ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ --- NGUYỄN ĐỨC VƯỢNG QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI NGÂN HÀNG TMCP CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM – CHI NHÁNH THĂNG
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
NGUYỄN ĐỨC VƯỢNG
QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI NGÂN HÀNG TMCP CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM –
CHI NHÁNH THĂNG LONG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ CÁC TỔ CHỨC TÀI CHÍNH
CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
Hà Nội – 2020
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
NGUYỄN ĐỨC VƯỢNG
QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI NGÂN HÀNG TMCP CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM –
CHI NHÁNH THĂNG LONG
Chuyên ngành: Quản trị các tổ chức tài chính
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn với tiêu đề “Quản trị rủi ro tín dụng đối với
doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Thăng Long” hoàn toàn là kết quả nghiên cứu của chính bản thân tôi và
chưa được công bố trong bất cứ một công trình nghiên cứu nào của người khác Trong quá trình thực hiện luận văn, tôi đã thực hiện nghiêm túc các quy tắc đạo đức nghiên cứu; các kết quả trình bày trong luận văn là sản phẩm nghiên cứu, khảo sát của riêng cá nhân tôi; tất cả các tài liệu tham khảo sử dụng trong luận văn đều được trích dẫn tường minh, theo đúng quy định
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính trung thực của số liệu và các nội dung khác trong luận văn của mình
Học viên thực hiện luận văn
Trang 4
LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn tới quý thầy cô trong khoa tài chính-ngân hàng của trường Đại học Kinh Tế - Đại học Quốc Gia Hà Nội đã trang
bị cho tôi những kiến thức quý báu trong thời gian qua
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới PGS-TS Lê Trung Thành, người hướng dẫn khoa học của luận văn, đã giúp tôi tiếp cận thực tiễn, phát triển đề tài và đã tận tình hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này
Bên cạnh đó, tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn sự hỗ trợ nhiệt tình trong quá trình thu thập số liệu, thu thập bảng câu hỏi khảo sát của các cán bộ các phòng tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam- chi nhánh Thăng Long
Sau cùng, tôi xin chân thành cảm ơn tới gia đình và bạn bè đã tận tình hỗ trợ, góp ý và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian tôi học tập và nghiên cứu, giúp cho tôi có thêm động lực để cố gắng hoàn thiện luận văn một cách tốt nhất
Xin gửi lời cảm ơn chân thành tới tất cả mọi người
Hà Nội, tháng năm 2020
Học viên
Nguyễn Đức Vượng
Trang 5MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT i
DANH MỤC BẢNG ii
DANH MỤC HÌNH iii
DANH MỤC SƠ ĐỒ iv
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG 5
1.1.Tổng quan tình hình nghiên cứu 5
1.2 Những vấn đề cơ bản về rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại 10
1.2.1 Khái niệm về tín dụng và rủi ro tín dụng 10
1.2.2 Đặc điểm của rủi ro tín dụng 11
1.2.3 Phân loại rủi ro tín dụng 12
1.2.4 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 13
1.3 Quản trị rủi ro tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng thương mại 17
1.3.1 Các vấn đề chung về quản trị rủi ro tín dụng của NHTM 17
1.3.2 Chính sách và quy trình tín dụng 20
1.3.3 Mô hình quản trị rủi ro 22
1.3.4 Quy trình quản trị rủi ro tín dụng 25
1.3.5 Các chỉ tiêu đánh giá quản trị rủi ro tín dụng 34
1.4 Nhân tố ảnh hưởng đến quản trị rủi ro tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ 38 1.4.1 Nhóm nhân tố chủ quan 38
1.4.2 Nhóm nhân tố khách quan 40
1.5 Tổng quan về doanh nghiệp vừa và nhỏ 41
1.5.1 Khái niệm 41
1.5.2 Khái quát đặc điểm 43
1.5.3 Vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế 45
1.6 Các hình thức tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ 47
Trang 61.6.1 Phân loại theo thời gian 47
1.6.2 Phân loại theo hình thức cấp tín dụng 47
1.7 Quản trị rủi ro tín dụng của Ngân hàng Thương mại đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại một số nước trên thế giới 49
1.7.1 Quản trị rủi ro tín dụng của Ngân hàng Thương mại đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại một số nước trên thế giới 49
1.7.2 Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam 52
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP VÀ THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 54
2.1 Quy trình nghiên cứu 54
2.2 Phương pháp nghiên cứu 54
2.2.1 Phương pháp luận 54
2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 55
2.1.3 Phương pháp xử lý số liệu thứ cấp (Phân tích số liệu) 56
2.1.4 Phương pháp điều tra khảo sát 56
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI NGÂN HÀNG TMCP CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM – CHI NHÁNH THĂNG LONG 61
3.1 Tổng quan về Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Thăng Long 61
3.1.1 Lịch sử hình thành và quá trình phát triển 61
3.1.2 Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Thương mại cổ phần Công thương Việt Nam - chi nhánh Thăng Long 63
3.2 Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Thăng Long 71
3.2.1 Bộ máy quản trị rủi ro 71
3.2.2Chính sách tín dụng 77
3.2.3 Quy trình cấp tín dụng 81
3.2.4.Quy trình quản trị rủi ro tín dụng 85
3.3 Đánh giá thực trạng quản trị rủi ro tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Thăng Long 86
Trang 73.3.2Các hạn chế còn tồn tại 93
3.3.3.Nguyên nhân của những hạn chế 95
CHƯƠNG 4: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI NGÂN HÀNG TMCP CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM CHI NHÁNH THĂNG LONG 100
4.1 Quan điểm, định hướng hoạt động quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Thăng Long 100
4.1.1 Định hướng hoạt động kinh doanh 100
4.1.2 Quan điểm, định hướng hoạt động quản trị rủi ro tín dụng 100
4.2 Giải pháp tăng cường quản trị rủi ro tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Thăng Long 101
4.2.1 Hoàn thiện bộ máy quản trị rủi ro tín dụng 101
4.2.2 Nâng cao chất lượng công tác thẩm định và phân tích tín dụng 102
4.2.3 Hoàn thiện hệ thống thông tin tín dụng 104
4.2.4 Nâng cao chất lượng công tác kiểm soát nội bộ và quản lý khoản vay 105
4.2.5 Tăng cường sử dụng các biện pháp về phân tán rủi ro 106
4.2.6 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 107
4.2.7 Hiện đại hóa hệ thống công nghệ thông tin 108
4.3 Một số kiến nghị 109
4.3.1 Kiến nghị với Nhà nước 109
4.3.2 Kiến nghị đối với Ngân hàng nhà nước 111
4.3.3 Kiến nghị với Ủy ban giám sát tài chính Quốc gia 111
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 114
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Trang 10DANH MỤC HÌNH
Trang 11DANH MỤC SƠ ĐỒ
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trải qua chặng đường 30 năm, hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam đã không ngừng phát triển về quy mô, chất lượng hoạt động và hiệu quả trong kinh doanh Bên cạnh những mặt tích cực, NHTM Việt Nam còn tồn tại nhiều điểm khiếm khuyết như nợ xấu cao, thanh khoản chưa tốt và quản trị kém chính là những điểm cần chú ý
Ngày nay, trong nền kinh tế thị trường, cung cấp tín dụng là chức năng kinh
tế cơ bản của NHTM Tuy nhiên, hoạt động tín dụng của NHTM luôn tiềm ẩn rủi ro cao như: Rủi ro lãi suất, rủi ro ngoại hối, rủi ro thanh khoản, rủi ro do khách hàng không trả được nợ khi đến hạn,… Rủi ro tín dụng luôn được coi là loại rủi ro có tỷ trọng lớn và phức tạp nhất Khi ngân hàng rơi vào trạng thái tài chính khó khăn nghiêm trọng thì nguyên nhân thường phát sinh từ hoạt động tín dụng của ngân hàng Việc ngân hàng không thu hồi được vốn, có thể do ngân hàng đã buông lỏng quản lý, cấp tín dụng không minh bạch, áp dụng một chính sách tín dụng kém hiệu quả, hay do nền kinh tế bị khủng hoảng không lường trước được, rủi ro tín dụng xảy
ra không chỉ gây ra những tổn thất về tài chính mà còn gây nên những thiệt hại to lớn về uy tín của ngân hàng, làm giảm sút niềm tin của công chúng đối với cả hệ thống ngân hàng Thực tế hoạt động tín dụng của NHTM nói chung và của ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Thăng Long (Vietinbank – CN Thăng Long) nói riêng thời gian qua cho thấy: Hoạt động tín dụng chiếm tỷ lệ 60%
- 80% hoạt động của ngân hàng, mang lại lợi nhuận lớn nhất trong kinh doanh ngân hàng, bên cạnh đó rủi ro trong hoạt động này cũng rất lớn, chất lượng tín dụng chưa tốt, thể hiện ở tỷ lệ nợ quá hạn và nợ xấu còn ở mức cao so với khu vực và thế giới,
xu hướng phát triển không bền vững Do đó, việc nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro
và đặc biệt là quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng TMCP Việt Nam đang là vấn đề cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn Thống kê số liệu từ BCTC quý II/2018 của 15
Trang 13ngân hàng đang niêm yết trên sàn cho thấy, tính đến ngày 30/6/2018, tổng nợ xấu của 15 ngân hàng ở mức gần 70,9 nghìn tỷ đồng, tăng 9,8% so với đầu năm Trong
đó, tổng nợ nhóm 5, tức nợ có khả năng mất vốn tính đến cuối tháng 6/2018 cũng tăng 17,9% so với đầu năm, lên mức gần 38,2 nghìn tỷ đồng, chiếm 54% tổng nợ xấu, trong khi con số này hồi cuối năm 2017 ở mức 50,2% Nợ xấu ngân hàng đang
có chiều hướng tăng mặc dù các ngân hàng đã áp dụng đề án tái cấu trúc hệ thống ngân hàng Mặt khác, do tình hình kinh tế vĩ mô chưa cải thiện, hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp còn khó khăn, các ngân hàng áp dụng chuẩn mực
về phân loại nợ chặt chẽ hơn nên vấn đề nợ xấu và xử lý nợ xấu vẫn còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động của toàn hệ thống ngân hàng Việt Nam nói chung và Vietinbank – CN Thăng Long nói riêng Tại Vietinbank – CN Thăng Long, dù đã có nhiều nỗ lực nhưng thời gian gần đây tỷ lệ nợ xấu vẫn còn cao so với các chi nhánh khác của Vietinbank và cả hệ thống ngân hàng Bên cạnh đó, công tác quản trị rủi ro tín dụng vẫn gặp phải nhiều khó khăn, bất cập Vậy làm thế nào để nâng cao được chất lượng công tác quản tị rủi ro tín dụng của Vietinbank Thăng Long? Đây là một vấn đề đang được ban lãnh đạo Vietinbank – CN Thăng Long đặc biệt lưu tâm
Từ những thực tế trên cho thấy tầm quan trọng của công tác quản trị rủi ro tín dụng trong quá trình trong quá trình tái cơ cấu tài chính ngân hàng Đề tài nghiên cứu “ Quản trị rủi ro tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Thăng Long” mang tính cấp thiết và
có tính thực tiễn cao nhằm giải quyết được thách thức mà các NHTM Việt Nam nói chung và Vietinbank – CN Thăng Long đang phải đối mặt
Câu hỏi nghiên cứu
Một số câu hỏi nghiên cứu đối với quá trình thực hiện luận văn được đặt ra như sau:
- Nội dung của quản trị rủi ro tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ của NHTM?
- Tiêu chí đánh giá công tác quản trị rủi ro tín dụng đối với doanh nghiệp vừa
và nhỏ là gì ?
Trang 14- Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Vietinbank – CN Thăng Long diễn biến như thế nào? Những vấn đề nào cần được khắc phục và giải quyết ?
nhỏ tại Vietinbank – CN Thăng Long cần thực hiện những giải pháp chủ yếu nào?
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu giải quyết 03 vấn đề cơ bản sau:
1 – Hệ thống hóa các vấn đề lý luận về quản trị rủi ro tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ của NHTM
2 – Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động quản trị rủi ro tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Vietinbank – CN Thăng Long Từ đó đi đến những nhận định về những mặt tích cực cũng như những mặt hạn chế của công tác quản trị này
3 - Đề xuất giải pháp hoàn thiện công tác nâng cao chất lượng quản trị rủi
ro tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Vietinbank – CN Thăng Long
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ của NHTM và thực tiễn công tác quản trị rủi
ro tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Vietinbank – CN Thăng Long
4 Những đóng góp của luận văn
Phân tích chỉ ra các vấn đề ảnh hưởng đến hoạt động quản trị rủi ro tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ của NHTM
Đề xuất giải pháp hoàn thiện công tác nâng cao chất lượng quản trị rủi ro tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Vietinbank – CN Thăng Long
Trang 155 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn gồm 4 chương:
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý luận về quản trị rủi ro tín dụng
Chương 2: Phương pháp luận và thiết kế nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng hoạt động quản trị rủi ro tín dụng đối với doanh nghiệp vừa
và nhỏ tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Thăng Long
Chương 4: Giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao năng lực quản trị rủi ro tín dụng đối
với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Thăng Long
Trang 16CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN
TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Dựa vào các báo cáo thực tế đã tìm hiểu và thu thập trên website của Ngân hàng Công thương Việt Nam, các bài báo trên thông tin đại chúng, các báo cáo nội
bộ của Ngân hàng,… tác giả đã sử dụng các số liệu và thông tin đó làm cơ sở để phân tích cho bài luận văn của mình Bên cạnh đó, tác giả cũng tham khảo thêm các bài luận văn thạc sỹ có cùng đề tài nghiên cứu về vấn đề quản trị RRTD của các NHTM Việt Nam nói chung và Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam nói riêng Dưới đây là một số bài luận văn có giá trị cao về quản trị RRTD trong hệ thống NHTM:
Nguyễn Tất Lê Ngân( 2016), Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản
lý RRTD tại Ngân hàng Công thương Việt Nam Luận văn đã hệ thống hóa
lý thuyết về quản trị RRTD trong hoạt động ngân hàng và những yêu cầu mới đối với ngân hàng Công thương Việt Nam trong tình hình hội nhập kinh tế quốc tế Phân tích, đánh giá đúng thực trạng hoạt động tín dụng và quản lý RRTD của ngân hàng Công thương Việt Nam, những kết quả đạt được và những yếu kém, tìm ra nguyên nhân và rút ra bài học kinh nghiệm Bên cạnh
đó, bài viết cũng đề ra các giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả quản trị RRTD tại Ngân hàng Công thương Việt Nam, bảo đảm an toàn và phát triển bền vững của hoạt động tín dụng của ngân hàng trong tình hình hội nhập kinh tế quốc tế Nhưng luận văn trên lại không đưa ra biện pháp giúp hoàn thiện hệ thống thông tin tín dụng cũng như hệ thống công nghệ thông tin Đây chính là điểm hạn chế của bài viết này
Bùi Ngọc Quỳnh(2013), Quản trị RRTD theo Basel II tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam Luận văn đã hệ thống hóa những nội dung chủ yếu của hiệp ước Basel nói chung, quản trị RRTD theo Basel II nói riêng Đánh giá sự cần thiết của việc ứng dụng quản trị RRTD
Trang 17theo Basel II tại các NHTM và tình hình thực tế tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam Đồng thời, tác giả cũng đề xuất các giải pháp thúc đẩy quản trị RRTD theo Basel II tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thông Việt Nam Tuy nhiên, tác giả chỉ đưa ra các giải pháp
về chiến lược, chính sách, công nghệ, thông tin, nhân lực mà không đưa ra giải pháp cụ thể hoàn thiện quy trình tín dụng tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam Đây cũng chính là điểm hạn chế của bài viết này
Phạm Thị Thúy Hằng (2018), Quản lý RRTD tại ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam Luận văn văn đã phân tích được thực trạng hoạt động tín dụng, nguyên nhân dẫn đến RRTD và các phương pháp quản lý RRTD tại ngân hàng Trên cơ sở đó đưa ra một số biện pháp nhằm quản lý RRTD tại ngân hàng Tuy nhiên, trong quá trình phân tích thực trạng chất lượng quản lý RRTD, tác giả chỉ phân tích được chất lượng tín dụng theo vùng kinh tế, theo quy mô, theo ngành kinh tế mà không phân tích tỷ trọng nợ xấu so với dư nợ cho vay của ngân hàng Đối với các khoản nợ xấu, ngân hàng thực hiện việc phân loại nợ, đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng trên cơ
sở hàng tháng để phục vụ cho công tác quản lý chất lượng và RRTD Đối với các khoản vay bằng nguồn tài trợ, ủy thác của bên thứ ba mà bên thứ ba cam kết chịu toàn bộ trách nhiệm xử lý rủi ro khi xảy ra và các khoản cho vay bằng nguồn vốn góp đồng tài trợ của tổ chức tín dụng khác mà ngân hàng không chịu bất cứ rủi ro nào thì ngân hàng không phải trích lập dự phòng rủi ro nhưng phải phân loại nợ nhằm đánh giá đúng tình hình tài chính, khả năng trả nợ của khách hàng phục vụ cho công tác quản lý rủi ro quản lý tín dụng Đây cũng chính là điểm hạn chế của đề tài trên
Ngô Thị Thanh Trà( 2010), Các biện pháp hạn chế RRTD tại ngân hàng TMCP Ngoại thương- chi nhánh Nam Sài Gòn Tác giả đã đưa ra được những chỉ tiêu quan trọng để đánh giá tình hình RRTD đó là:
- Tỷ lệ nợ quá hạn = số dư nợ quá hạn / tổng số dư nợ của ngân hàng
- Tỷ lệ khách hàng có nợ quá hạn = số khách hàng quá hạn/ tổng số
Trang 18khách hàng có dư nợ
- Một chỉ tiêu quan trọng khác đánh giá RRTD là tỷ lệ nợ xấu Thông thường,
tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng dưới 5% vẫn được xem là trong giới hạn an toàn cho phép Tỷ lệ nợ xấu = số dư nợ xấu phát sinh/ tổng dư nợ của ngân hàng Nợ xấu bao gồm nợ được phân nhóm 2, nhóm 3, nhóm 4, nhóm 5 theo quy chế phân loại nợ của NHNN, hoặc quy chế phân loại nợ của NHTM được NHNN chấp thuận Thêm vào đó, tác giả đã bám sát theo các chỉ tiêu trên để thu thập số liệu, xử lý
số liệu về các chỉ tiêu trên và dựa vào đó để phân tích thực trạng RRTD tại ngân hàng Từ đó, tác giả đã đưa ra được các biện pháp hạn chế RRTD khá phù hợp dựa trên tình hình hoạt động tín dụng thực tế của ngân hàng này Tuy nhiên, đề tài tập trung vào hạn chế RRTD, chưa tập trung vào QTRRTD; các chỉ tiêu tác giả đưa ra còn chưa đủ để phân tích, đánh giá thực trạng RRTD tại ngân hàng này, vì thế đây cũng là hạn chế của đề tài
Nguyễn Thảo Quỳnh(2010), Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản trị RRTD doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Vietcombank thời kỳ khủng hoảng kinh tế Bài viết phân tích ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế- tài chính thế giới đến hoạt động tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Vietcombank và thực trạng công tác quản trị RRTD doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Vietcombank,
từ đó đưa ra những mặt tích cực và những mặt còn hạn chế của công tác quản trị này Tác giả trên đã đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản trị RRTD doang nghiệp nhỏ và vừa tại Vietcombank Đây là bài viết được tác giả đánh giá cao, phân tích số liệu rất chi tiết và đưa ra biện pháp rất thực tế với ngân hàng Ngoại thương Việt Nam Tuy nhiên, tác giả của bài viết trên chỉ phân tích quản lý RRTD cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ mà không phân tích các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế lớn Trong khi đó, tỷ lệ cho các tổ chức kinh tế lớn vay vốn chiếm khoảng 60% dư nợ vay vốn của ngân hàng Hơn nữa, bài viết trên chưa đưa ra được mô hình quản trị rủi ro tín dụng của Vietcombank và giải pháp nhằm hạn chế những nhược điểm trong mô hình đó Đây cũng là điểm hạn chế của bài viết này
Trang 19Sau khi tìm hiểu nghiên cứu và tham khảo các luận văn trên, tác giả nhận thấy các công trình trên:
- Về thời gian nghiên cứu: chủ yếu nghiên cứu giai đoạn từ năm 2010 đến 2018
- Về không gian: Có cả ở trụ sở chính và một số chi nhánh cụ thể
Khoảng trống nghiên cứu
Các nghiên cứu trên đây đã góp phần quan trọng đưa ra những lí luận cơ bản
về quản trị rủi ro tín dụng trong thời gian qua Tuy nhiên, các nghiên cứu đề cập trên đây còn một số “khoảng trống” trong nghiên cứu về quản trị rủi ro tín dụng mà điển hình là quản trị rủi ro tín dụng đối với Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt nam giai đoạn 2010 – 2018
Các “khoảng trống” trong nghiên cứu lí luận về rủi ro tín dụng, quản trị rủi ro tín dụng và thực trạng rủi ro tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng đối với DNVVN tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt nam – Chi nhánh Thăng Long:
- Cơ sở lí luận chưa có tính hệ thống và cập nhật về rủi ro tín dụng trong giai đoạn hiện nay, khi mà việc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đang thực thi lộ trình quản trị rủi ro trong đó có rủi ro tín dụng theo Hiệp ước Basel II Bên cạnh đó, Việt Nam đã có sự phát triển và hội nhập kinh tế ngày càng sâu rộng với kinh tế các quốc gia trong khu vực và quốc tế
- Các nghiên cứu về quản trị rủi ro tín dụng hầu hết chỉ đưa ra các giải pháp là “ngăn ngừa” rủi ro, “hạn chế” rủi ro tín dụng, “quản lý” rủi ro tín dụng hay
“kiểm soát” rủi ro tín dụng chứ không đi vào “quản trị” rủi ro, tức là coi rủi ro như
là một vấn đề mà ngân hàng phải “chấp nhận” hay nói cách khác coi rủi ro là vấn đề luôn xảy ra trong hoạt động tín dụng của ngân hàng, rủi ro luôn song hành và phụ thuộc vào “khẩu vị” rủi ro của mỗi ngân hàng
- Nhiều công trình nghiên cứu phân tích rủi ro mang tính chất định tính, chưa chỉ ra được mô hình để quản trị rủi ro, đo lường rủi ro, tổn thất ngân hàng phải gánh chịu khi rủi ro tín dụng xảy ra, chưa phản ánh được mức độ chấp nhận rủi ro của ngân hàng, chưa chỉ ra được mục tiêu của chất lượng tín dụng và cách thức để xây dựng hệ thống theo dõi cơ cấu và chất lượng tổng thể danh mục đầu tư tín dụng
Trang 20- Các đề tài chủ yếu xây dựng các giải pháp hạn chế hay ngăn ngừa rủi
ro cho các ngân hàng thương mại Việt Nam, tuy nhiên hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam rất đa dạng về hình thức sở hữu, trình độ phát triển, nhân lực, năng lực tài chính, công nghệ và hơn hết đó là cách hiểu cũng như “khẩu vị” chấp nhận rủi ro đối với mỗi ngân hàng là khác nhau Do vậy, sẽ không có mô hình quản trị rủi
ro chung cho tất cả các ngân hàng thương mại hay các giải pháp tăng cường quản trị rủi ro tín dụng đúng và phù hợp cho tất cả các ngân hàng thương mại
- Nhiều công trình nghiên cứu trước năm 2010 nên cả về cơ sở lí luận cũng như thực tiễn hoạt động do vậy các giải pháp đưa ra cũng sẽ không còn phù hợp với giai đoạn hiện nay trong quá trình phát triển và hội nhập ngày càng cao của các ngân hàng thương mại Trong quá trình hội nhập ngày càng sâu về kinh tế và tài chính thì hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam bên cạnh việc tiếp nhận công nghệ quản trị ngân hàng hiện đại thì cũng tiềm ẩn những rủi ro của hệ thống tài chính quốc tế cũng như những áp lực về cạnh tranh ngày càng gay gắt trong lĩnh vực ngân hàng
- Bên cạnh đó cũng chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách toàn diện quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam nói chung và ở các Chi nhánh nói riêng, đặc biệt trong giai đoạn 2010 -
2018 cũng như đưa ra đề xuất hệ thống các giải pháp để tăng cường quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam và tại các Chi nhánh của NHCT
Vì vậy, đề tài “Quản trị rủi ro tín dụng đối với DNVVN tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam – Chi nhánh Thăng Long” được phát triển nhằm
bổ sung phần nghiên cứu về cơ sở lí luận và từ cơ sở lí luận trên vận dụng trong điều kiện thực tiễn thực hiện quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam – CN Thăng Long trong thời gian từ năm 2010 - 2018, từ đó đề xuất các giải pháp tăng cường quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ
phần Công thương Việt nam – CN Thăng Long đến năm 2030
Trang 211.2 Những vấn đề cơ bản về rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại
1.2.1 Khái niệm về tín dụng và rủi ro tín dụng
1.2.1.1 Khái niệm về tín dụng
Tín dụng là một phạm trù kinh tế và là sản phẩm của nền kinh tế hàng hóa Mặc dù có nhiều khái niệm về tín dụng khác nhau nhưng có thể nêu một cách tổng quát như sau: “ Tín dụng là quan hệ chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị (dưới hình thái tiền tệ hay hiện vật) từ người sở hữu sang người sử dụng sau một thời gian nhất định thu hồi về một lượng giá trị lớn hơn giá trị ban đầu
Theo điều 4, luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 16/06/2010 quy định: “ Hoạt động tín dụng là việc tổ chức tín dụng nguồn vốn tự có, nguồn vốn huy động để cấp tín dụng…”, “ Cấp tín dụng là việc tổ chức tín dụng thỏa thuận để khách hàng sử dụng một khoản tiền với nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ khác” Tín dụng ngân hàng có hai đặc trưng cơ bản là: i) sự tin tưởng, tín nhiệm giữa ngân hàng và khách hàng; ii) tính thời hạn và hoàn trả Vì vậy, khi một trong hai đặc trưng này bị vi phạm sẽ dẫn tới rủi ro tín dụng cho ngân hàng
Như vậy, bất kỳ sự chuyển giao quyền sử dụng tạm thời có hoàn trả về tài sản đều phản ánh quan hệ tín dụng; mối quan hệ tín dụng này được thể hiện dưới các hình thức như: cho vay, chiết khấu, bảo lãnh và cho thuê tài chính Trong thực tế, cho vay (tín dụng bằng tiền) là hoạt động tín dụng quan trọng nhất và chiếm tỷ trọng lớn nhất tại các ngân hàng thương mại (NHTM) Chính vì vậy, thuật ngữ tín dụng và cho vay thường được thay thế và đan xen nhau
Tín dụng được coi là hoạt động quan trọng nhất của các NHTM vì phần lớn lợi nhuận của ngân hàng thu được từ hoạt động này Theo các nghiên cứu thống kê, có khoảng 70% thu nhập của ngân hàng là từ hoạt động tín dụng Tuy nhiên, đây cũng
là nghiệp vụ tiềm ẩn nhiều rủi ro cho ngân hàng Nghiên cứu cho thấy rủi ro tín dụng (RRTD) chiếm đến 70% tổng rủi ro trong hoạt động ngân hàng Kinh doanh ngân hàng là kinh doanh rủi ro, theo đuổi lợi nhuận với rủi ro chấp nhận được là bản chất của ngân hàng
Trang 221.2.1.2 Khái niệm về rủi ro tín dụng
Theo quan niệm của ủy ban Basel thì “Rủi ro tín dụng được định nghĩa một cách đơn giản là khả năng bên vay hoặc đối tác của ngân hàng không thực hiện các nghĩa vụ theo các điều khoản đã thỏa thuận” RRTD có phạm vi khá rộng, không chỉ trong quan
hệ tín dụng giữa ngân hàng với khách hàng mà trong cả các hoạt động khác như đầu tư, phái sinh mà ngân hàng thực hiện
Theo cách hiểu tại các ngân hàng Việt Nam thì “RRTD trong hoạt động ngân hàng là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết.” –theo Thông tư số 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Như vậy, từ nhiều định nghĩa khác nhau có thể tóm lược khái niệm về RRTD như sau: RRTD là vấn đề phát sinh do bên được cấp tín dụng, bên có nghĩa vụ hoặc đối tác không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết
1.2.2 Đặc điểm của rủi ro tín dụng
Xuất phát từ bản chất của mối quan hệ tín dụng và khái niệm cũng như dấu hiệu của rủi ro tín dụng, có thể thấy những đặc điểm sau:
- Rủi ro tín dụng mang tính gián tiếp: Đặc điểm này xuất phát từ nguyên nhân là trong quan hệ tín dụng, ngân hàng chuyển giao quyền sử dụng vốn cho khách hàng trong một thời gian nhất định nên những thiệt hại, thất thoát về vốn xảy ra trước hết là trong quá trình sử dụng vốn của khách hàng Biểu hiện rõ ràng của đặc điểm này là trong thực tế, ngân hàng thường biết sau, biết không đầy đủ và chính xác những khó khăn, thất bại trong hoạt động kinh doanh của khách hàng có thể gây ra rủi ro tín dụng
- Rủi ro tín dụng có tính tất yếu luôn tồn tại và gắn liền với hoạt động tín dụng của ngân hàng: Thông tin không cân xứng là nguyên nhân khiến các nhà kinh tế cũng như các ngân hàng cho rằng kinh doanh ngân hàng thực chất là quản lý rủi ro ở mức phù hợp và đạt được lợi nhuận tương ứng Do không thể có được thông tin cân xứng về việc sử dụng vốn vay cho hoạt động kinh doanh của khách hàng đi vay, bất cứ một khoản cho vay nào cũng tiềm ẩn những nguy cơ rủi ro đối với ngân hàng
Trang 231.2.3 Phân loại rủi ro tín dụng
1.2.3.1 Phân loại theo nguồn gốc phát sinh
Sơ đồ 1.1:Phân loại rủi ro tín dụng theo nguồn gốc phát sinh
(Nguồn: Chrinko R.S Guill (2000, “A framework for assessing credit risk in
deposi-tory institution”)
Rủi ro giao dịch là một hình thức của RRTD phát sinh từ những hạn chế
trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng Rủi ro giao dịch có 3 loại chính:
Rủi ro lựa chọn: Là rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín dụng khi ngân hàng lựa chọn những phương án vay vốn có hiệu quả để ra quyết định cho vay
Rủi ro bảo đảm : Phát sinh từ các tiêu chuẩn bảo đảm như các điều khoản trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản bảo đảm, chủ thể bảo đảm, cách thức đảm bảo và mức cho vay trên giá trị tài sản bảo đảm
Rủi ro nghiệp vụ: Là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng tín dụng và việc xử
lý các khoản nợ xấu
Rủi ro danh mục: là hình thức của RRTD phát sinh từ những hạn chế trong
quản lý danh mục cho vay của ngân hàng Rủi ro danh mục được chia làm hai loại:
Rủi ro nội tại: Xuất phát từ các yếu tố, các đặc điểm mang tính riêng biệt bên trong quá trình hoạt động hoặc sử dụng vốn của các chủ thể đi vay tùy theo ngành hoặc lĩnh vực kinh tế
Trang 24 Rủi ro tập trung: Là trường hợp ngân hàng tập trung vốn cho vay quá nhiều đối với một số khách hàng, cho vay quá nhiều doanh nghiệp hoạt động trong cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế; hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định, hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao
Phân loại theo tính chất của rủi ro:
- Rủi ro khách quan: là rủi ro do các nguyên nhân khách quan gây ra như
thiên tai, dịch bệnh, chiến tranh, hỏa hoạn, người vay bị chết, mất tích… dẫn đến thất thoát vốn vay mặc dù ngân hàng cho vay và người đi vay đã thực hiện đầy đủ các quy định về quản lý và sử dụng khoản vay
- Rủi ro chủ quan: Là rủi ro thuộc về lỗi ngân hàng hoặc bên đi vay vì vô tình hay cố ý gây ra dẫn đến thất thoát vốn vay Đối với rủi ro chủ quan nếu có những biện pháp hợp lý có thể khắc phục hoặc hạn chế được loại rủi ro này
Phân loại theo cơ cấu rủi ro: Theo phân loại này rủi ro tín dụng được chia thành rủi ro theo khoản cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn
1.2.4 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu
1.2.4.1 Các chỉ tiêu đánh giá chung hoạt động của ngân hàng
Chỉ tiêu về huy động vốn: Đây là nghiệp vụ khởi đầu, tạo điều kiện cho mọi hoạt động của NHTM Khi một NHTM cần vốn cho hoạt động kinh doanh của mình thì có thể huy động ở một số nguồn chính như : Nguồn từ chủ sở hữu, Nguồn tiền gửi, Nguồn vay mượn và một số nguồn khác
Chỉ tiêu sử dụng vốn: Huy động được vốn nhàn rỗi, NHTM phải cân nhắc
để hiệu quả hoá những nguồn vốn huy động được Với mục tiêu chủ yếu là an toàn
và sinh lời, hoạt động sử dụng vốn của NHTM tập trung ở ba nghiệp vụ chính: Dự trữ, Cho vay và Đầu tư
Chỉ tiêu về hoạt động môi giới trung gian: Nền kinh tế càng phát triển, các dịch vụ Ngân hàng theo đó cũng phát triển theo để đáp ứng yêu cầu ngày càng đa dạng của công chúng Thực hiện các hoạt động trung gian mang tính dịch vụ sẽ đem lại cho các NHTM những khoản thu nhập khá quan trọng Điều cần lưu ý là các dịch vụ Ngân hàng sẽ giúp NHTM phát triển toàn diện ở các nước phát triển, các NHTM cạnh tranh với nhau bằng con đường “ phi giá”, tức là luôn có những dịch
Trang 25vụ mới cung cấp tiện nghi cho khách hàng Dịch vụ Ngân hàng càng phát triển thể hiện xã hội công bằng văn minh, nền công nghiệp càng phát triển Lợi nhuận của NHTM không chỉ ở đầu tư, cho vay, mà gần phần nửa ở các dịch vụ, nhưng lại là lĩnh vực ít rủi ro
Nghiệp vụ trung gian của NHTM rất đa dạng và phong phú như : Dịch vụ chuyển tiền từ địa phương này sang địa phương khác, Dịch vụ chuyển khoản, Dịch vụ khấu trừ tự động, Thu chi hộ, Qua đó NHTM sẽ thu được một khoản phí dịch vụ
Các hoạt động ngoài bảng tổng kết tài sản: Ngoài các giao dịch được phản ánh trong nội bảng ( huy động vốn, sử dụng vốn, môi giới trung gian), các NHTM còn tham gia vào hoạt động chưa được thừa nhận là tài sản nợ hoặc tài sản có Các hoạt động này hiện đang được theo dõi ở các tài khoản ngoại bảng Một số hoạt động ngoại bảng chủ yếu như: Bảo lãnh công nợ, các hợp đồng có liên quan đến lãi suất, các giao dịch về hối đoái như giao dịch Swaps, Options, Futrues, các chứng từ
có giá, Mặc dù sự biến động của các giao dịch ngoại bảng không làm thay đổi kết cấu, cân số của bảng tổng kết tài sản, nhưng vì nó cũng là một hiện tượng kinh tế phát sinh trong quá trình kinh doanh nên độ rủi ro của nó cũng tác động mạnh mẽ đến độ an toàn của NHTM
1.2.4.2 Các chỉ tiêu đánh giá rủi ro tín dụng
1.2.4.2.1 Các chỉ tiêu trực tiếp
Nợ quá hạn: Là chỉ tiêu cơ bản phản ánh RRTD Nợ quá hạn sẽ phát sinh khi đến thời hạn trả nợ theo cam kết, người vay không có khả năng trả được nợ một phần hay toàn bộ khoản vay cho người cho vay Tùy theo thời gian quá hạn, khoản nợ này sẽ được xác định là nợ đủ tiêu chuẩn, nợ cần chú ý, nợ dưới tiêu chuẩn, nợ nghi ngờ, hoặc là nợ có khả năng mất vốn Nợ quá hạn được phản ánh qua 2 chỉ tiêu sau:
Trang 26Nếu ngân hàng có chỉ tiêu nợ quá hạn và số khách hàng có nợ quá hạn lớn thì ngân hàng đó đang có mức rủi ro cao và ngược lại
Nợ xấu: Là các khoản tiền cho khách hàng vay, mà khó hoặc không thể thu hồi được do DN đó làm ăn thua lỗ hoặc phá sản, nợ phải trả tăng, DN mất khả năng thanh toán Nợ xấu sẽ phản ánh một cách rõ nét chất lượng tín dụng của ngân hàng thông qua việc đánh giá cả thời hạn quá hạn của khoản vay và tiêu chí đánh giá rủi ro của khoản vay Nợ xấu được phản ánh rõ nhất qua các chỉ số:
Tỷ lệ nợ xấu = Nợ xấu/Tổng dư nợ
Tỷ lệ nợ xấu trên vốn chủ sở hữu = Nợ xấu/Vốn chủ sở hữu
Tỷ lệ nợ xấu trên quỹ dự phòng tổn thất = Nợ xấu/Quỹ dự phòng tổn thất
Dự phòng RRTD: Dự phòng rủi ro đánh giá khả năng chi trả của ngân hàng khi rủi ro xảy ra Mục đích của việc sử dụng dự phòng rủi ro của một ngân hàng là nhằm bù đắp tổn thất đối với những khoản nợ của ngân hàng xảy ra trong trường hợp khách hàng không có khả năng chi trả do giải thể, phá sản, chết, mất tích, hoặc khi khoản nợ được xếp vào nhóm 5
Dự phòng tín dụng được tính trên số dư nợ gốc của khách hàng bao gồm: (i)
Dự phòng cụ thể - để bảo hiểm rủi ro cụ thể cho từng khoản vay; (ii) Dự phòng chung - bảo hiểm các rủi ro chung không xác định trong danh mục tín dụng và toàn
bộ dự phòng được tính vào chi phí hoạt động của doanh nghiệp
Việc sử dụng dự phòng được sử dụng theo nguyên tắc là sử dụng dự phòng cụ thể đối với từng khoản nợ trước, phát mại tài sản đảm bảo để thu hồi nợ,
và cuối cùng nếu phát mãi tài sản không đủ thu hồi nợ thì mới sử dụng dự phòng chung Mỗi ngân hàng cần có cách tính dự phòng phù hợp vừa đủ để bù đắp rủi ro vừa tránh để chi phí tăng cao ảnh hưởng đến thu nhập ròng Các chỉ số thể hiện dự phòng RRTD:
Tỷ lệ dự
Dự phòng RRTD được trích lập
x 100% Tổng dư nợ cho kỳ báo cáo
Trang 271.2.4.2.2 Các chỉ tiêu gián tiếp
Các chỉ tiêu gián tiếp mặc dù không phản ánh cụ thể RRTD của ngân hàng, tuy nhiên các chỉ tiêu này có sự thay đổi lớn của kỳ này so với kỳ trước hay so với trung bình của hệ thống ngân hàng thì các chỉ tiêu này là dấu hiệu phản ánh RRTD của ngân hàng Trên cơ sở đó, ngân hàng có thể xem xét thêm các chỉ tiêu khác để đánh giá toàn diện về RRTD của ngân hàng
Quy mô tín dụng: Không phải là chỉ tiêu phản ánh trực tiếp RRTD nhưng
nếu quy mô tín dụng tăng quá nóng, không tương ứng với khả năng kiểm soát của ngân hàng thì lúc đó, quy mô tín dụng sẽ phản ánh RRTD Quy mô tín dụng thể hiện rõ qua các chỉ tiêu:
Dư nợ trên tổng tài sản = Tổng dư nợ/Tổng tài sản
Dư nợ bình quân trên số lượng cán bộ tín dụng = Tổng dư nợ/Tổng số cán bộ tín dụng bình quân
Số lượng khách hàng trên số lượng cán bộ tín dụng = Tổng số khách hàng/Tổng số cán bộ tín dụng bình quân
Tốc độ tăng trưởng dư nợ tín dụng so với tốc độ tăng trưởng kinh tế = Tốc độ tăng trưởng tín dụng/Tốc độ tăng trưởng kinh tế
Nếu ngân hàng mở rộng quy mô tín dụng theo hướng nới lỏng tín dụng cho các khách hàng sẽ dẫn đến rủi ro là khách hàng sử dụng vốn sai mục đích, không kiểm soát được mục đích sử dụng vốn vay… điều này sẽ gây rủi ro cho ngân hàng
Cơ cấu tín dụng: Phản ánh mức độ tập trung tín dụng trong một ngành
nghề, lĩnh vực, loại tiền do đó, tuy không phản ánh trực tiếp mức độ rủi ro, nhưng nếu cơ cấu tín dụng quá thiên lệch vào những lĩnh vực mạo hiểm, sẽ phản ánh RRTD tiềm năng Cơ cấu tín dụng chia theo các nhóm: Cơ cấu tín dụng theo ngành (Nếu tập trung cho vay vào những ngành có độ rủi ro cao thì rủi ro không trả được
nợ ngân hàng cũng cao); Cơ cấu tín dụng theo loại hình (DN nhà nước, DN tư nhân,
DN có vốn đầu tư nước ngoài); Cơ cấu tín dụng theo loại tiền tệ (RRTD xảy ra khi
có sự biến động mạnh hay bất lợi về tỷ giá; khả năng không đáp ứng của nguồn vốn huy động theo từng loại tiền tệ đối với dư nợ cho vay)
Trang 281.3 Quản trị rủi ro tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng thương mại
1.3.1 Các vấn đề chung về quản trị rủi ro tín dụng của NHTM
1.3.1.1 Khái niệm quản trị rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng (RRTD) tồn tại tất yếu trong hoạt động kinh doanh của các NHTM Nếu hiểu rõ rủi ro thì ta có thể chấp nhận rủi ro một cách có ý thức, có biện pháp để đối phó với rủi ro RRTD có thể đo lường và tính toán trước được nên có thể quản trị được RRTD
Quản trị RRTD là quá trình ngân hàng tác động đến hoạt động tín dụng thông qua bộ máy và công cụ quản lý để phòng ngừa, cảnh báo và đưa ra các biện pháp nhằm hạn chế đến mức thấp nhất các tổn thất từ rủi ro trong hoạt động tín dụng ngân hàng
Theo ủy ban Basel thì quản trị RRTD là việc thiết lập cơ chế nhận biết, đo lường, ứng phó và kiểm soát được các rủi ro hiện tại và rủi ro tiềm ẩn trong hoạt động tín dụng một cách đầy đủ nhằm tối đa hóa lợi nhuận được điều chỉnh theo yếu
tố rủi ro bằng cách duy trì mức độ RRTD trong phạm vi chấp nhận đươc
Như vậy, để quản trị RRTD, đồng nghĩa với việc ngân hàng thương mại sẽ
sử dụng các biện pháp nghiệp vụ với mục tiêu cao nhất là nhằm kiểm soát tín dụng, hạn chế hậu quả xấu trong hoạt động tín dụng mà từ đó sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới các rủi ro khác trong hoạt động của ngân hàng và dẫn tới tình trạng đổ vỡ
1.3.1.2 Sự cần thiết của quản trị rủi ro tín dụng
Hoạt động tín dụng đã và đang là hoạt động kinh doanh chính đem lại nguồn thu nhập chủ yếu cho ngân hàng Tuy nhiên, cùng với việc đem lại thu nhập đáng kể cho ngân hàng thì lĩnh vực tín dụng cũng là lĩnh vực có rủi ro lớn nhất RRTD gây
ra hậu quả lớn cho ngân hàng, khách hàng, nền kinh tế và ảnh hưởng đến xã hội
Rủi ro trong hoạt động tín dụng là điều không thể tránh khỏi, nó tồn tại khách quan cùng với sự tồn tại của hoạt động tín dụng Quản trị RRTD có vai trò quan trọng trong việc quản lý và kiểm soát tỷ lệ tổn thất tín dụng ở một mức độ nhất định đảm bảo cho hoạt động tín dụng được an toàn, nhằm nâng cao hiệu quả kinh
Trang 291.3.1.3 Mục tiêu của quản trị rủi ro tín dụng
Quản trị RRTD một cách hiệu quả, đảm bảo cho hoạt động tín dụng nằm trong phạm vi rủi ro tín dụng có thể chấp nhận được sẽ hỗ trợ các ngân hàng phân
bổ vốn hiệu quả hơn trong các hoạt động tín dụng, giảm thiểu các thiệt hại phát sinh
từ RRTD và tăng thêm lợi nhuận kinh doanh cho ngân hàng
Mục tiêu chính của các nhà quản trị RRTD là đảm bảo lợi nhuận tối đa ở các mức có thế chấp nhận được Trong điều kiện cạnh tranh về cung cấp dịch vụ tài chính – Ngân hàng gia tăng và bị áp lực từ nhiều phía, do đó có thể nói rằng tình trạng rủi ro và đặc biệt là rủi ro tín dụng của ngân hàng đang hết sức được chú trọng
Quản trị RRTD góp phần nâng cao uy tín và tạo ra lợi thế cạnh tranh cho ngân hàng Khi ngân hàng hoạt động kinh doanh có hiệu quả, có năng lực tài chính lành mạnh và quản lý được rủi ro trong giới hạn cho phép sẽ tạo được niềm tin khách hàng và nâng cao được vị thế, uy tín đối với các tổ chức kinh tế, tổ chức tín dụng trong và ngoài nước Đây là điều vô cùng quan trọng giúp ngân hàng đạt được mục tiêu tăng trưởng và phát triển bền vững cũng như thực hiện thành công các hoạt động hợp tác, liên doanh, liên kết trong xu thế hội nhập
1.3.1.4 Nguyên tắc của quản trị RRTD theo Basel
Basel là Ủy ban Giám sát ngân hàng do ngân hàng Trung ương các nước G10 thành lập từ thế kỷ 18 dưới sự bảo trợ của Ngân hàng thanh toán quốc tế Hiệp định Basel II ra đời thay thế cho hiệp định vốn ngân hàng quốc tế (Basel I) được thực hiện
từ năm 1988 nhằm giúp các ngân hàng quản trị rủi ro hiệu quả hơn Ủy ban Basel đã ban hành 17 Nguyên tắc về quản lý nợ xấu và thực chất là đưa ra các nguyên tắc trong quản trị rủi ro tín dụng, đảm bảo tính hiệu quả và an toàn trong hoạt động cấp tín dụng Các nguyên tắc này tập trung vào các nội dung cơ bản sau đây:
Xây dựng môi trường tín dụng thích hợp (3 nguyên tắc)
Nguyên tắc 1: Phê duyệt và xem xét chiến lược RRTD định kỳ, xem xét
mức độ rủi ro có thể chấp nhận được, mức độ khả năng sinh lời,…
Nguyên tắc 2: Thực hiện chiến lược chính sách tín dụng, xây dựng các quy
trình thủ tục cho các khoản vay riêng lẻ và toàn bộ danh mục tín dụng nhằm xác định, định giá, quản lý, kiểm soát RRTD
Trang 30Nguyên tắc 3: Xác định và quản lý RRTD trong mọi sản phẩm và hoạt
động, đảm bảo tất cả các sản phẩm, hoạt động mới phải trải qua đầy đủ các thủ tục, quy trình kiểm soát thích hợp và được phê duyệt đầy đủ
Thực hiện cấp tín dụng lành mạnh (4 nguyên tắc)
Nguyên tắc 4: Hoạt động trong phạm vi các tiêu chí cấp tín dụng lành
mạnh được xác định rõ ràng: những hiểu biết về người vay, mục tiêu, cơ cấu tín
dụng và nguồn thanh toán
Nguyên tắc 5: Xây dựng các hạn mức tín dụng cho từng loại khách hàng vay
vốn và nhóm khách hàng vay vốn để tạo ra các loại hình rủi ro khác nhau nhưng vẫn có
thể theo dõi được trên sổ sách kế toán kinh doanh, nội bảng và ngoại bảng
Nguyên tắc 6: Cần có quy trình rõ ràng trong việc phê duyệt các khoản tín
dụng mới cũng như sửa đổi, gia hạn, tái cơ cấu, tái tài trợ cho các khoản tín dụng
hiện tại
Nguyên tắc 7: Việc cấp tín dụng cần được thực hiện trên cơ sở giao dịch
công bằng giữa các bên
Duy trì một quá trình quản lý, đo lường và theo dõi tín dụng phù hợp (6 nguyên tắc)
Nguyên tắc 8: Cần có hệ thống quản lý một cách cập nhật đối với các danh mục đầu tư có rủi ro tín dụng
Nguyên tắc 9: Cần có hệ thống theo dõi điều kiện của từng khoản tín dụng
riêng lẻ, bao gồm mức độ đầy đủ của dự phòng RRTD
Nguyên tắc 10: Khuyến khích ngân hàng phát triển và sử dụng hệ thống
xếp hạng tín dụng nội bộ trong quản lý rủi ro tín dụng
Nguyên tắc 11: Ngân hàng cần có hệ thống thông tin và các kỹ thuật phân
tích để đo lường được rủi ro tín dụng trong mọi hoạt động nội và ngoại bảng
Nguyên tắc 12: Phải có hệ thống theo dõi cơ cấu và chất lượng của toàn bộ
danh mục đầu tư tín dụng
Nguyên tắc 13: Xem xét ảnh hưởng của những thay đổi về điều kiện kinh
tế có thể xảy ra trong tương lai
Trang 31 Đảm bảo quy trình kiểm soát đầy đủ với RRTD (4 nguyên tắc)
Nguyên tắc 14: Thiết lập hệ thống xem xét tín dụng độc lập và liên tục,
cần thông báo kết quả đánh giá cho Hội đồng quản trị và ban quản lý cấp cao
Nguyên tắc 15: Quy trình cấp tín dụng phải được theo dõi đầy đủ, cụ thể:
Việc cấp tín dụng phải tuân thủ các tiêu chuẩn thận trọng, thiết lập và áp dụng kiểm soát nội bộ, những vi phạm về các chính sách, thủ tục và hạn mức tín dụng cần
được báo cáo kịp thời
Nguyên tắc 16: Cần có hệ thống khắc phục sớm đối với các khoản tín
dụng xấu, quản lý các khoản tín dụng có vấn đề
Nguyên tắc 17: Các chính sách RRTD của ngân hàng cần chỉ rõ cách thức
- Nâng cao năng lực của cán bộ quản lý RRTD
- Xây dựng hệ thống quản trị và cập nhật thông tin hiệu quả, đầy đủ nhằm duy trì quá trình nhận diện, đo lường, theo dõi tín dụng thích hợp, đáp ứng yêu cầu quản trị RRTD
1.3.2 Chính sách và quy trình tín dụng
Chính sách tín dụng, quy trình tín dụng
Chính sách tín dụng, quy trình tín dụng không những được coi là các văn bản chỉ đạo hoạt động và hướng dẫn hoạt động tín dụng hàng ngày, mà còn được coi là một phương thức để quản trị rủi ro tín dụng đang được các ngân hàng triển khai hiện nay Chính sách tín dụng, quy trình tín dụng giúp cho hoạt động phân tích tín dụng phát triển trong tầm kiểm soát Vì thông qua đó, hoạt động tín dụng được điều tiết từ định hướng phát triển, chính sách ứng xử đối với khách hàng, các bước thực hiện nghiệp vụ tín dụng…, theo đó chỉ ra trách nhiệm của từng người, từng bộ phận liên quan đến hoạt động tín dụng của ngân hàng
Trang 32Chính sách tín dụng quy định những nguyên tắc cơ bản chung nhất của hoạt động tín dụng nhằm thống nhất hoạt động cấp tín dụng đối với các tổ chức và cá nhân trong khuôn khổ mức rủi ro hợp lý
Mỗi ngân hàng có một chính sách tín dụng khác nhau phụ thuộc và điều kiện thị trường, môi trường chính sách vĩ mô, tuy nhiên đều có những nội dung cơ bản sau:
quy định của pháp luật, của NHTW về hoạt động tín dụng; định hướng chiến lược dài hạn của ngân hàng; phương trâm kinh doanh bảo đảm an toàn, hiệu quả và phát triển bền vững
vùng địa lý theo chiến lược của ngân hàng Quy định những trường hợp khuyến khích, hạn chế cho vay, thận trọng trong cho vay, không cho vay
một hoặc một số nhóm khách hàng Để ra quyết định quan hệ tín dụng đối với một đối tượng khách hàng, ngân hàng phải phân tích tình hình khách hàng một cách toàn diện Phải căn cứ danh mục tín dụng ngân hàng: loại tín dụng, kỳ hạn tín dụng, độ lớn tín dụng và chất lượng tín dụng
bộ tín dụng nào cũng được phụ trách và quản lý các khoản vay với mức dư nợ cao, nhà quản lý phải sắp xếp và phân loại đội ngũ cán bộ tín dụng theo nhóm và phân cấp hạn mức cho cán bộ tín dụng, mặt khác, phân cấp hạn mức tới từng đơn vị, tùy vào khả năng và tình hình hoạt động của từng đơn vị và phân cấp hạn mức cho phù hợp
báo cáo thông tin trong nội bộ phòng tín dụng
của khách hàng Quy trình thẩm định đảm bảo tính khoa học đồng thời hạn chế được rủi ro
những loại tài sản không được ngân hàng chấp nhận làm tài sản bảo đảm
Trang 33 Chính sách quản trị rủi ro tín dụng
Để đạt được mục tiêu quản trị RRTD đề ra, các ngân hàng cần thiết lập cho mình chính sách quản trị rủi ro tín dụng phù hợp Các chính sách này là hệ thống các quan điểm, biện pháp, công cụ do HĐQT đề ra trên cơ sở đề nghị của Tổng giám đốc (Giám đốc) nhằm mục tiêu quản lý tốt dư nợ và RRTD Vấn đề thiết lập chính sách quản trị RRTD phải đảm bảo các rủi ro trọng yếu sớm được nhận dạng,
đo lường, kiểm soát đầy đủ và được báo cáo kịp thời cho hội đồng quản trị, Ban kiểm soát và Ban điều hành
RRTD khi đã được xác định cần phải được phân tích, đo lường và đưa ra các biện pháp phù hợp để quản lý và theo dõi Cũng trong quá trình quản lý theo dõi, hệ thống quản trị phải có khả năng xác định tìm ra nguy cơ rủi ro mới và khi đó công việc của quản trị được lặp lại
Chính sách quản trị RRTD bao gồm: Chính sách về cơ cấu tổ chức bộ máy, chính sách quản lý tín dụng; chính sách thẩm định tín dụng, kiểm tra, kiểm soát; chính sách đo lường rủi ro tín dụng, chính sách xử lý nợ có vấn đề
1.3.3 Mô hình quản trị rủi ro
Mô hình quản trị RRTD chính là hệ thống các mô hình bao gồm mô hình tổ chức quản trị rủi ro, mô hình đo lường rủi ro và mô hình kiểm soát rủi ro được xây dựng và vận hành một cách đầy đủ, toàn diện và liên tục trong hoạt động quản lý tín dụng của ngân hàng Mô hình quản lý RRTD phản ánh một cách hệ thống các vấn
đề về cơ chế, chính sách, quy trình nghiệp vụ nhằm thiết lập các giới hạn hoạt động
an toàn và các chốt kiểm soát rủi ro trong một quy trình thực hiện nghiệp vụ; các công cụ đo lường, phát hiện rủi ro; các hoạt động giám sát sự tuân thủ và nhận diện kịp thời các loại rủi ro mới phát sinh và các phương án, biện pháp chủ động phòng ngừa, đối phó một khi có rủi ro xảy ra
Mô hình quản trị RRTD phải hướng vào việc đảm bảo hiệu quả của hoạt động tín dụng và không ngừng nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng của NHTM ngay
cả trong khi điều kiện thị trường đầy biến động, nguy cơ không ngừng tăng Hiện nay ở Việt Nam đang có hai mô hình phổ biến được áp dụng Đó là mô hình quản lý RRTD tập trung và mô hình quản lý RRTD phân tán
Trang 34 Mô hình quản trị RRTD tập trung
Mô hình quản trị RRTD tập trung là công tác thẩm định khách hàng, quản trị rủi ro của ngân hàng được tập trung ở Hội sở chính hoặc theo vùng, miền Các chi nhánh chỉ thẩm định sơ qua hoặc scan hồ sơ gửi về Hội sở chính thẩm định để ra quyết định Mô hình này có sự tách biệt một cách độc lập giữa 3 chức năng: quản lý rủi ro, kinh doanh và tác nghiệp Sự tách biệt giữa 3 chức năng này nhằm mục tiêu hàng đầu là giảm thiểu rủi ro ở mức thấp nhất đồng thời phát huy được tối đa kỹ năng chuyên môn của từng vị trí cán bộ làm công tác tín dụng
Áp dụng mô hình này ngân hàng sẽ: quản trị rủi ro một cách hệ thống trên quy mô toàn ngân hàng, đảm bảo tính cạnh tranh lâu dài; thiết lập và duy trì môi trường quản lý rủi ro đồng bộ, phù hợp với quy trình quản lý gắn với hoạt động của các bộ phận kinh doanh nâng cao năng lực đo lường giám sát rủi ro; Xây dựng chính sách quản lý rủi ro thống nhất cho toàn hệ thống; Tách biệt hoàn toàn, độc lập chức năng kinh doanh, tác nghiệp, quản lý RRTD
đòi hỏi phải đầu tư nhiều công sức và thời gian; Cần phải có phần mềm hỗ trợ cho việc tổng hợp , phân loại số liệu từ chính chi nhánh lên Hội sở chính và theo các tiêu chí nhất định; Đội ngũ cán bộ phải có kiến thức cần thiết và biết áp dụng lý thuyết vào thực tiễn
Mô hình quản trị RRTD phân tán
Mô hình quản trị RRTD phân tán là công tác thẩm định khách hàng, quản trị rủi ro của ngân hàng được thực hiện tại các chi nhánh riêng biệt Hội sở chính chỉ có nhiệm vụ chỉ đạo, định hướng chung và thẩm định những khách hàng vượt quá khả năng cho phép của Chi nhánh Mô hình này chưa có sự tách biệt giữa chức năng quản lý rủi ro, kinh doanh và tác nghiệp Trong đó, phòng tín dụng của ngân hàng thực hiện đầy đủ 3 chức năng và chịu trách nhiệm đối với mọi khâu chuẩn bị cho một khoản vay
Trang 35 Điểm mạnh: Cơ cấu tổ chức đơn giản, gọn nhẹ; giải quyết hồ sơ nhanh, tiết kiệm thời gian cho khách hàng; Xây dựng và triển khai mô hình quản trị RRTD phân tán không mất nhiều công sức và thời gian
Không có sự tách biệt hoàn toàn, độc lập chức năng kinh doanh, tác nghiệp, quản trị RRTD; Việc quản lý hoạt động tín dụng đề theo phương thức từ xa dựa trên số liệu chi nhánh báo cáo lên hoặc quản lý gián tiếp thông qua chính sách tín dụng dẫn đến việc quản trị RRTD gặp nhiều khó khăn
Đinh hướng áp dụng mô hình quản lý rủi ro
Xuất phát từ đòi hỏi thực tiễn của hoạt động tín dụng, theo khuyến cáo của Ủy ban Basel và tuân thủ thông lệ quốc tế, căn cứ vào các điều kiện chung về pháp lý, thị trường, công nghệ, con người, mô hình các NHTM Việt Nam khuyến nghị nên áp dụng mô hình quản trị rủi ro tập trung
Tại Hội sở chính: Tách biệt chức năng ra quyết định tín dụng với chức năng quản lý tín dụng trên cơ sở phân định trách nhiệm và chức năng rõ ràng giữa các bộ phậm thẩm định, phê duyệt tín dụng, quản lý tín dụng và quản lý RRTD
Tại chi nhánh: Tiến hàng tách các bộ phận, chức năng bán hàng (tiếp xúc khách hàng, tiếp thị…), chức năng phân tích tín dụng (Phân tích, thẩm định, dự báo, đánh giá khách hàng…) và chức năng tác nghiệp ( xử lý hồ sơ, theo dõi, giám sát khoản vay, thu nợ, thu lãi…)
Với mô hình này, bộ phận quan hệ khách hàng chịu trách nhiệm tìm kiếm, phát triển và chăm sóc khách hàng Bộ phận này sẽ tìm hiểu nhu cầu của khách hàng, hướng dẫn khách hàng hoàn thiện hồ sơ vay vốn, sau đó chuyển toàn
bộ hồ sơ và các thông tin liên quan đến khách hàng cho bộ phận phân tích tín dụng
Bộ phận phân tích tín dụng kiểm tra thông tin, thu thập các thông tin bổ sung qua các kênh thông tin lưu trữ ngân hàng, hỏi tin qua CIC, tìm hiểu trên các phương tiện thông tin đại chúng… Trên cơ sở thông tin đó, bộ phận phân tích tín
Trang 36dụng thực hiện phân tích, đánh giá toàn bộ các nội dung từ tình hình chung về khách hàng, tình hình tài chính, phương án, dự án vay vốn đến các nội dung về đảm bảo tiền vay Bộ phận phân tích tín dụng trực tiếp báo cáo kết quả, phân tích đánh giá khách hàng lên người phê duyệt tín dụng Kết quả phê duyệt tín dụng sau đó sẽ được chuyển cho bộ phận phân tích tín dụng để lưu trữ thông tin đồng thời được chuyển cho bộ phận quan hệ khách hàng để thực hiện các khâu tiếp theo trong quy trình tín dụng
1.3.4 Quy trình quản trị rủi ro tín dụng
Quy trình quản lý RRTD tại các NHTM được thể hiện tóm tắt qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.2: Quy trình quản lý rủi ro tín dụng
Nguồn: Chrinko R.S Guill (2000, “A framework for assessing credit risk in
depository institution”)
Theo sơ đồ, mặc dù quy trình quản trị rủi ro được phân thành 4 giai đoạn, nhưng các khâu trong quy trình này lại luôn có mối liên hệ gắn bó với nhau và tạo thành một chu trình khép kín để bảo đảm kiểm soát được rủi ro theo mục tiêu đã đề
ra Cụ thể các giai đoạn như sau:
Trang 37những biện pháp phòng ngừa và xử lý kịp thời để tránh tổn thất cho ngân hàng Rất nhiều quan điểm cho rằng, RRTD chỉ xảy ra khi khoản vay đã được đồng ý giải ngân Tuy nhiên nếu như quá trình thẩm định một khoản trước khi cho vay mà không tốt sẽ dẫn đến rủi ro và có thể dẫn đến mất gốc và lãi của khoản vay Do vậy, trong phạm vi nghiên cứu của luận văn: “ Nhận dạng rủi ro tín dụng là một quá trình xuyên suốt và liên tục từ lúc ngân hàng thẩm định khoản vay của khách hàng cho đến khi khách hàng hoàn trả cả vốn gốc và lãi đầy đủ cho ngân hàng; RRTD xuất hiện nếu có dấu hiệu cho thấy khả năng khách hàng không trả nợ đúng, đủ cho ngân hàng”
* Thứ nhất, nhận dạng rủi ro trước khi cho vay
Nhận dạng rủi ro trước khi cho vay được thể hiện qua hoạt động thẩm định các khoản cho vay Đây là bước quan trọng khi đưa ra quyết định cho vay khách hàng Việc thẩm định các khoản cho vay bao gồm thẩm định các thông tin tài chính
và thông tin phi tài chính của khách hàng
- Các chỉ tiêu phi tài chính: Đây là tiêu chí không lượng hóa bằng con số mà phản ánh tính chất đặc điểm của khách hàng bao gồm: Năng lực pháp lý, ý thức trả
nợ của khach hàng trong những lần vay trước,… Những thông tin phi tài chính giúp cho ngân hàng đánh giá được một phần nào đấy những rủi ro tiềm ẩn trong mỗi khoản vay Ngân hàng xem xét nhiều tiêu chí trong việc cho vay khách hàng, nhưng trên thực tế thường tập trung vào 6 tiêu chí cơ bản gọi là 6C bao gồm: Character (tư cách người cho vay), Capacity (năng lực của người vay), Cash flow (dòng tiền), Collateral (Đảm bảo tiền vay), Conditions (Các điều kiện), Control (kiểm soát) Trên cơ sở 6 tiêu chí này, cán bộ tín dụng sẽ trả lời được 3 câu hỏi trước khi tiến hành giải ngân đó là: i) Khách hàng có đủ tư cách?; ii) Hợp đồng tín dụng là đúng đắn và hợp lệ?; iii) Tổ chức tín dụng có thể đòi nợ thuận lợi bằng TSBĐ hay thu nhập khi người vay vỡ nợ?
- Các tiêu chí tài chính: Để tính toán và đánh giá được các chỉ tiêu tài chính cán bộ tín dụng tiến hành thực hiện các công việc sau:
Trang 38Bước 1: Thu thập thông tin và phân tích tình hành tài chính của khách hàng
Nhóm chỉ tiêu về khả năng thanh toán của khách hàng như: Hệ số thanh toán
nợ ngắn hạn, Hệ số thanh toán nhanh, Hệ số thanh toán tức thời Những hệ số thanh toán này quá thấp là dấu hiệu cho thấy khả năng trả nợ của doanh nghiệp là có vấn
đề và điều này có thể gây ra RRTD
Nhóm tiêu chí về hệ số nợ: hệ số nợ phản ánh một đồng tài sản có bao nhiêu đồng là nợ Việc sử dụng nợ sẽ làm phóng đại thu nhập của doanh nghiệp nhưng cũng đồng thời gây ra rủi ro tài chính của doanh nghiệp Đứng trên góc độ ngân hàng, hệ số nợ của doanh nghiệp càng thấp càng tốt bởi khi một đồng nợ được tài trợ bởi nhiều đồng tài sản sẽ an toàn hơn trong việc trả nợ gốc của doanh nghiệp
Nhóm chỉ tiêu hoạt động như: Vòng quay hàng tồn kho, vòng quay các khoản phải thu Các hệ số này phản ánh độ dài của một chu kỳ hàng tồn kho và phải thu Tùy đặc điểm của từng ngành mà chu kỳ của hàng tồn kho và phải thu dài hay ngắn Tuy nhiên, nếu chu kỳ của hàng tồn kho và phải thu quá dài so với trung bình chung của toàn nhành thì điều đó cho thấy tồn đọng vốn lớn của doanh nghiệp dẫn đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp gặp khó khăn và ảnh hưởng rất nhiều đến khả năng chi trả nợ gốc của doanh nghiệp
Nhóm chỉ tiêu khả năng sinh lời: Nếu mức sinh lời của doanh nghiệp cao so với mức sinh lời chung của toàn ngành, điều này một phần bảo đảm cho khả năng thanh toán lãi vay cũng như chi trả một phần gốc tốt cho doanh nghiệp
Bước 2: Xử lý thông tin
Sau khi thu thập thông tin, cán bộ tín dụng có nhiệm vụ sàng lọc nguồn thông tin đã thu thập để phân tích, đánh giá khách hàng, khả năng tài chính của khách hàng Trên cơ sở đó, xác định nguy cơ rủi ro đối với khách hàng để ra quyết định cho vay hay từ chối cho vay, điều kiện cho vay nhằm hạn chế rủi ro
Bước 3: Xác định nguy cơ rủi ro của khách hàng để nhận dạng RRTD
* Thứ hai, nhận dạng rủi ro sau khi cho vay
Đối với quá trình giám sát sau khi cho vay, ngân hàng cần phải thường xuyên đánh giá lại những khoản vay của khách hàng để từ đó phát hiện kịp thời những rủi
Trang 39ro tiềm ẩn để có thể phòng ngừa, ngăn chặn và giảm bớt tổn thất nếu RRTD xảy ra Dưới đây là một số dấu hiệu nhận biết khoản vay của khách hàng có vấn đề:
- Khách hàng có dấu hiệu tránh mặt hoặc cán bộ tín dụng không thể liên hệ với khách hàng
- Thường xuyên vi phạm các điều khoản về tài chính theo hợp đồng đã thỏa thuận
- Doanh thu tăng một cách bất thường
- Khách hàng có những khoản mua sắm lớn không có nguyên nhân chính đáng hoặc nguồn tài chính không phù hợp
- DN không cung cấp đúng hạn, đầy đủ, trung thực các thông tin liên quan Gặp khó khăn khi đi vay vốn tại các ngân hàng khác/Các điều khoản của hợp đồng kém ưu đãi
- Thay đổi những vị trí chủ chốt trong DN
- Ảnh hưởng của rủi ro chính sách và điều kiện tự nhiên đến hoạt động SXKD của DN
- Vợ/Chồng, con của KH lâm vào tình trạng không trả được nợ, hoặc mắc bệnh hiểm nghèo
- Khách hàng có dấu hiệu gia đình li dị, ly thân…
- Uy tín của ban lãnh đạo giảm hoặc có khiếu kiện với thành viên ban lãnh đạo
- Doanh thu bán hàng giảm hoặc tăng một cách bất thường
- Giá bán và chính sách giá bán bất hợp lý
- Gia tăng công nợ/đầu tư đối với công ty con, công ty liên doanh/liên kết hoặc cá nhân có liên quan tới DN
- Gia tăng các khoản nợ phải trả
1.3.4.2 Đo lường, đánh giá RRTD
Đo lường rủi ro là một bước quan trọng sau khi nhận dạng, phát hiện ra RRTD Việc đo lường RRTD giúp cho ngân hàng loại bỏ những khách hàng có mức
độ rủi ro quá cao và nhận biết trước những rủi ro có thể xảy ra
Trang 40Hiện nay, trên thế giới bắt đầu quan tâm một cách bài bản đến việc định lượng RRTD và áp dụng nhiều phương thức cũng như mô hình quản trị rủi ro hiện đại Dưới đây là một số mô hình đo lường RRTD đang được áp dụng:
* Đo lường RRTD theo Basel II
Các NHTM sẽ sử dụng các mô hình dựa trên hệ thống dữ liệu nội bộ để xác định khả năng tổn thất tín dụng Các NHTM sẽ xác định các biến số:
PD (Probability of Default): Xác suất khách hàng không trả được nợ;
LGD (Loss Given Default): Tỷ trọng tổn thất ước tính;
EAD (Exposure At Default): Tổng dư nợ của khách hàng tại thời điểm khách hàng không trả được nợ
Thông qua các biến số trên, NHTM sẽ các định được EL (Expected Loss): tổn thất có thể ước tính Với mỗi kỳ hạn xác định, tổn thất có thể ước tính được tính toán dựa trên công thức sau:
EL = PD*LGD*EAD
Trong đó:
PD: Cơ sở của xác suất này là các số liệu về các khoản nợ trong quá khứ của khách hàng, gồm các khoản nợ đã trả, khoản nợ trong hạn và khoản nợ không thu hồi được
LGD: Là tỷ trọng phần vốn bị tổn thất trên tổng dư nợ tại thời điểm KH không trả được nợ Tỷ trọng tổn thất ước tính có thể tính toán theo công thức sau đây:
LGD = (EAD - Số tiền có thể thu hồi)/EAD
EAD: Tổng dư nợ của KH tại thời điểm KH không trả được nợ Ủy ban sel yêu cầu tính EAD như sau:
Ba-EAD = Dư nợ bình quân + LEQ x hạn mức tín dụng chưa sử dụng bình quân Trong đó: LEQ (Loan Equivalent Exporure) là tỷ trọng phần vốn chưa sử dụng có nhiều khả năng sẽ được KH rút thêm tại thời điểm không trả được nợ
* Đo lường RRTD bằng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ
Hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ là tổ hợp các quy trình phân loại khách hàng theo ngành nghề, quy mô, tính chất sở hữu, bộ chỉ tiêu tài chính và bộ chỉ tiêu