Một số biện pháp giúp học sinh lớp 4 học tốt từ vựng tiếng Anh. Trong những năm gần đây môn tiếng Anh có được rất nhiều sự quan tâm từ các cấp lãnh đạo, các bậc phụ huynh và các em học sinh. Vì trong thời đại ngày nay, thời đại của công nghệ thông tin thì tiếng Anh là ngôn ngữ được sử dụng rộng rãi, là ngôn ngữ thứ hai của nhiều nước trên thế giới và là công cụ để hòa nhập với thế giới. Sau một thời gian triển khai theo đề án dạy ngoại ngữ, nhờ sự nỗ lực không ngừng của các cấp, các nghành và nỗ lực vượt qua nhiều khó khăn của các giáo viên tiếng Anh, thì bước đầu môn tiếng Anh đã được các em học sinh đón chào và học tập rất sôi nổi. Các bậc phụ huynh luôn chăm chú dõi theo và động viên khuyến khích.
Trang 1
TRƯỜNG TH TRẦN QUỐC TOẢN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Trà Dương , ngày 30 tháng 3 năm 2019
BÁO CÁO KẾT QUẢ SÁNG KIẾN
Kính gửi: - Hội đồng sáng kiến ngành GD&ĐT huyện
1 Tên sáng kiến: Một số biện pháp giúp học sinh lớp 4 học tốt từ vựng
tiếng Anh.
2 Lĩnh vực hoạt động của Cơ quan/ đơn vị : Giáo dục
3 Nội dung :
3.1 Phân tích tình trạng của giải pháp đã biết
Trong những năm gần đây môn tiếng Anh có được rất nhiều sự quan tâm từcác cấp lãnh đạo, các bậc phụ huynh và các em học sinh Vì trong thời đại ngàynay, thời đại của công nghệ thông tin thì tiếng Anh là ngôn ngữ được sử dụngrộng rãi, là ngôn ngữ thứ hai của nhiều nước trên thế giới và là công cụ để hòanhập với thế giới Sau một thời gian triển khai theo đề án dạy ngoại ngữ, nhờ sự
nỗ lực không ngừng của các cấp, các nghành và nỗ lực vượt qua nhiều khó khăncủa các giáo viên tiếng Anh, thì bước đầu môn tiếng Anh đã được các em học sinhđón chào và học tập rất sôi nổi Các bậc phụ huynh luôn chăm chú dõi theo vàđộng viên khuyến khích
Luật Giáo dục – 2005 (điều 5) quy định “ Phương pháp giáo dục phải pháthuy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học, bồi dưỡngcho người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chívươn lên.”
Với mục tiêu giáo dục phổ thông là “ Giúp học sinh phát triển toàn diện vềđạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cánhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam Xãhội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân, chuẩn bị cho học sinhtiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ tổquốc” Chương trình giáo dục phổ thông ban hành kèm theo quyết định số16/2006/QĐ – BGDĐT ngày 05/05/2006 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạocũng đã nêu: “ Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của họcsinh , phù hợp với đặc trưng môn học, đặc điểm đối tượng học sinh, điều kiệntừng lớp học, bồi dưỡng cho học sinh phương pháp tự học, khả năng hợp tác, rènluyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tế, tác động đến tình cảm, đem lạiniềm vui, hứng thú và trách nhiệm học tập cho học sinh.”
Là một giáo viên tiếng Anh, tôi rất vui khi thấy các em rất háo hức khi đếngiờ học tiếng Anh Các em không còn sợ học tiếng Anh nữa mà chỉ sợ khôngđược học tiếng Anh Vậy làm thế nào để kéo dài mãi tinh thần học tập, sự hấp dẫnsay mê của các em dành cho môn tiếng Anh đó là trách nhiệm, là lòng yêu nghề,
là sự đổi mới, sáng tạo không ngừng trong các tiết dạy của mỗi giáo viên tiếngAnh chúng ta
Mã số:… /TH/TQT
Trang 2Dạy học là một công việc có rất nhiều thử thách, cứ mỗi năm trôi qua lạixuất hiện những thử thách mới và giáo viên phải luôn sẵn sàng tiếp nhận vàtruyền tải lại những kiến thức mới cho học sinh của mình Một vấn đề khiến nhiềugiáo viên đau đầu đó là làm sao để giới thiệu được các từ vựng để các em khôngnhững hiểu mà còn cảm thấy thú vị Những bộ não non nớt của các em sẽ vô cùng
áp lực trước những phương pháp giới thiệu và kiểm tra từ vựng theo cách ghichép, nhồi nhét và bắt học thuộc lòng Nếu không có những cách dạy và kiểm tra
từ vựng gây hứng thú thì các em sẽ coi việc học từ vựng là để đối phó với nhữnglần kiểm tra
Trong một Theme (Unit) của môn tiếng Anh, hầu hết các tiết học nào cũng
có phần giới thiệu từ vựng Để bài học đạt kết quả cao, học sinh phải nắm rõ cáchphát âm cũng như cách sử dụng từ Muốn đạt được hiệu quả như vậy giáo viênphải lựa chọn phương pháp giảng dạy hợp lý làm sao để học sinh dễ hiểu, dễ nhớ,
dễ sử dụng
Qua một thời gian giảng dạy, bản thân tôi được Phòng Giáo dục huyện vànhà trường tạo điều kiện để học tập nâng cao năng lực ngoại ngữ, đặc biệt là thamgia những buổi sinh hoạt về chuyên môn nghiệp vụ do Phòng Giáo dục tổ chức,tôi đã học tập và đổi mới rất nhiều trong phong cách giảng dạy của mình Có rấtnhiều cái mới tôi cũng như các bạn đồng nghiệp của tôi đang áp dụng và mang lạihiệu quả
Là một giáo viên trực tiếp giảng dạy bộ môn tiếng Anh trong thời gian qua
ở trường tiểu học Trần Quốc Toản, tôi rất hiểu và thông cảm với những khó khăn
mà các em thường gặp trong việc học tập và sử dụng vốn từ vựng tiếng Anh Tôimuốn bằng cách nào đó để giúp các em khắc phục những khó khăn trên, phần nào
dễ dàng và thuận lợi trong việc sử dụng tiếng Anh thành thạo khi nói, viết
Trong bài viết này bản thân tôi đã suy nghĩ và mạnh dạn đưa ra một số chỉdẫn trong cách học từ vựng tiếng Anh qua nghiên cứu và tìm tòi tài liệu và một sốkinh nghiệm của bản thân Tuy nhiên với quy mô của đề tài này tôi không có thamvọng và không đủ để đưa ra hết tất cả những phương pháp dạy và học từ vựngtiếng Anh, với những phương pháp này tôi hy vọng phần nào giúp cho các em họcsinh học tập và trau dồi thêm cho mình một số từ vựng cần thiết Qua đó các em
có thêm kinh nghiệm dễ dàng hơn trong việc học tập và rèn luyện từ vựng của
mình Hôm nay tôi xin được trình bày tham luận của mình về “ Một số biện pháp
giúp học sinh lớp 4 học tốt từ vựng tiếng Anh.”
+ Ưu điểm:
Tiếng Anh được xếp vào một trong các môn chính của hệ thống giáo dục,thuộc loại kỹ năng mềm cần phải có sau khi tốt nghiệp trung cấp hay cao đẳng vàđại học Hiện nay, môn tiếng Anh đã được đưa vào dạy học ở các cấp học Mụctiêu của bộ môn là giúp học sinh sử dụng tiếng Anh như một công cụ giao tiếp ởmức độ cơ bản dưới các dạng nghe, nói, đọc, viết; có kiến thức cơ bản, tương đối
hệ thống và hoàn chỉnh về tiếng Anh, phù hợp với trình độ, đặc điểm tâm lý lứatuổi Chương trình và sách giáo khoa đổi mới rất hay, tranh ảnh sinh động, rất thuhút với các bậc phụ huynh và học sinh
Hầu hết giáo viên đều yêu nghề , nhiệt tình trong công tác cố gắng đổi mớiphương pháp giảng dạy phù hợp với các đối tượng học sinh Liên tiếp trong nhiều
Trang 3năm qua, Sở Giáo dục và Đào tạo Quảng Nam và Phòng Giáo dục Đào tạo huyệnBắc Trà My đã tổ chức các đợt tập huấn thay sách giáo khoa cũng như bồi dưỡngphương pháp giảng dạy cho giáo viên tiếng Anh toàn tỉnh, toàn huyện nên tất cảgiáo viên đều được tiếp cận với phương pháp dạy học tích cực, cùng với các thiết
bị, đồ dùng dạy học hiện đại đã được trang bị, khả năng dạy học của giáo viênngày càng được nâng lên về chất
Về phía học sinh, tiếng Anh là một môn học khó đối với đa phần học sinh.Song do nhận thức được tầm quan trọng của bộ môn này đối với xã hội, đối vớibản thân, các em đã cố gắng nhiều và có thái độ động cơ học tập đúng đắn Việchọc tiếng Anh ngày càng được sự quan tâm ủng hộ của gia đình và xã hội Chấtlượng học tập đại trà ngày càng được cải thiện rõ rệt
Trong các kỳ thi quốc gia chọn học sinh giỏi, đội tuyển học sinh tiếng Anhcủa huyện nhà đã đạt được những thành tích rất đáng khen ngợi Năm nào cũngđạt được giải và những năm sau này số giải càng nhiều so với tổng số học sinhtham gia
Về cơ sở vật chất: Một số trường trọng điểm đã được cung cấp bảng tươngtác để thuận lợi cho việc dạy học tiếng Anh Tất cả các trường đều đảm bảo thiết
bị dạy học theo danh mục thiết bị dạy học tối thiểu môn tiếng Anh
Học sinh chúng ta phần lớn học chưa sâu, chưa có được một vốn từ vựngcần thiết để sử dụng cho việc học tập và giao tiếp hằng ngày của mình Từ vựng làmột trong những phần quan trọng nhất của việc học ngoại ngữ Nếu muốn giỏitiếng Anh thì dù ở bất kỳ khả năng nào : nghe , nói , đọc hay viết ta cũng cần mộtvốn từ vựng tương đối lớn Vốn từ này không phải tự dưng hay ngày một ngày hai
mà có , nó phải là một quá trình ôn luyện, học tập và tích lũy lâu dài mới hìnhthành nên
Nhìn chung học sinh rất “sợ” và “ngại” học từ mới , việc sử dụng từ cònnhiều hạn chế: viết sai chính tả, sử dụng từ sai, phát âm sai, sử dụng từ khôngchính xác, không phù hợp với ngữ cảnh Đa số các em có thói quen học thuộcnghĩa của từ Một số em chỉ học vẹt mang tính chất đối phó để xung phong lênbảng hoặc khi giáo viên kiểm tra, rồi sau đó khi cần sử dụng thì quên mất hoặckhông biết sử dụng từ như thế nào Có nhiều em cố học thuộc hết từ mới mà các
em gặp nên thấy bài nào từ mới cũng nhiều dẫn đến tâm lý sợ và ngại học từ mới.Tất cả những điều nêu trên là do các em học sinh chưa biết cách học từ vựng,chưa tìm ra cho mình một phương pháp học từ vựng thích hợp
Qua dạy học thực tế những năm qua, tôi nhận thấy phương pháp cũ dạy vàhọc từ vựng thường diễn ra theo kiểu : Giáo viên đọc bài rồi liệt kê ra những từtheo giáo viên chưa từng xuất hiện trong quá trình dạy học gọi là từ mới ( newwords ) sau đó giáo viên ghi tất cả những từ mới đó lên bảng, giải thích nghĩa
Trang 4bằng tiếng Việt rồi cho các em đọc vài lần Bắt các em học thuộc lòng từ mới đểkiểm tra trong tiết học sau đó, như vậy khiến các em nhàm chán và áp lực.
Bên cạnh đó, việc dạy và học tiếng Anh trong nhà trường còn diễn ra trongmôi trường giao tiếp của thầy và trò có rất nhiều hạn chế: phương tiện hỗ trợgiảng dạy chưa đồng bộ, không được thực hành với người bản ngữ, phụ huynhkhông am hiểu về Tiếng anh Những điều này làm phân tán sự tập chung của họcsinh, tác động rất lớn đến việc rèn luyện kĩ năng cho học sinh, làm chậm quá trìnhtiếp thu kiến thức của học sinh và sự phân bố thời gian cho từng phần nội dungbài sao cho phù hợp với từng loại bài giảng (thực hành, kĩ năng) cũng là một tácđộng tới việc lựa chọn, nghiên cứu và áp dụng kĩ năng dạy từ vựng sao cho thíchhợp
Về phía học sinh, bên cạnh một số em học hành nghiêm túc, có không íthọc sinh chỉ học sơ sài, không khắc sâu được từ vựng vào trong trí nhớ, không tậpđọc, tập viết thường xuyên, không thuộc nghĩa hai chiều Đến khi giáo viên kiểmtra các em không hoàn thành được
Ngoài ra, cách học từ vựng của học sinh cũng là điều đáng được quan tâm,học sinh thường học từ vựng bằng cách đọc từ bằng tiếng Anh và cố nhớ nghĩabằng tiếng Việt, có viết trong tập viết cũng là để đối phó với giáo viên, chứ chưa
có ý thức tự kiểm tra lại mình, để khắc sâu từ mới và vốn từ sẵn có Vì thế chonên, các em rất mau quên và dễ dàng lẫn lộn giữa từ này với từ khác
3.2 Các bước thực hiện giải pháp và cách thực hiện giải pháp
3.2.1 Bước 1: Khẳng định vai trò của từ vựng tiếng Anh
Trong bất kỳ một ngôn ngữ nào, vai trò của từ vựng cũng hết sức quantrọng Có thể thấy một ngôn ngữ là một tập hợp của các từ vựng Không thể hiểungôn ngữ mà không hiểu biết từ vựng, hoặc qua các đơn vị từ vựng Nhưng điều
đó không đồng nghĩa với việc chỉ hiểu các đơn vị từ vựng riêng lẻ, độc lập vớinhau mà chỉ có thể nắm vững được ngôn ngữ thông qua mối quan hệ biện chứnggiữa các đơn vị từ vựng Như vậy việc học từ vựng và rèn luyện kĩ năng sử dụng
từ vựng là yếu tố hàng đầu trong việc truyền thụ và tiếp thu một ngôn ngữ nóichung và tiếng Anh nói riêng
Vì từ vựng là một đơn vị ngôn ngữ nên nó được thể hiện dưới hai hìnhthức: Lời nói và chữ viết Muốn sử dụng được ngôn ngữ đó, tức là phải nắm vữnghình thức biểu đạt của từ bằng lời nói và chữ viết Song do có mối liên quan của
từ vựng với các yếu tố khác trong ngôn ngữ (ngữ pháp, ngữ âm, ngữ điệu ) hoặctrong tình huống giao tiếp cụ thể, ta thấy từ vựng là các “viên gạch”còn ngữ pháp
và các yếu tố ngôn ngữ khác được coi như các “mạch vữa”để xây lên thành mộtngôi nhà ngôn ngữ
Từ vựng là một công cụ, phương tiện quan trọng nhất trong việc học tiếngAnh Ở bất kỳ một kỹ năng nào của việc học ngoại ngữ đều phải sử dụng đến từvựng Vì vậy từ vựng tiếng Anh là nguồn vốn, là công cụ chính cho người họctiếng Anh Từ vựng là một trong những phần quan trọng nhất khi học ngoại ngữ,nếu muốn giỏi tiếng Anh thì dù ở bất kỳ kỹ năng nào : nghe, nói, đọc , viết ta đềucần vốn từ vựng càng nhiều càng tốt
3.2.2 Bước 2: Kỹ năng dạy từ vựng
Trang 5Thông thường trong một bài học luôn xuất hiện những từ mới, xong khôngphải từ mới nào cũng cần đưa vào để dạy Để chọn từ cần dạy, giáo viên cần xemxét những vấn đề:
- Từ chủ động (active vocabulary)
- Từ bị động (passive vocabulary)
Chúng ta đều biết cách dạy hai loại từ này khác nhau Từ chủ động có liênquan đến bốn kỹ năng (nghe – nói – đọc – viết) Đối với loại từ này giáo viên cầnđầu tư thời gian để giới thiệu và cho học sinh tập nhiều hơn
Với từ bị động giáo viên chỉ cần dừng ở mức nhận biết, không cần đầu tưthời gian vào các hoạt động ứng dụng Giáo viên cần biết lựa chọn và quyết địnhxem sẽ dạy từ nào như một từ chủ động và từ nào như một từ bị động
Khi dạy từ mới cần làm rõ ba yếu tố cơ bản của ngôn ngữ là:
Số lượng từ cần dạy trong bài tuỳ thuộc vào nội dung bài và trình độ củahọc sinh Không bao giờ dạy tất cả các từ mới, vì sẽ không có đủ thời gian thựchiện các hoạt động khác Tuy nhiên, trong một tiết học chỉ nên dạy tối đa là 6 từ
Trong khi lựa chọn từ để dạy, bạn nên xem xét đến hai điều kiện sau:
+ Từ đó có cần thiết cho việc hiểu văn bản không ?
+ Từ đó có khó so với trình độ học sinh không ?
Nếu từ đó cần thiết cho việc hiểu văn bản và phù hợp với trình độ của họcsinh, thì nó thuộc nhóm từ tích cực, do đó bạn phải dạy cho học sinh Nếu từ đócần thiết cho việc hiểu văn bản nhưng khó so với trình độ của học sinh, thì nókhông thuộc nhóm từ tích cực, do đó bạn nên giải thích rồi cho học sinh hiểunghĩa từ đó ngay Nếu từ đó không cần thiết cho việc hiểu văn bản và cũng khôngkhó lắm thì bạn nên yêu cầu học sinh đoán
Giai đoạn đầu trong việc dạy từ vựng là phần giới thiệu từ mới với họcsinh Giới thiệu từ mới có vai trò rất quan trọng trong một giờ học tiếng Anh Nó
có thể giúp học sinh nắm được bao quát nội dung bài học, nắm được nghĩa của từ,cách sử dụng qua phần giới thiệu ban đầu của giáo viên Thông thường để giớithiệu một từ mới, giáo viên thường thực hiện các bước sau:
- Gợi mở từ dạy bằng tranh vẽ, vật thật, ví dụ, tình huống
- Giới thiệu từ dạy bằng tiếng Anh
- Cho học sinh nghe 3 lần
- Học sinh lặp lại từ mới (đồng thanh 2-3 lần)
- Học sinh lặp lại cá nhân (2-3 học sinh)
- Giáo viên trình bày từ dạy lên bảng
- Khi dạy xong tất cả từ mới, học sinh viết vào vở
Song tất nhiên không phải từ mới nào xuất hiện trong quá trình giảng bàicho học sinh cũng được đưa vào phần giới thiệu từ mới Người giáo viên phải biết
Trang 6lựa chọn, xác định từ tích cực, chủ động trong quá trình để giảng dạy và cố gắngphát huy hết khả năng tự học hỏi của học sinh đối với những loại từ không tíchcực Bên cạnh đó giáo viên còn phải biết sắp xếp các từ vựng sẽ dạy trong bàitheo một trình tự hợp lý, hoặc tạo các lời dẫn gợi mở theo chủ điểm bài học.
3.2.3 Bước 3: Kỹ năng kiểm tra từ vựng
Kiểm tra từ vựng của học sinh cũng là một phần quan trọng trong quá trìnhdạy học Nó xác định xem học sinh nắm được từ ở mức độ nào Việc kiểm trathường diễn ra dưới hai cấp độ; Đơn giản và hoàn thiện
Kiểm tra đơn giản là việc kiểm tra từ vựng riêng lẻ, kiểm tra ngay sau khi
hoàn thành việc giới thiệu từ vựng Các hoạt động kiểm tra ở từng bài giảngthường được giáo viên nêu ra dưới dạng các trò chơi khiến học sinh thích thú, say
mê với bài học, kích thích sự ganh đua trong học tập
Ví dụ :
- Rub out and remember: Xóa phần từ đã giới thiệu trên bảng và yêu cầu
học sinh tái tạo lại ở trên bảng
- Slap the board: Viết phần từ vừa giới thiệu hoặc dán tranh thể hiện từ trên
bảng Yêu cầu học sinh vỗ vào phần từ hoặc tranh khi nghe giáo viên đọc từ đó(từ trên bảng bằng tiếng Anh thì đọc bằng tiếng Việt và ngược lại)
- What and Where: Viết từ vừa giới thiệu vào các vòng tròn trên bảng, cho
học sinh đọc và xóa dần các từ, sau đó yêu cầu học sinh viết lại từ đúng vị trí cũcủa nó
- Jumbled words: Giáo viên viết các từ với các chữ cái xáo trộn, sau yêu
cầu học sinh viết lại từ cho đúng
Các kĩ năng kiểm tra được thực hiện ở mỗi giờ dạy khác nhau để tạo ra sựmới mẻ, không gây nhàm chán cho học sinh Song ta cũng cần chú ý đến đốitượng học sinh, hay chính là trình độ nhận thức của học sinh nhanh hay chậm đểđảm bảo việc kiểm tra được thực hiện thường xuyên và với mọi học sinh Đối vớicác học sinh khá, tiếp thu nhanh giáo viên sử dụng các kĩ năng thường mang tínhchất yêu cầu học sinh tái tạo lại phần từ đã học như ; Rubout and remember, slapthe board, what and where, net word Đối với học sinh yếu, tiếp thu chậm hơnthì sử dụng các cách kiểm tra mang tính gợi mở từ như: jumbled words,wordsquare, matching, ordering
Bên cạnh việc kiểm tra đơn giản, còn có kiểm tra hoàn thiện Kiểm tra hoàn
thiện được thực hiện sau khi phần từ vựng được thực hành, ôn luyện và củng cốtrong các giờ thực hành nói – viết, giờ luyện kĩ năng nghe, đọc, viết Loại kiểmtra này thường diễn ra dưới dạng kiểm tra nói hoặc viết Giáo viên có thể thựchiện ngay trong phần “warm up” của bài dạy hoặc dưới dạng kiểm tra bài cũ,kiểm tra 15 phút, 45 phút hoặc kiểm tra học kỳ
Trang 7- Write sentence from the words given: Học sinh viết câu từ các từ gợi ý
Mục đích của việc kiểm tra hoàn thiện này nhằm kiểm tra học sinh có hiểu
và sử dụng đúng từ trong các tình huống giao tiếp cụ thể không, và bên cạnh đócòn nhằm giúp học sinh xây dựng được vốn từ vựng đầy đủ và phong phú, việckiểm tra có thể thực hiện theo từng yêu cầu cụ thể hoặc tổng hợp chung trong bàikiểm tra 45 phút hoặc kiểm tra học kỳ
- Kiểm tra đọc: Gap fill, choose the best answer
Example : Theme 7: Lesson 1 - Grade 4 ( Smart start)
(2)Dạy từ vựng qua bài hát, chant , video clip
Sử dụng video clip, các bài hát, bài chant rất hiệu quả trong việc học vàgiới thiệu từ vựng Nhiều khi các em chỉ cần thuộc bài hát, bài chant là các em đã
có một vốn từ vựng tương đối Phương pháp này giúp các em học từ một cách tựnhiên, thoải mái mà không bị ép là mình phải học
Với phương pháp này giáo viên cần đầu tư thời gian để tìm trên các trangmạng những bài hát , chant, những video clip phù hợp với nội dung bài học, phùhợp với tâm sinh lý lứa tuổi các em Tôi thấy sử dụng phương pháp này để dạy vàcủng cố từ vựng rất hiệu quả
Example 1: Theme 5: Song – What time is it? - Grade 4 ( I learn smart start)
In the morning, in the morning,
What do you do in the morning?
In the morning, in the morning,
What do you do ?
I get up at half past six
I must not be late
I eat breakfast and go to school I’m at school by 8:00
Trang 8(3) Phương pháp dạy từ vựng bằng TPR
TPR là một loại hình học từ vựng mà các em rất thích nhẹ nhàng,thu hút ,
dễ tiếp thu cho trò Các em có thể TPR theo bài hát , chant ( xem video clip vàlàm theo các hoạt động ) Hoặc giáo viên vừa đọc từ vừa diễn tả từ đó bằng hànhđộng, các em nói và làm theo
Trang 9Giáo viên có thể chỉ vào các đồ vật thật có ở trong lớp và giới thiệu : “ a
book” ,“ a pen” ,“ a ruler”
Sau đó giáo viên yêu cầu học sinh nhìn vào đồ vật và đoán nghĩa của từ Phương pháp này cho các em hứng thú học tập và sự tập trung cao vì các từ giáo viên giới thiệu là những đồ vật rất gần gũi với các em hằng ngày và dễ đoán nghĩa đối với các em Đồ vật thật có thể ở xung quanh lớp hoặc giáo viên có thể chuẩn bị ở nhà Example 1 :Theme 2: Lesson 2- Grade 4 ( I learn smart start) Maths, Vietnamese, P.E, English, Music, Art Example 2 : Theme 3: Body and Face- Grade 4 ( I learn smart start) Head, nose, arm, hand, led
* Phương pháp kiểm tra (1) Kiểm tra và học từ theo chủ điểm Example: - Clothes: jeans, jacket, hat, cap
- Subjects : English, Art , Music, Science, Maths, Vietnamese
-Countries : Vietnam, The UK
- Sports : voleyball, football, table-tennis, badminton
(2) Vẽ tranh Giáo viên có thể hướng dẫn học sinh vẽ những hình đơn giản để học sinh có thể nhớ từ lâu hơn Với cách học này học sinh rất dễ học, dễ nhớ và rất hứng thú Example a flower a cat a bike a book
(3) Kiểm tra từ vựng qua trò chơi
Trò chơi không phải lúc nào cũng là một loại hình giải trí Thực ra nó có thể sử dụng để củng cố từ vựng đã giới thiệu trong bài học theo một phương pháp hấp dẫn học sinh một cách có tổ chức và vui vẻ Vì vậy giáo viên cần phải biết vận dụng các trò chơi trong các bài dạy để cho học sinh vừa học vừa chơi để bài học được diễn ra nhẹ nhàng bớt căng thẳng Tuy nhiên tuỳ vào bài cụ thể mà giáo viên có thể chọn ra trò chơi phù hợp với mục đích của bài học
Trang 10a Game : Bingo
Example
b Game : Network
Example
c.Trò chơi vòng tròn : Học sinh nói theo chủ điểm hoặc nói lại các từ đã học
trong tiết học trước
Example : Theme 4: Clothes – Grade 4 (Smart start)
badminton volleyball chess
Sportsvolleyball
football
tennis
basketball