớn hơn tổng các hiệu quả riêng rẽ Chẳng hạn, nếu giá trị của công ty A là VA và nó đã mua lại công ty B với giá trị VB, thì do sự cộng hưởng nên giá trị sau khi mua lại VA+B > VA + VB

Động cơ hiệu quả kinh tế thúc đẩy hoạt động M&A trên cả ba phương diện kết hợp

Đa số các giao dịch đem lại hiệu quả kinh tế do lợi thế qui mô lớn đều thuộc loại kết hợp

Trang 10

theo chiều ngang Tuy nhiên, hoạt động M&A với sự kết hợp theo chiều dọc còn có thể tiết kiệm chi phí do giảm nguyên liệu, thành phẩm tồn kho và cải tiến phương thức phân phối, mua bán hàng hóa, nguyên vật liệu… Bên cạnh đó, nếu hai công ty kết hợp theo phương thức liên ngành cũng có thể tạo ra hiệu quả nhờ giảm chi phí quản trị chung do giảm số lượng cán bộ cấp cao, nhân viên văn phòng, các dịch vụ văn phòng, kế toán và nhiều chi phí khác…

1.1.2.2 Động lực hiệu quả tài chính

Hiệu quả tài chính có thể là một nguồn lợi nhuận thực sự do một giao dịch sáp nhập hay mua lại mang lại Có bốn lĩnh vực chủ yếu thường đem lại những khoản tiết kiệm cho một giao dịch mua lại là: giảm thuế, giảm chi phí phát hành chứng khoán mới, tăng tiềm năng vay mượn và chi phí sử dụng nợ thấp

Một doanh nghiệp bị thua lỗ không thể khấu trừ những khoản lỗ đó vào thuế Tuy nhiên, trong phạm vi cho phép thì công ty mua lại công ty thua lỗ đó được phép khấu trừ khoản lỗ của nó vào lợi nhuận của công ty vừa mua trong năm tiếp theo và được hưởng phần lợi nhuận do giảm thuế

Còn trong tình huống hai công ty sáp nhập lại, có thể cho phép chúng tiết kiệm các chi phí phát hành các chứng khoán mới Chi phí phát hành giảm do quy mô phát hành tăng, do

đó đem lại nguồn lợi ròng cho công ty

Khi một công ty thực hiện việc mua lại hay sáp nhập với một công ty khác thì vị thế tín dụng của nó sẽ cao hơn bởi thu nhập của công ty sau khi sáp nhập hay mua lại thường lớn hơn lợi nhuận của từng công ty riêng rẽ Nhờ đó làm tăng khả năng vay mượn, các chi phí phải trả lãi tăng lên và dẫn đến giảm thuế thu nhập phải nộp, khoản tiết kiệm này cũng được coi là lợi nhuận thực tế

1.1.2.3 Động lực phát triển

Phát triển là mục tiêu rất quan trọng của doanh nghiệp, sự phát triển bên trong của bản thân doanh nghiệp là một quá trình phức tạp bởi doanh nghiệp cần đầu tư mua sắm, lắp đặt máy móc thiết bị, xây dựng thêm nhà xưởng, đào tạo công nhân, tìm thị trường tiêu thụ… và

để làm được những việc này thì cần phải có thời gian chuẩn bị, đầu tư sức người và sức của

Trang 11

Do đó trong nhiều trường hợp việc mua lại hay sáp nhập một công ty khác là cách làm hiệu quả và tốn ít thời gian nhất để phát triển qui mô của một doanh nghiệp.

1.1.2.4 Động lực đa dạng hóa các hoạt động kinh doanh

Đa dạng hóa đầu tư có tác dụng làm giảm rủi ro của doanh nghiệp Bởi vậy, việc đầu

tư mua một doanh nghiệp không cùng tuyến sản phẩm (kết hợp theo phương thức liên ngành) sẽ đem lại cho doanh nghiệp một nguồn thu nhập ổn định hơn Đó là chưa kể đến việc đa dạng hóa đầu tư còn có thể giúp nâng cao tỷ suất sinh lợi của doanh nghiệp và mang lại cho cổ đông sau hợp nhất nhiều lợi nhuận hơn

Cũng bởi những động lực lớn lao kể trên mà hoạt động M&A đã hình thành từ rất sớm ở những nước có nền kinh tế thị trường phát triển, bên cạnh đó, với những biến đổi sâu sắc của nền kinh tế thế giới, hoạt động này ngày càng giữ vai trò quan trọng trong tiến trình thúc đẩy sự phát triển nói chung của các nền kinh tế.

1.2 Tiến trình thực hiện giao dịch sáp nhập và mua lại doanh nghiệp

Cũng như bất kỳ các giao dịch khác, giao dịch M&A muốn đạt được hiệu quả cao nhất thì phải đáp ứng được các điều kiện về nội dung và hình thức của nó Hay nói cách khác

doanh nghiệp phải xác định được: Giao dịch M&A để làm gì và giao dịch bằng cách nào?

Câu hỏi đầu tiên trả lời cho mục tiêu và chiến lược của các bên khi tham giao giao dịch, là động lực chính dẫn dắt doanh nghiệp trong các bước công việc sau này Và để thực hiện được mục tiêu của mình, sau khi trả lời câu hỏi này các bên phải cụ thể hóa các công việc cần phải làm, tức “giao dịch bằng cách nào?”

Có nhiều cách thức, các bước để thực hiện M&A, tuy nhiên trước tiên doanh nghiệp

phải biết được loại hình giao dịch M&A dự định tiến hành Ví dụ ở Việt Nam, pháp luật qui

định có các loại hình giao dịch M&A như sau:

(i) Sáp nhập, mua lại chủ yếu theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp;

(ii) Sáp nhập, mua lại như một hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài chủ yếu theo quy định của pháp luật về đầu tư;

Trang 12

(iii) Sáp nhập, mua lại như một hình thức tập trung kinh tế chủ yếu chịu sự điều chỉnh chủ yếu của pháp luật cạnh tranh;

(iv) Mua cổ phần chủ yếu theo các quy định của pháp luật chứng khoán;

(v) Sáp nhập, mua lại doanh nghiệp nhằm mục đích phát triển thương hiệu chủ yếu chịu sự điều chỉnh của pháp luật về sở hữu trí tuệ…

Việc biết được loại hình giao dịch M&A sẽ giúp cho các bên xác định: pháp luật điều chỉnh chủ yếu trong giao dịch M&A; cơ chế, quy trình tiến hành giao dịch; định hướng việc thiết lập các điều khoản trong hợp đồng M&A; và xác định nghĩa vụ thông tin, thông báo đến cơ quan quản lý của các bên… Sau khi đã xác định được các vấn đề như đã nêu trên, tùy vào mục tiêu cũng như loại hình giao dịch M&A cụ thể mà các bên tham gia triển khai các công việc chi tiết Thông thường một giao dịch M&A phải trải qua các bước:

• Bước 1: Tìm kiếm doanh nghiệp mục tiêu

• Bước 2: Thẩm định pháp lý và xác định giá trị giao dịch

• Bước 3: Đàm phán, giao kết và thực hiện hợp đồng

Chúng ta sẽ xem xét tiến trình trên dưới góc độ pháp lý của từng bước:

1.2.1 Tìm kiếm doanh nghiệp mục tiêu

Để đảm bảo M&A thành công, các bên cần lựa chọn nhiều hơn một doanh nghiệp mục tiêu nếu được Xuất phát từ việc M&A là nhu cầu của cả hai bên nên doanh nghiệp mục tiêu

ở đây có thể hiểu là bên mua hoặc/và bên bán, chứ không phải chỉ một mình bên bán Khi có nhiều doanh nghiệp mục tiêu, các bên sẽ có nhiều phương án và điều kiện thuận lợi đàm phán giao dịch M&A hơn

Việc xác định doanh nghiệp mục tiêu về bản chất là lấy được các thông tin chính xác

về các doanh nghiệp này, nhưng không phải bên tham gia M&A nào cũng dễ dàng có được các thông tin cần thiết Có nhiều cách thức tiếp cận để có được thông tin, trong đó việc hợp tác với các tổ chức tài chính như công ty chứng khoán, quỹ đầu tư… thường mang lại hiệu quả cao

Trong giai đoạn tìm doanh nghiệp mục tiêu, bên bán có thể phải tiết lộ nhiều thông tin mật mà không có sự đảm bảo chắc chắn liệu giao dịch M&A có được thực hiện hay không

Bởi vậy, ngay khi bắt đầu tiếp xúc với bên mua, bên bán có thể đề xuất ký Thoả thuận bảo

Trang 13

mật (thoả thuận không tiết lộ) Thoả thuận bảo mật liên quan đến cả bên bán, bên mua và

bên tư vấn (nếu có); quy định ai chịu trách nhiệm nhận và cung cấp thông tin; đưa ra danh sách những thông tin không cần bảo mật như thông tin mà công luận đã biết không phải do hành động vi phạm thoả thuận của bên nhận tin, thông tin vốn thuộc quyền nắm giữ của bên nhận tin, thông tin do bên nhận tin tự mở rộng, thông tin nhận từ một nguồn khác mà không

có giới hạn về việc sử dụng hay tiết lộ… Thời hạn của Thoả thuận bảo mật thông thường từ

3 đến 5 năm Trong trường hợp một bên vi phạm Thoả thuận bảo mật, bên kia có quyền khởi kiện để đòi được bồi thường thiệt hại do vi phạm gây ra Tuy nhiên trên thực tế rất khó chứng minh việc vi phạm nghĩa vụ bảo mật và thiệt hại do vi phạm gây ra nên có rất ít các vụ

vi phạm Thoả thuận bảo mật được đưa ra Toà

Kết thúc giai đoạn tìm kiếm đối tác, bên mua và bên bán có thể ký Thoả thuận nguyên tắc (hay còn có tên là Biên bản ghi nhớ, Thư cam kết…) Thoả thuận nguyên tắc

chính thức hoá các dự định và dự kiến của các bên, ghi nhận những thoả thuận đã đạt được, quy định về các bước tiếp theo, các vấn đề chi tiết để hoàn tất giao dịch Nó có thể bao gồm những điều khoản bắt buộc để hoàn tất giao dịch; vạch lộ trình giúp việc đi đến hợp đồng M&A dễ dàng; quy định nghĩa vụ của các bên trong quá trình đàm pháp, luật pháp áp dụng đối với giao dịch; ghi nhận về các quyền sở hữu trí tuệ (nếu các quyền sở hữu trí tuệ là lý do chính của giao dịch M&A); cam kết của bên bán không tiến hành đàm phán với bên thứ ba trong một thời gian nhất định để bên mua hoàn tất giao dịch M&A… Khi ký kết Thỏa thuận nguyên tắc bên bán thường muốn càng nhiều ràng buộc càng tốt, còn bên mua có thể ngược lại Việc Thoả thuận nguyên tắc có hiệu lực bắt buộc thi hành hay không tuỳ thuộc vào luật

áp dụng trong giao dịch Nếu luật áp dụng là luật của các nước Common Law (các nước chịu ảnh hưởng của pháp luật Anh - Mỹ), Thoả thuận nguyên tắc không có tính ràng buộc trừ trường hợp được quy định cụ thể trong thoả thuận Nếu luật áp dụng là luật của các nước Civil Law (các nước châu Âu lục địa), các bên có thể bị bắt buộc phải thi hành thoả thuận nguyên tắc dù không muốn như vậy Trong thỏa thuận, ở những điều khoản không ràng buộc người ta dùng từ “có thể”, ở những điều khoản thiết lập ràng buộc người ta dùng từ “sẽ”; và

có thể tuyên bố rõ ràng: thoả thuận nhìn chung không có tính ràng buộc nhưng có một số điều khoản (có đánh số rõ ràng) có nội dung ràng buộc các bên

Trang 14

1.2.2 Thẩm định pháp lý và xác định giá trị giao dịch

(a) Thẩm định pháp lý (Legal DD) giúp cho bên mua hiểu rõ tư cách pháp lý, các

quyền và nghĩa vụ pháp lý, chế độ pháp lý đối với các loại tài sản, hợp đồng lao động, hồ sơ đất đai, xây dựng, đầu tư … để trên cơ sở đó xác định tình trạng và các rủi ro pháp lý khi đưa

ra quyết định mua doanh nghiệp Việc thẩm định pháp lý thường do các luật sư tư vấn M&A thực hiện thay mặt cho bên mua

(b) Xác định giá trị giao dịch không hoàn toàn đồng nhất với hoạt động định giá doanh

nghiệp Thực chất, định giá doanh nghiệp là một công cụ để các bên có thể xác định được giá trị giao dịch, căn cứ vào giá trị doanh nghiệp được định giá và các điều kiện cụ thể khác mà các bên tham gia giao dịch có thể đàm phán và thương lượng các mức giá giao dịch M&A khác nhau Nhiều quan điểm chỉ coi trọng việc định giá doanh nghiệp của bên mua, tuy nhiên khi xem xét rộng hơn ở khái niệm xác định giá trị giao dịch thì bên bán cũng chính là bên có nhu cầu cần phải xác định giá trị doanh nghiệp không kém bên mua Nếu bên bán không định giá doanh nghiệp và không có cơ sở để tính toán giá trị của mình là bao nhiêu thì

sẽ rất bất lợi trong đàm phán giao dịch M&A khi bị bên mua ép giá Hoặc ngược lại, chính bên bán lại gây ra những khó khăn không cần thiết trong giao dịch, thậm chí là bỏ lỡ cơ hội khi đưa ra những mức giá quá cao, không có cơ sở

Việc định giá doanh nghiệp thường yêu cầu đến chuyên môn của các công ty kiểm toán hay các kiểm toán viên độc lập thực hiện Các phương pháp định giá thường dùng:

• Tỷ suất P/E: Bên mua có thể so sánh mức P/E trung bình của cổ phiếu trong ngành để xác định mức chào mua một cách hợp lý

• Tỷ suất Giá trị doanh nghiệp trên Doanh thu (EV/Sales): Bên mua so sánh chỉ số này với các doanh nghiệp khác trong ngành và sẽ chào giá ở một mức gấp một cơ số lần doanh thu

• Chi phí thay thế: Trong trương hợp này, việc mua bán dựa trên sự cân nhắc yếu tố chi phí để thiết lập một công ty từ đầu so với mua một công ty đang có sẵn Chẳng hạn, nếu tính một cách đơn giản giá trị công ty bao gồm toàn bộ tài sản cố định, trang thiết

bị và đội ngũ nhân viên Về lý thuyết, công ty đi mua có thể đàm phán mua lại công ty đang tồn tại với giá trị kể trên hoặc là thiết lập một công ty mới tương tự để cạnh

Trang 15

tranh Tuy nhiên, để xây dựng một công ty mới sẽ mất một khoảng thời gian dài để tập hợp đội ngũ quản lý & nhân sự tốt, mua sắm tài sản và tìm kiếm khách hàng chưa kể việc ra đời phải cạnh tranh với công ty đang tồn tại trên thị trường Phương pháp này thường gặp khó khăn đối với các ngành dịch vụ, nơi mà tài sản quan trọng nhất là con người và phương thức dựa trên ý tưởng là chính

• Phương pháp chiết khấu dòng tiền (DCF): Đây là công cụ định giá quan trọng nhất trong hoạt động M&A Mục đích của DCF là xác định giá trị hiện tại của công ty dựa trên ước tính dòng tiền mặt trong tương lai Dòng tiền mặt ước tính (được tính bằng công thức “Lợi nhuận + khấu hao - chi phí vốn - thay đổi vốn lưu thông”) được chiết khấu đến giá trị hiên tại có tính đến chi phí sử dụng vốn bình quân của công ty (WACC) Mặc dù DCF cũng có những hạn chế nhất định nhưng rất ít có công cụ nào

có thể cạnh tranh được với phương thức định giá này về mặt phương pháp luận

Số liệu về định giá, xác định giá trị giao dịch sát thực sẽ giúp tối thiểu hóa các khác biệt về quan điểm định giá giữa bên bán và bên mua Và do đó, giảm thiểu thời lượng các cuộc đàm phán thương lượng về sau và nâng cao khả năng thành công của giao dịch M&A

1.2.3 Đàm phán, giao kết và thực hiện hợp đồng

(a) Sau khi đã có kết quả thẩm định và xác định giá trị giao dịch, quá trình đàm phán

sẽ dẫn đến một kết quả phản ánh tập trung nội dung của giao dịch M&A, đó chính là hợp đồng M&A được giao kết giữa các bên Quá trình đàm phán rất quan trọng đối với giao dịch

M&A vì nếu hợp đồng M&A không phản ánh đủ và chính xác tất cả các kết quả của những công việc trước đó, các mong muốn và kỳ vọng của các bên hay hạn chế tối đa các rủi ro thì những công việc đã thực hiện sẽ không có giá trị hoặc giảm giá trị đi rất nhiều, cũng như mục đích M&A có thể bị ảnh hưởng theo chiều hướng tiêu cực

(b) Giao kết hợp đồng là công đoạn cuối cùng của việc thỏa thuận giao dịch M&A Đó

là khi các bên đã hiểu rõ về nhau cũng như hiểu rõ về mục đích và yêu cầu của mỗi bên, hiểu

rõ các lợi ích và rủi ro khi thực hiện M&A Hợp đồng M&A là sự thể hiện và ghi nhận

những cam kết của các bên đối với giao dịch Nó không chỉ là liên quan đến khía cạnh pháp

lý mà là sự phối hợp một cách hài hòa các yếu tố có liên quan đến giao dịch M&A khác như tài chính, kinh doanh… Chỉ khi kết hợp một cách hoàn chỉnh các yếu tố có liên quan thì Hợp

Trang 16

đồng M&A mới thật sự là công cụ để bảo đảm quyền lợi cho các bên tham gia giao dịch Không có mẫu hợp đồng chung cho tất cả các giao dịch M&A, vì vậy hợp đồng M&A phải dược xây dựng riêng cho từng trường hợp cụ thể; quy định đầy đủ các điều khoản cơ bản liên quan đến giao dịch M&A, đưa ra các yêu cầu, lợi ích, sự ràng buộc riêng biệt của doanh nghiệp và thậm chí quy định cả các vấn đề sau giao dịch M&A

Hợp đồng M&A bao gồm những nội dung chủ yếu sau: tên, địa chỉ, trụ sở chính của doanh nghiệp bị sáp nhập, mua lại; thủ tục và điều kiện sáp nhập, mua lại doanh nghiệp; phương án sử dụng lao động; thủ tục, điều kiện và thời hạn chuyển giao tài sản, chuyển vốn,

cổ phần, trái phiếu của công ty bị sáp nhập, mua lại; thời hạn thực hiện việc sáp nhập, mua lại; trách nhiệm của các bên… Trong đó, thủ tục và điều kiện sáp nhập, mua lại doanh nghiệp phải bao gồm các điều khoản tài chính chủ yếu trong giao dịch M&A và cơ cấu của giao dịch M&A Trách nhiệm của các bên bao gồm quyền và nghĩa vụ pháp lý của các bên, những hành động mà các bên phải thực hiện trước khi hoàn tất giao dịch M&A, các biện pháp để chống lại việc phá vỡ các ràng buộc trách nhiệm

Để giảm thiểu khả năng xảy ra tranh chấp, hợp đồng M&A nên được xây dựng như hồ

sơ toàn diện về tất cả các thoả thuận giữa các bên trong mọi khía cạnh của giao dịch, cần phải xác định rõ ai sẽ mua cái gì, khi nào mua, với giá bao nhiêu và dựa trên những điều kiện nào Bên cạnh đó, hợp đồng có thể xác định những thay đổi lập tức cần phải làm đối với công ty mục tiêu bao gồm các vấn đề như việc từ chức và bổ nhiệm các thành viên Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc, Kế toán trưởng; việc trả các khoản vay ngân hàng và thay đổi cơ cấu công ty mục tiêu Việc thanh toán giá mua có thể bằng một khoản phải trả cố định khi hoàn tất thoả thuận, cũng có thể là một khoản phải trả không cố định bao gồm khoản trả đầu tiên và các khoản trả tiếp theo tuỳ thuộc vào hiệu suất hoạt động của công ty mục tiêu

Trong hợp đồng M&A cần có những tuyên bố và cam kết của bên bán về tình trạng

và lịch sử của công ty mục tiêu bao gồm tất cả các khoản nợ cùng các khoản bồi hoàn phù hợp Bên mua cũng đưa ra các tuyên bố liên quan tới tình trạng tài chính và luật pháp của công ty mình Các tuyên bố và cam kết có chức năng cơ bản là phân bổ rủi ro giữa các bên, buộc bên bán có trách nhiệm pháp lý với các khoản nợ trước khi hoàn tất hợp đồng M&A và buộc bên mua có trách nhiệm pháp lý với những khoản nợ phát sinh sau khi hoàn tất Những

Trang 17

tuyên bố và cam kết này chỉ có hiệu quả khi các bên đưa ra chúng đáng tin cậy nên cần có những biện pháp để hạn chế rủi ro khác như điều chỉnh giá, giữ lại một phần giá mua, các cam kết của bên thứ ba, bảo hiểm Trong hợp đồng M&A, các bên đưa ra cam kết rằng những thông tin và dữ liệu về thực trạng một vấn đề là đúng Bên bán cần chú ý để tránh bị ràng buộc pháp lý với các tuyên bố và cam kết được đưa ra trong hợp đồng và có thể đề nghị

bổ sung điều khoản loại trừ các nghĩa vụ pháp lý đã tuyên bố, trừ các tuyên bố đã được đưa vào hợp đồng M&A; phân biệt tuyên bố sai vô ý và vô hại với tuyên bố sai cố ý

Mục đảm bảo bồi thường là cơ chế để tránh những rủi ro tài chính trong giao dịch

M&A, nó định rõ các quyền của bên mua và bên bán Theo đó, nếu một bên vi phạm các tuyên bố, cam kết, thoả thuận hạn chế và những ràng buộc khác được ghi trong hợp đồng M&A, bên kia sẽ nhận được bồi thường Các bên có thể đưa ra một số hạn chế về mức tối thiểu và tối đa của các khoản bồi thường

(c) Thực hiện hợp đồng là bước triển khai các cam kết, nghĩa vụ của mỗi bên để đáp

ứng quyền lợi của bên kia, ví dụ: thanh toán tiền giao dịch; triển khai các hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp của đối tác chiến lược; chuyển giao tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp; giải quyết các tranh chấp SPA; thực hiện bảo đảm hoặc bồi thường (nếu có)…

Có những hợp đồng, thời gian từ khi giao kết đến khi thực hiện xong xuôi các nghĩa

vụ và trách nhiệm của mỗi bên không phải là ngắn Do vậy, nếu không có những dự liệu chính xác về các vướng mắc và rủi ro có thể gặp phải trong quá trình thực hiện hợp đồng thì rất dễ dẫn tới sự vi phạm hợp đồng của một hoặc hai bên, mặc dù đó có thể là do nguyên nhân khách quan chứ không phải do sự cố tình của bên vi phạm

Như đã phân tích ở trên, chúng ta có thể thấy những vấn đề trong tiến trình thực hiện giao dịch M&A thuộc những kiến thức chuyên ngành của nhiều lĩnh vực không chỉ là pháp lý mà còn quản trị, tài chính, kế toán… Vì vậy, để có được giao dịch M&A hiệu quả, đáp ứng đúng yêu cầu và mong muốn, hạn chế tối đa các rủi ro có thể gặp phải, các bên tham gia giao dịch nên sử dụng tư vấn của tổ chức chuyên nghiệp trong lĩnh vực M&A

1.3 Các vấn đề tài chính trong hoạt động sáp nhập và mua lại doanh nghiệp

1.3.1 Định giá thỏa thuận sáp nhập và mua lại doanh nghiệp

Trang 18

1.3.1.1 Trường hợp thanh toán bằng tiền

Giả sử các nhà quản trị của công ty A đang phân tích khả năng mua công ty B Giao dịch M&A ở đây chỉ nên được tiến hành nếu thị giá của công ty sau M&A lớn hơn tổng giá trị của A và B trước khi M&A

Giả sử giá trị của công ty A được ký hiệu là VA, công ty B là VB và giá trị của công ty sau M&A là VA+B, thì giao dịch sẽ đem lại lợi nhuận kinh tế nếu VA+B>VA+VB

Gọi G là phần doanh thu của giao dịch M&A do chênh lệch giữa VA+B và VA+VB:

G = VA+B – (VA + VB)Giá trị thuần của giao dịch M&A sẽ là:

NPVA = VA+B – VA – C, với C là khoản tiền phải trả cho giao dịch

= VA+B – (VA+VB) + VB – C = G + VB – C

Giả sử VB là số tiền tối thiểu được trả mà công ty B có thể chấp thuận, tức Cmin = VB.

Nếu A chỉ trả cho B số tiền tối thiểu Cmin thì A sẽ hưởng toàn bộ thu nhập do giao dịch M&A tạo ra:

NPVA = G + VB – Cmin = G + VB – VB = GNgược lại, giả sử B dành được toàn bộ phần thu nhập do giao dịch M&A đem lại thì khoản tiền mà A phải trả cho B là Cmax:

Cmax = VB + G => NPVA = G + VB - Cmax = 0

Nếu số tiền thanh toán nằm trong [Cmin; Cmax] - giá trị cụ thể sẽ tùy thuộc vào sự

thương lượng giữa hai bên – thì giao dịch M&A sẽ đem lại thu nhập cho cả hai bên

Tuy nhiên một vấn đề khó khăn là xác định giá trị G Về nguyên tắc VA và VB là giá trị thị trường của từng công ty A, B Giá trị này sẽ phải được đo lường trước khi M&A, nhưng một khi thông tin của sự M&A được tung ra thị trường sẽ ngay lập tức có tác động nhất định đến VB Để khắc phục điều này, các bên nên đánh giá VA và VB bằng cách theo dõi hai giá trị này trên thị trường trong nhiều tuần trước khi thông tin về hoạt động M&A bị rò rỉ,

những giá trị được theo dõi này thường có tính hợp lý và đáng tin cậy hơn

Bên cạnh đó việc đánh giá giá trị doanh nghiệp sau giao dịch M&A cũng không kém phần phức tạp Hiển nhiên chúng ta không nên đợi cho đến sau giao dịch mới quan sát thị

Trang 19

giá, VA+B phải được ước tính trước giao dịch Phương pháp tiếp cận tốt nhất khi ước lượng

giá trị VA+B là đánh giá những thay đổi sẽ xãy ra do hệ quả của giao dịch M&A

Sau đây là một ví dụ minh họa cho việc định giá thỏa thuận sáp nhập và mua lại thanh toán bằng tiền:

Hai công ty X và Y cùng hoạt động trong nghành chế tạo thiết bị, máy móc Thị giá cổ phần của từng công ty trước thông báo hợp nhất lần lượt là 48 và 40 USD Nhưng vì cuộc thương lượng sáp nhập kéo dài trong nhiều tuần và tin đồn lan đi khắp mọi nơi trong suốt hai tuần cuối cùng, nên thị giá này được xem là không phù hợp để xác định giá trị của từng công

ty

Lại có, trước khi thông tin về sự sáp nhập bị rò rỉ ra bên ngoài, thị giá cổ phần của X

và Y lần lượt là 40 và 30 USD Tại thời điểm này chỉ số cổ phần trong ngành tăng 10%, do đó giá bán cổ phần nếu không chịu ảnh hưởng của thông tin bị rò rỉ lần lượt sẽ là 40*1,1 = 44 USD và 30*1,1 =33 USD Công ty X đã phát hành 10.000.000 cổ phần, công ty Y phát hành 4.000.000 cổ phần Do đó giá trị công ty X và Y lần lượt là 440 và 132 triệu USD.

Giả sử thị giá công ty sau sáp nhập được ước tính hợp lý là 660 triệu USD thì phần thu nhập do sự cộng hưởng mang lại là: G = 660 – (440 + 132) = 88 triệu USD.

C min = V Y = 132 triệu USD; C max = G + V Y = 132 + 88 = 220 triệu USD.

Giới hạn mà công X sẵn sàng trả cho công ty Y là: [132; 220] triệu USD

(Nếu công ty X trả cho công ty Y là 160 triệu thì NPV X = 88 + 132 – 160 = 60 triệu USD; NPV Y = 88 – 60 = 28 triệu USD.)

1.3.1.2 Trường hợp thanh toán bằng cổ phần

Trở lại tình huống ban đầu, thay vì trả cho công ty B bằng tiền, công ty A có thể đề

nghị trả bằng cổ phần Muốn vậy cần phải thiết lập tỷ số chuyển đổi cổ phần, qua đó biết

được cổ đông của công ty B sẽ nhận được bao nhiêu cổ phần công ty mới cho mỗi cổ phần của mình Gọi tỷ số này là Z thì số tiền công ty A phải trả là C = ZVA+B Khi đó:

NPVA = G + VB – C = G + VB – ZVA+B

Gọi phần đền bù tối thiểu cho việc mua lại được bên bán - công ty B - chấp thuận là

VB Nếu cổ đông của công ty B nhận được cổ phần có thị giá lớn hơn hoặc bằng VB thì họ có lợi nhuận hoặc không bị lỗ Ta có:

Trang 20

ZminVA+B = VB => Zmin = VB/VA+B

Mặt khác cổ đông của công ty B cũng có thể nhận được phần đền bù tối đa Zmax, với:

ZmaxVA+B = G + VB => Zmax = (G + VB)/VA+B

Mặt khác nếu ký hiệu số lượng cổ phần của công ty A trước giao dịch M&A là NA và

số lượng cổ phần mới mà công ty cần phát hành để phân phối cho cổ đông của công ty B là

ΔNA, chúng ta có thể xác định tỷ số chuyển đổi cổ phần như sau:

Nếu công ty X phân phối 2,5 triệu cổ phần cho cổ đông công ty Y thì tổng số cổ phần sẽ

là 12,5 triệu Với ước tính giá trị hợp lý của công ty sau M&A là 660 triệu USD thì giá trị mỗi

cổ phần là 660 tr/12,5 tr = 52,8 USD Tổng giá trị phải trả cho công ty Y là: 2.500.000*52,8

= 132 triệu USD

Tương tự nếu cổ đông của công ty Y nhận được 5.000.000 cổ phần thì giá trị phải trả cho công ty Y là: 660/15*5.000.000 = 220 triệu USD.

Để tìm được NPV X trong giao dịch M&A này ta ứng dụng công thức: C = ZV X+Y =

ΔN X P X với P X là giá bán cổ phần của công ty sau giao dịch Khi đó:

NPV Xmin = G + V Y – C max = G + V Y - ΔN Xmax P X = 88 + 132 – 220 = 0.

Rõ ràng công ty X có thể không chấp thuận đền bù 5.000.000 cổ phần cho cổ đông công

ty Y Bởi vậy hai bên sẽ tiến hành thương lượng để số cổ phần phải trả nằm trong [2,5 triệu; 5 triệu].

Trang 21

Giả sử công ty X trả cho cổ đông công ty Y 3,75 triệu cổ phần thì số cổ phần hiện tại của công ty là 13,75 triệu Giá trị của mỗi cổ phần là 660/13,75 = 48 USD Tổng giá trị phải trả là: 48*13,75 = 180 triệu USD và: NPV X = 88 + 132 – 180 = 40 triệu USD Trái lại, công

ty Y nhận được 180 triệu USD trong khi giá trị thị trương trước khi hợp nhất là 132 triệu USD nên: NPV Y = 180 – 132 = 48 triệu USD.

1.3.2 Tác động của giao dịch M&A đối với thu nhập trên mỗi cổ phần (EPS) và sự tăng trưởng của công ty

Để đánh giá tiềm năng của một giao dịch M&A cần xem xét ảnh hưởng của nó đối với thu nhập trên mỗi cổ phần EPS của công ty Giao dịch M&A có thể tạo ra sự tăng trưởng ngay sau đó cho doanh nghiệp mới mặc dầu chưa có tác động của sự gia tăng sản xuất Vì vây, nhà quản trị tài chính cần phải phân biệt sự tăng trưởng thực sự do kinh doanh sản xuất mang lại với sự tăng trưởng ảo, dù cho vấn đề này thực sự không phải đơn giản

Một giao dịch M&A kết hợp hai doanh nghiệp có mức tăng trưởng (P/EPS) khác nhau

sẽ đem lại sự thay đổi trong sự tăng trưởng thu nhập trên mỗi cổ phần (EPS) của doanh nghiệp sau giao dịch Nếu một doanh nghiệp kết hợp với một doanh nghiệp khác có tiềm năng tăng trưởng EPS thấp hơn thì tiềm năng tăng trưởng tương lai của doanh nghiệp sau giao dịch vẫn sẽ thấp, nhưng lại có thể tạo ra sự gia tăng EPS ngay sau giao dịch mà thực chất là một sự tăng trưởng ảo Ngược lại, nếu kết hợp với một doanh nghiệp có tiềm năng tăng trưởng cao hơn sẽ làm cho EPS của doanh nghiệp giảm ngay sau giao dịch, nhưng kỳ vọng sẽ tăng trưởng cao trong tương lai Còn nếu hai doanh nghiệp có mức tăng trưởng như nhau loại trừ lợi thế về qui mô, thì sự tăng trưởng EPS của doanh nghiệp sau giao dịch không thay đổi

Trong thực tế để thôn tính lẫn nhau, một doanh nghiệp đi thôn tính thường mua lại một doanh nghiệp khác có mức tăng trưởng thấp hơn hoặc bằng mức tăng trưởng của chính

nó Bằng cách này doanh nghiệp chấp nhận sự đánh đổi giữa việc gia tăng EPS ngay lập tức với một sự tăng trưởng thấp hơn trong tương lai

Xét tình hình của hai công ty A và B:

Đơn vị tính: 1000 đ

Trang 22

10 lần 1.200.000

50.000 2.500 cp 20 160

8 lần 400.000

a) Giả sử công ty A mua lại công ty B thanh toán bằng cổ phần và sự mua lại này

không tạo ra một khoản lợi nhuận cộng hưởng nào

Khi đó G = 0 và Z = V B /(V A + V B ) = 400.000/(1.200.000 + 400.000) = 0,25

Số cổ phần mà công ty A phải trả cho công ty B là: ΔN A = ZN A /(1 – Z) = 0,25*2.400/(1 – 0,25) = 800

Tổng số cổ phần của công ty A sau mua lại là: 2.400 + 800 = 3.200

Lợi nhuận trên mỗi cổ phần: (2.400*50 + 2.500*20)/3.200 = 53,125 cao hơn EPS của

cả hai công ty trước giao dịch Nguyên nhân của việc này là do tỷ số P/EPS của công ty A lớn hơn công ty B.

b) Nếu giá bán cổ phần của công ty B là 200 thì tỷ số P/EPS của hai doanh nghiệp

bằng nhau và bằng 10 lần Khi đó: Z = 200*2.500/(1.200.000 + 200*2.500) = 5/17

Số cổ phần mà công ty A phải trả cho công ty B là: 5/17*2.400/(1 – 5/17) = 1000

Tổng số cổ phần của công ty A sau khi mua lại là 3.400 và EPS = 50 bằng với EPS của công ty A trước khi mua lại Điều này cho thấy sự hợp nhất không làm thay đổi EPS.

Tóm lại, tính tương quan so sánh giữa các tỷ số P/EPS của các doanh nghiệp tham gia giao dịch M&A sẽ quyết định sự thay đổi của thu nhập trên mỗi cổ phần (EPS) của doanh nghiệp mới sau giao dịch

1.3.3 Kế toán các giao dịch M&A

Khi kết hợp hai doanh nghiệp thì các báo cáo tài chính của chúng cũng phải được kết hợp lại Có hai phương pháp để kết hợp các báo cáo tài chính là: phương pháp mua lại và phương pháp gộp chung giản đơn

Trang 23

1.3.3.1 Theo phương pháp mua lại

Theo phương pháp này, khi doanh nghiệp bỏ tiền ra mua một doanh nghiệp khác thì

có thể coi đây là một hình thức đầu tư Số tiền phải trả cho bên bán được ghi vào phần tài sản của bên mua

Trong trường hợp số tiền phải trả cao hơn giá trị ghi trên sổ sách kế toán của các tài sản đã mua, thì phần tiền cao hơn được ghi vào mục tài sản vô hình của doanh nghiệp trong BCĐKT Giá trị tài sản vô hình này được trừ dần trong suốt đời sống dự kiến của doanh nghiệp

1.3.3.2 Theo phương pháp gộp chung giản đơn

Theo phương pháp này, toàn bộ tài sản và nguồn vốn trên BCĐKT của hai doanh nghiệp được gộp chung lại với nhau Giao dịch này không tạo ra bất kỳ loại tài sản vô hình nào trong BCĐKT, và do đó không có sự khấu trừ dần tài sản vô hình vào lợi nhuận trong báo cáo thu nhập

Để thấy rõ sự khác biệt giữa hai phương thức hạch toán trên, chúng ta cùng đi phân tích ví dụ sau:

Giả sử doanh nghiệp A mua lại doanh nghiệp B Bảng cân đối kế toán của các doanh nghiệp trước và sau khi diễn ra giao dịch M&A được tóm tắt ở bảng bên dưới:

PP gộp chung giản đơn

PP mua lại Giá mua

11.000

Giá mua 15.000 I/ Tài sản

0 100.000 25.000 75.000

20.000 20.000 0 20.000 7.000 13.000

120.000 120.000

0 120.000 32.000 88.000

118.000 118.000

0 118.000 32.000 86.000

122.000 120.500 1.500 122.000 32.000 90.000

Trang 24

Tình huống 1: Theo phương pháp gộp chung giản đơn, toàn bộ tài sản và nguồn vốn

trước giao dịch được gộp chung với nhau thành giá trị chung tính theo giá trị sổ sách kế toán

Tình huống 2: Theo phương pháp mua lại, tùy theo sự thỏa thuận giữa hai bên mà

doanh nghiệp A có thể trả cho doanh nghiệp B giá mua cao hơn hoặc thấp hơn giá trị ròng các loại tài sản của doanh nghiệp B.

Giá trị ròng các loại tài sản của doanh nghiệp B: 20.000 – 7.000 = 13.000 tr.

Trường hợp 1: Khi giá mua ấn định ở mức 11.000 tr cùng các khoản nợ có giá 7.000 tr thì tổng giá trị mua của doanh nghiệp B là 18.000 tr, thấp hơn phương pháp cộng giản đơn 2.000 tr Do đó, vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp sau hợp nhất giảm 2.000 tr.

Trường hợp 2: Khi giá mua 15.000 tr cộng các khoản nợ có giá trị 7.000 tr, tổng giá trị mua của doanh nghiệp B sẽ là 22.000 tr, cao hơn giá trị sổ sách 2.000 tr Trong trường hợp này, tổng giá trị doanh nghiệp A sau giao dịch M&A là 122.000 tr, cao hơn phương pháp công giản đơn 2.000 tr Khoản tiền này được ghi nhận là tài sản vô hình của doanh nghiệp A và được khấu trừ dần trong những năm sau đó.

Trường hợp 3: Khi giá mua doanh nghiệp đúng bằng giá trị ròng của các loại tài sản, tức là 13.000 tr, cộng với khoản nợ 7.000 tr thì BCĐKT của doanh nghiệp A sau giao dịch M&A theo hai phương pháp kết hợp báo cáo tài chính là giống nhau.

Chương II: THỰC TRẠNG PHÁP LÝ HOẠT ĐỘNG M&A Ở

VIỆT NAM HIỆN NAY

Trước khi phân tích thực trạng pháp lý hoạt động M&A, chúng ta sẽ đi xem xét tổng quan về thực tiển hoạt động này ở Việt Nam trong thời gian qua

2.1 Thực tiển hoạt động sáp nhập & mua lại doanh nghiệp ở Việt Nam

2.1.1 Nhu cầu của hoạt động M&A tại Việt Nam hiện nay

*** Nhu cầu mua và bán doanh nghiệp

Trang 25

Trên thế giới, các hoạt động mua bán, sáp nhập doanh nghiệp (M&A) được hình thành

từ rất sớm và phổ biến ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển với sự cạnh tranh quyết liệt giữa các công ty, tập đoàn đa quốc gia với nhau Rồi dần dần chúng tạo ra một xu thế tất yếu, hướng các công ty, tập đoàn đến việc liên kết tập trung nhằm tận dụng giá trị

cộng hưởng từ thương hiệu, tài chính và thị trường… Việt Nam chúng ta cũng đang trên con đường đến với xu thế đó.

Ở Việt Nam, hoạt động M&A đã được khởi động từ năm 2000 Trong nhiều năm qua, nước ta đã đạt tốc độ tăng trưởng GDP bình quân trên 7,5%/năm Mục tiêu đến năm 2010, Việt Nam sẽ có khoảng 500.000 DN Bên cạnh đó chính phủ và nhà nước còn đặc biệt chú trọng đến việc thu hút đầu tư nước ngoài và phát triển mạnh mẽ, đồng bộ các loại thị trường Đây chính là những cơ sở và điều kiện quan trọng để hoạt động M&A tại Việt Nam có thể nhanh chóng phát triển và hình thành nên một thị trường M&A trong những năm tới

Theo số liệu thống kê của hãng kiểm toán PricewaterhouseCoopers, ngay từ năm 2003

đã có khoảng 40 vụ giao dịch M&A tại Việt Nam được công bố với giá trị giao dịch khoảng hơn 100 triệu USD Số vụ và giá trị giao dịch M&A trong các năm 2004 và 2005 có giảm sút, mỗi năm chỉ còn khoảng 20 vụ với giá trị khoảng dưới 100 USD Năm 2006 đã tăng lên 38 vụ với giá trị gần 300 triệu USD Năm 2007 tăng tới 108 vụ, với giá trị hơn 1.700 triệu USD Năm 2008 vừa qua, do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế toàn cầu, số vụ giao dịch M&A tại Việt Nam giảm còn 146 vụ với giá trị 1.009 triệu USD Sáu tháng đầu năm 2009 đã có 112 vụ M&A với tổng giá trị 232 triệu USD Tuy nhiên, những số liệu này chưa phải là tất cả; vì thực

tế có những thương vụ M&A, có giá trị sáp nhập lên tới hàng chục triệu USD đã diễn ra nhưng không được công bố Các nghiên cứu của PricewaterhouseCooper còn cho biết: tỷ lệ tăng trưởng về số lượng các thương vụ M&A được công bố tại Việt Nam là rất cao so với thế giới và khu vực Cụ thể, năm 2007 so với 2006 tăng 184% (thế giới tăng 14%, Trung quốc tăng 30%); năm 2008 so với năm 2007 tăng tới 35% (thế giới giảm 10%, Trung quốc tăng 15%) Riêng 6 tháng đầu năm 2009 so với 6 tháng đầu năm 2008 Việt Nam tăng 107% (thế

giới giảm 15%, Trung quốc giảm 21%) Tại “Hội thảo quốc tế về M&A ở Việt Nam –

trong điều kện hội nhập và suy thoái kinh tế”, do báo Thế giới và Việt Nam (Bộ Ngoại

Trang 26

giao) tổ chức tại TP.HCM ngày 20/7/2009, các nhà phân tích đã đưa ra nhận định: sở dĩ hoạt

động M&A gia tăng mạnh mẽ trong thời gian qua là do cả hai nhu cầu mua và bán doanh nghiệp đều cùng tăng cao.

Nhu cầu mua tăng cao, điều này đặc biệt rõ trong năm 2006 – 2007 khi Việt Nam chính thức gia nhập WTO, những chính sách mở cửa và những ưu đãi về thuế của chính phủ khiến cho nhiều nhà đầu tư nước ngoài đánh giá cao cơ hội đầu tư ở Việt Nam Và trong bối cảnh việc thành lập doanh nghiệp mới còn gặp nhiều rào cản thì các nhà đầu tư nước ngoài thường có xu hướng lựa chọn M&A như là bước đầu tiên để tiếp cận một thị trường mới Cũng theo bản báo cáo của Công ty kiểm toán PricewaterhouseCoopers (PwC), các vụ M&A tại Việt Nam trong năm 2007 tăng nhanh nhất ở khu vực châu Á Thái Bình Dương Bên cạnh

đó, sự suy thoái của nền kinh tế Mỹ trong thời gian gần đây lại khiến cho các quỹ đầu tư, công ty và tập đoàn lớn trên thế giới nghĩ đến việc chuyển hướng kinh doanh sang các quốc gia có nền kinh tế phát triển nhanh, trong đó Việt Nam là một trong những lựa chọn

Ngược với bối cảnh kinh tế phát triển mạnh mẽ, vào thời điểm suy thoái kinh tế lan rộng trên phạm vi toàn cầu, cộng với việc mở cửa thị trường mạnh mẽ - dẫn đến sự cạnh tranh ngày càng gay gắt - thì rất nhiều doanh nghiệp ở Việt Nam đã không thể đứng vững

trên thương trường Số liệu điều tra của Công ty First Asia Limited cho biết: hơn 50% doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam đã phải đóng cửa hoặc chuyển nhượng sau trung bình 6 năm hoạt động do kinh doanh thua lỗ; hoặc lợi thế kinh doanh không còn do không thích nghi được với sự thay đổi của môi trường kinh doanh… Vì vậy, các doanh nghiệp này cũng đang

có ý định “bán mình” hoặc có xu hướng chủ động liên kết với nhau để cùng tồn tại và phát triển Mặt khác, đại đa số các doanh nghiệp Việt Nam lại đều có quy mô vừa và nhỏ, nên trước khi có một bước tiến mới là trở thành công ty đại chúng, họ thường cần đến một đối tác chiến lược để tái cơ cấu công ty Và làn sóng M&A là cơ hội để các doanh nghiệp hàng đầu Việt Nam tính toán kỹ, nắm bắt thời cơ để đưa ra quyết định đúng, đưa hoạt động kinh doanh lên tầm cao mới, đồng thời cũng là cơ hội cho các nhà đầu tư nước ngoài thông qua M&A mua được cổ phần và vốn góp của công ty Việt Nam với giá hợp lý hơn so với cách đây không lâu khi thị trường chứng khoán còn “nóng”

Trang 27

Để hổ trợ cho cung và cầu gặp nhau, các sàn giao dịch, các công ty tư vấn mua bán doanh nghiệp trực tuyến cũng đã ra đời Các công ty rao bán trên mạng có mặt ở mọi ngành nghề, từ tin học, xây dựng, du lịch đến may mặc với các mức rao từ vài chục triệu đồng

đến hàng trăm tỷ đồng Tiêu biểu là hai sàn mua bán trực tuyến: sàn IDJ của Công ty đầu tư

và phát triển quốc tế IDJ (www.muabandoanhnghiep.com), sàn ICE của Công ty cổ phần

mua bán doanh nghiệp và kết nối đầu tư quốc tế ICE (www.sanmuabandoanhnghiep.com)

*** Xu hướng M&A tại Việt Nam

Điểm lại những thương vụ M&A ở Việt Nam trong thời gian qua có thể thấy nổi lên

những điển hình như: Công ty Liên doanh Nhà máy Bia Việt Nam đã mua lại Nhà máy bia Foster’s với giá trị 105 triệu USD (năm 2006); Daiichi Mutal Life mua lại 100% giá trị sở hữu của Bảo Minh CMG; Quantas mua lại 49% sở hữu của Pacific Airlines (50 triệu USD); HSBC mua 15% cổ phần của Techcombank (33,7 triệu USD) vào năm 2007; Maybank mua 15% cổ phần của ABbank (94,7 triệu USD); Petro Vietnam mua 20% sở hữu của Oceanbank (24 triệu USD) năm 2008; và mới nhất là vụ giao dịch M&A giữa Viettel mua lại 18,91% cổ phần của Vinaconex có giá trị 700 tỷ đồng…

Nhìn chung, làn sóng M&A diễn ra mạnh mẽ đặc biệt trong các lĩnh vực tài chính, ngân hàng Giai đoạn 2006 - 2007 là quãng thời gian sôi động của hoạt động M&A trên thị

trường tài chính Rất nhiều các đại gia tài chính thế giới đã có mặt tại Việt Nam và bước đi đầu tiên họ thể hiện sức mạnh của mình trên thị trường chính là việc mua lại một phần, góp vốn hay thậm chí mua đứt các doanh nghiệp Việt Nam Riêng thời điểm năm 2008, khi thị trường chứng khoán liên tục xuống dốc dẫn đến sự suy giảm khối lượng giao dịch, các cuộc IPO mới ít ỏi, hoạt động đầu tư trực tiếp ảm đạm, thì hơn 80 công ty chứng khoán Việt Nam

- hoạt động với hơn 300.000 tài khoản – đã không ngừng thua lỗ Điều này tất yếu làm bùng lên làn sóng tìm kiếm đối tác kết hợp của các CTCK, mà đặc biệt là các đối tác nước ngoài

Mở màn cho làn sóng ấy là thương vụ CTCK Hướng Việt bán 49% cổ phần (mức tối đa) cho tập đoàn Morgan Standley, sau đó đổi tên thành CTCK Morgan Stanley Hướng Việt Kéo theo sau đó không lâu là các thương vụ đình đám khác cũng do bán mức tối đa cổ phần cho phép như: CTCK Nhấp & Gọi bán cổ phần cho Golden Bridge, CTCK Việt Nam bán cổ

Trang 28

phần cho Ngân hàng RHB (Malaysia)… Ngoài ra còn có: Daiichi Nhật Bản mua lại toàn bộ Công ty bảo hiểm nhân thọ Bảo Minh CMG; Ngân hàng AZN đầu tư vào Ngân hàng Sacombank và Công ty chứng khoán SSI;… Lĩnh vực tài chính ngân hàng trở thành tâm điểm của hoạt động M&A ở Việt Nam trong thời gian qua còn xuất phát từ lý do: tiềm năng tăng trưởng của ngành tài chính, ngân hàng là rất lớn Theo số liệu thống kê của PricewaterhouseCoopers, lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam đang tăng trưởng 20% mỗi năm

kể từ đầu thập kỷ và tổng giá trị tài sản ước lượng hiện nay khoảng trên 80 tỉ USD Mặt khác, Việt Nam là nước có dân số đông và nền kinh tế lại đang bước vào thời kỳ phát trển mạnh, trong khi các nghiệp vụ ngân hàng hiện đại thâm nhập vào Việt Nam vẫn chưa nhiều, cho nên nhu cầu về vốn và dịch vụ liên quan đến vốn chắc chắn sẽ tăng mạnh

Bên cạnh lĩnh vực tài chính ngân hàng, rất nhiều lĩnh vực kinh doanh khác tại Việt Nam cũng đang thu hút giới đầu tư Cụ thể một khảo sát mới đây của Businessweek chỉ ra

rằng: ngành bán lẻ hiện đang đứng đầu về tính hấp dẫn, tiếp sau là các ngành công nghệ sinh học và dầu khí, chăm sóc sức khỏe Lý do là các công ty hoạt động trong các lĩnh vực

này thường có tính ổn định cao bất kể chu kỳ kinh tế, dù kinh tế có khủng hoảng thì con người ta vẫn phải chăm sóc sức khỏe và thõa mản các nhu cầu thiết yếu Thật vây, hầu hết các nhà đầu tư nước ngoài đổ vốn vào Việt Nam họ không những chỉ quan tâm đến các công

ty phát triển nhanh mà còn đặc biết chú ý đến dòng tiền các công ty này tạo ra trong tương lai Công ty đang phát triển nhanh thường có giá cao hơn mà dòng tiền chưa chắc đã ổn định

vì phải trang trải các nhu cầu phát triển Trong khi đó những công ty phát triển chậm hơn nhưng thuộc dạng có “tiềm năng” thì lại dễ dàng tổ chức lại sản xuất, cơ cấu lại chi phí hay định ra các chiến lược mới… Ngoài ra, các công cổ phần có lợi thế về bất động sản cũng được các chuyên gia đánh giá là đối tượng của M&A trong thời gian tới Tuy nhiên loại công

ty có tầm nhìn dài hạn, thu xếp bán nhà trả chậm trong nhiều năm sẽ được quan tâm hơn vì

dòng tiền trong tương lai là ổn định

Ngoài xu thế đang diễn ra phổ biến là các doanh nghiệp nước ngoài mua cổ phần của

doanh nghiệp Việt Nam, thì còn một xu thế mới đáng lưu ý trong thời gian tới là các doanh nghiệp Việt nam có tiềm lực sẽ mua lại các doanh nghiệp trong nước Tuy nhiên, yếu tố

quan trọng nhất không phải là mua được hoặc bán được, mà là khả năng tái cơ cấu doanh

Trang 29

nghiệp và kỹ năng quản trị doanh nghiệp để tạo giá trị cao hơn Do đó, các doanh nghiệp Việt Nam khi đi tìm đối tác kết hợp ngoài yêu cầu về vốn, họ còn đòi hỏi kinh nghiêm quản

lý, khả năng hổ trợ công nghệ cho doanh nghiệp, và đặc biệt là một vị thế, uy tín sẵn có để đưa doanh nghiệp lên một tầm cao mới…

Mặc dù xuất hiện chưa lâu ở Việt Nam nhưng có thể thấy hoạt động M&A đã, đang và

sẽ là một hoạt động cực kỳ tiềm năng trong những năm tới về cả mặt số lượng, hình thức và lĩnh vực Nhận định này cũng phù hợp với đánh giá của Cục Quản lý cạnh tranh (Bộ Công

Thương), theo đó, hoạt động mua bán doanh nghiệp (M&A) thậm chí sẽ tăng trưởng với tốc độ 30-40%/năm Trước khi gia nhập WTO, các chuyên gia kinh tế đã cho rằng các

Doanh nghiệp trong nước có thể bị thôn tính bởi các Doanh nghiệp nước ngoài, tuy nhiên sau một thời gian kể từ khi Việt Nam gia nhập WTO dự báo này vẫn chưa diễn ra thực sự rõ

nét Điều này một phần do lộ trình hạn chế tiếp cận thị trường trong Nghị định thư gia nhập WTO của Việt Nam Theo lộ trình này đến hết năm 2009 rất nhiều các hạn chế như: “dưới

51%” áp dụng với hình thức đầu tư “hiện diện thương mại” hết cam kết, tỷ lệ nắm giữ “dưới 49%” trên thị trường chứng khoán, các tỷ lệ hạn chế trong các lĩnh vực tài chính khác, ngân hàng, bảo hiểm đối với nhà đầu tư nước ngoài cũng sẽ được điều chỉnh… Do đó, các chuyên

gia nhận định cuối năm 2009 sẽ là thời điểm bùng nổ của M&A trong nước Đặc biệt, giai đoạn 2009-2011 được đánh giá là “nóng bỏng” khi tiến trình cổ phần hóa các DN nhà nước

được đẩy mạnh đồng thời các công ty tư nhân thành công bắt đầu mở rộng hoạt động sang các lĩnh vực khác

Để có được một cái nhìn tổng quan hơn về thực trạng của M&A ở Việt Nam, chúng

ta sẽ có một vài đánh giá sơ lược hoạt động này ở phần tiếp theo.

2.1.2 Đánh giá hoạt động M&A tại Việt Nam

2.1.2.1 Đặc điểm của hoạt động M&A ở Việt Nam trong thời gian qua

Hiện nay trong bối cảnh kinh tế thế giới thời kỳ khó khăn, các thương vụ M&A ở Việt Nam ít nhiều cũng chịu sự tác động Dẫu vậy, gắn liền với những đặc thù kinh tế của đất nước, hoạt động M&A ở Việt Nam trong thời gian qua mang những đặc điểm sau:

Trang 30

Một là, đa số các vụ M&A đáng kể đều có yếu tố nước ngoài Cũng có một vài vụ

sáp nhập giữa doanh nghiệp trong nước như Ngân hàng ACB mua ngân hàng Đại Á, Kinh Đô mua Tribeco hay Gạch Đồng Tâm mua Sứ Thiên Thanh Hầu hết những vụ còn lại đều có sự tham gia của ít nhất một bên là doanh nghiệp nước ngoài Trong đó,

có trường hợp doanh nghiệp nước ngoài mua lại toàn bộ cổ phần hoặc cổ phần chiến lược của doanh nghiệp trong nước như vụ Daiichi Nhật Bản mua lại toàn bộ Công ty bảo hiểm nhân thọ Bảo Minh CMG, vụ AZN đầu tư vào Ngân hàng Sacombank và Công ty chứng khoán SSI; HSBC - Techcombank; Dragon Capital – Vinamilk, REE Corp Ngược lại cũng có trường hợp doanh nghiệp trong nước mua lại doanh nghiệp nước ngoài như Kinh Đô mua kem Wall’s, Vinabico-Kotobuki Vietnam; và trường hợp sáp nhập giữa hai doanh nghiệp ĐTNN như Savills – Chesterton Vietnam

Sự hiện diện của yếu tố nước ngoài trong M&A của Việt Nam có thể được giải mã qua

ba lý do sau Trước hết, doanh nghiệp nước ngoài có ưu thế về kinh nghiệm và trình

độ quản lý trong việc tiến hành thuần thục các hoạt động M&A, trong khi doanh nghiệp Việt Nam còn bỡ ngỡ, nên không thể nắm thế chủ động trong hoạt động này Thứ hai, doanh nghiệp nước ngoài mới tạo ra nguồn “hàng hóa” tốt cho cả cung và cầu trong M&A Với tiềm lực tài chính của mình, họ mới là khách hàng của những thương

vụ hàng chục triệu USD mà các doanh nghiệp trong nước không thể với tới Mặt khác các doanh nghiệp trong nước cũng chỉ muốn liên doanh, liên kết với doanh nghiệp nước ngoài nhằm khai thác những thương hiệu tên tuổi và bề dày kinh nghiệm quản lý của họ Thứ ba, M&A là một hình thức đầu tư nước ngoài hiệu quả và phổ biến giúp các doanh nghiệp nước ngoài thâm nhập thị trường nội địa mà không phải chịu phí tổn thành lập, xây dựng thương hiệu và thị phần ban đầu Đặc biệt, trong bối cảnh thị trường dịch vụ được bảo hộ theo lộ trình cam kết WTO thì M&A là một trong những con đường ngắn nhất để các doanh nghiệp nước ngoài tiếp cận mạng lưới bán lẻ của Việt Nam

Hai là, hình thức M&A của Việt Nam mang tính “thân thiện” nhiều hơn Hầu như

thị trường chưa ghi nhận vụ thôn tính mang tính thù địch nào Các vụ sáp nhập thể hiện rõ sự hợp tác và ở một góc độ nào đó có thể nói, vẫn mang hơi hướng của hình

Trang 31

thức liên doanh giữa nhà đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài trước đây Tuy vậy, một số thủ đoạn lắt léo trong thâu tóm doanh nghiệp (vụ CocaCola Vietnam) và đối thủ (kem đánh răng Dạ Lan) cũng đã từng được sử dụng một cách bài bản

Ba là, cách thức và tác nghiệp M&A còn sơ khai Các vụ M&A chủ yếu là thâu tóm

hay được gọi phổ biến trên các phương tiện thông tin đại chúng là mua bán doanh nghiệp (toàn bộ hoặc một phần) Hầu như chưa có trường hợp hợp nhất Hình thức này cũng không phổ biến trên thế giới Hơn nữa, trình độ quản lý của Việt Nam chưa thể đáp ứng được mức độ hợp tác cao mà các vụ hợp nhất đòi hỏi Ngoài ra, rất nhiều vụ được xếp vào M&A nhưng thực chất thiên về đầu tư tài chính Đó chỉ là những trường hợp nắm vốn của nhau, mua lại cổ phần lớn để trở thành đối tác chiến lược (VinaCapital đầu tư vào Phở 24, Dược Hậu Giang, Hilton Opera; Indochina Capital – Mai Linh; Jaccar Fund - Hoàng Anh Gia Lai) mà không nhắm đến khống chế sở hữu

và điều hành công ty (thâu tóm) Mặc dù vậy, trong một số lĩnh vực tài chính ngân hàng doanh nghiệp nước ngoài cũng không có cách lựa chọn nào khác do những hạn chế mua cổ phần không quá 30% (ngân hàng), 49% (doanh nghiệp niêm yết), như trường hợp ANZ -SSI, Sacombank; Standard Chatter – Ngân hàng ACB

Bốn là, tỷ lệ thành công của các thương vụ M&A còn thấp, xấp xỉ 35% (theo

VTCnews) Hoạt động M&A trên toàn cầu đã có lịch sử trên 50 năm với vô số các

giao dịch sáp nhập và mua lại Tuy nhiên có một sự thật là “hơn một nữa các vụ M&A không tạo ra giá trị gia tăng" – trích lời ông Dominic Scriven, giám đốc quĩ

đầu tư Dragon Capital Theo thống kê các vụ M&A trên thế giới từ năm 1992-2006, trên tổng 3.207 vụ thì 59,3% tạo ra giá trị âm và phần còn lại là giá trị dương Tỷ lệ này ở châu Á là 51% trên tổng 443 vụ, ở Bắc Mỹ là 62% trên tổng số 1.950 vụ,… Dựa trên số liệu thống kê này, ông Dominic đã đưa ra vài kiến giải về nguyên nhân thất bại như: sự khác biệt về văn hóa, không định giá chính xác, các khoản nợ bị tăng đột biến, mâu thuẫn trong quản trị hay qui mô của các vụ M&A quá lớn…(Nguồn: Vinabull.com) Riêng ở Việt Nam, thị trường M&A mới chỉ có lịch sử trong vòng 10 năm trở lại, và lẽ dĩ nhiên với sự phát triển còn non trẻ đó, chúng ta cũng không phải

là một ngoại lệ Song so với thế giới thì tỷ lệ thành công của các thương vụ M&A ở

Trang 32

Việt Nam vẫn còn rất thấp Có nhiều nguyên nhân dẫn đến điều này mà trong đó chủ

yếu vẫn là những hạn chế của hoạt động M&A ở Việt Nam Những hạn chế ấy sẽ

được đề cập trong phần dưới đây.

2.1.2.2 Những hạn chế của hoạt động M&A ở Việt Nam hiện nay

Như đã đề cập ở trên, thị trường M&A ở Việt Nam còn hết sức non trẻ và do đó những tồn tại và hạn chế của nó là điều khó tránh khỏi, có thể kể đến một số hạn chế như:

• Thứ nhất, thực trạng pháp lý của hoạt động M&A ở Việt Nam còn nhiều hạn chế

• Thứ hai, ở Việt Nam vấn đề muôn thuở vẫn là tính minh bạch của thông tin tài chính chưa cao, thậm chí ngay cả những báo cáo tài chính được kiểm toán vẫn không đảm bảo được độ tin cậy cần thiết Điều này sẽ dẫn đến những khó khăn trong việc định giá doanh nghiệp nói riêng cũng như tiến trình thực hiện giao dịch M&A nói chung

• Thứ ba, các doanh nghiệp Việt Nam còn thiếu kiến thức về M&A Hầu hết các doanh nghiệp vẫn chưa được trang bị những kiến thức cơ bản và tổng thể về M&A, do đó, dẫn đến nhiều cuộc thương thảo không thành công, hoặc doanh nghiệp được mua lại, sáp nhập với những điều kiện, giá trị chưa thỏa mãn Trong khi đó, phía bên mua - nhà đầu tư nước ngoài – thường am tường quản trị, có tiềm lực tài chính, có nhiều kinh nghiệm trong sáp nhập mua lại doanh nghiệp và rất có thể đưa ra những hợp đồng phức tạp với những điều kiện bất lợi cho doanh nghiệp Việt Nam…

• Thứ tư, cách thức xây dựng thị trường M&A cũng thể hiện nhiều bất cập Ở Việt Nam, một số trang web như: muabancongty.com, muabandoanhnghiep.com đã được lập và được coi là “sàn giao dịch” của thị trường M&A Tuy nhiên, trên thực tế hoạt động M&A trên thế giới không diễn ra trên những trang web mang tính chất rao vặt như vậy Ngược lại, chúng được thực hiện qua những tác nghiệp mang tính chuyên nghiệp cao, trong những phòng họp kín Nội dung thương thảo M&A bao giờ cũng cần được giữ tuyệt mật cho đến phút chót bởi chúng có thể ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh

và giá trị cổ phiếu của các công ty, thậm chí hủy hoại ngay cả dự định sáp nhập đang được tiến hành Do đó, những trao đổi thể hiện trên các trang web như cách một số doanh nghiệp Việt Nam đang làm chỉ phù hợp để tìm kiếm cơ hội mua bán các cơ sở sản xuất, cửa hàng, thương hiệu rất khiếm tốn Tâm điểm của hoạt động M&A chính

Trang 33

là các trung gian có tính chuyên nghiệp về hoạt động này Họ vừa đóng vai trò môi giới vừa làm tư vấn cho các bên trong các giao dịch M&A

• Thứ năm, nếu nói tâm điểm của hoạt động M&A là các trung gian có tính chuyên nghiệp làm vai trò tư vấn và môi giới trong các giao dịch M&A, thì ở Việt Nam hoạt động của các trung gian này còn kém hiệu quả Do những hạn chế về hệ thống luật, tính chuyên nghiệp, cơ sở dữ liệu thông tin nên các công ty tư vấn, môi giới, luật sư, ngân hàng… chưa thể trở thành trung gian để thiết lập một “thị trường” để các bên mua - bán gặp nhau

Mặc dù M&A là xu hướng tất yếu trong quá trình phát triển nhưng nếu không giải quyết các hạn chế nêu trên thì chúng có thể sẽ kéo tụt sự phát triển của hoạt động này trong ngắn hạn Và trong số đó, nguy cơ đe dọa nhiều nhất đến sự phát triển M&A không thể không kể đến thực trạng pháp lý của hoạt động này Chúng ta sẽ tiếp tục phân tích nó ở phần tiếp theo.

2.2 Thực trạng pháp lý hoạt động M&A ở Việt Nam hiện nay

2.2.1 Cơ sở pháp lý của hoạt động M&A ở Việt Nam

Mặc dù M&A xuất hiện chưa lâu ở Việt Nam – trong vòng 10 năm trở lại đây, song cũng có thể nói pháp luật đã có những bước đi đáng kể, cơ bản đã hình thành được một cơ sở pháp lý khá đầy đủ cho hoạt động này Trong hệ thống luật thực định của Việt Nam hiện nay, hoạt động M&A đã được quy định với hai hệ thống chính:

• Quy định về thủ tục: quy trình thủ tục, hồ sơ giấy tờ, thẩm quyền giải quyết…

• Quy định về nội dung: các điều kiện, hạn chế, các nghiệp vụ trong việc tiến hành M&A

Những quy định này nằm rải rác trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau như: Luật cạnh tranh 2004, Luật doanh nghiệp 2005, Luật đầu tư 2005, Luật chứng khoán 2007 và các văn bản hướng dẫn, sửa đổi, bổ sung có liên quan… Bên cạnh đó, không thể không kể đến các Nghị định, Thông tư qui định về M&A trong các lĩnh vực chuyên ngành: tài chính, ngân

Trang 34

hàng, chứng khoán, bảo hiểm… Trong đó có những quy định rất rõ ràng, cụ thể liên quan đến thủ tục và nội dung của hoạt động M&A trong từng lĩnh vực

Chúng ta sẽ đi tìm hiểu chi tiết các qui định về M&A trong những văn bản kể trên:

2.2.1.1 Luật doanh nghiệp 2005

Với tư cách là đạo luật điều chỉnh trực tiếp các hoạt động của doanh nghiệp, Luật doanh nghiệp 2005 - ra đời thay thế cho Luật doanh nghiệp 1999 - đã tạo tiền đề cho các giao dịch M&A trên thị trường Việt Nam phát triển Luật này cung cấp một khuôn khổ pháp

lý ban đầu cho các doanh nghiệp nước ngoài có thể sở hữu cổ phần, đầu tư gián tiếp vào các doanh nghiệp Việt Nam

Khái niệm, thủ tục, hồ sơ đăng ký sáp nhập và hợp nhất doanh nghiệp được qui định trong Điều 152 và 153 như sau:

Điều 152: Hợp nhất doanh nghiệp

1 Hai hoặc một số công ty cùng loại (sau đây gọi là công ty bị hợp nhất) có thể hợp nhất thành một công ty mới (sau đây gọi là công ty hợp nhất) bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang công ty hợp nhất, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của các công ty bị hợp nhất

2 Thủ tủ hợp nhất công ty được qui định:

a) Các công ty bị hợp nhất chuẩn bị hợp đồng hợp nhất Hợp đồng hợp nhất phải có các nội dung chủ yếu về tên, địa chỉ trụ sở chính của các công ty bị hợp nhất; tên, địa chỉ trụ

sở chính của công ty hợp nhất; thủ tục và điều kiện hợp nhất; phương án sử dụng lao động; thời hạn, thủ tục và điều kiện chuyển đổi tài sản, chuyển đổi phần vốn góp, cổ phần, trái phiếu của công ty hợp nhất; thời hạn thực hiện hợp nhất; dự thảo Điều lệ công ty hợp nhất;

b) Các thành viên, chủ sở hữu công ty hoặc các cổ đông của các công ty bị hợp nhất thông qua hợp đồng hợp nhất, Điều lệ công ty hợp nhất, bầu hoặc bổ nhiệm Chủ tịch Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty, Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc công ty hợp nhất và tiến hành đăng ký kinh doanh công ty hợp nhất theo qui định của Luật này Trong trường hợp này, hồ sơ đăng ký kinh doanh phải kèm theo hợp đồng hợp nhất Hợp đồng hợp

Trang 35

nhất phải được gửi đến các chủ nợ và thông báo cho người lao động biết trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày thông qua.

3 Trường hợp hợp nhất mà theo đó công ty hợp nhất có thị phần từ 30% đến 50% trên thị trường liên quan thì đại diện hợp pháp của công ty bị hợp nhất phải thông báo cho cơ quan quản lý cạnh tranh trước khi tiến hành hợp nhất, trừ trường hợp pháp luật về cạnh tranh

Điều 153: Sáp nhập doanh nghiệp

1 Một hoặc một số công ty cùng loại (sau đây gọi là công ty bị sáp nhập) có thể sáp nhập vào một công ty khác (sau đây gọi là công ty nhận sáp nhập) bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang công ty nhận sáp nhập, đồng thời chấm dứt

sự tồn tại của công ty bị sáp nhập.

2 Thủ tục sáp nhập công ty được qui định:

a) Các công ty liên quan chuẩn bị hợp đồng sáp nhập và dự thảo Điều lệ công ty nhận sáp nhập Hợp đồng sáp nhập phải có các nội dung chủ yếu về tên, địa chỉ trụ sở chính của công ty nhận sáp nhập; thủ tục và điều kiện sáp nhập; phương án sử dụng lao động; thủ tục, thời hạn và điều kiện chuyển đổi tài sản, chuyển đổi phần vốn góp, cổ phần, trái phiếu của công ty bị sáp nhập thành phần vốn góp, cổ phần, trái phiếu của công ty nhận sáp nhập; thời hạn thực hiện sáp nhập;

b) Các thành viên, chủ sở hữu công ty hoặc cổ đông của các công ty liên quan thông qua hợp đồng sáp nhập, Điều lệ công ty nhận sáp nhập và tiến hành đăng ký kinh doanh công

ty nhận sáp nhập theo qui định của Luật này Trong trường hợp này, hồ sơ đăng ký kinh doanh phải kèm theo hợp đồng sáp nhập Hợp đồng sáp nhập phải được gửi đến tất cả các chủ nợ và thông báo cho người lao động biết trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày thông qua;

Trang 36

c) Sau khi đăng ký kinh doanh, công ty bị sáp nhập chấm dứt sự tồn tại; công ty nhận sáp nhập được hưởng các quyền và lợi ích hợp pháp, chịu trách nhiệm về các khoản nợ chưa thanh toán, hợp đồng lao động và nghĩa vụ tài sản khác của công ty bị sáp nhập.

3 Trường hợp sáp nhập mà theo đó công ty nhận sáp nhập có thị phần từ 30% đến 50% trên thị trường liên quan thì đại diện hợp pháp của công ty thông báo cho cơ quan quản

lý cạnh tranh trước khi tiến hành sáp nhập, trừ trường hợp pháp luật về cạnh tranh có qui định khác.

Cấm các trường hợp sáp nhập các công ty mà theo đó công ty nhận sáp nhập có thị phần trên 50% trên thị trường liên quan, trừ trường hợp pháp luật về cạnh tranh có qui định khác.

Riêng trường hợp mua bán doanh nghiệp mới chỉ có qui định đối với doanh nghiệp tư nhân - Điều 145, cụ thể:

Điều 145: Bán doanh nghiệp

1 Chủ doanh nghiệp tư nhân có quyền bán doanh nghiệp của mình cho người khác Chậm nhất mười lăm ngày trước ngày chuyển giao doanh nghiệp cho người mua, chủ doanh nghiệp phải thông báo bằng văn bản cho cơ quan đăng ký kinh doanh Thông báo phải nêu rõ tên, trụ sở của doanh nghiệp; tên, địa chỉ của người mua; tổng số nợ chưa thanh toán của doanh nghiệp; tên, địa chỉ, số nợ và thời hạn thanh toán cho từng chủ nợ; hợp đồng lao động và các hợp đồng khác đã ký mà chưa thực hiện xong và cách thức giải quyết các hợp đồng đó.

2 Sau khi bán doanh nghiệp, chủ doanh nghiệp tư nhân vẫn phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác mà doanh nghiệp chưa thực hiện, trừ trường hợp người mua, người bán và chủ nợ của doanh nghiệp có thỏa thuận khác.

3 Người bán, người mua doanh nghiệp tư nhân phải tuân thủ các qui định của pháp luật về lao động.

4 Người mua doanh nghiệp phải đăng ký kinh doanh lại theo qui định của luật này.

Tỷ lệ biểu quyết trong cuộc họp Hội đồng thành viên hoặc Đại hội đồng cổ đông

để thông qua quyết định đầu tư hoặc bán tài sản có giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của công ty đã được Luật Doanh

Ngày đăng: 26/10/2012, 15:44

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Giả sử doanh nghiệp A mua lại doanh nghiệp B. Bảng cân đối kế toán của các doanh nghiệp trước và sau khi diễn ra giao dịch M&A được tóm tắt ở bảng bên dưới: - Khía cạnh pháp lý của hoạt động sáp nhập và mua lại ở Việt Nam
i ả sử doanh nghiệp A mua lại doanh nghiệp B. Bảng cân đối kế toán của các doanh nghiệp trước và sau khi diễn ra giao dịch M&A được tóm tắt ở bảng bên dưới: (Trang 23)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w