1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LA02.001_Phát triển hoạt động ngân hàng đầu tư tại Việt Nam (Luận Văn A-Z)

211 58 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 211
Dung lượng 4,69 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết hoạt động ngân hàng đầu tư, luận án phântích thực trạng mô hình và nội dung các hoạt động ngân hàng đầu tư tại Việt Nam, từ đó đề xuất một số giải pháp và điều kiện thực hiện nhằm phát triển hoạt độngngân hàng đầu tư tại Việt NamLuận văn AZ nhận viết thuê luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ (LH: 092.4477.999)

Trang 1

LUẬN VĂN A-Z Chuyên nhân viết thuê luận văn thạc sĩ – luận án tiến sĩ

LH: 092.4477.999 (Mr.Luân)

Website: https://luanvanaz.com

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết luận nêu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc cụ thể, rõ ràng Các kết quả của luận án chưa từng được công

bố trong bất cứ công trình khoa học nào

Tác giả luận án

Tạ Hoàng Hà

Trang 3

MỤC LỤC

MỤC LỤC ii

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT v

DANH MỤC CÁC BẢNG vi

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ VÀ BIỂU ĐỒ vii

LỜI MỞ ĐẦU ix

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1

1.1.Tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước 1

1.1.1.Các nghiên cứu về mô hình thực hiện hoạt đông ngân hàng đầu tư 1

1.1.2 Các nghiên cứu về hoạt động ngân hàng đầu tư truyền thống 5

1.1.3 Các nghiên cứu về cấu trúc hoạt động ngân hàng đầu tư 10

1.2.Phương pháp nghiên cứu 12

1.2.1.Tiếp cận vấn đề nghiên cứu 12

1.2.2.Hệ thống dữ liệu 13

1.2.3.Phương pháp nghiên cứu 14

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ 24

2.1.Hoạt động ngân hàng đầu tư 24

2.1.1.Khái niệm, vai trò và các mô hình hoạt động ngân hàng đầu tư 24

2.1.2.Các hoạt động ngân hàng đầu tư 31

2.2 Phát triển hoạt động ngân hàng đầu tư 33

2.2.1 Khái niệm 33

2.2.2 Các chỉ tiêu phản ánh sự phát triển hoạt động ngân hàng đầu tư 34

2.3 Các điều kiện phát triển và nhân tố tác động tới hoạt động ngân hàng đầu tư 42

2.3.1 Các điều kiện 42

2.3.2 Các nhân tố tác động 45

2.4 Hoạt động NHĐT một số nước trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 55

2.4.1 Bài học từ sự chuyển đổi sang hệ thống ngân hàng tổng hợp tại Trung Quốc 55

2.4.2 Bài học từ hoạt động ngân hàng đầu tư tại Nhật Bản 57

2.4.3 Bài học kinh nghiệm từ sự phá sản của ngân hàng Lehman Brothers 58

Trang 4

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG

ĐẦU TƯ TẠI VIỆT NAM 62

3.1 Tổng quan về hoạt động ngân hàng đầu tư tại Việt Nam 62

3.2 Cơ sở pháp lý đối với hoạt động ngân hàng đầu tư tại Việt Nam 63

3.2.1 Luật các Tổ chức Tín dụng và vai trò của ngân hàng thương mại 63

3.2.2 Luật Chứng khoán và vai trò của các công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ 64

3.2.3 Hệ thống các văn bản luật khác 65

3.2.4 Cơ chế giám sát thị trường tài chính 66

3.3 Thực trạng phát triển hoạt động ngân hàng đầu tư tại Việt Nam 67

3.3.1 Thực trạng tổ chức hoạt động ngân hàng đầu tư 67

3.3.2 Thực trạng hoạt động ngân hàng đầu tư 79

3.3.3 So sánh hoạt động ngân hàng đầu tư giữa NHTM và CTCK độc lập 86

3.3.4 Đo lường hiệu quả hoạt động ngân hàng đầu tư: Cách tiếp cận phi tham số với mô hình Bao kỹ thuật (DEA) 94

3.3.4.1 Mô tả mẫu dữ liệu nghiên cứu 94

3.3.4.2 Chỉ định mô hình DEA 95

3.3.4.3 Kết quả ước lượng hiệu quả kỹ thuật và chỉ số Malmquist bằng DEA 96

3.4 Đánh giá thực trạng hoạt động ngân hàng đầu tư tại Việt Nam 101

3.4.1 Đánh giá mô hình tổ chức hoạt động ngân hàng đầu tư tại Việt Nam 101

3.4.2 Đánh giá nội dung hoạt động ngân hàng đầu tư tại Việt Nam 112

CHƯƠNG 4: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ TẠI VIỆT NAM 119

4.1 Định hướng phát triển hoạt động ngân hàng đầu tư tại Việt Nam 119

4.1.1 Định hướng phát triển mô hình ngân hàng đầu tư tổng hợp tại Việt Nam 120 4.1.2 Định hướng phát triển mô hình ngân hàng đầu tư chuyên biệt tại Việt Nam 121

4.2 Giải pháp phát triển hoạt động ngân hàng đầu tư tại Việt Nam 123

4.2.1 Nhóm giải pháp chung 123

4.2.1.1 Hoàn thiện cơ sở pháp lý phát triển hoạt động ngân hàng đầu tư 123

4.2.1.2 Đa dạng hóa sản phẩm ngân hàng đầu tư 126

4.2.1.3 Nâng cao chất lượng sản phẩm trên thị trường 127

4.2.1.4 Thu hút vốn đầu tư nước ngoài 129

4.2.1.5 Xây dựng hệ thống đồng bộ các công cụ phòng ngừa rủi ro 129

4.2.1.6 Tăng cường thanh tra giám sát các tổ chức tham gia thị trường 130

Trang 5

4.2.2 Nhóm giải pháp phát triển mô hình ngân hàng tổng hợp 131

4.2.2.1 Kết hợp phát triển hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại với các hoạt động ngân hàng đầu tư 131

4.2.2.2 Lựa chọn mô hình ngân hàng tổng hợp 135

4.2.2.3 Nâng cao vai trò cầu nối các Công ty chứng khoán của các NHTM 138

4.2.3 Nhóm giải pháp phát triển mô hình ngân hàng đầu tư chuyên biệt 139

4.2.3.1 Nâng cao năng lực tổ chức và hoạt động các CTCK, Cty QLQ 139

4.2.3.2 Chính sách thúc đẩy quan hệ trong ngân hàng đầu tư 141

4.2.3.3 Phát triển hoạt động tư vấn mua bán và sáp nhập 143

4.2.3.4.Nâng cao chất lượng hoạt động góp vốn đầu tư 144

4.2.3.5 Tăng cường hoạt động bảo lãnh phát hành 147

4.3 Điều kiện thực hiện các giải pháp 152

4.3.1 Phát triển thị trường vốn 152

4.3.2 Hoàn thiện cơ sở pháp lý về giám sát thị trường tài chính 156

4.3.3 Thành lập tổ chức xếp hạng tín nhiệm ở Việt Nam 158

KẾT LUẬN 160

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CÓ LIÊN QUAN xvii

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO xvii

PHỤ LỤC xxv

Trang 6

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Viết tắt Nguyên văn Tiếng Việt Nguyên văn Tiếng Anh

Rate

sản thế chấp

Mortgage-Backed Securities

trung

Over-The-Counter Market

of Vietnam

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1: Các chỉ tiêu vĩ mô phản ánh sự phát triển của hoạt động NHĐT 37

Bảng 2: Tỷ lệ dự nợ thị trường/GDP tại một số nước trong khu vực năm 2012 (%) 38

Bảng 3: Thị phần ngành ngân hàng đầu tư tại Mỹ giai đoạn 1960-2003 39

Bảng 4: Tỷ trọng các khoản đầu tư của NHTM trên tổng tài sản qua các năm 68

Bảng 5: Thống kê các chỉ tiêu lợi nhuận từ kinh doanh đầu tư CK của NHTM 70

Bảng 6: Kết quả hồi quy mô hình trên bằng SPSS 11.5 với mẫu nghiên cứu 73

Bảng 7: Thống kê Tổng tài sản và Vốn chủ sở hữu CTCK độc lập 77

Bảng 8: M&A từ nước ngoài theo phân ngành 80

Bảng 9: Quy mô và cơ cấu M&A trong nước 81

Bảng 10: Tỷ trọng doanh thu của công ty chứng khoán 85

Bảng 11: Quy mô các công ty con trong lĩnh vực chứng khoán của NHTM 87

Bảng 12: Kiểm định tương quan Tổng tài sản và Vốn của CTCK NHTM và Độc lập 89

Bảng 13: Kiểm định tương quan Doanh thu, Chi phí của CTCK NHTM và Độc lập 90

Bảng 14: Kiểm định tương quan ROA và ROE của CTCK thuộc NHTM và Độc lập 93

Bảng 15: Thống kê tóm tắt các biến được sử dụng trong mô hình DEA 94

Bảng 16: Hệ số tương quan Pearson giữa các biến 95

Bảng 17: Hệ số Hiệu quả Kỹ thuật của các CTCK 96

Bảng 18: Hệ số hiệu quả kỹ thuật các công ty chứng khoán theo phân loại 98

Bảng 19: Số lượng các CTCK có hiệu suất tăng, giảm và không đổi theo quy mô 99

Bảng 20: Kết quả ước lượng các chỉ số Malmquist 100

Bảng 21: Khối lượng và Giá trị niêm yết trên HOSE 102

Bảng 22: Thống kê các chỉ tiêu cơ bản của Thị trường chứng khoán 2000 - 2012 102

Bảng 23: Tăng trưởng GDP, CK Vốn và giá trị vốn hóa 2005 - 2013 103

Bảng 24: Thống kê quy mô vốn các Công ty chứng khoán 105

Bảng 25: Hoạt động của các quỹ đầu tư chứng khoán giai đoạn 2004 - 2010 105

Bảng 26: Thị phần các CTCK 107

Bảng 27: Giá trị niêm yết trái phiếu trên HNX (triệu đồng) 111

Bảng 28: Kiểm định tương quan Vốn và Doanh thu hoạt động NHĐT truyền thống 115

Bảng 29: Tương quan giữa Vốn và Doanh thu môi giới chứng khoán 116

Bảng 30: Tương quan giữa Vốn và Doanh thu đầu tư, kinh doanh chứng khoán 117

Bảng 31: Tương quan giữa Tổng tài sản và doanh thu NHĐT truyền thống 117

Bảng 32: Tương quan giữa Tổng tài sản và doanh thu môi giới chứng khoán 118

Bảng 33: Tương quan giữa Tổng tài sản và doanh thu đầu tư, kinh doanh chứng khoán 118

Trang 8

DANH MỤC CÁCSƠ ĐỒ VÀ BIỂU ĐỒ

Danh mục Sơ đồ

Sơ đồ 1: Hiệu quả kỹ thuật (TE) và Hiệu quả phân phối (AE) 16

Sơ đồ 2: Đường đẳng lượng lồi giấp khúc 16

Sơ đồ 3: Đo lường hiệu quả và điểm yếu đầu vào 18

Sơ đồ 4: Tính toán hiệu quả quy mô theo DEA 20

Sơ đồ 5: Mô hình ngân hàng đầu tư chuyên biệt 28

Sơ đồ 6: Các mô hình ngân hàng tổng hợp 31

Sơ đồ 7: Cấu trúc hoạt động ngân hàng đầu tư 35

Sơ đồ 8: Mô hình các nhân tố ảnh hưởng tới thu nhập ngoài lãi của NHTM 72

Sơ đồ 9: Mô hình hoạt động của ngân hàng đầu tư chuyên biệt 140

Sơ đồ 10: Mô hình đầu tư góp vốn tư nhân 146

Sơ đồ 11: Mô hình liên kết trong bảo lãnh phát hành 152

Danh mục Biểu đồ Biều đồ 1: Phí dịch vụ ngân hàng đầu tư toàn cầu theo sản phẩm (%/tổng) 36

Biều đồ 2: Cấu trúc chi phí của ngân hàng đầu tư tại Mỹ 41

Biều đồ 3: ROE của các loại hình ngân hàng trên thế giới 41

Biều đồ 4: Sự sụt giảm trong mức lãi biên của các sản phẩm ngân hàng đầu tư 43

Biều đồ 5: Theo dõi giá trị trung bình các khoản đầu tư của NHTM qua các năm 68

Biều đồ 6: Tăng trưởng quy mô CTCK thuộc NHTM 69

Biều đồ 7: Tăng trưởng doanh thu CTCK thuộc NHTM 69

Biều đồ 8: Biến động doanh thu của các NHTM 70

Biều đồ 9: Tỷ trọng doanh thu của các NHTM 70

Biều đồ 10: Biến động lợi nhuận từ kinh doanh chứng khoán và góp vốn của NHTM 70

Biều đồ 11: Lợi nhuận trung bình từ hoạt động dịch vụ của các NHTM 71

Biều đồ 12: Tỷ trọng thu nhập từ hoạt động dịch vụ 71

Trang 9

Biều đồ 13: Đồ thị phân phối về lợi nhuận ngoài lãi 74

Biều đồ 14: Đồ thị Q-Q về lợi nhuận ngoài lãi 74

Biều đồ 15: Doanh thu và lợi nhuận của các CTCK thuộc NHTM 76

Biều đồ 16: Tỷ trọng doanh thu của các CTCK thuộc NHTM 76

Biều đồ 17: Phân phối Tài sản và Vốn của các CTCK độc lập 77

Biều đồ 18: Biến động quy mô tài sản và vốn của các CTCK độc lập 77

Biều đồ 19: Biến động doanh thu của các CTCK độc lập 78

Biều đồ 20: Tỷ trọng doanh thu của các CTCK độc lập 78

Biều đồ 21: Giá trị và số thương vụ M&A 79

Biều đồ 22: M&A của các tập đoàn nước ngoài 80

Biều đồ 23: Cơ cấu M&A trong nước 80

Biều đồ 24: Doanh thu Môi giới bình quân của các CTCK giai đoạn 2006-2013 83

Biều đồ 25: Phân bố Tỷ lệ Doanh thu khác/Tổng doanh thu của các CTCK 84

Biều đồ 26: Số lượng CTCK thực hiện BLPH và Tổng doanh thu từ BLPH 85

Biều đồ 27: Số lượng CTCK thực hiện Tư vấn và Tổng doanh thu từ Tư vấn 85

Biều đồ 28: So sánh quy mô vốn và tài sản của các CTCK NHTM 86

Biều đồ 29: Quy mô vốn và tài sản của các CTCK toàn thị trường 89

Biều đồ 30: Thống kê Khối lượng giao dịch trên HOSE 101

Biều đồ 31: Giao dịch toàn thị trường qua các năm trên HOSE 102

Biều đồ 32: Một số chỉ tiêu vĩ mô của thị trường và nền kinh tế 103

Biều đồ 33: Sự phát triển về số lượng và vốn của các CTCK, Cty QLQ 104

Biều đồ 34: Phân phối quy mô các CTCK tại 31/12/2013 105

Biều đồ 35: Mức độ tập trung trong môi giới và bảo lãnh phát hành 108

Trang 10

LỜI MỞ ĐẦU

1 Giới thiệu luận án

Luận án này nghiên cứu các mô hình thực hiện và nội dung các hoạt động ngân hàng đầu tư tại Việt Nam Luận án còn khám phá thêm các khía cạnh lý thuyết khác có thể giải thích cho sự hình thành và phát triển các hoạt động ngân hàng đầu

tư tại Việt Nam.Để nghiên cứu các vấn đề trên, tác giả đã tiếp cận theo phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa phân tích định tính và định lượng Kết quả phân tích thực nghiệm cho thấy:

mối tương quan thuận chiều lên thu nhập ngoài lãi của các NHTM trên cơ sở hợp nhất với α < 5%

mô tài sản cố định và cơ sở vật chất của các NHTM với α < 5%

 Hoạt động kinh doanh chứng khoán không mang lại nhiều lợi nhuận cho NHTM trên cơ sở hợp nhất, kể cả trong các mảng hoạt động phi tín dụng

quy mô (0.782) cao hơn các CTCK độc lập (0.624 & 0.759);

lại, nhóm các CTCK độc lập đa số có hiệu suất tăng theo quy mô;

kỹ thuật, công nghệ và quy mô có giá trị lần lượt là 0.9183, 0.9666 và 0.9671 đều <1

 Mức độ tập trung cao về thị phần môi giới chứng khoán và bảo lãnh phát hành của các CTCK Việt Nam Tuy nhiên bản chất của mức độ tập trung cao này không phải do năng lực vượt trội của các công ty dẫn đầu mà do thị trường kém phát triển

Trang 11

Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, luận án đã rút ra một số hàm ý chính sách và quản lý Luận án cho rằng hoạt động ngân hàng đầu tư (NHĐT) tại Việt Nam có thể phát triển đồng thời theo hai mô hình (i) Ngân hàng đầu tư chuyên biệt và (ii) Ngân hàng tổng hợp/đa năng hạn chế mà không gây ra xung đột lợi ích do mỗi mô hình hướng tới các nhóm khách hàng khác nhau theo lợi thế so sánh riêng Đồng thời luận án cũng đề xuất bộ chỉ tiêu mới phản ánh sự phát triển của hoạt động NHĐT tại Việt Nam theo mức độ phát triển của thị trường, tỷ lệ trái phiếu doanh nghiệp/trái phiếu chính phủ, mức độ tập trung ngành, mức độ vốn hóa và cấu trúc chi phí của đơn vị cung cấp dịch vụ, mức độ chênh lệch ROE giữa NHĐT và NHTM Trên cơ sở đó, luận án cũng đề xuất các nhóm giải pháp chung nhằm hoàn thiện cơ sở pháp lý đồng bộ đối với hoạt động NHĐT và giải pháp cụ thể phát triển

mô hình ngân hàng đầu tư tổng hợp và mô hình ngân hàng đầu tư chuyên biệt

Luận án bao gồm 162 trang, ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, danh mục từ viết tắt, danh mục bảng biểu, danh mục hình vẽ, Luận án được kết cấu thành 04 chương: Chương 1:Tổng quan các công trình nghiên cứu và Phương pháp nghiên cứu; Chương 2: Cơ sở lý luận về phát triển hoạt động ngân hàng đầu tư; Chương 3: Thực trạng phát triển hoạt động ngân hàng đầu tư tại Việt Nam; Chương 4: Giải pháp phát triển hoạt động ngân hàng đầu tư tại Việt Nam

2 Sự cần thiết của đề tài luận án

Nước ta đang trong thời kỳ phát triển mạnh mẽ sau gần 30 năm thực hiện Đổi Mới, xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa Trong bối cảnh hội nhập kinh tế khu vực và thế giới, Việt Nam đã chính thức gia nhập WTO vào tháng 01 năm 2007 và đang trong quá trình đàm phán hiệp định thương mại xuyên Thái bình dương Đây chính là cơ hội để các ngành kinh tế của nước ta mở rộng hoạt động sang các thị trường mới, cùng với đó là những thách thức bởi áp lực cạnh tranh từ các doanh nghiệp nước ngoài với lợi thế về kinh nghiệm và vốn

Trang 12

Với xu thế chung của nền kinh tế, thị trường tài chính Việt Nam trải qua nhiều thay đổi lớn trong thời gian qua Thị trường chứng khoán đã được hình thành

và phát triển sau 14 năm hoạt động với giá trị vốn hóa thị trường tương đương 31% GDP Số lượng các đơn vị tham gia trên thị trường vốn ngày càng tăng với nhiều vai trò khác nhau Các công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ với tư cách là tổ chức trung gian trên thị trường chứng khoán đã thực hiện tốt nhiệm vụ là cầu nối giữa nhà đầu tư và thị trường Bên cạnh đó, các ngân hàng thương mại Việt Nam dần mở rộng phạm vi hoạt động sanglĩnh vực chứng khoán một cách trực tiếp cũng như gián tiếp thông qua các công ty con, công ty liên kết là các công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ thuộc hệ thống Đây là xu thế tất yếu của thị trường bởi nhu cầu về dịch vụ chứng khoán hóa ngày càng tăng khi các doanh nghiệp tìm kiếm nguồn vốn huy động mới trên thị trường vốn để tài trợ cho các dự án dài hạn, bên cạnh kênh huy động truyền thống trên thị trường tiền tệ thông qua vay vốn ngân hàng

Tuy nhiên, các chủ thể tham gia thị trường đang gặp phải những khó khăn, vướng mắc nhất định khi phát triển hoạt động ngân hàng đầu tư Mặc dù với lợi thế

về vốn, thông tin và quan hệ sẵn có từ lĩnh vực tín dụng truyền thống,các ngân hàng thương mại vẫn chưa thực sự tận dụng được các nguồn lực này để cung cấp các dich

vụ tư vấn và bảo lãnh phát hành Danh mục đầu tư kinh doanh chứng khoán của ngân hàng chiếm phần lớn là trái phiếu chính phủ, từ đó cho thấy thị trường vốn chưa tạo được kênh huy động dài hạn cho doanh nghiệp Bên cạnh đó, đa số các công ty chứng khoán và công ty quản lý quỹ độc lập chỉ có nguồn lực khiêm tốn về vốn, từ đó hạn chế khả năng đầu tư, tự doanh Hơn nữa, phần lớn thị phần tư vấn M&A ở Việt Nam do các ngân hàng nước ngoài thực hiện bởi các trung gian tài chính trong nước chưa mang lại dịch vụ tư vấn chất lượng cao cho khách hàng

Có nhiều yếu tố tác động tới sự phát triển hoạt động ngân hàng đầu tư tại Việt Nam Bên cạnh yếu tố khách quan xuất phát từtrình độ phát triển của thị trường, còn tồn tại các yếu tố chủ quan như mô hình thực hiện, chiến lược và cách thức thực hiện của các ngân hàng, công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ

Trang 13

Trên cơ sở đó, việc tìm hiểu hoạt động ngân hàng đầu tư của các ngân hàng thương mại, các công ty chứng khoán và công ty quản lý qũy từ đó đưa ra được mô hình hoạt động và các giải pháp phát triển hoạt động này là hết sức cần thiết Góp

phần đáp ứng nhu cầu đó của thực tiễn, đề tài “Phát triển hoạt động ngân hàng đầu

tư tại Việt Nam” đã được lựa chọn nghiên cứu

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục tiêu nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết hoạt động ngân hàng đầu tư, luận án phân tích thực trạng mô hình và nội dung các hoạt động ngân hàng đầu tư tại Việt Nam,

từ đó đề xuất một số giải pháp và điều kiện thực hiện nhằm phát triển hoạt động ngân hàng đầu tư tại Việt Nam

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện được mục tiêu tổng quát nêu trên, luận án có những nhiệm vụ

cụ thể sau:

- Hệ thống hóa và làm rõ thêm những lý luận cơ bản về hoạt động ngân hàng đầu tư theo các mô hình ngân hàng tổng hợp và mô hình ngân hàng đầu tư chuyên biệt Trong đó bao gồm các điều kiện và đặc điểm để phát triển hoạt động ngân hàng đầu tư trong các mô hình này

- Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động ngân hàng đầu tư tại các ngân hàng thương mại (thông qua công ty con), công ty chứng khoán và công ty quản

lý quỹ độc lập Việt Nam hiện nay, rút ra những thành tựu đạt được, những hạn chế, nguyên nhân dẫn tới hoạt động ngân hàng đầu tư chưa phát triển Từ đó khẳng định sự cần thiết khách quan phát triển hoạt động ngân hàng đầu tại Việt Nam

- Đề xuất hệ thống đồng bộ các giải pháp và những điều kiện phát triển hoạt động ngân hàng đầu tư tại các ngân hàng thương mại (thông qua công ty con) và

Trang 14

tại các tổ chức tài chính phi ngân hàng (công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ)

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu lý luận và thực tiễn mô hình tổ chức và nội dunghoạt động ngân

hàng đầu tư Nghiên cứu các tác động trên cơ sở định lượng và định tính đối với các

hoạt động ngân hàng đầu tư tại các ngân hàng thương mại trên cơ sở hợp nhất (thông qua các công ty con) và tại các công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ độc lập

4.2 Phạm vi nghiên cứu

a Phạm vi nội dung nghiên cứu

- Mô hình tổ chức hoạt động ngân hàng đầu tư tại Việt Nam, trong đó bao

gồm mô hình của hoạt động này trong các ngân hàng thương mại và trong các tổ chức tài chính phi ngân hàng như công ty chứng khoán, công ty quản

lý quỹ …

- Hoạt động ngân hàng đầu tư trong các NHTM (trên cơ sở hợp nhất các công

ty chứng khoán công ty quản lý quỹ thành viên), các công ty chứng khoán thuộc NHTM và công ty chứng khoán, quỹ đầu tư độc lập tại Việt Nam

b Phạm vi thời gian nghiên cứu

Nghiên cứu thực trạng mô hình tổ chức và nội dung các hoạt động ngân hàng đầu tư tại Việt Nam từ năm 2005 đến 2013

c Mẫu nghiên cứu

Mẫu nghiên cứu bao gồm 05 ngân hàng thương mại có vốn góp nhà nước chi phối,24 ngân hàng TMCP, 70công ty chứng khoán, và 11công ty quản lý quỹ có các hoạt động ngân hàng đầu tư trọng yếu với số liệu thu thập từ năm 2005 đến năm 2013.Số liệu tài chính của các ngân hàng trong mẫu nghiên cứu được thu thập với

số liệu hợp nhất trong đó số liệu báo cáo đã bao gồm số liệu của các công ty con (nếu có) Phần so sánh giữa các công ty chứng khoán độc lập và công ty chứng

Trang 15

khoán thuộc ngân hàng thương mại được thực hiện trên cơ sở số liệu của các công

ty, tách biệt với số liệu của các công ty mẹ

d Câu hỏi nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, luận án đặt ra các câu hỏi nghiên cứu sau: (1) Hoạt động ngân hàng đầu tư cần được thực hiện bởi (a) các ngân hàng thương mại, ngân hàng tổng hợp, (b) đồng nhiều tổ chức tài chính, hay (c) ngân hàng đầu tư chuyên biệt thành lập mới?

(2) Các tiêu chí, thước đo nhằm đánh giá sự phát triển của hoạt động ngân hàng đầu tư đối với:

b Hệ thống ngân hàng, công ty chứng khoán và công ty quản lý quỹ tại Việt Nam

(6) Những hạn chế và nguyên nhân dẫn tới hoạt động ngân hàng đầu tư chưa phát triển?

(7) Khoảng cách giữa thực trạng hoạt động ngân hàng đầu tư tại Việt Nam với các nước trong khu vực, các nước có nền kinh tế tương đồng và các nước có thị trường tài chính phát triển trên thế giới là gì?

(8) Những giải pháp khả thi để phát triển hoạt động ngân hàng đầu tư tại Việt Nam? Những điều kiện cần để thực hiện được các giải pháp này?

Trang 16

(9) Đưa ra mô hình áp dụng cho Việt Nam về:

a Hoạt động ngân hàng đầu tư trong nền kinh tế vĩ mô, và

b Hoạt động ngân hàng đầu tư đối với một tổ chức ?

Trang 17

CHƯƠNG 1:TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VÀ

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước

Hoạt động ngân hàng đầu tư là một trong các hoạt động cốt lõi của trung gian tài chính trên thị trường vốn, mang lại lợi ích cho tổng thể nền kinh tế cũng như từng thành phần tham gia trên thị trường, tuy nhiên các hoạt động này ẩn chứa nhiều mâu thuẫn và xung đột lợi ích Do đó, đây là một trong các đề tài được nhiều nhà nghiên cứu tìm hiểu và phân tích Cùng với sự phát triển của thị trường vốn, nhiều khía cạnh của hoạt động ngân hàng đầu tư đã được tìm hiểu và đánh giá Trong giai đoạn đầu hình thành và phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam, các hoạt động ngân hàng đầu tư đã thu hút được sự quan tâm của nhiều đề tài nghiên cứu trong và ngoài nước Có thể tóm tắt các nghiên cứu này theo một số khía cạnh như sau:

1.1.1 Các nghiên cứu về mô hình thực hiện hoạt đông ngân hàng đầu tư

1.1.1.1 Quan điểm ủng hộ mô hình ngân hàng đầu tư chuyên biệt

Quan điểm cho rằng cần phải có sự tách bạch giữa ngân hàng thương mại (NHTM) và ngân hàng đầu tư (NHĐT) bắt đầu từ sau khủng hoảng kinh tế 1929-

1933, khi quốc hội Mỹthông qua Đạo luật Glass-Steagall nhằm tách NHTMđộc lập với các hoạt động chứng khoán, từ đó chấm dứt sự kết hợp giữaNHTMvà các mảng hoạt động ngân hàng đầu tư

Các nghiên cứu của Tabarrok (1998) [101, tr.2], Lia K.Thomas (2005) [74], Lott Tom, &Loosevelt Derek (2005) [76], Bierman Harold (2003) [24] ủng hộ Đạo luật Glass-Steagall, cho rằng NHTM và công ty chứng khoán là nguyên nhân gây ra cuộc khủng hoảng kinh tế do xung đột lợi ích phát sinh khi một tổ chức đồng thời kinh doanh ngân hàng truyền thống (bao gồm nhận tiền gửi và cho vay) và kinh doanh chứng khoán Quan điểm này dựa trên 6 lý do sau:

Trang 18

(1) Rủi ro và sự an toàn của NHTM: Các NHTM tham gia bảo lãnh phát hành và

nắm giữ cổ phiếu doanh nghiệp có thể dẫn đến rủi ro cho người gửi tiền khiến Chính phủ phải cứu thị trường khi xảy ra khủng hoảng Phá sản các NHTM có thể làm mất niềm tin của dân chúng vào hệ thống, dẫn tới khủng hoảng chính trị - xã hội

(2) Xung đột lợi ích: NHTM cung cấp các dịch vụ NHĐT có thể dẫn tới xung đột

lợi ích giữa kinh doanh ngân hàng truyền thống và NHĐT, ảnh hưởng tới khách hàng gửi tiền, vay tiền và các ngân hàng đại lý

(3) Mâu thuẫn do cạnh tranh: Một số công ty chứng khoán muốn ngăn cản các

NHTM tham gia vào thị phần của họ

(4) Sự hỗ trợ của Ngân hàng Nhà nước: Hoạt động chứng khoán rất rủi ro trong

khi sự hỗ trợ của Ngân hàng Nhà nước chỉ có giới hạn

(5) Cạnh tranh không công bằng: NHTM được trợ cấp một phần bảo hiểm tiền

gửi, do đó được phép huy động vốn nhàn rỗi rẻ hơn thông qua các khoản tiết kiệm Do đó, nếu cho phép thực hiện các nghiệp vụ NHĐT, họ có thể cạnh tranh tốt hơn các đối thủ độc lập

(6) Tập trung quyền lực: các NHTM khi được thực hiện cả hoạt động NHĐT và

NHTM sẽ hình thànhđơn vị quyền lựclớn,có khả năng thôn tính các NHĐT khác, gây ra độc quyền cạnh tranh,làmgiảm hiệu quảhoạt động, và ảnh hưởng quyền lợi khách hàng

Tại Châu Âu,nghiên cứu của Adalet (2009) [14] nhận thấy mối liên hệ giữa cấu trúc hệ thống ngân hàng và sự ổn định tài chính của Đứctừ đóđi đến kết luận:

“sự hiện diện của các ngân hàng tổng hợp– một trong những điển hình của hệ thống ngân hàng Đức – đã làm tăng khả năng phá sản của hệ thống ngân hàng”

1.1.1.2 Quan điểm ủng hộ mô hình ngân hàng tổng hợp

Ngược lại với các quan điểm trên, một số nghiên cứu cho thấy cơ sở áp dụng đạo luật Glass-Steagall làkhông hợp lý

Trang 19

Nghiên cứu của Kroszner và Rajan (1993) [69] nhận thấy lý do áp dụng đạo

luật Glass-Steagall chủ yếu làxung đột lợi ích khiến các NHTM định hướng sai một

cách có hệ thống khiến dân chúng đầu tư vào chứng khoán chất lượng thấp Tuy nhiên khi so sánh kết quả kinh doanh của dịch vụ chứng khoán hóa do NHTM và các NHĐT độc lập thực hiện trước khi áp dụng Đạo luật Glass-Steagall, kết quả không cho thấy bằng chứng rõ ràng về việc định hướng sai công chúng một cách hệ thống nêu trên Hơn nữathực tế các NHTM đã chào bán, bào lãnh phát hành chứng khoán có chất lượng cao hơn so với các NHĐT độc lập

Nghiên cứu của Tabarrok (1998) [101, tr.1-18] cho rằng mặc dù đạo luật Glass-Steagallnhằm gia tăng mức độ an toàn của hệ thống ngân hàng và giảm xung đột lợi ích, tuy nhiên xung đột lợi ích trên không đáng kể Nguyên nhân thực sự thông qua đạo luật trên xuất phát từ lợi ích chính trị của một số cá nhân

Nghiên cứu của Macey (1991) [78, tr.19-30] cho rằng việc ngăn cấm thực hiện hoạt độngNHĐTsẽ gia tăng rủi ro tại các NHTM Macey cho rằng chứng khoán nói chung (bao gồm cổ phiếu và trái phiếu) có ít rủi ro hơn tín dụng vàđầu tư vào chứng khoán là khoản đầu tư có tính thanh khoản và đại chúng cao Tính thanh khoản này giúp cho các ngân hàng dễ cân bằng trạng thái, đồng thời tính đại chúng của hoạt động chứng khoán làm tăng hiệu quả hoạt động của các NHTM

Tương tự, nghiên cứu của Benston (1990) [23]chứng minhsự không tồn tại xung đột lợi ích trong NHTM khi đồng thời thực hiện nghiệp vụ tín dụng truyền thống và nghiệp vụ NHĐT, đồng thời các NHTM khi tách riêng sẽ có độ rủi ro cao hơn khi thực hiện cả hai nghiệp vụ trên

Trong khi đó,nghiên cứu của White (1986) [104, tr.22-55] tiến hành kiểm tra

tỷ lệ phá sản của các ngân hàng trong giai đoạn 1929-1933, so sánh tỷ lệ này giữa các ngân hàng có công ty con (thực hiện cả nghiệp vụ NHĐT) với các ngân hàng không có công ty con (chỉ thực hiện nghiệp vụ NHTM) Kết quả cho thấy xác suất phá sản của các ngân hàng chỉ thực hiện nghiệp vụ NHTM cao gấp 4 lần các ngân hàng nếu thực hiện 2 loại nghiệp vụ trên

Trang 20

Nghiên cứu của Shughart (1988) [96, tr.595-613] cho rằng động cơ thực sự đằng sau Đạo luật này là lợi ích cá nhân của giới chủ ngân hàng Trên khía cạnh pháp lý, sự tách bạch NHĐT và NHTM là cần thiết nhằm bảo vệ công chúng và xã hội khỏi sự đầu cơ của các công ty chứng khoán – là công ty liên kết – của các NHTM Tuy nhiên, cách lý giải này không hợp lý khi lập ra Công ty Bảo hiểm Tiền gửi Liên bang theo điều khoản riêng của Đạo luật Ngân hàng 1933 Bảo hiểm sẽ khiến lệnh cấm bảo lãnh phát hành hay sở hữu vốn cổ phần trở nên không cần thiết

Do đó, Đạo luật Glass-Steagall không những không tạo ra lợi ích cho người gửi tiền

mà còn làm phát sinh chi phí Cho phép góp vốn cổ phần sẽ giúp các NHTM có nhiều lựa chọn đầu tư, đa dạng hóatài sản để phòng ngừa rủi ro Ngược lại, hạn chế vốn cổ phần sẽ khiến các NHTM không có được danh mục tài sản tối ưu, từ đó làm tăng nguy cơ thất bại của ngân hàng

Phân tích về rủi ro tiềm ẩn, nghiên cứu của Giddy (1985) [54, tr.145] cho rằng các tác nhân trên thị trường quyền chọn có thể làm giảm thiểu đáng kể tổn thất phát sinh từ bảo lãnh phát hành chứng khoán vốn Do đó, quan điểm cho rằng chứng khoán ẩn chứa nhiều rủi ro hơn các tài sản khác mà NHTM có thể nắm giữ là không hợp lý Vì vậy không đủ cơ sở để khẳng định các NHTM thực hiện hoạt động chứng khoán – hay khi các NHĐT nhận tiền gửi – sẽ gia tăng đáng kể rủi ro của các đơn vị này Hơn nữa, Shughart (1988)[96, tr.595-613] cho thấy nếu dỡ bỏ rào cản giữa NHTM và NHĐT sẽ làm tăng thêm lợi ích đối với người gửi tiền

Tìm hiều về cấu trúc của ngân hàng tổng hợp, nghiên cứu của Wonsik Sul & Joon Seok Oh (1999) [105] đặt ra câu hỏi: “Liệu ngân hàng tổng hợp theo mô hình

Đức có ưu việt hơn các mô hình ngân hàng tổng hợp khác?” Nghiên cứu này kiểm chứng giả thuyết trên bằng phương pháp thực nghiệm sử dụng dữ liệu từ các ngân hàng với phương pháp tiếp cận là sử dụng dữ liệu mảng từ các ngân hàng lớn tại 8 nước, kiểm soát các nhân tố thuộc ngân hàng và thuộc thị trường, sau đó phân tích tình hình kinh doanh của các ngân hàng tổng theo mô hình Đức và so sánh với các dạng ngân hàng tổng hợp khác Nghiên cứu cho thấy đối với các ngân hàng có quy

mô lớn, việc hoạt động theo mô hình nào đều không có sự khác biệt Tuy nhiên, đối

Trang 21

với các ngân hàng có quy mô nhỏ và vừa, khi có sự chuyên biệt hóa, các ngân hàng tổng hợp theo mô hình của Nhật, Anh, Mỹ sẽ ưu việt hơn các ngân hàng hoạt động theo mô hình của Đức Như vậy, kết quả kinh doanh của các ngân hàng quy mô lớn không phụ thuộc vào dạng mô hình của hệ thống tài chính

Tóm lại, đã có rất nhiều nghiên cứu và phân tích về việc lựa chọn mô hình thực hiện nghiệp vụ NHĐT Một số nghiên cứu cho rằng cần tách bạch hoạt động chứng khoánvới hoạt động NHTM vàcần thành lập các đơn vị chuyên biệt để thực hiện các nghiệp vụ tư vấn, bảo lãnh phát hành, M&A, tự doanh, đầu tư… Nguồn gốc của quan điểm này được bắt đầu từ Đạo luật Glass-Steagall ra đời năm 1933 tại

Mỹ nhằm hạn chế quyền lực của các NHTM Tuy nhiên, cũng có nhiều nghiên cứu cho rằng động cơ thực sự đằng sau Đạo luật Glass-Steagall không nhằm giải quyết xung đột lợi ích mà để phục vụmục đích chính trị Ngoài ra, một số nghiên cứu khác cho thấy hiệu quả và khả năng kiểm soát rủi ro củaNHĐT chuyên biệt thấp hơn so với các ngân hàng tổng hợp Sau khi đạo luật Gramm-Leach-Bliley ra đời năm

1999, quan điểm về NHĐT đã có sự thay đổi Các nhà nghiên cứu cho rằng nghiệp

vụ NHĐT có thể được thực hiện bởi cả NHTM và thậm chí các NHTM còn thực hiện tốt hơn và hiệu quả hơn các NHĐT chuyên biệt Các ngân hàng tổng hợp có thể thực hiện nghiệp vụ NHĐT theo mô hình kiểu Đức, kiểu Anh, hoặc kiểu Mỹ Đối với các ngân hàng lớn, mô hình của Anh & Mỹ sẽ hiệu quả hơn còn đối với các ngân hàng nhỏ thỉ các mô hình trên là tương tự nhau

1.1.2.Các nghiên cứu về hoạt động ngân hàng đầu tư truyền thống

1.1.2.1.Nghiên cứu vềhoạt động bảo lãnh phát hành

Kutsunavà cộng sự (2007) [70, tr.335-360]nghiên cứu mối liên hệ giữacác ngân hàng và cơ hội tiếp cận vốn đầu tư thông qua bảo lãnh phát hànhcủa doanh nghiệp Các tác giả đã nghiên cứu vai trò của mối quan hệ giữa các ngân hàng trong

hoạt động IPO Khi IPO, doanh nghiệp có thể lựa chọnNHĐTcó liên quan thông qua một NHTM thông thường, hoặc có thể lựa chọn NHĐTkhác Mối quan hệ giữa

các ngân hàng lớn có thể là cách tiếp cận hiệu quả để thu thập thông tin đối

Trang 22

vớiNHĐT, tuy nhiên cũng làm phát sinh xung đột lợi ích Nghiên cứu cho thấy mối quan hệ giữa các ngân hàng lớn tạo cơ hội tiếp cận thị trường vốn đầu tư ngày càng lớn đối với các tổ chức phát hành nhỏ.Tuy nhiên cùng những tổ chức đó nhưng với đợt phát hành IPO lớn hơn thường chuyển sang các NHĐTmới với năng lực thực hiện các đợt phát hành lớn Khi NHĐT khai thác khả năng đàm phán với các tổ chức phát hành có liên quan, các tổ chức này sẽ phản ứng lại mức chi phí phát hành cao bằng cách chuyển sang ngân hàngmới Kết quả là tổng chi phí phát hành thông

qua ngân hàng có liên quan hay mới làtương đương

Nghiên cứu của Booth & Smith (1986) [29, tr.81-261]cho thấy các doanh nghiệp khi phát hành cổ phiếu thường ký hợp đồng bảo lãnh phát hành với NHĐT trên cơ sở hợp đồng cam kết hoặc nỗ lực tốt nhất, 94% các đợt phát hành bổ sung và 45.7% các đợt phát hành mới sử dụng hợp đồng cam kết

Nghiên cứu của Ritter Jay R (1987) [90]thực hiện đối với quyết định lựa chọn hợp đồng dựa trên thông tin không cân xứng của nhà đầu tư Tác giả đưa ra giả định đơn vị phát hành không chắc chắn về giá trị mà thị trường sẽ ấn định Ngoài ra, các nhà đầu tư có thông tin khác nhau về giá trị cổ phiếu Người có thông tin sẽ chỉ đặt lệnh mua khi cổ phiếu bị định giá chào bán thấp Trong khi đó, nhà đầu tư thiếu thông tin sẽ phải đối mặt với vấn đề lựa chọn đối nghịch Nghiên cứu trêntập trung vào việc lựa chọn hợp đồng khi có lựa chọn đối nghịch, khi đó đơn vị phát hành xác định giá bán thấp hơn các hợp đồng cam kết,làm phát sinh chi phí đối với cổ đông Trong hợp đồng nỗ lực tốt nhất, nhà đầu tư thiếu thông tin lại không gặp phải vấn đề lựa chọn đối nghịch bởi nếu nhu cầu không đủ thì đợt phát hành sẽ

bị hủy Do đó, nhà đầu tư thiếu thông tin không phải đền bù do mức giá cao Tuy nhiên đơn vị phát hành lại chịu rủi ro nếu đợt phát hành hủy và không huy động được vốn Các công ty chỉ chấp nhận rủi ro này khi đợt phát hành theo hợp đồng cam kết bị định giá quá thấp Mô hình này đưa đến dự đoán: nếu tương đối chắc

chắn về giá trị của mình,đơn vị phát hành sẽ sử dụng hợp đồng cam kết, trong khi

đó các đơn vị phát hành không chắc chắn sẽ sử dụng hợp đồng nỗ lực tốt nhất

Trang 23

Từ đó nghiên cứu trên đưa ra mô hình lựa chọn hợp đồng đối với hai loại nhà đầu tư: có thông tin và thiếu thông tin Với các giao dịch cam kết, những nhà đầu tư thiếu thông tin sẽ phải đối mặt với vấn đề lựa chọn đối nghịchkhi được phân phối cổ phiếu, và phải chịu bù trừ các hạn chế này khi bị định giá thấp Yếu tố định giá thấp

là một hàm đồng biến đối với sự không chắc chắn về giá cổ phiếu Đối với các giao dịch nỗ lực tốt nhất, công ty phát hành cam kết sẽ rút lại đợt phát hành nếu cả những nhà đầu tư có thông tin cũng không mua cổ phiếu Do đó, đơn vị phát hành phải đền bù cho nhà đầu tư thiếu thông tin đối với rủi ro từ lựa chọn đối nghịch

Ngoài ra, nghiên cứu của Gande, Puri, Saunders và Walter (1999) [53, 195] tìm hiểu mối tương quan về quan hệ giữa ngân hàng với khách hàng và mức phí bảo lãnh phát hành Các nhà nghiên cứu này cho rằng mối quan hệ lâu dài là cơ

tr.165-sở để các hãng tư vấn có nhiều lợi thế thông tin hơn, tiết kiệm được chi phí thu thập thông tin, từ đó thể hiện lợi thế của mình với mức phí bảo lãnh thấp Phát triển các kết quả này, nghiên cứu của Schenone (2004) [94]cho thấy khách hàng sẽ lựa chọn ngân hàng có quan hệ bảo lãnh với mình chứ không phải quan hệ tín dụng Cùng quan điểm trên, các nghiên cứu của Yasuda (2005) [106], Dahiya, Saunders và Srinivasan (2007) [37, tr.368-419] cũng cho thấy quan hệ tín dung có thể là ảnh hưởng tới quyết định lựa chọn nhà bảo lãnh phát hành, đặc biệt là trong trường hợp IPO

Đề xuất về mô hình thực hiện bảo lãnh phát hành, nghiên cứu của Corwin và Schultz (2005) [35, tr.443-486] cho thấy các ngân hàng có thể tham gia vào các liên minh để đồng thời bảo lãnh phát hành cho khách hàng nhằm tăng hiệu quả giao dịch, giúp xác định giá trị doanh nghiệp chính xác hơn, có nhiều ý kiến phân tích hơn và đặc biệt là có nhiều bên tham gia trong quá trình tạo lập thị trường sau phát hành Ngoài ra, nghiên cứu của Song (2004) [98, tr.44-2421] giải thích nguyên nhân hình thành các liên minh là do thông tin không cân xứng giữa nhà phát hành và ngân hàng cho vay, từ đó cần thiết liên kết các NHTM và NHĐT, đặc biệt là trong trường hợp các đơn vị phát hành nhỏ, được xếp hạng thấp và hoạt động của họ phụ thuộc nhiều vào vốn vay ngân hàng

Trang 24

1.1.2.2.Nghiên cứu về hoạt động tư vấn mua bán & sáp nhập

Các nhà nghiên cứu đã củng cốlý thuyết về xung đột lợi ích giữa ngân hàng của bên mua và khách hàng Nghiên cứu của Kesner và cộng sự (1994) [64, tr.307-323]chỉ ra mức lợi nhuận từ M&A tỷ lệ thuận với mức phí của ngân hàng – cho cả bên mua lẫn bên bán, dẫn đến xung đột giữa lợi ích bên mua và lợi ích ngân hàng Tuy nhiên, mức phí ngân hàng được trả dựa trên tỷ lệ phần trăm của lợi nhuận Do

đó, cho thấy mối quan hệ thuận chiều giữa mức phí và lợi nhuận, có ý nghĩa về mặt thống kê cho cả bên mua và bên bán Từ đó, các nhà nghiên cứu đi đến kết luận về

sự tồn tại của xung đột lợi ích giữa bên mua và ngân hàng do ngân hàng cần tối thiểu mức chênh lệch khách hàng phải trả Ngoài ra, nghiên cứu củaServaes và Zenner (1996)[95, tr.787-815] cho thấylợi nhuận ngoài dự kiến của bên mua khi thuê ngân hàng thấp hơn khi họ tự thực giao dịch M&A Kết quả này ủng hộ giả thuyết rằng các giao dịch được tư vấn bởi ngân hàng được thực hiện không tốt bằng các giao dịch không có tư vấn hoặc nhà đầu tư không ủng hộ sự xuất hiện của ngân hàng đầu tư trong các giao dịch này Hayward (2003) [58, tr.21-39] cũng nghiên cứu việc sử dụng tư vấn ngân hàng trong mua bán doanh nghiệp và nhận thấy rằng các ngân hàng có tác động đến khách hàng của mình thông qua các công việc chuyên môn Nghiên cứu trên cũng nhận thấy khách hàng thường kỳ vọng ngân hàng có thể tăng hiệu quả của giao dịch, tuy nhiên kết quả thực nghiệm cho thấy giả thiết này không luôn đúng

Một mối quan tâm khác của các nhà nghiên cứu là việc thanh toán vượt mức

và các hậu quả tiềm ẩn Các nghiên cứu của Lubatkin (1983) [77, tr.25]; Sirower(1997) [97]; Varaiya and Ferris (1987) [102, tr.64-70]chỉ ra mối quan hệ ngược chiều lớn về mặt thống kê giữa lợi nhuận và hiệu quả mua bán doanh nghiệp Nhìn chung, lợi nhuận từ mua bán doanh nghiệp tạo ra rào cản tài chính cho bên mua bởi nhiều áp lực trong giai đoạn trước khi mua lại doanh nghiệp Mức lợi nhuận lớn có thể khiến dòng tiền chảy ra khỏi các dự án khả thi khác và phát sinh các khoản nợ để trang trải gánh nặng chênh lệch giá lên bên mua

Trang 25

Lợi nhuận từ mua bán doanh nghiệp là khía cạnh quan trọng của các giao dịch M&A do đó một số nhà nghiên cứu đãtìm hiểu các điều kiện khiến bên mua phải trả mức chênh lệch lớn Servaes and Zenner (1996) [95] nhận thấy doanh nghiệp thường thuê ngân hàng trong các trường hợp giao dịch không rõ ràng và thông tin không cân xứng

Nghiên cứu của Porrini (2005) [86, tr.90-99]mở rộng các nghiên cứu trước đó bằng phát hiện khi bên mua sử dụng ngân hàng, sự xuất hiện của các ngân hàng và các thuộc tính của giao dịch sẽ liên quan đến sự gia tăng lợi nhuận từ mua bán cổ phần Sự xuất hiện của các ngân hàng danh tiếng thậm chí còn gia tăng thêm chênh lệch giá Đặc biệt khi ngân hàng của bên mua có liên quan thuận chiều đến lợi nhuận ngay cả khi kiểm soát được sự xuất hiện của ngân hàng đại diện bên bán Hơn nữa, kết quả của nghiên cứu này củng cố các giả thuyết rằng lợi nhuận (chênh lệch giá) sẽ lớn hơn đối với các giao dịch có ngân hàng và các thuộc tính của giao dịch làm cho bên mua chịu bất lợi về thông tin Bên mua sẽ phải trả cao hơn cho bên bán khi sử dụng ngân hàng và tương tác giữa ngân hàng và các thuộc tính của giao dịch như sự liên quan về ngành nghề của bên bán, số lượng ngành nghề của bên bán, giao dịch không dùng tiền mặt làm tăng hơn nữa mức lợi nhuận trên Trái ngược với dự đoán, bên mua sẽ phải trả giá cao hơn khi sử dụng ngân hàng và đây

là một ngân hàng danh tiếng Tuy nhiên, sự xuất hiện của các chuyên gia như tư vấn pháp lý có thể làm giảm các tác động kể trên của ngân hàng, cũng như các thuộc tính của giao dịch đối với lợi nhuận

Nghiên cứu trêncũng có một số hạn chế Thứ nhất, nghiên cứu được thực hiện với giai đoạn có nhiều giao dịch mua bán doanh nghiệp Có thể là nhiều giao dịch mua bán sẽ dẫn tới việc chênh lệch giá cao dễ được chấp nhận hơn Do đó, khả năng kết quả của nghiên cứu này có thể lặp lại ở một giai đoạn khác là không chắc chắn Thứ hai, nghiên cứu chỉ tiến hành đối với các giao dịch đại chúng do các dữ liệu tài chính được công bố Thứ ba, nghiên cứu chỉ tiến hành với các giao dịch đã hoàn thành Mặc dù việc tiến hành điều tra các giao dịch dở dang là rất khó, vai trò của ngân hàng trong một giao dịch hoàn thành với một giao dịch không được thực

Trang 26

hiện là khác nhau vì có thể ngân hàng đã khuyến nghị không nên thực hiện giao dịch Ngoài ra, nghiên cứu cũng chỉ thực hiện đối với các giao dịch của doanh nghiệp trong lĩnh vực sản xuất Việc mua bán trong ngành dịch vụ có thể có những đặc tính khác và đòi hỏi các dịch vụ khác từ ngân hàng

Nghiên cứu của Rau (2000) [89, tr.293-324]tìm hiểu những yếu tố quyết định tới thị phần của NHĐT với vai trò là tư vấn M&A và chào giá cổ phần Ở cả hai hoạt động M&A và chào giá cổ phần, thị phần của ngân hàng có mối quan hệ cùng chiều với mức phí áp dụng và với tỷ lệ giao dịch thành công trong quá khứ của ngân hàng Yếu tố này không liên quan đến kết quả của bên mua trong quá khứ Đối với chào giá cổ phần, kết quả trước khi mua bán sáp nhập của bên mua có tương quan ngược chiều với mức phí phải trả ngân hàng, cho thấy rằng cấu trúc phí của ngân hàng trong chào giá cổ phần nhằm đảm bảo rằng NHĐT tập trung vào hoàn thành giao dịch

1.1.3.Các nghiên cứu về cấu trúc hoạt động ngân hàng đầu tư

Rất nhiều lý thuyết cho rằng mối quan hệ có thể giúp nâng cao khả năng quản

lý và giám sát, từ đó giải quyết được các vấn đề phát sinh do thông tin bất đối

xứng.Mối quan hệ ở đây được hiểu là sự duy trì cung cấp các dịch vụ thường xuyên

và liên tục giữa ngân hàng và khách hàng. Nghiên cứu của Boot (2000) [28] cho rằng trong các mối quan hệ, NHĐT thu thập thông tin về doanh nghiệp, về bản chất thường là các thông tin độc quyền, đánh giá lợi nhuận của khoản đầu tư này thông qua tương tác với cùng một khách hàng theo thời gian hoặc các sản phẩm bán chéo

Do đó, lợi ích của quan hệ sẽ phát sinh từ các quyết định của ngân hàng đầu tư thực hiện dựa trên thông tin tốt hơn thông tin công khai

Theo nghiên cứu của Booth and Smith (1986) [29, tr.81-261], nhà bảo lãnh phát hành sẽ chứng thực giá trị của chứng khoán doanh nghiệp Trong quá trình đó,

họ làm tăng dòng vốn thuần vào đơn vị phát hành, hơn nữa đảm bảo các doanh nghiệp có chất lượng cao huy động được vốn

Trang 27

Nghiên cứu của Bolton and Scharfstein (1996) [26, tr.1-25] and Dewatripont and Maskin (1995) [39, tr.541-555] cho thấyquan hệ đối với NHTMbị hạn chế bởi ngân sách mỏng, do ngân hàng không thể cam kết giải ngân ngay khi doanh nghiệp gặp khó khăn về tài chính, từ đó làm giảm động lực kỳ vọng NHĐT có thể giải quyết được vấn đề này do không duy trì chứng khoán của doanh nghiệp trên bảng cân đối kế toán mà bán cho nhà đầu tư Các nghiên cứu trên cũng cho rằng mối quan hệ này khiến doanh nghiệp sẽ cố gắng duy trì quan hệ với NHTM

Tuy nhiênAnand và Galetovic (2001) [18] đã chứng minh chiều hướng ngược lại trong trường hợp NHĐT: doanh nghiệp thấy dễ dàng hơn nếu chuyển sang NHĐT ngay khi họ thiết lập được quan hệ.Nghiên cứu nàycho rằng cấu trúc của ngành NHĐT được xác định bởi tương quan kinh tế học giữa các mối quan hệ kỹ thuật, gồm có: chi phí chìm thiết lập quan hệ, liên kết yếuvà tính không loại trừ

Thứ nhất, quan hệ giữa doanh nghiệp với ngân hàng là mối quan hệ dài hạn

và ngân hàng đầu tư phải bỏ ra chi phí chìm để thiết lập và thu thập thông tin Thông tin NHĐT thu thập được cho một giao dịch có thể được tái sử dụng trong một giao dịch khác Hơn nữa, phần lớn các chi phí chìm này do NHĐT gánh chịu Nguyên nhân là do hầu hết quá trình trao đổi thông tin được thực hiện thông qua tương tác trực tiếp với nhân viên ngân hàng

Thứ hai, doanh nghiệp và NHĐT liên tục tương tác,tuy nhiên ngân hàng chỉ được thanh toán khi giao dịch đã được thực hiện Nghiên cứu của Eccles và Crane (1988) [46] gọi đây là sự liên kết yếu giữa chi phí phát sinh (cost) và mức phí thu được (fee) Điều này có nghĩa là NHĐT chỉ có thể bù đắp được chi phí quan hệ chìm nếu được lựa chọn thực hiện hợp đồng

Thứ ba, NHĐT không thể thiết lập quyền sở hữu đối với thông tin thu thập được từ quan hệ lâu dài của mình với khách hàng – có nghĩa là thông tin không thể loại trừ do: (i) Hầu hết việc trao đổi thông tin được thực hiện qua quá trình tương tác trực tiếp giữa nhân viên ngân hàng và doanh nghiệp Khi nhân viên này chuyển công tác, anh ta cũng sẽ mang theo kiến thức cụ thể từ mối quan hệ trên,(ii) Ýtưởng

Trang 28

về sản phẩm có thể bị sao chép, và (iii) Trong nhiều trường hợp, quan hệ là không thể loại trừ

Từ đóAnand và Galetovic (2001) [18] đi đến kết luận: (a) Các mối quan hệ này có thể xuất hiện tại điểm cân bằng chỉ khi thị trường là độc quyền nhómcủa các NHĐT lớn với thị phần tương đương; (b) Mối quan hệ giữa doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp nhỏ bị hạn chế trong mối quan hệ của NHĐT; (c) Đối với thị trường lớn, sẽ không tồn tại lợi thế kinh tế về quy mô bởi rào cản chi phí thâm nhập thị trường; tuy nhiên điều này có thể xảy ra đối với thị trường nhỏ Trong khi chính sách có thể dỡ bỏ các rào cản phát sinh chi phí quan hệ, việc phân phối quy mô của các doanh nghiệp sẽ xác định liệu ngành NHĐT có phù hợp không: nó sẽ không xuất hiện nếu có ít doanh nghiệp lớn Điều này được hiểu là “tài chính theo kịp ngành” Các doanh nghiệp có thể tự giải thoát khỏi hạn chế này bằng cách niêm yết trên các thị trường chứng khoán phát triển của nước ngoài

Những nghiên cứu trên đây về cấu trúc thị trường, mô hình thực hiện, và nội dung cụ thể đối với các hoạt động ngân hàng đầu tư ở cả cấp độ vĩ mô lẫn vi mô trong và ngoài nước là nguồn tư liệu quan trọng trong quá trình thực hiện luận án của tác giả Các tài liệu này là nguồn tham khảo hỗ trợ tác giả thực hiện nghiên cứu các vấn đề mang tính lý luận về hoạt động ngân hàng đầu tư Đề từ đó thấy rằng, phát triển các hoạt động ngân hàng đầu tư tại Việt Nam là giải pháp cần thiết nhằm tạo động lực phát triển các kênh huy động vốn của doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả của các chủ thể tham gia trên thị trường vốn, thị trường chứng khoán Từ đó, tác giả đưa ra một số giải pháp, khuyến nghị nhằm phát triển hoạt động này trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đang trong giai đoạn hội nhập với nền kinh tế thế giới

1.2 Phương pháp nghiên cứu

1.2.1 Tiếp cận vấn đề nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng cách tiếp cận hoạt động NHĐT trong các NHTM, CTCK

và CtyQLQ dưới góc độ nghiên cứu tổng thể toàn ngành Hoạt động tại các NHTM được thực hiện qua công ty con được so sánh trực tiếp với các CTCK, CtyQLQ độc

Trang 29

lập, từ đó cho thấy ảnh hưởng của mỗi mô hình tới hoạt động NHĐT Ngoài ra, trong một số nội dung nghiên cứu, luận án phân tích xu hướng của các hoạt động NHĐT tại các nhóm đối tượng nghiên cứu cụ thể

1.2.2 Hệ thống dữ liệu

Nguồn số liệu tác giả sử dụng trong luận án được chủ yếu lấy từ các báo cáo tài chính đã kiểm toán, báo cáo thường niên của các ngân hàng thương mại, công ty chứng khoán và công ty quản lý quỹ trong giai đoạn từ 2005 đến 2013 Ngoài ra, các số liệu vĩ mô và số liệu toàn ngành được lấy từ báo cáo của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, Tổng cục thống kê, v.v

Hệ thống dữ liệu bao gồm 3 mẫu nghiên cứu như sau:

- Mẫu nghiên cứu 1: Số liệu tài chính hợp nhất của 30 ngân hàng thương mại

(Bao gồm 05 NHTM có vốn nhà nước chi phối và 25 NHTM cổ phần) Các số liệu

về hoạt động ngân hàng đầu tư của mẫu nghiên cứu này được thu thập trên cơ sở hợp nhất ngân hàng mẹ và các công ty con Do đó, phân tích được thực hiện trên khía cạnh ngân hàng tổng hợp, so sánh hoạt động của NHTM có hoạt động chứng khoán (20 ngân hàng ) và NHTM không có hoạt động chứng khoán (10 ngân hàng)

- Mẫu nghiên cứu 2: Số liệu tài chính riêng lẻ của 70 công ty chứng khoán bao

gồm cả các công ty chứng khoán độc lập và các công ty chứng khoán thuộc NHTM Danh sách các công ty chứng khoán thuộc NHTM tại mẫu nghiên cứu này tương ứng với danh sách các NHTM có công ty con là CTCK trong Mẫu nghiên cứu 1 Phân tích được thực hiện trên mẫu nghiên cứu này nhằm so sánh sự khác biệt giữa hoạt động chứng khoán của NHTM thông qua công ty con và hoạt động của các công ty chứng khoán độc lập

Trong mẫu nghiên cứu này, một phần được tách ra nhằm phân tích hiệu quả bao kỹ thuật DEA và chỉ số hiệu quả Malmquist Do phương pháp phân tích trênyêu cầu dữ liệu liên tục Trong khi đó một số CTCK thiếu dữ liệu tương ứng, do đó, chỉ

có 57 CTCK được tách riêng để phân tích hiệu quả theo DEA

Trang 30

- Mẫu nghiên cứu 3: Số liệu tài chính của các công ty quản lý quỹ được thu

thập nhằm phân tích mức độ tích lũy tài sản của các quỹ đầu tư

1.2.3 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu định tính: được sử dụng ở giai đoạn đầu của nghiên cứu khi phân tích, so sánh hoạt động ngân hàng đầu tư hiện nay của Việt Nam với các nước phát triển và các nước trong khu vực, đồng thời kết hợp với khung lý thuyết để tìm ra và/hoặc xây dựng (các) mô hình cần thiết có thể ứng dụng tìm ra câu trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu Mô hình được nghiên cứu ở đây bao gồm 2 loại:

- Mô hình về ngân hàng đầu tư chuyên biệt (trong đó hoạt động ngân hàng đầu

tư sẽ do được bóc tách khỏi các ngân hàng thương mại);

- Mô hình ngân hàng tổng hợp (trong đó các ngân hàng thương mại cũng thực hiện các hoạt động ngân hàng đầu tư)

Từ việc nghiên cứu định tính 2 mô hình trên, nghiên cứu sẽ chỉ ra được mô hình khung phù hợp với các hoạt động ngân hàng đầu tư đối với thị trường tài chính Việt Nam

Nghiên cứu định lượng: Nhằm đáp ứng được mục tiêu nghiên cứu và trả lời các câu hỏi nghiên cứu, mô hình nghiên cứu từ kết quả của phân tích định tính nêu trên sẽ được kết hợp với các phương pháp phân tích định lượng Luận án sử dụng

03 phương pháp phân tích định lượng chủ yếu sau:

Phân tích thống kê và so sánh:

- Phương pháp thống kê: Các dữ liệu sử dụng trong luận án được tổng hợp từ các nguồn dữ liệu chính thức từ Tổng cục thống kê, Ủy Ban Chứng khoán Nhà nước, Sở Giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh, Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Hiệp hội ngân hàng… và các báo cáo tài chính đã kiểm toán của các NHTM, CTCK và CtyQLQ Các chuỗi dữ liệu được sử dụng trong phân tích định lượng đều được hiệu chỉnh phù hợp trước khi ước lượng

Trang 31

- Phương pháp so sánh đối chứng: Dựa trên cơ sở những số liệu thu thập được, luận án so sánh sự biến động về hiệu quả hoạt động ngân hàng đầu tư giữa các loại hình tổ chức và so sánh các điều kiện vĩ mô giữa Việt Nam với các nước khác nhằm góp phần đưa ra đánh giá đầy đủ về nội dung nghiên cứu

- Phương pháp mô hình hóa và đồ thị: Dựa trên dữ liệu thu thập, luận án cũng minh họa một số vấn đề bằng đồ thị và mô hình nhằm đánh giá vấn đề một cách trực quan và tăng tính thuyết phục, giá trị của các lập luận Các mẫu biểu được sử dụng trong luận án bao gồm đồ thị hình cột, chuỗi, phân tán, đường cong lorenz…

- Phương pháp so sánh tương quan: So sánh tương quan được sử dụng để đánh giá mối liên hệ giữa các biến nghiên cứu Hệ số tương quan được sử dụng gồm có:

• Hệ số Pearson – nhằm xác định mức độ trọng yếu của tương quan giữa các

biến;

• Kiểm định independent sample t-test nhằm so sánh sự khác biệt trong hoạt

động NHĐT giữa CTCK độc lập và CTCK thuộc NHTM Từ đó rút ra hệ số

Eta-squared nhằm phân tích mức độ ảnh hưởng của hai biến

• Phân tích phương sai (ANOVA) nhằm so sánh giá trị trung bình của các biến nghiên cứu

Phương pháp kinh tế lượng phân tích hồi quy đa biến

Luận án sử dụng kỹ thuật phân tích mô hình hồi quy đa biến một phương trình nhằm phân tích tác động của các yếu tố vốn góp, tài sản, tín dụng, danh mục kinh doanh, đầu tư chứng khoán, góp vốn lên lợi nhuận ngoài lãi của các ngân hàng thương mại trên cơ sở hợp nhất cho nghiên cứu thực nghiệm giai đoạn 2005-2013

Phương pháp phân tích mô hình bao dữ liệu/ bao kỹ thuật (DEA)

Một phần trong nghiên cứu của luận án sử dụng phương pháp phân tích phi tham số Bao Kỹ thuật (DEA) để ước lượng hiệu quả về mặt kỹ thuật và kinh tế của các công ty chứng khoán tại Việt Nam Phương pháp DEA nhằm xác định các công

ty hoạt động tại đường giới hạn hiệu quả (efficient frontier) Nếu các tổ hợp đầu

vào-đầu ra của một công tynằm trên đường giới hạn DEA, công ty được coi là hoạt

Trang 32

động hiệu quả.Doanh nghiệp sẽ được coi là kém hiệu quả khi tổ hợp đầu vào-đầu ra

nằm trong (không thuộc) đường giới hạn hiệu quả này Nghiên cứu này sử dụng các

dữ liệu sẵn có của công ty chứng khoán tại Việt Nam giai đoạn 2008-2013

Giới thiệu về phương pháp phân tích Bao kỹ thuật DEA

Phương pháp đo lường hiệu quả bằng Bao kỹ thuật được Farrell (1957) [48, tr.253-290] xây dựng dựa trên nghiên cứu của Debreu (1951) [39, tr.273-92] và Koopmans (1951) [68] nhằm xác định một thước đo về hiệu quả doanh nghiệp với nhiều yếu tố đầu vào Farrell (1957) [48, tr.253-290] cho rằng hiệu quả của môt

doanh nghiệp bao gồm 2 yếu tố: hiệu quả kỹ thuật phản ánh khả năng đạt được đầu

ra tối đa với các yếu tố đầu vào sẵn có, và hiệu quả phân phối, phản ánh năng lực sử

dụng các yếu tố đầu vào theo tỷ lệ tối ưu, với mức giá của yếu tố đầu vào sẵn có

Hai yếu tố này kết hợp thành hiệu quả kinh tế Farell đề xuất đường gấp khúc lồi

(Sơ đồ 2) mà không có điểm nào nằm dưới hoặc bên trái hoặc hàm có sử dụng tham

số như Cobb-Douglas phù hợp với dữ liệu để không có điểm nào nằm dưới hoặc bên trái

Nguồn: Farrell, M.J (1957) [48] Nguồn: Farrell, M.J (1957) [48]

Sơ đồ : Hiệu quả kỹ thuật (TE) và Hiệu quả

phân phối (AE) Sơ đồ : Đường đẳng lượng lồi giấp khúc

Trên cơ sở này, nghiên cứu của Charnes, Cooper và Rhodes (1978) [34, tr.429-444] chính thức xây dựng phương pháp phân tích hiệu quả bao kỹ thuật, theo

đó đề xuất mô hình hướng tới một yếu tố đầu vào với giả định hiệu quả không đổi theo quy mô (CRS) Các nghiên cứu sau đưa ra nhiều bộ giả định khác như Banker,

Trang 33

Charnes và Cooper (1984) [20] đề xuất mô hình hiệu quả thay đổi theo quy mô (VRS)

A - Mô hình DEA vớihiệu quả không đổi theo quy mô (CRS)

Giả sử chúng ta có bộ dữ liệu K đầu vào và M đầu ra với N đơn vị ra quyết định (DMU) DMU thứ i được thể hiện bằng véc tơ  và  Ma trận đầu vào K×N,

X và ma trận đầu ra M×N, Y, thể hiện dữ liệu cho N đơn vị ra quyết định Mục đích của DEA là xây dựng đường bao phi tham số trên các điểm dữ liệu để tất cả các điểm quan sát nằm trong hoặc trên đường bao Đối với mỗi DMU, chúng ta đo lường tỷ lệ của tất cả các đầu ra trên đầu vào, ví dụ:′ , với u là véc tơ M×1 trọng số đầu ra và v là véc tơ K×1 trọng số đầu vào

 (′   ), với ′   ≤ 1,  = 1,2 …  (1.1)

Chúng ta cần tìm kiếm giá trị u và v để tối đa hiệu quả của DMU thứ i, với

điều kiện tất cả các thước đo hiệu quả đểu ≤ 1 Tuy nhiên điều kiện này sẽ dẫn tới

 , (′  ), với =1,

′   ≤ 0  = 1,2 …  (1.2)

Ký hiệu u và v được đổi thànhvà v để phản ánh sự thay đổi trên.Chúng ta có

thể chuyển đổi mô hình trên thành bài toán bao dữ liệu như sau:

! ",# $, với −  + &' ≥ 0

$  − )' ≥ 0 ' > 0

(1.3)

Trong đó$là vô hướng và'là véc tớ N×1 cố định Mô hình bao dữ liệu này có

ít hạn chế hơn mô hình số nhân (K+M<N+1), do đó thường được sử dụng để giải quyết bài toán Giá trị$là điểm hiệu quả của DMU thứ i, thỏa mãn điều kiện$ ≤ 1,

với giá trị 1 là điểm nằm trên đường biên và là hiệu quả kỹ thuật của DMU theo

Trang 34

định nghĩa của Farell (1957) [48] Bài toán quy hoạch tuyến tính cần được giải Nlầncho mỗi DMU trong mẫu nghiên cứu

Hạn chế/Điểm yếu

Đường giới hạn phi tham số gấp khúc DEA có một số mặt hạn chế trong đo lường hiệu quả Nguyên nhân xuất phát từ các đường biên song song với các trục (Sơ đồ 2) hầu hết đều không có trong các hàm tham số (Sơ đồ 1)

Tạisơ đồ3,các điểm C và D thể hiện DMU hiệu quả,các điểm A và B thể hiện DMU không hiệu quả Farrell (1957) [48, tr.253-290] đo lường hiệu quả kỹ thuật

TE của A và B là OA’/OA & OB’/OB Điểm A’ là điểm yếu của đầu vào (input

nguyên số lượng đầu ra Trong trường hợp có nhiều đầu vào hơn hoặc nhiều yếu tố đầu ra, mô hình sẽ có khả năng xuất hiện điểm yếu của đầu ra (output slack) Do đó,

đầy đủ để cung cấp thông tin chính xác về tính hiệu quả của một DMU trong phân

tích DEA Lưu ý rằng điểm yếu đầu ra của DMU thứ i sẽ bằng 0 chỉ khi&' −  = 0,

trong khi điểm yếu đầu vào bằng 0 chỉ khi$ − )' = 0(với các giá trị $ và ' tối ưu)

Nguồn: Farrell, M.J (1957)[ 48 ]

Sơ đồ : Đo lường hiệu quả và điểm yếu đầu vào

Điểm yếu đầu vào của A’ là số lượng đầu vàovới khoảng cách là CA’ Trong trường hợp có nhiều đầu vào và đầu ra hơn, sẽ khó tìm kiếm các điểm gần

B'

C

D

Trang 35

điểm hiệu quả (điểm C) nhất cũng như việc tính toán điểm yếu Ali & Seiford (1993) [17, tr.120-159] đề xuất giải pháp sử dụng phương trình tuyến tính hai giai đoạn để dịch chuyển điểm hiệu quả bằng cách tối đa hóa tổng các điểm yếu để dịch

! #,*+,,+ − (-1 /0 + 11 20), với: −  + &' − /0 = 0,

$− )' − 20 = 0, ' ≥ 0, /0 ≥ 0, 20 ≥ 0

(1.4)

Với OS là véc tơ M×1 của điểm yếu đầu ra, IS là K×1 véc tơ của điểm yếu đầu vào; M1, K1 các các véc tơ M×1 và K×1 của 1 Trong phương trình này, $ không phải là biến số và nhận giá trị từ kết quả của giai đoạn 1 Phương trình hai

B - Mô hình DEA với hiệu quả thay đổi theo quy mô (VRS) và Mức quy mô hiệu quả

Giả định của mô hình CRS chỉ áp dụng khi tất cả các DMU đều đang hoạt động ở quy mô tối ưu Tuy nhiên, các yếu tố như cạnh tranh không hoàn hảo, hạn chế về tài chính v.v có thể khiến DMU không ở quy mô tối ưu Banker, Charnes và Cooper (1984) [20]đề xuất mở rộng mô hình CRS để giải quyết mô hình hiệu quả thay đổi theo quy mô (VRS).Có thể chuyển đổi mô hình CRS sang VRS khi đưa thêm ràng buộc về tính lồi (convexity constraint):1.' = 1và phương trình (1.3) và được viết thành:

! ",# $, với −  + &' ≥ 0

$  − )' ≥ 0

1 ' = 1 ' > 0

(1.5)

Trong đó N1 là véc tơ N×1 của 1 Phương pháp này tạo nên đường bao lồi gồm nhiều mặt phẳng bao phủ các điểm dữ liệu chặt chẽ hơn so với CRS,có kết quả

về điểm hiệu quả lớn hơn hoặc bằng với kết quả từ VRS

Tính toán Hiệu quả quy mô

Nhiều nghiên cứu cố gắng tách điểm số TE từ mô hình DEA CRS thành hai phần, một phần là do không hiệu quả về quy mô và một phần là do không hiệu quả

Trang 36

về kỹ thuật thuần Điều này có thể được thực hiện bằng cách tính cả CRS và VRS trên cùng một mẫu dữ liệu Nếu kết quả TE của 2 phương pháp này khác nhau đối với một DMU cụ thể, thì DMU đó không hiệu quả vê quy mô, và mức độ không

Nguồn: Farrell, M.J (1957)[ 48 ]

Sơ đồ : Tính toán hiệu quả quy mô theo DEA

Sơ đồ4 minh họa cách tính trên với mô hình một đầu vào một đầu ra với đường bao kỹ thuật DEA cho VRS và CRS Trong phương pháp CRS, mức độ không hiệu quả của điểm P là khoảng cách334, với phương pháp VRS, đây là

67 ,48+ = 93 4 /93

67 ,58+ = 93 5 /93

07  = 93 4 /93 5

Trong đó 67 ,48+ = 67 ,58+ × 07 Mức hiệu quả theo CRS đã tách hiệu qua theo kỹ thuật và hiệu quả theo quy mô

Hạn chế của thước đo này là không thể hiện được DMU đang vận hành với hiệu quả tăng hay giảm theo quy mô Do đó, chúng ta cần bổ sung đường hiệu quả không tăng theo quy mô (NIRS) Tương ứng là thay thế điều kiện1.' = 1bằng điều kiện1.' ≤ 1trong phương trình (1.5), từ đó chúng ta có:

Trang 37

! ",# $, với −+ &' ≥ 0

$  − )' ≥ 0

1 ' ≤ 1 ' > 0

Sơ đồ4) thì DMU đó có mức độ hiệu quả giảm theo quy mô

Hướng đầu vào và đầu ra

Trong mô hình DEA hướng đầu vào, chúng ta tìm kiếm sự không hiệu quả kỹ thuật bằng tỷ lệ giảm khối lượng đầu ra có thể thực hiện được Tuy nhiên, chúng ta cũng có thể đo lường sự không hiệu quả kỹ thuật bằng khối lượng đầu ra tăng thêm Haiphương pháp này có kết quả như nhau tại CRS và khác nhau tại VRS

Tương tự như mô hình hướng đầu vào,mô hình VRS hướng đầu ra như sau

 ;,# <, với −<+ &' ≥ 0,

  − )' ≥ 0,

1 ' = 1, ' ≥ 0

(1.7)

Trong đó1 ≤ < ≤ ∞, và < − 1là tỷ lệ tăng của đầu ra có thể đạt được của DMU thứ i với đầu vào không đổi Tỷ lệ1/<là hệ số hiệu quả TE và có giá trị từ 0 đến 1

C - Thông tin về giá và Hiệu quả phân phối

Nếu có thông tin về giá,đề xem xét hành vi đối tượng (tối thiểu chi phí, tối đa doanh thu) chúng ta có thể đo lường cả hiệu quả kỹ thuật lẫn hiệu quả phân phối

Trong trường hợp tối thiểu chi phí của mô hình VRS, chúng ta thực hiện mô hình DEA hướng đầu vào tại phương trình (1.5) để tính toán mức hiệu quả kỹ thuật

TE Sau đó, chúng ta thực hiện mô hình DEA sau để tối thiểu chi phí:

!#,>?∗ A ∗ , với −  + &' ≥ 0, (1.8)

Trang 38

∗ − )' ≥ 0,

1 ' = 1 ' ≥ 0 Trong đóAlà véc tơ giá đầu vào của DMU thứ i và∗ là véc tơ tối thiểu chi phí của khối lượng đầu vào của DMU thứ i với giá đầu vàoAlà mức độ đầu

rakhông đổi Tổng mức hiệu quả chi phí (cost efficiency – CE) hoặc hiệu quả kinh

B7 = A ∗ /A  Đây là tỷ lệ giữa chi phí tối thiểu và chi phí quan sát được Chúng ta có thể

AE=CE/TE

Lưu ý rằng cách tiếp cận này sẽ bao gồm các điểm yếu trong thước đo hiệu

quả phân phối Điều đó thường được giải thích rằng điểm yếu sẽ phản ánh sự kết hợp các yếu tố đầu vào không hiệu quả

D - Dữ liệu bảng, DEA và chỉ số Malmquist

Khi có dữ liệu bảng, chúng ta có thể sử dụng phương trình tuyến tính như DEA (hướng đầu vào hoặc hướng đầu ra) và chỉ số Malmquist TFP (Malmquist Total Factor Productivity) để đo lường thay đổi hiệu quả sản xuất, và tách thay đổi hiệu quả sản xuất thành thay đổi hiệu quả kỹ thuật và thay đổi kỹ thuật

Nghiên cứu của Farrell và cộng sự (1957) [48] cho thấy chỉ số thay đổi hiệu quả sản

C(DE, DE, D, D) = FGHI(> IJK ,L IJK )

GHI (> I ,L I ) ×GHIJK(> IJK ,L IJK

GHIJK (> I ,L I ) M/ (1.9) Phương trình trên thế hiện hiệu quả sản xuất của điểm sản xuất(DE, DE)tương đối so với điểm sản xuất(D, D) Giá trị lớn hơn 1 cho biết hiệu quả sản xuất tổng TFP tăng từ giai đoạn t đến giai đoạn t+1 Chỉ số trên là trung bình nhân của hai chỉ số Malmquist TFP hướng đầu ra Để giải phương trình

số (1.9), chúng ta phải giải 4 hàm khoảng cách thành phần, bao gồm 4 phương trình tuyến tính

Trang 39

Phương trình tuyến tính hướng đầu ra CRS được sử dụng để tínhNCD(D, D)tươngtự như phương trình (1.7), ngoại trừ loại bỏ điểu kiện về tính lồi (VRS) mà thay vào đó là điều kiện về thời gian như sau:

ON CD(D, D)P Q = ;,#<, với −< D + & D ' ≥ 0,

 D − ) D ' ≥ 0, ' ≥ 0

(1.10)

Ba hàm tuyến tính còn lại là biến thể đơn giản của phương trình trên như sau:

ONCDE ( DE ,  DE )P Q =  ;,# <,

với −< DE + & DE ' ≥ 0,

 DE − ) DE ' ≥ 0,

' ≥ 0

ONCD ( DE ,  DE )P Q =  ;,# <, với −< DE + & D ' ≥ 0,

 DE − ) D ' ≥ 0, ' ≥ 0

ONCDE ( D ,  D )P Q =  ;,# <, với −< D + & DE ' ≥ 0,

 D − ) DE ' ≥ 0, ' ≥ 0

Tại các phương trình tuyến tính số (1.12) và (1.13), khi các điểm sản xuất được so sánh với công nghệ tại các thời điểm khác nhau, hệ số<không nhất thiết

phương trình tuyến tính số (1.12) khi điểm sản xuất tại thời kỳ t+1 được so sánh với thời kỳ t Nếu có công nghệ sản xuất được áp dụng thì giá trị của hệ số<hoàn toàn có thể <1 Cùng lưu ý rằng điều này có thể xảy ra tại phương trình tuyến tính

số (1.13) khi nỗ lực cải thiện công nghệ được thực hiện tuy nhiên không hiệu quả

Các hệ số<và'trong các phương trình tuyến tính nêu trên có giá trị khác nhau Hơn nữa các phương trình tuyến tính này được tính toán đối với mỗi doanh nghiệp trong mẫu nghiên cứu Kết quả đối với mỗi doanh nghiệp và tại mỗi cặp thời gian liền kề cần được lập bảng và/hoặc tóm tắt các kết quả đo lường theo thời gian

Hiệu quả quy mô

Cách tiếp cận nêu trên có thể tách thay đổi hiệu quả kỹ thuật (CRS) thành

hiệu quả quy mô và hiệu quả kỹ thuật thuần (VRS) Do đó sẽ cần giải quyết thêm 2

phương trình tuyến tính nữa (khi so sánh 2 điểm sản xuất) Đối với mỗi lần so sánh, chúng ta giải thêm các phương trình (10) và (11) với điều kiện về tính lồi VRS:

1.' = 1

Trang 40

CHƯƠNG 2:CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG

NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ 2.1 Hoạt động ngân hàng đầu tư

2.1.1 Khái niệm,vai tròvà các mô hình hoạt động ngân hàng đầu tư

2.1.1.1.Khái niệmhoạt động ngân hàng đầu tư

Trên thế giới cũng như tại Việt Nam, đã có nhiều nghiên cứu đưa ra khái niệm ngân hàng đầu tư (NHĐT) nói chung và các hoạt động ngân hàng đầu tư Theo Alan

D Morrison và William J Whilhelm, Jr: “Chức năng trọng tâm của một ngân hàng

đầu tư là thu thập và bán lẻ các thông tin liên quan đến giá.” [81, tr.21] Ngoài ra

Michel Fleurietphân tích vai trò của ngân hàng đầu tư:“…là một trung gian tài chính,

khớp nối người mua và người bán chứng khoán…Phạm vi của ngân hàng đầu tư bao gồm tất cả các hoạt động chủ yếu trên thị trường vốn như bảo lãnh phát hành, phát hành riêng lẻ, mua bán & sáp nhập, đầu tư mạo hiểm, tạo lập thị trường, tự doanh, dịch vụ kỹ thuật tài chính, thanh toán và bù trừ, và quản lý tài chính.” [50]

Trong cuốn Cẩm nang ngân hàng đầu tư, tác giả Mạc Quang Huy (2009) [4]

cho rằng theo quan điểm hiện đại, nghiệp vụ ngân hàng đầu tư được mở rộng sang các lĩnh vực khác và ngân hàng trở thành chủ thể kinh doanh đa dạng, lấy nghiệp vụ ngân hàng đầu tư truyền thống làm cốt lõi Các mảng nghiệp vụ ngân hàng đầu tư hiện đại còn có hoạt động đầu tư, nghiên cứu, quản lý đầu tư, ngân hàng bán buôn và nghiệp vụ nhà môi giới chính

Như vậy,chúng ta có thể đưa ra định nghĩa chung về ngân hàng đầu tư và các hoạt động ngân hàng đầu tư như sau:

Ngân hàng đầu tư là một trung gian tài chính khớp nối người mua và người bán chứng khoán thông qua các nghiệp vụ của mình Cáchoạt động ngân hàng đầu tư bao gồm: (i) các hoạt động ngân hàng đầu tư truyền thống; (ii) đầu tư, kinh doanh chứng khoán; và (iii) quản lý tài sản Cụ thể :

... PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG

NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ 2.1 Hoạt động ngân hàng đầu tư

2.1.1 Khái niệm,vai trịvà mơ hình hoạt động ngân hàng đầu tư

2.1.1.1.Khái niệmhoạt... chung ngân hàng đầu tư hoạt động ngân hàng đầu tư sau:

Ngân hàng đầu tư trung gian tài khớp nối người mua người bán chứng khốn thơng qua nghiệp vụ Cáchoạt động ngân hàng đầu tư bao...

2.1.1.1.Khái niệmhoạt động ngân hàng đầu tư

Trên giới Việt Nam, có nhiều nghiên cứu đưa khái niệm ngân hàng đầu tư (NHĐT) nói chung hoạt động ngân hàng đầu tư Theo Alan

D

Ngày đăng: 22/05/2020, 13:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w