1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ và liều lượng phân NPK 5 10 3 đến sinh trưởng và năng suất rau cải bắp KK cross vụ xuân hè tại xã sa pả, huyện sa pa, tỉnh lào cai

71 39 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 625,45 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐÀO THỊ TRANG NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ VÀ LIỀU LƯỢNG PHÂN NPK 5:10:3 ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT RAU CẢI BẮP KK - CROSS VỤ XUÂN HÈ TẠI XÃ SA PẢ, HUYỆN SA PA, TỈNH LÀO CAI LUẬN

Trang 1

ĐÀO THỊ TRANG

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ VÀ LIỀU LƯỢNG PHÂN NPK 5:10:3 ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT RAU CẢI BẮP KK - CROSS VỤ XUÂN HÈ TẠI

XÃ SA PẢ, HUYỆN SA PA, TỈNH LÀO CAI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CÂY TRỒNG

Thái Nguyên - 2019

Trang 3

ĐÀO THỊ TRANG

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ VÀ LIỀU LƯỢNG PHÂN NPK 5:10:3 ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT RAU CẢI BẮP KK - CROSS VỤ XUÂN HÈ TẠI

XÃ SA PẢ, HUYỆN SA PA, TỈNH LÀO CAI

Ngành: Khoa học cây trồng

Mã số: 8.62.01.10

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CÂY TRỒNG Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Trần Ngọc Ngoạn

Thái Nguyên - 2019

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

- Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

- Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2019

Tác giả luận văn

Đào Thị Trang

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập và thực tiễn nghiên cứu đề tài, tôi luôn nhận được sự quân tâm của cơ quan, nhà trường, sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô, các đồng nghiệp, bạn bè và gia đình

Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến GS.TS Trần Ngọc Ngoạn đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2019

Tác giả luận văn

Đào Thị Trang

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu, yêu cầu của đề tài 2

2.1 Mục tiêu của đề tài 2

2.2.Yêu cầu của đề tài: 2

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2

3.1 Ý nghĩa khoa học 2

3.2 Ý nghĩa thực tiễn 2

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Cơ sở khoa học 3

1.2 Yêu cầu điều kiện ngoại cảnh đối với sinh trưởng và phát triển của cây cải bắp 3

1.2.1 Nhiệt độ 4

1.2.2 Ánh sáng 4

1.2.3 Độ ẩm 7

1.2.4 Đất và dinh dưỡng 7

1.2.5 Tình hình sâu bệnh hại và biện pháp phòng trừ 9

1.2.6 Thu hoạch và sơ chế 12

1.3 Tình hình sản xuất cải bắp trên Thế giới và ở Việt Nam 12

1.3.1 Tình hình sản xuất cải bắp trên Thế giới 12

1.3.2 Tình hình sản xuất cải bắp và một số loại cải khác tại Việt Nam 14

1.4 Tình hình sản xuất rau tại xã Sa Pả huyện Sa Pa tỉnh Lào Cai 16

1.4.1 Đặc điểm tự nhiên (Dự án ACIAR AGB/2012/059 (2015)) 16

1.4.2 Tình hình sản xuất rau tại địa phương 18

1.5 Giống cải bắp KK- cross 21

1.5.1 Kết quả khảo nghiệm 21

Trang 7

5.1.2 Tình hình sản xuất Giống cải bắp KK- cross tại địa phương 21

1.6 Một số nghiên cứu về phân bón và mật độ cây cải bắp 22

CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24

2.1 Vật liệu, địa điểm và thời gian nghiên cứu: 24

2.1.1 Vật liệu và đối tượng nghiên cứu 24

2.1.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu: 24

2.2 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 24

2.2.1 Nội dung nghiên cứu 24

2.2.2 Công thức và phương pháp bố trí thí nghiệm 24

2.2.3 Kỹ thuật áp dụng thực hiện thí nghiệm 26

2.3.4 Các chỉ tiêu theo dõi 27

2.3.5 Phương pháp xử lý số liệu 28

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 29

3.1 Ảnh hưởng của mật độ và lượng phân N:P:K (5:10:3)tới sự sinh trưởng của cây cải bắp KK- Cross 29

3.1.1 Ảnh hưởng của mật độ và lượng phân N:P:K (5:10:3)tới thời gian sinh trưởng của cây cải bắp KK- Cross 29

3.1.2 Ảnh hưởng của mật độ và lượng phân N:P:K (5:10:3)tới động thái ra lá của cây cải bắp KK- Cross 33

3.1.3 Ảnh hưởng của mật độ và lượng phân N:P:K (5:10:3)tới động thái tăng trưởng đường kính tán của cây cải bắp KK- Cross 35

3.1.4 Ảnh hưởng của mật độ và lượng phân N:P:K (5:10:3)tới chiều cao bắp của cây cải bắp KK- Cross 38

3.1.5 Ảnh hưởng của mật độ và lượng phân N:P:K (5:10:3)tới đường kính bắp của cây cải bắp KK- Cross 41

3.1.6 Ảnh hưởng của mật độ và lượng phân N:P:K (5:10:3)tới hình thái thân cải bắp 44

3.1.7 Ảnh hưởng của mật độ và lượng phân N:P:K (5:10:3)tới hình thái lá cải bắp 46

3.1.8 Ảnh hưởng của mật độ và lượng phân N:P:K (5:10:3)tới hình thái cải bắp 47

Trang 8

3.2 Ảnh hưởng của mật độ và lượng phân N:P:K (5:10:3)đến mật độ sâu bệnh hại

và tỷ lệ cây bị bệnh của cây cải bắp KK- Cross 49

3.3 Ảnh hưởng của mật độ trồng và lượng phân N:P:K (5:10:3)đến các yếu tố cấu thành năng suất, năng suất và chất lượng của cây cải bắp KK- Cross 51

3.3.1 Ảnh hưởng của mật độ trồng và lượng phân N:P:K (5:10:3)đến các yếu tố cấu thành năng suất, năng suất của cây cải bắp KK- Cross 51

3.3.2 Ảnh hưởng của mật độ trồng và lượng N:P:K (5:10:3) đến chất lượng bắp của cây cải bắp KK- Cross 54

3.3.3 Ảnh hưởng của mật độ trồng và lượng N:P:K (5:10:3) đến hiệu quả kinh tế của cây cải bắp KK- Cross 55

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 57

1 Kết luận 57

2 Đề nghị 57

TÀI LIỆU THAM KHẢO 58

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Tình hình sản xuất rau trên thế giới qua các năm 12

Bảng 1.2 Tình hình sản xuất rau ở một số khu vực trong năm 2018 13

Bảng 1.3 Tình hình sản xuất rau ở Châu Á qua các năm 13

Bảng 1.4 Tình hình sản xuất rau ở một số nước châu Á và Việt Nam năm 2018 14

Bảng 1.5: Diện tích, năng suất, sản lượng cải bắp và một số loại cải khác ở Việt Nam từ năm 2011-2016 16

Bảng 1.6 Diện tích năng suất sản lượng rau toàn tỉnh Lào Cai 18

giai đoạn 2013-2017 18

Bảng 1.7 Kết quả khảo nghiệm giống KK-Cross ở một số địa phương 21

Bảng 3.1 Ảnh hưởng của mật độ và lượng phân N:P:K (5:10:3)tới thời gian sinh trưởng của cây cải bắp KK- Cross 30

Bảng 3.2 Ảnh hưởng của mật độ và lượng phân N:P:K (5:10:3)tới động thái ra lá của cây cải bắp KK- Cross 33

Bảng 3.3 Ảnh hưởng của mật độ và lượng phân N:P:K (5:10:3)tới động thái tăng trưởng đường kính tán của cây cải bắp KK- Cross 36

Bảng 3.4 Ảnh hưởng của mật độ và lượng phân N:P:K (5:10:3)tới chiều cao bắp của cây cải bắp KK- Cross 39

Bảng 3.5 Ảnh hưởng của mật độ và lượng phân N:P:K (5:10:3)tới đường kính bắp của cây cải bắp KK- Cross 42

Bảng 3.6 Ảnh hưởng của mật độ và lượng phân N:P:K (5:10:3)tới hình thái thân cải bắp 45

Bảng 3.7 Ảnh hưởng của mật độ và lượng phân N:P:K (5:10:3)tới hình thái lá cải bắp 46

Bảng 3.8 Ảnh hưởng của mật độ và lượng phân N:P:K (5:10:3)tới 48

hình thái cải bắp bắp 48

Bảng 3.9 Ảnh hưởng của mật độ và lượng phân N:P:K (5:10:3)đến mật độ sâu bệnh hại và tỷ lệ cây bị bệnh của cây cải bắp KK- Cross 50

Trang 10

Bảng 3.10 Ảnh hưởng của mật độ trồng và lượng phân N:P:K (5:10:3)đến các yếu

tố cấu thành năng suất và năng suất của cây cải bắp KK- Cross 52 Bảng 3.11 Ảnh hưởng của mật độ trồng và lượng phân N:P:K (5:10:3) đến chất lượng bắp của cây cải bắp KK- Cross 54 Bảng 3.12 Ảnh hưởng của mật độ trồng và lượng phân N:P:K (5:10:3) đến hiệu quả kinh tế của cây cải bắp KK- Cross 55

Trang 11

NN&PTNT Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn

WHO Tổ chức Y tế Thế Giới (World Health Organization)

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Rau là 1 loại thực phẩm không thể thiếu trong bữa ăn hàng ngày của mỗi người trên khắp hành tinh Đặc biệt khi lương thực và các loại thức ăn giàu đạm đã được đảm bảo thì nhu cầu về rau xanh lại càng gia tăng như một nhân tố tích cực trong cân bằng dinh dưỡng và kéo dài tuổi thọ Rau cung cấp cho cơ thể con người các chất dinh dưỡng quan trọng như các loại vitamin, muối khoáng, axit hữu cơ, các hợp chất thơm, cũng như protein, lipit, chất xơ, vv

Bên cạnh đó rau còn có giá trị kinh tế cao và góp phần chuyển đổi cơ cấu cây trồng, phát huy thế mạnh và tăng thu nhập cho người dân ở nhiều địa phương trên

cả nước Ngành sản xuất rau góp phần sử dụng lao động hợp lý, mở rộng ngành nghề, giải quyết công ăn việc làm cho hàng ngàn lao động ở các vùng nông thôn, miền núi,…thúc đẩy các ngành khác trong nông nghiệp phát triển như cung cấp thức ăn cho chăn nuôi, nguyên liệu cho công nghiệp chế biến

Cải bắp (Brassica oleracea var.) là loại rau ăn lá có giá trị dinh dưỡng cao và

dễ chế biến nên rất được ưa chuộng và được trồng phổ biến trên thế giới Đa số các giống cây cải bắp ưa thời tiết ôn đới và lạnh, có thời gian gieo trồng không dài, cho năng suất và sản lượng cao Chính vì thế, cây cải bắp dần trở thành cây trồng chủ lực trong cơ cấu cây trồng vụ đông của cả nước

Huyện Sa Pa tỉnh Lào Cai có điều kiện đất đai, khí hậu ôn đới mát mẻ thích hợp trồng các loại rau củ trái vụ mang lại giá trị kinh tế cao vượt trội Trong những năm gần đây, người dân địa phương trồng nhiều chủng loại rau cải bắp đặc biệt giống cải bắp KK - cross trong vụ Xuân Hè Trong quá trình canh tác, người dân tiếp cận phương thức canh tác mới và giống cây mới nên vẫn chưa có biện pháp kĩ thuật tối ưu để nâng cao năng suất loại cải bắp này Phần lớn người dân gieo trồng mật độ không thích hợp, sử dụng liều lượng phân N:P:K (5:10:3) chưa hợp lí dẫn tới lãng phí đất đai, thiệt hại kinh tế nhưng khả năng sinh trưởng cây vẫn kém, sâu bệnh nhiều, năng suất và sản lượng không đạt như mong muốn

Trang 13

Nhằm xác định mật độ gieo trồng và lượng phân N:P:K (5:10:3)hợp lí nhất cho sự phát triển của giống cải bắp này trong vụ Xuân Hè, đáp ứng với nhu cầu cấp

thiết thực tiễn sản xuất, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của

mật độ và liều lượng phân NPK 5:10:3 đến sinh trưởng và năng suất rau cải bắp

KK - cross vụ Xuân Hè tại xã Sa Pả, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai”

2 Mục tiêu, yêu cầu của đề tài

2.1 Mục tiêu của đề tài

Xác định được mật độ và lượng phân N:P:K (5:10:3) thích hợp cho giống cải bắp KK- cross sinh trưởng tốt và cho năng suất cao trong vụ Xuân Hè tại xã Sa Pả huyện Sa Pa

2.2.Yêu cầu của đề tài:

Đánh giá ảnh hưởng của mật độ và lượng phân N:P:K (5:10:3)tới các chỉ tiêu sinh trưởng của giống cải bắp KK – cross

Đánh giá ảnh hưởng của mật độ và lượng phân N:P:K (5:10:3)tới các chỉ tiêu năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của giống cải bắp KK - cross

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

3.1 Ý nghĩa khoa học

Kết quả của đề tài sẽ cung cấp các dẫn liệu khoa học ảnh hưởng của mật độ

và lượng phân N:P:K (5:10:3)tới các chỉ tiêu sinh trưởng, phát triển của giống cải bắp KK - cross trong điều kiện thời tiết trái vụ tại xã Sa Pả, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai Những thông tin khoa học này sẽ làm cơ sở cho các nghiên cứu tìm biện pháp thâm canh cải bắp ở Sa Pa và các vùng có điều kiện canh tác tương tự

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần tích cực cho việc chỉ đạo, hướng dẫn sản xuất nhằm tăng năng suất và hiệu quả kinh tế Đáp ứng nhu cầu thực tiễn sản xuất cải bắp hàng hóa ở Sa Pa - Lào Cai và nhu cầu tiêu dùng cải bắp trái vụ ở trong nước

Trang 14

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Cơ sở khoa học

Mật độ trồng là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến năng suất cây trồng Giải quyết tốt vấn đề về mật độ tức giải quyết tốt mối quan hệ giữa sinh trưởng và phát triển của các cá thể làm cho quần thể cây trồng khai thác tốt nhất khoảng không gian (không khí, ánh sáng) và mặt đất (nước, dinh dưỡng trong đất) nhằm thu được sản lượng cao nhất trên một đơn vị diện tích Mật độ dày thì sự cạnh tranh diễn ra càng quyết liệt Khi đất không cung cấp đủ dinh dưỡng cho nhu cầu của cây thì cây sẽ phát triển kém, còi cọc Trên khoảng không gian, để có thể lấy được ánh sáng khi phải cạnh tranh với các cây khác cây sẽ phải tăng trưởng chiều cao một cách tối đa, chính vì vậy sẽ làm cho thân nhỏ, cây yếu, sức chống chịu kém trước các điều kiện ngoại cảnh, khả năng chống đổ kém, sâu bệnh phát sinh nhiều Khi trồng ở mật độ thưa cây sẽ không phải cạnh tranh nhau nhiều, do vậy cây sẽ có điều kiện phát triển tốt cho năng suất cá thể cao nhưng năng suất quần thể lại giảm Điều chỉnh khoảng cách mật độ là biện pháp đơn giản nhất để tăng diện tích lá Tuỳ thuộc vào giống, mức độ thâm canh, độ màu mỡ của đất mà ta xác định khoảng cách mật độ trồng thích hợp, sao cho khi phát triển tối đa, quần thể có diện tích lá tối ưu

Nhu cầu dinh dưỡng của cây trồng là lượng chất dinh dưỡng mà cây cần qua các thời kỳ sinh trưởng để tạo nên một năng suất kinh tế tối đa

Cải bắp có sinh khối lớn nên nhu cầu dinh dưỡng cũng cao Với năng suất 30 tấn/ha, cải bắp lấy đi từ đất 125 kg N, 33 kg P2O5 và 109 kg K2O (Nguyễn Thị Thu

Hà, Nguyễn Duy Lam (2013) Hiện nay, nhiều nông dân trồng cải bắp có thể đạt năng suất 80-100 tấn/ha, lượng dinh dưỡng cây lấy đi từ đất cần nhiều hơn Để đạt năng suất tối ưu so với tiềm năng năng suất của từng giống, trên từng vùng sinh thái khác nhau thì lượng phân bón cho cải bắp cần thay đổi tuỳ thuộc vào mật độ trồng,

độ phì nhiêu của đất cũng như tính thích ứng của điều kiện khí hậu thời tiết Lượng dinh dưỡng nguyên chất khuyến cáo cho 1 ha cải bắp/vụ: 125-150kg N; 60-80 kg

P2O5; 110-130 kg K2O (Bùi Quang Xuân, 1997) Để có được mức phân bón phù

Trang 15

hợp cho mỗi mật độ, mỗi giống cần phải căn cứ vào tiềm năng của giống (dựa vào đặc tính giống do nhà sản xuất giống cung cấp) và tiềm năng của vùng (dựa vào năng suất tối đa đạt được trong vùng) Thông thường, so với năng suất tiềm năng của giống những vùng có năng suất thực tế đạt > 70% gọi là vùng thích nghi và

<70% gọi là vùng kém thích nghi Những vùng kém thích nghi lượng phân bón cần phải bón tăng hơn và nên chọn mức khuyến cáo cao

Từ những cơ sở khoa học trên, chúng tôi đã lựa chọn lượng phân bón và mật

độ trồng ở các mức khác nhau để đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển của giống cải bắp KK- cross

1.2 Yêu cầu điều kiện ngoại cảnh đối với sinh trưởng và phát triển của cây cải bắp

1.2.1 Nhiệt độ

Cải bắp có nguồn gốc ở vùng ôn đới nên trong quá trình sống ưa khí hậu mát

mẻ, là cây chịu rét khá, tuy nhiên khả năng chịu nhiệt không cao Nhiệt độ thích hợp nhất để hạt nảy mầm từ 15-200C Ở giai đoạn 1-2 lá thật, cây có thể chịu được nhiệt

độ thấp đến -20C hoặc -30C, cũng có thể xuống -50C đến -60C

Về nhiệt độ thích hợp để cây sinh trưởng, nhiều tác giả có ý kiến khác nhau Giáo sư Recheva (1958) cho rằng, nhiệt độ thích hợp cho cây cải bắp sinh trưởng từ 17-220C Nhiều tác giả ủng hộ kết luận của giáo sư Minkov et (1984), nhiệt độ thích hợp cho cây cải bắp từ 17-220C

Khi nhiệt độ cao trên 350C, các quá trình trao đổi chất bị rối loạn, chất đường bột bị tiêu hao nhiều, cây bị già cỗi một cách nhanh chóng Do đó cây nhỏ bé còi cọc, ngược lại nhiệt độ quá thấp (rét hại) cũng không tốt cho cây sinh trưởng Khi nhiệt độ dưới 100C, cây không cuốn bắp

Thời kỳ trải lá nhiệt độ thích hợp 18-200C, thời kỳ cuốn bắp nhiệt độ 17-

180C sẽ làm cho bắp cuốn nhanh và cuốn chặt

Trong thời kỳ cuốn bắp, rễ phát triển tốt nhất nên một số giống ở giai đoạn này có thể chịu được nhiệt độ thấp đến -150C (Bakhchevanova, 1977) (theo Nguyễn Thu Phương, 2014)

Trang 16

Trong điều kiện nhiệt độ 28-300C, kết hợp độ ẩm không khí thấp sẽ ảnh hưởng xấu đến hoạt động sinh lý và chất lượng bắp lúc thu hoạch

Cải bắp là cây hai năm, để thông qua giai đoạn xuân hoá cần nhiệt độ thấp Các giống chín muộn yêu cầu nhiệt độ thấp nghiêm ngặt hơn các giống chín sớm Nhiệt độ xuân hoá thuận lợi là 3-50C, ngược lại một số giống yêu cầu nhiệt độ xuân hoá là 10-120C, thời gian xuân hoá là 30-40 ngày Trong quá trình chọn tạo giống, các nhà khoa học đã tạo được những giống chịu nhiệt do đó bắp có thể cuốn được ở nhiệt độ cao

Theo Lizgunova (1965), khi nhiệt độ lớn hơn 250C trong thời gian nở hoa sẽ gây ảnh hưởng xấu đến sự phát triển nhị, nhụy, hạt phấn và gây hiện tượng rụng nụ

Theo Lester W Young, Ron W Wilen and Peta C Bonham-Smith, (2003), nhiệt độ cao (High temperature stress (HTS)) trong suốt quá trình nở hoa làm giảm

sự hình thành hạt của nhiều loại cây trồng Để nghiên cứu về HTS gây hại trong quá trình nở hoa, tạo quả và hình thành hạt, họ đã tiến hành thí nghiệm trên cải (brassica napus) Cây cải được đặt trong điều kiện HTS (8/16h tối/sáng, 180C đêm, kích thích tăng trưởng 20C/h hơn 6h, đến 350C khoảng 4h, kích thích tăng trưởng 20C/h đưa trở lại 230C khoảng 6h) và khẳng định HTS cao trong suốt quá trình nở hoa sẽ làm giảm sự phát sinh các thể giao tử cái, từ đó làm cho quả bị dị tật và phá vỡ sự tạo thành hạt Trong suốt quá trình xử lý HTS, hạt phấn sinh trưởng kém, nuôi hạt phấn trong ống nghiệm ở 350C quan sát thấy xuất hiện nhiều dạng bất thường (Theo Đặng Thị Nguyệt Hoa, 2011)

Theo Visokoostravskaia (1935), ở nhiệt độ 15-200C, sau 6-8 giờ từ khi phấn rơi trên vọi nhụy cái, ống phấn sẽ vươn đến đầu nhụy và sau 36-48 giờ, quá trình thụ tinh được tiến hành

Theo Odland và Noll (1950) cho rằng nhiệt độ 12,8-21,10C thích hợp nhất cho các cây họ cải thụ tinh Sau khi thụ tinh, cánh hoa khép lại, do vậy nhìn vào cánh hoa có thể khẳng định hoa đã thụ tinh hay chưa Trong trường hợp hoa không được thụ tinh, cánh hoa có thể tươi thêm 3-4 ngày sau, trong thời gian đó vẫn có thể thụ tinh được

Trang 17

Cải bắp có thể chuyển qua giai đoạn xuân hóa ở điều kiện nhiệt độ thấp có lợi, từ 2-120C Lizgunova (1965) và Miller (1929) cho rằng, cải bắp có thể chuyển qua giai đoạn xuân hóa ở nhiệt độ từ 10-180C, nhanh nhất là 5-60C

Khi gieo trồng, nếu gặp điều kiện nhiệt độ thấp có lợi 2-100C, cải bắp sẽ ra hoa kết quả mà không cần phải qua năm sau

Theo Hồ Hữu An (1986), quá trình xuân hóa phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như giống, thời vụ gieo trồng và phương pháp nhân giống Đối với giống cải bắp Hà Nội và Bắc Hà, trong điều kiện khí hậu thời tiết Hà Nội, cây có thể xuân hóa khá tốt lúc còn trẻ ở giai đoạn trước cuốn, trong thời gian ngắn 24 ngày và ở nhiệt độ tương đối cao từ 18-200C Đối với giống cải bắp nhập của Bungari và Nhật Bản như KK-Cross, NS-Cross gieo trồng tại Hà Nội thì không xuân hóa được phần lớn là thiếu nhiệt độ thấp có lợi dưới 120C

1.2.2 Ánh sáng

Cải bắp là cây ưa thích ánh sáng ngày dài, ở nơi nguyên sản, cải bắp phản ứng với chế độ chiếu sáng 17 giờ/ngày, tuy nhiên mức độ mẫn cảm còn tuỳ thuộc vào đặc tính của giống

Các thời kỳ sinh trưởng khác nhau thì yêu cầu của cải bắp đối với ánh sáng cũng thay đổi Ở thời kỳ cây con trong vườn ươm, nếu trong điều kiện ánh sáng ngày dài sẽ thúc đẩy cây sinh trưởng nhanh, rút ngắn thời gian ở vườn ươm Ánh sáng ngày ngắn và cường độ ánh sáng yếu sẽ làm giảm hàm lượng vitamin C trong bắp từ 25-30%, tuy nhiên cường độ ánh sáng quá mạnh cũng không có lợi cho quá trình tổng hợp vitamin C

Khi cây ở thời kỳ trải lá và hình thành bắp cần ánh sáng mạnh, cây quang hợp mạnh nhất ở bức xạ mặt trời 20.000-22.000 lux Có như vậy mới tạo được bắp

to và bắp cuốn chặt, có chất lượng tốt Thiếu ánh sáng sẽ ảnh hưởng không tốt đến chất lượng bắp

Giống chín muộn và giống sinh trưởng trong điều kiện ánh sáng ngắn sẽ có lợi cho quá trình tích lũy vật chất Trong cây, do Thời gian sinh trưởng kéo dài, để qua giai đoạn ánh sáng cây yêu cầu thời gian chiếu sáng trên 14 giờ/ngày Đồng

Trang 18

bằng sông Hồng trong điều kiện vụ đông xuân có thời gian chiếu sáng ngắn (8-10 giờ/ngày) nên cải bắp sinh trưởng tốt, cho năng suất cao nhưng không thể ra hoa kết quả vì thiếu điều kiện ánh sáng

Tóm lại, ở Đồng bằng sông Hồng hai điều kiện nhiệt độ và ánh sáng không đáp ứng yêu cầu của cải bắp qua giai đoạn xuân hóa nên cây cải bắp không ra hoa ở đồng bằng, trừ một số giống địa phương trồng lâu năm ở nước ta như cải bắp Hà Nội

1.2.3 Độ ẩm

Cải bắp là cây ưa ẩm, ưa tưới, nhưng lại không chịu hạn và không chịu ngập úng Hệ rễ cạn, ăn nông, khả năng hút nước ở lớp đất sâu kém Mặt khác, cây có nhiều lá, diện tích mỗi lá rất lớn, hàm lượng nước trong lá rất cao, vì thế cây cải bắp cần nhiều nước trong quá trình sinh trưởng Trong các thời kỳ sinh trưởng và phát triển của cải bắp, thời kỳ hình thành bắp yêu cầu độ ẩm lớn nhất Độ ẩm tối thích trong giai đoạn này là 80-85% độ ẩm đồng ruộng, còn độ ẩm không khí là 85-90% Tuy nhiên qua nhiều nghiên cứu cho thấy giống cải bắp nào mà có bộ lá dầy, trên lá

có nhiều sáp là những giống chịu hạn

Theo giáo sư Recheva (1958), cường độ thoát hơi nước của cây cải bắp là 10g/h/m2 diện tích bề mặt lá, với chỉ số thoát hơi nước 640 Sự thoát hơi nước giữa các giờ trong ngày của cải bắp cũng khác nhau Đặc biệt sự thoát hơi nước ban ngày của cải bắp lớn hơn 16 lần so với ban đêm

Năng suất cải bắp đạt cao nhất khi ẩm độ đất là 80% và ẩm độ không khí là 85-90% Thừa nước sẽ làm giảm chất lượng do nồng độ chất hoà tan, khả năng chống chịu sâu bệnh giảm, không chịu bảo quản và vận chuyển

Trang 19

bắp yêu cầu các chất dinh dưỡng khác nhau, nhất là vào thời kỳ bắt đầu cuốn bắp - cuốn chặt, chúng hút một lượng lớn chất dinh dưỡng: 85% N, 96% P và 84% K Trong thời kỳ này chúng có thể tích luỹ được 93-97% chất khô Quá trình hút dinh dưỡng của chúng phụ thuộc nhiều yếu tố đặc biệt là giống

+ Đạm và sự tích lũy NO 3 - trong rau cải bắp

Theo Võ Minh Kha (1996), trong các loại phân bón, đạm là yếu tố phân bón đầu tiên cần chú ý bón cho cây trồng vì cây cần nhiều đạm, đất không cung cấp đủ đạm dễ tiêu cho cây trồng

Thừa đạm gây nên tồn dư NO 3 - trong sản phẩm, NO 3 - chuyển hoá thành NO2

trong quá trình bảo quản, vận chuyển và trong bộ máy tiêu hoá người Trong máu,

NO2 ngăn cản sự kết hợp của O2 với hemoglobin, biến chúng thành methaemoglobin làm cho sự trao đổi của O2 với hồng cầu không được tiến hành Trẻ em có thể chết khi máu chứa 50-75% methaemoglobin (Nelson, 1984) Trong

dạ dày, dưới tác động của các vi sinh vật, emzim do các quá trình sinh hoá mà NO2 tác dụng với các axit amin tự do tạo thành nitrosamine, một hợp chất gây ung thư

Đối với người, NO 3 - có thể gây độc với liều lượng 4 mg/ngày, với 8 mg/ngày có thể gây chết và 13-18 g/ngày sẽ gây chết hoàn toàn Tính độc của NO 3 - còn được tác giả tính theo liều độc LD50, liều lượng gây chết tức thì (dẫn theo Bùi Quang Xuân, 1998)

Theo Bardy (1985), kali làm tăng quá trình khử NO 3 - trong cây Bón thêm

phân kali sẽ làm giảm sự tích luỹ NO 3 - trong rau quả rõ rệt so với chỉ bón đạm

Theo một số nghiên cứu khác thì khi tăng liều lượng bón kali, hàm lượng NO 3

-trong cải bắp giảm xuống nhưng -trong quả cà chua không thay đổi Bón thúc kali

cho rau khi sinh trưởng và phát dục mạnh sẽ làm giảm lượng NO 3 - trong cây

+ Lân: là yếu tố cần thiết ở thời kì cây con và giai đoạn hình thành bắp Lân

có tác dụng thúc đẩy bộ rễ cây phát triển, thúc đẩy sinh trưởng của cây Bón đủ lân giúp cây trải lá sớm, tăng tỉ lệ cuốn bắp, rút ngắn thời gian sinh trưởng của cây Lân còn làm tăng chất lượng bắp, chất lượng hạt giống (giáo trình Cây rau, 2000)

Trang 20

Mặc dù cải bắp có hai giai đoạn rất cần lân là thời kỳ cây con để ra rễ và thời

kỳ cuốn bắp, nhưng về số lượng nhu cầu lân của cây lúc cuốn bắp là cao nhất Trong giai đoạn tạo bắp, cây hút tới 78% tổng nhu cầu lân (Nguyễn Như Hà, 2006)

+ Kali: Kali làm tăng khả năng quang hợp, điều tiết nhiều hoạt động sống

của cây, làm cho cây hút được nhiều đạm hơn nên có ảnh hưởng rõ đến sinh trưởng

và phát triển của cây Kali tham gia vào quá trình tổng hợp, quá trình vận chuyển và tích luỹ các chất trong cây nên làm cho bắp cuốn chặt, bắp chắc, do đó làm tăng khả năng vận chuyển và bảo quản cất trữ cải bắp Kali còn có tác dụng tăng khả năng chống chịu sâu bệnh hại Thiếu kali cây sinh trưởng kém, sâu bệnh hại nhiều, mép lá

có thể bị khô, chất lượng bắp giảm

Cải bắp hút kali trong suốt quá trình sinh trưởng nhưng trong giai đoạn tạo bắp cây hút nhiều nhất, chiếm 72% tổng nhu cầu kali của cây (Nguyễn Như Hà, 2006)

Kết quả nghiên cứu đối với các công thức bón phối hợp thì công thức bón đầy đủ N, P, K tỷ lệ cuốn bắp cao nhất 92-95%; về năng suất: công thức bón đầy đủ

N, P, K cho năng suất cao nhất, tiếp đến là công thức N, P rồi đến công thức N, K;

P, K và năng suất thấp nhất là công thức đối chứng

+ Ảnh hưởng của các chất dinh dưỡng khác

Cải bắp không những có nhu cầu cao với nguyên tố đa lượng N, P, K mà còn rất mẫn cảm với các nguyên tố trung và vi lượng Cải bắp có nhu cầu cao về S và rất nhạy cảm với hiện tượng thiếu Ca, Mg, B Khi thiếu Mg, lá cải bắp bị thay đổi màu sắc, ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây Nếu đất thiếu canxi, rễ khó phát triển, cây

bị còi cọc và nhạy cảm với bệnh bướu cây (Plasmodiophora), lá biến màu trắng và sau đó biến sang màu cà phê

xanh-1.2.5 Tình hình sâu bệnh hại và biện pháp phòng trừ

Bệnh lở cổ rễ (Rhizoctonia solani)

Bệnh do nấm Rhizoctonia solani gây ra, phát triển trong điều kiện thời tiết

ẩm ướt và nhiệt độ trong đất cao Cây bị bệnh sẽ suy yếu, bắp nhỏ, đôi khi héo và chết Trong điều kiện ẩm ướt, bệnh lây lan sang các lá bên cạnh và gây thối bắp,

Trang 21

toàn bộ bắp có thể bị thối khô, bắt đầu từ những lá bao phía ngoài Trên chỗ thối có các hạch nhỏ màu nâu

Bệnh thối gốc (Phoma ligam)

Bệnh do nấm gây ra, phát triển và gây hại trong điều kiện thời tiết ẩm ướt, úng nước và nhiệt độ trong đất cao Ban đầu là những vết nứt thối trũng xuất hiện trên gốc thân cây và về sau, bệnh có thể xuất hiện trên lá, có hình đốm tròn màu nâu nhạt Những cây bị bệnh thường có kích thước nhỏ hơn Các vết thối mục lan rộng và bao lấy thân phía trên mặt đất, làm cho cây bị héo và đổ Thân cây khô và hoá gỗ, mô cây chuyển màu đen, đôi khi có viền đỏ

Bệnh cháy lá vi khuẩn (Xanthomonas campestris)

Vi khuẩn gây hại phổ biến ở những nơi có khí hậu nóng ẩm Cây trồng bị hại suốt mọi giai đoạn sinh trưởng và trông giống như hiện tượng thiếu dinh dưỡng Cây con bị nhiễm bệnh sẽ bị vàng, các lá dưới bị rụng và cây có thể bị chết

Bệnh thối nhũn do vi khuẩn (Erwinia carotovora)

- Vi khuẩn tồn tại ở tàn dư cây bệnh trong đất và trong cơ thể một số loài côn trùng, dụng cụ canh tác cùng 1 số loài ký chủ phụ trên đồng ruộng

- Vi khuẩn lây lan nhờ nước, côn trùng (rệp, bọ nhảy, sâu hại…) và hoạt động của con người, chúng xâm nhập vào cây trồng qua vết thương ở rễ, thân, lá

- Bệnh thối nhũn phát sinh, phát triển mạnh ở đất trồng cải đã nhiễm bệnh vụ trước, ruộng không thoát nước, phạm vi nhiệt độ thích hợp từ 27-320C, độ pH thích hợp là 7, thời tiết có ẩm độ và nhiệt độ cao

Trang 22

Bệnh thối hạch (Sclerotinia sclerotirum)

Nấm phát triển thích hợp ở nhiệt độ 19-240C, pH 5-8 Tồn tại chủ yếu ở dạng hạch trên tàn dư cây bệnh và trong đất khá lâu (tới 2 năm)

Bệnh gây hại từ khi cây con đến thu hoạch Ở cây con, bệnh xuất hiện ở gốc cây sát mặt đất làm cho chỗ bị bệnh thối nhũn, cây gãy gục rồi chết Khi cây lớn, vết bệnh thường xuất hiện trên các lá già sát gốc hoặc phần gốc thân, chỗ bị bệnh thối nhũn nhưng không có mùi thối Nếu trời khô nắng thì chỗ bị bệnh thường khô

và teo đi, các lá biến vàng Ở cây vào bắp, bệnh lây lan từ lá ngoài vào trong làm toàn bộ bắp bị thối và chết đứng trên ruộng, gặp gió to cây đổ gục Chỗ vết bệnh đã thối có lớp mốc trắng và nhiều hạch nấm nhỏ màu nâu hoặc đen bám chặt vào lá

Bệnh sưng rễ (Plasmodiophora brassicae W)

Đây là loài nấm ký sinh bắt buộc Trong tế bào ký chủ còn sống, chúng mới phát triển và sinh sản, hoàn tất vòng đời Nấm có thể tồn tại trong đất 7-10 năm hay lâu hơn ở dạng bào tử tĩnh Bệnh phát triển thích hợp trong đất chua và có nhiệt độ

từ 18-250C Tuy nhiên, bệnh chỉ gây hại cây khi mật độ bào tử trong đất đạt >104 bào tử/1g đất

Sâu xám (Agrotis ipsilon)

Sâu thường xuất hiện vào giai đoạn cây con và gây hại trầm trọng nhất ở những vùng đất nhẹ, đất cát nơi sâu non có thể vùi mình dễ dàng Sâu non có tính giả chết, khi bị đụng vào chúng cuộn lại, lăn ra giả chết Sâu đẫy sức hoá nhộng trong đất Chúng phát sinh ở thời tiết lạnh, ẩm độ cao

Sâu xanh, bướm trắng (Pieris rapae Linnaeus)

Trưởng thành đẻ trứng rải rác thành từng quả trên lá Sâu non mới nở gặm ăn chất xanh và để lại màng lá trắng mỏng, sống thành từng cụm Sâu tuổi lớn phân tán, ăn khuyết lá để lại gân làm cây xơ xác Sâu xanh bướm trắng phát sinh mạnh trong những tháng ít mưa

Bọ nhảy (Phyllotreta vitata Fabr)

Bọ nhảy thường gây hại nhiều trong các tháng mùa khô (mật độ giảm đi khi trời mưa nhiều) làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng suất, phẩm chất rau, thậm

Trang 23

chí có thể gây mất trắng nếu không phòng trừ kịp thời Chúng thường gây hại nhiều vào lúc sáng sớm và chiều mát Trưa nắng thường lẩn trốn ở dưới gốc hoặc mặt dưới lá Bọ có thể gây hại trong suốt thời kỳ sinh trưởng của cây cải, nhưng mạnh nhất là khi cải còn nhỏ (sau gieo khoảng 7 - 10 ngày)

1.2.6 Thu hoạch và sơ chế

Khi bắp cuốn chắc, khối lượng trung bình 1 - 2,5 kg/cây cắt gốc, loại bỏ lá già, lá bệnh, xếp vào sọt sạch, vận chuyển nhẹ nhàng, tránh dập nát, đưa về nhà sơ chế, tuyệt đối không được ngâm nước trước khi đưa đi tiêu thụ

Bảo quản: Cải bắp bảo quản nhiệt độ 0 - 2 độ C, độ ẩm 92 - 95% trong thời gian 4 - 8 ngày

1.3 Tình hình sản xuất cải bắp trên Thế giới và ở Việt Nam

1.3.1 Tình hình sản xuất cải bắp trên Thế giới

Cải bắp được trồng hầu hết ở các vùng có khí hậu ôn hòa trên lục địa, và được trồng nhiều nhất ở Châu Á, Châu phi, châu Mỹ Diện tích cải bắp và một số loại cải khác trên thế giới có thay đổi qua các năm (bảng 1.1), diện tích cơ bản có xu hướng tăng lên, từ năm 2014-2018 diện tích tăng từ 17,62 triệu ha lên tới 18,96 triệu ha Tuy nhiên năng suất tăng giảm không ổn định Năng suất rau 2014 là 141.645 kg/ha, năm 2016 giảm xuống còn 132 858 kg/ha và tăng dần ở các năm sau đạt 142.330 kg/ha năm 2108 Về sản lượng tăng từ 249,6 triệu tấn lên đến 269,85 triệu tấn

Bảng 1.1 Tình hình sản xuất rau trên thế giới qua các năm

Năm Diện tích (ha) Năng suất (kg/ha) Sản lượng (tấn)

Trang 24

Cũng theo số liệu thống kê Faostat (2018), Châu lục có diện tích, năng suất

và sản lượng cải bắp cụ thể như sau:

Bảng 1.2 Tình hình sản xuất rau ở một số khu vực trong năm 2018

(ha)

Năng suất (kg/ha)

Sản lượng (tấn)

142.330 kg/ha và sản lượng là 269.852.343 ha Trong đó, Châu Á có diện tích trồng cải bắp lớn nhất là 15.143.254 ha, năng suất đạt 153.179 kg/ha và sản lượng là 231.962.916 tấn Sau đó là châu Phi với diện tích là 2.538.901 ha, năng suất đạt 72.046 kg/ha và sản lượng là 18.291.850 tấn Châu Úc có diện tích trồng cải bắp thấp nhất trên thế giới với diện tích là 38.025 ha, năng suất cải bắp thu được khá cao đạt 149.297 kg/ha và tổng sản lượng là 567.700 tấn

Bảng 1.3 Tình hình sản xuất rau ở Châu Á qua các năm

Năm Diện tích (ha) Năng suất (kg/ha) Sản lượng (tấn)

Trang 25

Tại Châu Á: Diện tích trồng rau liên tục tăng từ năm 2014 đến năm 2018 đạt 15.143.254 ha, sản lượng đạt 153.179 kg/ha và sản lượng là 231.962.916 tấn

Bảng 1.4 Tình hình sản xuất rau ở một số nước châu Á và Việt Nam năm 2018

Khu vực Diện tích (ha) Năng suất (kg/ha) Sản lượng (tấn)

1.3.2 Tình hình sản xuất cải bắp và một số loại cải khác tại Việt Nam

Hiện nay, chúng ta có khoảng 70 loài thực vật được sử dụng làm rau hoặc chế biến thành rau; rau trồng có khoảng hơn 30 loại, trong đó, có khoảng 15 loại chủ lực, trong số này có hơn 80 % là rau ăn lá

Đất nước Việt Nam trải dài trên nhiều vĩ độ, với địa hình không bàng phẳng

có nhiều chia cắt, cho nên đã hình thành nên nhiều vùng sinh thái mang những nét đặc trưng riêng Đối với các loại rau và nghề trồng rau ở Việt Nam, lãnh thổ Việt Nam đã hình thành nên 4 vùng sinh thái rõ nét: Vùng Á nhiệt đới có một số đặc điểm của khí hậu ôn đới: Sapa, Bắc Hà (Lào Cai), Đà Lạt (Lâm Đồng) Ở vùng này

có mùa đông lạnh, nhiệt độ thường vào khoảng 4-5°C có trường hợp xuống dưới

Trang 26

0°C Ở vùng này phát triển tốt các loại rau á nhiệt đới và một số loại rau ôn đới làm cho thành phần các loại rau của Việt Nam trở nên phong phú hơn Vùng nhiệt đới

có mùa đông lạnh: Vùng đồng bằng, trung du, miền núi phía Bắc Việt Nam Ở vùng này có thể trồng rau quanh năm Tuy vậy, do đặc điểm của khí hậu chia thành 4 mùa cho nên, vào mùa Xuân Hè thường được trồng các loại rau ưa nóng và chịu nước Thời gian mùa Thu – Đông thường trồng các loại rau ưa lạnh và chịu hạn Đặc biệt vụ đông ở các tỉnh đồng bằng, trung du và miền núi phía Bắc điều kiện khí hậu cho phép trồng ngoài các loại rau nhiệt đới chịu lạnh còn có thể trồng một số loại rau á nhiệt đới và cả ôn đới Vào thời gian này các nước ôn đới chỉ có thể trồng rau trong nhà kính với những diện tích rất hạn chế, cho nên nhân dân ở các nước đó thường thiếu rau Chúng ta có thể săn xuất rau với khối lượng lớn để xuất cho các nước đó cũng vào thời gian này ở các tỉnh phía Nam, rau nhiệt đới phát triển tốt nhưng các loại rau á nhiệt đới và ôn đới không thể phát triển được Các tỉnh phía Bắc có thể trồng các loại rau á nhiệt đới và ôn đới để cung cấp cho các tỉnh phía nam Vùng nhiệt đới có mùa hè khô nóng: Các tỉnh cực nam Trung bộ Các tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận đã hình thành nên vùng sản xuất hành tây xuất khẩu và

là nơi phát triển nhiều loại dưa Vùng nhiệt đới điển hình: Các tỉnh Nam bộ Vùng này phát triển cây ăn quả thuận lợi Tuy nhiên, đối với các loại rau đó việc hình thành 2 mùa trong năm: Mùa mưa và mùa khô hạn, cho nên phát triển rau gặp những khó khăn

Tình hình sản xuất rau của nước ta: Năm 2000 diện tích rau quả của Việt Nam đạt hơn 800.000 ha với săn lượng hơn 10 triệu tấn/năm Năm 2015, tổng diện tích đạt trên 1.545.000ha sản lượng đạt trên 21.500 ngàn tấn Năm 2019, ngành Trồng trọt phấn đấu tăng diện tích cây ăn quả lên 1 triệu ha, giá trị xuất khẩu rau quả đạt khoảng 4,2 tỷ USD

Trang 27

Bảng 1.5: Diện tích, năng suất, sản lượng cải bắp và một số loại cải khác ở Việt

Nam từ năm 2011-2016 Năm Diện tích (ha) Năng suất (tấn/ha) Sản lượng (tấn)

Trong những năm gần đây diện tích trồng rau có sự biến đổi lớn Từ năm

2011 tới năm 2014 diện tích tăng mạnh từ 33.102ha lên 36.020ha Tuy nhiên tới năm 2015 diện tích giảm mạnh 32.528ha thấp hơn diện tích trồng năm 2011 Tới năm 2016 diện tích tăng trở lại đạt 34.632ha

Năng suất rau cải bắp và những loại rau cải khác thuộc tầm trung bình trên thế giới Năng suất các năm tăng đều từ 24,1 tấn/ha lên 26,6 tấn/ha năm 2015 Năm

2016, nên nông nghiệp phải đối mặt với nhiều hình thái thời tiết cực đoan dẫn tới năng suất giảm còn 25,9 tấn/ha Như vậy sản lượng cũng biến động nhưng không nhiều, tới năm 2016, tổng sản lượng đạt 898.283 tấn Góp phần rất lớn cho nhu cầu tiêu thụ trong nước và xuất khẩu

1.4 Tình hình sản xuất rau tại xã Sa Pả huyện Sa Pa tỉnh Lào Cai

1.4.1 Đặc điểm tự nhiên xã Sa Pả huyện Sa Pa

Địa hình

Sapa là một huyện miền núi của tỉnh Lào Cai nằm ở phía đông của dãy Hoàng Liên Sơn, một phần cực của dãy Himalaya Phạm vi này bao gồm ngọn núi cao nhất Việt Nam, Fan Si Pan (3.143 m), là một phần hành chính của huyện Sapa Địa hình được hạ xuống từ Tây - Tây Nam đến Đông Bắc Vị trí thấp nhất trong huyện là suối Bo (400 m) Chiều cao trung bình của huyện là 1.200 - 1.800 m Ranh giới địa lý của huyện Sapa là 22O07'04 ”Bắc đến 22O28'46” Bắc và 103O43'28 ”E

Trang 28

đến 104O04'15” E, với tổng diện tích 68.329 ha Các huyện lân cận là Bát Xát ở phía Bắc, Văn Bàn ở phía Nam, Bảo Thắng ở phía Đông và Than Uyên (tỉnh Lai Châu) ở phía Tây

Địa hình Sapa được chia thành 3 phần (tiểu vùng):

- Tiểu vùng núi cao hàng đầu: gồm các xã Sa Pả, Tả Giang Phìn, Bản Khoang, Tà Phìn, Sán Sa Hồ với tổng diện tích 16.574 ha, tức là 24,42% khu vực huyện Vùng này có độ cao trung bình 1.400 - 1.700 m và địa hình bị gãy mạnh với các sườn dốc và thung lũng hẹp

- Tiểu vùng Sa Pa - Sa Pa: gồm các xã Sa Pa, Trung Chải, Lao Chải, Hậu Thảo, Tả Van, Su Pan và thị trấn Sapa với tổng diện tích 20.170 ha, chiếm 29,72% diện tích huyện Chiều cao trung bình của khu vực này là khoảng 1.500 m Địa hình

bị chi phối bởi những ngọn đồi hình bát

- Tiểu vùng núi nứt gãy: gồm 7 xã phía Nam: Bản Phụng, Nam Sài, Thanh Kim, Suối Thầu, Thạnh Phú, Nam Cang và Bản Hồ với tổng diện tích 31.120 ha, chiếm 45,86% diện tích toàn huyện Đặc điểm điển hình của vùng này là đỉnh núi cao và nhọn, dốc nghiêng và thung lũng sâu và hẹp

Khí hậu

Huyện Sa Pa nằm gần biên giới cận nhiệt đới Bắc bán cầu, và có khí hậu ôn đới và hai mùa rõ rệt Mùa hè, từ tháng 5 đến tháng 10, có lượng mưa lớn và nhiệt

độ mát Mùa đông, từ tháng 11 đến tháng 4, có nhiệt độ lạnh

Thời tiết lạnh và khô vào mùa đông và mát vào mùa hè Nhiệt độ trung bình năm ở đây khoảng 18 - 20oC Đối với phần còn lại của Bắc Hà, nhiệt độ trung bình khoảng 25 - 28oC

Độ che phủ mây trung bình hàng năm > 70% Do đó, vì những hàm ý cho sự tăng trưởng và chuyển hóa nitrat, nó sẽ hữu ích để đo cường độ bức xạ hoạt động quang hợp

Lượng mưa hàng năm ở Sa Pa khá cao, khoảng 2.700 mm; tập trung vào mùa mưa, chủ yếu vào tháng 7 và tháng 8 (hình 3) - khoảng 1/3 tổng lượng mưa của một

Trang 29

năm Ở Bắc Hà, tiêu chí này khá thấp so với Sa Pa, với tổng lượng mưa khoảng 2.000 mm, cũng tập trung vào tháng 5, 7 và 8

Vì vậy điều kiện tự nhiên nơi đây hết sức thuận lợi cho sản xuất rau nói chung và rau Cải bắp nói riêng, nhất là các cây trồng trái vụ

(Dự án ACIAR AGB/2012/059 (2015))

1.4.2 Tình hình sản xuất rau tại địa phương

Bảng 1.6 Diện tích năng suất sản lượng rau toàn tỉnh Lào Cai

(Số liệu thống kê tỉnh Lào Cai 2018)

Từ năm 2013 tới 2017, diện tích trồng rau có sự biến đổi lớn, ngày càng tăng đáp ứng nhu cầu tiêu thụ trong và ngoài tỉnh Trong 4 năm diện tích rau tăng mạnh

từ 9.577ha lên 11.123ha

Trên địa bàn tỉnh triển khai nhiều mô hình sản xuất rau ứng dụng khoa học

kỹ thuật như mô hình giống mới góp phần đa dạng hóa chủng loại rau của tỉnh, mô hình cơ giới hóa, mô hình trồng rau trái vụ, Tổ chức sản xuất rau, đặc biệt là sản xuất rau an toàn được sự quan tâm ủng hộ của các cấp, các ngành đặc biệt là sự

Trang 30

tham gia tích cực của chính quyền các cơ sở và các hộ trồng rau trên địa bàn tỉnh Người dân ngày càng có nhiều kiến thức nhờ được đào tạo, tập huấn và tiếp cận với thông tin kỹ thuật thuận lợi Giao thông đi lại thuận lợi, tạo điều kiện tốt cho việc giao thương buôn bán, thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm

Sơ chế, bảo quản: Hiện nay, có 2 cơ sở sơ chế, chế biến rau của Hợp tác xã Mai Anh (Sa Pa) và Hợp tác xã Dì Thàng ( Bắc Hà), tuy nhiên sản lượng sơ chế, đóng gói rau còn ít

Tiêu thụ: Việc ký kết hợp đồng tiêu thụ sản phẩm rau bước đầu đã có mối liên kết chặt chẽ và phát huy hiệu quả 04 Công ty, Hợp tác xã đã có hợp đồng tiêu thụ liên kết chặt chẽ (Hợp tác xã Mai Anh sản xuất, tiêu thụ 1.800 tấn rau/năm, Hợp tác xã Hoa Đào 4.400 tấn/năm, Hợp tác xã Dì Thàng 20 tấn/năm, Công ty trách nhiệm hữu hạn Anh Nguyên 272,7 tấn/năm) Thị trường tiêu thụ chủ yếu ở các tỉnh lân cận như: Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Sơn La, Yên Bái…thông qua hệ thống các cửa hàng siêu thị lớn, siêu thị tiện ích Một số công ty có hợp đồng sản xuất rau cải thảo, tỏi, cà chua… xuất khẩu sang thị trường Đài Loan như Công ty Mường Hoa, Công ty Nông Liên (Sa Pa), số lượng bình quân xuất khẩu khoảng trên

60 tấn/năm Diện tích trồng rau còn lại chủ yếu người dân tự tiêu thụ tại các chợ đầu mối hoặc qua tư thương tiêu thụ trong tỉnh

Từ những năm 1960, Sa Pa đã phát triển nghề trồng rau và được lựa chọn là vùng sản xuất, trồng và phát triển rất nhiều các loại rau truyền thống như: Su su, cải bắp, Cải mèo, Cải xoong…đã có uy tín về chất lượng Những năm gần đây khoa học phát triển được áp dụng mạnh vào sản xuất nên nhiều loại giống rau chất lượng cao của Trung Quốc, Nhật Bản, Đài Loan được đưa vào sản xuất nên chủng loại rau của Sa Pa càng phong phú hơn

Trưởng phòng Nông nghiệp huyện Sa Pa (Lào Cai), ông Nguyễn Tiến Thành cho biết: Trên địa bàn huyện hiện sản xuất 1.545 ha rau đậu các loại, sản lượng đạt trên 30.000 tấn/năm, trong đó diện tích rau chuyên canh 350ha, ứng dụng công nghệ cao đạt 31ha Huyện đã xây dựng được nhãn hiệu tập thể "su su Sa Pa" và đang xây dựng nhãn hiệu "Rau an toàn Sa Pa" Song, vùng sản xuất RAT mới chỉ tập trung tại

Trang 31

thị trấn Sa Pa và một số xã lân cận Việc liên kết giữa sản xuất và tiêu thụ sản phẩm rau chưa tốt, người sản xuất rau chủ yếu tự tiêu thụ sản phẩm

Các giống được sử dụng sản xuất tại Sa Pa: Các giống xuất xứ từ Nhật Bản chủ yếu các hộ mua về trồng, và một số giống được Hợp tác xã Mai Anh trông thử nghiêm và nhân rộng mô hình cho các hộ lân cận Các giống thường được sử dụng Giống NS-Cross, KK - cross Giống cải bắp tím Ret Jewel F1 xuất sứ Nhật Ban và giống như CamRamBa F1 xuất sứ Hà Lan đang được Hợp tác xã Mai Anh tại Sa Pả trồng thử nghiệm Các giống cải bắp xuất sứ Trung Quốc cũng được bà con sử dụng, vì giá thành rẻ, và rễ dàng mua lẻ tại chợ, như giống Hoàng Miêu, Kinh Phong … tuy nhiên năng suất, sản lượng không cao, cây rễ bị nhiệm bệnh và tỷ lệ cuốn bắp thấp

Canh tác rau nói chung và rau cải bắp nói riêng ở Sa Pa còn gặp rất nhiều khó khăn Điều kiện đất đai đồi núi chia cắt ảnh hưởng k nhỏ tới quá trình canh tác, vận chuyển thương phẩm và mở rộng sản xuất Nguồn nước hạn chế và người dân không chủ động được lượng tưới tiêu cũng gây cản trở trong quá trình sản xuất Một

số năm gần đây, trên địa bàn xảy ra hạn hán khiến nhiều diện tích rau bị chết d thiếu nước Diện tích rau được đầu tư công nghệ cao chiếm tỉ lệ thấp chưa tương xứng với tiềm năng của vùng Nguyên nhân là do mối liên hệ giữa nhà nước, nhà doanh nghiệp và người nông dân chưa chặt chẽ Trình độ hiểu biết của người dân còn hạn chế nên chưa mạnh dạn trong việc thay đổi tập quán canh tác, việc thiếu vốn và kiến thức gây cản trở lớn trong công cuộc đầu tư sản xuất công nghệ cao trên địa bàn Phần lớn diện tích trồng rau vẫn là sự tự phát của người dân với trình độ kĩ thuật không đảm bảo ảnh hưởng rất lớn chất lượng và năng suất của sản phẩm Đầu ra bị phụ thuộc vào thương lái thu mua nhất là chính vụ Chính sách ưu đãi của nhà nước

và địa phương trong phát triển sản xuất nông nghiệp chưa nhiều cũng khiến cho việc mở rộng sản xuất trên địa bàn bị ảnh hưởng Trước những khó khăn đó, cần có những nghiên cứu kĩ thuật cụ thể cho từng loại rau giúp người dân nâng cao được giá trị sản xuất

Trang 32

1.5 Giống cải bắp KK- cross

1.5.1 Kết quả khảo nghiệm

Đây là giống rau cải bắp nhập nội của Nhật Bản Được du nhập vào nước ta từ rất sớm Thời gian đầu được khảo nghiệm ở 1 số địa phương và cho kết quả rất tốt

nên dần được nhân rộng sản xuất trên địa bàn cả nước

Bảng 1.7 Kết quả khảo nghiệm giống KK-Cross ở một số địa phương Thời

Khối lượng trung bình bắp (kg)

Năng suất (tấn/ha)

ĐX

80-81

Trại rau Hà Sơn Bình

83-84 Trại giống rau Thất Khê Lạng Sơn

Nguồn: Tạp chí KH&KT 11/1986

5.1.2 Tình hình sản xuất Giống cải bắp KK- cross tại địa phương

Giống cải bắp KK- cross cho năng suất cao vượt trội so với những giống cải bắp khác Ngoài ra chúng có khả năng chịu nhiệt cao nên được nhiều địa phương trồng trái vụ như huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai Trồng trái vụ cây cho năng suất ổn

định và giá trị kinh tế cao hơn cây trồng chính vụ

Một số nghiên cứu về bệnh hại cải bắp ở Lào Cai: Hiệu quả phòng trừ bệnh thối xám và thán thư của chế phẩm của chế phẩm CP 7.8 trên cải bắp Sa Pa - Lào Cai trong điều kiện diện hẹp cho thấy: chế phẩm CP 7.8 nồng độ 5000 ppm với liều lượng 80ml/bình 8 lít, có khả năng hạn chế bệnh thán thư và thối xám cao hơn thuốc thảo mộc TP-Zep 18EC, tương đương với thuốc hóa học Daconil 75WP, hiệu quả phòng trừ đạt từ 76,09 - 77,65 % Ở các liều lượng thí nghiệm (4000, 5000, 6000mg/kg), chế phẩm CP7.8 không gây chết cho chuột, không xác định được

Trang 33

LD50, chế phẩm thuộc nhóm ít độc và an toàn Sau 4 ngày hàm lượng Curcumin không phát hiện được trên cải bắp (Đặng Đức Quyết 2013)

1.6 Một số nghiên cứu về phân bón và mật độ cây cải bắp

N, P, K cho năng suất cao nhất, tiếp đến là công thức N, P rồi đến công thức N, K;

P, K và năng suất thấp nhất là công thức đối chứng

Kết quả nghiên cứu về liều lượng đạm cho thấy mức đạm từ 60-180 kg N/ha

ở vùng ĐBSH, nhiều giống cho năng suất cao nhất ở công thức bón 140 - 150 kg N/ha

Nguyễn Tuấn Song (2006), khi nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng bón đạm kết hợp với vi lượng Bo đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng của cải bắp gieo trồng chính vụ tại ý Yên - Nam Định, kết luận bón 170-230 kg N, kết hợp phun dung dịch acid Boric nồng độ 0,1-0,2% cho giống cải bắp KK-Cross trồng chính vụ

đều đạt năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế cao, đồng thời hàm lượng NO 3

-trong sản phẩm ở mức an toàn

Thí nghiệm nghiên cứu ảnh hưởng của các mức bón phân đạm Urê đến năng suất và dư lượng nitrat trong giống rau cải bắp NS –Cross vụ đông 2013 tại phường Quang Vinh, TP Thái Nguyên cho kết quả: ở các mức bón phân đạm Urê khác nhau

đã làm ảnh hưởng rõ rệt đến khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của cải bắp Trong đó mức bón 160 kgN/ha cho năng suất cao nhất nhưng dư lượng Nitrat lại vượt quá ngưỡng dư lượng cho phép, do vậy không đạt tiêu chuẩn rau an toàn Với mức bón 140 kgN/ha cho năng suất cao (263,78 tạ/ha) và dư lượng Nitrat dưới ngưỡng dư lượng cho phép (Nguyễn Thị Thu Hà, Nguyễn Duy Lam 2013)

Trang 34

Kết quả nghiên cứu về liều lượng đạm cho thấy mức đạm từ 60-180 kg N/ha

ở vùng Đồng bằng sông Hồng, nhiều giống cho năng suất cao nhất ở công thức bón 140 -

kg K2O + 75 kg S/ha; trong đó bón 50% K2O (tương ứng 45 kg K2O) và 75 kg S bằng 321 kg phân polysulphate/ha (Trần Minh Tiến và cs, 2018)

Với các kết quả nghiên cứu bón TSH và phân hữu cơ cho đất cát ở 3 tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Trị và Quảng Nam cho thấy như sau: Bón TSH cho cây rau tăng năng suất cải bắp từ 17,2 - 22,7% Bón TSH với mức 2,5 - 5,0 tấn/ha cho cây rau ăn lá cho năng suất xấp xỉ với bón 10 tấn phân hữu cơ/ha, do đó có thể thay thế một phần hoặc thay thế hoàn toàn phân hữu cơ đối với vùng đất cát ven biển ở vùng nghiên cứu Bón TSH kết hợp phân hữu cơ cho thấy hiệu quả tăng lên rất rõ rệt, khi bón TSH kết hợp với phân hữu cơ ở mức 2,5 tấn TSH + 10 tấn phân hữu cơ đã làm tăng năng suất rau cải bẹ xanh từ 54 - 65%, năng suất cải bắp tăng 38,4% với đối chứng chỉ bón phân NPK.( N.Q Viet et al 2019)

* Mật độ: Những ngiên cứu về mật độ trồng rau cải bắp trên cả nước nói chung và tỉnh Lào Cai nói riêng không nhiều Qua tìm hiểu thực tế các hộ dân trồng rau cải bắp theo quy trình trồng của bộ nông nghiệp ban hành với mật độ như sau (có quy trình kèm theo):

- Vụ sớm: mật độ 33.000 - 35.000 cây/ha, khoảng cách 60 x 40 cm

- Vụ chính và vụ muộn: mật độ 27.000 - 30.000 cây/ha, khoảng cách 60 x 50 cm

Trang 35

CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Vật liệu, địa điểm và thời gian nghiên cứu:

2.1.1 Vật liệu và đối tượng nghiên cứu

- Vật liệu nghiên cứu: Phân N:P:K (5:10:3) Văn Điển

- Đối tượng nghiên cứu: Giống cải bắp KK- Cross, là giống cải bắp Nhật Bản

2.1.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu:

- Địa điểm: Thí nghiệm được bố trí tại gia đình Giàng A Chu, xã Sa Pả, Sa

Pa, Lào Cai (có tọa độ: 22021,782’; E: 103051,848)

- Đặc điểm đất thí nghiệm: Đất canh tác chuyên rau thuộc nhóm đất cát pha nhẹ Đất được trồng luân chuyển các loại rau thuộc họ đậu với rau họ thập tự Lượng phân hữu cơ bổ sung 10 tấn/ha/năm

- Đặc điểm khí hậu (có bảng phụ lục kèm theo)

- Thời gian: Vụ xuân hè 2018 (tháng 2 đến tháng 7)

2.2 Nội dung và phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Nội dung nghiên cứu

- Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ trồng và lượng phân N:P:K (5:10:3)tới sinh trưởng, phát triển của cây cải bắp KK- Cross trong vụ Xuân hè tại xã Sa Pả huyện Sa Pa

- Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ trồng và lượng phân bón đến mức độ nhiễm một số sâu, bệnh hại chính của cây cải bắp KK- Cross trong vụ Xuân hè tại

xã Sa Pả huyện Sa Pa

- Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ và lượng phân N:P:K (5:10:3) tới các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của cây cải bắp KK- Cross trong vụ Xuân

hè tại xã Sa Pả huyện Sa Pa

2.2.2 Công thức và phương pháp bố trí thí nghiệm

Thí nghiệm được bố trí theo kiểu ô lớn - ô nhỏ (split-Plot design) trong đó: mật độ là ô lớn và phân bón là ô nhỏ Diện tích ô lớn là 10m2/1 ô, thí nghiệm 3 lần nhắc lại với 16 công thức

Ngày đăng: 23/05/2020, 15:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w