1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn nái sinh sản trong giai đoạn mang thai tại trại lợn nhâm xuân tiến, huyên đông hưng, tỉnh thái bình

57 68 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 57
Dung lượng 1,62 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MA TIẾN CÔNG Tên đề tài: “THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG VÀ PHÒNG TRỊ BỆNH CHO LỢN NÁI SINH SẢN TRONG GIAI ĐOẠN MANG THAI TẠI TRẠI LỢN NHÂM XUÂN TIẾN, HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH

Trang 1

MA TIẾN CÔNG

Tên đề tài:

“THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG VÀ PHÒNG TRỊ

BỆNH CHO LỢN NÁI SINH SẢN TRONG GIAI ĐOẠN MANG THAI TẠI TRẠI LỢN NHÂM XUÂN TIẾN, HUYỆN ĐÔNG HƯNG,

TỈNH THÁI BÌNH”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y

Khóa học: 2015 - 2019

Thái Nguyên - 2019

Trang 2

MA TIẾN CÔNG

Tên đề tài:

“THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG VÀ PHÒNG TRỊ

BỆNH CHO LỢN NÁI SINH SẢN TRONG GIAI ĐOẠN MANG THAI TẠI TRẠI LỢN NHÂM XUÂN TIẾN, HUYỆN ĐÔNG HƯNG,

TỈNH THÁI BÌNH”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y

Khóa học: 2015 - 2019 Giảng viên hướng dẫn :TS Phạm Thị Trang

Thái Nguyên - 2019

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình hướng tới thành công của mỗi con người ngoài sự cố gắng

nỗ lực của bản thân thì không thể không nhắc đến sự giúp đỡ, hỗ trợ của mọi người xung quanh Có được kết quả như ngày hôm nay, em đã nhận được sự chỉ bảo tận tình của cô giáo hướng dẫn, sự giúp đỡ của các thầy cô giáo Khoa Chăn

nuôi Thú y và trại lợn Nhâm Xuân Tiến - huyện Đông Hưng - tỉnh Thái Bình

Qua đây, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới:

Ban giám hiệu Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, ban chủ nhiệm Khoa Chăn nuôi Thú y cùng toàn thể thầy cô giáo Khoa Chăn nuôi Thú y đã tạo điều kiện thuận lợi và cho phép em thực hiện khóa luận

Em xin cảm ơn lãnh đạo trại lợn Nhâm Xuân Tiến cùng toàn thể các kỹ

sư, công nhân trong trang trại đã tạo điều kiện giúp đỡ và chỉ bảo nhiều kiến thức thực tế giúp em hoàn thành tốt quá trình thực tập

Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo TS Phạm Thị Trang đã luôn động viên, giúp đỡ và hướng dẫn chỉ bảo em trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này

Em xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, người thân cùng bạn bè đồng nghiệp đã giúp đỡ động viên em trong suốt quá trình học tập vừa qua

Em xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày 15 tháng 12 năm 2019

Sinh viên

Ma Tiến Công

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Khẩu phần ăn của lợn nái hậu bị, lợn nái cai sữa, lợn đực khai

thác, lợn đực chờ khai thác 17 Bảng 2.2 Khẩu phần ăn của lợn nái mang thai tại trại 18 Bảng 4.1 Cơ cấu đàn lợn nuôi tại trại trong 2 năm 2018 - 2019 30

Bảng 4.2 Kết quả thực hiện công tác vệ sinh tại cơ sở 35 Bảng 4.3 Kết quả tiêm phòng vắc xin cho lợn nái hậu bị nuôi tại cơ sở 36 Bảng 4.4 Kết quả tiêm phòng vắc xin cho đàn lợn nái mang thai tại cơ sở 37 Bảng 4.5 Tỷ lệ mắc các bệnh sảy thai, viêm tử cung, đau móng, viêm

khớp, bỏ ăn không rõ nguyên nhân ở đàn lợn nái mang thai nuôi tại trại 38 Bảng 4.6 Kết quả điều trị lợn nái mang thai bị sảy thai, viêm tử cung,

đau móng, viêm khớp, bỏ ăn không rõ nguyên nhân tại trại 40 Bảng 4.7 Kết quả thực hiện công tác vệ sinh, sát trùng chuồng trại 42

Trang 5

DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT

cm: Centimet cs.: Cộng sự

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC CÁC BẢNG ii

DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT iii

MỤC LỤC iv

Phần 1 : MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu của chuyên đề 2

1.3 Yêu cầu của chuyên đề 2

Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3

2.1.1 Điều kiện tự nhiên 3

2.1.2 Cơ sở vật chất của trang trại Nhâm Xuân Tiến 4

2.1.3 Cơ cấu tổ chức trang trại 5

2.1.4 Thuận lợi và khó khăn 5

2.2 Cơ sở tài liệu liên quan đến chuyên đề 6

2.2.1 Đặc điểm cấu tạo cơ quan sinh dục của lợn cái 6

2.2.2 Đặc điểm sinh lý sinh dục lợn cái 9

2.3 Chăm sóc nuôi dưỡng và quản lý lợn nái trong giai đoạn mang thai 14

2.3.1 Sự mang thai 14

2.3.2 Công tác quản lý và chăm sóc lợn nái trong giai đoạn mang thai 15

2.3.3 Nhu cầu dinh dưỡng của lợn nái 16

2.3.4 Quá trình đẻ 19

2.4 Một số bệnh thường gặp trên lợn nái mang thai 20

2.4.1 Sảy thai 20

2.4.2 Viêm tử cung 21

2.4.3 Bỏ ăn không rõ nguyên nhân 21

2.4.4 Đau móng, viêm khớp 22

Trang 7

2.5 Một số loại thuốc được sử dụng trong chuyên đề 22

2.6 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 24

2.6.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 24

2.6.2 Tình hình nghiên cứu nước ngoài 26

Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28 3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 28

3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 28

3.3 Nội dung nghiên cứu 28

3.4 Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp thực hiện 28

3.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi 28

3.4.2 Phương pháp thực hiện 29

3.4.3 Phương pháp tính toán các chỉ tiêu 29

3.4.4 Phương pháp xử lý số liệu 29

Phần 4 : KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC 30

4.1 Tình hình chăn nuôi lợn nái trong giai đoạn mang thai tại trại 30

4.2 Kết quả thực hiện quy trình chăm sóc và nuôi dưỡng và tại cơ sở 30

4.2.1 Công tác chăn nuôi 31

4.2.2 Chăm sóc nuôi dưỡng 33

4.3 Kết quả thực hiện quy trình phòng và điều trị bệnh tại cơ sở 34

4.3.1 Công tác phòng bệnh 34

4.3.2 Tình hình mắc bệnh của đàn lợn nái mang thai thai tại trại theo tháng 37

4.3.3 Kết quả điều trị lợn nái trong giai đoạn mang thai bị sảy thai, viêm tử cung, đau móng, viêm khớp, bỏ ăn không rõ nguyên tại cơ sở 39

4.3.4 Kết quả thực hiện vệ sinh, sát trùng chuồng trại tại cơ sở 41

PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 43

5.1 Kết luận 43

5.2 Đề nghị 44

TÀI LIỆU THAM KHẢO 45

Trang 8

Để có được đàn lợn giống tốt, chất lượng thì việc chăm sóc, nuôi dưỡng đàn lợn nái nhất là trong giai đoạn mang thai là vô cùng quan trọng, vì nó ảnh hưởng đến số lượng và chất lượng của đàn lợn giống sau này Ngoài ra việc phòng và điều trị bệnh cho đàn lợn nái sinh sản cũng góp phần đảm bảo chất lượng của con giống khi được sinh ra

Tuy nhiên, vẫn còn nhiều cơ sở chăn nuôi nhỏ lẻ, hộ gia đình do thiếu vốn đầu tư, cơ sở vật chất, khoa học kĩ thuật chưa đảm bảo nên việc chăm sóc nuôi dưỡng và phòng trị bệnh gặp nhiều khó khăn Đàn lợn nái sinh dễ gặp phải các bệnh như: viêm tử cung, viêm khớp, sảy thai, bại liệt trước và sau khi đẻ… Xuất phát từ những thực tế trên, nhằm nâng cao khả năng, chất lượng

sinh sản cho đàn lợn nái, em đã tiến hành nghiên cứu chuyên đề: “Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn nái sinh sản trong giai đoạn mang thai tại trại lợn Nhâm Xuân Tiến, huyên Đông Hưng, tỉnh Thái Bình”

Trang 9

1.2 Mục tiêu của chuyên đề

- Thực hiện quy trình chăm sóc và nuôi dưỡng lợn nái sinh sản Thành thạo trong việc sử dụng các loại thức ăn dành cho lợn nái sinh sản, khẩu phần

ăn và cách cho lợn nái ăn qua từng giai đoạn mang thai

- Phát hiện và chẩn đoán các bệnh thường hay sảy ra trên đàn lợn nái

sinh sản và phương pháp phòng, điều trị bệnh hiệu quả

1.3 Yêu cầu của chuyên đề

Nắm được tình hình chăn nuôi tại trại lợn Nhâm Xuân Tiến - huyện Đông Hưng - tỉnh Thái Bình”

- Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn lợn nái sinh sản tại trại đạt hiệu quả cao

- Có nhưng biện pháp phòng và trị bệnh hiệu quả cho đàn lợn nái trong giai đoạn mang thai tại trại

- Xác định tình hình nhiễm bệnh trên đàn lợn nái sinh sản tại trại

- Đánh giá hiệu quả của quy trình phòng, trị bệnh cho đàn lợn nái tại trại

Trang 10

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập

2.1.1 Điều kiện tự nhiên

* Vị trí địa lý

- Xã Đông Á có diện tích 6,47 km² Theo tổng điều tra dân số năm 1999,

xã Đông Á có số dân 6.990 người

- Xã Đông Á nằm ở phía đông nam của huyện Đông Hưng

- Phía đông giáp xã Đông Huy, huyện Đông Hưng

- Phía nam giáp xã Đông Hoàng, huyện Đông Hưng và các xã Vũ Tây,

An Bình, huyện Kiến Xương (ranh giới tự nhiên là sông Trà Lý)

- Phía tây giáp xã Đông Hoàng, huyện Đông Hưng

- Phía bắc giáp các xã Đông Vinh và Đông Phong, huyện Đông Hưng Trang trại Nhâm Xuân Tiến nằm trên địa bàn xã Đông Á, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình Với tổng diện tích 10 ha, được xây dựng theo hệ thống khép kín Trang trại nằm trên một cánh đồng, cách xa khu dân cư

Được sự cho phép của khuyến nông tỉnh Thái Bình, trại lợn của ông Nhâm Xuân Tiến (trang trại tổng hợp Đông Hòa) được thành lập và đi vào hoạt động năm 2010 là một trang trại tư nhân nuôi gia công cho công ty cổ phần thức ăn chăn nuôi CP Việt Nam với trang thiết bị hiện đại cùng đội ngũ

kĩ thuật vững vàng cũng như con giống và nguồn thức ăn đảm bảo

* Đặc điểm khí hậu

- Trại chăn nuôi nằm trong địa bàn của xã Đông Á, nằm trong khu vực đồng bằng bắc bộ chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa

- Nhiệt độ trung bình khoảng 23 - 24 độ C

- Lượng mưa trung bình năm 2.500 mm, phân bố không đều trong năm tập trung nhiều và tháng 7, tháng 8

Trang 11

- Độ ẩm không khí 86,1%

- Với điều kiện khí hậu như vậy, tương đối thuận lợi cho ngành chăn nuôi phát triển

2.1.2 Cơ sở vật chất của trang trại Nhâm Xuân Tiến

Trại được xây dựng trên diện tích gần 10 ha chia làm 2 khu vực chính là: khu sinh hoạt chung cho công nhân và khu sản xuất

Trong khu sinh hoạt chung cho công nhân gồm có: Cổng ra vào trại, nhà giám đốc, phòng sinh hoạt ngoài giờ làm của công nhân, nhà ăn,… các khu phục

vụ cho các nhu cầu thiết yếu cho công nhân ngoài giờ làm Ngoài ra trại còn thiết

kế thêm một số khu vui chơi phục vụ nhu cầu giải trí của công nhân

Khu chăn nuôi gồm 2 phần chính: Chuồng đẻ và chuồng bầu

Hệ thống chuồng đẻ của trại gồm 6 dãy chuồng chính, mỗi dãy chuồng gồm 2 ngăn chuồng có cửa thông với nhau ở cả đầu trên và cuối chuồng Mỗi ngăn chuồng lại gồm 54 ô chia làm 2 dãy với kích thước mỗi ô là 2,4 m x 1,6 m

ô Trong mỗi ngăn được lắp đặt hệ thống dàn mát ở đầu chuồng và 3 quạt thông gió ở cuối chuồng Ngoài ra mỗi ngăn còn được lắp đặt thêm cửa sổ và hệ thống chiếu sáng, hệ thống điện Ngoài 6 chuồng chính còn có 2 chuồng cai sữa phục

vụ cho việc chăm sóc lợn con đã qua 2 ngày tuổi xuất chuồng mà chưa được xuất bán

Thứ 2 là hệ thống chuồng bầu với 4 chuồng chính trong mỗi chuồng được lắp đặt 560 ô, kích thước 2,4 m x 0,65 m/ô Cũng như chuồng đẻ, chuồng bầu cũng có dàn mát, cuối mỗi chuồng có 8 quạt thông gió, ngoài ra trong mỗi chuồng bầu còn có hệ thống làm mát cho lợn bằng nước Bên cạnh 4 chuồng chính còn có chuồng đực với sức chứa 30 lợn đực, 3 chuồng cách ly dùng để nhốt lợn mới nhập, lợn có dấu hiệu bị bệnh, 1 phòng tinh

Nguồn nước được sử dụng trong trại được cung cấp từ hệ thống giếng khoan, nước sau khi được bơm lên 2 bể được xử lý bằng hóa chất Sau đó được

Trang 12

bơm lên một bể ở trên cao, lợi dụng áp lực của nước để đưa nước tới hệ thống cung cấp nước uống, dàn mát và các vòi nước phục vụ cho công việc vệ sinh Trong khu sản xuất còn có kho thuốc, phòng tắm sát trùng, nhà giặt và kho cám

2.1.3 Cơ cấu tổ chức trang trại

Trại gồm có 63 người, trong đó có:

+ 01 chủ trại

+ 01 quản lý

+ 01 kế toán

+ 04 kỹ sư trại

+ 04 tổ trưởng (2 chuồng đẻ, 2 chuồng bầu)

+ 48 công nhân trại

+ 04bảo vệ chịu trách nhiệm bảo vệ tài sản chung của trại

Với đội ngũ công nhân trên, trại phân ra làm các tổ khác nhau như tổ chuồng đẻ, tổ chuồng bầu Mỗi tổ thực hiện công việc hàng ngày một cách nghiêm túc, đúng quy định của trại

2.1.4 Thuận lợi và khó khăn

Trang 13

- Đội ngũ cán bộ kỹ thuật có chuyên môn vững vàng, đội ngũ công nhân rất nhiệt tình, năng động và có tinh thần trách nhiệm cao trong công việc, do đó đã mang lại hiệu quả chăn nuôi cao cho trang trại

2.2 Cơ sở tài liệu liên quan đến đề tài

2.2.1 Đặc điểm cấu tạo cơ quan sinh dục của lợn cái

Cơ quan sinh dục của lợn cái cấu tạo gồm bộ phận sinh dục bên trong và

bộ phận sinh dục bên ngoài

Bộ phận sinh dục bên ngoài: âm môn, âm vật, tiền đình

Bộ phận sinh dục bên trong: Buồng trứng, ống dẫn trứng, tử cung và âm đạo Nguyễn Mạnh Hà và cs (2012) [1] cho biết, đặc điểm cấu tạo cơ quan sinh dục lợn cái như sau:

* Bộ phận sinh dục bên ngoài

- Âm môn (Vulva): Hay còn gọi là âm hộ Nằm ở dưới hậu môn Phía

ngoài âm môn có 2 môi Nối liền 2 môi là 2 mép Trên 2 môi âm môn có sắc

tố đen và nhiều tuyến tiết Tuyến tiết chất nhờn trắng và tuyến mồ hôi

- Âm vật (Clitoris): Cấu tạo cũng có thể hổng như con đực Trên âm vật

có nếp da tạo mũ âm vật, giữa âm vật bẻ gấp xuống dưới Âm vật được phủ bởi một lớp niêm mạc có chứa các đầu mút thần kinh cảm giác, do đó trong thực tế sau khi dẫn tinh cho gia súc cái, người thụ tinh thường xoa bóp nhẹ

Trang 14

vào âm vật kích thích con cái hưng phấn để cổ tử cung co thắt và con vật trở lại trạng thái bình thường

- Tiền đình (Vestibulum vaginae sinusinogentalis): Là giới hạn giữa âm

môn và âm đạo Trong tiền đình có màng trinh, phía trước màng trinh là âm đạo, phía sau là âm môn, sau màng trinh là lỗ niệu đạo Tiền đình có một số

tuyến hướng quay về âm vật

* Bộ phận sinh dục bên trong

- Âm đạo (Vigina): Phía trước âm đạo là cổ tử cung, phía sau là tiền đình

có màng trinh che lỗ âm đạo Âm đạo là lỗ tròn để chứa cơ quan sinh dục sinh đực khi giao phối Đồng thời là bộ phận cho thai đi ra ngoài trong quá trình

đẻ, kích thước âm đạo của lợn là 10 - 12 cm

- Tử cung (Uterus): Tử cung là nơi làm tổ, cung cấp chất dinh dưỡng cho

sự phát triển của bào thai Tử cung nằm trong xoang chậu, dưới trực tràng, trên bóng đái Tử cung gồm 3 phần: sừng, thân, cổ tử cung

+ Ngoài cùng là lớp tương mạc được nối với dây chằng rộng Lớp cơ: cơ trơn rất phát triển dày, khỏe có cấu tạo với chức năng chứa thai phát triển và đẩy thai khi đẻ Cơ dọc ở ngoài, cơ vòng ở trong Cơ vòng phát triển mạnh ở

cổ tử cung tạo thành cơ thắt Lớp niêm mạc trong cùng có màu hồng nhạt có nhiều nếp gấp, trong niêm mạc có nhiều tuyến tiết ra chất nhờn Niêm mạc đến cổ tử cung thì thắt tùy thuộc vào từng loại gia súc

+ Mạch quản thần kinh: Động mạch đến từ động mạch tử cung - buồng trứng và động mạch tử cung Thần kinh đến từ đám rối treo đằng sau và đám rối hạ vị Sừng tử cung của lợn dài ngoằn nghèo như ruột non dài từ 0,5 - 1m Dây chằng rộng dài nên khi thiến có thể kéo sừng tử cung ra ngoài được + Thân tử cung ngắn, niêm mạc thân và sừng tử cung là những nếp nhăn nheo theo chiều dọc Thai làm tổ ở sừng tử cung Cổ tử cung không có nếp gấp hoa nở mà là những cột thịt xen kẽ cài răng lược với nhau

Trang 15

- Buồng trứng (Ovarium): Có hai buồng trứng treo ở cạnh trước dây

chằng rộng và nằm trong xoang chậu Bên ngoài là một màng liên kết sợi chắc như màng bao dịch hoàn Bên trong buồng trứng chia làm hai miền: miền vỏ và miền tủy, được cấu tạo bởi lớp mô liên kết sợi xốp tạo cho buồng trứng một chất đệm

+ Miền vỏ: đặc biệt quan trọng với chức năng sinh dục, đảm bảo quá trình phát triển của trứng cho đến khi trứng chín và rụng

+ Miền tủy: nằm ở giữa gồm nhiều mạch máu, dây thần kinh, mạch bạch huyết và tổ chức liên kết dày đặc đảm bảo nhiệm vụ nuôi dưỡng và bảo vệ trứng Buồng trứng như một tuyến nội tiết của gia súc cái Buồng trứng có hai chức năng: Nội tiết (tiết ra hormone sinh dục cái oestrogen) và ngoại tiết (bài noãn) Các hormone sinh dục cái: estrogen, progesteron và inhibin tham gia

vào việc điều khiển chu kì sinh sản của lợn cái Estrogen cần thiết cho sự phát

triển của tử cung và hệ thống dẫn của tuyến vú Progesteron do thể vàng tiết

ra kích thích sự phân tiết của tử cung để nuôi dưỡng thai, ức chế sự co thắt của tử cung và phát triển nang tạo sữa của tuyến vú Oxytocin được tiết ra chủ yếu bởi phần sau của tuyến yên và cũng được tiết bởi thể vàng của buồng trứng khi con vật gần sinh, nó làm co thắt cơ tử cung trong lúc sinh đẻ và cũng làm co thắt cơ trơn tuyến vú để thải sữa Relaxin do thể vàng tiết ra gây dãn nở xương chậu, làm dãn và mềm cổ tử cung, do đó mở rộng đường sinh

dục khi lợn sắp sinh Inhinbin có tác dụng ức chế sự phân tiết kích tố noãn

(FSH) từ tuyến yên, do đó ức chế sự phát triển noãn nang theo chu kì

Khi noãn nang bào thành thục thì màng liên kết buồng trứng sẽ tách ra

Tế bào trứng rời khỏi buồng trứng đi vào loa kèn, noãn nang bào rách ra sẽ liền ngay Các tế bào phân chia nhanh thành một khối tế bào lớn để lấp kín xoang noãn bào và trở thành thể vàng Nếu tế bào trứng được thụ tinh thì thể vàng tồn tại và tiết ra hormone progesterone có tác dụng an thai và ngược lại

Trang 16

- Ống dẫn trứng (Oviductus):Là một ống nhỏ ngoằn ngoèo nằm ở màng

treo buồng trứng

Cấu tạo gồm 3 phần: ngoài cùng là sợi liên kết được kéo dài từ màng treo buồng trứng Giữa là lớp cơ trơn, trong cùng là niêm mạc được cấu tạo bằng tế bào hình trụ, hình vuông làm nhiệm vụ tiết dịch Bề ngoài niêm mạc được phủ một lớp nhung mao, luôn rung động để đẩy tế bào trứng hoặc hợp

tử xuống tử cung làm tổ

Ống dẫn trứng có chức năng là vận chuyển trứng và tinh trùng theo hướng ngược chiều nhau Bộ phận giống như tua diềm vận chuyển trứng đã rụng từ bề mặt buồng trứng đến phễu Trứng được chuyển qua những lớp nhầy đi đến phồng ống dẫn trứng, nơi xảy ra sự thụ tinh và được lưu lại trong ống dẫn trứng khoảng 3 ngày trước khi chúng được chuyển đến tử cung Thời gian trứng di chuyển trong ống dẫn trứng từ 3 - 10 ngày Ống dẫn trứng cung cấp điều kiện thuận lợi cho sự hợp nhất của các giao tử và cho sự phát triển

ban đầu của phôi (Nguyễn Văn Thanh, 2014) [6]

2.2.2 Đặc điểm sinh lý sinh dục lợn cái

* Sự thành thục về tính

Theo Nguyễn Văn Trí (2008) [12], tuổi động dục đầu tiên ở lợn nái ngoại Yorkshire, Landrace là 6 - 7 tháng tuổi tương ứng với trọng lượng 65 – 70 kg và lợn nái lai F1 là 6 tháng tuổi tương ứng với trọng lượng 50 – 55 kg

Thời điểm động dục của lợn cái khác nhau trên cùng một giống lợn Con vật được chăm sóc nuôi dưỡng tốt sẽ thành thục sớm hơn những con ít được chăm sóc Sự kích thích của con đực làm con lợn cái nhanh động dục hơn so với những con không được tiếp xúc với lợn đực

Theo Hoàng Toàn Thắng và Cao Văn (2006) [8] thì sự thành thục về tính dục ngoài việc phụ thuộc vào sự điều hòa của thần kinh, thể dịch còn phụ thuộc vào các yếu tố ngoại cảnh khác như: Giống, dinh dưỡng, khí hậu, mùa

vụ, sự tiếp xúc giữa con đực và con cái… Các giống lợn nội thành thục sớm hơn lợn ngoại, lợn lai Gia súc nhiệt đới thành thục sớm hơn gia súc ôn đới

Trang 17

Một cơ thể được gọi là thành thục về tính khi bộ máy sinh dục của cơ thể phát triển căn bản đã hoàn thiện Dưới tác dụng của thần kinh, nội tiết tố (các phản xạ về sinh dục) Khi có các noãn bào chín và tế bào trứng rụng

 Sự thành thục về thể vóc

Theo Nguyễn Đức Hùng và cs (2003) [2] sự thành thục về thể vóc là sự phát triển hoàn toàn về ngoại hình và thể chất đạt mức độ hoàn chỉnh, tầm vóc

ổn định Tuổi thành thục về thể vóc thường muộn hơn sự thành thục về tính

Sự thành thục về tính được đánh dấu khi xuất hiện khi có dấu hiệu động dục lần đầu, nhưng sự sinh trưởng và phát dục về cơ thể vẫn tiếp tục Nếu cho phối giống ngay ở giai đoạn thành thục về tính này sẽ không tốt cho lợn nái Lợn mẹ vẫn thụ thai nhưng không đảm bảo bào thai phát triển tốt, chất lượng đàn con kém, đồng thời cơ quan sinh dục chưa phất triển hoàn thiện, xương chậu hẹp gây ra hiện tượng khó đẻ Điều này ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của lợn nái sau này, do đó không nên phối giống khi lợn chưa thành thục

về thể vóc Đối với lợn nội ta chỉ nên phối giống khi lợn được 7 - 8 tháng tuổi, đạt 40 – 50 kg thể trọng, lợn nái ngoại nên phối khi lợn được 8 - 9 tháng tuổi và đạt 100 -110 kg thể trọng

 Chu kỳ động dục

Theo Nguyễn Mạnh Hà và cs (2012) [1]: Sau khi thành thục tính dục, gia súc cái bắt đầu có hoạt động sinh sản Dưới sự điều hòa của hormone tuyến yên, nang trứng tăng trưởng, thành thục (chín) và rụng Kèm theo quá trình này là hàng loạt biến đổi toàn thân và cơ quan sinh dục được biểu hiện

bởi các triệu chứng đặc biệt, gọi là triệu chứng động dục

Ở lợn thường động dục không theo mùa, chu kì động dục trung bình là

21 ngày, giao động trong koảng từ 18 - 22 ngày Thời gian xuất hiện động dục sau khi đẻ liên quan đến vấn đề cho con bú Thời gian lợn động dục sau khi cai sữa lợn con là từ 3 - 5 ngày Nếu không cho con bú thì sau đẻ 3 - 5 ngày lợn động dục trở lại vì thể vàng ở lợn teo đi rất nhanh

Trang 18

Thời gian động dục lần thứ hai sau 20 - 22 ngày, quá trình động dục kéo dài cao độ trong khoảng 24 - 72 giờ, thời điểm rụng trứng là ngày thứ 2 sau động dục

Hoàng Toàn Thắng và Cao Văn (2006) [8] cho biết: Chu kỳ động dục của gia súc chia làm 4 giai đoạn:

+ Giai đoạn trước động dục: Là giai đoạn đầu của chu kỳ sinh dục lúc này buồng trứng to hơn bình thường

Giai đoạn này các tế bào của vách ống dẫn trứng tăng cường sinh trưởng,

số lượng lông nhung tăng lên, đường sinh dục xung huyết, nhu động sừng tử cung tăng lên, dịch nhầy ở âm đạo tăng nhiều Nhưng tính hưng phấn chưa cao Khi noãn bào chín, tế bào trứng được tách ra, sừng tử cung co bóp mạnh,

cổ tử cung mở hoàn toàn Niêm dịch ở đường sinh dục chảy ra nhiều lúc này con vật bắt đầu xuất hiện tính dục

+ Giai đoạn động dục: Lúc này cơ thể gia súc cái và cơ quan sinh dục có biểu hiện hàng loạt những biến đổi sinh lý Bên ngoài âm hộ phù thũng, niêm mạc xung huyết Niêm dịch trong suốt từ trong chảy ra nhiều, con vật biểu hiện tính hưng phấn cao độ, gia súc không yên tĩnh, ăn uống giảm, kêu, rống, phá chuồng, nhảy lên lưng con khác, thích gần con đực Giai đoạn này tế bào trứng ra khỏi buồng trứng gặp tinh trùng sẽ được thụ thai thì chu kỳ sẽ dừng lại Gia súc cái trong giai đoạn có thai đến khi đẻ xong thì chu kỳ tính không xuất hiện

+ Giai đoạn sau động dục: Giai đoạn này cơ thể gia súc và cơ quan sinh dục dần dần trở lại bình thường Các phản xạ động dục, tính hưng phấn dần mất hẳn, con vật chuyển sang thời kỳ yên tĩnh hoàn toàn

+ Giai đoạn nghỉ ngơi: Đây là giai đoạn dài nhất, các biểu hiện về tính của gia súc ở thời kỳ này yên tĩnh hoàn toàn Cơ quan sinh dục không có biểu hiện hoạt động, trong buồng trứng thể vàng teo đi, noãn trong buồng trứng bắt đầu phát dục và lớn lên, các cơ quan sinh dục đều ở trạng thái sinh lý

Trang 19

 Phát hiện động dục

- Tiến hành thử lợn bằng cách cho lợn nái đi qua ô chuồng nhốt lợn đực, nếu đến chu kỳ động dục thì lợn nái có biểu hiện kích thích thần kinh tai vểnh lên và đứng ì lại

- Lợn có biểu hiện bồn chồn hay đứng lên ngồi xuống, thường quan sát được vào khoảng 10 - 11 giờ trưa

- Cơ quan sinh dục có biểu hiện: âm hộ sunghuyết, sung, mẩy đỏ, có dịch trong chảy ra, loãng và ít, sau dần chuyển sang đặc dính

Sau khi phát hiện động dục thì ta tiến hành cho phối giống bằng phương pháp thụ tinh nhân tạo

 Thời điểm phối giống thích hợp

Quá trình chăn nuôi lợn nái sinh sản, người chăn nuôi phải biết chính xác chu kỳ và các giai đoạn của quá trình động dục để chủ động điều chỉnh thời điểm phối giống, sinh đẻ của lợn nái cho thuận lợi nhất, đem lại hiệu quả kinh tế cao

và hạn chế được rủi ro tới mức thấp nhất Đồng thời có thể cân bằng được chế độ nuôi dưỡng, chăm sóc sao cho phù hợp nhất Có thể phối giống kịp thời, đúng thời điểm, vừa tăng số lượng lợn con/lứa vừa không bỏ lỡ mất chu kì phối giống, tăng số lần phối/năm, nâng cao năng suất sinh sản của lợn nái

Tinh trùng tồn tại trong tử cung 2 - 3 giờ, tinh trùng có thể sống trong âm đạo từ 30 - 48 giờ Thời gian trứng của lợn nái tồn tại và thụ thai có hiệu quả

là rất ngắn, do vậy phải tiến hành đúng lúc Thời điểm phối giống thích hợp nhất là vào giữa giai đoạn chịu đực

Chỉ nên phối giống cho nái hậu bị từ lần động dục thứ 2 khi đạt 6 - 7 tháng tuổi, nặng trên 50 kg đối với lợn nội, 7 - 8 tháng tuổi và nặng 60 - 70 kg đối với lợn lai (nội x ngoại), 9 - 10 tháng tuổi nặng trên 80 - 90 kg đối với lợn

ngoại và lợn lai (ngoại x ngoại) (Nguyễn Khắc Tích, 2002) [11]

Trang 20

Đối với lợn nái ngoại, lợn nái lai thời điểm phối giống thích hợp nhất là sau khi có hiện tượng chịu đực 6 - 8 giờ hoặc cho phối vào cuối ngày thứ 3 và sáng ngày thứ tư kể từ khi bắt đầu động dục

Đối với lợn nái nội nên phối giống vào cuối ngày thứ 2 và sáng ngày thứ

3 vì thời gian động dục ngắn hơn

Khi thực hiện thụ tinh nhân tạo, nếu thấy lợn nái chịu đực buổi sớm thì cho phối vào buổi chiều, nếu có biểu hiện chịu đực buổi chiều thì sáng hôm sau phối, thường cho phối 2 lần (phối lặp) ở giai đoạn chịu đực hay “chặn đầu khóa đuôi” của thời kỳ rụng trứng

Thụ tinh nhân tạo cho lợn nái gồm các bước:

Bước 1: Xác định thời điểm động dục, thời điểm chịu đực chính xác

(thường sau 24 - 29 giờ)

Bước 2: Chuẩn bị dụng cụ: dẫn tinh quản, bình xịt nước muối sinh lí, gel

bôi trợn, bông thấm

Bước 3: Chuẩn bị tinh dịch đảm bảo về thể tích, (mỗi liều khoảng 80

-100 ml), tỉ lệ tinh trùng tiến thẳng trong một liều tinh, tinh dịch đã được pha chế và kiểm tra hoạt lực

Bước 4: Vệ sinh lợn nái, vệ sinh phía ngoài của bộ phận sinh dục, mông

chân bằng nước sạch, sau đó rửa lại cơ quan sinh dục bên ngoài bằng nước muối sinh lý, lau khô bằng khan sạch

Bước 5: Tiến hành phối giống:

 Kích thích lợn cái bằng cách cưỡi lên trên lưng lợn hoặc sử dụng đại đặt lên trên phần lưng hông của lợn trong khoảng 5 phút

 Bôi trơn đầu mút của dẫn tinh quản bằng gel bôi trơn

 Đưa ống dẫn tinh quản vào cơ quan sinh dục cái, xoay nhẹ theo chiều kim đồng hồ, khi kịch thì rút nhẹ ra khoảng 2 cm, nắm liều tinh đã chuẩn bị vào đầu dẫn tinh quản, khi hết tinh thì rút liều tinh ra, lưu lại ốn dẫn tinh quản trong đường sinh dục cái khoảng 5 phút

Trang 21

 Rút nhẹ ống dẫn tinh quản theo chiều kim đồng hồ, vỗ mạnh vào lưng lợn một cách đột ngột để lợn đóng cổ tử cung lại

Bước 6: sau khi dẫn tinh xong thì vệ sinh dụng cụ sạch sẽ, số lần thụ tinh

trong một chu kì là 2 - 3 liều tinh, được ghi lại trên thẻ của từng nái Sau khi thụ tinh 21 - 25 ngày tiếp tục quan sát hiệu quả thụ thai, phát hiện kịp thời lợn nái động dục trở lại để tiến hành thụ tinh lại Kết quả thụ thai của thười kỳ động dục nào sẽ ghi ở vào kết quả thụ thai của thời kỳ đó

2.3 Chăm sóc nuôi dưỡng và quản lý lợn nái trong giai đoạn mang thai

2.3.1 Sự mang thai

Nguyễn Thiện và Hoàng Kim Giao (1996) [10] cho biết, sau khi phối giống 21 ngày mà lợn nái không thấy có dấu hiệu động dục lại thì lợn nái đã đậu thai Sau thời gian lưu lại ở ống dẫn trứng khoảng 3 ngày để tự dưỡng (noãn hoàng và dịch thể do ống dẫn trứng tiết) hợp tử bắt đầu di chuyển xuống tử cung, tìm vị trí thích hợp để làm tổ, hình thành bào thai Sự biến đổi nội tiết tố trong cơ thể mẹ trong thời gian có chửa như sau: progesterone trong

10 ngày đầu có chửa tăng rất nhanh cao nhất vào ngày chửa thứ 20 rồi giảm xuống ở 3 tuần đầu, sau đó duy trì ổn định trong thời gian có chửa để an thai,

ức chế động dục, 1 - 2 ngày trước khi đẻ progesterone giảm đột ngột Estrogen trong suốt thời kỳ có chửa duy trì ở mức độ thấp, cuối thời kỳ có chửa khoảng 2 tuần thì bắt đầu tăng dần, đến khi đẻ thì tăng cao nhất Thời gian mang thai của lợn nái có thể kéo dài trong khoảng là 115 - 118 ngày Thời gian mang thai được tính từ khi phối giống lần cuối cùng, thời gian mang thai cũng phụ thuốc vào một số yếu tố và điều kiện khác nhau Thời gian mang thai dài hay ngắn phụ thuộc vào loài, giống gia súc, tuổi gia súc, lứa sinh sản, tình trạng dinh dưỡng, tình trang sức khỏe, số lượng bào thai, trạng thái của

cơ quan sinh sản

Nguyễn Văn Trí (2008) [12] cho rằng: thời gian chửa của lợn nái được chia làm hai thời kì:

Trang 22

+ Chửa kỳ I: là thời gian lợn có chửa từ ngày thứ 1 đến ngày thứ 84 + Chửa kỳ II: là thời gian lợn chửa từ ngày 85 đến ngày đẻ dự kiến

2.3.2 Công tác quản lý và chăm sóc lợn nái trong giai đoạn mang thai

Theo Nguyễn Văn Thanh và cs (2015) [7], công tác quan trọng nhất trong chăm sóc, quản lý lợn nái mang thai đó là phòng ngừa sảy thai, nghĩa là công tác bảo vệ bào thai để thai sinh trưởng, phát dục bình thường, tránh các tác động từ ngoại lực gây đẻ non, sảy thai, nhất là trong giai đoạn mang thai thứ II

Nguyên nhân sảy thai chủ yếu do nền chuồng hay sân chơi mấp mô, gồ ghề làm cho lợn trượt ngã, cửa ra vào nhỏ lợn phải chen lấn, xô đẩy nhau, đánh đập lợn, tắm nước lạnh đột ngột

 Vận động

Trong điều kiện chăn nuôi có bãi chăn thải thì đối với lợn nái mang thai trong giai đoạn I cần chú ý cho vận động nhất là đối với lợn nái có thể trạng béo Đối với những cơ sở chăn nuôi có điều kiện tài chính khó khăn tiêu chuẩn và khẩu phần ăn cho lợn nái còn thấp nhưng cho chăn thả, vận động hợp lý kết hợp với thức ăn mà lợn kiếm được từ chăn thả thì lợn nái vẫn khỏe mạnh, thai sinh trưởng, phát dục tốt, lợn con có sức sống cao

Thời gian vận động trong khoảng 1 - 2 lần/ngày, mỗi lần 60 - 90 phút/lần Lợn nái mang thai kỳ II hạn chế cho vận động, lúc gần đẻ một tuần thì chỉ cho đi lại quanh sân

Chú ý: khi thời tiết xấu hay nơi chăn thả không bằng phẳng, có nhiều

rãnh thì không cho vận động Trước khi cho vận động thì cho uống đủ nước

để lợn nái không uống nước bẩn bên ngoài

 Tắm chải

Tắm chải cho lợn nái là rất cần thiết, vệ sinh sạch sẽ lông da của lợn, giúp tăng cường trao đổi chất, tuần hoàn, lợn nái cảm thấy thoải mái, kích thích thèm

ăn, phòng các loại bệnh ngoài da Việc tắm chải cho lợn nái nên thực hiện đặc biệt

là trong mùa hè, kí sinh trung thì còn chống nóng cho lợn nái

Trang 23

 Chuồng trại

Chuồng trại khi xây dựng phải đảm bảo đúng quy định để nuôi lợn nái mang thai Có chế độ nuôi nhốt phù hợp theo từng giai đoạn, tại trại quy mô công nghiệp thì ngay từ khi nhập lợn hậu bị người ta đã tiến hành nhốt mỗi con một ô để có thể dễ dàng chăm sóc, theo dõi trong từng giai đoạn mang thai của lợn, lợn nái sẽ được nuôi theo từng khu theo từng giai đoạn mang thai Chuồng nuôi phải luôn được vệ sinh sạch sẽ, nhiệt độ phù hợp theo từng mùa, khô ráo thoáng mát Trước khi lợn đẻ theo lịch dự kiến một 1 tuần thì cho lợn nái sang ô đẻ

Chuồng nuôi phải đảm bảo yên tĩnh, thoải mái cho lợn nái trong giai đoạn thai kỳ, tránh tạo ra những tiếng động mạnh, đột ngột, ảnh hưởng không tốt tới lợn nái

Mỗi nái mang thai đều được gắn thẻ mang mã số riêng từng con, và thẻ ghi thông tin về ngày phối, ngày đẻ dự kiến, ngày đẻ thực tế, lứa đẻ, số con đẻ

ra, số con chết, số con hiện nuôi, số con cai sữa hay sự cố sảy ra như sảy thai, không đậu thai, chết thai để có biện pháp xử lý

2.3.3 Nhu cầu dinh dưỡng của lợn nái

Đối với lợn nái hậu bị hay lợn nái vừa cai sữa, khẩu phần ăn phù hợp rất cần thiết Lợn hậu bị trước khi đến khi phối cần có khối lượng cơ thể cân đối, cùng với sức khỏe đảm bảo, không viêm nhiễm, quá gầy, ảnh hưởng đến thời gian động dục, khả năng đậu thai Lợn nái sau khi cai sữa xong thường giảm khối lượng cơ thể, có nhiều con sức khỏe giảm, gầy yếu, việc cung cấp khẩu phần ăn là để bù đắp lại khối lượng cơ thể để chu kỳ độc dục xuất hiện nhanh

và tỷ lệ đậu thai cao Lợn đực có khẩu phần ăn vừa đủ để không quá béo, không quá gầy Việc nuôi dưỡng, cũng cấp khẩu phần ăn phù hợp cho lợn đực

là rất quan trong, để đảm bảo chất lượng tinh trùng Lợn đực cũng có chế độ khai thác phù hợp, khai thác khi lợn đực khhông quá non, không quá già, khai thác không quá dày đặc khiến lợn đực quá sức Dưới đây là bảng thể hiện khẩu phần ăn dành cho lợn nái hậu bị, lợn nái sau cai sữa, lợn đực, lợn đực chờ khai thác tại trại

Trang 24

Bảng 2.1 Khẩu phần ăn của lợn nái hậu bị, lợn nái cai sữa, lợn đực khai

thác, lợn đực chờ khai thác

Loại lợn Tiêu chuẩn khẩu phần

ăn (kg/con/ngày) Loại cám

(Nguồn: phòng kỹ thuật trại)

Theo Nguyễn Văn Thắng và Nguyễn Thị Xuân (2016) [9], cần cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng cho lợn nái để đảm bảo nhu cầu cho sự phát triển của thai, nhu cầu duy trì cơ thể và tích lũy trong giai đoạn tiết sữa nuôi con sau này Đối với lợn nái hậu bị, mang thai lần đầu thì lượng dinh dưỡng cần cao hơn để lợn nái hậu bị tiếp tục phát triển hoàn thiện

Trong giai đoạn chửa kỳ I khẩu phần ăn của lợn phải có tỷ lệ protein là

13 - 14%, năng lượng trao đổi từ 2.800 – 2.900 Kcal Nhưng ở giai đoạn II tỷ

lệ protein trong khẩu phần ăn phải cao hơn từ 15 - 20% Ở giai đoạn I bào thai chưa phát triển mạnh, dinh dưỡng chủ yếu dành cho lợn nái để duy trì cơ thể, một phần nhỏ là để nuôi bào thai Giai đoạn II tốc độ phát triển của bào thai rất nhanh, cần dinh dưỡng nhiều cho bào thai để lợn con khi sinh ra đạt yêu cầu về khối lượng theo từng giống Đối với lợn Larndrace thì khối lượng lợn con sơ sinh trung bình đạt 1,4 kg/con, lợn Yorkshire khối lượng lợn con sơ sinh là 1,3 kg/con

Khi xác định được lượng cám cho ăn trong một ngày cần phải chú ý đến thể trạng của lợn nái, sức khỏe, giống và khối lượng của lợn nái, giai đoạng thai kỳ của lợn nái mang thai, loại cám, chất lượng, phẩm chất của cám, nhiệt

độ chuồng nuôi Ví dụ như lợn nái mang thai kì II cho ăn với khẩu phần ăn

Trang 25

nhiều hơn giai đoạn I, gầy cho ăn nhiều hơn, lợn béo cho ăn ít hơn Mùa đông thì cho ăn với khẩu phần ăn tăng lên khoảng 0,3 - 0,5 kg/nái, nhiệt độ chuồng phù hợp là nằm trong khoảng từ 25 - 30°C

Đối với lợn nái mang thai lần đầu thì dinh dưỡng có thể tăng lên 10 - 15% vì ngoài dinh dưỡng nuôi bào thai thì lợn cần dinh dưỡng để phát triển

cơ thể Đối với lợn nái tách con thì cần phải cho ăn tăng lên để rụng nhiều trứng, tăng số con đẻ ra cho lứa sau Việc tăng giảm khẩu phần ăn còn tùy thuộc vào lợn nái béo hay gầy Tại trại, khẩu phần ăn của lợn nái theo từng giai đoạn mang thai từng loại cám và theo thể trạng của từng con lợn

Bảng 2.2 Khẩu phần ăn của lợn nái mang thai tại trại

Giai đoạn

Thể trạng lợn nái

Loại cám

Nái gầy Nái

trung bình Nái béo

Từ 22 - 84 ngày sau phối 3,0 2,2 1,8 566SF

Từ 85 - 110 ngày sau phối 4,0 3,5 3,0 567SF

Từ 111 - 113 ngày sau phối 4,0 3,5 3,0 567SF

(Nguồn: Phòng kỹ thuật trại)

Trong chăn nuôi công nghiệp người ta sử dụng thức ăn tinh, mùi thơm ngon, không bị ôi thiu, ẩm mốc, hàm lượng dinh dưỡng phù hợp với lợn nái trong từng giai đoạn mang thai

Gần đến ngày đẻ cần giảm lượng cám xuống nhưng vẫn đảm bảo dinh dưỡng bằng cách sử dụng cám giàu dinh dưỡng Không được cho lợn nái ăn

Trang 26

thức ăn ôi thiu, nấm mốc, thức ăn có độc gây sảy thai, đẻ non Không cho ăn quá nhiều với lợn sau phối 35 ngày

* Ảnh hưởng của khẩu phần ăn không phù hợp đối với lợn nái mang thai: Cho lợn nái ăn quá nhiều:

Về mặt kinh tế: Khẩu phần ăn phù hợp không bị lãng phí dư thừa cám giúp người chăn nuôi tiết kiệm tiền bạc, nâng cao lợi nhuận trong chăn nuôi

Về mặt kỹ thuật: lợn nái không bị thừa nhu cầu của gai đoạn chửa Nếu cho ăn quá nhiều thì lợn nái sẽ quá béo, tỷ lệ chết phôi cao, đặc biệt là giai đoạn sau 35 ngày Lợn nái quá béo làm cho chân yếu, đè con trong giai đoạn nuôi con, tiết sữa kém do mỡ chèn ép lên tuyến sữa, làm cho nái khó đẻ, kéo dài thời gian đẻ

Cho lợn nái ăn quá ít:

Lợn nái trong quá trình mang thai cần nhiều dinh dưỡng để nuôi thai, nếu như khẩu phần ăn quá ít lợn nái sẽ bị gầy, thiếu dinh dưỡng để nuôi cơ thể và nuôi thai Sức đề kháng với bệnh tật yếu, sức rặn khi sinh yếu

Không đủ dinh dưỡng dự trữ cho kỳ tiết sữa, sản lượng sữa thấp, nuôi con kém, lợn con còi cọc, dễ mắc bệnh, tỷ lệ lợn con sống thấp

Thời gian động dục sau khi tách con kéo dài, tỷ lệ số lứa trên năm thấp, hao mòn lợn nái, tốn nhiều cám, giảm thời gian khai thác

2.3.4 Quá trình đẻ

Theo Nguyễn Đức Hùng và cs (2003) [2], đẻ là một quá trình sinh lý phức tạp chịu sự điều hòa của cơ chế thần kinh - thể dịch, với sự tham gia tác

động cơ giới của thai đã thành thục

Khi gần đẻ con cái sẽ có những biểu hiện: trước khi đẻ 1 - 2 tuần nút

niêm dịch cổ tử cung, đường sinh dục lỏng, sánh và dính chảy ra ngoài Trước khi đẻ 1 - 2 ngày, cơ quan sinh dục bên ngoài bắt đầu có những thay đổi: âm môn phù to, nhão ra và xung huyết nhẹ, đầu núm vú to, bầu vú căng to, sữa bắt đầu tiết

Trang 27

Lợn nái có hiện tượng cắn ổ, bứt rứt, khó chịu, thường đứng lên nằm xuống liên tục Lợn cong lưng rặn, ỉa liên tục, mỗi lần ỉa rất ít

Thời gian đẻ của lợn thường từ 2 - 6 giờ, được tính từ khi cổ tử cung mở cho đến khi bào thai cuối cùng ra ngoài

Ở lợn, sữa đầu là một trong những chỉ tiêu quan trọng để xác định thời gian lợn đẻ:

Trước khi đẻ 3 ngày, hàng vú giữa vắt ra nước trong

Trước khi đẻ 1 ngày, hàng vú giữa vắt ra sữa đầu

Trước khi đẻ 12 giờ, hàng vú trước vắt ra sữa đầu

Trước khi đẻ 2 - 3 giờ, hàng vú sau vắt ra sữa đầu

2.4 Một số bệnh thường gặp trên lợn nái mang thai

2.4.1 Sảy thai

Các trường hợp thai bị đẩy ra ngoài trước ngày đẻ dự kiến được gọi là sảy thai Sảy thai do sức sống của thai yếu, bộ phận sinh dục hoặc cơ thể của con mẹ bị bệnh Có biểu hiện đẻ dù chưa tới ngày đẻ dự kiến, con sơ sinh khi

đẻ rathường bị chết, con ít, con sinh non có sức sống rất yếu

Sảy thai có thể do các nguyên nhân sau:

- Nguyên nhân truyền nhiễm:

Lợn mẹ mắc các bệnh truyền nhiễm như Brucellosis, bệnh xoắn khuẩn, bệnh do Parvovirus…Chuồng trại chật hẹp, thời tiết nắng nóng làm khả năng

sảy thai tăng cao hơn

- Nguyên nhân không do truyền nhiễm:

Do cơ thể lợn nái mẹ bị các bệnh lý như nhiễm trùng đường sinh dục: viêm niêm mạc tử cung, viêm âm đạo do vi khuẩn có sẵn trong chuồng nuôi hoặc bị nhiễm khi thụ tinh, sảy thai do thói quen hoặc do vận động mạnh, hoặc bị đánh đập gây sảy thai

Chế độ dinh dưỡng chăm sóc trong thời kỳ mang thai kém, thiếu protein, khoáng chất cần thiết cho cơ thể mẹ và sự phát triển của bào thai Thức ăn bị nấm mốc làm cho lợn bị ngộ độc gây sảy thai

Trang 28

Lợn nái bị mắc các bệnh lý ở nhau thai hay bào thai: Nhau thai phát triển không bình thường, bào thai có sức sống quá yếu

- Phòng bệnh:

Khi chọn lợn làm giống không được chọn những con bị mắc các bệnh

truyền nhiễm như Leptospilosis, Brucellosis…

Tiêm phòng đầy đủ các loại vắc xin trong quá trình mang thai như dịch

tả, tai xanh, lở mồm long móng…

Những con nái thường bị sảy thai, chết thai ở lứa trước (nguyên nhân không do truyền nhiềm) thì có thể tiêm thuốc an thai Progesterone sau khi phối giống

Trong thời gian mang thai phải có chế độ dinh dưỡng đầy đủ, khẩu phần

ăn phải có đủ protein, khoáng chất, có thể bổ sung một số vitamin A,D,E để tăng sức đề kháng cho cơ thể

2.4.2 Viêm tử cung

Lợn nái đang trong quá trình mang thai vẫn có thể bị viêm tử cung Nguyên nhân thường do viêm âm đạo, viêm cổ tử cung,… công tác phối giống không đúng kỹ thuật, dụng cụ thụ tinh nhân tạo quá cứng, không được

vô trùng làm xây sát, tổn thường đường sinh dục, gây viêm nhiễm đường sinh dục, viêm tử cung

- Phòng bệnh: Trong quá trình thụ tinh nhân tạo hay tự nhiên cần thực hiện đúng quy định vệ sinh đầy đủ dụng cụ, tay chân Các dụng cụ sử dụng trong thụ tinh nhân tạo cần được vô trùng, không dùng dụng cụ quá cứng gây xây sát nhiễm trùng đường sinh dục Vệ sinh chuồng trại sạch sẽ, cẩn thận

2.4.3 Bỏ ăn không rõ nguyên nhân

Trong giai đoạn chăm sóc lợn nái mang thai ta thường gặp lợn nái mang thai bỏ ăn nhưng không có những biểu hiện sốt, mệt mỏi, hay đau đớn Trường hợp này thường sảy ra sau khi phối giống 1 - 2 tháng, có con đến tháng thứ 3 vẫn bỏ ăn Do một vài nguyên nhân gây ra như:

Ngày đăng: 21/05/2020, 17:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm