1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới tại xã thanh long, huyện thông nông, tỉnh cao bằng

92 87 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 1,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong điều kiện của Việt Nam, tổng hợp quan điểm từ các chiến lược phát triển KTXH của Chính phủ, thuật ngữ này có thể hiểu như sau: “Phát triển nông thôn là một quá trình cải thiện có c

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

HOÀNG HƯƠNG THỦY

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Tên đề tài:

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TẠI XÃ THANH LONG,

HUYỆN THÔNG NÔNG, TỈNH CAO BẰNG

Định hướng đề tài : Hướng nghiên cứu Chuyên ngành : Phát triển nông thôn

Khóa học : 2015 - 2019

Thái Nguyên, năm 2019

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

HOÀNG HƯƠNG THỦY

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Tên đề tài:

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TẠI XÃ THANH LONG,

HUYỆN THÔNG NÔNG, TỈNH CAO BẰNG

Định hướng đề tài : Hướng nghiên cứu Chuyên ngành : Phát triển nông thôn

Khóa học : 2015 - 2019 Giảng viên hướng dẫn : Ths Vũ Thị Hải Anh

Thái Nguyên, năm 2019

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành khóa luận này trước tiên em xin chân trọng cảm ơn Ban giám hiệu Nhà trường, Ban chủ nhiệm Khoa Kinh tế & PTNT, cảm ơn các thầy cô giáo đã truyền đạt cho em những kiến thức quý báu trong suốt quá trình học tập và rèn luyện tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

Em xin chân trọng cảm ơn sự hướng dẫn tận tình, sự quan tâm sâu sắc

của cô giáo Ths Vũ Thị Hải Anh đã giúp đỡ em trong suốt thời gian thực tập

để em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này

Em cũng chân thành cảm ơn UBND xã Thanh Long và toàn thể người dân trong xã đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình

em thực tập, điều tra và nghiên cứu tại cơ sở

Trong quá trình nghiên cứu không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế Em rất mong được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo để giúp em hoàn thành khóa luận được tốt hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Thái nguyên, ngày tháng năm 2019

Hoàng Hương Thủy

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 4.1 Tình hình sử dụng đất đai tại xã Thanh Long năm 2017 25

Bảng 4.2: Hiện trạng sản xuất ngành trồng trọt của xã Thanh Long 28

giai đoạn 2015- 2017 28

Bảng 4.3 Ý kiến của người dân trong sản xuất nông nghiệp 29

tại xã Thanh Long năm 2018 29

Bảng 4.4 Số lượng gia súc, gia cầm của xã Thanh Long 30

giai đoạn 2015-2017 30

Bảng 4.5 Tình hình dân số và lao động trên địa bàn xã Thanh Long 32

năm 2017 32

Bảng 4.6 Thực trạng quy hoạch và thực hiện quy hoạch năm 2017 33

Bảng 4.7 Thực trạng hạ tầng kinh tế - xã hội trên địa bàn xã Thanh Long năm 2017 34

Bảng 4.8 Kinh tế và tổ chức sản xuất xã Thanh Long năm 2017 46

Bảng 4.9 Văn hóa- xã hội- môi trường xã Thanh Long năm 2017 49

Bảng 4.10 Hệ thống tổ chức chính trị xã Thanh Long năm 2017 53

Bảng 4.11 Tổng hợp thực trạng nông thôn mới tại xã Thanh Long 56

năm 2017 56

Bảng 4.12 Tình hình dân số và lao động của hộ điều tra năm 2018 57

Bảng 4.13 Nghề nghiệp của hộ điều tra năm 2018 58

Bảng 4.14 Cơ cấu thu nhập bình quân của hộ gia đình điều tra năm 2018 59

Bảng 4.15 Các kênh tiếp cận thông tin của người dân về Chương trình xây dựng NTM năm 2018 60

Bảng 4.16 Ý kiến đánh giá của người dân về Chương trình xây dựng NTM tại xã Thanh Long năm 2018 61

Bảng 4.17 Những công việc người dân tham gia xây dựng NTM 62

tại địa phương 62

Trang 5

Bảng 4.18 Đánh giá của người dân về đội ngũ cán bộ 63

xã Thanh Long hiện nay 63 Bảng 4.19 Ý kiến của cán bộ về chương trình xây dựng NTM 64

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT

CNH-HĐH Công nghiệp hóa- hiện đại hóa

NN&PTNT Nông nghiệp & phát triển nông thôn

Trang 7

MỤC LỤC

Phần 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.2.1 Mục tiêu chung 2

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2

1.3 Ý nghĩa của đề tài 2

1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu 2

1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn 2

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Cơ sở lý luận 3

2.1.1 Lý thuyết về nông thôn và phát triển nông thôn 3

2.1.2 Các vấn đề liên quan đến nông thôn mới 5

2.2 Cơ sở thực tiễn 8

2.2.1 Kinh nghiệm xây dựng NTM ở một số nước trên thế giới 8

2.2.2 Tình hình xây dựng NTM ở Việt Nam 12

Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20 3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 20

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 20

3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 20

3.2 Nội dung nghiên cứu 20

3.3 Phương pháp nghiên cứu 20

3.3.1 Phương pháp điều tra chọn mẫu 20

3.3.2 Phương pháp thu thập thông tin 21

3.3.3 Phương pháp tổng hợp, xử lý số liệu 22

Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 23

4.1 Điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và môi trường 23

4.1.1 Điều kiện tự nhiên 23

4.1.2 Tài nguyên thiên nhiên 25

Trang 8

4.2 Điều kiện kinh tế- xã hội 27

4.3 Thực trạng về thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM 33

4.3.1 Quy hoạch và thực hiện quy hoạch (tiêu chí 1) 33

4.3.2 Hạ tầng kinh tế - xã hội 34

4.3.3 Kinh tế và tổ chức sản xuất 45

4.3.4 Văn hóa- xã hội- môi trường 48

4.3.5 Hệ thống chính trị 53

4.3.6 Nghiên cứu vấn đề NTM tại 4 xóm điều tra 57

4.4 Điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức trong xây dựng NTM tại xã Thanh Long 68

4.4.1 Điểm mạnh 68

4.4.2 Điểm yếu 69

4.4.3 Cơ hội 70

4.4.4 Thách thức 70

4.5 Giải pháp phát triển xây dựng NTM của xã Thanh Long trong giai đoạn tới 70

4.5.1 Giải pháp về vốn 70

4.5.2 Giải pháp phát triển kinh tế và các tổ chức sản xuất 70

4.5.3 Giải pháp về giáo dục- đào tạo 71

Phần 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 73

5.1 Kết luận 73

5.2 Kiến nghị 73

5.2.1 Đối với nhà nước 74

5.2.2 Đối với huyện Thông Nông 74

5.2.3 Đối với xã Thanh long 75

5.2.4 Đối với người dân 75

TÀI LIỆU THAM KHẢO 76

Trang 9

Phần 1

MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Phát triển nông thôn là lĩnh vực quan trọng và cấp thiết trong các chiến lược kinh tế, xã hội và hiện đại hóa đất nước Trong những năm gần đây cùng với sự phát triển chung của đất nước, nông thôn đã có bước đổi mới và phát triển mới đáng kể Đây là vấn đề được Đảng và Nhà nước rất quan tâm cả về tổng kết lý luận, thực tiễn và đầu tư cho phát triển Sự phát triển nông thôn tạo điều kiện cho đất nước bước vào giai đoạn công nghiệp hóa - hiện đại hóa (CNH-HĐH), ổn định về kinh tế- chính trị- xã hội (KT-CT-XH)

Vì vậy để phát trển các vùng nông thôn một cách toàn diện và bền vững, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định số 491/QĐ-TTg ban hành Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới gồm 19 tiêu chí Năm 2013 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 342/QĐ-TTg ngày 20/02/2013 sửa đổi một số tiêu chí của bộ tiêu chí quốc gia về NTM Đến năm 2016 Thủ tướng chính phủ ban hành Quyết định 1600/QĐ-TTg ngày 16/08/2016 phê duyệt chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng NTM giai đoạn 2016- 2020

Thanh Long là xã nằm ở phía Tây huyện Thông Nông, kinh tế- xã hội (KT-XH) Thanh Long phát triển tương đối ổn định Chất lượng hàng hóa và dịch vụ ngày càng được nâng cao Cơ sở hạ tầng- kinh tế được đầu tư đồng

bộ như làm đường, xây dựng kênh mương, chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi, bên cạnh đó xã còn nhiều khó khăn năng lực đội ngũ cán bộ còn hạn chế, đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn, môi trường ngày càng ô nhiễm, nông thôn phát triển thiếu quy hoạch

Xuất phát từ thực trạng trên tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới tại xã Thanh Long, huyện Thông Nông, Tỉnh Cao Bằng”

Trang 10

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu chung

Đánh giá thực trạng chương trình xây dựng NTM và đưa ra một số giải pháp nhằm đẩy mạnh việc xây dựng NTM tại xã Thanh Long theo những tiêu chí mới đáp ứng yêu cầu CNH-HĐH nông thôn

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

- Đánh giá điều kiện tự nhiên, KT-XH tại xã Thanh Long

- Thực trạng xây dựng NTM tại xã Thanh Long

- Điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức trong quá trình xây dựng NTM tại xã Thanh Long

- Đề xuất một số giải pháp phát triển nhằm đẩy mạnh xây dựng NTM của xã Thanh Long trong giai đoạn mới

1.3 Ý nghĩa của đề tài

1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu

- Giúp bản thân có thể vận dụng những kiến thức đã học để xử lí số liệu, viết báo cáo

- Nâng cao được năng lực cũng như rèn luyện kĩ năng của bản thân, vận dụng được những kiến thức đã học vào thực tiễn đồng thời bổ sung những kiến thức còn thiếu cho bản thân

- Rèn luyện kĩ năng xây dựng đề án phát triển kinh tế xã hội

- Đề tài có thể dùng làm tài liệu nghiên cứu trong lĩnh vực NTM tại địa phương

1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn

- Giúp hiểu thêm về tình hình xây dựng nông thôn mới và tình hình

kinh tế xã hội tại địa bàn xã Thanh Long

- Nhận thức được những gì làm được và chưa làm được khi đưa ra những giải pháp nhằm đẩy mạnh quá trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn xã để có hướng đi đúng

Trang 11

Phần 2

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Cơ sở lý luận

2.1.1 Lý thuyết về nông thôn và phát triển nông thôn

2.1.1.1 Khái niệm về nông thôn

Cho đến nay, vẫn chưa có khái niệm chuẩn xác nào được chấp nhận một cách rộng rãi về nông thôn, có rất nhiều các quan điểm khác nhau về nông thôn, và khi nói về nông thôn người ta thường đặt nó trong mối quan hệ với đô thị

Về tự nhiên, nông thôn là vùng đất đai rộng lớn, thường bao quanh các

đô thị Những vùng đất đai này khác nhau về địa hình, khí hậu, thủy văn Về kinh tế, nông thôn chủ yếu làm nông nghiệp Cơ sở hạ tầng ở vùng nông thôn lạc hậu, thấp kém hơn đô thị Trình độ phát triển cơ sở vật chất và kỹ thuật, trình độ sản xuất hàng hóa cũng kém hơn đô thị

Khái niệm về nông thôn chỉ có tính chất tương đối, thay đổi theo thời gian và theo tiến trình kinh tế, xã hội của các quốc gia trên thế giới Trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam, nhìn nhận dưới góc độ quản lý, có thể hiểu:

“Nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp cư dân, trong đó có nhiều nông dân Tập hợp cư dân này tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội

và môi trường trong một thể chế chính trị nhất định và chịu ảnh hưởng của các tổ chứ khác".[2]

2.1.1.2 Khái niệm PTNT

Phát triển nông thôn là sự phát triển tổng hợp của tất cả các hoạt động

có mối liên hệ tác động qua lại lẫn nhau giữa các yếu tố vật chất, kinh tế, công nghệ, văn hóa, xã hội, thể chất và môi trường Nó không thể tiến hành một cách độc lập mà phải được đặt trong khuôn khổ của một chiến lược, chương trình phát triển quốc gia Sự phát triển các vùng nông thôn là sự đóng góp tích

Trang 12

cực vào sự nghiệp phát triển kinh tế nói riêng và sự phát triển chung của cả đất nước

Trong điều kiện của Việt Nam, tổng hợp quan điểm từ các chiến lược

phát triển KTXH của Chính phủ, thuật ngữ này có thể hiểu như sau: “Phát triển nông thôn là một quá trình cải thiện có chủ ý một cách bền vững về kinh

tế, xã hội, văn hóa và môi trường, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân nông thôn Quá trình này, trước hết là do chính người dân nông thôn”

Nguyên tắc chính của PTNT là phải có tính bền vững đối với phát triển con người, phát triển kinh tế, môi trường, phát triển các tổ chức khi phát triển nông thôn PTNT cần có tính hợp tác, tính toàn diện và tính cộng đồng thể hiện ở các mặt sau:

- Dân chủ và an toàn

- Bình đẳng và công bằng xã hội

- Bền vững chất lượng cuộc sống cho người dân

- Sự tham gia của người dân trong hợp tác với Chính phủ

- Tôn trọng quá khứ của tổ tiên và quyền lợi của các thế hệ mai sau

- Tăng cường và đa dạng hóa nền kinh tê nông thôn

- Đảm bảo cho người dân có lợi ích từ các hoạt động của địa phương họ

- Thúc đẩy phồn vinh lâu dài ở nông thôn là không chỉ chú trọng lợi ích trước mắt

- Giảm thiểu sử dụng tài nguyên không có khả năng tái tạo

- Sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên, không gây ô nhiễm và ảnh hưởng xấu đến môi trường

- Nâng cao năng lực của các tổ chức phù hợp với mức độ phát triển, nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý tất cả các hoạt động phát triển của con người, kinh tế và môi trường.[1]

Trang 13

2.1.2 Các vấn đề liên quan đến nông thôn mới

2.1.2.1 Mô hình nông thôn mới

Có thể quan niệm: “Mô hình NTM là tổng thể những đặc điểm, cấu trúc mới tạo thành một kiểu tổ chức nông thôn theo tiêu chí mới”, đáp ứng yêu cầu

mới đặt ra cho nông thôn trong điều kiện hiện nay, là kiểu nông thôn được xây dựng so với mô hình nông thôn cũ ở tính tiên tiến về mọi mặt.[5]

Những đặc điểm đặc trưng của mô hình NTM của nước ta từ đề án của

Bộ NN&PTNT:

- Được xây dựng trên đơn vị cấp làng-xã

- Vai trò của người dân được nâng cao, nêu cao tính tự chủ của người

nông dân

- Người dân chủ động trong việc xây dựng kế hoạch phát triển, thu hút

sự tham gia đầy đủ của các thành viên trong nông thôn nhằm đạt được mục

tiêu đề ra có tính hiệu quả cao

- Việc thực hiện kế hoạch dựa trên nền tảng huy động nguồn lực của bản thân người dân, thay cho việc dựa vào sự hỗ trợ bên ngoài là chính

- Các tổ chức nông dân hoạt động mạnh, có tính hiệu quả cao

- Nguồn vốn từ bên ngoài được phân bổ và quản lý sử dụng có hiệu quả Trên đây là những đặc điểm tạo nên nét đặc biệt của mô hình NTM

chưa từng có trước đây [5]

2.1.2.2 Cơ chế chính sách huy động sự tham gia

- Ngày 16 tháng 4 năm 1999, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 24/1999/NĐ-CP về quy chế tổ chức huy động, quản lý và sử dụng các khoản đầu tư đóng góp tự nguyện của nhân dân để xây dựng cơ sở hạ tầng của các

xã, thị trấn

- Quy chế giám sát đầu tư cộng đồng ban kèm quyết định số

80/2005/QĐ-TTg ngày 18 tháng 4 năm 2005 của thủ tướng Chính phủ

Trang 14

- Ủy ban thường vụ quốc hội ban hành pháp lệnh số

34/2007/PL-UNTVQH về thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn.[4]

2.1.2.3 Các bước xây dựng NTM

Điều 3 Thông tư liên tịch số 26/2011/TTLT-BNNPTNT- BKHĐT-BTC

ngày 13 tháng 4 năm 2011 của Bộ NN&PTNT, Bộ kế hoạch đầu tư, Bộ tài chính quy định các bước xây dựng nông thôn mới như sau:

Bước 1: Thành lập hệ thống quản lý, thực hiện

Bước 2: Tổ chức thông tin tuyên truyền về thực hiện Chương trình xây dựng NTM

Bước 3: Khảo sát đánh giá thực trạng nông thôn theo 19 tiêu chí của Bộ tiêu chí quốc gia NTM

Bước 4: Xây dựng quy hoạch nông thôn mới của xã

Bước 5: Lập, phê duyệt đề án xây dựng NTM của xã

Căn cứ vào Thông tư số 54/2009/TT-BNNPTNT ngày 21/08/2009 của

bộ NN&PTNT về việc Hướng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí Quốc gia về NTM

Căn cứ QĐ số 800/TTg ngày 4/6/2010 của Thủ Tướng Chính phủ phê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM

Căn cứ vào QĐ số 342/QĐ-TTg ngày 20/02/2013 của Thủ tướng chính phủ về việc sửa đổi một số tiêu chí của Bộ tiêu chí quốc gia về NTM

Căn cứ QĐ số 1600/QĐ-TTg ngày 16/8/2016 của Thủ tướng Chính phủ Quyết định phê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM giai đoạn 2016- 2020

* Các nhóm tiêu chí

Trang 15

Bộ tiêu chí quốc gia xây dựng NTM bao gồm 19 tiêu chí và phân thành

5 nhóm cụ thể như sau:

(1) Nhóm tiêu chí về quy hoạch có 01 tiêu chí: Tiêu chí Quy hoạch và

thực hiện quy hoạch

(2) Nhóm tiêu chí về hạ tầng kinh tế - xã hội có 08 tiêu chí: Tiêu chí

2,3,4,5,6,7,8,9 trong bộ tiêu chí quốc gia về NTM

(3) Nhóm tiêu chí về kinh tế và tổ chức sản xuất có 04 tiêu chí: Chuyển dịch cơ cấu, phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập nhằm đạt tiêu chí 10,12

trong Bộ tiêu chí quốc gia NTM

- Giảm nghèo và an sinh xã hội nhằm mục tiêu đạt tiêu chí 11 trong Bộ tiêu chí quốc gia NTM

- Tiêu chí hình thức tổ chức sản xuất: Có tổ hợp tác hoặc hợp tác xã hoạt động có hiệu quả; xã có mô hình liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ nông sản chủ lực đảm bảo bền vững

(4) Nhóm tiêu chí về văn hóa - xã hội - môi trường có 04 tiêu chí:

- Tiêu chí về giáo dục: Phổ cập giáo dục trung học; tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THCS được tiếp tục học trung học (phổ thông, bổ túc, học nghề); tỷ lệ lao động qua đào tạo

- Tiêu chí về y tế: Tỷ lệ người dân tham gia các hình thức bảo hiểm y tế; y tế xã đạt chuẩn quốc gia

- Tiêu chí về văn hóa: Xã có từ 70% số thôn, bản trở lên đạt tiêu chuẩn làng văn hóa theo quy định của Bộ VH-TT-DL

- Tiêu chí về môi trường: Tỷ lệ hộ được sử dụng nước sạch hợp vệ sinh theo quy chuẩn Quốc gia; chất thải, nước thải được thu gom và xử lý theo quy định

Trang 16

chức đoàn thể chính trị của xã đều đạt danh hiệu tiên tiến trở lên; xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật theo quy định

- Tiêu chí quốc phòng và an ninh: Xây dựng lực lượng dân quân “vững mạnh, rộng khắp” và hoàn thành các tiêu chí quốc phòng; xã đạt chuẩn về an

toàn an ninh, trật tự xã hội và đảm bảo bình yên

2.2 Cơ sở thực tiễn

2.2.1 Kinh nghiệm xây dựng NTM ở một số nước trên thế giới

2.2.1.1 Kinh nghiệm của Hàn Quốc (Saemaul Undong)

Cuối thập niên 60 của thế kỷ XX, GDP bình quân đầu người của Hàn Quốc chỉ có 85 USD; phần lớn người dân không đủ ăn; 80% dân nông thôn không có điện thắp sáng và phải dùng đèn dầu, sống trong những căn nhà lợp bằng lá Là nước nông nghiệp trong khi lũ lụt và hạn hán lại xảy ra thường xuyên, mối lo lớn nhất của chính phủ khi đó là làm sao đưa đất nước thoát khỏi đói, nghèo

Phong trào Làng mới (Saemaul Undong) ra đời với 3 tiêu chí: cần cù (chăm chỉ), tự lực vượt khó, và hợp tác (hiệp lực cộng đồng) Năm 1970, sau những dự án thí điểm đầu tư cho nông thôn có hiệu quả, Chính phủ Hàn Quốc

đã chính thức phát động phong trào Saemaul Undong và được nông dân hưởng ứng mạnh mẽ Họ thi đua cải tạo nhà mái lá bằng mái ngói, đường giao thông trong làng, xã được mở rộng, nâng cấp; các công trình phúc lợi công cộng được đầu tư xây dựng Phương thức canh tác được đổi mới, chẳng hạn,

áp dụng canh tác tổng hợp với nhiều mặt hàng mũi nhọn như nấm và cây thuốc lá để tăng giá trị xuất khẩu Chính phủ khuyến khích và hỗ trợ xây dựng nhiều nhà máy ở nông thôn, tạo việc làm và cải thiện thu nhập cho nông dân

Bộ mặt nông thôn Hàn Quốc đã có những thay đổi hết sức kỳ diệu Chỉ sau 8 năm, các dự án phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn cơ bản được hoàn thành Trong 8 năm từ 1971-1978, Hàn Quốc đã cứng hóa được 43.631km đường làng nối với đường của xã, trung bình mỗi làng nâng cấp được 1.322m đường; cứng hóa đường ngõ xóm 42.220km, trung bình mỗi làng là 1.280m;

Trang 17

xây dựng được 68.797 cầu (Hàn Quốc là đất nước có nhiều sông suối), kiên

cố hóa 7.839km đê, kè, xây 24.140 hồ chứa nước và 98% hộ có điện thắp sáng Đặc biệt, vì không có quỹ bồi thường đất và các tài sản khác nên việc hiến đất, tháo dỡ công trình, cây cối, đều do dân tự giác bàn bạc, thỏa thuận, ghi công lao đóng góp và hy sinh của các hộ cho phong trào

Ông Le Sang Mu, cố vấn đặc biệt của Chính phủ Hàn Quốc về nông, lâm, ngư nghiệp cho biết, Chính phủ hỗ trợ một phần đầu tư hạ tầng để nông thôn tự mình vươn lên, xốc lại tinh thần, đánh thức khát vọng tự tin Thắng lợi

đó được Hàn Quốc tổng kết thành 6 bài học lớn

Thứ nhất, phát huy nội lực của nhân dân để xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn phương châm là nhân dân quyết định và làm mọi việc, “nhà nước

bỏ ra 1 vật tư, nhân dân bỏ ra 5-10 công sức và tiền của” Dân quyết định

loại công trình, dự án nào cần ưu tiên làm trước, công khai bàn bạc, quyết định thiết kế và chỉ đạo thi công, nghiệm thu công trình Năm 1971, Chính phủ chỉ hỗ trợ cho 33.267 làng, mỗi làng 335 bao xi măng Năm 1972 lựa chọn 1.600 làng làm tốt được hỗ trợ thêm 500 bao xi măng và 1 tấn sắt thép

Sự trợ giúp này chính là chất xúc tác thúc đẩy phong trào nông thôn mới, dân làng tự quyết định mức đóng góp đất, ngày công cho các dự án

Thứ hai, phát triển sản xuất để tăng thu nhập Khi kết cấu hạ tầng phục

vụ sản xuất được xây dựng, các cơ quan, đơn vị chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, giống mới, khoa học công nghệ giúp nông dân tăng năng suất cây trồng, vật nuôi, xây dựng vùng chuyên canh hàng hóa

Thứ ba, đào tạo cán bộ phục vụ phát triển nông thôn Hàn Quốc, xác

định nhân tố quan trọng nhất để phát triển phong trào SU là đội ngũ cán bộ cơ

sở theo tinh thần tự nguyện và do dân bầu

Thứ tư, phát huy dân chủ để phát triển nông thôn Hàn Quốc thành lập

hội đồng phát triển xã, quyết định sử dụng trợ giúp của chính phủ trên cơ sở

Trang 18

công khai, dân chủ, bàn bạc để triển khai các dự án theo mức độ cần thiết của địa phương

Thứ năm, phát triển kinh tế hợp tác từ phát triển cộng đồng Hàn Quốc

đã thiết lập lại các hợp tác xã kiểu mới phục vụ trực tiếp nhu cầu của dân, cán

bộ HTX do dân bầu chọn

Thứ sáu, phát triển và bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường bằng sức mạnh

toàn dân.[13]

2.2.1.2 Kinh nghiệm của Thái Lan (OTOP)

Tại Thái Lan, thông qua mô hình OVOP của Nhật Bản, chính phủ Thái

Lan đã xây dựng dự án cấp quốc gia “Mỗi xã, một sản phẩm” (One Tambon

One Product- OTOP) nhằm tạo ra sản phẩm mang tính đặc thù của địa phương có chất lượng cao, độc đáo, bán được trên toàn cầu Sản phẩm OTOP được phân loại theo các tiêu chí:

- Có thể xuất khẩu với giá trị thương hiệu

- Sản xuất liên tục và nhất quán

- Tiêu chuẩn hóa

- Đặc biệt, mỗi sản phẩm đều có một câu chuyện riêng

Các tiêu chí trên đã tạo thêm lợi thế cho du lịch Thái Lan vì du khách luôn muốn được tận mắt chứng kiến quá trình sản xuất sản phẩm, từ đó có thể hiểu biết thêm về tập quán, lối sống của người dân địa phương Kết quả nông thôn Thái Lan đã có những bước chuyển biến rõ rệt, các sản phẩm của Thái Lan có chỗ đứng nhất định trên thị trường thế giới.[13]

2.2.1.3 Kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới ở Trung Quốc

Từ khi khởi xướng chương trình “Tam nông”, Chính phủ Trung Quốc đã ngày càng tăng đầu tư và bảo hộ cho phát triển nông thôn - nông nghiệp Trong đó xác định: Xây dựng NTM là công trình thế kỷ, liên quan đến lợi ích của gần 1 tỷ nông dân, phạm vi xây dựng rộng, nội dung thực hiện lớn, lại tiến hành trong tình hình nguồn tài chính quốc gia trợ cấp không thể đủ nên

Trang 19

việc phải làm thế nào để các tầng lớp xã hội, đặc biệt là doanh nghiệp công - thương thấy được lợi ích từ phong trào này mà tham gia đầu tư, tài trợ mạnh

mẽ, thì khi đó xây dựng NTM mới có thể thành công

Từ đầu năm 2000, Trung Quốc chỉ đạo xây dựng 10 làng mẫu, những làng đầu tiên có thiết kế kiến trúc “thô cứng” đường thẳng tắp, dân cư chia thành các ô bàn cờ vuông vức, kiến trúc các nhà dân theo một số kiểu giống nhau, tuy nhiên những làng xây dựng về sau có tiếp thu được nhiều ý kiến đóng góp nên quy hoạch kiến trúc cảnh quan Bất kể làng mới nào cũng có điểm nổi bật là: Hạ tầng công cộng rất đầy đủ và hiện đại, nhất là đường sá, trụ sở, khu thể thao, khu vui chơi giải trí, dịch vụ Nhà dân có khuôn viên rộng khoảng 300-500m2 đều xây dựng nhà 2-3 tầng kiến trúc hiện đại, tiện nghi sinh hoạt của các gia đình đều đầy đủ, nhiều nhà có ô tô du lịch và máy móc cơ khí cho sản xuất nông nghiệp Đồng ruộng được cải tạo lại, sản xuất chuyên canh Mỗi làng đều có doanh nghiệp đầu tư vào sản xuất hoặc chế biến nông sản Nông dân có thể nhượng đất hoặc cho doanh nghiệp thuê đất Hầu hết lao động ở nông thôn đều có việc làm, nhiều người làm dịch vụ môi trường, thương mại, sửa chữa thiết bị máy móc

Công tác quy hoạch trong xây dựng NTM ở Trung Quốc cũng rất bài bản, đồng bộ Cấp thôn được chọn làm đơn vị quy hoạch Việc công khai quy hoạch với dân được coi trọng đặc biệt, tại bất cứ mô hình NTM nào được triển khai cũng đều có đầy đủ sơ đồ, bản vẽ thiết kế được treo nơi công cộng Khi thu hồi đất, cách làm cũng dân chủ, công khai, bàn bạc với dân trên nguyên tắc “không để cho dân thiệt” Mỗi xã đều có ít nhất 2-3 kỹ sư xây dựng và kiến trúc sư của Nhà nước ở tại đó đã hướng dẫn và giám sát xây dựng Một trong những nhiệm vụ quan trọng của xây dựng NTM là phải phát triển, hiện đại hóa nông nghiệp Ngoài việc hiện đại hóa hạ tầng sản xuất như: Thủy lợi, đường sắt, thông tin, chế biến, xử lý ô nhiễm môi trường…thì cần phải chuyên môn hóa, thâm canh cho các sản phẩm chủ lực của địa phương,

Trang 20

gắn kết được thị trường trong nước và quốc tế…thì mới có điều kiện tăng sức cạnh tranh của nông sản và tăng thu nhập cho khu vực nông thôn Chính vì vậy mà việc đưa doanh nghiệp đầu tư mạnh mẽ vào khu vực này là có ý nghĩa

vô cùng quan trọng Và chính phủ Trung Quốc đã có một loạt các chính sách

để thúc đẩy thu hút doanh nghiệp đầu tư như: Truyền thông rộng rãi cho các tầng lớp và giới doanh nghiệp công thương thấy rõ cơ hội và lợi ích khi tham gia đầu tư vào nông nghiệp và xây dựng NTM; Dùng lợi ích thiết thực để khuyến khích thu hút các doanh nghiệp công thương và cá nhân đầu tư vào nông nghiệp, xây dựng NTM [13]

2.2.1.4 Kinh nghiệm của Nhật Bản (OVOP)

Nhật Bản và phong trào “Mỗi làng, một sản phẩm”

Từ năm 1979, Tỉnh trưởng Oita- Tiến sĩ Morihiko Hiramatsu đã khởi

xướng và phát triển phong trào “Mỗi làng, một sản phẩm” (One Village, one

Product-OVOP) với mục tiêu phát triển vùng nông thôn của khu vực này một

cách tương xứng với sự phát triển chung của cả Nhật Bản Phong trào “Mỗi làng, một sản phẩm” dựa trên 3 nguyên tắc chính là: Địa phương hóa rồi

hướng tới toàn cầu; tự chủ, tự lập, nỗ lực sáng tạo; phát triển nguồn nhân lực Trong đó, nhấn mạnh đến vai trò của chính quyền địa phương trong việc hỗ trợ kỹ thuật, quảng bá, hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm được xác định là thế mạnh

Trải qua gần 30 năm hình thành và phát triển, phong trào “Mỗi làng một sản phẩm” ở đây đã thu được nhiều thắng lợi rực rỡ Sự thành công của phong

trào này đã lôi cuốn sự quan tâm không chỉ của nhiều địa phương trên đất nước Nhật Bản mà còn rất nhiều khu vực, quốc gia khác trên thế giới Một số quốc gia, nhất là những quốc gia trong khu vực Đông Nam Á đã thu được những thành công nhất định trong phát triển nông thôn của đất nước mình nhờ

áp dụng kinh nghiệm phong trào “Mỗi làng một sản phẩm”.[13]

2.2.2 Tình hình xây dựng NTM ở Việt Nam

2.2.2.1 Khái quát về tình hình NTM ở nước ta

Trang 21

Xuất phát từ những khó khăn thực tế của dân nông thôn Việt Nam,

cùng với việc học tập, tiếp thu những kinh nghiệm quý báu từ các nước phát triển, nước ta cũng tiến hành chương trình xây dựng NTM phù hợp với từng điều kiện cụ thể của từng địa phương

Chương trình xây dựng NTM ở nước ta hiện nay đã đặt ra mục tiêu phấn đấu đến năm 2015 cả nước có 20% số xã đạt chuẩn NTM Tính đến cuối năm 2017 cả nước có 3.069 xã (chiếm 34,4% tổng số xã của cả nước, trong khi chỉ tiêu năm 2017 là 31%) được công nhận đạt chuẩn NTM, tăng 712 xã

so với cuối năm 2016 Trong số này, có khoảng 492 xã được công nhận đạt chuẩn theo Bộ tiêu chí quốc gia về xã NTM giai đoạn 2016- 2020 và năm

2020 với mục tiêu trên 50% số xã đạt chuẩn NTM

Hoạt động xây dựng mô hình NTM ở Việt Nam được thực hiện dựa trên 6 nguyên tắc cơ bản sau đây:

- Các nội dung, hoạt động của chương trình xây dựng NTM phải hướng tới mục tiêu thực hiện 19 tiêu chí của Bộ tiêu chí quốc gia về NTM, ban hành tại quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/04/2009 của Thủ tướng Chính phủ (gọi tắt là bộ tiêu chí quốc gia NTM)

- Phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng dân cư địa phương là chính, Nhà nước đóng vai trò định hướng, ban hành các tiêu chí, quy chuẩn, chính sách, cơ chế hỗ trợ, đào tạo cán bộ và hướng dẫn thực hiện Các hoạt động cụ thể do chính cộng đồng người dân ở thôn, xã bàn bạc dân chủ để quyết định

Trang 22

- Công khai, minh bạch về quản lý, sử dụng các nguồn lực, tăng cường phân cấp, trao quyền cho cấp xã quản lý và tổ chức thực hiện các công trình,

dự án của chương trình xây dựng NTM, phát huy vai trò làm chủ của người dân và cộng đồng, thực hiện dân chủ cơ sở trong quá trình lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và giám sát, đánh giá

- Xây dựng NTM là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, cấp ủy đảng, chính quyền đóng vai trò chỉ đạo, điều hành quá trình quy hoạch, đề án, kế hoạch và tổ chức thực hiện Mặt trận tổ quốc và các tổ chức chính trị, xã hội, vận động mọi tầng lớp nhân dân phát huy vai trò chủ thể trong xây dựng NTM [5]

2.2.2.2 Kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới ở xã Nhân Quyền (Hải Dương)

Trước kia Nhân Quyền là xã người đông, đất chật, diện tích đất canh tác bình quân thấp, thu nhập chính từ sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên, với bước

đi đúng, sáng tạo, vùng quê này đang “thay da đổi thịt” và trở thành xã đầu

tiên của tỉnh Hải Dương hoàn thành 19/19 tiêu chí xây dựng NTM năm 2014

Xã Nhân Quyền ở phía Đông Nam của huyện Bình Giang tỉnh Hải Dương, có diện tích tự nhiên 617ha, đất nông nghiệp có 423ha, xã có 4 thôn với hơn 7.000 khẩu, 2.029 hộ Nhân dân trong xã sống chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, làm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và kinh doanh buôn bán nhỏ

Bắt đầu đổi mới tư duy

Vốn là một xã thuần nông nên việc thực hiện các chuẩn theo bộ tiêu chí quốc gia không phải là dễ dàng Công tác tuyên truyền được xã đặt lên hàng đầu để làm sao chuyển biến nhận thức trong nhân dân

Đồng chí Nguyễn Trung Trực, Chủ tịch UBND xã Nhân Quyền chia sẻ: Phải để cho nhân dân thấy rõ được sự thay đổi theo hướng tích cực thì họ mới làm chủ được mọi công việc Từ việc chia lại ruộng đồng đến chọn giống cây trồng, vật nuôi hay việc cứng hóa đường nội đồng cũng phải bàn bạc cụ thể để đảm bảo quyền lợi cho chính người nông dân thì việc thực hiện mới

Trang 23

được suôn sẻ và nhận được sự hưởng ứng tích cực từ phía bà con Từ nhận thức thống nhất, việc xây dựng NTM sẽ đem lại cuộc sống mới tốt đẹp hơn chính là động lực để người người, nhà nhà phấn đấu

Hơn 10 năm nay, xã đã chủ trương xây dựng cơ sở hạ tầng khang trang Điều quan trọng là khi xây dựng các công trình NTM, Nhân Quyền thực hiện theo nguyên tắc tập trung, dân chủ Người dân trực tiếp tham gia, kiểm tra, giám sát việc xây dựng các công trình phúc lợi Vì thế, nhiều năm qua xã luôn chủ động nguồn vốn trong đầu tư cơ sở hạ tầng Đến nay, xã có hệ thống trường học, trạm y tế đạt chuẩn quốc gia, mọi con đường liên xã, liên thôn,

ngõ, xóm được bê tông hóa; cơ bản “cứng hóa” đường giao thông nội đồng

và hàng chục km hệ thống kênh mương Cả 4 thôn trong xã đều là Làng văn hóa, có nhà văn hóa, tổ thu gom vệ sinh

Đối với lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, xã Nhân Quyền đã tập trung tuyên truyền nhân dân thực hiện dồn điền, đổi thửa mở rộng đường nội đồng 3m-3,5m để thuận lơi cho nhân dân đi lại sản xuất, áp dụng các tiến bộ KH-

KT, đưa máy cày, máy gặt vào làm giảm chi phí sản xuất, hạn chế tuốt, đập lúa rơm, rạ trên đường giao thông gây ô nhiễm môi trường

Cùng với đó, xã đã phối hợp với các cấp, các ngành để đưa cây, con giống mới về canh tác, tổ chức tập huấn cách chăm bón và phòng trừ sâu bệnh, đưa tiến bộ KH-KT vào sản xuất, để tăng giá trị kinh tế trên một đơn vị diện tích đất canh tác; triển khai mô hình giống lúa chất lượng cao như T10, Bắc thơm một vùng, một giống Mô hình làm phân vi sinh cho bà con nông dân bằng công nghệ sạch, thân thiện với môi trường, hạn chế chi phí, tăng thu nhập cho người dân

Trong lĩnh vực xây dựng, với phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm” xã Nhân Quyên đã tiến hành khảo sát và bàn bạc thiết kế các tuyến

đường làng cần mở rộng, xây dựng cống rãnh thoát nước có tấm đan, tấm đậy Quy hoạch một số diện tích ao trong làng thành các điểm dân cư và hỗ trợ các

Trang 24

thôn làm đường giao thông Ai có công góp công, ai có sức góp sức và ai có kinh tế thì hỗ trợ về kinh tế, do đó việc làm đường nông thôn trên địa bàn xã rất thuận lợi Làng trên, xóm dưới thi nhau làm đường theo tiêu chuẩn đã được quy định

Lĩnh vực văn hóa, giáo dục trong những năm qua luôn được xã quan tâm Công tác khuyến học được quan tâm, hằng năm đều tôn vinh, khen thưởng các dòng họ, các thầy, cô giáo và các em học sinh tiêu biểu

Hệ thống chính trị của xã không ngừng được củng cố và hoàn thiện: Đảng bộ xã 10 năm liền (2003-2013) đạt Đảng bộ trong sạch cấp tỉnh; chính quyền 13 năm (2000-2013) đạt tập thể lao động xuất sắc cấp tỉnh; các ngành, đoàn thể luôn đạt tập thể vững mạnh Năm 2014, nhân dân và cán bộ xã Nhân Quyền được Chủ tịch nước trao tặng huân trương Lao động hạng nhì; xã được UBND tỉnh công nhận đạt chuẩn nông thôn mới năm 2014

Lấy dân làm gốc

Theo đồng chí Nguyễn Trung Trực, để thực hiện thành công chương trình xây dựng nông thôn mới, địa phương đã biết kế thừa và phát huy rất nhiều bài học kinh nghiệm thành công từ các chương trình mục tiêu, các phòng trào vận động quần chúng trước đây để vận dụng sáng tạo vào xây

dựng NTM, trong đó bài học xuyên suốt đó là “Dân biết, dân bàn, dân là, dân kiểm tra, dân quyết định đóng góp và hưởng thụ”

Đảng bộ, chính quyền, các ngành, đoàn thể chính trị xã hội phải đồng lòng, đồng sức, đoàn kết, quyết tâm xây dựng phong trào vững mạnh toàn diện Với những tiêu chí khó cần có sự lãnh đạo, chỉ đạo kịp thời của lãnh đạo cấp trên bằng cả tinh thần và vật chất

Tuy đã được công nhận là xã đạt chuẩn NTM, song không vì thế mà

xã chủ quan Đảng bộ, chính quyền xã luôn xác định, xây dựng thành công xã NTM đã khó, giữ vững xã NTM còn khó khăn hơn, từ nhận thức đó, xã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo một số giải pháp cụ thể như: Tiếp tục tuyên truyền để

Trang 25

cán bộ và nhân dân trong xã nhận thức sâu hơn về ý thức, trách nhiệm của bản thân khi quê hương đạt NTM, từ đó quyết tâm xây dựng nông thôn bền vững, đời sống dân chủ, ấm no, hạnh phúc, văn minh Quản lý và triển khai xây dựng NTM theo quy hoạch và đề án NTM đã được phê duyệt Tiếp tục rà soát tiêu chí còn đạt thấp, xây dựng kế hoạch tiếp tục nâng cao chất lượng các tiêu chí NTM Xã tiếp tục có các cơ chế khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư máy móc, KH-KT để cơ giới hóa nông nghiệp, khắc phục các khó khăn về giống; chú trọng tạo điều kiện để phát triển ngành nghề tạo việc làm cho lao động nông thôn Bên cạnh sự hỗ trợ của Nhà nước, xã luôn xác định phải huy động sức dân gắn với phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong xây dựng NTM [14]

2.2.2.3 Bài học kinh nghiệm từ chương trình OCOP tại Quảng Ninh

Chương trình “Mỗi xã, phường một sản phẩm” (OCOP) được Ban Xây dựng NTM tỉnh Quảng Ninh nghiên cứu từ phong trào “Mỗi làng một sản phẩm OVOP” của Nhật Bản và Chương trình “Mỗi xã một sản phẩm OTOP”

của Thái Lan Đây là một chương trình phát triển kinh tế rất phù hợp đối với khu vực nông thôn

Mục tiêu và nội dung chính của Chương trình là tập trung phát triển sản phẩm từ những lợi thế về tài nguyên, văn hóa, lao động ở khu vực nông thôn bằng chính sự tổ chức của cộng đồng, nói cách khác gọi là phát triển kinh tế theo hướng nội sinh, thông qua đó nâng cao thu nhập, giải quyết việc làm cho

cư dân nông thôn và phát triển một cách bền vững

Sau 3 năm (2013-2016) triển khai, chương trình OCOP đã đạt được kết quả quan trọng: Đã thành lập được hệ thống tổ chức (Ban Điều hành OCOP)

ở cấp tỉnh và 14 huyện, thị xã, thành phố; Ban hành được Bộ công cụ quản lý chương trình

Hiệu quả rõ nét của chương trình OCOP là có 180 DN, HTX, cơ sở hộ sản xuất tham gia Về sản phẩm, hiện đã có 210 sản phẩm, trong đó đã đánh

Trang 26

giá tiêu chuẩn cho 121 sản phẩm Các sản phẩm dịch vụ như du lịch nông thôn, lễ hội hoa ở các địa phương Hoành Bồ, Bình Liêu, Ba Chẽ,

Các sản phẩm OCOP đều nằm trong nhóm sản phẩm lợi thế quốc gia (tôm thẻ chân trắng, thủy sản chế biến); nhóm sản phẩm lợi thế địa phương (lợn Móng Cái, gà Tiên Yên, dược liệu Ba kích, ) và nhóm đặc sản vùng miền (miến dong, gạo nếp, gạo thảo dược, hoa quả, các món ăn ngon, lạ, )

Doanh số bán hàng OCOP của các tổ chức kinh tế, cơ sở hộ sản xuất OCOP trong 03 năm đạt 672,296 triệu đồng (Đề án đề ra 200.000 triệu đồng) nhờ gia tăng về quy mô sản xuất và giá bán, đóng góp tích cực cho tăng thu nhập của nhân dân, các sản phẩm giá trị bình quân tăng 20%

Từ việc triển khai cho thấy, Chương trình OCOP là một chương trình

mở, không đóng khuôn và chưa có tiền lệ, là một hình thức phát triển kinh tế -

xã hội không chỉ vùng nông thôn mà còn cho cả khu vực đô thị thông qua việc thực hiện thúc đẩy, phát triển các tổ chức kinh tế (tập trung tái cấu trúc

và thành lập mới DN, HTX), thông qua việc phát huy nguồn lực địa phương

và phát triển sản phẩm, dịch vụ OCOP

Do vậy triển khai thực hiện OCOP không thể nóng vội, phải bền bỉ và thực hiện liên tục theo chu trình để thúc đẩy sự sáng tạo liên tục của người dân Bài học kinh nghiệm rút ra là:

- Khi triển khai Chương trình cần phải được nghiên cứu kỹ lưỡng mô hình OVOP và OTOP, học tập về nguyên tắc chứ không dập khuôn máy móc,

có sự đánh giá và điểu chỉnh từng bước trong quá trình thực hiện cho phù hợp với thực tiễn kinh tế thị trường trong nước và địa phương

- Chương trình phải được tổ chức quản lý khoa học theo hệ thống, từng khâu, từng bước thực hiện; Thiết lập được tính pháp lý của toàn bộ chương trình; Xây dựng được hệ thống chính sách hỗ trợ phát triển DN, HTX, hỗ trợ phát triển sản phẩm trên nền tảng hỗ trợ phát triển nghiên cứu, ứng dụng KHCN, công tác hướng dẫn lập và quản lý các dự án đầu tư, các dự án sản xuất

Trang 27

- Phải có sự vào cuộc chỉ đạo nhiệt tình, tâm huyết của lãnh đạo trong quá trình triển khai

- Thị trường và hoạt động xúc tiến thương mại sản phẩm, cùng với thiết

kế sản phẩm, mẫu mã bao bì, đóng gói sản phẩm là rất quan trọng

- Xây dựng được thương hiệu (hình ảnh nhãn hiệu chương trình, bảo hộ

sở hữu trí tuệ, quản lý sử dụng) và bảo vệ chất lượng sản phẩm của chương trình thông qua việc chấm điểm sản phẩm theo quy định

- Thực hiện tốt công tác tuyên truyền, thông tin qua các phương tiện thông tin đại chúng về chương trình OCOP, sản phẩm OCOP.[15]

Trang 28

Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu

- Các vấn đề liên quan đến thực trạng xây dựng NTM tại xã Thanh Long

- Hộ nông dân tại xã Thanh Long

3.1.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi về không gian: Đề tài nghiên cứu tại xã Thanh Long, huyện

Thông Nông, tỉnh Cao Bằng

- Phạm vi về thời gian:

+ Thời gian thực tập: từ 13/08 đến 23/12 năm 2018

+ Thời gian thu thập số liệu: Nguồn tư liệu phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài được lấy từ năm 2015 đến 2017; số liệu điều tra năm 2018

3.2 Nội dung nghiên cứu

- Đánh giá điều kiện tự nhiên, KT-XH tại xã Thanh Long

- Thực trạng xây dựng NTM tại xã Thanh Long

- Điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức trong quá trình xây dựng NTM tại xã Thanh Long

- Đề xuất một số giải pháp xây dựng NTM của xã Thanh Long trong

giai đoạn tới

3.3 Phương pháp nghiên cứu

3.3.1 Phương pháp điều tra chọn mẫu

- Chọn điểm nghiên cứu

Xã Thanh Long có 11 xóm với điều kiện kinh tế, xã hội của các xóm khác nhau Do địa bàn điều tra rộng nên khi phân tích để đưa ra giải pháp cho

từng vùng đề tài được thực hiện tại 4/11 xóm (Táp Ná, Bản Đâư, Lũng Vảy,

Bản Tẩư) tại xã Thanh Long, huyện Thông Nông, tỉnh Cao Bằng, 4 xóm này

Trang 29

đại diện về đặc điểm địa hình, điều kiện tự nhiên KT-XH và thực trạng xây dựng NTM chung cho toàn xã Thanh Long.

- Chọn mẫu nghiên cứu

Số lượng mẫu lựa chọn nghiên cứu được xác định theo công thức Slovin (1960), độ tin cậy 90%, sai số 10%:

(1+𝑁.𝑒 2 ) = 320

(1+320×0,1 2 ) ≈ 76 (hộ) Trong đó: n là cỡ mẫu

e là sai số cho phép

N là tổng thể Mỗi xóm chọn điều tra 19 hộ và tiến hành phỏng vấn 15 cán bộ công chức đang làm việc tại xã

3.3.2 Phương pháp thu thập thông tin

* Thu thập thông tin thứ cấp

Thu thập số liệu thứ cấp là phương pháp thu thập số liệu thông qua các sách báo tài liệu, đề án xây dựng NTM, báo cáo tổng kết đã được công bố của

xã để thu thập các tài liệu có liên quan đến điều kiện tự nhiên, KT-XH, cơ sở

hạ tầng, văn hóa, môi trường và của người dân tại địa bàn nghiên cứu

* Thu thập thông tin sơ cấp

- Phương pháp quan sát trực tiếp: Trong quá trình điều tra bảng hỏi để đối chiếu với những thông tin thu thập được trong bảng hỏi Từ đó đưa ra những đánh giá về tình hình xây dựng NTM trên địa bàn xã Thanh Long

- Phương pháp thống kê: Là phương pháp tổng hợp các số liệu liên quan đến nội dung của đề tài thu được để tiến hành phân tích so sánh nhằm làm rõ các vấn đề cần nghiên cứu Qua các số liệu thống kê ta có thể thấy được thực trạng của vấn đề nghiên cứu và rút ra được những nhận xét, kết luận chính xác

- Phương pháp SWOT: Phân tích các thuận lợi, khó khăn, những cơ hội

và thách thức hiện nay cho xây dựng hạ tầng KT-XH mà xã Thanh Long đang

Trang 30

gặp phải, từ đó đưa ra những giải pháp phát triển phù hợp với những tiềm năng và lợi thế của xã

3.3.3 Phương pháp tổng hợp, xử lý số liệu

- Sau khi thu thập được thông tin thứ cấp tiến hành phân loại, sắp xếp

thông tin theo thứ tự ưu tiên và mức độ quan trọng của thông tin Đối với các thông tin số liệu tiến hành lập bảng biểu, phân tích tài liệu theo mục đích nghiên cứu của đề tài

- Phiếu điều tra của các hộ và phiếu phỏng vấn cán bộ công chức sau khi

hoàn thành sẽ được tổng hợp, xử lý và phân tích thông tin tại phần mềm excel

Trang 31

Phần 4

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1 Điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và môi trường

4.1.1 Điều kiện tự nhiên

4.1.1.1 Vị trí địa lý

Xã Thanh Long là một xã miền núi, nằm ở phía Nam của huyện Thông Nông Xã có tổng diện tích tự nhiên là 2.149,88 ha và tiếp giáp với các đơn vị

hành chính như sau:

- Phía Bắc giáp với xã Ngộc Động, huyện Thông Nông, tỉnh Cao Bằng;

- Phía Đông giáp với xã Bình Lãng, huyện Thông Nông, tỉnh Cao Bằng;

- Phía Tây giáp với xã Yên Sơn, huyện Thông Nông, tỉnh Cao Bằng;

- Phía Nam giáp với huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng;

Xã có tuyến đường liên xã chạy qua tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển KT-XH, giao thương với các xã khác trong và ngoài huyện

Nhìn chung xã Thanh Long có vị trí địa lý khá thuận lợi, xã cách trung tâm thị trấn Thông Nông 12km, xã tiếp giáp với nhiều đơn vị hành chính Đây

là yếu tố thúc đẩy việc giao lưu buôn bán giữa xã với các đơn vị khác [10]

4.1.1.2 Địa hình

Địa hình xã Thanh Long là nơi hội tụ của các hệ thống nếp lồi dạng cánh cung, bị chia cắt mạnh bởi hệ thống sông suối, núi đồi trùng điệp và thung lũng sâu tạo thành các kiểu địa hình khác nhau tương đối phức tạp, địa hình đồi núi cao, độ dốc lớn, bình quân 26-30o, diện tích núi đồi chiếm khoảng 90% tổng diện tích tự nhiên, diện tích đất bằng chiếm khoảng 10%

Địa hình phức tạp gây khó khăn cho giao thông đi lại, hoạt động sản xuất nông nghiệp nhất là nguồn nước phục vụ cho công tác sản xuất, mùa khô gây ra hạn hán, mùa mưa hay gây ra ngập úng cục bộ

Đất đồi núi chiếm 90% tổng diện tích đất tự nhiên, có độ cao trung bình

từ 500-800m so với mặt nước biển, chủ yếu được hình thành trên cam kết, bột kết, phiến sét, đất Feralit đỏ vàng là nhóm đất chiếm phần lớn diện tích Đây

là nơi xen kẽ đất nông nghiệp và đất lâm nghiệp nên rất phù hợp cho việc trồng cây lâm nghiệp, đặc biệt là cây Sa Mộc và cây Xoan Hồi, cây Thông

Trang 32

Đất bằng và đất ruộng chiếm 10% diện tích đất tự nhiên, được phân bố dọc theo các con suối, khe, những loại đất này được người dân chủ yếu trồng cây lúa và cây ngô [10]

4.1.1.3 Khí hậu

Thanh Long nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, một năm có hai mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10 và mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau

Nhiệt độ trung bình hàng năm thấp khoảng 22,80C Sự chênh lệch nhiệt

độ trung bình các tháng trong năm tương đối cao, tháng nóng nhất trong năm

là tháng 6 - 8, nhiệt độ trung bình khoảng 27,80C, nhiệt độ thấp nhất từ tháng

12 đến tháng 1 năm sau, nhiệt độ trung bình khoảng 16,50C

Lượng mưa trung bình năm khoảng 1662 mm, phân bố không đều giữa các tháng trong năm, mưa tập trung vào các tháng 5,6,7,8, vào tháng 11 lượng mưa không đáng kể, hàng năm trên địa bàn xã xuất hiện mưa đá từ 1 đến 3 lần

Nắng: Tổng số giờ nắng trung bình năm 1.426,3 giờ Tháng có số giờ nắng cao nhất 189,1 giờ là tháng 8, tháng có số giờ nằng thấp nhất là tháng 1

có 26,3 giờ

Độ ẩm không khí khá cao khoảng 86%, cao nhất vào các tháng 6,7,8,9

từ 85-87%, thấp nhất là 83% vào tháng 12 đến tháng 1 năm sau Nhìn chung

độ ẩm không khí trên địa bàn xã không có sự chênh lệch nhiều giữa các tháng trong năm

Lượng bốc hơi nước: Lượng bốc hơi nước trung bình hàng năm 854

mm, thấp nhất 65,4 mm vào tháng 2 và cao nhất là 77 mm vào tháng 4

Chế độ gió trên địa bàn xã xuất hiện hai hướng gió thịnh hành là gió mùa Đông Bắc và gió Đông Nam, tốc độ gió bình quân từ 1-3m/s, tháng 4 vào giai đoạn chuyển mùa gió thổi cả ngày với vận tốc trung bình từ 2-3m/s, thời

kỳ chuyển từ mùa Hạ sang mùa Đông tốc độ gió yếu nhất trong năm

Bão ít ảnh hưởng đến xã cũng như trên địa bàn huyện, vì xã nằm sâu trong đất liền và được che chắn bởi các dãy núi cao, lượng mưa trong năm không lớn nhưng lại tập trung nên xảy ra tình hình lũ lụt ở một số vùng trên địa bàn xã [10]

Trang 33

4.1.2 Tài nguyên thiên nhiên

Tổng diện tích đất tự nhiên của xã có 2.149,88 ha; Trong đó diện tích đất nông nghiệp là 1.966,45 ha (trong đó đất lúa nước 128,96ha, đất trồng cây hàng năm còn lại 817,62ha, đất trồng cây lâu năm 7,56ha, đất lâm nghiệp 852,18ha), đất phi nông nghiệp 70,56ha, đất chưa sử dụng 112,87ha

Nhìn chung các loại đất của xã khá tốt, hàm lượng các dinh dưỡng thuộc loại chung bình khá thích hợp với sự sinh trưởng và phát triển của các loại cây trồng sinh trưởng và phát triển Tình hình sử dụng đất được thể hiện trong bảng 4.1 như sau:

Bảng 4.1 Tình hình sử dụng đất đai tại xã Thanh Long năm 2017

Năm 2017

Diện tích (ha)

Cơ cấu (%)

1.2 Đất trồng cây hàng năm còn lại 817,62 41,57

Trang 34

* Tài nguyên đất:

Căn cứ nguồn gốc phát sinh đất đai trên địa bàn xã có 2 nhóm đất chính: + Nhóm đất địa thành do quá trình phong hóa đất tại chỗ tạo thành + Nhóm đất thủy thành do được bồi tụ phù sa của các sông, suối tạo thành

- Căn cứ vào tính chất của đất có thể phân đất đai của xã thành những nhóm đất chính sau:

+ Đất đỏ vàng trên đá Granit (Fa): Có thành phần cơ giới cát pha, tầng dày dưới 50-120 cm

+ Đất phù sa ngòi suối (Py): Phân bố dọc theo các triền suối, đất có thành phần cơ giới nhẹ, cấp hạt lớn, hạt thô, cát pha, tầng dày trên 120 cm chịu ảnh hưởng trực tiếp của địa hình, đá mẹ và độ che phủ thực vật xung quang, về thành phần hóa học, tỷ lệ mùn trong đất trung bình, đạm tổng số và đạm dễ tiêu khá, đất có phản ứng chua, chất dinh dưỡng trung bình, loại đất này thích hợp cho trồng lúa màu và cây công nghiệp hằng năm

+ Đất Feralit đỏ vàng phát triển trên đá biến chất (Fs): Tầng đất dày trên 120 cm, tơi xốp, tỷ lệ sét cao, thành phần cơ giới thừ thịt trung bình đến thịt nặng Mùn và đạm tổng số vào loại giàu, kali, lân nghèo, cation trao đổi giảm dần theo chiều sâu, đất có phản ứng chua Có thể phát triển các loại cây công nghiệp và cây hoa màu lương thực

- Nguồn nước mặt: Lưu vực một số suối có nước quanh năm, vào mùa khô lưu lượng nước ít hơn do độ dốc địa hình lớn một số suối chỉ có nước vào mùa mưa, mùa khô hầu như không có Vì vây, khai thác nguồn nước cho sản xuất và sinh hoạt cần phải có sự đầu tư lớn

- Nguồn nước ngầm: Do địa hình miền núi nên nước ngầm chỉ có ở chân các hợp thủy và gần suối, mạch nước ngầm cách mặt đất khoảng 9-11m, hình thức khai thác chủ yếu là giếng khoan và giếng đào trong các hộ dân cư

Nhìn chung nguồn cung cấp nước chủ yếu hiện nay trên địa bàn xã Thanh Long là nước mặt song chất lượng chưa đảm bảo, mặt khác do tập

Trang 35

quán sản xuất và sinh hoạt của người dân còn nhiều hạn chế gây ảnh hưởng đến chất lượng nước, vì vậy cần phải xử lý làm sạch trước khi đưa vào sử dụng trong đời sống sinh hoạt hàng ngày của người dân ở trên địa bàn xã,

đồng thời cần bảo vệ, phát triển rừng đầu nguồn để bảo vệ nguồn sinh thủy

4.2 Điều kiện kinh tế- xã hội

Tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế năm 2017: Thực hiện chuyển đổi cơ cấu kinh tế, đổi mới về chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, sự quan tâm chỉ đạo của cấp ủy Đảng và chính quyền xã Thanh Long trong những năm qua đã có bước phát triển đúng hướng, áp dụng các thành tựu của KH- KT vào sản xuất Đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện, tốc độ tăng trưởng kinh tế tăng

* Ngành nông-lâm nghiệp là ngành sản xuất hàng đầu quan trọng của

xã Trong những năm qua, xã đẩy mạnh thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH-HĐH, tập trung thâm canh tăng vụ, áp dụng KH-KT vào sản xuất; sử dụng các loại giống mới có chất lượng cao, mở rộng diện tích các cây trồng chính như: Lúa, ngô, mía, thuốc lá Định hướng của xã là đưa những giống có giá trị kinh tế cao vào canh tác để tăng hiệu quả kinh tế Giá trị sản xuất của ngành nông nghiệp được thể hiện trong bảng 4.2 như sau:

Trang 36

Bảng 4.2 Hiện trạng sản xuất ngành trồng trọt của xã Thanh Long

giai đoạn 2015- 2017 Năm

(Nguồn: UBND xã Thanh Long, 2015-2017)

Qua bảng 4.2 cho ta thấy, tình hình sản xuất nông nghiệp của xã tương đối ổn định, nhìn chung sản lượng đều tăng qua các năm, diện tích gieo trồng

đỗ tương giảm nhưng năng suất đều tăng qua các năm do người dân áp dụng

kỹ thuật chăm sóc Diện tích và năng suất thuốc lá giảm qua các năm do người dân chuyển sang trồng các loại cây rau màu khác có năng suất, tăng thu nhập cho người dân Diện tích lúa tăng do người dân chuyển đổi một phần từ trồng ngô sang trồng lúa và một phần từ các cây trồng hàng năm khác Trong

Trang 37

6 tháng đầu năm 2018 tình hình sản xuất nông nghiệp của xã không có nhiều biến động Diện tích gieo trồng lúa tăng 118,80ha tăng 2,7ha, năng suất và sản lượng lúa tăng do người dân sử dụng giống mới đạt năng suất cao hơn Diện tích gieo trồng thuốc lá giảm do thời tiết khô hanh, rét đậm kéo dài, chất lượng cây giống không đảm bảo nên người dân chuyển đổi sang trồng lúa, và loại cây màu

Những khó khăn mà người dân gặp phải trong sản xuất nông nghiệp được hiện qua bảng 4.3:

Bảng 4.3 Ý kiến của người dân trong sản xuất nông nghiệp

tại xã Thanh Long năm 2018

(n=76) Cơ cấu (%)

Về sản xuất nông nghiệp

- Hệ thống sản xuất nghèo nàn

- Thiếu sự đầu tư cho sản xuất

- Năng suất và chất lượng sản phẩm còn thấp

32

30

43

42,10 39,47

56,57 Các nguyên nhân chính

- Thời tiết, sâu bệnh hại

- Chi phí cho hoạt động sản xuất quá cao

(Nguồn: Tổng hợp số liệu điều tra, 2018)

Qua quá trình phỏng vấn người dân về tình hình sản xuất của địa phương, phần lớn người dân cho rằng năng suất và chất lượng còn thấp (56,57% ý kiến), tiếp theo là hệ thống sản xuất nghèo nàn (chiếm 42,10%),

Trang 38

cuối cùng là thiếu đầu tư cho sản xuất (39,47%) Nguyên nhân chính là do các yếu tố về thời tiết, sâu bệnh, thiếu vốn sản xuất Trong đó người dân cho rằng ảnh hưởng nhiều nhất là do thời tiết, sâu bệnh hại chiếm 50% sau đó là thiếu vốn sản xuất (23,68%), thiếu giống và kỹ thuật là 22,36%

Theo ông Nông Văn Đức - xóm Lũng Vảy chia sẻ: “Mỗi năm đến khi gieo hạt giống là thời tiết khô hanh, hạt không nảy mầm đều, đến khi đóng bầu thuốc lúc đấy lại rét đậm nên cứ phải che phủ cẩn thận, cứ phải chú ý quan sát liên tục, ra ruộng trồng, chăm sóc cẩn thận nhưng sâu, bệnh hại nhiều nên xử lý ngay không là sâu bệnh phá hết, nhưng chất lượng thuốc sau khi sấy thấp, giá thành lại không cao nên chú cũng ngại đầu tư nhiều”

Thế mạnh chăn nuôi của xã là bò, lợn và gia cầm Có 320 hộ dân, chiếm 100% tổng số hộ toàn xã có hoạt động chăn nuôi, chủ yếu là trâu, bò và lợn Đa số các hộ nông dân đều chăn nuôi theo quy mô hộ gia đình Các hộ gia đình chăn nuôi chưa chú trọng đến việc phát triển chăn nuôi theo hình thức hàng hóa mà chủ yếu là tự cung tự cấp, giá trị sản xuất của ngành chăn nuôi còn thấp Thực tiễn đã chứng minh, chăn nuôi nông hộ quy mô nhỏ thường chịu rủi ro rất cao do không được kiểm soát và hỗ trợ cung cấp thông tin về dịch bệnh, giá cả, thiếu kỹ thuật chăn nuôi, thường chỉ dựa vào kinh nghiệm tích lũy và ít được tập huấn, phổ biến các kiến thức, hướng dẫn mới

về chăn nuôi Tình hình chăn nuôi của xã được thể hiện qua bảng 4.4 như sau:

Bảng 4.4 Số lượng gia súc, gia cầm của xã Thanh Long

(Nguồn: UBND xã Thanh Long, 2015-2017)

Trang 39

Qua bảng 4.4 cho ta thấy được tình hình chăn nuôi gia súc, gia cầm của

xã được thể hiện cụ thể như sau:

Tổng đàn trâu tăng lên qua 3 năm từ 345 con năm 2015 lên 377 con năm 2017 tăng 9,27% Tổng đàn bò giảm từ 960 con năm 2015 xuống còn

820 con năm 2017 giảm 17,03% do người dân hoạt động sản xuất nông nghiệp là chủ yếu, phần nhiều người dân sử dụng trâu, bò làm sưc kéo Tổng đàn gia cầm tăng 16,01% qua năm từ 13.456 năm 2015 lên 15.611 con năm

2017 Tổng đàn lợn tăng lên 2.233 con năm 2017 do nhu cầu thị trường và giá thành tăng

Tỷ lệ gia súc được tiêm tăng từ 44,39% năm 2015 lên 96,47% năm

2017 Tỷ lệ gia cầm được tiêm phòng từ năm 2015 đến 2017 tăng từ 35,06% lên 45,04%

Tình hình chăn nuôi của xã trong 6 tháng đầu năm 2018: Tổng số đàn trâu, bò tăng nhưng không nhiều, tổng đàn gia cầm tăng 16.734 con tăng 7%

so với năm 2017 Tỷ lệ gia súc, gia cầm được tiêm phòng khá đầy đủ trong xã

ít xuất hiện dịch bệnh luôn được cán bộ thú y xã phòng ngừa kịp thời

* Ngành lâm nghiệp

Trong năm 2017 công tác bảo vệ rừng được thực hiện tốt, không có vụ cháy rừng lớn nào xảy ra Các xóm thực hiện tốt công tác khoanh nuôi bảo vệ rừng và được hỗ trợ giống cây lâm nghiệp để phát triển ngành lâm nghiệp Diện tích rừng trồng ở xã ngành càng tăng, người dân được tham gia các lớp tập huấn trồng, phát triển và bảo vệ rừng trồng

* Dân số và nguồn nhân lực

Lao động đóng vai trò quan trọng trong sản xuất, nhất là đối với xã có trình độ cơ giới hóa còn thấp như xã Thanh Long Tổng dân số toàn xã năm

2017 là 1585 người gồm các dân tộc chính là: Tày, Nùng, Mông, Dao Nguồn nhân lực của xã khá dồi dào, tổng số lao động trông độ tuổi lao động của xã là 975 người chiếm 61,51% tổng số nhân khẩu Lao động có việc làm

Trang 40

là 975 người, trong đó có tới 93,94% số lao động hoạt động trong ngành nông- lâm nghiệp, các ngành khác như: thương mại dịch vụ, công nghiệp, xây dựng chiếm 6,06% Tình hình dân số và lao động trong năm 2017 được thể hiện trong bảng 4.5 như sau:

Bảng 4.5 Tình hình dân số và lao động trên địa bàn xã Thanh Long

2 Số người trong độ tuổi lao động Người 975

(Nguồn: UBND xã Thanh Long, 2017)

Tính đến hết tháng 6 năm 2018, tổng dân số của xã tăng lên 1.632 người, tổng số lao động trong độ tuổi lao động là 986 người chiếm 65,51% tổng số dân, số lao động hoạt động trong ngành nông- lâm nghiệp là 920 (93,02%), trong thương mại dịch vụ, công nghiệp, xây dựng chiếm 6,98%

Do vậy cần có thêm các giải pháp phù hợp để phát triển sản xuất nông nghiệp, tăng thu nhập cho người dân

Ngày đăng: 21/05/2020, 17:05

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Mai Thanh Cúc, Quyền Đình Hà (2005), Giáo trình phát triển nông thôn, Nxb Nông Nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình phát triển nông thôn
Tác giả: Mai Thanh Cúc, Quyền Đình Hà
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp
Năm: 2005
2. Nguyễn Duy Hoan, Nguyễn Văn Tâm (2007), Giáo trình nguyên lý phát triển nông thôn, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình nguyên lý phát triển nông thôn
Tác giả: Nguyễn Duy Hoan, Nguyễn Văn Tâm
Năm: 2007
3. Nguyễn Thị Giang (2013), Nghiên cứu việc huy động nguồn lực cộng đồng trong xây dựng nông thôn mới tại huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, Luận văn thạc sỹ, Đại học Nông Lâm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu việc huy động nguồn lực cộng đồng trong xây dựng nông thôn mới tại huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên
Tác giả: Nguyễn Thị Giang
Năm: 2013
4. Dương Văn Sơn (2007), Giáo trình xã hội học nông thôn, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình xã hội học nông thôn
Tác giả: Dương Văn Sơn
Năm: 2007
5. Phan Xuân Sơn, Nguyễn Cảnh (2008), Xây dựng mô hình nông thôn mới nước ta hiện nay, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phan Xuân Sơn, Nguyễn Cảnh (2008), "Xây dựng mô hình nông thôn mới nước ta hiện nay
Tác giả: Phan Xuân Sơn, Nguyễn Cảnh
Năm: 2008
6. Thủ tướng Chính phủ. Quyết định 419/QĐ-TTg, ngày 16/04/2009 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thủ tướng Chính phủ. Quyết định 419/QĐ-TTg, ngày 16/04/2009 của Thủ tướng Chính phủ về
7. Thủ tướng Chính phủ, Quyết định 1600/QĐ-TTg, ngày 16/08/2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016-2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thủ tướng Chính phủ, Quyết định 1600/QĐ-TTg, ngày 16/08/2016 của Thủ tướng Chính phủ
8. Thủ tướng Chính phủ, Quyết định 1980/QĐ-TTg, ngày 17/10/2016 của Thủ tướng chính phủ đã ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới giai đoạn 2016-2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thủ tướng Chính phủ, Quyết định 1980/QĐ-TTg, ngày 17/10/2016 của Thủ tướng chính phủ đã ban hành
9. UBND tỉnh Cao Bằng, Quyết định 618/QĐ-UBND ngày 05/5/2017 của Chủ tịch UBND tỉnh Cao Bằng ban hành Bộ tiêu chí xã nông thôn mới tỉnh Cao Bằng giai đoạn 2017-2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: UBND tỉnh Cao Bằng, Quyết định 618/QĐ-UBND ngày 05/5/2017 của Chủ tịch UBND tỉnh Cao Bằng ban hành
10. UBND xã Thanh Long, Đề án xây dựng nông thôn mới cấp xã (giai đoạn 2014-2020) Sách, tạp chí
Tiêu đề: UBND xã Thanh Long
11. UBND xã Thanh Long, báo cáo kết quả thực hiện chương trình xây dựng NTM năm 2015-2017.II. Tài liệu từ Internet Sách, tạp chí
Tiêu đề: UBND xã Thanh Long, "báo cáo kết quả thực hiện chương trình xây dựng NTM năm 2015-2017

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w