--- HOÀNG HUY HUÂN Tên đề tài: ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH CHƯƠNG TRÌNH XÂY DỰNG NÔNG THÔI MỚI TẠI XÃ ĐỨC THÔNG - HUYỆN THẠCH AN -TỈNH CAO BẰNG KHÓA LUẬN TỐT NG
Trang 1-
HOÀNG HUY HUÂN
Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP
ĐẨY MẠNH CHƯƠNG TRÌNH XÂY DỰNG NÔNG THÔI MỚI TẠI XÃ ĐỨC THÔNG - HUYỆN THẠCH AN -TỈNH CAO BẰNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Định hướng đề tài : Hướng nghiên cứu Chuyên ngành : Phát triển Nông thôn Khoa : Kinh Tế & PTNT Khóa học : 2015 - 2019
Thái Nguyên, năm 2019
Trang 2-
HOÀNG HUY HUÂN
Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP
ĐẨY MẠNH CHƯƠNG TRÌNH XÂY DỰNG NÔNG THÔI MỚI TẠI XÃ ĐỨC THÔNG - HUYỆN THẠCH AN -TỈNH CAO BẰNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Định hướng đề tài : Hướng nghiên cứu Chuyên ngành : Phát triển Nông thôn Khoa : Kinh Tế & PTNT Khóa học : 2015 - 2019
Giảng viên hướng dẫn: TS Hà Văn Chiến
Thái Nguyên, năm 2019
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Được sự nhất trí của Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Kinh tế và phát triển nông thôn trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, sau khi hoàn thành khóa học ở trường em đã tiến hành thực tập tốt nghiệp tại xã Đức Thông, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng với đề tài:
“Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp xây dựng chương trình nông thôn mới tại xã Đức Thông – Thạch An – Cao Bằng”
Khóa luận được hoàn thành nhờ sự hướng dẫn, quan tâm giúp đỡ, tạo điều
kiện của thầy cô, cá nhân, cơ quan và nhà trường
Em xin chân thành cảm ơn sâu sắc tới thầy TS Hà Văn Chiến giảng
viên khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, người đã trực tiếp hướng dẫn chỉ bảo và giúp đỡ tận tình em trong suốt thời gian thực hiện đề tài
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ Đồng thời em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của UBND xã Đức Thông, huyện Thạch An, tỉnh Cao
Bằng, đặc biệt là đồng chí Lương Trung Kiên và các đồng chí lãnh đạo, cán
bộ, công chức và bà con trong xã đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ trong quá trình thực hiện để em hoàn thành tốt đề tài của mình
Trong quá trình thực hiện khóa luận, mặc dù em đã cố gắng rất nhiều nhưng cũng không tránh khỏi sai xót mong thầy, cô chỉ bảo, góp ý để bài khóa luận của em được tốt hơn
Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn!
Đức Thông, tháng 05 năm2019
Sinh viên
Hoàng Huy Huân
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.1 Tình hình sử dụng đất của xã Đức Thông
trong giai đoạn 2017 – 2018 25
Bảng 4.2 Đặc điểm kinh tế trong hai năm 2017 – 2018 26
Bảng 4.3 Đặc điểm xã hội năm2016 - 2018 27
Bảng4.4: So sánh hiện trạng xã Đức Thông với bộ tiêu chí quốc gia
về nông thôn mới 40
Bảng 4.5 Khảo sát và đánh giá của các hộ nông dân 43
Bảng 4.6 Ý kiến của người nông dân đã được nghe và hiểu về mục đích 45
Bảng 4.7 Mức độ sẵn sàng đóng góp của người dân 45
Bảng 4.8 Ý kiến của người dân về chất lượng cơ sở hạ tầng 46
nông thôn tại xã Đức Thông 46
Trang 5: Chính trị xã hội : Hợp tác xã KT-XH : Kinh tế xã hội NTM : Nông thôn mới QHXD : Quy hoạch xây dựng THCS : Trung học cơ sở THPT : Trung học phổ thông UBND : Uỷ ban nhân dân
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iii
MỤC LỤC iv
Phần I MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Ý nghĩa của tên đề tài 2
1.3.1 Về mặt lý luận 2
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn 3
Phần II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Về cơ sở lý luận 4
2.1.1 Một số khái niệm cơ bản về nông thôn, phát triển nông thôn
và nông thôn mới 4
2.1.2 Sự cần thiết xây dựng nông thôn mới 7
2.1.3 Vai trò của xây dựng mô hình nông thôn mới 8
2.1.4 Nội dung xây dựng nông thôn mới 8
2.2 Cơ sở thực tiễn 11
2.2.1 Kinh nghiệm xây dựng mô hình nông thôn mới trên thế giới 11
2.2.1.1 Mô hình nông thôn mới ở Hàn Quốc (Saemaul Undong - SMU) 11
2.2.2 Kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới tại một số địa phương ở Việt Nam 14
Phần III ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 22
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 22
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 22
3.2 Nội dung nghiên cứu 22
3.3 Phương pháp nghiên cứu 22
Trang 73.3.1 Điều tra thu thập số liệu 22
3.3.2 Phương pháp phân tích số liệu 23
Phần IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 24
4.1 Điều kiện tự nhiên 24
4.1.1 Vị trí địa lý và địa hình 24
4.1.2 Khí hậu – thủy văn 24
4.1.3 Đặc điểm đất đai 25
4.1.4 Đặc điểm kinh tế - xã hội 26
4.2 Thực trạng xây dựng nông thôn mới tại xã Đức Thông 28
4.2.1.Đánh giá việc thực hiện các tiêu chí xây dựng nông thôn mới
tại xã Đức Thông 28
4.3 Tổng hợp kết quả so sánh hiện trạng xã Đức Thông với bộ tiêu chí Quốc gia
về nông thôn mới 40
4.3.1.Khảo sát ý kiến của các hộ diều tra về xây dựng nông thôn mới tại
xã Đức Thông 43
4.4 Phân tích những khó khăn của xã Đức Thông 47
4.4.1 Phân tích SWOT về điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức
trên địa bàn xã Nông Thôn trong xây dựng nông thôn mới 47
4.4.2 Thuận lợi và khó khăn trong việc thực hiện chương trình dựng
nông thôn mới 48
4.5 Giải pháp cụ thể để hoàn thành bộ tiêu chí về xây dựng nông thôn mới
tại xã Đức Thông 49
Phần V KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 55
5.1 Kết luận 55
5.2 Kiến nghị 56
5.2.1 Đối với chính phủ 56
5.2.2 Đối với địa phương 56
TÀI LIỆU THAM KHẢO 58
Trang 8Phần I
MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết
Cao Bằng là một tỉnh miền núi có địa bàn rộng, là nơi sinh sống của nhiều đồng bào dân tộc thiểu số, nằm trong khu vực có trình độ phát triển còn thấp về nhiều mặt, đời sống của người dân còn gặp nhiều khó khăn Đặc biệt là một số xã vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, vùng chậm phát triển Do đó việc xây dựng nông thôn mới ở cấp xã là hết sức cần thiết
Xây dựng nông thôn mới cấp xã phát triển theo quy hoạch là gắn nông thôn mới phát triển nhanh tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ bền vững Kinh tế phát triển, đời sống vật chất, tinh thần của người dân được cải thiện, kinh tế -
xã hội phát triển bản sắc văn hóa được bảo tồn và phát huy, môi trường sinh thái xanh – sạch – đẹp, chất lượng hệ thống chính trị cơ sở được nâng cao
Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, trên địa bàn cấp xã nhằm phát triển nông thôn toàn diện bao gồm những nội dung liên quan đến hầu hết các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường, hệ thống chính trị cơ sở có những yêu cầu riêng đối với từng vùng miền, có những điều kiện đặc trưng kinh tế, xã hội khác nhau
Nhằm đáp ứng những yêu cầu cấp bách theo Quyết định số TTg của Thủ tướng chính phủ cần đẩy nhanh tốc độ đô thị hóa nông thôn, góp phần thúc đẩy quá trình CNH - HĐH nông nghiệp nông thôn, phù hợp với định hướng phát triển nông nghiệp của Đảng: “Phát triển nông nghiệp toàn diện theo hướng hiện đại, hiệu quả và bền vững, tăng kim ngạch xuất khẩu nông sản Nâng cao đời sống nhân dân, đảm bảo an ninh lương thực quốc gia”
800/QĐ-Xã Đức Thông là một xã cách trung tâm huyện Thạch An 40km đường
bộ về phía Đông Trong những năm qua, tình hình kinh tế - xã hội của xã Đức Thông cũng đã có những bước phát triển nhưng tốc độ còn chậm, thu nhập của người dân còn thấp, hệ thống dân cư phân bố rải rác Điều đó, gây khó khăn
Trang 9cho việc bố trí, đầu tư xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội, đồng thời cũng ảnh hưởng đến định hướng phát triển hài hòa giữa không gian sống, không gian sinh hoạt và không gian sản xuất Xuất phát từ những
thực trạng trên em tiến hành nghiên cứu đề tài ‘‘Đáng giá thực trạng và đề xuất giải pháp xây dựng chương trình nông thôn mới tại xã Đức Thông - huyện Thạch An - tỉnh Cao Bằng’’
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá việc thực hiện các tiêu chí trong xây dựng nông thôn mới tại
xã Đức Thông, huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng Từ đó đề xuất những giải pháp phù hợp với điều kiện của địa phương, để xây dựng nông thôn mới cấp xã trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Tìm hiểu đặc điểm địa bàn xã Đức Thông
- Tìm hiểu đề án xây dựng nông thôn mới của xã Đức Thông giai đoạn
khoa học
Trang 101.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn
Đề tài góp phần vào tìm hiểu, phân tích, đánh giá thực trạng và đưa ra các giải pháp cho vùng nông thôn trên địa bàn xã
Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở giúp cho xã Đức Thông có những định hướng phát triển phù hợp với điều kiện của địa phương
Trang 11Phần II TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Về cơ sở lý luận
2.1.1 Một số khái niệm cơ bản về nông thôn, phát triển nông thôn và nông thôn mới
2.1.1.1 Khái niệm về nông thôn
Nông thôn là những vùng dân cư sinh sống bằng nghề nông nghiệp, dựa vào tiềm năng của môi trường tự nhiên để sinh sống và tạo ra của cải mới trong môi trường tự nhiên đó Nông thôn được coi như là khu vực địa lý nơi đó sinh
kế cộng đồng gắn bó, có quan hệ trực tiếp đến khai thác, sử dụng, bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên cho hoạt động sản xuất nông nghiệp
Hiện nay vẫn chưa có khái niệm chuẩn xác về nông thôn và còn có nhiều quan điểm khác nhau
Có những quan điểm cho rằng: Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là Ủy ban nhân dân xã
Theo Mai Thanh Cúc và cs (2005) [4], vùng nông thôn là vùng có dân
cư làm nông nghiệp là chủ yếu, tức là nguồn sinh kế chính của cư dân nông thôn trong vùng là từ sản xuất nông nghiệp Những ý kiến này chỉ đúng trong từng khía cạnh cụ thể và từng quốc gia nhất định, phụ thuộc vào trình độ phát triển, cơ cấu kinh tế, cơ chế áp dụng cho từng nền kinh tế
Như vậy, khái niệm nông thôn chỉ có tính chất tương đối, nó có thể thay đổi theo thời gian và theo tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia trên thế giới Trong điều kiện Việt Nam hiện nay chúng ta có thể hiểu:
“Nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp dân cư, trong đó có nhiều nông dân Tập hợp dân cư này tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường trong một thể chế chính trị nhất định và chịu ảnh hưởng của các tổ chức khác”
Trang 12Xây dựng nông thôn mới là một chính sách về một mô hình phát triển cả
về nông nghiệp và nông thôn, nên vừa mang tính tổng hợp bao quát nhiều lĩnh vực, vừa đi sâu giải quyết nhiều vấn đề cụ thể, đồng thời giải quyết các mối quan hệ với các chính sách khác, các lĩnh vực khác trong sự tính toán, cân đối mang tính tổng thể, khắc phục tình trạng rời rạc hoặc duy ý chí
2.1.1.2 Khái niệm phát triển nông thôn
Phát triển vùng nông thôn phải đảm bảo sự bền vững về môi trường, ngày nay vấn đề phát triển nông thôn bền vững được đặt ra nhằm tạo ra sự phát triển lâu dài, ổn định không những cho các vùng nông thôn mà còn đối với cả quốc gia Có thể hiểu phát triển nông thôn bền vững một cách ngắn gọn là sự phát triển tập trung vào người dân (tiếp cận từ dưới lên), đồng thời phải phát triển đa ngành và giải quyết thích đáng mối liên hệ đa ngành (tiếp cận tổng hợp) và phát triển đảm bảo sự cân xứng với việc quản lý môi trường (tiếp cận quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên)
Phát triển nông thôn là sự phát triển tổng hợp của tất cả các hoạt động có mối liên hệ tác động qua lại lẫn nhau giữa các yếu tố vật chất, kinh tế, công nghệ, văn hoá, xã hội, thể chất và môi trường Nó không thể tiến hành một cách độc lập mà phải được đặt trong khuôn khổ của một chiến lược, chương trình phát triển quốc gia Sự phát triển của các vùng nông thôn sự đóng góp tích cực vào sự nghiệp phát triển kinh tế nói riêng và sự phát triển chung của cả đất nước
Theo giáo trình phát triển nông thôn, NXB nông nghiệp Hà Nội: Phát triển nông thôn là một quá trình cải thiện có chủ ý một cách bền vững về kinh
tế, xã hội, văn hoá và môi trường, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân nông thôn Quá trình này, trước hết là do chính người dân nông thôn và có sự hỗ trợ tích cực của Nhà nước và các tổ chức khác
2.1.1.3 Khái niệm nông thôn mới
* Khái niệm Nông thôn mới:
Là nông thôn mà trong đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của người dân không ngừng được nâng cao, giảm dần sự cách biệt giữa nông thôn và
Trang 13thành thị Nông dân được đào tạo, tiếp thu các tiến bộ kỹ thuật tiên tiến, có bản lĩnh chính trị vững vàng, đóng vai trò làm chủ nông thôn mới
Nông thôn mới có kinh tế phát triển toàn diện, bền vững, cơ sở hạ tầng được xây dựng đồng bộ, hiện đại, phát triển theo quy hoạch, gắn kết hợp lý giữa nông nghiệp với công nghiệp, dịch vụ và đô thị Nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc, môi trường sinh thái được bảo vệ Sức mạnh của hệ thống chính trị được nâng cao, đảm bảo giữ vững an ninh chính trị và trật tự xã hội
* Khái niệm xây dựng nông thôn mới:
Xây dựng nông thôn mới là cuộc cách mạng và cuộc vận động lớn để cộng đồng dân cư ở nông thôn đồng lòng xây dựng thôn, xã, gia đình của mình khang trang, sạch đẹp; phát triển sản xuất toàn diện (nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ); có nếp sống văn hóa, môi trường và an ninh nông thôn được đảm bảo; thu nhập, đời sống vật chất, tinh thần của người dân được nâng cao
Xây dựng nông thôn mới là sự nghiệp cách mạng của toàn Đảng, toàn dân, của cả hệ thống chính trị Nông thôn mới không chỉ là vấn đề kinh tế - xã hội, mà là vấn đề kinh tế - chính trị tổng hợp
Xây dựng nông thôn mới giúp cho nông dân có niềm tin, trở nên tích cực, chăm chỉ, đoàn kết giúp đỡ nhau xây dựng nông thôn phát triển giàu đẹp, dân chủ, văn minh
* Đặc trưng của nông thôn mới:
Theo cuốn “Sổ tay hướng dẫn xây dựng nông thôn mới” (Nhà xuất bản
Lao động 2010), đặc trưng của nông thôn mới thời kỳ CNH - HĐH, giai đoạn
2010 – 2020, bao gồm:
Kinh tế phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của cư dân nông thôn
được nâng cao;
Nông thôn phát triển theo quy hoạch, có kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội hiện đại, môi trường sinh thái được bảo vệ;
Dân trí được nâng cao, bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn và phát huy;
An ninh tốt, quản lý dân chủ;
Chất lượng hệ thống chính trị được nâng cao…
Trang 142.1.2 Sự cần thiết xây dựng nông thôn mới
Do kết cấu hạ tầng nội thôn (điện, đường, trường, trạm, chợ, thủy lợi, còn nhiều yếu kém, vừa thiếu, vừa không đồng bộ); nhiều hạng mục công trình
đã xuống cấp, tỷ lệ giao thông nông thôn được cứng hoá thấp; giao thông nội đồng ít được quan tâm đầu tư; hệ thống thuỷ lợi cần được đầu tư nâng cấp; chất lượng lưới điện nông thôn chưa thực sự an toàn; cơ sở vật chất về giáo dục, y tế, văn hoá còn rất hạn chế, mạng lưới chợ nông thôn chưa được đầu tư đồng bộ, trụ sở xã nhiều nơi xuống cấp Mặt bằng để xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn đạt chuẩn quốc gia rất khó khăn, dân cư phân bố rải rác, kinh tế hộ kém phát triển
Do sản xuất nông nghiệp manh mún, nhỏ lẻ, bảo quản chế biến còn hạn chế, chưa gắn chế biến với thị trường tiêu thụ sản phẩm; chất lượng nông sản chưa đủ sức cạnh tranh trên thị trường Chuyển dịch cơ cấu kinh tế, ứng dụng khoa học công nghệ trong nông nghiệp còn chậm, tỷ trọng chăn nuôi trong nông nghiệp còn thấp; cơ giới hoá chưa đồng bộ
Do thu nhập của nông dân thấp; số lượng doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn còn ít; sự liên kết giữa người sản xuất và các thành phần kinh tế khác ở khu vực nông thôn chưa chặt chẽ Kinh tế hộ, kinh tế trang trại, hợp tác xã còn nhiều yếu kém Tỷ lệ lao động nông nghiệp còn cao, cơ hội có việc làm mới tại địa phương không nhiều, tỷ lệ lao động nông lâm nghiệp qua đào tạo thấp; tỷ lệ hộ nghèo còn cao
Do đời sống tinh thần của nhân dân còn hạn chế, nhiều nét văn hoá truyền thống đang có nguy cơ mai một (tiếng nói, phong tục, trang phục…); nhà ở dân cư nông thôn vẫn còn nhiều nhà tạm, dột nát Hiện nay, kinh tế – xã hội khu vực nông thôn chủ yếu phát triển tự phát, chưa theo quy hoạch
Do yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, cần
3 yếu tố chính: đất đai, vốn và lao động kỹ thuật Qua việc xây dựng nông thôn mới sẽ triển khai quy hoạch tổng thể, đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa
Trang 15Mặt khác, mục tiêu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp Vì vậy, một nước công nghiệp không thể để nông nghiệp, nông thôn lạc hậu, nông dân nghèo khó
2.1.3 Vai trò của xây dựng mô hình nông thôn mới
Về kinh tế: Hướng đến nông thôn có nền sản xuất hàng hóa mở, thị trường
hội nhập Thúc đẩy nông nghiệp, nông thôn phát triển nhanh, khuyến khích mọi người tham gia vào thị trường, hạn chế rủi ro cho nông dân, giảm bớt sự phân hóa giàu nghèo và khoảng cách mức sống giữa nông thôn và thành thị Xây dựng các hợp tác xã theo mô hình kinh doanh đa ngành Hỗ trợ ứng dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ tiên tiến vào sản xuất kinh doanh, phát triển ngành nghề ở nông thôn Sản xuất hàng hóa có chất lượng cao, mang nét đặc trưng của từng địa phương Chú ý đến các ngành chăm sóc cây trồng vật nuôi, trang thiết bị sản xuất, thu hoạch, chế biến và bảo quản nông sản
Về chính trị: Phát huy tinh thần dân chủ trên cơ sở chấp hành luật pháp,
tôn trọng đạo lý bản sắc địa phương Tôn trọng hoạt động của đoàn thể, các tổ chức, hiệp hội vì cộng đồng, đoàn kết xây dựng nông thôn mới
Về văn hóa – xã hội: Chung tay xây dựng văn hóa đời sống dân cư, các
làng xã văn minh, văn hóa
Về con người: Xây dựng hình tượng người nông dân tiêu biểu, gương
mẫu Tích cực sản xuất, chấp hành kỉ cương, ham học hỏi, giỏi làm kinh tế và sẵn sàng giúp đỡ mọi người
Về môi trường nông thôn: Xây dựng môi trường nông thôn trong lành,
đảm bảo môi trường nước trong sạch Các khu rừng đầu nguồn được bảo vệ nghiêm ngặt Chất thải phải được xử lý trước khi vào môi trường Phát huy tinh thần tự nguyện và chấp hành luật pháp của mỗi người dân
2.1.4 Nội dung xây dựng nông thôn mới
2.1.4.1 Nhóm tiêu chí về quy hoạch
* Tiêu chí số 1: Quy hoạch
- Quy hoạch sử dụng đất và hạ tầng thiết yếu cho phát triển sản xuất nông
nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ
Trang 16- Quy hoạch phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội - môi trường theo tiêu chuẩn mới
- Quy hoạch phát triển khu dân cư mới và chỉnh trang các khu dân cư hiện
có theo hướng văn minh, bảo tồn được bản sắc văn hóa dân tộc tốt đẹp
2.1.4.2 Nhóm tiêu chí về hạ tầng kinh tế - xã hội
*Tiêu chí số 2: Giao thông
- Tỷ lệ km đường liên xã đường nhựa hóa hoặc bê tông hóa 100%, đủ điều kiện cho các phương tiện giao thông đi lại đạt chuẩn theo cấp kỹ thuật của
Bộ giao thông vận tải
- Tỷ lệ km đường thôn xóm được cứng hóa 80%, xe cơ giới đi lại được thuận tiện
* Tiêu chí số 3: Thủy lợi
Hệ thống thủy lợi cơ bản đáp ứng được theo yêu cầu của sản xuất và dân sinh
* Tiêu chí số 4: Điện
- Hệ thống điện phải đảm bảo yêu cầu kỹ thuật của ngành điện
- Tỷ lệ hộ sử dụng điện thường xuyên, an toàn từ các nguồn điện đạt 95%
* Tiêu chí số 5: Trường học
- Tỷ lệ trường học các cấp: Mầm non, Tiểu học và Trung học cơ sở có vật chất đạt chuẩn quốc gia đạt 70%
* Tiêu chí số 6: Cơ sở vật chất văn hóa
- Nhà văn hóa và các khu thể thao của xã phải đạt chuẩn theo Bộ văn hóa - Thể dục thể thao - Du lịch
- Tỷ lệ thôn có nhà văn hóa và khu thể dục thể thao thôn đạt 100% theo quy định của Bộ Văn hoá - Thể thao - Du lịch
* Tiêu chí số 7: Chợ nông thôn
Chợ có cơ sở vật chất đạt tiêu chuẩn (khu vực chợ sạch sẽ đảm bảo vệ sinh, các nhóm hàng hóa được xếp theo khu vực quy định) có bộ phận kiểm dịch, có ban quản lý chợ đảm bảo an ninh cho họp chợ Chợ chuẩn của Bộ xây dựng
Trang 17*Tiêu chí số 8: Thông tin và truyền thông
Có điểm phục vụ bưu chính viễn thông tại từng thôn, bản, những điểm
đó phải đạt tiêu chuẩn về cơ sở vật chất
* Tiêu chí số 9: Nhà ở dân cư
- Không có nhà tạm bợ, dột nát
- Đạt trên 80% hộ có nhà ở đạt tiêu chuẩn Bộ xây dựng
2.1.4.3 Nhóm tiêu chí về kinh tế và tổ chức sản xuất
* Tiêu chí số 12: Cơ cấu lao động :
Tỷ lệ lao động trong độ tuổỉ lao động làm trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp dưới 50%
* Tiêu chí số 13: Hình thức tổ chức sản xuất:
Có tổ hợp tác hoặc hợp tác xã hoạt động hiệu quả cao
2.1.4.4 Nhóm tiêu chí về văn hóa - xã hội - môi trường
- Tỷ lệ người dân tham gia các hình thức bảo hiểm y tế đạt 20%
- Y tế xã đạt chuẩn quốc gia
* Tiêu chí số 16: Văn hóa
- Xã có từ 70% số thôn, trở lên đạt tiêu chuẩn làng văn hóa theo quy chuẩn của Bộ Văn hóa - Thể thao - Du lịch
Trang 18* Tiêu chí số 17: Môi trường
- Tỷ lệ hộ sử dụng nước sạch hợp vệ sinh theo quy chuẩn quốc gia đạt 70%
- Các cơ sở sản xuất - kinh doanh đạt tiêu chuẩn về môi trường
- Có từ 90% số hộ được sử dụng nước sạch hợp vệ sinh theo quy chuẩn quốc gia
- Không có các hoạt động gây suy giảm môi trường và có các hoạt động phát triển môi trường xanh, sạch, đẹp
- Nghĩa trang được xây dựng theo quy hoạch
- Chất thải, nước thải được thu gom và xử lý theo quy định
2.1.5.5 Nhóm tiêu chí hệ thống chính trị an ninh trật tự xã hội
* Tiêu chí số 18: Hệ thống chính trị xã hội vững mạnh
- Cán bộ trong toàn xã đạt chuẩn
- Có đủ các tổ chức trong hệ thống chính trị cơ sở theo quy định
- Đảng bộ, chính quyền xã đạt tiêu chuẩn “trong sạch, vững mạnh”
- Các tổ chức đoàn thể chính trị của xã đều đạt danh hiệu tiên tiến trở lên
*Tiêu chí số 19: An ninh, trật tự xã hội
- Xây dựng lực lượng dân quân “vưỡng mạnh, rộng khắp” và hoàn thành các chỉ tiêu quốc phòng
- Xã đạt chuẩn an toàn về an ninh, trật tự xã hội và đảm bảo bình yên; không có khuyên nại đông người kéo dài; không để xảy ra trọng án; tội phạm
và tệ nạn xã hội (ma túy, trộm cắp, cờ bạc, nghiện hút) được kiềm chế, giảm liên tục so với các năm trước
2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Kinh nghiệm xây dựng mô hình nông thôn mới trên thế giới
2.2.1.1 Mô hình nông thôn mới ở Hàn Quốc (Saemaul Undong - SMU)
Hàn Quốc nằm trên bán đảo Triều Tiên, một nước từng bị đô hộ từ cuối thế kỷ 19, xuất phát điểm là một quốc gia nghèo đói Cuối thập kỷ 60, GDP
Trang 19bình quân đầu người chỉ có 85 USD, phần lớn người dân không đủ ăn, 80% người dân nông thôn vẫn không có điện thắp sáng và phải dùng đèn dầu, ở trong những căn nhà lợp bằng lá Lúc ấy, nền kinh tế của Hàn Quốc phải dựa vào nông nghiệp trong khi khắp đất nước lũ lụt và hạn hán lại xảy ra thường xuyên Mối lo lớn nhất của Chính phủ là làm sao thoát khỏi đói nghèo
Sau trận lụt năm 1969, người dân phải tu sửa lại nhà cửa và đường sá mà không có sự trợ giúp của Chính phủ Điều này làm Tổng thống suy nghĩ rất nhiều và nhận ra rằng “Viện trợ của Chính phủ cũng là vô nghĩa nếu người dân không nghĩ cách tự giúp chính mình” Hơn thế nữa, khuyến khích người dân tự hợp tác và giúp đỡ lẫn nhau là điểm mấu chốt để phát triển nông thôn Những
ý tưởng này chính là nền tảng của phong trào xây dựng nông thôn mới của Hàn Quốc sau này (Saemaul Udong).ngày 22/4/1970, “Saemaul” theo nghĩa tiếng Hàn là “Sự đổi mới của cộng đồng” được ghép với “undong” có nghĩa là một phong trào và cụm từ “Saemaulundong” có nghĩa là phong trào đổi mới cộng đồng, từ một phong trào ở nông thôn đã lan ra thành một phong trào đổi mới toàn xã hội Hàn Quốc ,đó là cơ sở để hình thành tinh thần này: “Chăm chỉ” là động cơ tự nguyện của người dân, không ngừng vượt qua khó khăn để tiến tới thành công, “Tự lực” là ý chí bản thân, tinh thần làm chủ, chịu trách nhiệm về cuộc sống và vận mệnh của bản thân và “Hợp tác” là nhận thức về mong muốn phát triển cộng đồng phải nhờ vào nỗ lực của tập thể
Từ đó đến nay, phong trào Saemaul Udong đã thu được những thành tựu rất to lớn, sau 40 năm đưa đất nước Hàn Quốc từ nghèo đói sang một nước phát triển, nằm trong tốp G20 của thế giới với thu nhập bình quân đầu người hơn 30.000 USD/năm
2.2.1.2 Mô hình nông thôn mới ở Nhật Bản (Onevillage, oneproduct - OVOP)
Từ năm 1979, Tiến sĩ Morihiko Hiramatsu đã khởi xướng và phát triển phong trào “Mỗi làng, một sản phẩm” (OneVillage, one Product - OVOP) với mục tiêu phát triển vùng nông thôn của khu vực này một cách tương xứng với
sự phát triển chung của Nhật Bản Phong trào “mỗi làng một sản phẩm” dựa trên 3 nguyên tắc chính là:
Trang 20Địa phương hóa rồi hướng tới toàn cầu
Tự chủ, tự lập, nỗ lực sáng tạo
Phát triển nguồn nhân lực
Trong đó, nhấn mạnh đến vai trò của chính quyền địa phương trong việc
hỗ trợ kỹ thuật, quảng bá, hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm được xác định là thế mạnh Mỗi địa phương, tùy theo điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của mình lựa chọn ra những sản phẩm độc đáo, mang đậm nét đặc trưng để phát triển Đến Oita - một tỉnh của Nhật Bản, người ta có thể kể ra những sản phẩm truyền thống như nấm Shitake, các sản phẩm từ sữa bò, hàng gỗ mĩ nghệ ở thị trấn Yufuin, cam,
cá khô ở làng Yonouzu, chè và măng tre ở làng Natkatsu … luôn được lãnh đạo tỉnh và nhà nước đặc biệt quan tâm trong việc tìm kiếm thị trường
Sau 20 năm áp dụng OVOP, Nhật Bản đã có 329 sẩn phẩm đặc sản địa phương có giá trị thương mại cao như nấm hương Shitake, rượu Shochu lúa mạch, cam Kabosu … đã giúp nâng cao thu nhập của người dân địa phương.[17]
2.2.1.3 Mô hình nông thôn mới ở Thái Lan (One Tambon one Product -OTOP)
Tại Thái Lan, thông qua mô hình OVOP của Nhật Bản, Chính phủ Thái Lan đã xây dựng dự án cấp quốc gia “mỗi xã, một sản phẩm” (One Tambon one Product - OTOP) nhằm tạo ra sản phẩm mang tính đặc thù của địa phương
có chất lượng, độc đáo, bán được trên toàn cầu Sản phẩm của OTOP đươc phân theo 4 tiêu chí:
- Có thể xuất khẩu với giá trị thương hiệu
- Sản xuất liên tục và nhất quán
- Tiêu chuẩn hóa
Đặc biệt, mỗi sản phẩm đều có một câu chuyện riêng Các tiêu chí trên
đã tạo thêm lợi thế cho du lịch Thái Lan vì du khách luôn muốn được tận mắt chứng kiến quá trình sản xuất sản phẩm, từ đó có thể hiểu biết thêm về tập quán, lối sống của người dân địa phương Kết quả nông thôn Thái Lan có được chỗ đứng nhất định trên thị trường thế giới
Trang 212.2.2 Kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới tại một số địa phương ở Việt Nam
2.2.2.1 Khái quát về mô hình nông thôn mới ở nước ta
Xuất phát từ những khó khăn thực tế của người dân nông thôn Việt Nam, cùng với việc học tập, tiếp thu những kinh nghiệm quý báu từ các nước phát triển, nước ta cũng tiến hành xây dựng chương trình nông thôn mới, phù hợp với những điều kiện cụ thể của từng địa phương
Chương trình xây dựng nông thôn mới ở nước ta hiện nay đã đặt ra mục tiêu phấn đấu đến năm 2016 cả nước đạt có trên 30% số xã đạt chuẩn nông thôn mới và năm 2020 có trên 50% số xã đạt chuẩn nông thôn mới
Hoạt động xây dựng mô hình nông thôn mới ở Việt Nam được thực hiện dựa trên 6 nguyên tắc cơ bản sau:
- Các nội dung, hoạt động của chương trình xây dựng nông thôn mới phải hướng tới mục tiêu thực hiện 19 tiêu chí của Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới ban hành tại quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ (gọi tắt là Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới)
- Phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng dân cư địa phương là chính Nhà nước đóng vai trò định hướng, ban hành các tiêu chí, quy chuẩn, chính sách, cơ chế hố trợ, đào tạo cán bộ và hướng dẫn thực hiện Các hoạt động cụ thể do chính cộng đồng người dân ở thôn, xã bàn bạc dân chủ để quyết định và
tổ chức thực hiện
- Kế thừa và lồng ghép các chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình
hỗ trợ có mục tiêu, các chương trình, dự án khác đang phát triển trên địa bàn nông thôn
- Thực hiện xây dựng chương trình nông thôn mới phải gắn với kế hoạch phát triển - xã hội của địa phương, có quy hoạch và cơ chế đảm bảo thực hiện các quy hoạch xây dựng nông thôn mới đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt
- Công khai, minh bạch về quản lý, sử dụng các nguồn lực, tăng cường phân cấp, trao quyền cho cấp xã quản lý và tổ chức thực hiện các công trình,dự
án của chương trình nông thôn mới, phát huy vai trò làm chủ của người dân và
Trang 22cộng đồng, thực hiện dân chủ cơ sở hóa trong quá trình lập kế hoạch tổ chức thực hiện và giám sát, đánh giá
- Xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn
xã hội, cấp ủy Đảng, chính quyền đóng vai trò chỉ đạo, điều hành quá trình xây dựng quy hoạch, đề án, kế hoạch và tổ chức thực hiện Mặt trận tổ quốc và các
tổ chức chính trị, xã hội vận động mọi tầng lớp nhân dân phát huy vai trò chủ thể trong xây dựng nông thôn mới
- Bắt đầu tiến hành xây dưng mô hình nông thôn mới, nhà nước ta đã tiến hành thí điểm tại 11 xã trên phạm vi cả nước
Từ đó, chúng ta có thể rút ra nhiều kinh nghiệm còn thiếu sót từ lý thuyết đến thực tiễn Tiếp đó chúng ta vừa thực hiện vừa điều chỉnh những sai sót để đạt tới mục đích cuối cùng
Kết quả thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới khá toàn diện Đến nay, cả nước có 3.289 xã (đạt 36,84%) được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới (mục tiêu là 31%); có 50 đơn vị cấp huyện đạt chuẩn/hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới Cả nước còn 121 xã dưới
5 tiêu chí, giảm 136 xã (vượt mục tiêu năm 2017 giảm số xã dưới 5 tiêu chí xuống dưới 150 xã) Bình quân tiêu chí/xã đạt 14,25 tiêu chí, vượt mục tiêu đạt
14 tiêu chí
Cả nước đã huy động được khoảng 269.561 tỷ đồng để thực hiện Chương trình Trong đó, vốn ngân sách Trung ương: 8.000 tỷ đồng Vốn ngân sách địa phương: 33.887 tỷ đồng, trong đó, 51 tỉnh nhận hỗ trợ từ ngân sách Trung ương đã bố trí được khoảng 19.528 tỷ đồng Vốn lồng ghép từ các chương trình, dự án khác là: 38.076 tỷ đồng Vốn tín dụng: 158.420 tỷ đồng Vốn doanh nghiệp đóng góp là 12.218 tỷ đồng Nhân dân và cộng đồng đóng góp 18.959 tỷ đồng
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn dẫn số liệu điều tra của Tổng cục Thống kê cho thấy, từ năm 2011- 2017, cả nước đã hoàn thành một khối lượng đường giao thông gấp hơn 5 lần của giai đoạn 2001-2010, có 99,4% tổng số xã trên cả nước có đường ô tô đến trung tâm xã, đặc biệt ở những địa
Trang 23bàn vùng núi cao, địa hình phức tạp (Hà Giang, Cao Bằng, Yên Bái, Thanh Hóa, Nghệ An )
Tính chung về tiêu chí giao thông, 4.850 xã đã đạt (54,3%), 7.611 xã đạt tiêu chí thủy lợi (đạt 85,3%), 4.983 xã đạt tiêu chí trường học (đạt 55,8%), 4.681 xã đạt tiêu chí cơ sở vật chất văn hóa (đạt 52,4%), 6.330 xã đạt tiêu chí nhà ở dân cư (đạt 70,9%)
Trong tổ chức sản xuất, phát triển kinh tế, các địa phương đã tập trung đầu tư và đã phát triển được khoảng 21.000 mô hình sản xuất liên kết theo chuỗi giá trị, ứng dụng công nghệ cao trên diện rộng, dần hình thành được một
số vùng sản xuất tập trung theo hướng hàng hóa, trong đó, đã có 744 chuỗi nông sản an toàn
Qua tổng hợp báo cáo của các địa phương, hiện nay, cả nước có khoảng 4.823 sản phẩm đặc sản cấp xã, huyện có lợi thế, trong đó mới có 1.086 sản phẩm (khoảng 22,52%) có đăng ký/công bố tiêu chuẩn chất lượng; có 695 (14,4%) sản phẩm có đăng ký bảo hộ sở hữu trí tuệ
Tính tới hết năm 2017, cả nước có 62,3% số xã đạt tiêu chí thu nhập, 58,5% số xã đạt chuẩn tiêu chí giảm hộ nghèo, 94,8% số xã đạt tiêu chí lao động có việc làm Riêng tiêu chí tổ chức sản xuất, cả nước có 71,2% số xã đạt
do rà soát lại theo yêu cầu mới của Bộ tiêu chí quốc gia
Cả nước đã có 4.795 xã đạt tiêu chí môi trường và an toàn thực phẩm (đạt 53,7%); 76,7% số xã đạt tiêu chí văn hóa so với cuối năm 2016
Tuy nhiên, Bộ Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn cho biết khoảng cách chênh lệch về kết quả xây dựng nông thôn mới giữa các vùng, miền còn khá lớn cụ thể: Vùng Đồng bằng sông Hồng có 63,33% số xã đạt chuẩn, Đông Nam Bộ là 63,22%, miền núi phía Bắc chỉ đạt 15,53%, Tây Nguyên 22,5%, Đồng bằng sông Cửu Long 29,43%, Duyên hải Nam Trung Bộ 30,87%
2.2.2.2 Kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới của tỉnh Quảng Ninh
Quảng Ninh – địa phương tiên phong trong Chương trình xây dựng Nông thôn mới (NTM) đặc biệt là công tác quy hoạch Năm năm qua, tỉnh đã
có những giải pháp linh hoạt, sáng tạo để hoàn thành những mục tiêu đã đề ra
Trang 24trong xây dựng NTM Giờ đây, Quảng Ninh là một trong 5 tỉnh dẫn đầu toàn
quốc và dẫn đầu 15 tỉnh miền núi phía Bắc về xây dựng NTM
Gần 5 năm thực hiện (giai đoạn 2011 – 2015), Chương trình xây dựng NTM góp phần quan trọng làm thay đổi diện mạo các vùng quê Quảng Ninh, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong phát triển kinh tế, góp phần đưa Quảng Ninh đến năm 2015 cơ bản phát triển theo hướng hiện đại hóa Hiện nay, mức độ đạt chuẩn từng tiêu chí của Quảng Ninh cao hơn so với bình quân chung toàn quốc 8,9% Bình quân số tiêu chí đạt trên một xã của Quảng Ninh cao hơn so với mức bình quân chung của cả nước,đạt 14,8% và đến thời điểm này Quảng Ninh không
có xã dưới 5 tiêu chí Đến nay tỉnh đứng thứ 3 trong cả nước có “huyện” Đông Triều được Thủ tướng Chính phủ công nhận là đơn vị đạt chuẩn NTM
Nhờ làm tốt công tác quy hoạch nên Quảng Ninh cũng đã có những bước đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng phù hợp với điều kiện địa phương, tận dụng nguồn lực từ các chương trình mục tiêu như Chương trình 135, Chương trình bãi ngang, cấp nước sinh hoạt… Bên cạnh đó tỉnh triển khai sáng tạo bằng nhiều biện pháp nhằm huy động mọi nguồn lực thực hiện xây dựng NTM Kết quả đã huy động được các nguồn lực tập trung cho đầu tư, xây dựng
cơ sở hạ tầng, cho đến nay toàn tỉnh đã có 58,26% số xã đạt Tiêu chí về giao thông: 76,52% số xã đạt Tiêu chí về thủy lợi; 89,57% số xã đạt Tiêu chí về điện; 66,96% số xã đạt Tiêu chí trường học; 44,35% số xã đạt Tiêu chí về cơ
sở vật chất văn hóa; 76,52% số xã đạt Tiêu chí về chợ nông thôn; 93,09% số
xã đạt Tiêu chi về bưu điện; 60,87% số xã đạt Tiêu chí về bưu điện… giá trị đầu tư trong sản xuất nông nghiệp của tỉnh đã tăng gấp 20 lần so với năm
2010 Thu nhập bình quân ở nông thôn đã tăng gấp hai lần so với năm 2010, góp phần giảm hộ nghèo chung toàn tỉnh xuống còn 1,77% Đã có 66 xã cơ bản đạt tiêu chí xã nông thôn mới, dự kiến mục tiêu trong năm 2015 sẽ có 10/13 huyện, thị xã, thành phố cơ bản đạt tiêu chí nông thôn mới
Nằm trong công tác quy hoạch vùng sản xuất, tỉnh đang thực hiện có hiệu quả các đề án như “Quảng Ninh, mỗi xã, phường một sản phẩm”(One commune, one product – OCOP); Xây dựng đề án phát triển tổng thể ngành
Trang 25thủy sản đến năm 2020, tầm nhìn 2030 Các địa phương trong tỉnh đều đã xác định được sản phẩm hàng hóa chủ lực để tập trung chỉ đạo phát triển; 17 vùng sản xuất hàng hóa tập trung cấp tỉnh đã được quy hoạch để tạo vùng nguyên liệu Xuất hiện nhiều mô hình sản xuất hàng hóa mang lại hiệu quả ngay chính mảnh đất của quê hương Nhiều mô hình trở thành điển hình như Chương trình OCOP, chương trình đã hội tụ được 4 nhà (nhà nông, nhà khoa học, nhà nước
và doanh nghiệp), mô hình Khu du lịch làng quê xã Yên Đức – Đông Triều,
mô hình nông thôn tiên tiến… những mô hình này đã và đang thu hút nhiều tỉnh thành tham quan và học tập kinh nghiệm
Xác định rõ chủ trương xây dựng nông thôn mới thực chất là sự chuẩn hóa việc đầu tư phát triển cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn, cho nên cách làm của Quảng Ninh cũng rất linh hoạt, sáng tạo, không gò bó theo một khuôn mẫu, mô hình cụ thể nào Tỉnh đã triển khai đồng loạt ở tất cả các xã, lấy phát triển khu vực nông thôn ổn định làm địa bàn để đẩy mạnh phát triển kinh tế khu vực thành thị, từ đó có lực để đầu tư về cho nông thôn Việc hoàn thành các tiêu chí cũng không cứng nhắc theo quy chuẩn của Trung ương mà dựa trên đặc thù, tình hình thực tế của địa phương để đầu tư cho phù hợp, tránh lãng phí Để tạo đà cho người dân phát triển sản xuất, tỉnh đã huy động sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị từ tỉnh đến cơ sở Trong gần 5 năm, nguồn lực huy động để chi cho chương trình đạt trên 38 nghìn tỷ đồng và đã được triển khai theo phương thức: Thời gian đầu tập trung nhiều cho hỗ trợ đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, và giảm dần theo các năm, thay vào đó là tỉnh sẽ tập trung
hỗ trợ phát triển sản xuất, ứng dụng KHCN vào sản xuất và tiêu thụ sản phẩm
2.2.2.3 Kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới của tỉnh Hà Tĩnh
Gần 8 năm, tỉnh Hà Tĩnh bắt tay vào công cuộc xây dựng nông thôn mới Cũng từ đó, nông thôn mới đi sâu vào nhận thức và hành động của mỗi người dân địa phương, để tỉnh này mạnh dạn sáng tạo ra tiêu chí thứ 20 rất độc đáo “Khu dân cư nông thôn mới kiểu mẫu và vườn mẫu”, đánh dấu bước ngoặt trong xây dựng nông thôn mới ở Hà Tĩnh
Trang 26Khi bước vào xây dựng nông thôn mới, bình quân Hà Tĩnh mới đạt 3,5 tiêu chí và có đến 52% số xã đạt dưới 5 tiêu chí, trong đó có 20 xã không đạt tiêu chí nào, tỷ lệ hộ nghèo lên đến 23,91%… Sau 8 năm xây dựng, ngoài thực hiện Bộ tiêu chí theo quy định của Trung ương (gồm 19 tiêu chí), tỉnh Hà Tĩnh còn bổ sung tiêu chí thứ 20 (khu dân cư nông thôn mới kiểu mẫu, vườn mẫu), qua 5 năm triển khai thực hiện đã mang lại hiệu quả thiết thực, trở thành phong trào rộng khắp, được người dân và cộng đồng tích cực hưởng ứng, đến nay có
230 thôn đạt chuẩn, 2.405 vườn đạt chuẩn
Việc thực hiện tiêu chí riêng thứ 20 của tỉnh Hà Tĩnh, sau hơn 2 năm triển khai, đến nay, toàn tỉnh có trên 1.620/1.826 thôn triển khai xây dựng
“Khu dân cư nông thôn kiểu mẫu” Năm 2015, thôn Yên Mỹ (huyện Cẩm Xuyên) đã được tỉnh Hà Tĩnh công nhận đạt chuẩn “Khu dân cư nông thôn kiểu mẫu”, từ đó đến nay, thôn đã đón hơn 500 đoàn khách khắp mọi miền đất nước đến tham quan, học hỏi Từ một vùng quê nghèo, thôn Yên Mỹ giờ thực
sự là một “làng quê cổ tích”: xanh, sạch, đẹp, thân thiện đến ngỡ ngàng, trù phú, văn minh, hiện đại
2.2.2.4 Tình hình xây dựng nông thôn mới của tỉnh Cao Bằng
Sau sáu năm thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới (NTM), với sự nỗ lực quyết tâm của Ðảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc trong tỉnh, bộ mặt nông thôn Cao Bằng đã có nhiều đổi thay, chất lượng cuộc sống của đồng bào từng bước được cải thiện
Thực hiện Quyết định số 1600/QĐ-TTg ngày 16/8/2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới giai đoạn
2016 - 2020, Cao Bằng đã ban hành nhiều văn bản thực hiện chương trình và thành lập Ban chỉ đạo thực hiện Chương trình các cấp và ban hành Quyết định
về việc phân công các cơ quan, đơn vị phụ trách và giúp đỡ các xã xây dựng NTM Trong đó, phân công cho 57 cơ quan, đơn vị phụ trách và giúp đỡ cho
79 xã thực hiện xây dựng NTM Tất cả các đơn vị được phân công đã thành lập
Tổ công tác đến từng xã khảo sát, đánh giá tình hình, khảo sát nhu cầu vốn để thực hiện các tiêu chí NTM; lập kế hoạch vận động, huy động nguồn lực hỗ
Trang 27trợ, giúp đỡ xã thực hiện Chương trình Tổng số tiền và giá trị hiện vật các đơn
vị huy động được là 7.002,85 triệu đồng, trong đó, huy động từ cán bộ, công chức, viên chức và người lao động được 203,90 triệu đồng, huy động từ doanh nghiệp, các nhà hảo tâm được 6.798,95 triệu đồng
Đến hết tháng 12/2016, số xã đã phê duyệt đồ án quy hoạch xây dựng NTM trên toàn tỉnh là 176/177 xã; kết quả thực hiện các tiêu chí xây dựng NTM năm 2016 bình quân đạt 7,33 tiêu chí/xã, đạt 113,47% so với năm 2015 (tăng 0,87 tiêu chí/xã), đạt 96,45% kế hoạch Có 05 xã đạt chuẩn 19 tiêu chí, tăng 3 xã so với năm 2015, đạt 83,33% kế hoạch, gồm các xã: xã Minh Tâm – huyện Nguyên Bình, xã Trường Hà - huyện Hà Ọuảng, xã Phong Châu - huyện Trùng Khánh, xã Phúc Sen - huyện Quảng Uyên, xã Hưng Đạo - Thành phố Cao Bằng; 02 xã đạt 15-18 tiêu chí (xã Nam Tuấn và xã Hồng Việt, huyện Hoà An); 17 xã đạt 10-14 tiêu chí; 129 xã đạt 5-9 tiêu chí; 24 xã dưới 5 tiêu chí; số
xã dưới 5 tiêu chí giảm 16 xã so với năm 2015
Qua phân tích các mô hình trên và thức tiễn chương trình xây dựng NTM của cả nước cho ta thấy tỉnh Cao Bằng cần quyết tâm với nỗ lực xây dựng NTM, từng bước được cải thiện Thực hiện Quyết định số 1600/QĐ-TTg ngày 16/8/2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2106-2020 Tỉnh Cao Bằng cần phải ban hành nhiều văn bản thực hiện Chương trình các cấp và Quyết định về việc phân công các cơ quan, đơn vị phụ trách và giúp đỡ các xã xây dựng NTM Trong đó có xã Đức Thông là một trong những đơn vị thực hiệc mục tiêu xây dựng NTM
Một là, xây dựng nông thôn mới phải có sự lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt,
sâu sát của cấp ủy, chính quyền và sự vào cuộc đồng bộ, tích cực của cả hệ thống chính trị cấp xã
Hai là, thường xuyên làm tốt công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức
cho cán bộ, đảng viên và nhân dân về tầm quan trọng đối với phong trào xây dựng nông thôn mới
Trang 28Ba là, phải bám sát định hướng xây dựng nông thôn mới của Nhà nước,
vận động linh hoạt chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về nông nghiệp, nông dân và nông thôn Phát hiện tính chủ động, tích cực, sáng tạo của địa phương, cơ sở, triển khai thực hiện đồng bộ các tiêu chí, có lộ trình phù hợp với đặc điểm, điều kiện của xã, từng thôn, chú trọng phát triển sản xuất, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân
Bốn là, kịp thời ban hành, sửa đổi, bổ sung các cơ chế, chính sách cho phù
hợp với nguồn lực, điều kiện thực tế và nguyện vọng của người dân địa phương
Trang 29Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các tiêu chí xây dựng nông thôn mới được triển khai tại xã Đức Thông
- Nghiên cứu cán bộ trong ban chỉ đạo thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới tại xã Đức Thông
- Người dân trên địa bàn xã Đức Thông
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Tại xã Đức Thông, huyên Thạch An, tỉnh Cao Bằng
- Về thời gian: Thời gian thực hiện đề tài từ ngày: 20/02/2019 đến 20/05/2019
3.2 Nội dung nghiên cứu
- Tìm hiểu điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hộ ở xã Đức Thông
- Thực trạng xây dựng nông thôn mới của xã Đức Thông
- Những thuận lợi và khó khăn trong việc xây dựng nông thôn mới của xã
- Các giải pháp đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả công tác triển khai chương trình nông thôn mới xã Đức Thông
3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Điều tra thu thập số liệu
- Thu thập số liệu thứ cấp: thông qua tài liệu, báo cáo tổng hợp, số liệu thống kê của xã với các tài liệu như điều kiện tự nhiên, dân số, kinh tế xã hội, văn hóa đời sống của xã
- Thu thập số liệu sơ cấp:
+ Chọn 60 mẫu theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên là các hộ dân trong
xã để điều tra phỏng vấn, nhằm thu thập thông tin về xây dựng nông thôn mới tại xã
Trang 30+ Tiến hành chọn 3 trong 10 bản của xã, 3 bản được chọn đảm bảo tiêu chí đại diện cho điều kiện kinh tế - văn hóa - xã hội của xã
Khuổi Phủng là bản có vị trí địa lý nằm xa đường quốc lộ và trung tâm của xã nên điều kiện kinh tế khó khăn hơn
Nà Mèng là bản có điều kiện kinh tế trung bình giao thông đi lại tốt
Nà Pò là bản bản trung tâm, có điều kiện kinh tế khá hơn so với các bản khác
3.3.2 Phương pháp phân tích số liệu
- Phương pháp thống kê mô tả: mô tả các chỉ số lớn nhất, nhỏ nhất, tổng
số, số bình quân, tỷ trọng, khối lượng thực hiện được, thời gian chi phí thực hiện các tiêu chí nông thôn mới của xã
- Phương pháp thống kê so sánh: so sánh, đối chiếu giữa các năm, trước
và sau khi xây dựng mô hình nông thôn mới ở xã Từ đó thấy được sự khác
biệt và hiệu quả khi áp dụng mô hình nông thôn mới
- Phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu: xử lý số liệu bằng excel sau đó phân tích và đánh giá tình hình thực hiện tại địa phương nghiên cứu
Trang 31Phần IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Điều kiện tự nhiên
4.1.1 Vị trí địa lý và địa hình
- Vị trí địa lý: Xã Đức Thông là xã phía Tây của huyện Thạch An, cách trung tâm huyện khoảng 40km, địa giới hành chính xã như sau:
+ Phía Bắc giáp: Xã Canh Tân, xã Kim Đồng
+ Phía Nam giáp: Tỉnh Lạng Sơn
+ Phía Đông giáp: Xã Trọng Con, xã Thái Cường
+ Phía Tây giáp: Xã Minh Khai
- Địa hình: Xã Đức Thông là xã miền núi nên địa hình ở đây chủ yếu là đồi, núi cao xen kẽ là những thung lũng có thể sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp, đa số đồi núi là đất lâm nghiệp Khu vực núi đá dốc chưa sử dụng
có thể khoanh nuôi rừng phòng hộ
Địa hình miền núi phức tạp gây khó khăn không nhỏ đến khả năng sử dụng đất cho mục đích sản xuất nông lâm nghiệp như hạn hán, úng lụt cục bộ,
cơ giới hóa sản xuất nông nghiệp, cải tạo đồng ruộng, … khó khăn trong việc
bố trí các công trình quy hoạch, xây dựng cơ sở hạ tầng
4.1.2 Khí hậu – thủy văn
- Khí hậu Cao Bằng nói chung và Thạch An nói riêng mang tính nhiệt đới gió mùa lục địa núi cao và có đặc trưng riêng so với các tỉnh miền núi khác thuộc vùng Đông Bắc Khí hậu chia làm hai mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô
Mùa mưa: bắt đầu từ tháng 4 và kết thúc vào tháng 9 hàng năm Lượng mưa trung bình mùa mưa là 200 - 250 mm Nhiệt độ trung bình mùa mưa là
20oC – 24oC và độ ẩm không khí trung bình là 80% - 90%
Mùa khô: kéo dài từ tháng 10 năm trước tới tháng 3 năm sau Các tháng giá rét thường kéo dài từ tháng 12 đến tháng 2 Lượng mưa trung bình mùa
Trang 32khô là 20 – 40 mm; thấp nhất: 10 - 20 mm Nhiệt độ trung bình mùa khô 8oC –
15oC và độ ẩm trung bình hàng tháng là 70% - 80%
- Lượng mưa trung bình hàng năm dao động từ 1.500 mm đến 2.000 mm Đức Thông có nhiều suối và khe lạch nhỏ Nguồn nước phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân trong xã được khai thác từ hai nguồn nước mặt
và nước ngầm, cụ thể:
+ Nguồn nước mặt: Xã có 43,09 ha đất sông suối và mặt nước chuyên dùng, gồm toàn bộ hệ thống, sông, suối, hồ, ao như: suối Nà Hén, suối Nà Pò, , ngoài ra còn có các đập thủy lợi, các mỏ nước cấp nước sinh hoạt, sản xuất
+ Nguồn nước ngầm: Nguồn nước ngầm hiện tại chưa khảo sát đầy đủ, song trong thực tế nhiều khu vực có thể khai thác được nước ngầm, để đưa vào phục vụ cho đời sống của nhân dân trong vùng (giếng đào, giếng khoan)
(Nguồn: UBND xã Đức Thông năm 2018)
Qua bảng 4.1: Ta thấy hầu hết diện tích đất không đổi:
Tổng diện tích tự nhiên toàn xã: 7.081,73 ha Đất nông nghiệp: 6.882,49
ha chiếm: 97,19% Đất phi nông nghiệp: 85,02 ha chiếm: 1,2% Đất chưa sử
Trang 33dụng: 114,22 ha chiếm: 1,61 %
4.1.4 Đặc điểm kinh tế - xã hội
Bảng 4.2 Đặc điểm kinh tế trong hai năm 2017 – 2018
Số lượng
Tăng trưởng (%/
năm)
Số lượng
Tăng trưởng (%/năm)
Trang 34Hạng mục ĐVT
Số lượng
Tăng trưởng (%/
năm)
Số lượng
Tăng trưởng (%/năm)
(Nguồn: UBND xã Đức Thông năm 2018)
Qua bảng 4.2 : Cho ta thấy đặc điểm KT- XH trong giai đoạn 2017-1018
có sự thay đổi không lớn
- Về kinh tế : nông nghiệp có xu hướng tăng trưởng từ 10,17%-12,43%, Công nhiệp-tiểu thủ công nghiệp-xây dựng tăng trưởng từ 11,60%-15,24%, thương mại – dịch vụ do điều kiện đi lại khó khăn và dân số không tập trung nên nganh thuong mai và du lịch có sự tăng trưởng nhẹ 13,56%-14,45%
- Về xã hội : xã có 12 xóm số hộ nghèo có xu hướng giảm 2017 là 262