1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật trong nhân giống cam sành không hạt lđ6 tại hàm yên, tuyên quang

101 82 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 1,42 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ảnh hưởng của thời vụ ghép và kiểu ghép đến một số chỉ tiêu của mầm ghép cây cam Sành không hạt LĐ6 .... Ảnh hưởng của một số loại phân bón qua lá đến một số chỉ tiêu mầm ghép cây cam Sà

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM ––––––––––––––––––––––

MA THỊ THÚY

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT TRONG NHÂN GIỐNG CAM SÀNH KHÔNG HẠT

LĐ6 TẠI HÀM YÊN, TUYÊN QUANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CÂY TRỒNG

THÁI NGUYÊN - 2019

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM ––––––––––––––––––––––

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CÂY TRỒNG

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS ĐÀO THANH VÂN

THÁI NGUYÊN - 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, số liệu và kết quả nghiên cứu trình bày trong luận văn này là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả

Ma Thị Thúy

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới GS.TS Đào Thanh Vân đã tận

tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong suốt thời gian học tập và thực hiện đề tài cũng như trong quá trình hoàn chỉnh luận văn tốt nghiệp

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên; Phòng Nông nghiệp, Trạm Khuyến nông, Trung tâm cây ăn quả huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang đã nhiệt tình giúp tôi trong thời gian thực hiện đề tài và hoàn chỉnh luận văn tốt nghiệp

Tôi xin chân thành cảm ơn toàn thể gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, hỗ trợ tôi trong thời gian học tập và hoàn thiện luận văn này

Tác giả

Ma Thị Thúy

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2

3 Yêu cầu của đề tài 2

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Cơ sở khoa học và cơ sở thực tiễn 4

1.1.1 Cơ sở khoa học của việc ghép cây trong nhân giống 4

1.1.2 Cơ sở khoa học của việc sử dụng phân bón lá 8

1.2 Nguồn gốc và phân loại cam quýt 10

1.2.1 Nguồn gốc 10

1.2.2 Phân loại 11

1.3 Tình hình sản xuất và tiêu thụ cam 16

1.3.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ cam trên thế giới 16

1.3.2 Tình hình sản xuất cam ở Việt Nam 17

1.3.3 Tình hình sản xuất cam ở tỉnh Tuyên Quang 19

1.3.4 Tình hình sản xuất và tiêu thụ cây ăn quả có múi tại Hàm Yên 20

1.4 Tình hình nghiên cứu liên quan đến nội dung của đề tài trên thế giới và trong nước 21

1.4.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 21

Trang 6

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU 30

2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 30

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 30

2.1.2 Vật liệu nghiên cứu 30

2.1.3 Phạm vi nghiên cứu 30

2.2 Nội dung nghiên cứu 30

2.3 Phương pháp nghiên cứu 31

2.4 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 33

2.5 Xử lý số liệu 35

2.6 Kỹ thuật tiến hành 35

2.6.1 Chọn cây, chọn cành để lấy mắt ghép 35

2.6.2 Kỹ thuật ghép 35

2.7 Đặc điểm của một số vật liệu nghiên cứu 36

2.7.1 Phân bón lá Thiên Nông 36

2.7.2 Phân bón lá Đầu Trâu 501 37

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 38

3.1 Ảnh hưởng của thời vụ ghép và kiểu ghép đến khả năng nhân giống cam Sành không hạt LĐ6 tại huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang 38

3.1.1 Ảnh hưởng của thời vụ ghép và kiểu ghép đến tỷ lệ bật mầm và thời gian từ ghép đến bật mầm của cam Sành không hạt LĐ6 38

3.1.2 Ảnh hưởng của thời vụ ghép và kiểu ghép đến tỷ lệ cây ghép sống của cam Sành không hạt LĐ6 44

3.1.3 Ảnh hưởng của thời vụ ghép và kiểu ghép đến động thái tăng trưởng chiều cao mầm ghép 46

3.1.4 Ảnh hưởng của thời vụ ghép và kiểu ghép đến động thái ra lá mầm ghép cam Sành không hạt LĐ6 47

Trang 7

3.1.5 Ảnh hưởng của thời vụ ghép và kiểu ghép đến một số chỉ tiêu của

mầm ghép cây cam Sành không hạt LĐ6 49

3.1.6 Ảnh hưởng của thời vụ ghép và kiểu ghép đến tỷ lệ xuất vườn của cam Sành không hạt LĐ6 50

3.2 Ảnh hưởng của một số loại phân bón qua lá đến khả năng nhân giống cam Sành không hạt LĐ6 bằng phương pháp ghép tại huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang 53

3.2.1 Ảnh hưởng của một số loại phân bón qua lá đến động thái tăng trưởng chiều cao mầm ghép 53

3.2.2 Ảnh hưởng của một số loại phân bón qua lá đến động thái ra lá cam Sành không hạt LĐ6 55

3.2.3 Ảnh hưởng của một số loại phân bón qua lá đến một số chỉ tiêu mầm ghép cây cam Sành không hạt LĐ6 56

3.2.4 Ảnh hưởng của một số loại phân bón qua lá đến tỷ lệ xuất vườn của cam Sành không hạt LĐ6 57

3.2.5 Ảnh hưởng của một số loại phân bón qua lá đến tình hình sâu bệnh hại trên trên vườn ươm cây cam Sành không hạt LĐ6 58

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 60

TÀI LIỆU THAM KHẢO 61

PHỤ LỤC 64

Trang 8

DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

: Food and Agriculture Organization of the United Nations -

Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc : Least significant difference - Chênh lệch nhỏ nhất : Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

: Quy chuẩn Việt Nam : Trung bình

: Trace Elements - Các nguyên tố trung, vi lượng : Thứ tự

: Total Suspended Solids - Chất rắn lơ lửng trong nước : Ủy ban nhân dân

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Các loài cam quýt trồng phổ biến trong sản xuất 12

Bảng 1.2 Tình hình sản xuất cam trên thế giới năm 2017 16

Bảng 1.3 Tình hình xuất nhập cam trên thế giới từ 2007 - 2016 17

Bảng 1.4 Diện tích và sản lượng cây cam ở Việt Nam 18

Bảng 1.5 Hiện trạng sản xuất cây cam tại tỉnh Tuyên Quang năm 2017 19

Bảng 1.6 Tình hình sản xuất cam tại huyện Hàm Yên 20

Bảng 3.1 Ảnh hưởng của thời vụ ghép và kiểu ghép đến tỷ lệ bật mầm của cam Sành không hạt LĐ6 sau ghép 10 ngày 39

Bảng 3.2 Ảnh hưởng của thời vụ ghép và kiểu ghép đến tỷ lệ bật mầm của cam Sành không hạt LĐ6 sau ghép 20 ngày 40

Bảng 3.3 Ảnh hưởng của thời vụ ghép và kiểu ghép đến tỷ lệ bật mầm của cam Sành không hạt LĐ6 sau ghép 30 ngày 42

Bảng 3.4 Ảnh hưởng của thời vụ ghép và kiểu ghép đến tỷ lệ bật mầm của cam Sành không hạt LĐ6 43

Bảng 3.5 Ảnh hưởng của thời vụ ghép và kiểu ghép đến tỷ lệ cây ghép sống của cam Sành không hạt LĐ6 45

Bảng 3.6 Ảnh hưởng của thời vụ ghép và kiểu ghép đến động thái tăng trưởng chiều cao mầm ghép cam Sành không hạt LĐ6 46

Bảng 3.7 Ảnh hưởng của thời vụ ghép và kiểu ghép đến động thái ra lá trên mầm ghép cam Sành không hạt LĐ6 48

Bảng 3.8 Ảnh hưởng của thời vụ ghép và kiểu ghép đến một số chỉ tiêu mầm ghép cây cam Sành không hạt LĐ6 trước khi xuất vườn 49

Bảng 3.9 Ảnh hưởng của thời vụ ghép và kiểu ghép đến tỷ lệ xuất vườn của cam Sành không hạt LĐ6 51

Bảng 3.10 Ảnh hưởng của thời vụ ghép và kiểu ghép đến tình hình sâu bệnh hại trên cam Sành không hạt LĐ6 52

Trang 10

Bảng 3.11 Ảnh hưởng của một số loại phân bón qua lá đến động thái tăng

trưởng chiều cao cành ghép cam Sành không hạt LĐ6 54 Bảng 3.12 Ảnh hưởng của một số loại phân bón qua lá đến động thái ra

lá của cành ghép cam Sành không hạt LĐ6 55 Bảng 3.13 Ảnh hưởng của một số loại phân bón qua lá đến một số chỉ

tiêu mầm ghép cây cam Sành không hạt LĐ6 56 Bảng 3.14 Ảnh hưởng của một số loại phân bón qua lá đến tỷ lệ xuất

vườn của cam Sành không hạt LĐ6 57 Bảng 3.15 Ảnh hưởng của một số loại phân bón qua lá đến tình hình sâu

bệnh hại trên cam Sành không hạt LĐ6 58

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ở Việt Nam, cây cam là một trong những loại cây ăn quả mang lại giá trị kinh tế cao trên thị trường và được nhiều người tiêu dùng trong nước cũng như trên thế giới rất ưa chuộng bởi nó có mã quả đẹp, hương vị thơm ngon có giá trị dinh dưỡng cao, bảo quản được lâu trong quá trình sử dụng Hiện nay có rất nhiều giống cam ngon và nổi tiếng như: cam Sành Yên Bái, cam Sành Bắc Quang (Hà Giang), cam Sành Bố Hạ (Bắc Giang), cam Sành Hàm Yên (Tuyên Quang), cam Sành Đồng bằng sông Cửu Long…

Huyện Hàm Yên hiện có trên 7.000 ha cam, trong đó cam sành chiếm 84,8%, tập trung ở 13 xã, thị trấn; với số hộ trồng cam trên 5.600 hộ, sản lượng hàng năm năm đạt trên 80.000 -100.000 tấn Sản phẩm cam sành Hàm Yên đã có mặt ở nhiều tỉnh, thành trong và được người tiêu dùng ưa chuộng;

Năm 2007, huyện Hàm Yên đã xây dựng Thương hiệu Cam sành Hàm Yên Năm 2012, sản phẩm Cam sành Hàm Yên được bình chọn là 1 trong 50 trái cây đặc sản Việt Nam; đã công bố tiêu chuẩn cơ sở cam sành Hàm Yên và được chứng nhận phù hợp tiêu chuẩn Quốc gia TCVN 1873:2014 Năm 2013 Cam sành Hàm Yên được bình chọn trong Top 10 Thương hiệu - Nhãn hiệu nổi tiếng do Tạp chí Sở hữu Trí tuệ và Sáng tạo bình chọn và cũng trong năm

2014 được tôn vinh là một trong những Sản phẩm nông nghiệp tiêu biểu năm

2013 Năm 2015 được chứng nhận là sản phẩm Thương hiệu vàng nông nghiệp Việt Nam Năm 2016 được chứng nhận là Sản phẩm nông nghiệp nổi tiếng Việt Nam

Tuy nhiên quá trình phát triển vùng cam của huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang trong những năm gần đây có nhiều diễn biến cần quan tâm, đó là: diện tích cam Sành tăng nhanh, cơ cấu giống mới còn ít, chất lượng quả

Trang 12

cam Sành nhiều hạn chế như: vị quả chua, quả hạt nhiều (20 - 30 hạt/quả) dẫn đến hiệu quả sản xuất không cao đây là yếu tố hạn chế chính giá trị của sản phẩm, đặc biệt là sản phẩm phục vụ xuất khẩu Chính vì vậy, cần thiết phải phải bổ sung vào cơ cấu các giống cam mới, có năng suất, chất lượng cao, đặc biệt là các giống cam không hạt để sản phẩm quả cam không chỉ nội tiêu mà còn phục vụ cho xuất khẩu

Năm 2015- 2017, đề tài: “Nghiên cứu ứng dụng khoa học và công nghệ tuyển chọn, nhân giống cam không hạt và nâng cao hiệu quả sản xuất cam trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang” đã xác định là giống cam Sành không hạt LĐ6 do Viện nghiên cứu cây ăn quả miền Nam chọn, tạo trồng phù hợp tại huyện Hàm Yên, đã cho quả có đặc điểm hình thái quả hoàn toàn giống cam Sành Hàm Yên, chất lượng tốt và đặc biệt là số hạt rất ít (2 - 3 hạt/quả) Để nhân nhanh

giống cam Sành không hạt LĐ6 phục vụ cho sản xuất, đề tài: “Nghiên cứu

một số biện pháp kỹ thuật trong nhân giống cam Sành không hạt LĐ6 tại Hàm Yên, Tuyên Quang” có cơ sở khoa học và ý nghĩa thực tiễn

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Xác định một số biện pháp kỹ thuật phù hợp trong nhân giống đối với cây cam Sành không hạt LĐ6 bằng phương pháp ghép

3 Yêu cầu của đề tài

- Nghiên cứu ảnh hưởng của kiểu ghép và thời vụ ghép đến khả năng tiếp hợp của cây trên vườn ươm, khả năng sinh trưởng và tỷ lệ xuất vườn trong nhân giống cam Sành không hạt LĐ6

- Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân bón qua lá đến khả năng khả năng sinh trưởng và tỷ lệ xuất vườn trong nhân giống cam Sành không hạt LĐ6

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

4.1 Ý nghĩa khoa học

- Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp các dẫn liệu khoa học về kiểu ghép và thời vụ ghép của một số giống cam mới và thử nghiệm một số

Trang 13

loại phân bón qua lá đến khả năng khả năng sinh trưởng của cây ghép trong nhân giống cam Sành LĐ6 tại Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang

- Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần bổ sung thêm những tài liệu khoa học phục vụ cho công tác giảng dạy cũng như nghiên cứu trên cây cam ở nước ta là cơ sở khuyến cáo các biện pháp kỹ thuật hiệu quả áp dụng trong thực tế sản xuất cho người dân và cung nhân rộng cung cấp giống tại chỗ cho người dân

4.2 Ý nghĩa thực tiễn

- Kết quả nghiên cứu là cơ sở khoa học giúp cho công tác xây dựng định hướng, quy hoạch, quản lý, chỉ đạo sản xuất cam đạt hiệu quả hơn trong điều kiện đặc thù của địa phương cũng như các vùng có điều kiện tương tự

- Kết quả nghiên cứu giống mới và các biện pháp kỹ thuật được áp dụng trong sản xuất cam ở Hàm Yên sẽ góp phần nâng cao năng suất chất lượng và hiệu quả kinh tế cao cho người sản xuất, từ đó nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Cơ sở khoa học và cơ sở thực tiễn

1.1.1 Cơ sở khoa học của việc ghép cây trong nhân giống

Ghép là lấy một bộ phận, một phần của cây này ghép lên thân của cây khác cùng loài tạo nên một cây mới có gốc của cây này nhưng ngọn của cây khác, cùng sinh trưởng, phát triển như là một cây thống nhất Khi ghép bằng những phương pháp nhất định làm cho tượng tầng của gốc ghép và thân ghép tiếp xúc với nhau, nhờ sự hoạt động và khả năng tái sinh của tượng tầng làm cho mắt ghép và gốc ghép gắn liền với nhau (Nguyễn Văn Vượng và cs, 2018)

Mô của thân cây hay cây cùng loài gần nhau có thể tiếp hợp với nhau nhờ sự hoạt động của tượng tầng Ghép là sự kết hợp của cơ quan dinh dưỡng của cùng một cây hay là các phần thân của giống cần nhân (cành ghép) lên thân (gốc cây khác: Chấp, bưởi ) Sau này ở cây ghép mới, phần trên mặt đất phát triển từ cành ghép, còn bộ rễ từ gốc ghép (Vũ Công Hậu 1990, Vũ Công Hậu 2000)

Sau khi áp sát phần tượng tầng của gốc ghép và cành ghép với nhau, trước tiên những tế bào bị thương tổn của hai mặt cắt hình thành lớp ngăn cách màu nâu, sau đó các tế bào nhu mô dưới lớp ngăn cách ấy phân chia rất nhanh, hình thành mô liên hợp giữa cành ghép và gốc ghép, đồng thời lớp ngăn cách dần dần biến mất, các tế bào mới sinh sản của cành ghép và gốc ghép liên hệ với nhau, do đó chất dinh dưỡng của cành ghép chịu ảnh hưởng của tế bào bên cạnh của gốc ghép mà phân hóa thành mô tương tự (Vũ Công Hậu 2000, Hoàng Ngọc Thuận 2001)

Sở dĩ cành ghép có thể nối và sống được trên gốc ghép là vì cả cành và gốc ghép đều có mô phân sinh đó là những tế bào non, khi bóc vỏ một phần dính vào với vỏ một phần còn lại phủ trên trục gốc trắng dưới vỏ Khi ghép bằng cành hoặc ghép bằng mắt một phần của mô phân sinh của cành ghép tiếp

Trang 15

xúc với một phần của mô phân sinh của gốc ghép và tạo nên một loại mô mới gọi là mô tiếp hợp nhờ đó mà việc trao đổi nhựa giữa cành ghép và gốc ghép diễn ra liên tục và tạo nên một cây ghép hoàn chỉnh (Vũ Công Hậu 1990, Hoàng Ngọc Thuận, Trần Thế Tục 1993)

Những tế bào mới sinh của cành ghép tương ứng với mạch dẫn cứ như thế sẽ làm cho các loại ô tế bào của cành ghép và gốc ghép có mối liên hệ tương ứng và hình thành của một thể cộng sinh mới, cành ghép và góc ghép

có kết hợp chặt chẽ hay không là do sức tiếp hợp và mối liên hệ dẫn truyền của chúng quyết định Cành ghép và gốc ghép hình thành lớp tiếp hợp càng chặt chẽ, chất dinh dưỡng càng đầy đủ thì sự tiếp hợp càng được củng cố, sự trao đổi giữa chất dinh dưỡng vô cơ của gốc ghép và chất dinh dưỡng hữu cơ của cành ghép càng dễ dàng

Tác giả Nguyễn Văn Vượng và cs (2018) cho biết: Khi nhân giống bằng ghép cây có 1 số ưu điểm sau: Cây ghép sinh trưởng tốt, tuổi thọ cao nhờ rễ của gốc ghép hoạt động tốt Cây ghép giữ được các đặc điểm tốt của cây mẹ,

do mắt ghép cành ghép được lấy trên cây mẹ đã thành thục, các đặc tính di truyền đã ổn định; Cho hệ số nhân giống cao, trong thời gian ngắn đã tạo ra một số lượng lớn cây giống Duy trì được nòi giống đối với những loại cây quả không có hạt hoặc dùng phương pháp chiết, giâm cành khó ra rễ; Nâng cao sức chống chịu của cây mẹ, trên cơ sở chọn được tổ hợp ghép phù hợp

Có thể tạo được cây tán thấp, cây có nhiều cành ngay từ giai đoạn vườn ươm, thuận tiện cho việc chăm sóc, thu hoạch

Đồng thời Nguyễn Văn Vượng và cs (2018) đã cho biết về các nhược điểm khi nhân giống bằng ghép cây là: Cây ghép dễ bị nhiễm bệnh nếu không chú ý chọn mắt ghép, gốc ghép sạch bệnh; Tổ hợp ghép không phù hợp

dễ bị tách vết ghép nếu gặp gió bão sau khi ghép, hoặc hiện tượng chân hương nếu gốc ghép sinh trưởng yếu hơn mắt ghép cành ghép và chỉ ghép được những cây cùng loài hoặc cùng họ với nhau

Trang 16

1.1.1.1 Cơ sở khoa học của việc sử dụng các kiểu ghép khác nhau trong nhân giống

+ Ghép mắt: Ứng với từng trường hợp cụ thể phương pháp ghép mắt có

4 kiểu ghép: ghép cửa sổ kiểu “chữ I” hoặc kiểu “cửa sổ hình chữ nhật, ghép kiểu “chữ T” hoặc “ghép mắt nhỏ có gỗ” (Đào Thanh Vân, Nguyễn Văn Vượng, 2015)

+ Ghép cành: Phương pháp ghép cành là lấy một đoạn cành từ một phần cây (cành hoặc chồi, gọi là cành ghép) nối ghép vào một cây khác (gọi

là gốc ghép) Cành ghép phải chọn ở cây tốt Gốc ghép thường là cây mọc từ hạt, có bộ rễ sinh trưởng khỏe Có nhiều kiểu ghép: ghép cành bên, ghép nêm

và ghép áp Mỗi kiểu ghép có các ưu nhược điểm nhất định và tùy thuộc vào mùa vụ, loại cây trồng mà lựa chọn cho phù hợp (Đào Thanh Vân, Nguyễn Văn Vượng, 2015)

Nguyễn Văn Vượng và cs (2018) khi nghiên cứu về mối quan hệ giữa gốc ghép và bộ phận ghép cho thấy:

- Sau khi ghép sống, gốc ghép và thân, cành ghép là một cơ thể thống nhất hoàn chỉnh Tuy gốc ghép chỉ có gốc không mang cành, lá của bản thân

nó mà mang thân cành của bộ phận ghép nhưng giữa 2 phần này có mối quan

hệ chặt chẽ, khăng khít với nhau và có ảnh hưởng qua lại với nhau

1.1.1.2 Cơ sở khoa học và thực tiễn của lựa chọn thời vụ ghép trong nhân giống

Việc tiếp hợp giữa gốc ghép và cành ghép, mắt ghép phụ thuộc rất nhiều vào sức sinh trưởng của gốc ghép và cành ghép Sức sinh trưởng của

Trang 17

cây lại phụ thuộc vào điều kiện thời tiết, khí hậu của từng mùa, vụ Trong 1 năm có nhiều mùa vụ, có những mùa vụ thuận lợi cho cây sinh trưởng, nhựa cây lưu thông tốt: vụ Xuân, vụ Hè và vụ Thu, có vụ do thời tiết khô hạn nên nhựa trong cây lưu thông kém như vụ Đông Các thời điểm này rất ảnh hưởng đến khả năng tiếp hợp giữa gốc ghép và cành ghép, mắt ghép Việc lựa chọn được thời điểm ghép, thời vụ ghép phù hợp sẽ ảnh hưởng rất lớn đến tỷ lệ ghép sống và khả năng sinh trưởng, tỷ lệ xuất vườn của cây ghép (Đào Thanh Vân, Nguyễn Văn Vượng, 2015)

Năm 2011, Nguyễn Thị Xuyến đã nghiên cứu thời vụ ghép cho 4 dòng (TN13, XB -106, XB – 4 và bưởi Đỏ) cho biết: vụ Xuân là thời vụ có chiều dài cành lớn nhất, vụ Hè và vụ Thu có sự sai khác về chiều dài cành không có

ý nghĩa ở độ tin cậy 95% Riêng giống bưởi Đỏ sự sai khác về chiều dài cành

ở cả 3 thời vụ đều không có ý nghĩa Trong các dòng nghiên cứu thì dòng

XB-106 là dòng có chiều dài cành lớn nhất, lớn hơn bưởi đỏ còn 2 dòng TN13 và

XB - 4 là 2 dòng có chiều dài cành nhỏ hơn bưởi Đỏ Về chỉ tiêu đường kính cành giữa các thời vụ không có sự sai khác nhiều Ở tất cả các dòng thì vụ Xuân đều có đường kính cành lớn hơn vụ Hè và vụ Thu nhưng không có sự sai khác có ý nghĩa, như vậy có thể nói đường kính cành ghép ít chịu tác động của thời vụ ghép

Chỉ tiêu số cành cấp 1 có sự sai khác khá lớn giữa các thời vụ Ở tất cả các dòng nghiên cứu, vụ Xuân là thời vụ có số lượng cành cấp 1 lớn nhất Sự chênh lệch giữa số lượng cành cấp 1 của vụ Xuân và vụ Hè khá nhiều còn giữa vụ Xuân với vụ Thu và vụ Thu với vụ Hè thì sự chênh lệch hầu như không có ý nghĩa Chứng tỏ khả năng nảy mầm của các tổ hợp ghép chịu sự ảnh hưởng của thời vụ Vụ Xuân và vụ Thu thích hợp cho việc ghép cây cam quýt vì khả năng nảy mầm cao còn vụ Hè không thích hợp

Chỉ tiêu số lá và số mắt lá không có ý nghĩa nhiều trong việc đánh giá cây con đạt tiêu chuẩn Tuy nhiên tỷ lệ số lá/số mắt lá lại là chỉ tiêu quan

Trang 18

trọng thể hiện khả năng tiếp hợp của các tổ hợp ghép Nếu cành ghép và gốc ghép tiếp hợp tốt, khí hậu thuận lợi, không bị sâu bệnh hại thì đến khi cây con xuất vườn sẽ ít có hiện tượng rụng lá Tức là số lá sẽ bằng hoặc gần bằng số mắt lá So sánh 2 chỉ tiêu này cho thấy hầu hết các dòng vào vụ Xuân ít có sự chênh lệch giữa số lá và số mắt lá (TN13 là 11,43 lá và 12,52 mắt lá; XB - 4 là 10,01 và 10,93; XB - 106 là 10,98 và 11,88; bưởi Đỏ là 15,08 và 15,32) Vụ Hè

và vụ Thu hiện tượng rụng lá diễn ra khá mạnh, thể hiện ở sự chênh lệch lớn giữa số lá và số mắt lá, đặc biệt là vào vụ Thu (bưởi Đỏ là 13,42 lá và mắt lá)

Như vậy, kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng: khi ghép một số dòng cam quýt trên gốc ghép bưởi chua vào 3 thời vụ thì vụ Xuân là vụ có các đặc điểm sinh trưởng của cành ghép tốt nhất sau đó đến vụ Thu Vụ Hè là thời vụ không thuận lợi cho công tác ghép nhân giống Trong các dòng nghiên cứu thì dòng XB - 106 có các chỉ tiêu sinh trưởng tốt nhất nên có triển vọng nhất trong việc nhân giống bằng phương pháp ghép (Nguyễn Thị Xuyến, 2011)

1.1.2 Cơ sở khoa học và thực tiễn của việc sử dụng phân bón lá

Phân bón lá thường gồm 3 thành phần chính: các nguyên tố đa lượng, trung lượng và vi lượng, ngoài ra còn có một số chất kích thích sinh trưởng Vai trò của phân bón lá đối với cây trồng là tác động tổng hợp của từng nhóm các nguyên tố đa lượng, trung lượng và vi lượng, chúng có vai trò quan trọng trong đời sống cây trồng

Trong cây trồng luôn tồn tại các cơ chế điều chỉnh các quá trình sinh trưởng và phát triển nhằm thích ứng với các điều kiện ngoại cảnh, duy trì sự sống Việc áp dụng biện pháp kỹ thuật bón phân trong từng giai đoạn là rất cần thiết vì cây trồng hấp thu dinh dưỡng nuôi cây phần lớn qua bộ rễ, tuy nhiên hàm lượng dinh dưỡng trong đất là không đủ, đặc biệt là các yếu tố vi lượng Chính vì thế, việc phun phân bón lá nhằm bổ sung dinh dưỡng cho cây

là rất cần thiết Nghiên cứu cải tiến các phương pháp phun bón phân cho cây trồng đã được thực hiện nhiều năm trên nhiều loại cây trồng Phân bón qua lá

Trang 19

cung cấp nhanh, kịp thời các chất dinh dưỡng đa lượng, vi lượng cần thiết cho quá trình sinh trưởng sinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực của cây, đặc biệt là thời kỳ cây sinh trưởng mạnh, cần tập trung dinh dưỡng để tạo hoa, nuôi quả.(Đào Thanh vân, Ngô Xuân Bình, 2003)

Phân bón lá bổ sung thêm thức ăn đặc biệt là vi lượng để kích thích cho cây trồng ra lá, ra hoa nhanh hơn Phân bón lót có tác dụng với rau, cây ăn quả, hoa hơn so với ở trên cây lan, loài sống phụ sinh

Theo các nhà khoa học, bón phân qua lá thậm chí còn tốt cho cây hơn là bón qua rễ, bởi đây là cách nhanh nhất mà chất dĩnh dưỡng được cây hấp thụ

Những ưu điểm khi bón phân qua lá: Khi bón qua lá, chất dinh dưỡng cung cấp cho cây trồng qua hệ thống khí khổng ở bề mặt lá Theo số liệu đã được công bố, hiệu suất sử dụng chất dinh dưỡng qua lá đạt tới 95% Trong khi đó, bón qua đất, cây chỉ sử dụng được 45 - 50% chất dinh dưỡng Sở dĩ như vậy là vì tổng diện tích bề mặt các lá trên một cây rộng gấp 15 - 20 lần diện tích đất được che phủ bởi cành và lá, nghĩa là diện tích hấp thụ chất dinh dưỡng của lá rộng hơn rất nhiều so với diện tích đất trồng của một cây Qua khí khổng, các chất dinh dưỡng được dẫn đến các tế bào, mô cây để sử dụng

Trong thành phần chất dinh dưỡng của phân bón lá ngoài các nguyên tố

đa lượng như đạm, lân, kali còn có các nguyên tố trung lượng và vi lượng như

Fe, Zn, Cu, Mg,… các nguyên tố này tuy có hàm lượng ít nhưng lại giữ vai trò rất quan trọng vì trong môi trường đất thường thiếu hoặc không có Do đó, khi bổ sung các chất này trực tiếp qua lá sẽ giúp đáp ứng đủ nhu cầu và cân đối dinh dưỡng cho cây nên tạo điều kiện cho cây phát triển đầy đủ trong từng giai đoạn sinh trưởng Phân bón lá có tác dụng đặc biệt trong những trường hợp cần bổ sung khẩn cấp chất dinh dưỡng đạm, lân, kali hay các nguyên tố trung, vi lượng Ngoài ra, phân bón lá còn tăng cường điều hòa sinh trưởng, tăng khả năng hấp thụ dưỡng chất kích thích đâm chồi, đẻ nhánh, ra hoa, đậu trái, giảm hiện tượng rụng trái non, trái to đẹp, phẩm chất ngon và tăng cường khả năng đề kháng chống chịu sâu bệnh (Trần Thế Tục, 1998)

Trang 20

1.2 Nguồn gốc và phân loại cam quýt

1.2.1 Nguồn gốc

Cam quýt có lịch sử trồng trọt từ lâu đời sau cây nho trong các loài cây

ăn quả Đã có nhiều nghiên cứu về nguồn gốc của cam quýt, phần lớn đều nhất trí rằng cam quýt có nguồn gốc ở miền Nam châu Á, trải dài từ Ấn Độ qua Hymalaya, Trung Quốc, vùng quần đảo Philippine, Malaysia, miền Nam Indonesia hoặc kéo dài đến lục địa Úc Những báo cáo gần đây nhận định rằng, tỉnh Vân Nam của Trung Quốc có thể là nơi khởi nguyên của nhiều loài cam quýt quan trọng, tại đây còn có nhiều loài cam quýt hoang dại

Trước đây có vài bài báo cáo cho rằng loài chanh Yên (Citrus medica L.), phật thủ (Citrus medica Var.), có thể có nguồn gốc ở Địa Trung Hải hoặc Bắc Phi Nhưng hiện nay minh chứng được sáng tỏ, Citrs medica có nguồn

gốc từ miền Nam Trung Quốc

Cam ngọt (Citrus sisnensis Osbeck), được xác định có nguồn gốc ở

miền Nam Trung Quốc, Ấn Độ và miền Nam Indonesia, sau đó cũng giống

như các loài Citrus media được mang đến trồng ở châu Âu và Địa Trung Hải,

châu Phi vào cuối thế kỷ 13 đến thế kỷ 17 Giống cam nổi tiếng thế giới

“Washington Navel”, ở Việt Nam vẫn thường gọi là cam Navel được báo cáo

là đang đột biến tự nhiên từ một giống cam ngọt, giống này được phát hiện ở Brazil, lần đầu tiên trồng ở Úc năm 1928, ở Frorida (Mỹ) năm 1983, ở California năm 1970 và nó rất nổi tiếng ở Washington (Đào Thanh Vân, Ngô Xuân Bình)

Các giống bưởi (Citrus grandis) được báo cáo có nguồn gốc ở

Malaysia, Ấn Độ do thuyền trưởng người Ấn Độ có tên là Shaddock đã mang giống bưởi này tới trồng ở Caribe, sau đó theo gót các thủy thủ bưởi được giới thiệu ở Palestin vào năm 900 sau Công nguyên và ở châu Âu sau

thời gian đó (Đào Thanh Vân, Ngô Xuân Bình) Bưởi chùm (Citrus paradisi)

Trang 21

được xác định là dạng đột biến hay dạng con lai tự nhiên ở bưởi, nó xuất hiện sớm nhất ở vùng Barbadas miền Tây Ấn Độ và được trồng lần đầu tiên ở Florida Mỹ năm 1809 và trở thành một trong những loại quả chất lượng cao ở châu Mỹ

Như vậy, cam quýt có nguồn gốc ở miền Nam châu Á, sự lan trải của cam quýt đến thế giới gắn liền với lịch sử buôn bán đường biển và các cuộc chiến tranh trước đây Cam quýt được di chuyển đến châu Phi từ Ấn Độ bởi các thuyền buôn và di chuyển đến châu Mỹ bởi các nhà thám hiểm, thuyền buôn người Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha

giống), 3 nhóm: “tiền cam quýt”, “gần cam quýt”, và nhóm “cam quýt thật

sự” (True Citrus group) được phân bố từ Citreace và tộc phụ Citrnae (Trần

Như Ý và cs, 2000)

Sự phân loại cam quýt khá phức tạp vì có các yếu tố như: có rất nhiều

giống (Cultivars) trong sản xuất và các dạng con lai của giống này (Hybrids),

hiện tượng hạt đa phôi, đột biến và hiện tượng đa phôi cũng là những nhân tố gây khó khăn cho phân loại cam quýt Hiện nay tồn tại hai hệ thống phân loại cam quýt được nhiều người áp dụng, theo Tanaka Nhật Bản (Phạm Văn Côn,

1997) Cam quýt gồm 100 đến 160 loài (Specias) khác nhau, Tanaka quan sát thực tiễn sản xuất và cho rằng các giống (Cultivars) cam quýt trong quá trình

trồng trọt đã biến dị trở thành giống mới, đồng thời đã quan sát ghi chép tỉ mỉ đặc điểm hình thái của các giống đã biến dị này và phân chúng thành một loài

Trang 22

mới hoặc giống mới có tên khoa học với tên khoa học được bắt đầu bằng tên

giống hoặc loài đã sinh ra chúng và kết thúc bằng chữ Horticulture Tanaka

và Swingle đã phân chia cam quýt ra thành 16 loài tuy nhiên các nhà khoa học vẫn phải dùng bảng phân loại của Tanaka để gọi tên các giống cam quýt vì bảng phân loại này chi tiết đến từng giống Có 10 loài quan trọng nhất trong

nhóm True Citrus group và nhóm con lai đã được liệt kê và một số nhóm con

lai phổ biến, đây là những loài được trồng phổ biến và có ý nghĩa với con

người, có thể được mô tả trong sơ đồ phân loại cam quýt (Rutaceae)

Bảng 1.1 Các loài cam quýt trồng phổ biến trong sản xuất

1 C sisnensis (L.) Osbeck Sweets Orange Cam ngọt

2 C aurantium L Sour Orange Cam chua

3 C reticulata Blanco Mandarin Quýt

4 C limon (L.) Osbeck Lemon Chanh núm

5 C medica Citron Chanh yên

6 C aurantifolia Swingle Lime Chanh vỏ mỏng

7 C grandis Shadock (Pomelo) Bưởi

8 C paradisi Grapefruit Bưởi chùm

(Đào Thanh Vân và Ngô Xuân Bình, 2003)

Trên thế giới cam ngọt (C sisnensis (L.) Osbeck) được trồng phổ biến nhất

cho mục đích thương mại, đây là các giống cam vỏ mỏng cho hạt hoặc không hạt, trong đó có các giống không hạt nổi tiếng như nhóm giống Navel, Valencia hiện là giống thương mại chủ yếu trên thế giới (Trần Thế Tục, 1998)

1.2.3 Một số giống cam trồng phổ biến ở Việt Nam

1.2.3.1 Cam Xã Đoài

Cam Xã Đoài có nguồn gốc là giống được trồng nhiều ở Nghi Lộc (Nghệ An) nên mọi người thường quen gọi là cam Vinh Đặc điểm: Có tán hình mâm xôi, khung cành mềm mại, góc độ phân cành lớn nhất trong tất

Trang 23

cả các giống trồng hiện nay Có gai ngắn hoặc không có gai Lá màu xanh nhạt, mỏng, phiến lá cân, eo lá nhỏ Quả có 2 dạng quả: quả tròn và quả dài (quả dài có năng suất cao hơn dạng quả tròn) Quả chín vào giữa tháng

10 đến đầu tháng 11; khối lượng quả trung bình 130 – 170 g/quả Quả chín màu vàng, vỏ quả dày, tép thô, nhiều bã, nhiều hạt, lõi quả to, nhiều nước, ngọt đậm Giống này hiện nay được trồng nhiều Năng suất ổn định hàng năm và năng suất khá cao, đứng sau giống Vân Du.(Nguyễn Văn Vượng và cs, 2018)

1.2.3.2 Cam chín sớm CS1

Cam CS1 là giống được Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Cây có múi - Thuộc Viện Nghiên cứu Rau quả tuyển chọn từ giống cam Xã Đoài tại vùng trồng cam tập trung Cao Phong - Hòa Bình Người dân ở Cao Phong - Hòa Bình và thường gọi là cam lòng vàng Giống cam CS1 sinh trưởng khỏe, tán cây hình bán cầu, chiều cao cây trung bình là 4,5 - 5,0 m, tán rộng 5,0 - 5,5 m, khả năng phân cành khoẻ; lá có màu xanh đậm, phiến lá thuôn dài; Quả của cam CS1 có chiều cao thấp hơn cam Xã Đoài, khối lượng trung bình khoảng 200 – 250 g/quả, đường kính quả trung bình 7,1 - 7,8 cm, cao quả 6,8 - 7,5 cm, vỏ mỏng khoảng 3 mm, màu vàng pha xanh Quả có trung bình 10 - 12 múi, có từ 16 - 20 hạt/quả, vị ngọt, thơm, tép màu vàng, mọng nước; Cây ra hoa vào giữa tháng 1 đến cuối tháng 2 Thời gian thu hoạch quả sớm, từ giữa tháng 10 đến cuối tháng 11 dương lịch Năng suất trung bình đạt 210 - 240 quả/cây/năm (29 - 30 tấn/ha) (Nguyễn Văn Vượng và cs, 2018)

1.2.3.3 Cam V2

Giống cam V2 được tuyển chọn từ giống cam Valencia Orlinda Giống cam Valencia Orlinda được nhập nội vào Việt Nam lần thứ nhất năm 1971 từ Cu Ba theo hợp tác song phương giữa Việt Nam và Cu Ba, lần hai vào năm 1986 - 1990 từ Úc thông qua dự án VE-86-005 do FAO

Trang 24

tài trợ và lần thứ ba vào năm 2001 từ Mỹ Giống V2 được Viện Di truyền Nông nghiệp nhập nội và trồng khảo nghiệm ở các vùng trồng cam Cao Phong - Hòa Bình, Quỳ Hợp - Nghệ An và được Bộ Nông nghiệp & PTNT công nhận giống chính thức năm 2009 Hiện tại giống cam V2 được trồng chủ yếu ở Công ty Cây ăn quả và nông sản Cao Phong - Hòa Bình và Công ty Cây ăn quả 3/2, Quỳ Hợp, Nghệ An Giống cam V2, là dòng phôi tâm của giống Valencia, được Webber ở Trung tâm nghiên cứu cây có múi, Riverside, California, Mỹ chọn lọc Quả hình ellip, đỏ da cam, kích thước 6,8 × 7,1 cm, vỏ quả nhẵn Khối lượng trung bình 180 -

250 g/quả Độ brix đạt 11,0 - 12,0%, axít tổng số 0,8%, có từ 4 - 6 hạt/quả Thịt quả mịn, vị ngọt và thơm Thời gian thu hoạch cuối tháng 2 đến tháng 4, năng suất cao, sử dụng cho ăn tươi và chế biến nước quả (Nguyễn Văn Vượng và cs, 2018)

1.2.3.4 Cam Sành

Cam Sành có tên khoa học Citrus nobilis, là một giống cây ăn quả có

múi thuộc chi Citrus có nguồn gốc từ Việt Nam Quả cam Sành rất dễ nhận ra nhờ lớp vỏ dày, sần sùi giống bề mặt sần như mảnh sành màu xanh (ở miền Bắc khi chín vỏ quả có màu vàng đỏ), các múi thịt có màu cam, trong quả có nhiều hạt (20 - 30 hạt/quả) Cam Sành là giống lai tự

nhiên giữa C reticulata (quýt) và C sinensis (cam), nên quả thường to

hơn các giống cam và quýt Cam Sành hiện được trồng ở một số nơi của phía Nam của Trung Quốc và Việt Nam

Ở Việt Nam cam Sành được trồng ở tất cả các vùng trồng cam quýt

có tiếng trong nước, được trồng nhiều ở các tỉnh miền Nam, do đó sản lượng cam Sành ở miền Nam lớn hơn Miền Bắc Ở miền Bắc tên của cam Sành thường gắn với tên của địa phương như: cam Sành Hàm Yên (Tuyên Quang); cam Sành Bố Hạ (Bắc Giang), cam Sành Yên Bái, cam Sành Bắc Quang (Hà Giang) .Cây cam Sành sinh trưởng khoẻ, phân cành hướng

Trang 25

ngọn, cành mập và thưa, có thể có gai hay không có gai Lá to dày, màu xanh đậm, phản quang, eo lá to, răng cưa trên mép lá thưa và nông, phiến

lá hay cong lại, túi tinh dầu nổi rõ Tính chống chịu của cam Sành với ngoại cảnh và sâu bệnh hại ở mức độ trung bình Vỏ quả dày, thô, sần sùi không đẹp, nhưng thịt quả có màu sắc đẹp, màu vàng hồng Chất lượng thịt quả ngon, không thua kém các giống quýt ngon trên thế giới Là giống

chín muộn thường vào tết âm lịch.(Đào Thanh Vân, 2017)

1.2.3.5 Cam Sành không hạt LĐ6

Giống cam Sành không hạt LĐ6 đo Viện cây ăn quả miền Nam (Tiền Giang) tạo ra từ dòng cam Sành (CS8) có số lượng hạt: 10 - 23 hạt/quả, sử dụng chiếu xạ tại Viện Nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt (Lâm Đồng) với nguồn chiếu xạ: Co60, liều chiếu xạ 5,0 krad Kết quả đã tạo ra được một dòng dòng cam Sành không hạt bằng chiếu xạ đột biến sử dụng tia gamma trên mầm ngủ

có các đặc tính nổi trội: có tỉ lệ hạt phấn bất dục cao (70%), số hạt/quả thấp <

2 hạt/quả ổn định trong tất cả các quả ở tất cả các cây (tại Viện cây ăn quả miền Nam) Giống này đã được Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn công nhận cho sản xuất tại các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long và miền Đông Nam

bộ từ tháng 12 năm 2010 Hiện giống cam Sành không hạt đang được Viện Cây ăn quả miền Nam nhân giống đưa vào sản xuất Năm 2014 - 2016, đề tài

“Nghiên cứu ứng dụng khoa học và công nghệ tuyển chọn, nhân giống cam không hạt và nâng cao hiệu quả sản xuất cam trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang“ đã tiến hành trồng thử nghiệm giống cam này tại huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang Kết quả năm thứ 3 đã cho quả, quả chỉ có 2 - 3 hạt/quả,

vỏ quả trồng ở Hàm Yên có màu đỏ cam, thịt quả màu vàng cam, sáng đẹp,

vỏ quả ít sần và bóng hơn so với cam Sành có hạt (giống cam LĐ6 trồng ở các tỉnh phía Nam, vỏ quả có màu xanh) Khối lượng quả trung bình > 200

g, nước quả nhiều (> 40%), vị ngọt chua, mùi thơm đặc trưng giống như cam Sành thương phẩm; năng suất khá cao (20 - 25 kg/cây/năm, cây 3 năm tuổi) (Đào Thanh Vân, 2017)

Trang 26

1.3 Tình hình sản xuất và tiêu thụ cam

1.3.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ cam trên thế giới

Cây cam là loài cây có múi quan trọng được trồng phổ biến ở nhiều nơi trên thế giới Năm 2017 diện tích cam cho thu hoạch của toàn thế giới là 3.842.449 ha, năng suất trung bình đạt 18,98 tấn/ha, sản lượng đạt 73.313.089 tấn Châu Á có tổng diện tích trồng cam lớn nhất (1.629.210 ha) với sản lượng là 26.535.254 tấn sau đó đến châu Mỹ, châu Phi, châu Âu và vùng có diện tích nhỏ nhất là châu Đại Dương 18.191 ha và sản lượng 342.717 tấn Vùng có năng suất cam cao nhất là châu Mỹ là 21.02 tấn/ha

Bảng 1.2 Tình hình sản xuất cam trên thế giới năm 2017

(ha)

Năng suất (tấn/ha)

Sản lượng (tấn)

(Nguồn: FAOSTAT/FAO Statistics - năm 2018)

Vùng châu Á được khẳng định là quê hương của cây cam, hầu hết các nước châu Á đều sản xuất cam (Trung Quốc, Ấn Độ, Inđônêxia, Philippin, Thái Lan…) đây là vùng có diện tích lớn nhất là 1.629.210 ha, chiếm trên 42,18% tổng diện tích toàn thế giới, chiếm 36,19% tổng sản lượng Tuy nhiên vùng này lại có năng suất trung bình thấp nhất (16,29 tấn/ha)

Trang 27

Bảng 1.3 Tình hình xuất nhập khẩu cam trên thế giới từ 2007 - 2016

Xuất

khẩu

Sản lượng (tấn) 5.271.918 6.629.733 6.827.104 Giá trị (1000 USD) 3.174.184 4.688.381 4.644.594 Nhập

khẩu

Sản lượng (tấn) 5.753.551 6.489.638 6.712.523 Giá trị (1000 USD) 4.040.505 4.902.074 5.033.830

(Nguồn: FAOSTAT/FAO Statistics - năm 2018)

Xuất nhập khẩu cam tăng nhanh qua các năm, năm 2016 xuất khẩu gần

7 triệu tấn quả, giá trị trên 4,6 tỷ USD, nhập khẩu 6,7 triệu tấn quả, giá trị 5,0

tỷ USD Các nước xuất khẩu quả cam lớn nhất là Mỹ, Nam Phi, Trung Quốc,

Ma Rốc, Thổ Nhĩ Kỳ, Israel và Argentina Các nước nhập khẩu quả cam lớn

là Canada, Nhật Bản, Hàn Quốc và các nước châu Âu khác Xu hướng xuất nhập khẩu còn tăng nhanh trong các năm tới bởi nhu cầu tiêu thu quả có múi còn tăng ở các thị trường

1.3.2 Tình hình sản xuất cam ở Việt Nam

Cây cam được đưa vào Việt Nam từ thế kỷ XVI, cho đến nay đã được nhiều nhà khoa học quan tâm và đã chọn ra được nhiều giống cho năng suất cao, phẩm chất tốt đem trồng ở một số vùng trên cả nước

Từ những năm hoà bình lập lại đến những năm 60 của thế kỷ 20, cây cam mới chỉ tập trung ở một số vùng chuyên canh như: Xã Đoài (Nghệ An),

Bố Hạ (Bắc Giang) đây là 2 vùng chuyên canh cam lớn của Việt Nam mà nhiều người biết đến Từ những năm 1960 ở miền Bắc thành lập một loạt các nông trường quốc doanh, trong đó có rất nhiều các nông trường trồng cam quýt như: Sông Lô, Cao Phong, Sông Bôi, Thanh Hà, Sông Con đã hình thành một

số vùng trồng cam chính ở nước ta Vùng Nghệ An khoảng 1.000 ha, vùng Tây Thanh Hoá 500 ha, vùng Xuân Mai (Hoà Bình) 500 ha, vùng Việt Bắc 500 ha

và các vùng còn lại khác 500 ha

Trang 28

Ở nước ta hiện nay có nhiều vùng trồng cam, song những vùng cho năng suất cao, phẩm chất tốt có tiếng trong nước là: vùng cam Đồng bằng sông Cửu Long, vùng cam Trung du miền núi phía Bắc với nhiều giống cam đặc sản, chất lượng như: cam Sành Yên Bái, cam Sành Bắc Quang, cam Sành Hàm Yên , ngoài ra cam quýt còn được trồng ở vùng Đồng bằng sông Hồng, vùng duyên hải Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và vùng Đông Nam Bộ

Bảng 1.4 Diện tích và sản lượng cam ở Việt Nam

Nguồn: Tổng cục Thống kê - năm 2017

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê năm 2017, diện tích trồng cam ở nước ta năm 2016 là 97,5 nghìn ha, trong đó diện tích cho thu hoạch là 64,7 nghìn ha Trong các năm qua, ngoài việc thay đổi cơ cấu giống và trồng mới thì người dân cũng đầu tư các biện pháp thâm canh tăng năng suất cây cam và đã đạt sản lượng 799,5 nghìn tấn

Ở nước ta hiện nay, có nhiều vùng trồng cam quýt, song những vùng cho năng suất cao, phẩm chất tốt có tiếng trong nước phải kể đến vùng cam đồng bằng sông Cửu Long, vùng cam Trung du miền núi phía Bắc với nhiều giống cam đặc sản, chất lượng như: cam Yên Bái, cam Bắc Quang, quýt Bắc Sơn, cam Sành Hàm Yên với tổng diện tích của cả nước năm 2016 là 92.981 ha Phân bố ở 8 vùng sản xuất bao gồm Đồng bằng sông Hồng, vùng

Trang 29

Đông Bắc, vùng Tây Bắc, Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, Đồng bằng sông Cửu Long Các vùng trồng cam có diện tích lớn là Đồng bằng sông Cửu Long, tiếp đến là vùng Trung du và miền núi phía Bắc

và vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung

1.3.3 Tình hình sản xuất cam ở tỉnh Tuyên Quang

Tỉnh Tuyên Quang có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho sự sinh trưởng và phát triển của nhiều loại cây ăn quả, năm 2018 tỉnh Tuyên Quang có 15.821,41 ha cây ăn quả, trong đó cây có múi có diện tích là 11.204,48 ha, chủ yếu là các giống cam với diện tích 8.330,51 ha (4.925,89 ha diện tích cam cho thu hoạch) Trong các cây có múi (cam, quýt, chanh, bưởi ) thì diện tích cam chiếm 74,34%, trong đó cam Sành chiếm tới hơn 96% trong tổng diện tích cây cam của toàn tỉnh.(Cục thống kê tỉnh Tuyên Quang, 2019)

Về tiêu thụ: tỉnh Tuyên Quang có mạng lưới giao thông tương đối thuận lợi do nằm ở vùng trung tâm của các tỉnh phía Bắc cho nên việc tiêu thụ cam quýt ở tỉnh Tuyên Quang rất thuận lợi đã khuyến khích được người dân phát triển cây có múi

Bảng 1.5 Hiện trạng sản xuất cây có múi tại tỉnh Tuyên Quang

năm 2018

T

T phương Địa

Diện tích cây có múi (ha)

Diện tích cam (ha)

Diện tích cam cho sản phẩm (ha)

NS cam (tạ/ha)

Sản lượng cam (tấn)

Trang 30

1.3.4 Tình hình sản xuất và tiêu thụ cây ăn quả có múi tại Hàm Yên

Theo báo cáo của Phòng Nông nghiệp và PTNT huyện Hàm Yên, năm 2018, toàn huyện Hàm Yên có diện tích cam quýt lớn nhất tỉnh, với diện tích là 7.175,0

ha (trong đó có 4.557 ha cam đang cho thu hoạch) với sản lượng là 100.162,9 tấn, năng suất bình quân 219,8 tạ/ha, giá trị ước đạt trên 800 tỷ đồng)

Cam quýt ở huyện Hàm Yên tập trung chủ yếu trong địa bàn 9 xã: Yên Thuận, Bạch Xa, Minh Khương, Minh Dân, Phù Lưu, Tân Thành, Yên Lâm, Yên Phú và thị trấn Tân Yên

Bảng 1.6 Tình hình sản xuất cam tại huyện Hàm Yên năm 2018

Tình hình sản xuất cam Diện tích

(ha)

Diện tích cho sản phẩm (ha)

Nguồn: Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Hàm Yên, 2019

- Cơ cấu giống cam: Giống cam sành chiếm 84,8%; cam chanh chiếm 3,3%; cam Vinh chiếm 8,3%; cam Valencia (V2) chiếm 2,9%; các giống khác 52,57 ha, chiếm 0,74%

Trang 31

- Thị trường tiêu thụ cam quýt ở huyện Hàm Yên là các tỉnh thành trong

cả nước, các siêu thị

- Các đầu mối tiêu thụ; Chủ yếu do tư thương của các tỉnh và các tư thương trên địa bàn huyện thu mua và cung ứng về các chợ đầu mối để tiêu thụ

- Sản lượng tiêu thụ: Đầu vụ cam (từ tháng 10 đến tháng 12) chủ yếu tiêu thụ thị trường miền Trung và thị trường miền Nam, sản lượng tiêu thụ chiếm

45 - 50% sản lượng, giữa vụ (từ tháng 1 đến tháng 2) tiêu thụ chủ yếu thị trường miền Bắc, các tỉnh miền Trung và thị trường miền Nam, cuối vụ (từ tháng 2 đến tháng 3), sản lượng cam còn lại tiêu thụ chủ yếu thị trường miền Bắc

- Hình thức tiêu thụ: Đối với thị trường từ Quảng Trị trở vào miền Nam, tiêu thụ tương đối tập trung vào 13 đầu mối lớn từ khách hàng miền Nam và thông qua chợ đầu mối Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh

1.4 Tình hình nghiên cứu liên quan đến nội dung của đề tài trên thế giới

và trong nước

1.4.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

Nguyễn Văn Vượng và cs (2018) khi nghiên cứu về mối quan hệ giữa các bộ phận ghép cho biết: Gốc ghép tuy không ảnh hưởng hoàn toàn đến tính

di truyền của thân ghép; Tuy nhiên, nó cũng ảnh hưởng phần nào đến thân ghép ở một số mặt khác nhau:

+ Gốc ghép ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của thân ghép: Nếu giữa gốc ghép và thân ghép chọn không phù hợp thì gốc ghép có thể làm cho thân ghép sinh trưởng chậm Kết quả nghiên cứu tổ hợp ghép của một số loại cam quýt trên các loại gốc ghép khác nhau cho thấy: Nếu ghép các giống cam, quýt trên

gốc ghép là cây Poncitrus trifoliata thì tất cả các giống cam quýt đó đều sinh

trưởng kém đi, tán cây thấp Nhưng nếu ghép trên gốc ghép là bưởi chùm thì sinh trưởng mạnh, thân cao, to

Trang 32

+ Gốc ghép ảnh hưởng đến sự ra hoa, kết quả của thân ghép: Nếu cành ghép là cam Valencia ghép trên gốc ghép là chanh thường và chanh lime thì thân ghép sau này sẽ cho quả sớm hơn khi ghép lên gốc ghép là quýt Cleopatre

+ Gốc ghép ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm của thân ghép: Nếu ghép quýt Ôn Châu lên gốc ghép là bưởi thì vỏ quả sẽ dày, lượng đường và lượng axit trong quả đều giảm Ngược lại khi ghép trên gốc ghép là quýt mật Nam Phong thì quả có vỏ mỏng, hàm lượng đường và axit đều tăng

+ Gốc ghép ảnh hưởng đến tính chống chịu của thân ghép: Gốc ghép cũng có ảnh hưởng lớn đến tính chống chịu của thân ghép nhất là tính chịu hạn, chịu úng và tính chống chịu sâu bệnh

+ Gốc ghép ảnh hưởng đến tính chịu hạn của thân ghép: Khi ghép cam Hamlin lên gốc chanh sần thì cam có khả năng chịu hạn cao nhất Nhưng nếu ghép trên gốc cam ngọt thì khả năng chịu hạn kém nhất Còn nếu ghép trên gốc là quýt Cleopatre thì cam có khả năng chịu hạn trung bình

+ Gốc ghép ảnh hưởng đến tính chịu úng của thân ghép: Khi ghép cây

na, cây mãng cầu xiêm lên cây bình bát (cây dại sống trên các bãi ven biển) thì khả năng chịu úng của thân ghép rất cao

+ Gốc ghép ảnh hưởng đến tính chịu lạnh: Khi ghép cam quýt lên gốc

ghép là Poncirus trifoliata thì cam, quýt có khả năng chịu lạnh hơn ghép trên

một số cây khác

+ Gốc ghép ảnh hưởng đến tính chịu bệnh của thân ghép: Khi ghép cam, quýt lên bưởi chua thì bệnh Tristeza phát triển nặng hơn là ghép lên gốc quýt Cleopatre Hay ghép lên gốc ghép là cây chỉ xác thì khả năng chống

bệnh do Phytopthora gây nên tốt hơn ghép trên một số loại gốc khác

Dựa vào những ảnh hưởng của gốc ghép đến thân ghép, trong kỹ thuật người ta lựa chọn gốc ghép phù hợp để lợi dụng những ảnh hưởng đó cho phù hợp với mục đích của con người trong việc sản xuất cây ăn quả

Trang 33

- Những ảnh hưởng của thân ghép đến gốc ghép

Bên cạnh những ảnh hưởng của gốc ghép đến thân ghép thì ngược lại thân ghép cũng ảnh hưởng phần nào đó đến gốc ghép Thân, cành ghép cung cấp các chất hữu cơ cho bộ rễ của gốc ghép, làm cho gốc ghép sinh trưởng và phát triển Do đó mức độ sinh trưởng của thân ghép có mối quan hệ thuận với

Các nghiên cứu về tiêu chuẩn của giống cây làm gốc ghép của Nguyễn Văn Vượng và cs (2018) cũng cho thấy: Sự sinh trưởng, phát triển, năng suất, phẩm chất tính chống chịu và tuổi thọ của cây ghép chịu ảnh hưởng rất lớn bởi giống cây gốc ghép Vì vậy ở từng điều kiện cụ thể cần nghiên cứu xác định cho được tổ hợp ghép thích hợp cho mỗi giống chúng ta mới phát huy được đầy đủ những ưu điểm của phương pháp ghép, mới có những cây giống tốt phục vụ cho sản xuất Mỗi giống cây làm gốc ghép tốt phải đạt một số tiêu chuẩn sau đây:

- Giống cây làm gốc ghép phải sinh trưởng khoẻ, có khả năng thích ứng rộng với điều kiện ngoại cảnh của địa phương

- Giống cây làm gốc ghép cần phải có sự ổn định về mặt di truyền (ít có

sự phân ly ở thế hệ sau) Đây là vấn đề khó thực hiện vì giống cây làm gốc ghép thường được trồng từ hạt, do đó chỉ thực hiện được một cách tương đối

Trang 34

và theo phương pháp 5 chọn: Chọn giống; chọn cây; chọn quả; chọn hạt và chọn cây con (khi gieo hạt làm cây giống) Ngoài ra có thể sử dụng gốc ghép

từ cây nhân giống bằng phương pháp giâm cành để thoả mãn yêu cầu này

- Giống cây làm gốc ghép phải có khả năng chống chịu sâu bệnh, nhất

Khi nghiên cứu về mối quan hệ giữa đường kính gốc ghép ở các độ tuổi khác nhau, Vũ Công Hậu (2000) cho biết độ lớn của cành ghép cũng khác nhau khi ghép nêm hoặc ghép cành bên Tuy nhiên ở kiểu ghép mắt nhỏ và kiểu ghép chữ T gốc ghép có cùng độ tuổi gốc ghép thì tương đương nhau về độ lớn nên không có sự khác biệt nhau qua phân tích thống kê, điều này cho thấy gốc ghép

ở cùng độ tuổi có đường kính gốc là như nhau

Tương tự như ở thời điểm trước khi ghép, sau khi ghép 4 tháng, đường kính của gốc ghép ở các tuổi gốc ghép khác nhau có sự gia tăng về độ lớn, nhưng cũng không khác biệt qua phân tích thống kê giữa các kiểu ghép trong thí nghiệm ở cùng độ tuổi gốc ghép Như vậy, độ lớn của gốc ghép phụ thuộc vào tuổi của gốc ghép

Tỷ lệ sống của mắt ghép là kết quả của việc chọn lựa độ tuổi gốc ghép phù hợp để nhân giống các loại cây trồng Qua kết quả thực hiện cho thấy tỷ

lệ sống của mắt ghép ở công thức gốc ghép 7 tháng tuổi được áp dụng kiểu

Trang 35

ghép mắt nhỏ có tỷ lệ mắt ghép sống cao nhất đạt đạt (57,5%) khác biệt có ý nghĩa qua phân tích thống kê so với công thức gốc ghép 8 tháng tuổi được ghép kiểu ghép chữ T, nhưng không khác biệt với các công thức khác trong thí nghiệm Tỷ lệ sống của mắt ghép giống cam Sành không hạt thấp hơn nhiều so với tỷ lệ sống của cam Sành truyền thống có hạt Điều này, có thể do cam Sành không hạt có xuất xứ từ xử lí đột biến chiếu xạ tia Gamma nên tỷ lệ sống của mắt ghép không cao so với cam Sành có hạt

Kết quả nghiên cứu về 2 kiểu ghép: kiểu ghép mắt nhỏ và ghép chữ T cho thấy: tỷ lệ mắt ghép sống là như nhau, nhưng kiểu ghép mắt nhỏ dễ thực hiện, thao tác ghép nhanh hơn kiểu ghép chữ T Đồng thời tỷ lệ sống của mắt ghép cao nhất đạt 57,5% ở gốc ghép 7 tháng tuổi được áp dụng kiểu ghép mắt nhỏ và dễ thực hiện hơn kiểu ghép chữ T

Tỷ lệ nẩy chồi của mắt ghép ở thời điểm 28 ngày sau khi ghép, cho thấy: Kiểu ghép mắt nhỏ có tỷ lệ mắt ghép nẩy chồi (86,35%) cao hơn so với kiểu ghép chữ T (72,71%) nhưng không khác biệt qua phân tích thống kê Công thức gốc ghép 7 tháng tuổi được ghép kiểu ghép mắt nhỏ có tỷ lệ nẩy chồi của mắt ghép cao nhất (93,75 %) khác biệt có ý nghĩa qua phân tích thống kê so với công thức gốc ghép 5, 6 tháng tuổi được ghép kiểu ghép chữ

T (65%, 69,17%), nhưng không khác biệt so với các công thức khác còn lại trong thí nghiệm

Đường kính của gốc ghép phụ thuộc vào tuổi của gốc ghép, sự tích lũy dưỡng chất trong gốc ghép phụ thuộc vào độ lớn của gốc ghép, gốc ghép càng lớn sự nẩy mầm và bung chồi của mắt ghép càng nhanh hơn nên tỷ lệ mắt ghép nẩy chổi của mắt ghép tỷ lệ thuận với tuổi độ tuổi của gốc ghép Đến thời điểm 35 ngày sau khi ghép, tỷ lệ nẩy chồi của các công thức trong thí nghiệm là như nhau đạt 100% Như vậy, gốc ghép càng lớn thì mắt ghép nẩy chồi càng sớm

Trang 36

Sự gia tăng chiều cao của chồi ghép thể hiện sự chăm sóc, ảnh hưởng đến thời gian và tỷ lệ xuất vườn của cây giống sau này Tương tự như tỷ lệ nẩy chồi của mắt ghép, chiều cao chồi của cành ghép ở thời điểm 2 tháng sau khi ghép cho thấy chiều cao của chồi ghép phụ thuộc vào tuổi của gốc ghép khi gốc ghép càng lớn chiều cao của chồi ghép càng cao và ngược lại (Vũ Công Hậu, 2000)

Để cây giống cam đủ điều kiện xuất vườn, chiều cao của cây phải ≥ 60

cm tính từ mặt bầu Ở thời điểm 4 tháng sau khi ghép, chiều cao của chồi ghép đạt 43,5 - 49,75 cm trong đó công thức gốc ghép 5 tháng tuổi có chiều của chồi ghép thấp nhất chỉ đạt 43,5 cm chưa đạt tiêu chuẩn xuất vườn của cây giống Như vậy, để cây giống cam có tỷ lệ cây xuất vườn cao nên chọn gốc ghép có tuổi gốc ghép từ 6 tháng tuổi trở lên (Vũ Công Hậu, 2000)

Về gốc ghép cho cam quýt, đã có nhiều công trình nghiên cứu, chọn tạo được các giống gốc ghép thích hợp với từng giống, có khả năng thích ứng tốt với những điều kiện bất thuận như: hạn, mặn, lạnh, kháng bệnh virut Những gốc ghép lùn được đặc biệt quan tâm để tạo cây giống lùn có khả năng tăng mật độ trồng và hạn chế ảnh hưởng của gió bão Một số giống gốc ghép quan

trọng cho cam quýt hiện nay đang được sử dụng tại nhiều nước là: Troyer và

Carrizo và Carrizo Trifoliata (Cam ba lá), Swingle Citrumelo (dạng lai giữa Bưởi chùm và Cam ba lá), Volkameriana (Chanh Volkamer); Rough limon (Citronella), quýt Cleopatra, cam ngọt, Benton Citrange, C - 35 Citrange,

quýt lai Cox (Hoàng Ngọc Thuận, 2001)

Có thể ghép cây vào 2 thời vụ: vụ Xuân tháng 2 đến tháng 3, vụ Thu tháng 8 đến tháng 9; với các loại cây rụng lá trong mùa đông thì nên ghép khi cây rụng lá Tuỳ điều kiện thời tiết, khí hậu của từng vùng để chọn thời vụ ghép cho thích hợp: Các tỉnh miền Bắc ghép vào 2 vụ chính: vụ Xuân tháng 2

- 4 và vụ Thu tháng 8 - 9 Vùng Bắc Trung Bộ vụ Xuân nên kết thúc ghép

Trang 37

sớm đầu tháng 4 để tránh gió Lào, chủ yếu ghép vào vụ Thu Các tỉnh miền Nam nên ghép vào đầu mùa mưa hay gần cuối mùa mưa (Nguyễn Văn Vượng và cs, 2018)

Cũng theo Nguyễn Văn Vượng (2000), thời vụ ghép nhãn, vải, xoài thích hợp ở Bắc Giang là tháng 4, tháng 8 - 9; cây xoài có thể ghép được ở tất

cả các thời vụ từ tháng 4 đến tháng 9; Để đảm bảo sức tăng trưởng của cành cây ghép, cây ghép xuất vườn được trong mùa xuân, ở vùng trung du và miền núi phía Bắc nên kết thúc thời vụ ghép trước 15/9, vì mùa khô hanh đến sớm hạn chế sự sinh trưởng của cành cây ghép

Kết quả dự án: Hoàn thiện quy trình kỹ thuật thâm canh cam Xã Đoài ở một số tỉnh phía Bắc, tháng 3 - 2010) Mỗi giống gốc ghép trên đều có những

ưu thế về đặc điểm sinh trưởng, tính chống chịu riêng và cũng có một số hạn chế cho từng trường hợp cụ thể khi ghép với các loài cam quýt khác nhau, vì vậy khi lựa chọn gốc ghép phải căn cứ vào điều kiện sinh thái vùng trồng và loài, giống cây ghép để cây gốc ghép phù hợp

1.4.1.2 Các nghiên cứu về phân bón qua lá cho cây cam trong vườn ươm

Phân bón lá thực chất là các chế phẩm mà trong đó chứa đầy đủ các chất dinh dưỡng dạng đa lượng, trung lượng và vi lượng, nhằm cung cấp kịp thời cho cây Mỗi chất có vai trò khác nhau đối với cây nhưng nếu thiếu cây trồng sẽ sinh trưởng và phát triển kém, năng suất, chất lượng nông sản giảm

rõ rệt

Theo Đào Thanh Vân, Ngô Xuân Bình (2003 ) trong thế giới thực vật nói chung và cam quýt nói riêng, lá cây ngoài chức năng là thoát hơi nước, quang hợp còn có vai trò quan trọng trong việc hấp thu các chất dinh dưỡng cho cây,

sự hấp thu này được thực hiện qua lỗ khí khổng và qua các khoảng gian bào, các chất dinh dưỡng được di chuyển theo hướng từ trên xuống dưới với tốc độ

30 cm/giờ, chất dinh dưỡng di chuyển một cách tự do trong cây

Trang 38

Các kết quả nghiên cứu đều khẳng định rằng khi bón phân qua lá dạng hòa tan thì lá cây sẽ hấp thu hết 95% lượng phân Vì vậy việc cung cấp các chất dinh dưỡng dạng vi lượng cho cây thông qua lá là việc làm đem lại hiệu quả rất cao, gấp 8 - 10 lần so với cung cấp vào đất Ngoài tác dụng bổ sung các chất dinh dưỡng kịp thời cho cây, phân bón lá còn tăng cường khả năng chống chịu sâu bệnh và các điều kiện ngoại cảnh bất lợi khác như nóng, lạnh, khô, hạn Tuy nhiên, hiệu quả của phân bón lá phụ thuộc vào các giống cây trồng, các giai đoạn sinh trưởng của cây, loại phân, nồng độ phân, liều lượng

và thời gian sử dụng Các loại phân bón lá đang được sử dụng rộng rãi hiện nay là Komix FT, Komix, Superzin K, Thiên Nông, Đầu Trâu 501, 502, 901, 902… (Đào Thanh Vân, Ngô Xuân Bình, 2003 )

Ở những vườn cây ăn quả không thuận lợi cho sự sinh trưởng và phát triển của bộ rễ, thì việc cung cấp các loại phân bón qua lá giúp cho cây sinh trưởng mạnh hơn, ngăn ngừa các bệnh về thiếu dinh dưỡng và giúp cho cây sinh trưởng tốt hơn

Các loại phân bón lá như Komix FT, Komix Superzin K, Thiên Nông, FoFer và Pomior, đã có tác dụng tốt trên một số loại cây trồng như: rau, cà phê và một số cây ăn quả, chúng đều có tác dụng hạn chế rụng quả non, góp phần làm tăng năng suất đồng thời không làm ảnh hưởng đến chất lượng và mẫu mã quả

Trong những năm qua, sự ra đời của phân bón lá đã giúp cây trồng ngăn ngừa được các loại bệnh hại trên cây ngay cả trong giai đoạn cây đang sinh trưởng Phân bón lá ngoài cung cấp chất dinh dưỡng cho cây còn có bổ sung thuốc bảo vệ thực vật được áp dụng rộng rãi trong việc trồng cây ăn quả, đặc biệt là họ cây cam quýt Tuy nhiên, hiện nay khi việc áp dụng rộng rãi phương pháp phòng trừ sâu bệnh hại tổng hợp cho cây thì việc sử dụng các dạng phân bón lá cho cây cam quýt là rất cần thiết (Đào Thanh Vân, Ngô Xuân Bình, 2003 )

Trang 39

Tác giả Hoàng Ngọc Thuận (2000) cho biết phân bón lá dạng phức hữu

cơ Pomior là một loại phân tổng hợp có chứa các nguyên tố đa, trung và vi lượng với 20 axit amin cùng với một số chất điều hòa sinh trưởng Loại phân này đã được tiến hành thử nghiệm và đạt hiệu quả cao trên nhiều loại cây trồng cả ở giai đoạn vườn ươm, vườn kiến thiết cơ bản và vườn cây kinh doanh Đặc biệt một số kết quả thử nghiệm những năm gần đây Pomior đã thể hiện tác dụng xúc tiến rõ rệt đến khả năng sinh trưởng, tăng khả năng ra hoa, tăng khả năng đậu quả, tăng trọng lượng và phẩm chất quả trên cây có múi

1.5 Các nhận xét qua phân tích tổng quan

- Cam là loài quả có múi quan trọng trên thế giới và ở Việt Nam Ở tỉnh Tuyên Quang có trên 8.330,51 ha cam, trong đó huyện Hàm Yên có diện tích cam lớn nhất (7.175,0 ha) và sản lượng 100.162,9 tấn Giống cam trồng tại huyện Hàm Yên chủ yếu là giống cam sành địa phương địa phương, có nhiều hạt nên khó khăn cho việc tiêu thụ quả tươi và chế biến

- Giống cam sành không hạt LĐ6 đã được trồng khảo nghiệm tại huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang với các ưu điểm nổi bật: quả có màu sắc đẹp, chất lượng tốt, chín muộn và đặc biệt là rất ít hạt (0 - 3 hạt/quả) Cần bổ sung vào cơ cấu các giống cam tại huyện Hàm Yên để nâng cao giá trị gia tăng, phục vụ nội tiêu và xuất khẩu

- Giống sành không hạt LĐ6 chưa được nhân giống bằng phương pháp ghép tại huyện Hàm Yên Chính vì vậy việc đề xuất nội dung nghiên cứu với các kỹ thuật ghép: thời vụ, giá thể, sử dụng phân bón qua lá cho cây ghép đối với sành không hạt LĐ6 tại huyện Hàm Yên là cần thiết và đó chính là cơ sở

đề xuất các nội dung nghiên cứu của đề tài

Trang 40

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Giống cam Sành không hạt LĐ6: có nguồn gốc từ Viện cây ăn quả miền Nam, từ dòng cam Sành (CS8) có số lượng hạt: 10 - 23 hạt/quả, được chiếu

xạ tại Viện Nghiên cứu hạt nhân, sử dụng nguồn chiếu xạ: Co60, liều chiếu xạ 5,0 krad Kết quả đã tạo ra được một dòng dòng cam Sành không hạt bằng chiếu xạ đột biến sử dụng tia gamma trên mầm ngủ có các đặc tính nổi trội:

có tỉ lệ hạt phấn bất dục cao (70%), số hạt/quả thấp < 2 hạt/quả ổn định trong tất cả các quả ở tất cả các cây (tại Viện cây ăn quả miền Nam) và 2 - 3 hạt/quả (tại Hàm Yên, Tuyên Quang) Vỏ quả trồng ở Hàm Yên có màu đỏ cam, thịt quả màu vàng cam, sáng đẹp, vỏ quả ít sần và bóng hơn so với cam Sành có hạt Khối lượng quả trung bình > 200 g, nước quả nhiều (> 40%), vị ngọt chua, mùi thơm đặc trưng giống như cam Sành thương phẩm; năng suất khá cao (20 - 25 kg/cây/năm, cây 3 năm tuổi)

2.1.2 Vật liệu nghiên cứu

Phân bón lá Đầu Trâu 501; Phân bón lá Thiên Nông;

2.1.3 Phạm vi nghiên cứu

2.1.3.1 Thời gian nghiên cứu

Đề tài thực hiện từ tháng 01 đến tháng 6 năm 2018

2.1.3.2 Địa điểm nghiên cứu

Tại Trung tâm cây ăn quả huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang

2.2 Nội dung nghiên cứu

- Nghiên cứu ảnh hưởng của thời vụ ghép và kiểu ghép đến khả năng tiếp hợp và sinh trưởng của mầm ghép trong nhân giống cam Sành không hạt LĐ6

Ngày đăng: 23/05/2020, 15:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w