1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu khoa học: Thực trạng và giải pháp kiểm soát hoạt động chuyển giá của các công ty đa quốc gia tại Việt Nam

60 161 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 60
Dung lượng 391,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực trạng và giải pháp kiểm soát hoạt động chuyển giá của các công ty đa quốc gia tại Việt Nam Thực trạng và giải pháp kiểm soát hoạt động chuyển giá của các công ty đa quốc gia tại Việt Nam Thực trạng và giải pháp kiểm soát hoạt động chuyển giá của các công ty đa quốc gia tại Việt Nam Thực trạng và giải pháp kiểm soát hoạt động chuyển giá của các công ty đa quốc gia tại Việt Nam Thực trạng và giải pháp kiểm soát hoạt động chuyển giá của các công ty đa quốc gia tại Việt Nam

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Nghiên cứu khoa học dường như đã trở nên quen thuộc với mỗi sinh viên Với sựđam mê, lòng nhiệt huyết, tinh thần ham học hỏi, cùng với phong trào sinh viên làmnghiên cứu khoa học của Trường Đại học Thương Mại nói chung, khoa Kinh tế vàKinh doanh quốc tế nói riêng, đã thôi thúc nhóm chúng tôi cùng nhau tìm hiểu vànghiên cứu đề tài: “Thực trạng và giải pháp kiểm soát hoạt động chuyển giá của cáccông ty đa quốc gia tại Việt Nam”

Để thực hiện và hoàn thành đề tài nghiên cứu này nhóm chúng tôi đã nhận được

sự giúp đỡ cũng như động viên, quan tâm từ nhiều cá nhân và tổ chức, sự động viên từthầy cô và bạn bè

Trước hết nhóm chúng tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Th.s Phan Thu Giangngười trực tiếp hướng dẫn chúng tôi làm nghiên cứu khoa học, đã luôn dành nhiều thờigian công sức giúp đỡ chúng tôi hoàn thành đề tài này

Nhóm chúng tôi xin cảm ơn Ban Giám hiệu Trường Đại học Thương Mại, cùngtoàn thể đội ngũ giảng viên đã tận tình truyền đạt cho chúng tôi những kiến thức bổích, ý nghĩa, giúp đỡ chúng tôi trong quá trình làm nghiên cứu khoa học

Tuy có nhiều cố gắng, song vì chưa có nhiều kinh nghiệm trong làm nghiên cứukhoa học nên đề tài này không thể tránh khỏi những sai sót Vì vậy nhóm chúng tôi rấtmong muốn nhận được ý kiến đóng góp phản hồi từ những thầy cô trong khoa cũngnhư trong trường để đề tài nghiên cứu được hoàn thiện hơn

Chúng tôi xin trân trọng cảm ơn!

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

MỤC LỤC ii

DANH MỤC BẢNG BIỂU iv

DANH MỤC VIẾT TẮT v

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1

1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1

1.2 TỔNG QUAN MỘT SỐ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÓ 2

1.3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3

1.4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 4

1.5 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 4

1.6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4

1.7 KẾT CẤU BÀI NGHIÊN CỨU 5

CHƯƠNG 2: CÁC VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT VỀ HOẠT ĐỘNG CHUYỂN GIÁ Ở CÁC CÔNG TY ĐA QUỐC GIA 6

2.1 MỘT SỐ LÝ THUYẾT CƠ BẢN VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI 6

2.1.1 Khái niệm 6

2.1.2 Bản chất 6

2.1.3 Vai trò 6

2.2 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY ĐA QUỐC GIA 14

2.2.1 Khái niệm 14

2.2.2 Cơ cấu tổ chức của công ty đa quốc gia 15

2.2.3 Các nghiệp vụ mua bán nội bộ của công ty đa quốc gia 16

2.3 CHUYỂN GIA TRONG HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ QUỐC TẾ 18

2.3.1 Khái niệm 18

2.3.2 Các hình thức chuyển giá 18

2.3.3 Động cơ thực hiện hoạt động chuyển giá 18

2.3.4 Hệ quả của chuyển giá 19

2.4 MỘT SỐ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM 21

2.4.1 Kinh nghiệm của Mỹ 21

2.4.2 Kinh nghiệm tại Trung Quốc 23

2.4.3 Kinh nghiệm tại một số nước ASEAN 24

Trang 3

2.4.4 Bài học chung và kinh nghiệm riêng cho Việt Nam 27

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CHUYỂN GIÁ VÀ CHỐNG CHUYỂN GIÁ Ở VIỆT NAM 30

3.1 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CÔNG TY ĐA QUỐC GIA TẠI VIỆT NAM 30

3.1.1 Tình hình thu hút vốn đầu tư FDI vào Việt Nam 30

3.1.2 Tình hình ĐTNN lũy kế tới tháng 12/2019 34

3.2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CHUYỂN GIÁ TẠI CÁC CÔNG TY ĐA QUỐC GIA TẠI VIỆT NAM 34

3.2.1 Môi trường pháp lý 34

3.2.2 Thực trạng kiểm soát hoạt động chuyển giá trong các công ty đa quốc gia tại Việt Nam 37

3.2.3 Một số nghi án chuyển giá tại Việt Nam 41

3.3 NHỮNG KHÓ KHĂN TRONG HOẠT ĐỘNG CHỐNG CHUYỂN GIÁ Ở VIỆT NAM 46

3.3.1 Về khía cạnh pháp lý 46

3.3.2 Về công tác thanh tra, kiểm tra 47

3.3.3 Về tổ chức và sự phối hợp giữa các cơ quan 48

Chương 4: KIẾN NGHỊ GIẢI PHÁP 50

4.1 Kiến nghị giải pháp 50

4.1.1 Đối với cơ quan thuế 50

4.1.2 Đối với chính phủ Việt Nam 51

4.2 Kết quả nghiên cứu đạt được 52

KẾT LUẬN 54

TÀI LIỆU THAM KHẢO 55

Trang 4

DANH MỤC BẢNG BIỂUBảng 1: Thành phần vốn đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài năm 2019 32Bảng 2: Sự thay đổi các hướng dẫn kiểm soát chuyển giá dựa trên các văn bản pháp luật 35Bảng 3: Kết quả thanh tra doanh nghiệp FDI tại một số địa phương 39

Trang 5

DANH MỤC VIẾT TẮT

FDI Doanh nghiệp có vốn đầu tư

nước ngoài

Foreign Direct Investment

TNCs Công ty Xuyên quốc gia Transational Corporations

GCNDKĐT Giấy chứng nhận đăng ký đầu

tưALP Nguyên tắc căn bản giá thị

trường

Arm’s Length PrincipleWTO Tổ chức Kinh tế thế giới World Trade Organization

Trang 6

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Trong những năm gần đây, hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam ngày càng pháttriển cùng với việc ký kết càng nhiều các hiệp định thương mại tự do, điều đó đã gópphần thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam, đóng góp vai trò rấtquan trọng đối với sự phát triển của kinh tế xã hội Đầu tư nước ngoài góp phần thúcđẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, tăng năng lựcsản xuất và xuất khẩu của nền kinh tế, cải thiện cán cân thương mại, tạo việc làm vàcải thiện thu nhập cho người dân, đóng góp nguồn thu ngân sách quốc gia Đến nay,Việt Nam đã thu hút được nhiều tập đoàn đa quốc gia (MNCs) và xuyên quốc gia(TNCs) hàng đầu của thế giới đến đầu tư và kinh doanh như Intel, Samsung, Canon,Honda, Toyota, BP, Coca-Cola, Adidas, Unilever… Bên cạnh các tác động tích cực

mà các công ty này mang lại, các công ty đa quốc gia đang ngày càng bộc lộ ra điểmtiêu cực ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của nước ta Bởi áp lực cạnh tranh ngàycàng cao giữa các tập đoàn, vấn đề tối đa hoá lợi nhuận vẫn luôn là mục tiêu hàng đầucủa các nhà đầu tư nước ngoài Chuyển giá (transfer pricing) được xem là một trongnhững phương pháp mà các nhà đầu tư thường áp dụng nhằm mục đích tránh thuế, từ

đó gia tăng lợi nhuận cho công ty mẹ Những năm vừa qua, các giao dịch có yếu tốnước ngoài ngày càng có dấu hiệu của hiện tượng chuyển giá, đặc biệt xảy ra ở cáccông ty lớn thường xuyên báo lỗ nhưng vẫn có lượng vốn rót vào để mở rộng quy môsản xuất- kinh doanh Hiện tượng chuyển giá không chỉ gây thiệt hại cho chính phủnước chủ nhà do bị thất thu thuế, giảm phần lợi nhuận của bên góp vốn của nước chủnhà do giá trị góp vốn của họ thấp mà còn ảnh hưởng tiêu cực đến thương mại quốc tế.Điều này dẫn đến tình trạng cạnh tranh không lành mạnh với các công ty đa quốc giakhác và đặc biệt là các công ty nội địa Tuy chính phủ Việt Nam đã ban hành các quyđịnh liên quan đến vấn đề chuyển giá nhưng vẫn còn gặp nhiều khó khăn trong việcquản lý, vì vậy nhóm nghiên cứu đề tài:”Thực trạng và giải pháp kiểm soát hoạt độngchuyển giá của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tại ViệtNam” nhằm đưa ra những đánh giá khách quan về tình hình thực tế và các giải phápcủa chính phủ nhằm hạn chế tác hại của hiện tượng chuyển giá tại Việt Nam cũng nhưđưa ra giải pháp trên cơ sở quan điểm cá nhân cũng như học hỏi kinh nghiệm từ cácnước trên thế giới trong cuộc đấu tranh chống chuyển giá này

Trang 7

1.2 TỔNG QUAN MỘT SỐ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÓ

Liên quan đến đề tài chuyển giá, trước đó cũng đã có những nghiên cứu đượcthực hiện như:

(1) Nguyễn Thị Quỳnh Giang (2010): “Chuyển giá tại các công ty đa quốc gia(MNCs) ở Việt Nam”, Luận án thạc sỹ kinh tế

Luận án đã làm nổi bật các phương pháp phổ biến mà các công ty MNC thựchiện nhằm chuyển giá để tiết kiệm số thuế mình đã nộp, làm nổi bật các tác động củachuyển giá đối với nền kinh tế Phân tích các động cơ và thủ thuật thực hiện chuyểngiá của các MNC Nêu lên kinh nghiệm của một số quốc gia từ đó rút ra được bài họckinh nghiệm quý giá cho Việt Nam Cũng như những chính sách về thuế quan liênquan đến vấn đề chuyển giá

(2) Lê Thanh Hà (2017): “Kiểm soát hoạt động chuyển giá trong các chi nhánhcông ty đa quốc gia tại Việt Nam”, Luận án tiến sỹ kinh tế

Luận án đã khẳng định chuyển giá là một hoạt động mang tính chất chủ quan củachi nhánh các công ty đa quốc gia, xuất hiện khi thương mại quốc tế phát triển đến mộttrình độ nhất định và ngày càng có xu hướng gia tăng khi các nước tiến hành mở cửahội nhập và thu hút đầu tư nước ngoài Và luận án đã nhận diện các cách thức thựchiện chuyển giá của chi nhánh các MNCs, từ đó làm nổi bật tác động tiêu cực của hoạtđộng này là làm giảm nghĩa vụ thuế đối với Nhà Nước, làm thay đổi cấu trúc của cácgiao dịch thương mại, làm sai lệch giá dẫn đến sai lệch trong phân phối lợi ích, tạo rakhả năng chiếm lĩnh, giành thị phần cũng như thôn tính đối tác với mức chi phí thấpnhất Ngoài ra, luận án đã phác họa bức tranh về tình hình chuyển giá tại Việt Namcũng như thực trạng công tác kiểm soát chuyển giá trong thời gian qua, đi sâu phântích một số trường hợp cụ thể, chỉ ra những kết quả tích cực cũng như những hạn chế

và nguyên nhân hạn chế của công tác kiểm soát chuyển gia , từ đó đề ra các giải pháp

có giá trị về cả mặt chính sách lẫn trên thực tế

(3) Hội thảo Khoa học Quốc gia: “Chuyển giá và kiểm soát hoạt động chuyểngiá: Những vấn đề lý luận và bài học kinh nghiệm”(2017), Đại học Kinh Tế QuốcDân

Hội thảo là cơ hội gặp gỡ, kết nối và lắng nghe những ý kiến trao đổi từ phía các

vị đại biểu liên quan đến chủ đề chuyển giá và kiểm soát chuyên giá Hội thảo đã nhậnđược rất nhiều bài viết tâm huyết và đã lựa chọn được 29 bài viết có chất lượng để

Trang 8

đăng trong kỷ yếu hội thảo Các bài viết tập trung nghiên cứu về các phương pháp xácđịnh giá chuyển giao, các dấu hiệu nhận biết chuyển giá và các nhân tố ảnh hưởng đếnchuyển giá của doanh nghiệp, hay những nhận định chuyển giá gây thất thu ngân sáchnhà nước, tạo một môi trường cạnh tranh bất bình đẳng giữa các doanh nghiệp, ảnhhưởng đến sự phát triển bền vững và hội nhập kinh tế quốc tế Nghiên cứu kinhnghiệm quốc tế về chuyển giá, kiểm soát chuyển giá tại các nước Đông Nam Á, cácnước Châu Á có nền kinh tế chuyển đổi và các nước phát triển Từ nghiên cứu kinhnghiệm quốc tế, hướng tới bài học kinh nghiệm cho Việt Nam về xây dựng, hoàn thiệnkhung pháp lý về kiểm soát chuyển giá cũng như về thực hiện giám sát, kiểm tra,thanh tra hoạt động chuyển giá của các doanh nghiệp.

Có thể thấy, vấn đề chuyển giá trong các doanh nghiệp liên kết hiện nay đangđược quan tâm của các nhà hoạch định chính sách cũng như sự quan tâm nghiên cứucủa các nhà khoa học trên toàn cầu Hầu hết các nghiên cứu trước đây đều không đồngtình với việc định giá chuyển giao không theo giá thị trường gây ra những tác độngxấu đến bản thân doanh nghiệp Các nghiên cứu cũng cho thấy quy mô của doanhnghiệp trong các tập đoàn đa quốc gia và các giao dịch chuyển giao tài sản hữu hình,tài sản vô hình, hàng hóa, dịch vụ có tác động rất lớn đến gian lận chuyển giá trong các

doanh nghiệp liên kết Từ lý do trên nhóm chúng tôi đã chọn nghiên cứu đề tài “: Thực trạng và giải pháp kiểm soát hoạt động chuyển giá của các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tại Việt Nam” với mong muốn mang đến thêm

sự hiểu biết về “vấn đề chuyển giá” và nêu ra sự tác động của chuyển giá đến cácdoanh nghiệp FDI cũng như đối với nền kinh tế của Việt Nam Từ đó đưa ra được địnhhướng và giải pháp giúp kiểm soát các hoạt động chuyển gia của các doanh nghiệp cóvốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

1.3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Mục tiêu tổng quát của đề tài này là tìm hiểu, nghiên cứu và phân tích hiện tượngchuyển giá ngày càng phổ biến trong các doanh nghiệp FDI đang có mặt tại Việt Namtrong thời gian 10 năm gần đây Thông qua việc tìm hiểu và nghiên cứu này sẽ đề ramột số biện pháp kiểm soát hoạt động chuyển giá nhằm đảm bảo ổn định phát triểnkinh tế tại Việt Nam và phù hợp với kinh tế các nước trong khu vực và trên thế giới

Trang 9

 Chỉ ra một số hạn chế vẫn còn tồn tại trong hoạt động kiểm soát chuyển giá củaNhà Nước và đề xuất một số giải pháp cho các mặt hạn chế đó.

1.4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU

- Thời gian: 2010 – 2019

- Không gian: Các công ty đa quốc gia (MNCs)

1.5 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nướcngoài ở Việt Nam và hiện tượng chuyển giá của các doanh nghiệp này tại Việt Namtrong 10 năm trở lại đây Chuyển giá là một vấn đề rất nhạy cảm trong việc kinh doanhcủa các doanh nghiệp cũng như là đối với cơ quan quản lý nhà nước, vì vậy trong đềtài sẽ tập trung vào các sự kiện đã được công bố trên phương tiện truyền thông đạichúng và trong giới hạn các nghiên cứu sẵn có

1.6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đề tài sử dụng các phương pháp phân tích và tổng hợp, so sánh - đối chiếu, vậndụng các kết quả nghiên cứu đạt được để phân tích và tìm ra điểm mới

 Phương pháp so sánh- đối chiếu

Trang 10

Phương pháp này được sử dụng để đối chiếu các quy định trong hệ thống phápluật của Việt Nam với các quy định quốc tế như OECD cũng như so sánh với chínhsách thuế, phương pháp định giá chuyển giao nội bộ cũng như các vấn đề khác có liênquan.

Phương pháp này cũng được sử dụng để đối chiếu, phân tích sự thay đổi của cácquy định về kiểm soát chuyển giá tại Việt Nam qua các thời kỳ, rằng mỗi quy định cócác hạn chế gì, cần thiết phải sửa đổi hay không

 Phương pháp nghiên cứu tình huống

Phương pháp chỉ ra một số trường hợp chuyển giá điển hình ở các công ty đaquốc gia tại Việt Nam, đồng thời nghiên cứu cách thức mà các quốc gia trên thế giớiứng phó với hoạt động chuyển giá và rút ra kinh nghiệm cho Việt Nam

 Để có thể nhìn nhận tương đối chính xác về các vấn đề liên quan đến hiệntượng chuyển giá, ngoài một số thông tư, văn bản quy định của nhà nước và quốc tế,nhóm nghiên cứu thêm một số bài báo liên quan đến hoạt động kiểm soát chuyển giá.Phương pháp nghiên cứu của đề tài là đi từ thực trạng tình hình chuyển giá và công tácchống chuyển giá tại Việt Nam và kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới, từ đókiến nghị các giải pháp cho vấn đề kiểm soát hoạt động chuyển giá tại Việt Nam

1.7 KẾT CẤU BÀI NGHIÊN CỨU

Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Chương 2: Các vấn đề lý thuyết về hoạt động chuyển giá ở các công ty đa quốc giaChương 3: Thực trạng hoạt động chuyển giá và chống chuyển giá của các công ty đaquốc gia ở Việt Nam

Chương 4: Kiến nghị giải pháp và các phát hiện nghiên cứu

Trang 11

CHƯƠNG 2: CÁC VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT VỀ HOẠT ĐỘNG CHUYỂN GIÁ Ở

CÁC CÔNG TY ĐA QUỐC GIA 2.1 MỘT SỐ LÝ THUYẾT CƠ BẢN VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI

2.1.1 Khái niệm

Đầu tư trực tiếp nước ngoài (tiếng Anh: Foreign Direct Investment, viết tắt làFDI) là hình thức đầu tư dài hạn của cá nhân hay công ty nước này vào nước khácbằng cách thiết lập cơ sở sản xuất, kinh doanh Cá nhân hay công ty nước ngoài đó sẽnắm quyền quản lý cơ sở sản xuất kinh doanh này

2.1.2 Bản chất

- FDI mặc dù vẫn chịu sự chi phối của Chính phủ, nhưng nó ít bị lệ thuộc hơnvào quan hệ chính trị hai bên nếu so sánh với hình thức tín dụng quan hệ quốc tế

- Bên nước ngoài trực tiếp tham gia quá trình kinh doanh của doanh nghiệp, nên

họ trực tiếp kiểm soát sự hoạt động và đưa ra những quyết định có lợi nhất cho việcđầu tư Vì vậy mức độ khả thi của công cuộc đầu tư khá cao, đặc biệt trong việc tiếpcận thị trường quốc tế để mở rộng xuất khẩu

- Do quyền lợi của chủ đầu tư nước ngoài gắn liền với lợi ích do đầu tư đem lạicho nên có thể lựa chọn kỹ thuật, công nghệ thích hợp, nâng cao dần trình độ quản lý,tay nghề cho công nhân ở nước tiếp nhận đầu tư

- FDI liên quan đến việc mở rộng thị trường của các công ty đa quốc gia và sựphát triển của thị trường tài chính quốc tế và thương mại quốc tế

2.1.3 Vai trò

2.1.3.1 Đối với nước đi đầu tư:

(1) Đứng trên góc độ quốc gia:

Hình thức đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là cách để các quốc gia có thể mở rộng

và nâng cao quan hệ hợp tác về nhiều mặt đối với các quốc gia khác mà mình sẽ đầu

tư Khi một nước đầu tư sang nước khác một mặt hàng thì nước đó thường có những

ưu thế nhất định về mặt hàng như về chất lượng, năng suất và giá cả cùng với chínhsách hướng xuất khẩu của nước này; thêm vào đó là sự có một sự sẵn sàng hợp tácchấp nhận sự đầu tư đó của nước sở tại cùng với những nguồn lực thích hợp cho sảnphẩm đó Mặt khác, khi đầu tư FDI nước đi đầu tư có rất nhiều có lợi về kinh tế cũngnhư chính trị:

Trang 12

- Thứ nhất, quan hệ hợp tác với nước sở tại được tăng cường và vị thế của nước

đi đầu tư được nâng lên trên trường quốc tế

- Thứ hai, mở rộng được thị trường tiêu thụ sản phẩm, khi trong nước sản phẩmđang thừa mà nước sở tại lại thiếu

- Thứ ba, giải quyết công ăn việc làm cho một số lao động, vì khi đầu tư sangnước khác, thì nước đó phải cần có những người hướng dẫn, hay còn gọi là các chuyêngia trong lĩnh vực này Đồng thời tránh được việc phải khai thác các nguồn lực trongnước, như tài nguyên thiên nhiên hay ô nhiễm môi trường

- Thứ tư, đó là vấn đề chính trị, các nhà đầu tư nước ngoài có thể lợi dụng những

kẻ hở của pháp luật, sự yếu kém về quản lý hay sự ưu đãi của Chính phủ nước sở tại sẽ

có những mục đích khác như làm gián điệp

(2) Đứng trên góc độ doanh nghiệp:

Mục đích của doanh nghiệp cũng như mục đích của một quốc gia thường là lợinhuận, lợi nhuận càng nhiều càng tốt Một khi trong nước hay các thị trường quenthuộc bị tràn ngập những sản phẩm của họ và sản phẩm cùng loại của đối thủ cạnhtranh thì họ phải đầu tư ra nước khác để tiêu thụ số sản phẩm đó Trong khi đầu tư ranước ngoài, họ chắc chắn sẽ tìm thấy ở nước sở tại những lợi thế so sánh so với thịtrường cũ như lao động rẻ hay tài nguyên chưa bị khai thác nhiều

Một nguyên nhân nữa là họ có thể bán được những máy móc và công nghệ cũ kỹlạc hậu hay bị hao mòn vô hình do thời gian với giá cao nhưng lại là mới đối với nướcnhận đầu tư (khi nước đầu tư là nước đang phát triển)

Thêm vào đó, là sản phẩm của họ được bán tại thị trường này sẽ ngày càng tăng

uy tín và tiếng tăm cho nó và làm tăng sức cạnh tranh đối với các đối thủ có sản phẩmcùng loại

2.1.3.2 Đối với nước nhận đầu tư:

(1) Những mối lợi:

Chuyển giao vốn, công nghệ và năng lực quản lý (chuyển giao nguồn lực): Đốivới một nước lạc hậu, trình độ sản xuất kém, năng lực sản xuất chưa được phát huykèm với cơ sở vật chất kỹ thuật nghèo nàn thì việc tiếp thu được một nguồn vốn lớn,công nghệ phù hợp để tăng năng suất và cải tiến chất lượng sản phẩm, trình độ quản lýchặt chẽ là một điều hết sức cần thiết

Trang 13

Như ta đã biết thì công nghệ chính là trung tâm của sự nghiệp công nghiệp hoá,hiện đại hoá một đất nước đang phát triển như nước ta Chúng ta cần có vốn và côngnghệ để có thể thực hiện được nó Khi đầu tư trực tiếp diễn ra thì công nghệ được dunhập vào trong đó có cả một số công nghệ bị cấm xuất theo con đường ngoại thương,các chuyên gia cùng với các kỹ năng quản lý sẽ góp phần nâng cao hiệu quả của côngnghệ này, do vậy các cán bộ bản địa có thể học hỏi kinh nghiệm của họ.

Trên thực tế có nhiều mức độ phụ thuộc khác nhau vào nguồn FDI ở các nướcđang phát triển Từ năm 1973, khi có nhiều nước chuyển sang đi vay các nước khác,những luồng vốn chảy vào đó đã góp phần quan trọng cho việc hình thành vốn củamột vài nước đang phát triển Giữa năm 1979 và năm 1981, luồng vốn đầu tư trực tiếpchiếm khoảng 25% trong tổng số vốn cố định được đầu tư của Singapore; 11% ởMalaysia; gần 5% ở Chile và Philippines; khoảng 15% tại Brazil, Indonesia, Mexico,còn ở Hàn Quốc, Ấn Độ và Nigeria không đáng kể Tuy nhiên, những con số này chưaphản ánh đủ sự đóng góp của các doanh nghiệp thuộc sở hữu nước ngoài vào tổng sốvốn được đầu tư Lợi nhuận tái đầu tư đã không được kể đến ở một số nước đang pháttriển; ngoài ra, quỹ khấu hao của các doanh nghiệp FDI đã trang trải cho một phần cơbản của các khoản chi tiêu trong tổng số vốn của các nước này, mà lại không đưa vàođịnh nghĩa FDI

Có những khác biệt lớn giữa các nước về mức độ thay thế của FDI cho các luồngvốn nước ngoài khác, do những khác biệt trong cơ cấu kinh tế có những tác động đếnsức hấp dẫn của đất nước đối với các nhà đầu tư, cũng như những khác biệt trong cácyếu tố kinh tế vĩ mô đòi hỏi phải có các luồng vốn chảy vào Các nước có thị trườngnhỏ bé, ít các nguồn lực tự nhiên, kết cấu hạ tầng yếu kém và ít khả năng xuất khẩuhàng công nghiệp thì ít có khả năng thu hút các nguồn FDI lớn, ngay cả khi có nhữngquy chế tự do và những ưu đãi hào phóng Về cơ bản, các nước đó nói chung cũngkhông có khả năng vay nợ theo các điều kiện thương mại thông thường, và chủ yếudựa vào kết quả ưu đãi Kết quả là những khả năng thay thế giữa tín dụng thương mạinước ngoài và FDI chủ yếu có liên quan tới các nước lớn, có nguồn tài nguyên thiênnhiên dồi dào, hoặc có khu vực công nghiệp khá phát triển Các nước đã có được một

số lượng lớn các nguồn FDI nói chung cũng sẽ dễ tác động hơn tới cơ cấu tương laicủa nguồn vốn, bởi vì họ cũng có thể tác động tới hoạt động FDI thông qua cơ cấu tàichính của các chi nhánh hiện hữu thuộc các công ty nước ngoài, và cụ thể là tới số

Trang 14

lượng vay từ các nguồn trong nước và các nguồn khác ở nước ngoài Nhưng so vớivay nước ngoài, FDI có xu hướng tập trung nhiều hơn tại một số ít nước.

Những nguyên nhân kinh tế vĩ mô của các luồng vốn vào cũng có thể ảnh hưởnglớn tới mức độ thay thế giữa FDI và tín dụng thương mại với tư cách là nguồn vốnnước ngoài Tại các nước có các thị trường vốn phát triển, các nguồn gốc mất cân bằngkinh tế vĩ mô riêng lẻ có thể chỉ có tác động hạn chế tới cơ cấu luồng vốn vào Tuynhiên, phần lớn các nước đang phát triển đều có các thị trường vốn trong nước phântán, và đối với các nước này, những nguyên nhân làm cho luồng vốn chảy vào có ýnghĩa lớn hơn Có ba loại yếu tố khiến cần thiết phải có các luồng vốn chảy vào ngàycàng nhiều, thể hiện khả năng thay thế khác nhau giữa FDI và vay nước ngoài:

- Thứ nhất là, tổng cầu có thể tăng lên tương đối so với tổng cung do chỉ tiêu tăngthêm vào các dự án đầu tư mà chúng được coi là có khả năng thành công về mặt tàichính Nếu hoạt động đầu tư ấy diễn ra trong khu vực tư nhân thì khả năng thay thế sẽcao, miễn là các quy định về thuế khoá và quy chế tỏ ra thích hợp đối với FDI Nếuhoạt động đầu tư ấy được thực hiện chủ yếu bởi các doanh nghiệp nhà nước, thì tạinhiều nước, khả năng thay thế sẽ thấp do các hàng rào thể chế ngăn cản hoạt độngFDI Tuy nhiên, vẫn có khả năng lớn cho sự tham gia cổ phần của nước ngoài thôngqua những thỏa thuận đầu tư liên doanh với các doanh nghiệp nhà nước thích hợp, vớiđiều kiện những hình thức này là phù hợp với phương hướng phát triển chung củanước nhận đầu tư Những thoả thuận như vậy là phổ biến trong ngành thăm dò và khaithác khoáng sản, một ngành có nhiều rủi ro với vốn cổ phần nước ngoài hoạt động liênkết với các công ty nhà nước, nhưng chúng còn được thấy rõ trong nhiều khu vực khácnữa Brazil đã khuyến khích hoạt động đầu tư liên doanh, bao gồm sự kết hợp của nhànước với vốn cổ phần tư nhân trong nước cũng như nước ngoài, đặc biệt là trongngành công nghiệp hoá dầu Kinh nghiệm của Trung Quốc, một nước hiện nay đang sửdụng nguồn FDI nhiều hơn so với hình thức vay tín dụng thương mại nước ngoài, chothấy rằng hệ thống doanh nghiệp nhà nước không nên cản trở sự thay thế giữa các hìnhthức khác nhau của vốn nước ngoài Một biện pháp chính để thường xuyên thay thế đó

là việc đưa ra những bảo đảm của nhà nước đối với các khoản vay do các doanhnghiệp nhà nước vay của ngân hàng thương mại nước ngoài Điều này làm giảm bớtchi phí vay tín dụng thương mại cho doanh nghiệp, vì nhà nước gánh chịu một phần sự

Trang 15

rủi ro của người cho vay, do vậy, nó trở nên tương đối hấp dẫn hơn đối với các doanhnghiệp nhà nước, nếu so với hình thức tham gia cổ phần của phía nước ngoài.

- Thứ hai là, tổng cầu có thể tăng lên tương đối so với tổng cung, do chi tiêunhiều hơn cho tiêu dùng hoặc cho các dự án đầu tư được coi như không khả thi về tàichính (bao gồm các dự án về kết cấu hạ tầng có thể đưa lại lợi nhuận kinh tế nói chungcao hơn, nhưng lại không tạo ra một nguồn thu trực tiếp nào) Sự vượt quá của nhu cầunhư vậy thường xảy ra ở dưới dạng những thâm hụt lớn về tài chính, ví dụ như chi tiêunhà nước vào các khoản trợ cấp, các khoản trả lương cao hơn hoặc sự mở rộng kết cấu

hạ tầng xã hội Trong trường hợp này, FDI khó có thể thay thế việc Chính phủ hoặcngân hàng TW đi vay nước ngoài Sẽ không có những dự án đầu tư bổ xung có khảnăng thu hút các nhà đầu tư trực tiếp Về nguyên tắc, khoản vay mượn cao hơn ở trongnước do Chính phủ thực hiện sẽ làm tăng mức lãi suất ở trong nước và dẫn tới cácluồng vốn chảy vào hoặc đầu tư trực tiếp lớn hơn Tuy nhiên, trong thực tế, những ảnhhưởng gián tiếp đó tới các luồng vốn nước ngoài là có hạn, bởi vì ở nhiều nước đangphát triển, thị trường vốn bị phân tán và không có các chính sách linh hoạt

- Cuối cùng, một phần vốn vay nước ngoài của các nước đang phát triển thườngkhông dùng để trang trải cho sự gia tăng trong tổng chi phí quốc nội mà để bù vàoluồng vốn chảy ra của tư nhân Khả năng thay thế sự vay mượn đó bằng đầu tư trựctiếp là thấp, đặc biệt là do chính sách tỷ giá hối đoái và lãi suất không thích hợp.Những chính sách này thường gây ra sự thất thoát vốn, và như vậy cũng thường khôngthúc đẩy được hoạt động FDI

Do đó, mức độ thay thế vay nước ngoài bằng FDI trong thập kỷ vừa qua của cácnước đang phát triển có lẽ phụ thuộc vào cách thức sử dụng khoản vay mượn đó Phầnlớn số vốn vay sau hai lần tăng đột biến giá dầu lửa là nhằm hỗ trợ cho thâm hụt cáncân thanh toán ngắn hạn Đối với khoản vay đó, khả năng thay thế là rất thấp Tuynhiên, phạm vi chuyển dịch giữa các hình thức vốn vào có lẽ đã tăng lên theo độ dàicủa thời kỳ diễn ra sau sự mất cân đối đối ngoại ban đầu Về vấn đề này, bằng chứngnêu ra trên tờ Triển vọng Kinh tế Thế giới 1983 về nguồn vốn đã cho thấy rằng, đốivới hầu hết các nước vay mượn lớn nhất trong số các nước đang phát triển không sảnxuất dầu lửa, sự gia tăng nợ nước ngoài trong thập kỷ vừa qua đã gắn liền với mức đầu

tư cao hơn và phần lớn không sử dụng vào việc chi cho tiêu dùng Tuy nhiên, một bộ

Trang 16

phận đầu tư lớn cần được dành cho các dự án về kết cấu hạ tầng, nhưng chúng khôngthu hút được FDI.

Những hoạt động chuyển giao công nghệ (bao gồm cả năng lực quản lý vàmarketing) khó đo lường hơn so với các luồng chảy vào, nhưng phần lớn chuyển giao

đã diễn ra ở công ty mẹ ở nước ngoài và các chi nhánh của chúng Tuy nhiên, cũng cầnthấy rằng tầm quan trọng của các hoạt động chuyển giao công nghệ trong nội bộ cáccông ty như thế tùy thuộc vào những chuyển giao từ các phía khác nhau Tại HànQuốc là nơi FDI được điều chỉnh và hướng vào các khu riêng biệt, gần 3/4 số hợpđồng cấp giấy phép sản xuất của nước ký kết; tuy nhiên, ở Singapore là nơi có tươngđối ít những hạn chế về đầu tư trực tiếp, hầu hết các hợp đồng cấp giấy phép sản xuất

đã được ký kết bởi các công ty có ít nhất một phần thuộc quyền sở hữu nước ngoài.Trong các ngành sử dụng kỹ thuật mới hoặc kỹ thuật đặc thù của doanh nghiệp (nhưcác ngành điện tử), đa số các hoạt động chuyển giao diễn ra giữa các công ty mẹ và chinhánh thuộc quyền sở hữu hoàn toàn hoặc sở hữu một phần lớn của công ty mẹ; do có

sự lo lắng tới việc duy trì sự kiểm soát chặt chẽ đối với kỹ thuật công nghệ có liênquan Tuy nhiên, trong nhiều ngành khác, các hoạt động chuyển giao công nghệ diễn

ra thông qua các hợp đồng cấp giấy phép sản xuất khác nhau đã tăng lên nhanh hơn sovới sự chuyển giao công nghệ thông qua FDI

Các nhà đầu tư gánh chịu rủi ro: Đầu tư trực tiếp khác với đầu tư gián tiếp là nhàđầu tư phải tự đứng ra quản lý đồng vốn của mình, tự chịu trách nhiệm trước nhữngquyết định đầu tư của mình, do vậy độ rủi ro cao hơn so với đầu tư gián tiếp Các nướcnhận đầu tư trực tiếp do vậy cũng không phải lo trả nợ hay như đầu tư gián tiếp theomức lãi suất nào đó hay phải chịu trách nhiệm trước sự phá sản hay giải thể của nhàđầu tư nước ngoài

Tăng năng suất và thu nhập quốc dân; cạnh tranh hơn, hiệu quả kinh tế hơn: Do

có công nghệ cùng với trình độ quản lý được nâng lên nên đối với các ngành sản xuấtthì việc tăng năng suất là điều tất yếu Không những thế những công nghệ này còn cho

ra những sản phẩm có chất lượng cao hơn, tính năng đa dạng hơn, bền hơn và vớinhững mẫu mã đa dạng, hàng hoá lúc này sẽ nhiều và tất nhiên sẽ rẻ hơn so với trước.Điều này chính là cung tăng lên nhưng thực ra nó tăng lên để đáp ứng lại lượng cầucũng tăng lên rất nhanh do quá trình đầu tư có tác động vào Tốc độ quay của vòngvốn tăng lên nhanh hơn, do vậy sản phẩm cũng được sản xuất ra nhiều hơn và tiêu thụ

Trang 17

cũng nhiều hơn Do sự tiêu thụ được tăng lên do vậy các ngành sản xuất, dịch vụ đượctiếp thêm một luồng sức sống mới, nhân lực, máy móc và các nguyên vật liệu đượcđưa ngay vào sản xuất, từ đó sức đóng góp của các ngành này vào GDP cũng đã tănglên.

Việc có được những công ty có hiệu quả với khả năng cạnh tranh trên thị trườngthế giới có thể đưa lại một sự khai thông quan trọng, tiềm tàng cho việc chuyển giaocác kỹ năng quản lý và công nghệ cho các nước chủ nhà Điều này có thể xảy ra ở bêntrong một ngành công nghiệp riêng rẽ, trong đó có những người cung ứng các đầu vàocho các chi nhánh nước ngoài, những người tiêu dùng trong nước đối với các sảnphẩm của chi nhánh này và những đối thủ cạnh tranh của chúng, tất cả đều muốn lựachọn những phương pháp kỹ thuật có hiệu quả hơn Nó cũng có thể diễn ra một cáchrộng rãi hơn trong nội bộ nền kinh tế thông qua sự tăng cường có kết quả công tác đàotạo và kinh nghiệm của lực lượng lao động và thông qua sự khuyến khích có thể có đốivới các ngành hỗ trợ tài chính và kỹ thuật có khả năng dẫn tới sự hạ thấp toàn bộ chiphí công nghiệp

Khuyến khích năng lực kinh doanh trong nước: Do có các nhà đầu tư nước ngoàinhảy vào các thị trường vốn có các nhà đầu tư trong nước chiếm giữ phần lớn thị phần,nhưng ưu thế này sẽ không kéo dài đối với nhà đầu tư trong nước khi ưu thế về nguồnlực của nhà đầu tư nước ngoài trội hơn hẳn Chính vì vậy các nhà đầu tư trong nướcphải đổi mới cả quá trình sản xuất của mình từ trước từ khâu sản xuất đến khâu tiêuthụ bằng việc cải tiến công nghệ và phương pháp quản lý để có thể trụ vững trên thịtrường đó Đó chính là một trong những thử thách tất yếu của nền kinh tế thị trườngđối với các nhà sản xuất trong nước, không có kẻ yếu nào có thể tồn tại nếu không tự

nó làm mình mạnh lên để sống trong cơ chế đó

Tiếp cận với thị trường nước ngoài: Nếu như trước đây khi chưa có FDI, cácdoanh nghiệp trong nước chỉ biết đến có thị trường trong nước, nhưng khi có FDI thì

họ được làm quen với các đối tác kinh tế mới không phải trong nước Họ chắc chắn sẽnhận thấy rất nhiều nơi cần cái họ đang có, và họ cũng đang cần thì ở nơi đối tác lại

có, do vậy cần phải tăng cường hợp tác sẽ có nhiều sản phẩm được xuất khẩu để thungoại tệ về cho đất nước đồng thời cũng cần phải nhập khẩu một số loại mặt hàng màtrong nước đang cần Từ các việc trao đổi thương mại này sẽ lại thúc đẩy các công

Trang 18

cuộc đầu tư giữa các nước Như vậy quá trình đầu tư nước ngoài và thương mại quốc

tế là một quá trình luôn luôn thúc đẩy nhau, hỗ trợ nhau và cùng phát triển

Chuyển đổi cơ cấu kinh tế: Đầu tư nước ngoài góp phần tích cực trong việcchuyển đổi cơ cấu kinh tế của nước sở tại theo chiều hướng tích cực hơn Nó thườngtập trung vào những ngành công nghệ cao có sức cạnh tranh như công nghiệp haythông tin Nếu là một nước nông nghiệp thì bây giờ trong cơ cấu kinh tế các ngành đòihỏi cao hơn như công nghiệp và dịch vụ đã tăng lên về tỷ trọng và sức đóng góp choNgân sách, GDP và cho xã hội nói chung Ngoài ra về cơ cấu lãnh thổ, nó có tác dụnggiải quyết những mất cân đối về phát triển giữa các vùng lãnh thổ, đưa những vùngkém phát triển thoát khỏi tình trạng nghèo đói, phát huy tối đa những lợi thế so sánh vềtài nguyên, đưa những tiềm năng chưa khai phá vào quá trình sản xuất và dịch vụ, vàlàm bàn đạp thúc đẩy những vùng khác cùng phát triển

(2) Những thua thiệt:

Vốn nước ngoài rất hạn chế: Mặc dù tính tổng thể vốn đầu tư trực tiếp lớn hơn vàquan trọng hơn đầu tư gián tiếp, nhưng so với đầu tư gián tiếp thì mức vốn trung bìnhcủa một dự án đầu tư là thường nhỏ hơn nhiều Do vậy tác động kịp thời của một dự ánđầu tư trực tiếp cũng không tức thì như dự án đầu tư gián tiếp Hơn thế nữa các nhàđầu tư trực tiếp thường thiếu sự trung thành đối với thị trường đang đầu tư, do vậyluồng vốn đầu tư trực tiếp cũng rất thất thường, đặc biệt khi cần vốn đầu tư trực tiếpthì nó lại rất ít làm ảnh hưởng đến kế hoạch kinh tế chung của đất nước nhận đầu tư.Công nghệ không thích hợp, “giá chuyển nhượng nội bộ” cùng với việc giảm tínhlinh hoạt trong xuất khẩu, ảnh hưởng đến cán cân thanh toán: người ta cho rằng cáccông ty có sự kiểm soát nước ngoài có thể sử dụng các kỹ thuật sản xuất sử dụng nhiều

tư bản là chủ yếu (mà chúng sẵn có, nhưng không thích hợp) dẫn tới sự chuyển giaocông nghệ không đầy đủ ở mức chi phí quá cao (để duy trì ưu thế công nghệ), định ranhững giá cả chuyển nhượng giao cao một cách giả tạo (để bòn rút lợi nhuận quámức), gây ra sự căng thẳng cho cán cân thanh toán (bởi vì với tư cách là một bộ phậncủa các chi nhánh sản xuất đa quốc gia, các doanh nghiệp đó có thể có ít khả năng hơn

so với các công ty thuộc quyền kiểm soát trong nước trong việc mở rộng xuất khẩu, và

có thể phải lệ thuộc nhiều vào hàng nhập khẩu) Bản chất thông tin của công nghệđược chuyển giao, cho nên nó được chuyển giao trong một thị trường không hoàn hảocao độ mà trong đó thường khó có thể cố định giá cả một cách chính xác Các nước

Trang 19

đang phát triển thường xuyên ở vào vị trí thương lượng yếu hơn trong các thị trườngnày, đặc biệt là khi họ thiếu lực lượng cán bộ chuyên môn để có thể giúp xác định mứcđóng góp thích hợp của hoạt động chuyển giao công nghệ cần thiết Điều này có thểđặc biệt đúng khi công nghệ được chuyển giao như một yếu tố trong hệ thống cácnguồn lực do FDI đưa vào, bởi vì thường không được biết rõ các chi phí chính xác củacông nghệ đó Một số nước đang phát triển đã cố gắng tăng cường vị trí thương lượngcủa họ bằng cách đặt ra những giới hạn cho các khoản tiền trả sử dụng bản quyền phátminh (chẳng hạn trả theo tỷ lệ cố định phần trăm của doanh thu) hoặc bằng cách thiếtlập các thủ tục xem xét lại đối với toàn bộ các hợp đồng công nghệ Sự sẵn sàng hơncủa công ty xuyên quốc gia trong việc xem xét các hình thức chuyển giao công nghệ

có thể khác nhau - bao gồm việc cấp giấy phép cho đặc quyền sử dụng và cho bao thầulại - có thể giúp để hạ thấp các khoản chi phí chuyển giao này, đặc biệt là cho các nướcchủ nhà mà họ có thể không cần tới các yếu tố khác trong hệ thống FDI trọn gói,chẳng hạn như kỹ năng về quản lý và marketing

Giá chuyển nhượng nội bộ được áp dụng trong các hoạt động giao dịch kinhdoanh nội bộ công ty như vậy có thể khác xa với giá thị trường tương ứng nằm ngoàitầm kiểm soát của nó và nó có thể phải trả trong quan hệ buôn bán giữa các bên không

có quan hệ với nhau Việc lập hoá đơn hàng thấp hơn hay cao hơn so với số thực có lànhằm thay đổi mức lợi nhuận tính thuế, hay để tránh thuế ngoại thương, hoặc kiểmsoát hối đoái đều là những vấn đề chung cho mọi hoạt động thương mại Nhưng cơ hộicho các hoạt động như vậy rõ ràng lớn hơn trong nội bộ công ty Điều này đặt gánhnặng tương ứng lên khả năng kiểm soát hải quan đặc biệt là đối với các sản phẩm cóthể phân chia nhỏ được (chẳng hạn như các loại dược phẩm), hoặc đối với các cấu kiệnchuyên dùng không có một mức giá nhất định với khách hàng bên ngoài

Và những vấn đề khác: Các vấn đề ô nhiễm môi trường cùng với tài nguyên bịcạn kiệt và những lợi dụng về chính trị đó là một trong những điều tất yếu mà nướcchủ nhà phải hứng chịu khi quá trình FDI diễn ra

2.2 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY ĐA QUỐC GIA

2.2.1 Khái niệm

Tiền thân của các công ty đa quốc gia là công ty quốc gia được thành lập tại mộtquốc gia nào đó Công ty quốc gia này mang quốc tịch của một nước và có vốn đầu tưvào công ty thuộc quyền sở hữu của các nhà tư bản nước sở tại Việc kinh doanh của

Trang 20

họ ngày càng phát triển, hàng hóa và dịch vụ được sản xuất ra ngày càng nhiều và chấtlượng hơn Vì vậy nhu cầu mở rộng thi trường tiêu thụ các sản phẩm của công ty lànhu cầu tất yếu Tại thời điểm đó, thì thị trường các nước lân cận hay các nước có nhucầu về sản phẩm của công ty sẽ trở nên hấp dẫn Và các công ty này sẽ bắt đầu tiếnhành các hoạt động như tìm hiểu, hoạch định, thực thi để nhằm mở rộng thị trường tiêuthụ sản phẩm sang các thị trường hướng tới bằng con đường xuất khẩu các sản phẩm.Thị trường ngày càng được mở rộng, đồng nghĩa với khả năng tiếp cận sản phẩm, tiếpcận khách hàng ngày càng lớn qua đó mà sức tiêu thụ sản phẩm sẽ lớn hơn và khảnăng đáp ứng nhu cầu sản phẩm dần trở nên quá tải khi chỉ sản xuất tại một quốc gia,

vì vậy mà các công ty quốc gia bắt đầu nghĩ đến việc mở rộng sản xuất kinh doanhsang các nước lân cận, các nước mà có nhu cầu sản phẩm của công ty lớn Do quátrình phát triển của thị trường tiêu thụ, các công ty này tìm được các nguồn tài liệu vànhân công với chi phí thấp hơn tại các quốc gia mà công ty đặt chân tới Vì vậy màcông ty sẽ tiến hành xây dựng các chi nhánh hay các công ty con tại các quốc gia mà

mà có những lợi thế so sánh về chi phí nguyên liệu, nhân công đầu vào hay một vàicác chi phí sản xuất khác nhằm tìm kiếm mức lợi nhuận ngày càng cao Như vậy, donhu cầu phát triển và mở rộng thị trường của mình mà các công ty này đã thực hiệnhoạt động sản xuất kinh doanh trên địa bàn rộng lớn và vượt ra khỏi biên giới của mộtquốc gia nên được gọi là công ty đa quốc gia Vì vậy chúng ta có thể xây dựng kháiniệm công ty đa quốc giá như sau:

Công ty đa quốc gia – Multinational Corporations (MNC) hoặc MultinationalEnterprises (MNE) là công ty có hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc cung cấp dịch vụkhông chỉ nằm gói gọn trong lãnh thổ của một quốc gia mà hoạt động sản xuất kinhdoanh và cung cấp dịch vụ trải dài ít nhất ở hai quốc gia và có công ty có mặt lên đếnhàng trăm quốc gia

Công ty đa quốc gia bao gồm công ty mẹ ở một nước, và thực hiện các đầu tưFDI ra nước ngoài để hình thành các công ty con Các công ty mẹ con này ảnh hưởnglẫn nhau và cùng chia sẻ kiến thức, nguồn lực và trách nhiệm lẫn nhau

2.2.2 Cơ cấu tổ chức của công ty đa quốc gia

Các công ty quốc gia thành lập các chi nhánh và các công ty con tại các quốc giakhác sẽ trở thành công ty đa quốc gia Các công ty đa quốc gia này với hoạt động sảnxuất và kinh doanh ngày càng phát triển, chúng sản xuất ra ngày càng nhiều hàng hóa

Trang 21

và vật chất, khai thác các thị trường hiện tại một cách hiệu quả và tìm kiếm các thịtrường mới Mục tiêu của các MNC này còn bao hàm cả việc tìm kiếm các nguồnnguyên liệu, nhân công với giá cả so sánh, tìm kiếm những ưu đãi về thuế, ưu đãi vềkinh tế nhằm phục vụ cho mục tiêu to lớn của các công ty là tối đa hóa lợi nhuận và tối

đa hóa giá trị tài sản công ty

Các MNC có thể xếp vào 3 nhóm lớn theo cấu trúc phương tiện sản xuất như sau:Công ty đa quốc gia “theo chiều ngang” là các công ty đa quốc gia mà có hoạtđộng sản xuất kinh doanh các sản phẩm cùng loại hoặc tương tự tại các quốc gia màcông ty này có mặt Một công ty điển hình với cấu trúc này là công ty KFC

Công ty đa quốc gia “theo chiều dọc” là các công ty đa quốc gia mà có các cơ sởsản xuất hay các chi nhánh, công ty con tại một số quốc gia sản xuất ra các sản phẩm

mà các sản phẩm này lại là đầu vào để sản xuất ra sản phẩm của các công ty con haytại các chi nhánh tại các quốc gia khác Một ví dụ điển hình cho loại hình cấu trúccông ty “theo chiều dọc” là công ty Nike

Công ty đa quốc gia “ nhiều chiều” là công ty có chi nhánh hay công ty con tạinhiều quốc gia khác nhau mà các công ty này phát triển và hợp tác với nhau cả chiềungang lẫn chiều dọc Một ví dụ điển hình cho loại công ty có cấu trúc như trên làApple

2.2.3 Các nghiệp vụ mua bán nội bộ của công ty đa quốc gia

Các nghiệp vụ chuyển giao nội bộ của MNC là những hoạt động mua bán qua lạigiữa công ty mẹ và công ty con hoặc giữa các công ty con của MNC với nhau Do quy

mô hoạt động rộng lớn và dàn trải trên một phạm vi địa lý bao gồm nhiều quốc gia vớinhiều chính sách, phong tục tập quán khác nhau mà các nghiệp vụ chuyển giao nội bộtrong MNC rất đa dạng, phức tạp với khối lượng ngày càng lớn Vì vậy mà các cơquan thuế riêng lẻ của từng quốc gia sẽ rất khó khăn trong việc quản lý và khó kiểmsoát Các nghiệp vụ này sẽ ảnh hưởng rất lớn đến chiến lược phát triển của các MNC

Do tính bảo mật, tầm ảnh hưởng quan trọng của các nghiệp vụ chuyển giao nội

bộ công ty vì các nghiệp vụ chuyển giao nội bộ thường được thực hiện theo ý muốn,chủ trương theo chiến lược phát triển công ty của các nhà quản lý cao cấp Trong thực

tế đã có các nghiệp vụ chuyển giao nội bộ được thực hiện theo các chỉ thị của các nhàquản trị cao cấp với các giá trị rất lớn nhưng các giá trị này không được ghi nhận hoặcchỉ được thể hiện một số rất nhỏ Các chứng từ, chứng cứ kèm theo không thể hiện

Trang 22

chính xác các giá trị và bản chất của nghiệp vụ vì vậy đã gây khó khăn cho các cơquan thuế trong việc đưa ra bằng chứng chứng minh các MNC đã thực hiện hành vichuyển giá.

Dựa vào tính chất và các đặc điểm của các nghiệp vụ mua bán nội bộ phổ biếntrên thị trường, chúng ta có thể phân chia các nghiệp vụ mua bán nội bộ ra thành cácnhóm như sau:

– Các nghiệp vụ mua bán nội bộ liên quan nguyên vật liệu có tính chất đặc thùcao, hay các nguyên vật liệu mà một công ty con đặt tại một quốc gia có các lợi thếriêng làm cho giá của nguyên vật liệu ấy thấp

– Các nghiệp vụ mua bán nội bộ liên quan đến các thành phẩm, các công ty contại các quốc gia khác nhau có thể mua thành phẩm được sản xuất tại một quốc gia vàsau đó bán lại mà không cần phải đầu tư máy móc hay nhân công cho sản xuất

– Các giao dịch liên quan việc dịch chuyển một lượng lớn máy móc, thiết bị chosản xuất mà đặc biệt hơn là điểm đến của các giao dịch này là các quốc gia đang pháttriển

– Các giao dịch liên quan đến các tài sản vô hình như nhượng quyền, bản quyền,thương hiệu, nhãn hàng, các chi phí liên quan đến nghiên cứu và phát triển sản phẩm.– Có sự cung cấp các dịch vụ quản lý, dịch vụ tài chính hay chi phí cho cácchuyên gia vào làm việc tại nước nhận chuyển giao

– Có sự tài trợ và nhận tài trợ về các nguồn lực như tài lực và nhân lực

– Có các khoản đi vay và cho vay nội bộ các công ty con của MNC hay giữacông ty mẹ và các công ty con

Các nghiệp vụ chuyển giao nội bộ này diễn ra thường xuyên với giá trị lớn, vìvậy mà để hạn chế các tác động tiêu cực của các nghiệp vụ này thì cần phải có mộtnguyên tắc áp dụng chung và thống nhất trên các quốc gia Nguyên tắc này được lập

ra nhằm đảm bảo tính công bằng trong thương mại, là cơ sở cho các nghiệp vụ muabán, trao đổi hàng hóa và cung cấp dịch vụ giữa các quốc gia Nguyên được áp dụng

đó là nguyên tắc dựa trên căn bản giá thị trường ALP ( The Arm’s Length Principle).Theo nguyên tắc này, các bên có quan hệ liên kết phải định giá chuyển giao cho cácgiao dịch nội bộ như thể họ là các đối tác độc lập Điều này có nghĩa là khi các công tytrong MNC có quan hệ trao đổi buôn bán với nhau thì các điều kiện thương mại và tài

Trang 23

chính trong hợp đồng kinh tế (giá cả hàng hóa, dịch vụ, điều khoản về tín dụng, ) đềuđược định hướng và chi phối bởi các tác động khách quan của thị trường.

2.3 CHUYỂN GIA TRONG HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ QUỐC TẾ

2.3.1 Khái niệm

Chuyển giá là việc thực hiện chính sách giá đối với sản phẩm (hàng hóa, dịch vụ)được chuyển dịch giữa các bên có quan hệ liên kết không theo giá giao dịch thôngthường trên thị trường (giá thị trường), nhằm tối thiểu hóa tổng số thuế phải nộp củadoanh nghiệp trên toàn cầu (Thông tư 66/TT-BTC ngày 22/04/2010 của Bộ Tài chính)

2.3.2 Các hình thức chuyển giá

Nguyên tắc chung của chuyển giá là tối thiểu hoá số thuế phải nộp nếu có chi phícao thì đầu tư vào nơi nào có thuế cao và ngược lại Một số hình thức chuyển giá chủyếu:

- Chuyển giá qua việc tăng chi phí đầu vào hoặc nâng khống giá trị tài sản : thiết

bị, máy móc, vật tư hoặc đẩy giá các tài sản sở hữu trí tuệ dưới dạng nhãn hiệu thươngmại, nhượng quyền giấy phép sản xuất, phí bản quyền, chi trả lãi vay vốn trong quátrình sản xuất kinh doanh…

- Chuyển giá thông qua hạ thấp giá bán sản phẩm: (thường được các DN FDIthực hiện) bằng các hợp đồng xuất khẩu cho công ty mẹ hoặc các đối tác liên kết củacông ty mẹ ở nước ngoài

- Chuyển giá thông qua cơ chế giá cung cấp dịch vụ: thông qua hoạt động cungcấp dịch vụ nội bộ cho các đơn vị thành viên Do dịch vụ thường đa dạng và đặc thùnên rất khó định giá như dịch vụ kế toán, tài chính, tư vấn…các tập đoàn thường tínhgiá ở mức rất cao để chuyển lợi nhuận từ DN thành viên tại Việt Nam sang bên liênkết nước ngoài nhằm giảm nghĩa vụ thuế thu nhập doanh nghiệp của DN thành viên tạiViệt Nam, gây thất thu cho ngân sách nhà nước

- Chuyển giá thông qua các hợp đồng độc quyền về nhập khẩu, phân phối hànghóa…ký với các DN nước ngoài nhằm tối đa hoá lợi nhuận do có được các nguồn lựctrong nước

2.3.3 Động cơ thực hiện hoạt động chuyển giá

Thực tế cho thấy, chuyển giá là hiện tượng phổ biến trong nền kinh tế thị trường,

do nhiều nguyên nhân sau:

Trang 24

Một là, các chủ thể kinh doanh trong nền kinh tế thị trường đầu tư vào kinhdoanh vì mục đích lợi nhuận Chủ thể thực hiện hành vi chuyển giá chủ yếu nhằm mụcđích giảm hoặc tránh mức thuế phải nộp để mang lại lợi nhuận cao nhất Trong khiviệc kiểm soát hành vi chuyển giá lại không dễ dàng, do vậy, nhiều chủ thể kinh doanh

đã lợi dụng điều đó để chuyển giá

Chủ thể thực hiện hành vi chuyển giá còn nhằm tối đa hóa lợi ích của mình trongcác quan hệ góp vốn, quan hệ kinh doanh… trên cơ sở làm giảm lợi ích của các chủthể khác

Hai là, trong điều kiện nền kinh tế thị trường các chủ thể kinh doanh có quyền tựđịnh đoạt, quyền tự chủ trong kinh doanh Do đó, việc thỏa thuận với nhau về giá cảhàng hóa, tài sản, dịch vụ là do các bên tham gia quan hệ hợp đồng thỏa thuận Lợidụng điều này mà hành vi chuyển giá trở nên phổ biến

Ba là, xuất phát từ mối quan hệ gắn bó chung về lợi ích kinh tế giữa các thànhviên trong nhóm liên kết (giữa các công ty trong cùng tập đoàn, giữa công ty mẹ vớicông ty con, giữa các thành viên liên doanh…) Khi thực hiện chuyển giá giữa cácthành viên này sẽ không làm thay đổi tổng nghĩa vụ thuế của cả nhóm, làm lợi ích kinh

tế trong nhóm sẽ tăng Thông qua hành vi chuyển giá mà nghĩa vụ thuế của các bênchuyển giá bị chuyển từ nơi điều tiết cao sang nơi điều tiết thấp hơn và ngược lại.Bốn là, hệ thống pháp luật hiện hành còn nhiều bất cập, chưa đủ cơ sở pháp lýcho việc xác định các hành vi chuyển giá và chế tài áp dụng còn yếu và thiếu Mặtkhác, hệ thống pháp luật hiện hành còn có quá nhiều khe hở, chưa đồng bộ, từ đó tạođiều kiện cho hành vi chuyển giá dễ dàng được thực hiện

Năm là, cơ chế kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán còn nhiều bất cập, chưa

đủ sức phát hiện để xử lý tất cả các hành vi chuyển giá

Sáu là, vai trò quản lý của Nhà nước còn yếu, trình độ chuyên môn, nghiệp vụcủa một bộ phận cán bộ quản lý chưa cao Bên cạnh đó, trình độ của một số doanhnhân khi cùng góp vốn với đối tác cũng còn nhiều hạn chế, do vậy thường bị yếu thếtrong kinh doanh, đối tác lợi dụng để chuyển giá

2.3.4 Hệ quả của chuyển giá

Nếu như chuyển giá giữa các công ty liên kết có tác động chính đến thu ngânsách nhà nước (NSNN), thì việc chuyển giá từ doanh nghiệp FDI có tác động rộng lớn

Trang 25

hơn đối với nền kinh tế, chủ yếu là kinh tế của nước nhận vốn FDI Các tác động chínhcủa chuyển giá tới nền kinh tế của nước nhận vốn FDI bao gồm:

Chuyển giá được hiểu là một hoạt động được sắp đặt trước bởi các chủ thể kinhdoanh có mối quan hệ liên kết nhằm thay đổi mức giá trong quan hệ mua, bán, trao đổihàng hóa, dịch vụ, vốn, tài sản tạo ra sự khác biệt so với giá thị trường, nhằm tối đahóa lợi nhuận của cả một nhóm có quan hệ liên kết, trên cơ sở giảm thiểu nghĩa vụ vềthuế

Chuyển giá đã tạo ra sự cạnh tranh không lành mạnh với các doanh nghiệp trongnước, tác động không tốt đến môi trường đầu tư, ảnh hưởng đến chính sách quản lý vàđiều hành nền kinh tế của Chính phủ:

- Thứ nhất, làm thất thu NSNN từ thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế chuyển lợinhuận ra nước ngoài Quy mô các khoản thu ngân sách nhà nước này không nhỏ khicác doanh nghiệp FDI tại Việt Nam hiện nay đã chiếm tỷ trọng lớn trong GDP, trongtổng kim ngạch nhập khẩu và trong tổng thu ngân sách nhà nước Không chỉ trốn thuế,các doanh nghiệp FDI dưới hình thức công ty liên doanh còn chiếm đoạt cả vốn và lợinhuận của phía đối tác trong nước chuyển ra nước ngoài, từ đó tạo ra dòng chảy vốnngược trở về nước đã xuất khẩu FDI

- Thứ hai, gây ra tình trạng lỗ giả Chuyển giá đối với máy móc, thiết bị đầu tưhoặc góp vốn liên doanh và chuyển giá qua việc công ty mẹ ở nước ngoài cung cấpnguyên liệu, phụ liệu, vật tư, phụ tùng… cho công ty con tại Việt Nam với giá cao,làm cho giá trị vốn đầu tư, giá trị vốn góp tăng cao, dẫn tới thu hồi vốn khống (quakhấu hao), khiến cho doanh nghiệp FDI bị thua lỗ giả tạo trốn thuế Mặt khác, cácdoanh nghiệp FDI thường mua máy móc thiết bị cũ, lạc hậu nhằm thực hiện chuyểngiá dễ dàng hơn (khi so sánh với máy móc hiện đại thì giá có vẻ thấp hơn, nhưng thực

tế so giá trị thật của những thiết bị lạc hậu này thì giá mua lại quá cao) Việc nhậpkhẩu các máy móc công nghệ cũ, lạc hậu làm cho trình độ phát triển của nền kinh tế đingang hoặc đi xuống, sau khi doanh nghiệp FDI kết thúc hoạt động, chuyển giao lạicho Việt Nam thì chỉ còn giá trị là rác thải

Những hoạt động chuyển giá nêu trên là nguyên nhân chính làm sụt giảm hiệuquả sử dụng vốn nói chung, sử dụng vốn FDI nói riêng, khiến cho ICOR của khu vựcFDI rất cao, làm cho hệ số ICOR của cả nền kinh tế tăng cao không hợp lý, làm giảmkhả năng cạnh tranh của nền kinh tế

Trang 26

- Thứ ba, tác động đến mặt bằng giá cả hàng hóa, dịch vụ nhập khẩu ở trongnước.

Đầu tư FDI một mặt góp phần tạo ra nhiều sản phẩm hàng hoá, dịch vụ có chấtlượng cao Tuy nhiên, do chuyển giá nên thị trường trong nước, cả thị trường tư liệusản xuất và thị trường tư liệu tiêu dùng, đều phải chịu mức giá cao bất hợp lý, thậm chí

có một số hàng hoá, dịch vụ có mức giá tại Việt Nam còn cao hơn nhiều so với tại cácnước trong khu vực Mặt khác, giá nhập khẩu cao do chuyển giá còn hạn chế khả năngcạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước có sử dụng các nguồn nguyên liệu bịchuyển giá so với các doanh nghiệp nước ngoài Mặt dù kim ngạch xuất khẩu của khuvực FDI tăng nhanh, song kim ngạch nhập khẩu cũng tăng không kém, từ đó tác độngtiêu cực đến cán cân thương mại và cán cân vãng lai của Việt Nam

- Thứ tư, tác động tới hoạt động của các doanh nghiệp trong nước

Do chuyển giá là cách thức nhanh nhất để đạt mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận, giảm

số nộp NSNN, nên các doanh nghiệp FDI không quan tâm khai thác, sử dụng các cácyếu tố đầu vào từ thị trường trong nước, mà duy trì sử dụng nguồn nhập khẩu Nóicách khác, doanh nghiệp FDI phát triển, nhưng không kéo theo sự phát triển của doanhnghiệp trong nước Công nghiệp phụ trợ không phát triển theo các hoạt động đầu tưnước ngoài, mục tiêu tăng tỷ lệ nội địa hóa các ngành công nghiệp không đạt được(như công nghiệp ô tô, điện tử, cơ khí…) Ngược lại, nhiều trường hợp doanh nghiệpFDI còn chèn ép các doanh nghiệp trong nước khi kinh doanh trong cùng ngành nghề

2.4 MỘT SỐ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM 2.4.1 Kinh nghiệm của Mỹ

Theo báo cáo của Cơ quan thuế nội địa Mỹ (IRS), từ năm 1998 đến 2005, khoảng2/3 các công ty Mỹ và khoảng 68% các công ty nước ngoài hoạt động kinh doanh tại

Mỹ trốn thuế thu nhập doanh nghiệp thông qua việc chuyển một lượng lớn thu nhập ranước ngoài để tránh một khoản tiền thuế lên đến 8 tỷ USD mỗi năm Thực tế cho thấy,thuế suất ở Mỹ khoảng 40% cao hơn nhiều quốc gia khác, vì vậy hiện tượng chuyểngiá của các tập đoàn đa quốc gia hoạt động tại Mỹ là khá phổ biến Nhằm chống lạihiện tượng trên, Mỹ đã có một số biện pháp chống chuyển giá tương đối nghiêm ngặt.Đạo luật cơ bản và đầy đủ nhất về việc chống chuyển giá Mỹ ban hành đạo luật IRSSex Đạo luật này quy định nguyên tắc căn bản giá thị trường là cơ sở cho thực hiệnđịnh giá chuyển giao giữa các MNC với nhau nhưng đồng thời là cổ vũ cho việc vận

Trang 27

dụng phương pháp định giá chuyển giao trên cơ sở chiết tách lợi nhuận Mỹ quy định

cụ thể các nguyên tắc chế tài dành cho hành vi chuyển giá:

- Phạt chuyển giá trong giao dịch: là loại hình chế tài khi có chênh lệch đáng kểtrong giá chuyển giao nếu so sánh với căn bản giá thị trường theo quy định IRS Sec

482, mà hậu quả là số thu nhập chịu thuế không phản ánh đúng thực tế của nghiệp vụphát sinh

+ Với mức sai phạm trọng yếu đáng kể: mức phạt chuyển giá 20% dành chotrường hợp có sai sót đáng kể do chuyển giá vượt quá 200% (hay dưới 50%) so vớimức mà IRS Sec 482 xác định được

+ Với tổng mức sai phạm trọng yếu: Mức phạt chuyển giá 40% danh cho trườnghợp cso sai sót đáng kể do chuyển giá vượt quá 400% (hay dưới 25%) so với mức màIRS Sec 482 xác định được

- Phạt bổ sung: Phạt bổ sung được áp dụng nếu phần thu nhập chịu thuế sau khitính theo IRS Sec 482 tăng vượt mức quy định có thể cho trước

+ Phạt bổ sung 20% trên số thuế truy thu sẽ áp dụng trong trường hợp phần thunhập tăng thêm vượt quá mức thấp nhất trong hai mức sau: 5 triệu USD hoặc 10% trêntổng số thuế phải nộp

+ Phạt bổ sung 40% trên số thuế truy thu sẽ áp dụng trong trường hợp phần thunhập tăng thêm vướt qua mức thấp nhất trong hai mức sau: 20 triệu USD hoặc 20%trên tổng số thuế phải nộp

Ở Mỹ, việc lưu trữ và nộp trình các tài liệu hồ sơ liên quan đến giá bán, các giátrị mua bán, chuyển nhượng và các chứng từ khác không được quy định bởi luật.Nhưng trên thực tế, các công ty cần lưu giữ các tài liệu đó liên tục trong nhiều nămliền để phục vụ cho việc điều tra, xem xét khi có yêu cầu Kể từ khi có yêu cầu, công

ty phải gửi đầy đủ tài liệu đến IRS trong vòng tối đa 30 ngày Việc xuất trình đầy đủcác chứng từ có ý nghĩa lơn trong việc xác định đâu là phương pháp tốt nhất sẽ được

sử dụng để xem xét hành vi chuyển giá

Ngoài ra, Mỹ liên tục nâng cao số lượng và trình độ của đội ngũ nhân viên thuếnhằm phục vụ cho việc điều tra chống chuyển giá được thực hiện chính xác và chặtchẽ hơn Năm 2009, cơ quan thuế tuyển chọn thêm 1200 nhân viên và dự định thêm

800 nhân viên trong năm 2010 để thực hiện rà soát, giám sát giá chuyển nhượng (Tạpchí CFO, 1/9/2009)

Trang 28

2.4.2 Kinh nghiệm tại Trung Quốc

Một cuộc khảo sát năm 2007 của Cục Thống kê quốc gia đã cho thấy rằng: gần2/3 doanh nghiệp nước ngoài thua lỗ rõ ràng là đã cố tình thực hiện báo cáo sai sự thật

và đã sử dụng chuyển giá để tránh nộp 30 tỷ Nhân Dân Tệ trong lĩnh vực thuế Do đó,Trung Quốc đã thực hiện chính sách cứng rắn đối với vấn đề chuyển giá, phù hợp vớiquan điểm của các nước phát triển trên thế giới Không giống như các nước Châu Áláng giềng khác, Trung Quốc ban hành các quy định về chống chuyển giá và kế hoạchkiểm toán đặc biệt Đồng thời, Trung Quốc cũng đào tọa hơn 500 viên chức thuế quan

để thực hiện việc thanh tra hoạt động chuyển giá

Các quy định về chống chuyển giá của Trung Quốc được xây dựng trên căn bảndựa theo các hướng dẫn của OECD Cơ quan thuế đã tham khảo các ý kiến tư vấn củachuyên gia Châu Âu và Hoa Kỳ khi xây dựng luật chống chuyển giá vào năm 1998 Vìthế, không lấy gì làm ngạc nhiên khi thấy luật này sử dụng nguyên tắc giá thị trường

và các phương pháp định giá chuyển giao tương tự như quy định của Hoa Kỳ và cácnước thuộc OECD Tuy nhiên có 4 điểm khác nhau cơ bản mà luật chông chuyển giácủa Trung Quốc được tăng cường hơn so với luật của Mỹ được tóm tắt như sau:

- Một là, nghĩa vụ thuế ở Trung Quốc không được hợp nhất, một tập đoàn đa quốc giađầu tư thành lập một vài công ty con tại nước này có thể sẽ chịu thanh tra về chốngchuyển giá nhiều lần Quan trọng hơn, những vấn đề đã được cục thuế Thượng Hảichấp nhận nhưng không có nghĩa là sẽ được chấp thuận bởi cơ quan thuế ở QuảngChâu Trong khi đó, các công ty hoạt động kinh doanh ở những nơi khác nhau trên đấtnước Hoa Kỳ là đối tượng của một cuộc thanh tra chống chuyển giá duy nhất

- Hai là, các điều chỉnh về định giá chuyển giao được cơ quan thuế Trung Quốc đưa rakhông chỉ áp đặt để tính thuế thu nhập mà còn tính thuế giá trị gia tăng, thuế nhậpkhẩu và các khoản thuế khác nếu có liên quan Trong khi đó, cơ quan thuế nội địa Hoa

Kỳ (IRS) chỉ áp đặt và tính lại phần thuế thu nhập

- Ba là, ở Hoa Kỳ, các chỉ số về mức nâng giá hợp lý do cơ quan thuế lập nêndựa trên các nguồn thông tin mà mọi người đều biết, kể cả đối tượng nộp thuế Nhưng

ở Trung Quốc, cơ quan thuế dường như xây dựng các dữ liệu từ việc so sánh bí mật.Các dữ liệu này hỗ trợ cho Chính phủ khi thỏa thuận với đối tượng nộp thuế

- Bốn là, các cơ quan thuế ở Trung Quốc thích áp dụng phương pháp chiết tách lợinhuận trong việc xác định giá theo nguyên tắc thị trường hơn là các cơ quan thuế ở

Trang 29

Hoa Kỳ IRS chỉ lựa chọn phương pháp chiết tách lợi nhuận là cách cuối cùng để ápdụng, bởi vì theo họ phương pháp này không đảm bảo tính ép buộc lên đối tượng nộpthuế Trong khi đó, các cơ quan thuế của Trung Quốc thì không sẵn lòng để hỏi công

ty mẹ ở nước ngoài sẽ kiếm được lợi nhuận bao nhiêu trên các sản phẩm do họ làm ratrên đất nước Trung Quốc

2.4.3 Kinh nghiệm tại một số nước ASEAN

Hiện nay, nhiều nước trên thế giới đã có luật về chống chuyển giá và có hội đồngquốc gia về quản lý chống chuyển giá để ngăn chặn các hành vi chuyển giá Tại khuvực Đông Nam Á, một số nước đã xây dựng và thực hiện Luật Chống chuyển giá từnhiều năm nay Những quy định trong Luật chống chuyển giá của một số nước đã bámsát được các quy định chung của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) và ápdụng cho cả công ty trong nước và nước ngoài phù hợp với đặc điểm riêng Cụ thể:

- Tại Malaysia: Quốc gia này đã luật hóa bằng các quy định cụ thể về việc banhành hai tờ khai về chuyển giá, một tờ khai dành cho các doanh nghiệp (DN) nướcngoài và một tờ khai dành cho các DN trong nước Hai tờ khai này được phát chonhững đối tượng nộp thuế được chọn, sau khi khai đầy đủ, các DN này sẽ nộp tờ khailại cho Cục Thuế Malaysia Sau đó, Cục Thuế quốc gia này sẽ xem xét, rà soát liệu cónên thanh tra DN này hay không Điểm nhấn đáng quan tâm nhất trong quy định này làCục Thuế Malaysia muốn thấy ở tờ khai này là cấu trúc của tập đoàn, những chi phí

mà công ty phải trả như chi phí bản quyền, chi phí quản lý DN, những bằng chứngchứng minh DN có hưởng những dịch vụ đó và trả đúng với những dịch vụ mà DN đãhưởng hay không Cơ quan thuế ở Malaysia sẽ dùng các tờ khai này để thanh tra thuế

và thanh tra chuyển giá đối với các công ty

Ngoài ra, phương thức áp dụng, xác định các DN có thực hiện chuyển giá haykhông được Malaysia áp dụng là so sánh giá thị trường tự do, phương pháp dựa vàogiá bán ra, phương pháp cộng chi phí vào giá vốn, phương pháp phân chia lợi nhuận,phương pháp lợi tức thuận từ giao dịch Cùng với đó, Malaysia không có quy địnhriêng về chế tài trong luật mà tuân thủ mức phạt dao động từ 100-300% số thuế bị pháthiện gian lận Đồng thời, Malaysia cũng công khai danh tính những DN thực hiệnchuyển giá chiếm đoạt tiền thuế nhà nước

- Tại Thái Lan: Luật Chống chuyển giá được ban hành và thực hiện từ hơn 10năm nay Theo đó, cơ quan thuế quốc gia này đã thiết lập được một cơ sở dữ liệu khá

Trang 30

đầy đủ, có thể dễ dàng đối chiếu được DN nào giao dịch theo hoặc không theo giá thịtrường Để đối phó với hiện tượng chuyển giá, ngay từ năm 2004, Thái Lan đã thiếtlập cơ sở dữ liệu thông tin về các công ty đang là mục tiêu để tiến hành kiểm tra sổsách và điều tra, cụ thể là các công ty có các chỉ số “rủi ro cao”, như là thua lỗ liên tụchơn hai năm; tổng số lợi nhuận âm; không nộp thuế trong một giai đoạn; có các giaodịch đáng kể của cùng nhóm liên quan và khả năng sinh lãi thấp so với các đối thủcạnh tranh.

Để ngăn chặn, xử lý tình trạng chuyển giá, cơ quan thuế của Thái Lan tập trungvào các chứng cứ giá cả chính xác, tất cả cần hợp lý để chứng tỏ sự minh bạch, tài liệucập nhật để chỉ ra cơ cấu và mối liên hệ của nhóm các công ty, bao gồm tính chất củamỗi một kinh doanh, ngân sách của nó, kế hoạch kinh doanh và các chiến lược tàichính Cùng với đó là tài liệu giải thích doanh số của công ty, kết quả hoạt động, cácgiao dịch quốc tế của công ty với các tổ chức kinh doanh liên kết Các chính sách giá,khả năng sinh lãi của mỗi một sản phẩm và thông tin thị trường, sự đóng góp lợi nhuậncủa mỗi bên nhận các chức năng thực hiện, các tài sản đã sử dụng và sự rủi ro tất cảphải được đưa vào tính toán và có khả năng sử dụng cho việc khảo sát tường tận Càngphát triển, các nền kinh tế càng có sự phụ thuộc và vấn đề chuyển giá càng trở nên dễdàng hơn Cùng với đó, khó khăn trong việc điều tra chuyển giá cũng ngày càng lớnhơn, cách thức tiến hành điều tra để đi tới một kết luận thỏa đáng đòi hỏi có sự chuẩn

bị nghiêm túc và sự hợp tác chặt chẽ giữa các quốc gia

Đặc biệt, cơ quan thuế ở Thái Lan thanh tra rất kỹ, kiểm tra kỹ các chi phí trongnội bộ tập đoàn chẳng hạn như chi phí quản lý, chi phí bản quyền Họ không chỉ xemcông ty có hợp đồng nghiêm túc hoặc hóa đơn hợp lệ, mà còn nhìn vào bản chất giaodịch xem có giao dịch đó diễn ra hay không hoặc đối với chi phí quản lý chung thì đó

là chi phí thật sự hay chi phí chia ra cho những người nắm giữ hợp đồng đó Mặt khác,Cục Thuế Thái Lan thường xem xét những công ty được ưu đãi về thuế và so sánh lợinhuận của các công ty này với những công ty không được ưu đãi về thuế xem lợinhuận của 2 nhóm công ty này có giống nhau hay không và thực hiện bước thanh tra

- Tại Singapore: Là quốc gia có nhiều tập đoàn lớn của nước ngoài hoạt động nhưngSingapore lại không có luật riêng để quản lý hoạt động chuyển giá Các quy định liênquan đến hoạt động chuyển giá nằm trong luật chung về thuế Những hướng dẫn về

Ngày đăng: 22/05/2020, 14:55

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Lê Thanh Hà, luận án tiến sĩ kinh tế, “Kiểm soát hoạt động chuyển giá trong các chi nhánh công ty đa quốc gia tại Việt Nam” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiểm soát hoạt động chuyển giá trongcác chi nhánh công ty đa quốc gia tại Việt Nam
4. Nguyễn Văn Phượng, luận văn tiến sỹ kinh tế, “Kiểm soát Nhà nước đối với gian lận chuyển giá tại Việt Nam” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiểm soát Nhà nước đối vớigian lận chuyển giá tại Việt Nam
1. Petra Sandslatt ( November 2008), Transfer Pricing, University of Gothenburg Sách, tạp chí
Tiêu đề: Petra Sandslatt ( November 2008), "Transfer Pricing
2. Trang web www.transferpricing.com: “ Transfer Pricing Resources for the OECD”, “ OECD approves the 2009 Transfer Pricing Guideline” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trang web www.transferpricing.com: “ "Transfer Pricing Resources for theOECD”, “ OECD approves the 2009 Transfer Pricing Guideline
7. Báo cáo tình hình thu hút đầu tư nước ngoài của Cục đầu tư nước ngoài, Bộ Kế Hoạch và Đầu Tư - http://www.mpi.gov.vn/Pages/tinbai.aspx?idTin=44949 Link
2. Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 207- Tháng 8. 2019, tr54 Khác
8. Wikipedia và một số tài liệu tham khảo khác Tiếng Anh Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w