- Mức 4: vận dụng các kiến thức, kĩ năng đã học để giải quyết vấn đề mớihoặc đưa ra những phản hồi hợp lí trong học tập, cuộc sống một cách linh hoạt.- Có thể khẳng định rằng đề kiểm tra
Trang 1MỤC LỤC
THÔNG TIN VỀ SÁNG KIẾN
A PHẦN MỞ ĐẦU
1 Giải quyết những bất cập, những khó khăn, bức xúc khi sử
I THỰC TRẠNG CỦA GIẢI PHÁP ĐÃ BIẾT 8
1 Phương pháp, tập huấn thiết kế ma trận ra đề kiểm tra
các Môn học Tiểu học theo Thông tư 22/TT-BGDĐT nhà trường sử
dụng hiện tại:
8
Trang 2NỘI DUNG Trang
3 Ưu, nhược, điểm của giải pháp mới: 19
IV HIỆU QUẢ, LỢI ÍCH THU ĐƯỢC HOẶC DỰ KIẾN
DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
- CNTT: Công nghệ thông tin;
Trang 3THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1 Tên sáng kiến: “Một số kỹ thuật ứng dụng tin học trong việc ra ma
trận đề theo Thông tư 22/2026/BGDĐT, tại cấp Tiểu học trường TH&THCS Mường Sại”.
2 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Quản lý
3 Tác giả:
- Họ và tên: LÙ VĂN TẠI - Giới tính: Nam
- Trình độ chuyên môn: Đại học
- Chức vụ, đơn vị công tác: Phó Hiệu trưởng - Trường tiểu học và THCS Mường Sại
- Điện thoại: 0347 271 312 -Email: lutaiqn@gmail.com
- Tỷ lệ đóng góp tạo ra sáng kiến: 100%
4 Đồng tác giả (nếu có): Không có
5 Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến (nếu có): Không có
6 Đơn vị áp dụng sáng kiến:
- Tên đơn vị: Giáo viên bậc tiểu học trong Trường tiểu học và THCS Mường Sại
- Địa chỉ: Trung tâm xã Mường Sại, huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La
- Điện thoại: Không có
7 Thời gian áp dụng sáng kiến lần đầu:
- Thời gian áp dụng thử: tháng 01/2018 - 03/2019;
- Thời gian áp dụng thực tế: tháng 01/2019
Trang 4A PHẦN MỞ ĐẦU
I BỐI CẢNH CỦA GIẢI PHÁP
1 Về không gian, thời gian, thực trạng của việc thực hiện
Ngày nay ngành khoa học công nghệ đang tác động mạnh mẽ vào tất cảcác ngành trong đời sống xã hội, trong đó ứng dụng công nghệ thông tin vàogiải quyết các vấn đề quản lý, chỉ đạo chuyên môn được quan tâm hàng đầu Đốivới ngành giáo dục trong thời cuộc hiện nay công nghệ thông tin giúp cho nhàquản lý giáo dục được tầm bao quát hơn và xử lý các công việc được nhanh hơn
Sự bùng nổ của công nghệ thông tin đang tác động mạnh mẽ đến nền giáodục phổ thông đáp ứng được đòi hỏi cấp thiết của việc nâng cao chất lượng dạyhọc để phục vụ công cuộc công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước Vì vậy pháttriển mạng lưới hạ tầng công nghệ thông tin nói chung và phát triển công nghệthông tin trong nhà trường nói riêng đang diễn ra vô cùng mạnh mẽ
Vào ngày 22/9/2016 Bộ GD&ĐT Ban hành Thông tư BGDĐT sửa đổi, bổ sung một số điều của quy định đánh giá học sinh tiểu họcban hành kèm theo Thông tư 30/2014/TT-BGDĐT Thông tư có hiệu lực thihành kể từ ngày 06/11/2016 Theo thông tư mới này, tại khoản 2 Điều 10 quyđịnh đánh giá định kì “Giữa học kì và cuối học kì, cả năm học giáo viên chủnhiệm (GVCN) và giáo viên bộ môn ra đề kiểm tra theo ma trận”
22/2016/TT-2 Tổng quan những thông tin về vấn đề cần nghiên cứu
Đánh giá định kì kết quả học tập là đánh giá kết quả của học sinh sau mộtgiai đoạn học tập, rèn luyện, nhằm xác định mức độ hoàn thành nhiệm vụ họctập của học sinh so với chuẩn kiến thức, kĩ năng quy định trong chương trìnhgiáo dục phổ thông cấp tiểu học Đánh giá định kì bằng bài kiểm tra, thực hiệnvới các môn học: Tiếng Việt, Toán, Khoa học, Lịch sử và Địa lí, Ngoại ngữ, Tinhọc, Tiếng dân tộc Thông tư 22 bổ sung quy định ra đề kiểm tra định kì kết quảhọc tập các môn học trên đây căn cứ vào yêu cầu môn học dựa trên chuẩn kiếnthức, kĩ năng theo bốn mức độ nhận thức thay vì ba mức độ như Thông tư 30
Cụ thể:
Đề kiểm tra định kì phù hợp chuẩn kiến thức, kĩ năng và định hướng pháttriển năng lực, gồm các câu hỏi, bài tập được thiết kế theo các mức như sau:
- Mức 1: nhận biết, nhắc lại được kiến thức, kĩ năng đã học
- Mức 2: hiểu kiến thức, kĩ năng đã học, trình bày, giải thích được kiếnthức theo cách hiểu của cá nhân
- Mức 3: biết vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học để giải quyết những vấn
đề quen thuộc, tương tự trong học tập, cuộc sống
Trang 5- Mức 4: vận dụng các kiến thức, kĩ năng đã học để giải quyết vấn đề mớihoặc đưa ra những phản hồi hợp lí trong học tập, cuộc sống một cách linh hoạt.
- Có thể khẳng định rằng đề kiểm tra là một công cụ dùng để đánh giá kếtquả học tập của học sinh sau khi học xong một lớp hay một cấp học nên ngườibiên soạn đề kiểm tra cần căn cứ vào yêu cầu của việc kiểm tra, căn cứ chuẩnkiến thức kĩ năng của chương trình và thực tế học tập của học sinh để xây dựngmục đích của đề kiểm tra cho phù hợp Ma trận đề là một bảng thông tin 2 chiều,trong đó ghi ra các ràng buộc về kiến thức, kỹ năng câu hỏi và các tham số khácdùng để xác định và đánh giá một đề kiểm tra Một đề kiểm tra đạt yêu cầu phảituân thủ đúng theo qui định của Ma trận đề tương ứng Một Ma trận đề kiểm tra
sẽ có các thông tin ràng buộc liên quan đến các thuộc tính sau:
- Kiến thức các câu hỏi - Kỹ năng câu hỏi - Kiểu, dạng câu hỏi - Thangđiểm các câu hỏi
II LÝ DO CHỌN GIẢI PHÁP
Để hiện đại hóa việc ứng dụng tin học vào cải tiến kỹ thuật, dựa trên hàmthuật toán Excel vào tính tỷ lệ sao cho phù hợp trong việc lâp ma trận đề cácmôn học đánh giá bằng điểm số ở tiểu học Trong thực tiễn công việc này đãđược chuyên môn các đơn vị trường học và được chuyên môn Phòng Giáo dục
và Đào tạo Quỳnh Nhai tập huấn hằng năm Nhưng vẫn còn rất nhiều người lúngtúng trong việc xác định các đơn vị kiến thức, các mức độ yêu cầu khi xây dựng
ma trận đề vì lý do sau:
- Do giáo viên được tập huấn chưa kỹ càng, bởi vì Phòng Giáo dục chỉ tậphuấn được đội ngũ cốt cán và qua nhiều nấc trung gian khác nhau Đến giáo viêntập huấn ở trường thì chỉ qua loa được một hai buổi, thành ra khi áp dụng thực tếcòn nhiều khó khăn
- Khả năng, năng lực xâu chuỗi mạch kiến thức theo quy định Chuẩn kiến thức, kỹ năng các môn học của Bộ và các quy định khác để đề xuất các mạch kiến thức sao phù hợp các môn học là không thể
Trong thực tế cho thấy, đề kiểm tra cuối kỳ II mấy năm học vừa qua, đa
số Ban giám hiệu các trường tiểu học trong toàn huyện hết sức lúng túng, chưachắc chắn, tự mò mẫm Phần nhiều Ban giám hiệu các trường giao quyền chocác Tổ trưởng chuyên môn và giáo viên tự ra đề Mà các thầy cô, tổ trưởngchuyên môn, giáo viên các trường thì chưa nắm chắc quy trình ra đề Ma trậnmỗi kỳ kiểm tra đụng đến với họ chỉ là thứ lạ lẫm xa vời Họ không hiểu rõ matrận để làm gì? Tại sao phải có ma trận Có cán bộ quản lí họ lúng túng Mức 1thì đạt mấy điểm Mức 2 đạt bao nhiêu vào mạch kiến thức gì? Tại sao cũng làvận dụng nhưng lại vận dụng mức 3 vận dụng mức 4 Cũng là bài tập vận dụngthì vận vận dụng mức 3 khác vận dụng mức 4 như thế nào? Các thầy cô giáoviên tiểu học còn nháo nhào, lúng túng khi xây dựng đề kiểm tra cuối kì và cả
Trang 6năm sao cho đạt Chuẩn kiến thức kĩ năng, sao cho gắn với thực tiễn gắn với yêucầu cần đạt trong Thông tư 22
Trước thực trạng đó, để góp phần giúp cho giáo viên tiểu học trong trườngnắm chắc các kiến thức cơ bản, quy trình, hình thức, kĩ thuật cấu trúc, tỉ lệ giữacác mức và khung ma trận đề, nhanh nhất, chính xác nhất Đề kiểm tra các lớp
không có sự chênh quá lớn về độ khó – dễ với chỉ bằng một vài động tác Click
(nhấp chuột vi tính) Giúp cho GV tiểu học có thể hệ thống hóa mạch kiến thức
cơ bản các môn học đánh giá bằng điểm số ở bậc tiểu học, biên soạn được đềkiểm tra đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ Đó cũng là những trăn trở của nhiều cán bộquản lí giáo dục, giáo viên trong khi thực hiện Thông tư 22 Vì những lí do trên
tôi đã mạnh dạn chọn sáng kiến “Một số kỹ thuật ứng dụng tin học trong việc
ra ma trận đề theo Thông tư 22/2026/BGDĐT, tại cấp Tiểu học trường TH&THCS Mường Sại” Với hi vọng giúp tất cả cán bộ quản lý, giáo viên ứng
dụng tin học (tin học hóa trong việc ra đề kiểm tra theo ma trận) một cách hiệuquả Ngoài ra ứng dụng Microsof Excel này sẽ giúp ích cho GVCN tại các đơn
vị trường học trong toàn huyện nâng cao chất lượng giáo dục, hoàn thành xuấtsắc mọi nhiệm vụ được giao
III PHẠM VI VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
2 Giới hạn lĩnh vực và đối tượng nghiên cứu
2.2 Lĩnh vực nghiên cứu: Lĩnh vực chuyên môn
- Nghiên cứu thực trạng công tác ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT)trong nhà trường từ năm học 2017-2018 đến nay
- Tổ chức thăm dò tính cần thiết, tính khả thi của các kỹ thuật và thửnghiệm một số số kỹ thuật lập đề theo ma trận có hiệu lực đến hết tháng03/2019
- Đánh giá thực trạng việc ứng dụng tiện ích Excel của GV vào việc xâydựng ma trận đề theo Thông tư 22/2026/BGDĐT, tại trường TH&THCS Mường
Sại
- Kỹ thuật ứng dụng Excel vào vào biên soạn đề của giáo viên theo Thông
tư 22/TT-BGDĐT ở trường TH&THCS Mường Sại
2.1 Đối tượng nghiên cứu:
Một số kỹ thuật ứng dụng tin học trong việc ra ma trận đề theo Thông tư22/2026/BGDĐT, tại cấp Tiểu học trường TH&THCS Mường Sại
VI MỤC ĐÍCHCỦA SÁNG KIẾN
Trang 71 Giải quyết những bất cập, những khó khăn, bức xúc khi sử dụng Excel vào việc biên soạn đề kiểm tra.
- Nhằm giải quyết những bất cập giữa công tác biên soạn với việc nắm bắtcác văn bản quy định về mạch kiến thức, chuẩn kiến thức, kỹ năng của chươngtrình các môn học đánh giá bằng điểm số ở tiểu học trong điều kiện năng lựcgiáo viên còn hạn chế
- Đơn giản hóa trong việc xây dựng khung ma trận và biên soạn đề kiểmtra theo Thông tư 22/2026/BGDĐT
- Khắc phục những khó khăn bất cập xuất hiện trong quá trình xây dựng
đề kiểm tra, gây áp lực cho giáo viên trong việc ra đề kiểm tra các môn học đánhgiá bằng điểm số ở tiểu học hiện nay
- Với sáng kiến “Một số kỹ thuật ứng dụng tin học trong việc ra ma trận
đề theo Thông tư 22/2026/BGDĐT, tại cấp Tiểu học trường TH&THCS MườngSại” sẽ đem lại ích lợi to lớn cho GV tiểu học tại các nhà trường tiểu học và cácđơn vị cùng thực trạng trong toàn huyện Làm sáng tỏ, xâu chuỗi các giá trị nhânvăn về đánh giá học sinh tiểu học, cũng như mặt nhận thức của GV về cách ra đềkiểm tra theo ma trận đối với tiểu học hiện nay
Trang 8B PHẦN NỘI DUNG
I THỰC TRẠNG CỦA GIẢI PHÁP ĐÃ BIẾT
1 Phương pháp, tập huấn thiết kế ma trận ra đề kiểm tra các Môn học Tiểu học theo Thông tư 22/TT-BGDĐT nhà trường sử dụng hiện tại:
Từ khi thông tư 22/TT-BGDĐT có hiệu lực nhà trường đã tập trung tậphuấn, chỉ đạo và hướng dẫn GV ra đề theo 2 hình thức chủ yếu đó là:
1.1 Tập huấn cho giáo viên:
Hằng năm tổ chức tập huấn cho giáo viên trong thời gian hè theo cácphương pháp sau:
- Phương pháp thuyết trình: Cốt cán chuyên môn Phòng Giáo dục và Đàotạo thuyết trình giảng giải, phân tích lý luận về những vấn đề chung và thốngnhất nguyên tắc, kỹ thuật, quy trình xây dựng ma trận đề kiểm tra định kì và rènluyện kĩ năng ra đề kiểm tra định kì theo 4 mức độ ra đề
phẩm là bằng chứng của sự vận dụng các kiến thức được tập huấn để xây dựngkhung ma trận; mẫu đề kiểm tra theo hai hình thức trắc nghiệm và tự luận GVbáo cáo kết quả thảo luận, GV khác gia góp ý, báo cáo viên chốt lại nhằm giúpcho GV tham gia tập huấn hoàn thiện sản phẩm;
1.2 Quy trình và kiểm duyệt đề:
- Hiệu trưởng chỉ đạo tổ chuyên môn ra đề kiểm tra cho cả khối đối vớicác môn thực hiện kiểm tra định kì
- Sau khi các tổ tổng hợp đề của các giáo viên gửi về biên soạn lại thànhcác bộ đề, trình lên Phó Hiệu trưởng phụ trách chuyên kiểm duyệt Phó Hiệutrưởng báo cáo công tác kiểm duyệt đề với Hiệu trưởng và nhất trí rút đề để tổchức thực hiện kiểm tra,
- Tất cả các khâu kiểm duyệt đề đều diễn ra làm bằng phương pháp thủcông, không có dẫn chứng các mạch lựa chọn để đối chiếu
Trang 9kiến thức đã học, ra đề đa số giáo viên ra đề cơ bản sát với bài học thường cókhung ma trận như:
Bảng 1: Bảng mô tả khung ma trận các môn học
PHÒNG GD&ĐT QUỲNH NHAI
TRƯỜNG TH&THCS MƯỜNG SẠI
Họ và tên
Lớp:
BÀI KIỂM TRA GIỮA HỌC KỲ II NĂM HỌC 2017 – 2018 Môn: Toán lớp 3
(Thời gian làm bài 40 phút)
PHẦN TRẮC NGHIỆM (4 đ)
Khoanh vào chữ đặt trước câu trả lời đúng.
1 Số liền sau của 8736 là :
2 3m 7cm = … cm Số thích hợp điền vào chỗ chấm là :
Trang 10PHẦN TỰ LUẬN (4 đ)
Câu 1 Đặt tính rồi tính: (2đ)
a) 7241 + 1388
b) 7060 - 6151
2 Có 2646 quyển vở được xếp đều vào 6 thùng Hỏi 8 thùng đó có bao nhiêu quyển vở ? Bài giải:
(Mẫu đề theo ma trận)
2 Những ưu, nhược điểm, thuận lợi, khó khăn
2.1 Ưu điểm:
Hầu hết GV đã được tập huấn về cách ra đề kiểm tra theo Thông tư 22 và
đã có những phản hồi tích cực Các ý kiến đều cho rằng, qua phương pháp và kỹ thuật ra đề đã khắc phục được những bất cập trong quá trình giáo viên thực hiện đánh giá HS, đồng thời cũng phát huy được những ưu điểm trong quá trình đổi mới đánh giá HS
Thông qua đổi mới cách ra đề kiểm tra, đánh giá HS, giáo viên đã giúp cho HS hệ thống hóa kiến thức đã học trong chương trình lớp đang học và kiến thức các lớp đã được học qua Việc kiểm tra, đánh giá đã phân hóa được học sinh nên các em có hứng thú hơn trong học tập Bên cạnh đó, giáo viên cũng không còn áp lực về lựa sẽ kiểm tra ở phần nào hay chương nào của kiến thức Việc ra đề theo ma trận đã rõ ràng, cụ thể hơn, bao quát được kiến thức tổng quát hơn Giáo viên đã quan tâm ôn luyện, theo mạch kiến thức mở không chỉ đơn thuần là ôn 01 chương nào đó của chương trình
2.2 Nhược điểm:
Việc ra đề theo ma trận đã sinh ra nhiều bất cập vì giáo viên không được thường xuyên sử dụng phương pháp, kỹ thuật ra đề theo ma trận, còn nhiều giáo viên không có khả năng tư duy, phân tích tổng hợp những mạch kiến thức học sinh đã học Nhiều GV biên soạn đề kiểm tra định kì theo ma trận của chuẩn kiến thức, kỹ năng các môn học đánh giá bằng điểm số còn hạn chế Năng lực sử
Trang 11dụng các thuật ngữ để đặt câu hỏi từng môn học còn nhiều trùng lặp, chưa phânbiệt rõ ở giữa mức câu hỏi mang tính tương đồng,
Ngoài ra khả năng xâu chuỗi mạch kiến thức giữa lớp đang học và các lớp
đã học qua chưa mang tính tổng hợp về quá trình học tập, rèn luyện của họcsinh Dẫn đến ra đề kiểm tra quá dễ hoặc quá khó sinh không sát thực với trình
độ nhận thức của các em
1.3 Thuận lợi:
- Tất cả giáo viên có nắm rõ được các môn, định kỳ, kiểm tra theo Thông
tư 22/TT-BGDDT Kỹ thuật xây dựng khung, ra đề theo ma trận, đặt câu hỏitheo các mức đa số giáo viên đã nắm rõ Việc ứng thông tin vào biên soạn đềcũng đã phần nào đã giúp cho GV tiết kiểm được thời gian biên soạn
- Giao quyền tự chủ cho giáo viên theo lựa chọn mạc kiến thức, biên soạn
đề phù hợp với học sinh của lớp mình, chủ động ôn luyện cho các em theo mạckiến thức đã xây dựng trong khung ma trận
Nhìn qua các bảng khung ma trận và mẫu đề ở trên chưa phản ánh đầy vàchưa đảm bảo đánh giá chất lượng học sinh trong cùng một lớp
Bên cạnh đó một số giáo viên chủ sớt đề trên mạng xuống chỉnh sửa vàđem đi nộp theo quy định của mỗi trường, nên chất lượng đề không đảm bảomặt khác chính giáo viên tự mình làm cho minh làm mai một quên đi các quytrình, kỹ thuật, và lý luận chung khi biên soạn đề kiểm tra
3 Nguyên nhân dẫnđến tình hình
3.1 Nguyên nhân đạt được:
- Nhờ có nhận thức được tầm quan trọng của việc đánh giá học sinh theophát triển năng lực và nhận thức Thấm nhuần được tinh thần nhân văn củaThông tư 22 trong việc đổi mới đánh giá học sinh
- Sự quan tâm của Ban giám hiệu trong việc tập huấn đánh giá học sinhtheo thông tư 22 cho cán bộ, giáo viên Từ đó đã thôi thúc mọi GV tìm mọiphương tiện để trợ giúp, khi biên soạn đề kiểm tra một các thuận tiện nhất cóthể
3.2 Nguyên nhân tồn tại, khó khăn:
- Nhận thức và vận dụng các phương pháp, kỹ thuật biên soạn đề của một
số giáo viên còn yếu Nhiều GV chưa biết đạt câu hỏi, nhiều câu hỏi lan man
Trang 12không trọng tâm, có câu hỏi quá ngắn hoạc quá dài về nội dung không phù hợpvới đối tượng học sinh.
- Bảng ma trận đề nhiều GV viết tay nên còn lẫn lôn giữa câu hỏi và thứ
tự câu hỏi, tỷ lệ phần trăm giữa các mức còn chênh lệch quá lớn Danh giới giữacác mức chưa rõ ràng,
- Một số giáo viên có tâm lý ỷ lại ngại nghiên cứu kiến thức, ngại tư duynên còn bỡ ngỡ, coi ma trận là một thứ gì đó nó xa vời Một số giáo viên do tuổicao chậm đổi mới có biên soạn đề cũng chỉ mang tính hình thức gọi là có, phầnnào đã có những ảnh hưởng không tích cực với chính giáo viên và công tácchuyên môn của nhà trường
- Thực trạng giáo viên trong nhà trường viết sử dụng ứng Excel như sau:
Không biết
được Biết cơbản Khôngbiết Thànhthạo Biết cơbản Khôngbiết Thànhthạo Biết cơbản Khôngbiết
Bảng 3: Bảng phân tích số liệu gv biết thiết kế và biên soạn đề kiểm tra
theo ma trận (thời điểm 01/2019)
biên soạn đề kiểm tra theo ma trận tại đơn vị là rất thấp Chắc chắn sẽ không thể tựtay biên soạn đề có chất lượng, đảm bảo theo Chuẩn kiến thức, kĩ năng đã được
Bộ quy định
Biểu 04: Biểu đồ hiện trạng GV nắm được quy trình thiết kế ma trận đề.
Trang 13Biểu 05: Biểu đồ hiện trạng GV biết thiết kế ma trận đề kiểm tra.
Biểu 06: Biểu đồ hiện trạng GV biết biên soạn đề theo ma trận
II NỘI DUNG SÁNG KIẾN
1 Bản chất của giải pháp mới
1.1 Bản chất:
Thay đổi nhận thức trong cán bộ quản lý, giáo viên tiểu học trong việcứng dụng CNTT vào các khâu biên soạn đề kiểm tra tại các cơ sở giáo công lậpbậc tiểu học
1.2 Những điểm mới cơ bản của sáng kiến:
Khi triển khai ứng dụng Excel cho việc biên soạn đề kiểm tra theo Thông
tư 22 giáo viên sẽ có nhiều lợi ích Cụ thể tiện ích ứng dụng sẽ giúp cho tất cảgiáo viên biết các biên soạn đề kiểm tra nhanh nhất, chính xác nhất đảm bảođúng theo Chuẩn kiến thức, kỹ năng các môn học đánh giá bằng điểm số theođịnh Ví dụ chỉ Click chuột theo đường dẫn tiện ích sẽ xuất ra: khung ma trận;
đề kiểm tra; hướng dẫn chấm và các lý luận chung; chuẩn kiến thức kỹ năng,
Ngoài ra một số nội dung như thay đổi năm học, thời điểm kiểm tra, đánhgiá định kỳ về môn học, tỷ lệ % trong mỗi phần của ma trận sẽ được thực hiện
tự động bằng ứng dụng dựa theo Thông tư 22 đã được lượng hóa theo các mức
từ mức 1 đến mức 4