1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Lợi thế cạnh tranh, nỗi ám ảnh nguy hiểm

13 60 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 54 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Rốt cuộc thì thuật hùng biện về khả ăng cạnh tranh – tức là quan điểm cho rằng, theo lời của Tổng thống Mỹ Clinton, mỗi quốc gia “giống như một công ty lớn cạnh tranh trên thị trường toà

Trang 1

LỢI THẾ CẠNH TRANH:

NỖI ÁM ẢNH NGUY HIỂM

BÀI VIẾT CỦA PAUL KRUGMAN

Nguồn: Foreign Affairs

Số báo: Tháng 3/Tháng 4 năm 1994 (tập 73, số 2)

Paul Krugman là Giáo sư môn Kinh tế học tại Viện Công nghệ Massachusetts Cuốn sách mới nhất của ông nhan đề là

“Peddling Prosperity: Economic Sense and Nonsense in the Age of Diminished Expectations” (w.w Norton)

GIẢ THUYẾT SAI

Vào tháng 6 năm 1993, Jacques Delors thực hiện một buổi trình bày đặc biệt trước các nhà lãnh đạo của các quốc gia trong Cộng đồng Châu Âu, đang họp ở Copenhagen, về vấn đề thất nghiệp ở Châu Âu ngày càng tăng Các nhà kinh tế học nghiên cứu về tình hình Châu Âu đã hiếu kỳ muốn biết Jacques Delors, vị Chủ tịch của Ủy ban Cộng đồng Châu Âu, sẽ nói gì Hầu hết các nhà kinh tế học này ít nhiều có chung một cách chẩn đoán giống nhau về vấn đề của Châu Âu: các sắc thuế và các qui định do các nhà nước phúc lợi phức tạp của Châu Âu áp đặt làm cho những người chủ tuyển dụng miễn cưỡng trong việc tạo ra việc làm mới Trong khi đó, mức trợ cấp thất nghiệp tương đối hào phóng đã làm cho công nhân không muốn chấp nhận các loại việc làm lương thấp, mà chính các loại việc làm này giúp giữ được mức thất nghiệp tương đối thấp ở Hoa Kỳ Những khó khăn về tiền tệ gắn với việc duy trì Hệ thống Tiền tệ Châu Âu bất chấp các chi phí của việc tái thống nhất nước Đức đã làm cho vấn đề khó khăn về cơ cấu này trầm trọng thêm

Đó là một sự chẩn đoán có tính thuyết phục, nhưng là chẩn đoán mang tính bùng nổ về chính trị, và mọi người muốn biết Delors sẽ xử lý nó như thế nào Ông có dám nói với các nhà lãnh đạo Châu Âu rằng các nỗ lực của họ nhằm theo đuổi sự công bằng về kinh tế đã tạo ra thất nghiệp như một sản phẩm phụ không dự kiến trước? Hay Ông sẽ thừa nhận rằng người ta chỉ có thể duy trì được Hệ thống Tiền tệ Châu Âu với các giá phải trả là một đợt suy thoái và sẽ phải đối mặt với những ảnh hưởng của sự thú nhận đó đối với liên minh tiền tệ Châu Âu?

Trang 2

Hãy đoán xem? Delor đã không đương đầu với các vấn đề về nhà nước phúc lợi hoặc Hệ thống Tiền tệ Châu Âu Ông đã giải thích căn nguyên của vấn đề thất nghiệp ở Châu Âu là thiếu khả năng cạnh tranh với Hoa Kỳ và Nhật Bản và giải pháp cho vấn đề này là một chương trình đầu

tư vào hạ tầng cơ sở và công nghệ cao

Đó là một sự tránh né thật đáng thất vọng, nhưng điều đó không làm mọi người ngạc nhiên Rốt cuộc thì thuật hùng biện về khả ăng cạnh tranh – tức là quan điểm cho rằng, theo lời của Tổng thống Mỹ Clinton, mỗi quốc gia

“giống như một công ty lớn cạnh tranh trên thị trường toàn cầu” – đã trở nên phổ biến trong số các nhà lãnh đạo dư luận trên khắp thế giới Những người tin rằng mình có hiểu biết sắc bén về chủ đề này xem như đương nhiên rằng vấn đề kinh tế mà các quốc gia hiện đại phải đối mặt thực chất là vấn đề cạnh tranh trên thị trường thế giới – nghĩa là Hoa Kỳ và Nhật Bản là các đối thủ cạnh tranh theo nghĩa giống như Coca-Cola cạnh tranh với Pepsi – và họ không biết rằng người nào cũng có thể đặt nghi vấn nghiêm túc về lời khẳng định đó Cứ vài tháng lại có một cuốn sách mới bán chạy nhất cảnh báo công chúng Hoa Kỳ về những hậu quả nặng nề của việc thua cuộc trong cuộc “chạy đua” vào thế kỷ 21 Toàn bộ một ngành nghiên cứu gồm các hội đồng về khả năng cạnh tranh, “các nhà địa kinh tế học” và các nhà lý thuyết về ngoại thương có quản lý đã xuất hiện ở Washington Nhiều trong số những người này đã chẩn đoán các vấn đề kinh tế của Hoa Kỳ bằng những lời lẽ rất giống với Delors đã chẩn đoán cho Châu Âu Hiện nay (năm 1994) họ đang giữ những vị trí cao nhất trong chính quyền Clinton, hình thành chính sách kinh tế và thương mại cho Hoa Kỳ

Thật đáng tiếc là sự chẩn đoán của Jacques Delors là một hướng dẫn gây lầm lẫn hết sức về những yếu tố làm suy yếu Châu Âu Những sự chẩn đoán tương tự ở Hoa Kỳ cũng gây lầm lẫn như thế Ý tưởng cho rằng vận may về kinh tế của một quốc gia phần lớn được quyết định bởi thành công của quốc gia này trên các thị trường thế giới chỉ là một giả thuyết, chứ không phải là một sự thật tất yếu; trong thực nghiệm và thực tiễn, giả thuyết này dứt khoát sai Nghĩa là, đơn giản là không đúng rằng các quốc gia dẫn đầu trên thế giới đang cạnh tranh về kinh tế với nhau với mức độ đáng kể hay bất kỳ vấn đề khó khăn kinh tế quan trọng nào của họ cũng có thể qui cho là do sự thất bại của họ trong cạnh tranh trên các thị trường thế giới Nỗi

Trang 3

ám ảnh với khả năng cạnh tranh ngày càng tăng tại hầu hết các quốc gia tiên tiến phải được xem không phải như là một mối quan ngại có cơ sở đúng đắn mà như là một quan điểm mà người ta chấp nhận, bất chấp bằng chứng hết sức trái ngược Và nó lại rõ ràng là quan điểm mà người

ta rất muốn có – mong muốn tin vào quan điểm đó được thể hiện trong một khuynh hướng đáng chú ý của những người đề cao học thuyết về khả năng cạnh tranh, khuynh hướng đó là những người này ủng hộ lý lẽ của họ với phép tính số học bất cẩn, sai lầm

Bài viết này đưa ra ba luận điểm Thứ nhất, bài viết này lập luận rằng những mối quan tâm về khả năng cạnh tranh, như một vấn đề thực nghiệm, hầu như hoàn toàn không có cơ sở Thứ hai, bài viết này cố gắng giải thích tại sao việc xác định vấn đề khó khăn về kinh tế như một vấn đề khó khăn về cạnh tranh quốc tế lại hấp dẫn đến thế đối với nhiều người Cuối cùng, nó lập luận rằng nỗi ám ảnh với khả năng cạnh tranh không những sai lầm mà còn nguy hiểm, làm thiên lệch các chính sách nội địa và đe dọa hệ thống kinh tế quốc tế Dĩ nhiên nhìn trên quan điểm chính sách công thì vấn đề cuối cùng này quan trọng nhất

Tư duy bị chi phối bởi khả năng cạnh tranh sẽ trực tiếp hay gián tiếp dẫn đến các chính sách kinh tế tồi về một loạt nhiều vấn đề, trong nước và ngoài nước, dù là trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe hay thương mại

Cạnh tranh không suy nghĩ

Hầu hết những người sử dụng thuật ngữ “khả năng cạnh tranh” đều sử dụng mà không hề suy đi nghĩ lại Đối với họ, dường như hiển nhiên rằng sự tương đồng giữa một quốc gia và một công ty là hợp lý, và đặt câu hỏi liệu Hoa Kỳ có sức cạnh tranh trên thị trường thế giới hay không trên nguyên tắc cũng không khác gì đặt câu hỏi liệu công ty General Motors có sức cạnh tranh trên thị trường xe tải nhỏ ở Bắc Mỹ hay không

Tuy nhiên, trên thực tế việc cố gắng định nghĩa khả năng cạnh tranh của một quốc gia rắc rối hơn nhiều so với việc định nghĩa khả năng cạnh tranh của một công ty Kết quả cuối cùng (dòng cuối cùng trong các bảng kết toán cho biết tổng số lợi nhuận hay tổng số lỗ) của một công ty chính là kết quả cuối cùng của nó đúng theo nghĩa đen: nếu một công ty không đủ tiền trả tiền công cho người lao động, trả cho các nhà cung cấp, và các trái chủ thì công ty này sẽ bị loại khỏi hoạt động kinh doanh Vì thế, khi chúng ta

Trang 4

nói một công ty không có khả năng cạnh tranh, chúng ta muốn nói rằng vị thế thị trường của nó không thể duy trì được – rằng nó sẽ không còn tồn tại trừ khi nó cải thiện hoạt động Mặt khác, các quốc gia không bao giờ bị loại khỏi hoạt động của mình Các quốc gia có thể hài lòng hay không hài lòng với thành quả kinh tế của mình, nhưng các quốc gia không có kết quả cuối cùng (bottom line) được xác định rõ ràng Kết quả là khái niệm khả năng cạnh tranh của quốc gia là một khái niệm khó lĩnh hội

Người ta có thể ngây ngô cho rằng kết quả cuối cùng (bottom line) của nền kinh tế của một đất nước đơn giản là cán cân thương mại của nó, rằng khả năng cạnh tranh có thể được đo lường bằng khả năng quốc gia bán ra nước ngoài nhiều hơn mua vào Nhưng trong cả lý thuyết lẫn thực tiễn, thặng dư trong cán cân thương mại có thể là một dấu hiệu về yếu kém của quốc gia, thâm hụt trong cán cân thương mại có thể là một dấu hiệu về sức mạnh của quốc gia Thí dụ, Mêhico bắt buộc phải có các khoản thặng dư thương mại khổng lồ trong thập niên 1980 để trả lãi của nợ nước ngoài bởi vì các nhà đầu tư quốc tế từ chối không cho Mêhico vay thêm tiền, sau năm 1990, quốc gia này bắt đầu có những khoản thâm hụt thương mại lớn khi các nhà đầu tư đã phục hồi lòng tin và bắt đầu đổ vào các khoản tiền mới Có ai muốn mô tả Mêhico như là một quốc gia có sức cạnh tranh cao trong suốt kỷ nguyên khủng hoảng nợ hoặc mô tả tình hình đã xảy ra kể từ năm 1990 như là việc mất khả năng cạnh tranh?

Hầu hết các tác giả có lo lắng một tí nào đó về vấn đề này vì thế đã cố gắng định nghĩa khả năng cạnh tranh như một kết hợp của thành quả về thương mại và một điều

gì khác Đặc biệt, định nghĩa thông dụng nhất về khả năng cạnh tranh ngày nay đi theo hướng của định nghĩa được đưa ra trong <Ai đánh bại ai?> của Chủ tịch Hội đồng Các Nhà Cố vấn Kinh tế, Laura D’Andrea Tyson: khả năng cạnh tranh là

“khả năng của chúng ta sản xuất ra hàng hóa và dịch vụ đáp ứng được kiểm định của cạnh tranh quốc tế trong khi công dân của chúng ta hưởng được một mức sống vừa tăng lên vừa có thể duy trì bền vững” Định nghĩa này nghe có vẻ hợp lý Tuy nhiên nếu bạn suy nghĩ về nó, và kiểm tra những ý nghĩ của bạn so với sự thực, thì bạn sẽ nhận thấy rằng định nghĩa này còn ít hợp lý hơn nhiều so với mình tưởng lúc ban đầu

Hãy suy nghĩ một lát xem định nghĩa này sẽ có nghĩa gì đối với một nền kinh tế tiến hành thương mại quốc tế rất

Trang 5

ít, như Hoa Kỳ trong thập niên 1950 Đối với một quốc gia như thế, khả năng cân bằng thương mại hầu như là vấn đề có được tỷ giá hối đoái đúng Nhưng do thương mại quốc tế chỉ là một yếu tố nhỏ bé như thế trong nền kinh tế, nên mức tỷ giá hối đoái chỉ là một yếu tố ảnh hưởng thứ yếu đến mức sống Như thế, trong một nền kinh tế tiến hành thương mại quốc tế rất ít, thì việc nâng cao mức sống – và như thế là nâng cao “khả năng cạnh tranh” theo định nghĩa của Tyson – sẽ được quyết định hầu như hoàn toàn bởi các yếu tố trong nước, chủ yếu là tốc độ tăng trưởng năng suất Đó chính là tăng trưởng năng suất trong nước – không phải là tăng trưởng năng suất so với các quốc gia khác Nói cách khác, đối với một nền kinh tế tiến hành rất ít thương mại quốc tế thì “khả năng cạnh tranh” hóa ra là một cách ngộ nghĩnh để nói “năng suất” và không liên quan gì đến cạnh tranh quốc tế

Nhưng chắc chắn điều nói trên sẽ thay đổi khi thương mại quốc tế trở nên quan trọng hơn, như quả thật nó đã trở nên quan trọng hơn đối với hầu hết các nền kinh tế lớn? Chắc chắn là có thể thay đổi Giả sử một quốc gia nhận thấy rằng mặc dù năng suất tăng lên đều đặn, nhưng quốc gia này chỉ có thể thành công trong xuất khẩu nếu nó phá giá đồng tiền của nó nhiều lần, bán hàng xuất khẩu luôn luôn rẻ hơn trên các thị trường thế giới Như thế, mức sống ở quốc gia này, vốn phụ thuộc vào sức mua của nó đối với hàng nhập khẩu cũng như hàng sản xuất nội địa, có thể thực sự giảm sút Nói theo thuật ngữ chuyên môn của các nhà kinh tế học, tăng trưởng nội địa có thể bị áp đảo bởi tỷ giá ngoại thương (tỷ giá trao đổi mậu dịch) xấu đi Vì thế, “khả năng cạnh tranh” hóa ra có thể chung cuộc thực sự là về cạnh tranh quốc tế

Tuy nhiên, chẳng có lý do gì để chúng ta để vấn đề này lại như một sự suy đoán thuần túy; nó có thể được kiểm tra dễ dàng dựa trên dữ liệu Có phải tỷ giá ngoại thương xấu đi đã quả thực là một trở ngại chính đối với mức sống ở Hoa Kỳ? Hay phải chăng tốc độ tăng trưởng thu nhập thực ở Hoa Kỳ đã cơ bản tiếp tục bằng với tốc độ tăng trưởng năng suất nội địa, mặc dù thương mại chiếm tỷ trọng lớn hơn trong thu nhập so với trước đây?

Để trả lời câu hỏi này, người ta chỉ cần xem số liệu về hạch toán thu nhập quốc dân mà Bộ Thương mại (Hoa Kỳ) công bố định kỳ trong Điều tra Hoạt động Kinh doanh Hiện hành Thước đo thông thường về tăng trưởng kinh tế ở Hoa Kỳ tất nhiên là GNP thực – một thước đo đem chia giá trị

Trang 6

hàng hóa và dịch vụ được sản xuất ra ở Hoa Kỳ cho các chỉ số giá thích hợp để cho ra một giá trị ước lượng sản lượng quốc gia thực Tuy nhiên, Bộ Thương mại cũng công bố một số liệu được gọi là “GNP chỉ huy” (“Command GNP”) Nó tương tự như GNP thực ngoại trừ việc nó chia xuất khẩu không phải cho chỉ số giá xuất khẩu mà cho chỉ số giá của nhập khẩu của Hoa Kỳ Nghĩa là, xuất khẩu được định giá bởi những gì mà người Mỹ có thể mua với số tiền mà xuất khẩu mang lại Vì thế cho nên GNP chỉ huy đo lường khối lượng hàng hóa và dịch vụ mà nền kinh tế Hoa Kỳ có thể

“chỉ huy” – tức là sức mua của quốc gia – chứ không phải khối lượng mà nền kinh tế này sản xuất ra Và như chúng

ta vừa thấy, “khả năng cạnh tranh” có nghĩa là một thứ gì đó khác với “năng suất” chỉ và chỉ khi sức mua tăng trưởng chậm hơn một cách đáng kể so với sản lượng

Sau đây là những con số Trong giai đoạn 1959-1973, giai đoạn tăng trưởng mạnh mẽ trong mức sống ở Hoa Kỳ và hầu như chẳng có mối quan ngại nào về cạnh tranh quốc tế, GNP thực trên mỗi giờ lao động của công nhân tăng trưởng 1,85 phần trăm hàng năm, trong khi GNP chỉ huy trên mỗi giờ tăng trưởng hơi nhanh hơn, đó là 1,87 phần trăm Từ năm

1973 đến năm 1990, giai đoạn mức sống đình trệ, tăng trưởng GNP chỉ huy trên mỗi giờ giảm xuống còn 0,65 phần trăm Tuy nhiên hầu như tất cả (91 phần trăm) sự đình trệ đó được giải thích bởi sự sụt giảm trong tăng trưởng năng suất nội địa: GNP thực trên mỗi giờ chỉ tăng 0,73 phần trăm

Những phép tính toán tương tự đối với Cộng đồng Châu Âu và Nhật Bản cho chúng ta các kết quả tương tự Trong mỗi trường hợp, tỷ lệ tăng trưởng mức sống về cơ bản bằng với tỷ lệ tăng trưởng năng suất nội địa – không phải năng suất so với các đối thủ cạnh tranh, mà chỉ là năng suất nội địa Mặc dù thương mại thế giới lớn đến mức chưa từng thấy trước đây, nhưng mức sống của quốc gia được quyết định một cách áp đảo bởi các yếu tố nội địa chứ không phải bởi sự cạnh tranh giành các thị trường thế giới

Làm sao điều này lại có thể xảy ra trong thế giới phụ thuộc lẫn nhau của chúng ta ngày nay? Một phần của câu trả lời là thế giới không phụ thuộc lẫn nhau như mức độ mà bạn có thể nghĩ: các quốc gia hoàn toàn không giống như các công ty Ngay cả ngày nay, giá trị xuất khẩu của Hoa Kỳ cũng chỉ bằng 10 phần trăm giá trị gia tăng trong nền kinh tế Hoa Kỳ (mà giá trị gia tăng này bằng GNP) Nghĩa là Hoa Kỳ vẫn là một nền kinh tế mà hầu như 90% nền kinh tế ấy sản xuất hàng hóa và dịch vụ cho chính nó

Trang 7

sử dụng Ngược lại, ngay cả công ty lớn nhất cũng hầu như không bán được phần sản lượng nào của mình cho chính các công nhân của mình; “xuất khẩu” của General Motors – nghĩa là doanh số bán cho những người không làm việc ở đó – hầu như là tất cả doanh số bán của nó, mà doanh số bán này lớn hơn 2,5 lần giá trị gia tăng của công ty

Hơn nữa, các quốc gia không cạnh tranh với nhau theo cách mà các công ty cạnh tranh Coke và Pepsi hầu như là các đối thủ cạnh tranh thuần túy: chỉ một phần không đáng kể doanh thu của Coca-Cola đến tay các công nhân của Pepsi, chỉ một phần không đáng kể hàng hóa mà các công nhân của Coca-Cola mua là sản phẩm của Pepsi Vì thế, nếu Pepsi thành công, thì thành công này có khuynh hướng là xảy ra với tổn thất do Coke gánh chịu Nhưng các quốc gia công nghiệp lớn, mặc dù họ bán sản phẩm cạnh tranh với nhau, nhưng họ cũng là các thị trường xuất khẩu chính của nhau và cũng là các nhà cung cấp chính của nhau đối với hàng nhập khẩu hữu ích Nếu nền kinh tế Châu Âu hoạt động tốt thì không nhất thiết là với phí tổn do Hoa Kỳ gánh chịu; quả thật, nếu có điều gì đó quan trọng thì đó chính là một nền kinh tế Châu Âu thành công rất có thể sẽ giúp nền kinh tế Hoa Kỳ bằng cách cung cấp cho nó các thị trường rộng lớn hơn và bán cho nó hàng hóa có chất lượng cao hơn với giá hạ hơn

Như thế, thương mại quốc tế không phải là một trò chơi có tổng bằng zero Khi năng suất gia tăng ở Nhật Bản, thì kết quả chính là gia tăng mức tiền công thực của người Nhật; các mức tiền công ở Hoa Kỳ và Châu Âu trên nguyên tắc ít nhất cũng có khả năng tăng lên ngang bằng khả năng giảm xuống, và trong thực tiễn có vẻ gần như không bị ảnh hưởng

Người ta có thể công kích luận điểm nói trên, nhưng bài học thật rõ ràng: mặc dù các vấn đề cạnh tranh có thể nảy sinh trên nguyên tắc, nhưng như một vấn đề thực nghiệm trong thực tiễn thì các quốc gia lớn trên thế giới không cạnh tranh với nhau ở mức độ đáng kể nào Dĩ nhiên, luôn luôn có sự cạnh tranh để giành địa vị và quyền lực – các quốc gia tăng trưởng nhanh hơn sẽ thấy thứ hạng về chính trị của mình tăng lên Vì thế việc so sánh các quốc gia luôn luôn là điều thú vị Nhưng khẳng định rằng tăng trưởng của Nhật Bản làm yếu đi địa vị của Hoa Kỳ khác xa việc nói rằng nó làm giảm mức sống của Mỹ – và chính thuật hùng biện về khả năng cạnh tranh khẳng định điều thứ hai

Trang 8

Dĩ nhiên, người ta có thể có quan điểm rằng chúng ta muốn các từ ngữ có nghĩa gì thì chúng có nghĩa ấy, rằng mọi người đều được tự do, nếu họ mong muốn, sử dụng thất ngữ “khả năng cạnh tranh” như một cách thi vị để nói đến năng suất, mà không thật sự hàm ý rằng cạnh tranh quốc tế có liên quan gì với nó Nhưng hầu như chẳng có tác giả nào viết về khả năng cạnh tranh chấp nhận quan điểm này Họ tin rằng sự thực nói lên một câu chuyện hoàn toàn khác Họ tin rằng chúng ta đang sống, như Lester Thurow đã viết trong cuốn sách bán chạy nhất của ông, Đầu đối Đầu, trong một thế giới cạnh tranh “thắng-thua” giữa các nền kinh tế hàng đầu Làm sao niềm tin này có thể tồn tại?

Trang 9

Phép tính số học bất cẩn

Một trong những đặc điểm gây sửng sốt, đáng chú ý của nhiều tài liệu về khả năng cạnh tranh là xu hướng lặp đi lặp lại của các tác giả rất thông minh dính dự vào việc có thể được mô tả một cách tế nhị nhất là “phép tính số học bất cẩn” Những lời khẳng định được đưa ra nghe như những lời tuyên bố về các tầm mức (magnitudies) có thể tính được, nhưng các tác giả không thực sự trình bày bất kỳ số liệu nào về các tầm mức này và như thế không chú ý rằng các số liệu thực tế mâu thuẩn với những lời khẳng định của họ Hoặc số liệu trình bày được cho là ủng hộ lời khẳng định của tác giả, nhưng tác giả lại không chú ý rằng các con số của chính mình đưa ra cho thấy rằng điều mình đang nói không thể đúng sự thực Rất nhiều lần người

ta tìm thấy các cuốn sách và các bài viết về khả năng cạnh tranh mà dường như đối với người đọc khinh suất là đầy đủ bằng chứng có tính thuyết phục; nhưng chúng làm cho những người quen thuộc với số liệu đó cảm thấy thật

xa lạ, hầu như vụng về một cách đáng sợ trong việc họ xử lý các con số Một số thí dụ có thể minh họa tốt nhất cho luận điểm này Sau đây là ba trường hợp về phép tính số học bất cẩn, mỗi trường hợp đều đáng quan tâm

Trong một bài viết gần đây được công bố ở Nhật Bản, Lester Thurow giải thích cho cử tọa của ông về tầm quan trọng của việc cắt giảm thặng dư thương mại của Nhật với Hoa Kỳ Ông đã chỉ ra rằng mức tiền công thực ở Hoa Kỳ đã giảm sáu phần trăm trong suốt những năm dưới thời Reagan và Bush, và lý do là các khoản thâm hụt thương mại về hàng công nghiệp chế tạo đã đẩy công nhân ra khỏi các việc làm trong công nghiệp chế tạo với tiền công cao sang các việc làm về dịch vụ với tiền công thấp

Đây không phải là một quan điểm mới mẻ, nó đã được nhiều người đưa ra Nhưng Thurow trình bày cụ thể hơn hầu hết những người khác, ông đưa ra các con số thực tế về công việc và mất mát tiền công Ông khẳng định một triệu việc làm trong công nghiệp chế tạo đã mất đi bởi vì thâm hụt nói trên và việc làm trong công nghiệp chế tạo trả công nhiều hơn các công việc dịch vụ 30 phần trăm

Cả hai con số này đều đáng hoài nghi Con số một triệu việc làm là quá cao, và chênh lệch tiền công 30 phần trăm giữa công nghiệp chế tạo và dịch vụ chủ yếu là do chênh lệch trong độ dài của tuần làm việc, chứ không phải chênh lệch trong mức tiền công hàng giờ

Trang 10

Nhưng chúng ta hãy xem như các con số của Thurow là đúng Chúng có nói lên câu chuyện ông đề xuất hay không?

Điểm chính yếu là tổng số việc làm ở Hoa Kỳ hơn hẳn

100 triệu công nhân Giả sử rằng một triệu công nhân đã

bị buộc chuyển từ công nghiệp chế tạo sang dịch vụ, và kết quả là mất đi 30% chênh lệch tiền công trong công nghiệp chế tạo Bởi vì số công nhân này ít hơn 1% lực lượng lao động Hoa Kỳ nên điều này sẽ làm giảm mức tiền công trung bình ở Hoa Kỳ ít hơn 1/100 của 30% - nghĩa là ít hơn 0,3%

Con số này quá nhỏ nên không thể giải thích được mức sụt giảm tiền công thực 6 phần trăm, nó nhỏ hơn đến

20 lần (6% = 20 x 0,3%) Hay chúng ta có thể xem xét nó theo cách thức khác, mất mát tiền công hàng năm do việc giảm công nghiệp hóa được kích thích bởi thâm hụt, mà Thurow ngụ ý một cách rõ rệt là ở trung tâm của những khó khăn kinh tế ở Hoa Kỳ, trên cơ sở các số liệu riêng của ông, là gần bằng với mức Hoa Kỳ chi tiêu vào chăm sóc sức khỏe hàng tuần

Một điều gì đó thật khó hiểu đang diễn ra ở đây Làm sao một người thông minh như Thurow, khi viết một bài được coi như là để cung cấp bằng chứng có tính định lượng vững chắc về tầm quan trọng của cạnh tranh quốc tế đối với nền kinh tế Hoa Kỳ, lại không nhận ra rằng bằng chứng ông đưa

ra cho thấy một cách rõ ràng kênh gây tổn thất mà ông xác định không phải là thủ phạm?

Các khu vực kinh tế có giá trị gia tăng cao

Ira Magaziner và Robert Reich, cả hai hiện là những nhân vật có ảnh hưởng trong chính quyền Clinton, lần đầu tiên đến với khán giả rộng rãi với cuốn sách xuất bản năm 1982 của họ nhan đề “Lưu tâm đến Hoạt động Kinh doanh của Mỹ” Cuốn sách này ủng hộ chính sách công nghiệp của Hoa Kỳ, và trong phần dẫn nhập, các tác giả này đã đưa ra một cơ sở định lượng dường như cụ thể cho một chính sách như thế:

“Mức sống của chúng ta chỉ có thể tăng lên nếu (i) vốn và lao động chảy ngày càng nhiều hơn vào các ngành có giá trị gia tăng cao trên mỗi công nhân và (ii) chúng ta duy trì được một vị thế cao hơn trong các ngành đó so với các đối thủ cạnh tranh của chúng ta.”

Các nhà kinh tế học hoài nghi về ý tưởng này trên nguyên tắc Nếu việc nhắm mục tiêu vào các ngành phù hợp chỉ đơn giản là vấn đề chuyển sang các khu vực kinh tế

Ngày đăng: 23/05/2020, 11:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w