1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

KHUÔN KHỔ PHÁP LÝ ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA MOBILE MONEY: KINH NGHIỆM THẾ GIỚI VÀ GỢI Ý CHÍNH SÁCH CHO VIỆT NAM

22 173 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 70,81 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu của bài viết này nhằm phân tích khuôn khổ pháp lý của mobile money ở các quốc gia trên thế giới. Nhìn chung, đối với những quốc gia nới lỏng các quy định pháp lý ở giai đoạn đầu sẽ phát triển dịch vụ mobile money nhanh chóng. Tuy nhiên, sau một thời gian phát triển thì các quốc gia này siết chặt dần các quy định về định danh khách hàng, rửa tiền và tài trợ khủng bố, nhằm đảm bảo quyền lợi khách hàng. Trong khi đó, các quốc gia có khung pháp lý chặt chẽ ngay từ đầu sẽ mất một khoảng thời gian dài hơn để dịch vụ mobile money có thể phát triển. Sau đó, khi khung pháp lý hoàn thiện, mọi hoạt động đi vào khuôn khổ, các bên ý thức được vai trò cũng như trách nhiệm của mình thì các quốc gia này tiến hành điều chỉnh các quy định nhằm thu hút khách hàng và thúc đẩy tài chính toàn diện. Từ các kết quả phân tích này, nghiên cứu đã phác thảo các gợi ý chính sách cho Việt Nam trong việc phát triển dịch vụ mobile money.

Trang 1

KHUÔN KHỔ PHÁP LÝ ĐỐI VỚI

SỰ PHÁT TRIỂN CỦA MOBILE

MONEY: KINH NGHIỆM THẾ GIỚI

VÀ GỢI Ý CHÍNH SÁCH CHO VIỆT NAM

Mục tiêu của bài viết này nhằm phân tích khuôn khổ pháp lý của mobile money

ở các quốc gia trên thế giới Nhìn chung, đối với những quốc gia nới lỏng cácquy định pháp lý ở giai đoạn đầu sẽ phát triển dịch vụ mobile money nhanhchóng Tuy nhiên, sau một thời gian phát triển thì các quốc gia này siết chặt dầncác quy định về định danh khách hàng, rửa tiền và tài trợ khủng bố, nhằm đảmbảo quyền lợi khách hàng Trong khi đó, các quốc gia có khung pháp lý chặt chẽngay từ đầu sẽ mất một khoảng thời gian dài hơn để dịch vụ mobile money cóthể phát triển Sau đó, khi khung pháp lý hoàn thiện, mọi hoạt động đi vàokhuôn khổ, các bên ý thức được vai trò cũng như trách nhiệm của mình thì cácquốc gia này tiến hành điều chỉnh các quy định nhằm thu hút khách hàng và thúcđẩy tài chính toàn diện Từ các kết quả phân tích này, nghiên cứu đã phác thảocác gợi ý chính sách cho Việt Nam trong việc phát triển dịch vụ mobile money

1 Giới thiệu

Công nghệ di động đang thay đổi đời sống kinh tế ở các nước đang phát triển,nơi mà nhiều người đang sử dụng điện thoại di động cho một loạt các giao dịchtài chính, chẳng hạn như nhận và gửi chuyển tiền Tiền điện tử trên thuê bao diđộng (mobile money) đã được các ngân hàng và nhà khai thác mạng di động sửdụng nhằm cung cấp cho hàng triệu người tiêu dùng không có tài khoản ngânhàng một phương thức cất trữ và truy cập tiền kỹ thuật số Đối với hàng triệungười tiêu dùng ở các nước đang phát triển, mobile money đang thay đổi cuộc

Trang 2

sống của họ bằng cách tạo điều kiện tiếp cận các dịch vụ tài chính, thanh toán vànhận tiền thông qua thiết bị di động hằng ngày Mobile money cho phép nhữngngười không có tài khoản ngân hàng sử dụng điện thoại thay cho tài khoản ngânhàng để: gửi, rút, chuyển tiền bằng điện thoại của mình và thanh toán các hóađơn, mua hàng hóa tại các cửa hàng Tại Việt Nam, các doanh nghiệp công nghệtài chính (fintech) đang hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau như: thanh toán,gọi vốn cộng đồng, blockchain, quản lý tài chính cá nhân, quản lý POS/mPOS,quản lý dữ liệu, cho vay, so sánh thông tin Trong đó, doanh nghiệp trong hoạtđộng thanh toán phát triển mạnh nhất Thị trường thanh toán di động có nhữnglợi thế phát triển nhờ cơ cấu dân số trẻ, nền kinh tế tăng trưởng nhanh và mộttầng lớp trung lưu ngày một gia tăng Báo cáo của Worldpay (2018) cho thấy víđiện tử được sử dụng cho các thanh toán trực tuyến nhiều hơn cả việc sử dụngthẻ tín dụng và đứng ở vị trí thứ ba trong số các phương thức thanh toán được ưathích Mặc dù việc sử dụng tiền mặt vẫn còn chiếm tỷ lệ cao tại các điểm bánhàng (POS) nhưng việc sử dụng ví điện tử khi thanh toán tại POS đã đạt mứcngang bằng với thẻ tín dụng Thanh toán di động có đặc tính như một công cụ cónhiều ứng dụng và là giao điểm của các quy định liên quan đến tài chính, viễnthông và công nghệ Thẩm quyền giữa các cơ quan quản lý như cơ quan tiền tệ,ngân hàng trung ương (NHTW) và cơ quan viễn thông có thể là một vấn đềtrong quản lý thanh toán di động nói chung và mobile money nói riêng (Martins

de Almeida, 2013) Hơn nữa, các cơ quan quản lý có thể tạo môi trường thuậnlợi cho các dịch vụ phát triển, nhưng đồng thời có thể cũng ngăn chặn sự đổimới đó Chính vì thế, các cơ quan quản lý cần xây dựng các quy tắc công bằng

để bảo vệ cả khách hàng và thị trường, tạo ra môi trường có thể khuyến khíchđổi mới, cạnh tranh và phát triển các dịch vụ mới Tại kỳ họp thường kỳ tháng3/2019, Thủ tướng Chính phủ đã yêu cầu Bộ Thông tin và Truyền thông, Ngânhàng Nhà nước xây dựng phương án cho doanh nghiệp viễn thông thí điểm dịch

vụ thanh toán điện tử không thông qua tài khoản ngân hàng (mobile money) Dovậy, mục tiêu của nghiên cứu này nhằm phân tích các khuôn khổ quản lý liênquan đến mobile money của các quốc gia trên thế giới Kết quả phân tích này sẽ

Trang 3

đưa ra các hàm ý chính sách cho Việt Nam trong việc xây dựng các quy định đốivới hoạt động của mobile money.

2 Các mô hình cung cấp dịch vụ và quy định pháp lý với sự phát triển của dịch vụ mobile money

2.1 Các mô hình cung cấp dịch vụ mobile money

Theo Horne và cộng sự (2014), để hiểu được hoạt động thanh toán di động nóichung và mobile money nói riêng thì cần xem xét các mô hình cung cấp dịch vụnày Các mô hình này thay đổi tùy theo loại dịch vụ được cung cấp, quy trìnhthực hiện thanh toán và các thực thể liên quan Nhìn chung, trên thế giới có hai

mô hình cung cấp dịch vụ mobile money chính, đó là, mô hình gân hàng cungcấp dịch vụ (BLM) và mô hình nhờ mạng cung cấp dịch vụ (MNO): (1) Mô hìnhngân hàng cung cấp dịch vụ (BLM, Bank Led Model) dựa trên việc mở rộng cácdịch vụ thanh toán hiện có Mô hình này bao gồm nhà phát hành - cung cấp ứngdụng/tài khoản thanh toán cho người tiêu dùng - và ngân hàng thu nhận - thiếtlập hệ thống mobile money cho người bán Trong mô hình BLM, vai trò củaMNO bị hạn chế, ngoại trừ trong trường hợp thanh toán NFC - các MNO gắnchip trong SIM của khách hàng; (2) Trong mô hình nhà mạng cung cấp dịch vụ(MNO, Mobile Network Operators) Các MNO cung cấp dịch vụ mobile moneycho các khách hàng của mình bằng cách phát triển và cung cấp một ứng dụngthanh toán cài đặt trên thiết bị cầm tay, thực hiện các giao dịch và lập hóa đơncho khách hàng Mô hình MNO thường phổ biến hơn ở các khu vực và quốc gia

có dân số không thể tiếp cận hay sử dụng các dịch vụ ngân hàng hoặc những nơi

có có lợi ích cao trong việc có các dịch vụ đơn giản Các ứng dụng phức tạp hơnhơn (ví dụ: dịch vụ ví di động) tại các thị trường phát triển thường yêu cầu sựhợp tác giữa các MNO và tổ chức tài chính Dịch vụ IsIs tại Mỹ là một ví dụđiển hình về vai trò của MNO (AT&T, T-Mobile, Verizon) trong việc cung cấpdịch vụ mobile money

2.2 Quy định pháp lý và sự phát triển của thị trường mobile money

Trang 4

Các quy định pháp luật đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển của mobilemoney Các nhà hoạch định chính sách và các cơ quan có liên quan nên tạo môitrường cho thị trường mobile money phát triển nhưng cũng cần có các biện phápkiểm soát cần thiết Các chính sách không cần thiết ở giai đoạn đầu có thể gâybất lợi cho thị trường, mặt khác, việc thiếu các quy định cần thiết vào đúng thờiđiểm, có thể gây hại cho tương lai của ngành (Porteous, 2006) Các vấn đề nàyđược thể hiện ở quỹ đạo phát triển thị trường có dạng chữ s bên dưới (Hình 1).Mỗi giai đoạn phát triển đại diện cho một vị thế khác nhau của các cơ quan quản

lý trong việc tìm ra các thách thức và những vấn đề của thị trường mobilemoney

Giai đoạn đầu: những nhà cung cấp đưa ra và thử nghiệm các sản phẩm

để tìm kiếm thành công ban đầu Ở giai đoạn này, các cơ quan quản lý sẽphải đảm bảo sự cân bằng giữa các quy định để không quá nghiêm ngặtvới nhà cung cấo, nhưng đồng thời, vẫn phải bảo vệ người tiêu dùng

Giai đoạn bùng nổ: nhà cung cấp dịch vụ đã thu hút được một lượng

người dùng nhất định và mở rộng thị trường Trong trường hợp này, các

cơ quan quản lý nên theo dõi chặt chẽ sự phát triển của thị trường

Giai đoạn củng cố: do sự gia tăng cạnh tranh và các yếu tố bên ngoài, nhà

cung cấp dịch vụ đã phát triển ở một quy mô lớn hơn và cơ sở khách hàngtiếp tục tăng nhưng với tốc độ chậm hơn Ở giai đoạn này, các quy định sẽcần tinh chỉnh theo thị trường

Giai đoạn trưởng thành: Số lượng các công ty trong ngành và các quy

định đối với các hoạt động của họ đã được thiết lập, thị trường tăngtrưởng với tốc độ ổn định Cơ quan quản lý sẽ cần đảm bảo sự an toàntrên thị trường

Trang 5

Hình 1: Các giai đoạn phát triển của thị trường mobile money

3 Khuôn khổ pháp lý đối với mobile money: kinh nghiệm thế giới

3.1 Lựa chọn các quốc gia nghiên cứu

Phần này trình bày khuôn khổ pháp lý đối với mobile money tại một số quốc giatrên thế giới theo khu vực:

 Châu Phi: Châu Phi đang dẫn đầu về giá trị khối lượng giao dịch đối vớitiền điện tử trên thuê bao di động (mobile money) Sự phát triển củamobile money là nhằm thúc đẩy tài chính toàn diện tại lục địa này Dịch

vụ mobile money tập trung vào việc cung cấp các dịch vụ tài chính thuận

Trang 6

tiện, an toàn và chi phí giao dịch thấp mà M-Pesa tại Kenya là một ví dụđiển hình.

 Châu Á: Tại Châu Á, Philippines và Indonesia là hai đại diện cho mô hìnhquản lý mobile money tương đồng nhau nhưng lại có mức độ phát triểnkhác nhau Trong khi đó, Bangladesh lại được đánh giá thành công trênkhía cạnh phát triển các đại lý mobile money

3.2 Kenya: Bùng nổ và phát triển mạnh

Kenya là quốc gia có thu nhập thấp và tỷ lệ người sử dụng internet cũng còn rấtthấp (17,8%)1, vì thế, gây khó khăn trong việc tiếp cận dịch vụ tài chính chínhthức như ngân hàng điện tử Trên thực tế, người dân Kenya không có yêu cầu đadạng về chức năng đối với việc thanh toán mà mục đích chính của họ là chuyển/nhận tiền từ thành thị về quê nhà Vì vậy, dịch vụ mobile money mà đại diện làM-Pesa ra đời đã đáp ứng được nhu cầu của họ đồng thời giúp họ tiết kiệm thờigian, giảm chi phí giao dịch so với các dịch vụ truyền thống của ngân hàng

3.2.1 Tổng quan thị trường

Trước năm 2006, tỷ lệ người dân Kenya sử dụng những dịch vụ tài chính chínhthống, bán chính thống, không chính thống và không có tài khoản ngân hàng lầnlượt là 19%; 8%; 35% và 38% (Di Castri và cộng sự, 2013) M-Pesa ra mắt vàotháng 3 năm 2007, liên doanh giữa hai mạng viễn thông là Safari (Kenya) vàVodafone (Anh), đây cũng là dịch vụ mobile money đầu tiên tại Kenya cho phépchuyển/nhận tiền thông qua thuê bao di động Quy trình hoạt động đối với người

sử dụng M-Pesa đơn giản, người dùng hoàn toàn có thể thực hiện các chức năngkhác như rút/nạp tiền thông qua các đại lý (Riksbank, 2013) Bên cạnh đó, chínhphủ Kenya cũng nhận định M-Pesa là kênh hỗ trợ cho những gia đình nghèonhất tại Kenya trong lĩnh vực thanh toán2 Trong vòng 3 năm sau khi bắt đầuhoạt động, M-Pesa tăng trưởng mạnh mẽ khi giành được 40% thị phần chuyểntiền tại Kenya (Di Castri và cộng sự, 2013) Đến năm 2018, gần 93% ngườiKenya trưởng thành trên tổng dân số sử dụng dịch vụ này Sự ra đời của M-Pesa

1 World Bank 2018

2 https://fsdkenya.org/an-overview-of-m-pesa/ Truy cập vào thứ ba, 27/08/2019.

Trang 7

tạo nên bước ngoặt thành công cho dịch vụ mobile money tại Kenya khi đáp ứngđược nhu cầu cấp thiết của thị trường.

3.2.2 Khuôn khổ pháp lý

Như đã đề cập ở trên, M-Pesa là người tiên phong trong lĩnh vực mobile money

và là nhà cung cấp chính chi phối thị phần tại Kenya (Lashitew và cộng sự2019) Tại thời điểm M-Pesa ra mắt, không có khung pháp lý chính thức riêngcho dịch vụ này nguyên nhân là do mâu thuẫn giữa các ngân hàng và M-Pesatrong việc phân loại dịch vụ của M-Pesa Theo quy định về viễn thông, các nhàmạng chỉ được phép cung cấp những loại hình dịch vụ đã được liệt kê trong giấyphép Tuy nhiên, M-Pesa, bên cạnh việc cung cấp các dịch vụ viễn thông, còn

hỗ trợ người dùng chuyển tiền Vì lẽ đó, các ngân hàng tại Kenya gây áp lực lênNHTW khi yêu cầu phải phân loại M-Pesa như một ngân hàng và phải áp dụngkhung pháp lý của ngân hàng, trong khi đó, bản chất của M-Pesa chỉ giúy việcchuyển tiền nhanh hơn mà không thực hiện các chức năng tài chính khác (Vlcek,2011) Đến tháng 1 năm 2009, NHTW xem M-Pesa không phải là hoạt động củangân hàng (Muwanguzi & Musambira, 2009) Vì vậy, NHTW đã tiến hành thảoluận với nhà mạng Safaricom nhằm xây dựng khung pháp lý cho mobile money,đến năm 2010, khung pháp lý chính thức được ban hành và áp dụng

Nhằm mục đích giải quyết vấn đề định danh khách hàng, đồng thời, ngăn chặntội phạm liên quan đến mạng di động, Bộ Truyền thông Kenya (CAK) đã yêucầu các nhà mạng di động phải đăng ký cho tất cả các khách hàng sử dụng dịch

vụ của M-Pesa Khách hàng chỉ cần cung cấp giấy tờ tùy thân như thẻ công dânhoặc hộ chiếu cá nhân được Chính phủ Kenya cấp Về cơ bản, tất cả nhữngngười dân Kenya đều có thẻ công dân (Lester và cộng sự, 2010) nên thủ tụcđăng ký mobile money trở nên đơn giản Sau đó, các đại lý có nhiệm vụ thẩmđịnh tính chính xác của thông tin khách hàng và cung cấp SIM mới có tích hợpứng dụng của M-Pesa để khách hàng sử dụng

Cơ quan quản lý thanh toán quốc gia đã ban hành Đạo luật về thanh toán quốcgia vào năm 2014 nhằm điều chỉnh vai trò của ngân hàng đối với dịch vụ mobile

Trang 8

money Theo đó, NHTW không phản đối Pesa hoạt động nhưng yêu cầu Pesa phải thành lập quỹ tín thác (Trust fund) và NHTW đảm nhiệm vai trò giámsát, kiểm tra, nhắc nhở M-Pesa thực hiện đúng yêu cầu (ngoài vai trò này,NHTW không can thiệp vào bất kỳ hoạt động nào của M-Pesa) Quỹ tín tháctiến hành cơ chế bảo vệ quyền lợi của khách hàng như bồi thường, bảo mật dữliệu thông tin khách hàng Ngoài ra, M-Pesa và các nhà mạng cung cấp dịch vụmobile money phải chuyển tất cả tiền mà khách hàng nạp vào quỹ tín thác ở cácngân hàng Quỹ này hoàn toàn tách biệt với tài khoản riêng của các nhà mạngnhằm phòng ngừa trường hợp nhà mạng phá sản hoặc có hành vi rửa tiền hay tàitrợ khủng bố

M-Năm 2016, Chính phủ Kenya thêm quy định về định mức giao dịch nhằm ngănchặn các giao dịch rửa tiền và tài trợ khủng bố, NHTW Kenya đã đặt ra địnhmức cho mỗi tài khoản và mỗi lần giao dịch Một tài khoản chỉ được phépchuyển tối đa 140.000 KSH (1.400 USD) một ngày và mỗi lần giao dịch tối đa

là 70.000 KSH (700 USD) Số dư tối đa của mỗi tài khoản là khoảng 100.000KSH (1.000 USD) (Lashitew và cộng sự, 2019)

Đến năm 2018, các nhà mạng viễn thông đưa ra định mức về phí giao dịch mới.Vào ngày 1/7/2018, M-Pesa áp dụng mức phí mới với các giao dịchchuyển/nhận tiền (phí giao dịch dao động trong khoảng từ 1% đến 1,7% trênmỗi giao dịch) vì mức thuế đối với dịch vụ mobile money tăng từ 10% lên 15%.Dựa trên thay đổi này, chỉ những giao dịch dưới 100 KSH (1 USD) cùng hệthống M-Pesa được miễn phí giao dịch còn những giao dịch khác sẽ bị tính phítùy theo số tiền giao dịch và đối tượng nhận Ngoài ra, M-Pesa còn tính phí nếukhách hàng rút tiền

Tại Kenya, có thể nói dịch vụ mobile money ra đời để đáp ứng nhu cầu củanhững người không có và không đủ điều kiện để mở tài khoản ngân hàng M-Pesa - người tiên phong trong lĩnh vực này - xuất hiện khi mà quốc gia này chưa

có sự chuẩn bị và chưa xây dựng khung pháp lý riêng dành cho lĩnh vực này Vì

lẽ đó, ở giai đoạn đầu, nhà mạng (cụ thể là Safaricom) đóng vai trò quyết định

Trang 9

trong tất cả các hoạt động của M-Pesa Tuy nhiên, qua nhiều lần bổ sung, khungpháp lý của dịch vụ này cũng dần bị thắt chặt thay vì nới lỏng như lúc đầu Mặc

dù vậy, dịch vụ mobile money vẫn đóng vai trò quan trọng nhất định đối vớingười dân Kenya, bằng chứng là số lượng tài khoản đăng ký tăng qua các năm

Lý do có thể giải thích cho việc này là vì người sử dụng luôn cảm thấy tài sản cánhân được đảm bảo đầy đủ quyền lợi nhờ vào quỹ tín thác Vì vậy, các ngânhàng thay vì ở vị trí đối thủ cạnh tranh gay gắt đã chuyển sang hợp tác trở thànhđối tác của M-Pesa Bằng cách này, các nhà mạng có cơ hội mở rộng thêm hệsinh thái của mình, đồng thời, các ngân hàng cũng có điều kiện tiếp cận thêmmột lượng khách hàng nhất định như: M-Shwari hợp tác với ngân hàng thươngmại Châu Phi, KCB M-Pesa hợp tác với ngân hàng thương mại Kenya(Lashitew cộng sự, 2019)

3.3 Philipines: Bùng nổ nhưng phát triển không ổn định

Philippines là quốc gia có tỷ lệ người không sở hữu tài khoản ngân hàng cao(Beshouri & Gravråk, 2010) cùng với tỷ lệ sử dụng điện thoại di động cao là haiđiều kiện cần thiết để dịch vụ mobile money có cơ hội phát triển tại quốc gianày Về mặt địa lý, Philippines có hơn 7.5003 đảo lớn nhỏ dẫn đến sự chia cắtgiữa các khu vực Khoảng cách địa lý gây cản trở sự tiếp cận tài chính toàn diệncủa người dân do các tổ chức tài chính không thể tiếp cận trực tiếp từng khu vựctại từng hòn đảo Từ tình hình thực tế trên có thể thấy, mobile money là giảipháp tốt và phù hợp nhất cho người dân tại Philippines, giúp họ giải quyếtnhững vấn đề khó khăn trong thanh toán

3.3.1 Tổng quan thị trường

Sự tăng trưởng rất cao của tỷ lệ sử dụng di động từ 3% năm 2000 lên đến 68%năm 2009 (Leishman, 2009) là tiền đề cho sự ra đời của dịch vụ mobile money.Bên cạnh đó, mặc dù chỉ có 31% trên tổng số 42,1 triệu dân có thể tiếp cận và sởhữu tài khoản tại các ngân hàng, nhưng trong đó, 72,2% số người này có sửdụng điện thoại di động (Beshouri & Gravråk, 2010)

3 http://nine.cnnphilippines.com/videos/2016/02/20/More-islands-more-fun-in-PH.html Truy cập vào thứ năm, 29/08/2019

Trang 10

SMART Money là dịch vụ mobile money đầu tiên, ra đời vào năm 2001, dựatrên sự hợp tác của nhà mạng viễn thông Smart và Banco de Oro - ngân hànglớn nhất ở Philippines SMART Money hỗ trợ người dùng những dịch vụ tàichính như chuyển/nhận tiền không chỉ trong mà còn ngoài nước Vì ngân hàng

là bên chịu trách nhiệm về độ bảo mật của tài khoản, kiểm toán và kiểm soátgian lận nên mô hình hoạt động của SMART Money được điều hành bởi ngânhàng nhiều hơn thay vì nhà mạng viễn thông (Alampay và cộng sự 2007) Đâycũng chính là hạn chế của SMART Money vì chi phí giao dịch cao, lên đến 3%giá trị của giao dịch (Alampay et al., 2007)

GCash được Globe Telecom ra mắt vào tháng 10 năm 20044 Tương tự nhưSMART Money, GCash cũng cho phép người dùng chuyển/nhận tiền trong vàngoài nước thông qua điện thoại di động Khác với SMART Money, GCash theo

mô hình MNO và có phí giao dịch bằng không (Alampay và cộng sự, 2007).Tuy nhiên, mức độ rủi ro về gian lận khi sử dụng GCash cao hơn SMARTMoney

Hình 2: Tỷ lệ tài khoản mobile money đăng ký và hoạt động trên 1.000

người trưởng thành tại Philippines

Trang 11

Hình 2 cho thấy việc đăng ký sử dụng dịch vụ mobile money tại Philippines từnăm 2010 đến năm 2018 là không ổn định Một trong những nguyên nhân dẫnđến sự thiếu ổn định này là do Philippines là quốc gia hằng năm phải chịu nhiềuthiên tai Đặc biệt là những trận bão hay lũ lụt lớn gây ra thất lạc và mất giấy tờtùy thân của người dân nước này Vì vậy, họ không đủ điều kiện theo quy địnhđịnh danh khách hàng để mở tài khoản sử dụng dịch vụ mobile money Nguyênnhân thứ hai là do Philippines có tỷ lệ người sử dụng Internet chiếm hơn 60%dân số cả nước (World Bank, 2018) nên người dùng có thêm nhiều lựa chọn bêncạnh dịch vụ mobile money như ngân hàng điện tử Nguyên nhân thứ ba là doPhilippines thực hiện chính sách siết chặt dịch vụ mobile money ngay từ đầu,nên việc này khiến quy trình đăng ký và sử dụng dịch vụ trở nên cồng kềnh vàgây khó khăn cho người dùng Tuy nhiên, từ năm 2017, dịch vụ mobile moneylại có mức tăng trưởng rất cao, cao gấp nhiều so với các năm trước (Hình 2) Sở

dĩ có mức tăng trưởng cao này là do khung pháp lý có sự thay đổi về các quyđịnh tạo thuận lợi hơn cho người dùng

3.3.2 Khuôn khổ pháp lý

Năm 2001, Philippines bị liệt kê vào danh sách quốc gia có tài trợ khủng bố cầntheo dõi, vì thế khung pháp lý cho dịch vụ mobile money tại Philippines chặtchẽ hơn các quốc gia khác

Trong giai đoạn đầu tiên khi loại hình dịch vụ mobile money được phổ biến từ

2001 đến 2004, NHTW Philippines (BSP) cho phép các đơn vị dù không phải làngân hàng vẫn có thể cung cấp các dịch vụ tài chính Tuy nhiên, các nhà cungcấp dịch vụ này sẽ hoạt động dựa trên quy định về đạo luật phòng chống rửa tiền

và tài trợ khủng bố ban hành năm 2001 Theo nội dung của đạo luật, việc địnhdanh khách hàng và lưu trữ giao dịch là hai nội dung quan trọng Đối với kháchhàng, các tổ chức có nhiệm vụ xác minh mức độ chính xác đối với thông tinnhận diện do khách hàng cung cấp Về giao dịch, tất cả giao dịch phải được ghinhận và lưu trữ một cách an toàn trong vòng 5 năm kể từ ngày giao dịch đượcthực hiện Các tổ chức đồng thời phải báo cáo những giao dịch có giá trị hơn

Ngày đăng: 22/05/2020, 08:02

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w