PHẠM VĂN MINH ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SINH SẢN CỦA LỢN NÁI LAI [♂ RỪNG x MƯỜNG x ♀ ĐEN HÒA BÌNH] VÀ KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG CỦA CON LAI GIAI ĐOẠN SAU CAI SỮA NUÔI TẠI HUYỆN LẠC SƠN, TỈNH HÒA
Trang 1PHẠM VĂN MINH
ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SINH SẢN CỦA LỢN NÁI LAI [♂ (RỪNG x MƯỜNG) x ♀ (ĐEN HÒA BÌNH)]
VÀ KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG CỦA CON LAI
GIAI ĐOẠN SAU CAI SỮA NUÔI TẠI HUYỆN LẠC SƠN, TỈNH HÒA BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHĂN NUÔI
THÁI NGUYÊN - 2019
Trang 2PHẠM VĂN MINH
ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SINH SẢN CỦA LỢN NÁI LAI [♂ (RỪNG x MƯỜNG) x ♀ (ĐEN HÒA BÌNH)]
VÀ KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG CỦA CON LAI
GIAI ĐOẠN SAU CAI SỮA NUÔI TẠI
HUYỆN LẠC SƠN, TỈNH HÒA BÌNH
Chuyên ngành : Chăn nuôi
Mã số: 8.62.01.05
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHĂN NUÔI
Người hướng dẫn khoa học: TS HÀ VĂN DOANH
THÁI NGUYÊN - 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn này
là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi cũng cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều đã được chỉ rõ nguồn gốc./
Tác giả luận văn
Phạm Văn Minh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và nghiên cứu để hoàn thành luận văn tốt nghiệp ngoài
sự nỗ lực, cố gắng của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ, hướng dẫn, chỉ bảo và động viên của thầy cô, bạn bè và gia đinh
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Hà Văn Doanh người đã trực tiếp
hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài cũng như trong quá trình hoàn chỉnh luận văn tốt nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn tới các thầy cô trong Khoa Chăn nuôi thú y đã hướng dẫn và hỗ trợ tôi trong suốt thời gian qua
Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình anh Bùi Ngọc Đủi, xã Bình Chân huyện
Lạc Sơn tỉnh Hòa Bình đã tạo điều kiện để giúp đỡ tôi học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, người thân, bạn bè đã luôn động viên, chia sẻ giúp đỡ tôi trong những lúc khó khăn trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 26 tháng 9 năm 2019
Học viên
Phạm Văn Minh
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC CÁC HÌNH vii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu của đề tài 2
3 Ý nghĩa khoa học và ứng dụng của đề tài 2
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu 3
1.1.1 Cơ sở của sự lai tạo giống và ưu thế lai 3
1.1.2 Cơ sở sinh lý của sự sinh sản, yếu tố ảnh hưởng đến năng suất
sinh sản ở lợn cái 5
1.1.3 Cơ sở sinh lý của sự sinh trưởng và các yếu tố ảnh hưởng
tới khả năng sinh trưởng 16
1.1.4 Vai trò thức ăn dinh dưỡng đối với chăn nuôi lợn rừng 23
1.2 Đặc điểm và tính năng sản xuất của đối tượng nghiên cứu 26
1.3 Tình hình nghiên cứu ở ngoài nước và trong nước: 30
1.3.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 30
1.3.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 31
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 34
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 34
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu: 34
Trang 62.1.2 Phạm vi nghiên cứu: Chỉ trong một trang trại 34
2.1.3 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 34
2.2 Nội dung nghiên cứu 34
2.3 Phương pháp nghiên cứu 35
2.3.1 Mô tả thí nghiệm lợn khảo sát trong đề tài 35
2.3.2 Các chỉ tiêu theo dõi lợn nái và công thức tính 36
2.3.3 Các chỉ tiêu đánh giá lợn thương phẩm và công thức tính 37
2.3.4 Phương pháp xử lý số liệu 38
Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 39
3.1 Kết quả theo dõi về sinh lý sinh dục và khả năng sinh sản
của lợn nái lai (RMĐ) 39
3.1.1 Kết quả theo dõi về sinh lý sinh dục của lợn nái lai (RMĐ) 39
3.1.2 Kết quả theo dõi khả năng sinh sản của lợn nái (RMĐ) 41
3.1.2.2 Kết quả theo dõi ở lứa 2 43
3.1.3 Kết quả xác định hệ số tương quan giữa các chỉ tiêu sinh sản
của lợn nái lai (RMĐ) 47
3.2 Kết quả theo dõi khả năng sinh trưởng của lợn con giai đoạn
sau cai sữa của lợn thương phẩm 50
3.2.1 Khả năng sinh trưởng tích lũy của lợn thương phẩm 50
3.2.2 Sinh trưởng tuyệt đối của lợn thương phẩm 52
3.2.3 Sinh trưởng tương đối của lợn thương phầm 54
3.2.4 Tiêu tốn thức ăn của lợn con sau cai sữa 55
3.2.5 Sơ bộ tính hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi lợn con 57
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 58
1 Kết luận 58
2 Đề nghị 58
TÀI LIỆU THAM KHẢO 59
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CS: Cai sữa ĐVT: Đơn vị tính GP: Grand Parents GGP: Great Grand Parents HB: Hòa Bình
KL: Khối lượng KLCS: Khối lượng cai sữa KLSS: Khối lượng sơ sinh L: Landrace
LW: Large White M: Lợn Mường P: Parents R: Lợn rừng RM: Lai lợn rừng với lợn Mường (1/2 R + 1/2 M) RMĐ: Lai 3 máu Rừng, mường, đen Hòa Bình SS: Sơ sinh
TLNS: Tỷ lệ nuôi sống đến cai sữa TTTĂ: Tiêu tốn thức ăn
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Một số chỉ tiêu về sinh lý sinh sản của lợn rừng Thái Lan và
Việt Nam 33
Bảng 3.1: Một số chỉ tiêu sinh lý sinh dục của lợn nái lai 39
Bảng 3.2 Kết quả theo dõi ở lứa 1 41
Bảng 3.3 Khả năng sinh sản của lợn nái lai (RMĐ) đẻ lứa thứ 2 43
Bảng 3.4 Khả năng sinh sản của lợn nái lai (RMĐ) qua 2 lứa đẻ 46
Bảng 3.5 Hệ số tương quan giữa các chỉ tiêu sinh sản của lợn nái 48
Bảng 3.6 Khả năng sinh trưởng tích lũy của lợn thương phẩm 51
Bảng 3.7 Khả năng sinh trưởng tuyệt đối của lợn thương phẩm 53
Bảng 3.8 Khả năng sinh trưởng tương đối của lợn thương phẩm 54
Bảng 3.9 Tiêu tốn thức ăn của lợn con sau cai sữa 56
Bảng 3.10: Sơ bộ tính hiệu quả kinh tế 57
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1: Đồ thị sinh trưởng tích lũy của lợn thí nghiệm 52 Hình 3.2: Biểu đồ sinh trưởng tuyệt đối của lợn thí nghiệm 53 Hình 3.3: Biểu đồ sinh trưởng tương đối của lợn thí nghiệm 55
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay chăn nuôi lợn ở nước ta đã đạt được những bước tiến vượt bậc, nhờ phát triển nhanh về khoa học và kỹ thuật nên sản lượng thịt không ngừng tăng cao, thậm chí đôi lúc cung còn vượt hơn cầu Chính từ đó, người ta đã chú trọng đến chất lượng thịt phải ngon, đặc sản hơn so với thịt lợn nuôi thông thường
Để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng, nhiều cơ sở chăn nuôi đã đưa giống lợn rừng vào sản xuất tại các trang trại và đã thành công lớn, tuy nhiên yếu tố đưa đến thành công là lợn rừng đã được nghiên cứu, lai tạo với một số giống lợn địa phương hay các giống lợn khác nhằm nâng cao được khả năng sinh sản, hạ giá thành nhưng vẫn giữ được phẩm chất thịt của lợn rừng Các địa phương đều có thế mạnh riêng về các giống lợn bản địa, riêng huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình có giống lợn Mường địa phương, lợn đen Hòa Bình với nhiều ưu điểm phẩm chất thịt khá tốt, khả năng sinh sản khá hơn lợn rừng, do vậy nếu kết hợp được các đặc tính tốt về chất lượng thịt của lợn rừng
và khả năng sinh sản của lợn Mường, lợn đen Hòa Bình thì khả năng sẽ có hiệu quả cao hơn
Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có các nghiên cứu nhằm đánh giá một cách cơ bản và toàn diện về lợn Rừng lai với lợn Mường, lợn đen Hòa Bình Các nghiên cứu nhằm quản lý và khai thác tiềm năng của lợn Mường, lợn đen Hòa Bình vào việc phát triển đa dạng hệ thống giống trong chăn nuôi, phù hợp với sinh thái và trình độ sản xuất của từng vùng cũng chưa được thực hiện Từ những lý do nêu trên, để có các số liệu khoa học phục vụ cho công tác bảo tồn, khai thác nguồn gen lợn Mường, lợn đen Hòa Bình cũng như tư vấn cho các cơ
sở chăn nuôi, chúng tôi đã hợp tác với Trang trại chăn nuôi lợn Ngọc Đủi tại
xã Bình Chân, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình tiến hành lai tạo và xem xét đánh giá hiệu quả của một số công thức lai giữa lợn Rừng và lợn Mường, lợn đen Hòa Bình tại địa phương để rút ra kết luận tốt nhất
Trang 11Xuất phát từ thực tiễn đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: "Đánh
giá khả năng sinh sản của lợn nái lai [♂ (Rừng x Mường) x ♀ (Đen Hòa Bình)] và khả năng sinh trưởng của con lai giai đoạn sau cai sữa nuôi tại huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình”
2 Mục tiêu của đề tài
- Đánh giá khả năng sinh sản của lợn nái lai 3 máu nuôi tại huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình” nhằm nâng cao năng xuất sinh sản cho đàn nái của trại
- Xác định khả năng sinh trưởng và tiêu tốn thức ăn của con lai thương phẩm giai đoạn sau cai sữa
3 Ý nghĩa khoa học và ứng dụng của đề tài
- Tư vấn cho các hộ chăn nuôi để định hướng sản xuất
- Kết quả nghiên cứu của đề tài làm tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu khoa học tiếp theo về các giống lợn
- Tạo cơ sở cho nghành chăn nuôi lợn của huyện nhà phát triển
- Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp các thông tin về khả năng thích nghi, khả năng sản xuất của lợn mường nuôi tại huyện Lạc Sơn tỉnh Hòa Bình
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu
Bản chất sinh học của mỗi giống vật nuôi được thể hiện qua kiểu hình đặc trưng riêng của nó Kiểu gen, dưới tác động của môi trường sẽ biểu hiện thành kiểu hình tương ứng của vật nuôi đó Để công tác chọn lọc giống vật nuôi đạt kết quả tốt, trước hết cần có những kiến thức cơ bản về di truyền, đặc biệt là bản chất của di truyền và ưu thế lai của từng tính trạng
1.1.1 Cơ sở của sự lai tạo giống và ưu thế lai
1.1.1.1 Bản chất di truyền của ưu thế lai
Lai giống là phương pháp nhân giống bằng cách cho đực giống và cái giống thuộc hai quần thể khác nhau phối giống với nhau, hai quần thể này
có thể là hai dòng, hai giống, hai loài khác nhau Do đó đời con của chúng mang đặc tính của bố mẹ nó Lai giống có tác dụng mang lại ưu thế lai ở đời con một số tính trạng nhất định
Mức độ ưu thế lai của một tính trạng năng suất được xác định như sau:
H (%) = 1/2 (AB + BA) - 1/2 (A + B) x 100
1/2 (A + B) Trong đó: 1/2 (AB) là trung bình của con, A là bố, B là mẹ
1/2 (BA) là trung bình của con, B là bố, A là mẹ
Trang 13cho thịt là những tính trạng số lượng do nhiều kiểu gen điều khiển vì vậy ít khi
có đồng hợp tử, thế hệ con lai tạo ra giữa hai cá thể được biểu hiện do các gen trội của bố và mẹ
- Thuyết siêu trội: Hiệu quả của một alen trạng thái dị hợp tử sẽ khác với hiệu quả từng alen ở trạng thái đồng hợp tử và các alen di hợp tử có tác động lớn hơn các cặp alen đồng hợp tử Aa > AA > aa (Theo Shull, 1952)
- Thuyết át gen cho rằng hai giống đã hình thành nên các công thức gen mới trong đó có tác động tương hỗ giữa các alen không cùng locut là nguyên nhân tạo ra ưu thế lai
1.1.1.2 Ưu thế lai trong chăn nuôi lợn
Nhiều kết quả nghiên cứu và thực tế chăn nuôi lợn cho thấy việc lai giống đã mang lại hiệu quả kinh tế cho ngành chăn nuôi lợn Hiện nay trên thế giới những nước phát triển chăn nuôi lợn có tới 90 % con giống thương phẩm là con lai Tuy nhiên việc kết hợp giữa hai giống nào có ưu thế cao phụ thuộc vào sự chọn lựa, xác định ưu thế lai của công thức lai dựa trên giá trị giống
Theo nghiên cứu của William (1997) ở lợn có ba loại ưu thế lai:
- Ưu thế lai ở lợn mẹ có lợi cho các cá thể đời con, là ưu thế lai quan trọng nhất bởi vì năng suất sinh sản phụ thuộc vào số đầu con cai sữa/lứa, đây
là chỉ tiêu kinh tế quan trọng nhất
- Ưu thế lai của con có lợi cho chính bản thân chúng, thể hiện ở sự tăng khối lượng, sức sống, đặc biệt là sau cai sữa
- Ưu thế lai về đực giống được tạo thành từ bố thể hiện thông qua con đực
từ kết quả giao phối, ưu thế lai của đực giống được thể hiện rất hạn chế So sánh về năng suất sinh sản của lợn cái lai (L x LW) phối với đực thuần và đực lai, Gineva và cs (1999) cho thấy kiểu gen của lợn đực giống không ảnh hưởng đến chỉ tiêu số con đẻ ra và số lượng con sống đến 21 ngày tuổi, song khối lượng lợn con sơ sinh của đực giống lai cao hơn đực giống thuần
Ưu thế lai đạt được ở các chỉ tiêu năng suất là khác nhau phụ thuộc vào phương pháp lai, giữa các cặp lai ưu thế lai thể hiện cao đối với các chỉ tiêu
Trang 14sinh sản, thể hiện trung bình đối với các chỉ tiêu vỗ béo và thấp đối với các chỉ tiêu giết thịt
Để lợn lai nuôi thịt có khả năng sinh trưởng cao và tiêu tốn thức ăn thấp,
tỷ lệ nạc cao, hiện nay hệ thống sản xuất con lai được tổ chức theo sơ đồ hình tháp nhằm thực hiện các công thức lai giữa nhiều dòng, giống khác nhau, hệ thống sản xuất con lai được tổ chức như sau:
- Đàn cụ, kỵ (GGP) có nhiệm vụ nhân các dòng, giống thuần
- Đàn ông, bà (GP) lai giữa hai dòng, giống thuần với nhau tạo ra đời ông
bà Nếu dùng công thức lai giữa bốn dòng giống khác nhau, cần có hai đàn ông
bà khác nhau, một đàn ông bà tạo ra đàn bố, còn đàn kia tạo ra đàn mẹ Nếu sử dụng công thức lai giữa ba dòng khác nhau, chỉ cần một đàn ông bà, đàn này thường dùng để tạo ra đàn mẹ, còn đàn bố thường là dòng, giống thuần trong đàn cụ, kỵ
- Đàn bố, mẹ (P) lai giữa hai đàn bố mẹ tạo ra đời con là con lai giữa ba hay bốn dòng giống khác nhau
- Đàn thương phẩm các con lai giữa ba hay bốn dòng giống khác nhau được nuôi để sản xuất thịt
Năng suất chăn nuôi lợn phụ thuộc rất nhiều vào công tác giống, để có năng suất cao chất lượng sản phẩm tốt công tác giống phải là vấn đề then chốt
Để có công thức lai tốt, nguyên liệu lai chính là các con giống thuần ở đàn hạt nhân, do đó chọn giống trong đàn hạt nhân sẽ quyết định cho năng suất chăn nuôi lợn
1.1.2 Cơ sở sinh lý của sự sinh sản, yếu tố ảnh hưởng đến năng suất sinh sản ở lợn cái
1.1.2.1 Những đặc điểm sinh lý sinh sản của lợn cái
* Đặc điểm cấu tạo bộ máy sinh dục lợn cái
Cấu tạo cơ quan sinh dục của lợn cái bao gồm: Buồng trứng, ống dẫn trứng, tử cung (cổ, thân và sừng tử cung), âm đạo và các cơ quan bên ngoài
Trang 15- Buồng trứng: Khác với dịch hoàn, buồng trứng nằm trong xoang bụng, phát triển thành một cặp Buồng trứng lợn cái có dạng chùm nho, khối lượng một buồng trứng là 4 - 7 g Ở lợn trưởng thành, buồng trứng có 10 - 25 nang trứng thành thục, đường kính nang là 8 - 12 mm, thể vàng thành thục có hình cầu hoặc hình trứng đường kính 5 - 10 mm
- Ống dẫn trứng: Được chia thành 4 đoạn: Tua diềm, phễu, phồng ống dẫn trứng và eo Ống dẫn trứng có một chức năng duy nhất là vận chuyển trứng và tinh trùng theo một hướng ngược chiều nhau, hầu hết là đồng thời Phồng ống dẫn trứng là nơi xảy ra sự thụ tinh Ống dẫn trứng cung cấp điều kiện ngoại cảnh thuận lợi nhất của các giao tử và cho sự phát triển ban đầu của phôi
- Tử cung: Gồm có 2 sừng, một thân và một cổ tử cung Tử cung lợn thuộc loại 2 sừng, các sừng gấp nếp hoặc quấn loại và có độ dài đến hơn 1m
Độ dài này thích hợp cho việc mang thai nhiều Ở lợn trưởng thành, trung bình các sừng tử cung dài 40 - 45 cm, thân tử cung 5cm, cổ tử cung dài 10cm và có đường kính ngoài 2 - 3 cm Tử cung có nhiều chức năng Nội mạc tử cung và các dịch tử cung giữ vai trò chủ chốt trong quá trình sản xuất bao gồm các chức năng sau: Vận chuyển tinh trùng, điều hòa chức năng của thể vàng, là nơi làm tổ của phôi, thực hiện các chức năng chửa đẻ
- Âm đạo: Có cấu tạo như một ống cơ có thành dầy, dài 10 - 12 cm Đây
là cơ quan giao cấu của lợn cái, là ống thải của dịch cổ tử cung, nội mạc tử cung và ống dẫn trứng, đồng thời cũng là đường cho thai ra ngoài khi đẻ
- Bộ phận sinh dục bên ngoài: Là phần có thể sờ thấy và quan sát được, bao gồm: Âm môn, âm vật và tiền đình
* Đặc điểm sinh lý của lợn nái hậu bị
Gia súc phát triển đến một giai đoạn nhất định thì có biểu hiện về tính dục Lợn nái khi thành thục về tính sẽ xuất hiện các triệu chứng động dục và kèm theo quá trình rụng trứng Đồng thời lợn nái hậu bị vẫn tiếp tục sinh trưởng đề thành thục về thể vóc Tuy nhiên trong giai đoạn xảy ra chu kì động dục lợn nái hậu bị thường bị giảm mức tăng trọng so với bình thường
Trang 16Chu kì động dục của lợn nái được chia thành 4 giai đoạn khác nhau:
- Giai đoạn trước động dục: Lúc này buồng trứng của lợn nái bắt đầu có các noãn phát triển, đồng thời buồng trứng tăng cường tiết Oestrogen, bầu vú cũng dần phát triển Giai đoạn này kéo dài từ 2 - 3 ngày
- Giai đoạn động dục: Buồng trứng có các noãn bao, bắt đầu chín và chuẩn bị rụng Đồng thời kèm theo các triệu chứng bên ngoài như lợn bắt đầu kêu la, phá chuồng, bỏ ăn và đi tìm con đực Âm hộ dần dần sưng lên và xuất hiện màu cà chua chín và chuyển sang màu mận chín và lúc này trứng chín rụng xuống loa kèn Lợn ở vào trạng thái mê ì Thời gian này thường kéo dài
- Ảnh hưởng của giống: Giống khác nhau có chu kỳ động dục khác nhau: Lợn ỉ, từ 19 - 21 ngày lợn Móng Cái từ 18 - 25 ngày
- Ảnh hưởng của tuổi: Nái tơ thì có chu kỳ tính thường ngắn hơn lợn nái trưởng thành Lợn nái ở lứa đẻ thứ 2, thứ 3 thì chu kỳ tính trung bình là 20,8 ngày, lứa 6 - 7 là 21,5 ngày; lứa 8 - 9 là 22,4 ngày Khi theo dõi sinh sản trên lợn ỉ thấy ở lứa thứ nhất chu kỳ tính 19 ngày, lứa thứ 2 là 20 ngày (Phạm Hữu Doanh, Lưu Kỷ, 1996) Thời gian động dục lần đầu thường ngắn hơn những lần sau, đồng thời thường không có trứng rụng hoặc trứng rụng rất ít, kích thước tế bào trứng nhỏ hơn những lần sau Đường kính của tế bào trứng lợn nái
6 tháng tuổi là 146 µm, 10 tháng tuổi là 157µm, 4 năm tuổi là 166 µm
Trang 17- Ảnh hưởng của dinh dưỡng: Nếu dinh dưỡng tốt thì chu kỳ tính ổn định và ngược lại
- Trong thời gian động dục lợn nái có sự rụng trứng, từ đó liên quan đến
sự thụ thai, chửa và đẻ
Thời gian của động dục được chia làm 3 giai đoạn:
Giai đoạn 1: Từ khi bắt đầu động dục đến lúc chịu đực (T1), đây là giai đoạn các triệu chứng động dục bắt đầu xuất hiện, dưới tác động của các hormone sinh dục cái tế bào trứng phát triển và chuẩn bị chín và rụng Lợn nái
ở giai đoạn này thường hoạt động mạnh, tìm kiếm con đực, bỏ ăn phá chuồng
và kêu la Giai đoạn này kéo dài từ 1 - 2 ngày
Giai đoạn 2: Từ khi chịu đực đến lúc hết chịu đực (T2)
Giai đoạn 3: Từ khi hết chịu đực đến khi hết biểu hiện động dục (T3)
Từ đặc điểm động dục trên đây của lợn nái, chúng ta có thể xác định thời điểm phối tinh thích hợp cho chúng Biểu hiện của chu kỳ động dục: Khi động dục lợn nái biểu hiện không yên tĩnh: kêu la, phá chuồng, tìm đực, nhảy lên lưng con khác, âm hộ xung huyết đỏ tươi, thích gần con đực Nếu ta ấn tay lên lưng thì nó đứng yên, đuôi cong lên thích giao phối Nhưng cũng có lợn nái dbiểu hiện động dục không rõ nét Đối với những trường hợp này phải theo dõi
để quyết định thời điểm phối thích hợp hoặc dùng lợn đực thí tình hay sử dụng con đực để phát hiện thời điểm phối thích hợp, tránh nhỡ thời điểm phối giống,
để nâng cao khả năng sinh sản Qua hình biểu diễn các hàm lượng hormone ở dưới đây cho chúng ta thấy sự thay đổi của các hormone khác nhau qua các ngày trong chu kì động dục của lợn nái Trong thời kì động dục, hàm lượng hormone của lợn nái thay đổi, oestrogen tăng mạnh từ ngày thứ 10 và cao nhất
ở ngày 20 - 21 (29 - 30 pg/ml trong huyết thanh), sau đó giảm dần xuống 7 - 8
ở ngày thứ 8 sau động dục Hàm lượng prostaglandin trong tĩnh mạch tử cung thay đổi và đột nhiên tăng cao ở ngày 15 (6 ng/ml), trong khi bình thường tỷ lệ này 0,3 - 0,5 ng/ml Hormone progesterone tăng tiết từ ngày 1 đến 13 (32
Trang 18ng/ml) trong huyết thanh và giảm dần và xuống tỷ lệ thấp nhất ở ngày thứ 20, chỉ còn 0,8 - 1 ng/ml Hàm lượng prolactin huyết thanh thay đổi liên tục từ ngày 13 đến ngày thứ 5 sau chu kì động dục biến động lên đến 15 ng/ml và sau
1 ngày xuống lại 1,5 - 1,8 ng/ml, cứ thay đổi lên xuống theo chu kì 2 - 3 ngày nhưng ở ngày đầu chu kì từ 2 - 13 có hàm lượng thấp 1,8 ng/ml FSH và LH thay đổi và khi động dục tỷ lệ FSH/LH = 1/3
Sau khi phối tinh được 15 phút, tinh trùng vận động đến tử cung lợn cái, sau 1 - 2 h tinh trùng sẽ vận chuyển đến vị trí thụ tinh thích hợp (1/3 phía trên của ống dẫn trứng) Thời gian sống của tinh trùng trong đường sinh dục của con cái khoảng 12 - 20 h Số tinh trùng cần cho lần phối tinh để có tỷ lệ thụ thai cao là 3 tỷ Tế bào trứng, sau khi xuất hiện triệu chứng động dục đầu tiên khoảng 40 - 48 h thì tế bào trứng bắt đầu rụng (cuối giai đoạn T1, đầu T2) lúc lợn cái biểu hiện "mê ì" Thời gian rụng trứng của lợn nái kéo dài 8 - 12 h Sau khi trứng rụng xuống loa kèn, chúng theo ống dẫn trứng di chuyển đến vị trí thụ tinh thích hợp mất khoảng 1 - 2 h tương ứng sau 24 - 36 h kể từ lúc xuất hiện hiện tượng chịu đực (Hoàng Toàn Thắng và Cao Văn, 2006) Số lượng tế bào trứng rụng trong 1 chu kỳ động dục phụ thuộc vào giống, tuổi, và chế độ nuôi dưỡng, chăm sóc Qua một số nghiên cứu cho biết, lợn nái Móng Cái có
và chiều tối) Thời gian kéo dài động dục của lợn là 3 - 5 ngày tùy theo giống, thời gian phối thích hợp là cuối ngày thứ 2, đầu ngày thứ 3 Thời gian này lợn nái biểu hiện động dục cao độ nhất: "mê ì", âm hộ chuyển từ màu đỏ hồng (cà
Trang 19chua chín), sang màu thâm tái (màu mận chín), lợn có thể ít ăn hoặc bỏ ăn hoàn toàn, thích nhảy lên lưng con khác, nếu ta ấn mạnh vào vùng hông khum của lợn thì thấy lợn đứng yên, cong đuôi và thích giao phối Đây là thời điểm phối tinh thích hợp nhất cho lợn nái
* Ảnh hưởng của các yếu tố đến sự phát dục của lợn cái:
Sinh sản là một quá trình sinh học hết sức phức tạp của cơ thể động vật đồng thời là chức năng duy trì giống nòi và tái sản xuất của vật nuôi Sinh sản hữu tính là hình thức sinh sản cao nhất và phổ biến nhất ở cơ thể động vật, đó
là quá trình có sự tham gia của hai cơ thể đực và cái, là một quá trình mà ở đó con đực sản sinh ra tinh trùng, con cái sản sinh ra trứng, thụ tinh giữa tinh trùng và trứng hình thành hợp tử, hợp tử phát triển trong tử cung của con cái và sinh ra đời con Quá trình sinh sản đối với con cái xẩy ra bắt đầu bằng sự xuất hiện chu kỳ tính và được điều khiển bởi một hệ thống thần kinh, thể dịch hết sức phức tạp Tất cả các kích thích bên ngoài và trong cơ thể như khí hậu, nhiệt
độ, ánh sáng, chế độ nuôi dưỡng, quản lý, tác động xoa bóp, mùi vị con đực, tình trạng cơ quan sinh dục và các bộ phận khác của cơ thể đều ảnh hưởng trực tiếp đến chu kỳ tính một cách phản xạ theo phương thức thần kinh, thể dịch
Trong quá trình sinh trưởng phát triển, lợn cái sẽ dần đi tới thành thục về tính Tuy nhiên sự thành thục về tính của lợn phụ thuộc vào các yếu tố sau:
- Giống: Giống là yếu tố quyết định đến sức sản xuất của lợn nái Giống
có ảnh hưởng rõ rệt đến tính trạng số con sơ sinh sống, số con cai sữa, tuổi đẻ lứa đầu và khoảng cách giữa 2 lứa đẻ Các giống lợn khác nhau cho năng suất sinh sản khác nhau Lợn nái Móng Cái thành thục về tính lúc 4 tháng 12 ngày, trọng lượng đạt 12 kg Tuổi thành thục sinh dục ở lợn lai luôn muộn hơn so với lợn nái nội thuần chủng (Móng Cái, Ỉ, Mường Khương,…) thường ở tháng thứ
4 đến tháng thứ 5 (120 - 150 ngày) (Phạm Hữu Doanh và cs, 1996) Trong cùng một giống nhưng khi phối đồng huyết thì thành thục về tính muộn hơn
Chọn lọc là phương pháp đơn giản và được sử dụng sớm nhất để nâng cao chất lượng đàn giống vật nuôi Chọn lọc cũng là động lực đầu tiên để đạt
Trang 20tới sự tiến bộ di truyền, chọn lọc có thể tăng số lượng gen tốt và giảm số lượng gen xấu thông qua quan sát kiểu hình
1.1.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng tới sức sinh sản của lợn nái
- Ảnh hưởng của giống: Giống khác nhau thì sự thành thục về tính khác nhau Gia súc có tầm vóc nhỏ thì sự thành thục về tính thường sớm hơn gia súc
có tầm vóc lớn Lợn nội thành thục về tính thường sớm hơn lợn ngoại Ở các giống lợn khác nhau thì năng suất sinh sản cũng khác nhau Giống lợn Meishan (Trung Quốc) được coi là một kiểu mẫu di truyền về sức sinh sản cao, đạt 14 - 18 lợn sơ sinh, trên 12 con lợn cai sữa/ổ ở lứa đẻ 3 đến lứa đẻ 10 (Vũ Kính Trực, 1998)
- Số trứng rụng: Số trứng rụng trong một chu kỳ động dục là giới hạn cao nhất của số con đẻ ra/lứa, trong thực tế mỗi lợn nái đẻ trên dưới 10 con Như vậy trứng rụng bao giờ cũng nhiều hơn số con đẻ ra Sự chênh lệch này có thể do một số trứng được thụ tinh nhưng không phát triển thành hợp tử Haines
và cs (1959) cho biết số trứng rụng ở chu kỳ động dục lần đầu là 11,3 trứng, ở chu kỳ động dục lần hai là 12,3 trứng Theo Perry (1954), số trứng rụng của nái tơ là 13,5 và nái trưởng thành là 21,4 Số trứng rụng trung bình của lợn nái
là 15 - 20 (Vangen, 1981; Haines, 1959) Số trứng rụng ở các chu kỳ động dục
1, 2, 3 có ảnh hưởng đến số con đẻ ra/lứa ở lợn cái hậu bị (Hughes và cs, 1980) Do số trứng rụng ở chu kì động dục lần đầu ít, nên khi phối giống cho lợn ngoại thường tiến hành ở chu kỳ động dục lần thứ hai hoặc thứ ba Trần Cừ
và cs (1975) cho biết ở lợn nái mỗi chu kỳ động dục có thể rụng 15 - 20 trứng,
có khi đến 40 trứng, và số trứng rụng ở buồng trứng bên trái thường nhiều hơn bên phải Trong kỹ thuật nuôi dưỡng lợn nái hậu bị trước ngày dự kiến phối giống 11 - 14 ngày, tập trung mức năng lượng cao sẽ làm tăng số lượng trứng rụng Kỹ thuật này đã được áp dụng rộng rãi trong qui trình chăn nuôi lợn nái hậu bị, được gọi là phương pháp Flushing Theo Phạm Hữu Doanh (1995) đối với lợn, áp dụng phương pháp phối kép có thể làm thời gian thải trứng sớm
Trang 21hơn và tăng số lượng trứng rụng Hughes và Varley (1980) cho rằng nếu lợn nái được ăn với mức dinh dưỡng cao trong vòng 0 - 1 ngày (trước động dục) thì số trứng rụng tăng 0,4 trứng, trong vòng 2 - 7 ngày (trước động dục) số trứng rụng tăng 1,6 trứng và trong vòng 21 ngày (trước động dục) thì số trứng rụng tăng 3,1 trứng
- Tỷ lệ thụ thai: Xác định thời điểm phối giống thích hợp sẽ quyết định
tỷ lệ thụ thai của các trứng rụng trong một chu kỳ động dục của lợn nái Trong điều kiện bình thường tỷ lệ thụ thai có thể đạt 90 - 100 %, điều này phù hợp với kết quả nghiên cứu của Hancock (1961), Self và cs (1955) Phương thức thụ tinh cũng ảnh hưởng tới tỷ lệ thụ thai, nếu cho phối giống trực tiếp thì tỷ
lệ thụ thai thường cao hơn từ 10 - 20 % so với phối giống nhân tạo Trong kỹ thuật phối giống nhân tạo thì môi trường pha loãng để bảo tồn tinh dịch có ảnh hưởng trực tiếp đến tỷ lệ thụ thai (Nguyễn Tấn Anh và cs, 1998; Nguyễn Văn Thưởng, 1998)
Tỷ lệ thụ thai còn phụ thuộc vào mùa vụ phối giống, nếu cho lợn nái phối giống vào các tháng 6 - 8 thì tỷ lệ thụ tinh giảm 10 % so với phối giống ở các tháng 11, 12 (Akina Ogasa, 1992)
Tỷ lệ chết phôi và thai: Perry (1954) và Joakimsen (1977) cho biết phôi bị chết vào ngày 13 - 18 sau khi thụ tinh Tỷ lệ thai chết tỉ lệ thuận với số phôi còn sống ở đầu thời kỳ bào thai (Đặng Vũ Bình, 1995)
- Thời gian mang thai: Theo Trần Cừ và cs (1975), thời gian mang thai của lợn dao động từ 110 - 120 ngày và tuỳ thuộc vào giống, tuổi, các yếu tố khí hậu, thời tiết và điều kiện dinh dưỡng Brand và cs (1954) lại cho rằng thời gian mang thai của các giống lợn trắng ở Anh là 114 ngày với phạm vi biến động là 110 - 120 ngày Nhìn chung nếu xét trong phạm vi các giống lợn thì thời gian mang thai có sự sai khác không đáng kể và dao động trong khoảng 113 - 115 ngày
Trang 22- Số lợn con được sinh ra trong ổ thường được đánh giá theo ba loại lợn con + Loại đẻ ra còn sống, trong số này có một số con chết trong vòng 24 giờ, như vậy số con sơ sinh sống đến 24 giờ được tính là số con đẻ ra trừ đi số con chết trong 24 giờ
+ Loại thai non: Là loại thai phát triển không hoàn toàn, chết trong thời gian có chửa và trước khi sinh ra Nguyên nhân có thể do lợn mẹ nhiễm bệnh hoặc do thiếu dinh dưỡng trong thời gian mang thai
+ Loại thai gỗ: Là loại thai đã chết trong tử cung lúc 35 - 90 ngày tuổi thai chết trong giai đoạn này thường không gây xảy thai mà các bào thai chết thường khô cứng lại Nguyên nhân có thể các thai này không được cung cấp dinh dưỡng đầy đủ làm cho thai phát triển không bình thường, thai dị dạng, hoặc do nhiễm vi rút Pavovirus Lợn nái chửa nhiễm vi rút Pavovirus lúc 70 ngày có chửa trở về trước thì mới gây ra thai gỗ Số con chết lúc sơ sinh, số thai non, số thai gỗ sẽ là nguyên nhân làm giảm số lượng lợn con sơ sinh sống đến 24 giờ cho một lứa đẻ Hughes và cs (1980) cho rằng năng suất của đàn lợn giống được xác định bởi chỉ tiêu số con bán được khi cai sữa/nái/năm Do đó, số con trong ổ là tính trạng năng suất rất quan trọng Giới hạn cao nhất của số con trong ổ là số trứng rụng Từ giới hạn này, số con trong ổ bị giảm đi là do:
+ Một số trứng không được thụ tinh
+ Một số thai chết khi đẻ
+ Một số lợn con chết từ sơ sinh đến cai sữa
Khá nhiều nghiên cứu đã tập trung vào vấn đề lợn con chết từ sơ sinh đến cai sữa Người ta đã thống kê được khoảng 3 - 5 % lợn con chết khi sơ sinh bao gồm
cả lợn con chết do đẻ khó và lợn con chết ở giai đoạn chửa Các nguyên nhân chủ yếu làm lợn con chết trong quá trình từ sơ sinh đến cai sữa:
+ Bị mẹ đè và bỏ đói: 50 %
+ Nhiễm khuẩn: 11,5 %
+ Dinh dưỡng kém: 8 %
Trang 23+ Di truyền: 4,5 %
+ Các nguyên nhân khác: 26 %
Dennis (2000) nghiên cứu thấy 65 % số lợn con chết sau khi sinh xảy ra vào lúc lợn con 4 ngày tuổi Theo Lê Thanh Hải và cs (1998), lợn nái được nuôi dưỡng bằng chuồng lồng đã làm tăng số lợn con 60 ngày tuổi bình quân/ổ thêm 18,51 % hay tăng tỷ lệ nuôi sống từ sơ sinh đến 60 ngày tuổi lên 23,19
% so với nuôi chuồng nền
- Thời gian nuôi con của lợn mẹ: Thời gian nuôi con của lợn mẹ có ảnh hưởng tới khoảng cách giữa 2 lứa đẻ và qua đó ảnh hưởng tới số lợn con/nái/năm Hughes và cs (1980) nhận định rằng mặc dù cai sữa ở 8 tuần tuổi
là tốt nhất cho cả mẹ và con nhưng nó sẽ ảnh hưởng đến số lứa đẻ/nái/năm Trong trường hợp này số lứa đẻ chỉ đạt 1,8 - 2 lứa, nhưng nếu cai sữa ở 3 tuần tuổi có thể đạt 2,5 lứa/nái/năm với chi phí thấp Để rút ngắn thời gian nuôi con của lợn mẹ không còn con đường sinh học nào khác ngoài biện pháp cai sữa sớm lợn con Muốn vậy vấn đề quan trọng là phải tập cho lợn con ăn sớm từ 7 ngày tuổi để đến ngày thứ 30 lợn con có thể sống độc lập không cần sữa mẹ (Lê Thanh Hải, 1998) Hiện nay trên thế giới, lợn con được cai sữa ở 23 - 28 ngày tuổi Ở Úc thời gian cai sữa trung bình hiện nay 23,6 ngày tuổi (Hilda và Gordon, 1997)
- Thời gian động dục trở lại sau cai sữa một trong những giải pháp có thể rút ngắn chu kỳ sinh sản là cai sữa sớm lợn con Nhưng cai sữa sớm lợn con không đi liền với sớm động dục lại, cai sữa càng sớm thì khoảng cách từ ngày cai sữa đến ngày động dục lại càng dài, trứng rụng càng ít Hamond (1994) đã tiến hành cai sữa sớm lợn con ở các ngày tuổi: 10, 21 và 56 ngày Kết quả là thời gian nuôi con của lợn mẹ càng dài thì chu kỳ động dục lại của lợn mẹ càng ngắn và
số lượng trứng rụng trong một lần động dục càng cao Cụ thể thời gian cai sữa lợn con là 10, 21, và 56 ngày thì thời gian động dục trở lại sau cai sữa đạt tương ứng là 6,4; 9,4 và 16,6 trứng/lần động dục Đồng thời tác giả cũng cho biết thời gian chờ phối ngắn hay dài không chỉ phụ thuộc thời gian cái sữa
Trang 24lợn con mà còn phụ thuộc vào chế độ nuôi dưỡng lợn nái trong thời gian nuôi con và sau cai sữa, cũng như độ hao mòn của lợn mẹ Lê Thanh Hải và cs (1998) cho rằng khối lượng của lợn mẹ bị hao hụt tăng dần từ lứa 1 đến lứa 5
và có giảm xuống ở các lứa sau Theo Nguyễn Tấn Anh (1998), mức năng lượng và khẩu phần ăn có ảnh hưởng đến tỷ lệ động dục, tỷ lệ trứng rụng và thời gian phối sống trở lại, với mức ăn 3 kg/ngày thì thời gian phối giống trở lại là
8 ngày, với mức ăn 5 kg/ngày thì thời gian phối sống trở lại là 5,5 ngày
- Ảnh hưởng của nuôi dưỡng: Thức ăn là nguồn cung cấp dinh dưỡng, năng lượng cho tất cả các hoạt động sống của cơ thể, nó đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm Protein mức độ protein được cung cấp ảnh hưởng rất lớn tới thành tích sinh sản của lợn mẹ Nếu nhu cầu protein của lợn mẹ không được đáp ứng đầy đủ sẽ làm chậm động dục và làm giảm số lứa đẻ/nái/năm Ở giai đoạn chửa, nếu trong khẩu phần thiếu protein thì lợn con khi sinh ra sẽ có khối lượng sơ sinh thấp, còn ở giai đoạn tiết sữa sẽ làm giảm khả năng tiết sữa, vì thế mà ảnh hưởng xấu đến khả năng sinh trưởng của lợn con
+ Năng lượng: Là yếu tố cần thiết cho mọi hoạt động sống của cơ thể Nếu không đáp ứng đủ nhu cầu năng lượng sẽ ảnh hưởng tới hoạt động sống của lợn nhất là lợn chửa và nuôi con Điều này sẽ dẫn đến tình trạng suy dinh dưỡng, còi cọc, sức kháng bệnh kém Tuy nhiên nếu cung cấp quá thừa năng lượng trong thời gian có chửa lại dẫn tới tình trạng chết phôi, đẻ khó, mặt khác năng lượng thừa sẽ được dự trữ dưới dạng mỡ và lợn con sẽ bị mắc các bệnh đường ruột do sữa mẹ có hàm lượng mỡ sữa cao
+ Vitamin: Không phải là chất dinh dưỡng nhưng có vai trò quan trọng trong việc điều hoà các hoạt động sinh lý của cơ thể Thiếu vitamin A và E sẽ dẫn đến khả năng sinh sản kém, thiếu vitamin B sẽ dẫn đến khả năng tiêu hoá tinh bột giảm, ảnh hưởng tới thần kinh Thiếu vitamin D dẫn tới hiện tượng còi xương, xốp xương, mềm xương, rối loạn chuyển hoá và hấp thu can xi, phốt
Trang 25pho Reddy và cs (1958), Haines và cs (1959) cho biết nếu thiếu trầm trọng vitamin và khoáng có thể gây chết toàn bộ phôi
+ Khoáng: Được chia làm 2 loại gồm khoáng đa lượng và vi lượng Trong khẩu phần ăn của lợn khoáng chỉ chiếm một lượng nhỏ, nhưng có tác dụng quan trọng trong việc hình thành xương, tạo máu và cân bằng nội môi
Do đó trong quá trình nuôi dưỡng cần cung cấp đủ với hàm lượng thích hợp và
tỷ lệ giữa các chất trên phải cân đối
Ngoài các yếu tố trên, còn nhiều yếu tố khác như tuổi phối giống lứa đầu, khoảng cách giữa 2 lứa đẻ, phẩm chất tinh dịch, kỹ thuật phối giống, khí hậu, bệnh tật, đều có ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của lợn nái
1.1.3 Cơ sở sinh lý của sự sinh trưởng và các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng sinh trưởng
1.1.3.1 Cơ sở sinh lý của sinh trưởng
Sinh trưởng là một quá trình tích lũy các chất hữu cơ, là sự tăng lên về chiều cao, chiều dài, bề ngang, khối lượng của các bộ phận và toàn cơ thể con vật trên cơ sở bản chất di truyền của đời trước qui định
Khi nghiên cứu về sinh trưởng của lợn người ta thường quan tâm đến độ sinh trưởng tích lũy, độ sinh trưởng tuyệt đối
- Độ sinh trưởng tích lũy: Là khối lượng, kích thước, thể tích của gia súc tích lũy được trong một thời gian
- Sinh trưởng tuyệt đối: Là khối lượng, thể tích, kích thước cơ thể gia súc tăng lên trong một đơn vị thời gian và được tính theo công thức sau đây:
A= W2 - W1
t2 - t1
Trong đó: A là sinh trưởng tuyệt đối (g/con/ngày)
W1 là khối lượng tích luỹ đo được ở thời điểm t1 W2 là khối lượng tích luỹ đo được ở thời điểm t2
Trang 26- Độ sinh trưởng tương đối là tỷ lệ phần trăm khối lượng, kích thước, thể tích của cơ thể hay từng bộ phận cơ thể tăng thêm so với trung bình của hai thời điểm sinh trưởng sau và trước Độ sinh trưởng tương đối thường được biểu thị bằng số phần trăm, công thức tính như sau:
R (%) =
W2 - W1
x 100 (W2 + W1) / 2
Trong đó: R (%): độ sinh trưởng tương đối (%)
W2: khối lượng tích luỹ đo được tại thời điểm sau
W1: khối lượng tích luỹ đo được tại thời điểm trước
1.1.3.2 Các quy luật của quá trình sinh trưởng
Nắm được bản chất của quá trình sinh trưởng, đi sâu tìm hiểu các quy luật của quá trình này, biết điều khiển quá trình sinh trưởng sẽ tạo ra nhiều sản phẩm của gia súc Quá trình sinh trưởng của sinh vật tuân theo những quy luật nhất định
* Quy luật sinh trưởng theo giai đoạn
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng: Gia súc phát triển mạnh nhất vào thời kỳ mới sinh, sau đó sự phát triển này giảm dần và đến tuổi trưởng thành thì hầu như không còn phát triển nữa Sinh trưởng theo giai đoạn không chỉ là đặc trưng của
cơ thể nói chung mà còn là của từng bộ phận, từng hệ thống cơ quan
Sinh trưởng theo giai đoạn là một trong những vấn đề quan trọng trong quá trình sinh trưởng của gia súc Tính chất giai đoạn của sinh trưởng đã được nhiều nhà nghiên cứu chú ý Điều đó chứng tỏ đây là một hiện tượng được xác định rõ ràng
Sinh trưởng của gia súc chia làm hai giai đoạn chính: giai đoạn trong bào thai (trong cơ thể mẹ) và giai đoạn ngoài bào thai (ngoài cơ thể mẹ) Giai đoạn ngoài bào thai có thể chia làm 2 thời kỳ: thời kỳ bú sữa và thời kỳ sau cai sữa Theo Trần Đình Miên và cs (1997), sự tăng trưởng ở giai đoạn bào thai
Trang 27chịu ảnh hưởng nhiều của cơ thể mẹ, còn giai đoạn ngoài bào thai thì chịu ảnh hưởng của tính di truyền đời trước nhiều hơn
Tính chất giai đoạn được biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau Nguyễn Ân và cs (1994) đã nhấn mạnh rằng: thời gian của từng giai đoạn dài hay ngắn, số lượng giai đoạn, sự đột biến trong sinh trưởng của từng giai đoạn, từng cá thể đều khác nhau trong phạm vi giống đó Hơn nữa, tính giai đoạn không những là đặc trưng của cả cơ thể nói chung mà còn là của từng bộ phận,
hệ thống Theo quy luật này, sinh trưởng của gia súc được chia làm hai giai đoạn rõ rệt: giai đoạn trong bào thai và giai đoạn ngoài bào thai
- Giai đoạn trong bào thai: giai đoạn này được xác định từ lúc trứng được thụ tinh (tạo thành hợp tử) cho đến khi con vật được sinh ra ngoài Trong giai đoạn này cả 2 quá trình sinh trưởng và phát dục đều rất mạnh mẽ Bào thai
ở giai đoạn này được nuôi bằng dưỡng chất của mẹ thông qua hệ thống mạch máu nhau thai Đối với mỗi loài động vật khác nhau, giai đoạn trong bào thai cũng dài ngắn khác nhau, nhưng quá trình sinh trưởng và phát dục của thai trải qua 3 thời kỳ: thời kỳ phôi; thời kỳ tiền thai; thời kỳ thai nhi Giai đoạn trong bào thai giữ một vị trí quan trọng trong sự phát triển của cơ thể, vì chính giai đoạn này hình thành tất cả các cơ quan, bộ phận, hệ thống, xác định cơ chế thích ứng của cơ thể với các điều kiện ở giai đoạn sau Do vậy, trong giai đoạn này, việc chăm sóc, nuôi dưỡng gia súc mẹ cần được quan tâm đặc biệt
Từ đó tránh cho gia súc bị sẩy thai, đẻ non, hoặc con đẻ ra có dị tật, còi cọc, chậm lớn
- Giai đoạn ngoài bào thai: Giai đoạn này được tính bắt đầu từ khi gia súc sinh ra đến khi già cỗi Mỗi thời kỳ khác nhau gia súc có quá trình sinh trưởng, phát dục khác nhau, nhu cầu dinh dưỡng từng thời kỳ cũng khác nhau Nhìn chung, sinh trưởng thời kỳ đầu vẫn còn khá mãnh liệt, đến giai đoạn trưởng thành gia súc đi vào thế ổn định, thời gian dài ngắn khác nhau tùy thuộc loài, giống gia súc Tốc độ và cách thức sinh tổng hợp protein chính là phương
Trang 28thức hoạt động của gen điều khiển sinh trưởng của cơ thể Trong giai đoạn này,
cơ thể vẫn tiếp tục quá trình sinh trưởng, phát dục của nó Ta có thể chia giai đoạn này thành các thời kỳ: thời kỳ bú sữa; thời kỳ thành thục; thời kỳ trưởng thành và thời kỳ già cỗi, hoặc có thể chia làm 2 thời kỳ: thời kỳ bú mẹ và thời
kỳ sau cai sữa
+ Thời kỳ bú sữa: sự tăng trưởng của cơ thể gia súc non rất mãnh liệt, nhiều cơ quan bộ phận trong cơ thể chưa phát triển hoàn thiện (cơ quan điều hòa thân nhiệt, cơ quan tiêu hóa, ), nguồn dinh dưỡng cung cấp cho gia súc non hoàn toàn phụ thuộc vào khả năng cho sữa của mẹ Thời kỳ này gia súc có tốc độ tăng khối lượng cao nhất, nếu nuôi dưỡng tốt chúng có thể đạt 1.000 g/con/ngày đêm
+ Thời kỳ sau cai sữa: sự tăng trưởng của con vật biểu hiện rõ nét qua kiểu hình, hệ số di truyền tính trạng sinh trưởng và khả năng cho thịt khá cao
Tính giai đoạn trong sự phát triển không chỉ biểu hiện ở những đặc tính chung như tăng sinh, tăng khối ở những đặc điểm riêng của từng thời kỳ mà còn biểu hiện tăng tiến hoàn chỉnh dần, thời kỳ này nhất thiết nối tiếp thời kỳ kia, không đi ngược lại
* Quy luật sinh trưởng không đồng đều
Quy luật này thể hiện cường độ sinh trưởng và tốc độ sinh trưởng của con vật thay đổi theo độ tuổi Khi cơ thể còn non, tốc độ sinh trưởng rất nhanh
và chậm dần ở các tháng tuổi tiếp theo Đồng thời, các cơ quan bộ phận trong
cơ thể cũng phát triển với tốc độ khác nhau ở các thời kỳ khác nhau Với gia
súc non, nó thể hiện cụ thể ở cơ quan tiêu hóa
Ngoài ra, sự phát triển không đồng đều còn thể hiện ở sự trao đổi chất và quá trình tích lũy vật chất cũng không giống nhau Trước khi sinh, mô xương
có cường độ phát triển mạnh nhất, xương ngoại vi phát triển mạnh hơn xương trục Sau khi sinh, sự phát triển của mô xương giảm xuống nhưng mô mỡ và
mô cơ lại tăng, xương trục phát triển mạnh làm cho cơ thể dài ra Ở những cơ
Trang 29thể còn non, cường độ tích lũy protein mạnh, tuổi càng tăng thì khả năng này càng giảm xuống Chính vì vậy, trong giai đoạn còn non, nếu được cung cấp đầy đủ dinh dưỡng cần thiết, vật nuôi sẽ phát triển toàn diện về thể vóc Ngược lại, khi độ tuổi tăng lên, tốc độ sinh trưởng của con vật sẽ giảm dần
Cơ thể gia súc không phải lúc nào, ở lứa tuổi nào cũng phát triển theo một quy luật, tỷ lệ cân đối, giữ nguyên từ đầu đến cuối Sinh trưởng phát dục của gia súc trên toàn bộ cơ thể hay ở từng cơ quan, bộ phận nhất định có sự thay đổi theo tuổi Sự thay đổi này cũng khác nhau về mặt cường độ, tốc độ ở các lứa tuổi khác nhau Tính khác biệt đó chính là quy luật phát triển không đồng đều của gia súc
Sự không đồng đều về tăng trọng: lúc còn nhỏ gia súc tăng trọng ít, nhưng sau đó tăng trọng nhanh hơn, đến thời kỳ trưởng thành tăng trọng chậm lại rồi dần ổn định Cuối cùng, nếu được nuôi dưỡng tốt cơ thể gia súc chỉ còn tích luỹ mỡ hoặc không thì khối lượng sẽ giảm do cơ và mỡ không phát triển, tích luỹ thêm
So sánh trong cùng loài với nhau thì ở bất kỳ loài gia súc nào, hệ số sinh trưởng ở thời kỳ trong thai đều cao hơn rất nhiều so với thời kỳ ngoài thai ở lợn, khối lượng hợp tử là 0,4 mg, khối lượng sơ sinh từ 0,8 đến 1,0 kg và khối lượng 36 tháng tuổi là 200 kg Như thế, ở giai đoạn trong bào thai, khối lượng tăng lên 2.500 lần trong vòng 114 ngày, nhưng ở giai đoạn ngoài bào thai phải mất 1.080 ngày để khối lượng tăng lên 200 lần So với gia súc nhỏ, gia súc lớn
có sự sinh trưởng trong giai đoạn bào thai chiếm tỷ lệ lớn hơn so với toàn bộ
sự sinh trưởng của cá thể từ lúc đẻ cho đến lúc trưởng thành
Tính không đồng đều còn thể hiện ở sự phát triển của hệ thống xương qua các lứa tuổi khác nhau Khi ra khỏi cơ thể mẹ, gia súc bắt đầu phát triển nhanh về chiều dài, tiếp theo là chiều sâu, chiều rộng Sự phát triển tuần tự chiều dài, sâu, rộng cũng tuân theo quy luật nhất định và ở từng giai đoạn cũng khác nhau
Trang 30Các bộ phận, tổ chức khác nhau trong cơ thể cũng phát triển không đều
Sự hình thành và phát triển của từng bộ phận phụ thuộc vào vị trí, chức năng
và vai trò của nó Sự phát triển không đồng đều của các bộ phận dẫn đến sự phát triển cân đối của cơ thể Vì thế, có thể khẳng định sự cân đối của cơ thể thay đổi theo sự phát triển
* Quy luật sinh trưởng theo chu kỳ
Tính chu kỳ trong quá trình sinh trưởng không phải là một hiện tượng lạ Qua nghiên cứu người ta thấy rằng, tính chu kỳ có ngay trong sự tăng sinh của tế bào: có thời kỳ phát triển mạnh, có thời kỳ yếu đi, sau đó có thời kỳ phát triển mạnh lại Sự lặp lại đó một cách nhịp nhàng tạo nên một sự phát dục có tính chu
kỳ và có thể chu kỳ nối tiếp chu kỳ
Vì vậy, có thể nói sự phát triển của cơ thể gia súc không những chỉ tuân theo hai quy luật: Quy luật phát triển theo giai đoạn và quy luật phát triển không đồng đều mà còn tuân theo quy luật tính chu kỳ Điều đó có thể thấy ở một số mặt sau:
Tính chu kỳ trong hoạt động sinh lý của cơ thể: hoạt động của thần kinh đi theo một nhịp độ và cường độ nhất định Tính chu kỳ trong hoạt động của hệ thần kinh biểu hiện ở trạng thái khi thì hưng phấn khi thì ức chế Sự hưng phấn và ức chế đó cũng liên quan đến quá trình đồng hoá và dị hoá của cơ thể Trong chăn nuôi, việc hiểu rõ chu kỳ tính rất quan trọng, từ
đó lên kế hoạch thụ tinh cho gia súc, điều khiển được thời gian đẻ, tránh hiện tượng vô sinh cho gia súc
Tính chu kỳ trong quá trình tăng khối lượng của gia súc: tính chu kỳ cũng được thể hiện rõ ràng và được minh hoạ trong các đồ thị về tăng khối lượng của gia súc Quá trình đồng hoá và dị hoá trong trao đổi chất, việc chuyển hoá đường thành năng lượng, là những ví dụ điển hình chứng minh tính chu kỳ lặp lại không ngừng và tính chu kỳ ở sinh vật là một quy luật khách quan
Trang 311.1.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng sinh trưởng
Các tính trạng sản xuất của vật nuôi là các tính trạng số lượng do nhiều gen điều khiển, mỗi gen đóng góp một mức độ khác nhau vào cấu thành năng suất của con vật Giá trị kiểu hình của các tính trạng sản xuất có sự phân bố liên tục và chịu tác động nhiều bởi yếu tố ngoại cảnh Giá trị kiểu hình (P) của bất kỳ tính trạng số lượng nào cũng có thể phân chia thành giá trị kiểu gen (G)
và sai lệch môi trường (E) Giá trị kiểu hình (P) được biểu thị như sau:
P = G + E Trong đó P: Giá trị kiểu hình (Phenotypic value)
G: Giá trị kiểu gen (Genotypic value)
E: Sai lệch môi trường (Enviromental deviation)
- Ảnh hưởng của yếu tố di truyền
Trong chăn nuôi lợn nái sinh sản, yếu tố dòng, giống ảnh hưởng rất lớn đến năng suất sinh sản và sinh trưởng của lợn, các giống khác nhau có khả năng sinh trưởng khác nhau, tiềm năng di truyền về sinh trưởng của gia súc thông qua hệ số di truyền Theo nghiên cứu của Hazen (1993) ở lợn bú sữa h2
= 0,15, thời kỳ sau cai sữa h2 cao hơn Một kết quả nghiên cứu khác của Triebler (1982) cho rằng hệ số di truyền về khối lượng sơ sinh và sinh trưởng trong thời gian bú sữa dao động từ 0,05 - 0,021 hệ số này thấp hơn so với sinh trưởng ở thời kỳ sau cai sữa, vỗ béo Hệ số di truyền về khả năng tăng khối lượng/ngày, tiêu tốn thức ăn, đều phụ thuộc vào giống, quần thể, phương thức nuôi Theo Busse và cs (1986) hệ số di truyền về chỉ tiêu sinh trưởng trong thời gian kiểm tra ở giai đoạn từ 20 - 100 kg là 0,50, biến động 0,30 - 0,65 Đối với sinh trưởng tuyệt đối (g/ngày) thì h2 = 0,15 (0,10 - 0,20) Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng từ 30 - 100kg có h2 = 0,47 Kết quả nghiên cứu của Driox (1994) cho biết hệ số di truyền của một số tính trạng năng suất sinh trưởng như sau:
+ Khả năng tăng khối lượng (g/ngày) có h2 = 0,3 - 0,4
Trang 32+ Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng có h2 = 0,25 - 0,35 hệ số di truyền càng cao thì thời gian chọn lọc càng ngắn và ngược lại
- Ảnh hưởng của dinh dưỡng đến khả năng sinh trưởng
Trong chăn nuôi chi phí cho thức ăn chiếm 70 - 80 % giá thành sản phẩm, do đó chỉ tiêu về tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng càng thấp thì hiệu quả kinh tế sẽ cao và ngược lại, qua nghiên cứu và thực tế cho thấy vật nuôi có khả năng sinh trưởng tốt do khả năng đồng hóa cao, hiệu quả sử dụng thức ăn cao thì tiêu tốn thức ăn thấp, do đó thời gian nuôi sẽ được rút ngắn tăng số lứa đẻ/nái/năm Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng chính là tỷ lệ chuyển hóa thức
ăn của cơ thể Chỉ tiêu về tiêu tốn thức ăn và tăng khối lượng có mối tương quan nghịch do đó khi nâng cao khả năng tăng khối lượng có thể sẽ giảm chi phí thức ăn
- Ảnh hưởng của chăm sóc nuôi dưỡng, khí hậu, thời tiết
Thời tiết khí hậu ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng của lợn Theo Trần
Cừ và cs (1975) nhiệt độ tối ưu chuồng nuôi khi lợn nái mới đẻ là 30 - 320C, lợn có khối lượng 30 kg nhiệt độ tối ưu là 260C, lợn có khối lượng 50 kg nhiệt
độ tối ưu là 190C, lợn có khối lượng > 50 kg thì nhiệt độ < 190C Chuồng trại, quản lý chăm sóc, nuôi dưỡng ảnh hưởng không nhỏ tới sinh trưởng, phát triển của lợn ở bất kỳ giai đoạn nào
1.1.4 Vai trò thức ăn dinh dưỡng đối với chăn nuôi lợn rừng
Thức ăn của lợn rừng chủ yếu là thực vật, không nên lạm dụng thức ăn giàu dinh dưỡng để chăn nuôi lợn vì sẽ làm cho chất lượng của lợn rừng bị biến đổi, đôi khi lợn lại bị tiêu chảy (làm mất năng suất chăn nuôi)
Thức ăn xanh chủ yếu là củ, quả, cỏ và các loại thức ăn thô xanh khác dễ kiếm và rẻ tiền Để cho lợn có thức ăn quanh năm và đủ chất dinh dưỡng ta có một số phương pháp chế biến thức ăn cơ bản cho lợn rừng: như cho ăn tươi, phương pháp làm bột cỏ (bột xanh), phương pháp làm cao rau Chế biến và bảo quản thức ăn từ một số phụ phẩm, có thể cho phối trộn với thức ăn tinh để cho chăn nuôi lợn rừng đạt hiệu qủa cao
Trang 33Thức ăn thô: cây chuối, bẹ chuối, thân cây ngô non, rau muống, rau lấp, bèo tây, các loại cỏ xanh Các loại thức ăn thô xanh này rất quan trọng bởi chúng hợp với khẩu vị, mức tiêu hoá và tập tính ăn uống của lợn rừng, nếu chỉ cho ăn thức ăn tinh, lợn sẽ kém ăn do không quen miệng dẫn tới chất lượng thịt giảm xuống
Thức ăn thô xanh được sử dụng làm thức ăn cho lợn như: Dây khoai lang sau thu củ, ngọn lá sắn,
Thức ăn tinh là loại thức ăn ít chất xơ có thành phần dinh dưỡng cao như: Gạo, cám gạo, ngô, đậu đỗ, khoai sắn, có thể pha trộn thức ăn tinh với thức ăn thô xanh để tăng tính ngon miệng
và cs, 2004)
Các thành phần chất xơ được tiêu hóa rất kém trong ruột non và chủ yếu tạo cơ chất cho sự lên men trong ruột già Các sản phẩm cuối cùng của sự lên men trong ruột già là các axit béo bay hơi
* Tinh bột:
Tinh bột là nguồn cung cấp năng lượng chính cho tất cả các loại lợn Khả năng tiêu hóa tinh bột của lợn lên đến 95 - 98% Đối với lợn con theo mẹ chỉ có thể tiêu hóa được tinh bột ở tuần tuổi thứ 3 trở đi Trong thời kỳ trước 3 tuần tuổi nguồn cung cấp năng lượng cho lợn con thích hợp là đường glucose
và lactose Khả năng sử dụng tinh bột của lợn con phụ thuộc rất nhiều vào các men tiêu hóa tinh bột
Trang 34* Lipit:
Lipit bao gồm mỡ và cá loại dầu Lợn không thể tổng hợp các axit béo chủ yếu là các axit béo không no như axit linoleic, được coi là yếu tố quan trọng trong dinh dưỡng lợn Lượng axit béo này trong khẩu phần cho lợn từ
1 - 15 g/kg tùy theo khối lượng cơ thể Trần Văn Phùng và cs, 2004 cho biết việc bổ sung chất béo vào khẩu phần cho lợn con sẽ làm giảm sự phát triển
và lượng thức ăn ăn vào nhưng lại làm tăng tăng khối lượng/thức ăn Đối với lợn thịt từ giai đoạn lợn choai - xuất chuồng khối lượng từ 20 - 100 kg, khi bổ sung chất béo vào khẩu phần sẽ có tác dụng tăng khả năng sinh trưởng, thức ăn ăn vào giảm xuống, tỷ lệ tăng khối lượng/ thức ăn tăng, nhưng độ dày mỡ lưng tăng
Theo nghiên cứu của Võ Văn Sự, (2009) thì khẩu phần và tiêu chuẩn thức ăn của lợn rừng như sau:
Nguyên liệu Tỷ lệ (%) Thành phần trong 10kg TĂHH
100
3000
14
75 2,4 0,05 0,05
10kg thức ăn
* Mức ăn: Khẩu phần ăn 1 kg/con/ngày, chia 0,5 kg/bữa cho ăn vào lúc
7 h sáng và 16 h chiều
- Rau xanh, thức ăn củ quả được cho ăn tự do, đảm bảo 1 - 1,2 kg thức
ăn xanh trở lên
- Trong những ngày phối giống, bổ sung cho con đực đi nhảy lợn nái 2 quả trứng, giá đỗ hoặc lúa nảy mầm 0,5 kg/con
Trang 35- Khoảng cách giữa 2 lần khai thác tinh phải phù hợp Thời gian 3 tháng đầu có thể khai thác 1-2 lần/tuần, thời gian sau khai thác 2-3 lần/tuần
Theo nghiên cứu của Võ Văn Sự, (2009) thì khẩu phần và tiêu chuẩn thức ăn của lợn rừng lai như sau:
Nguyên liệu Tỷ lệ (%) Thành phần trong 10kg TĂHH
100
2700
12 - 13
2,0 7,9 0,05 0,05
10 kg TĂHH
* Thức ăn và cách cho ăn:
- Thức ăn đảm bảo đầy đủ chất dinh dưỡng, không bị ôi thiu, mốc
- Mức ăn trong ngày của lợn nái chửa còn phụ thuộc vào thể trạng của lợn nái Lợn nái gầy phải cho ăn tăng, lợn nái quá béo phải giảm thức ăn đã phối trộn nhưng phải tăng thức ăn thô xanh
- Mùa đông khi nhiệt độ trong chuồng nuôi < 150C lợn nái cần được
ăn tăng thêm (0,2 - 0,3 kg/ngày) để bù vào phần năng lượng mất đi do phải chống lạnh
1.2 Đặc điểm và tính năng sản xuất của đối tượng nghiên cứu
* Giống lợn Mường
Tầm vóc lớn, sức chống chịu tốt với điều kiện chăn thả ở các vùng núi cao là đặc điểm nổi bật của giống lợn này Lợn có màu sắc lông da đen tuyền hoặc đen có đốm trắng ở đầu đuôi và ở chân, lông thưa và mềm Đa số lợn có mõm dài thẳng hoặc hơi cong, trán nhăn, tai to hơi cúp rũ về phía trước Lợn có
Trang 36tầm vóc to, nhưng lép người, bốn chân to cao vững chắc Lưng không thẳng nhưng cũng không võng lắm, bụng to nhưng không sệ tới sát đất, mông hơi dốc Lợn có tỷ lệ mỡ nhiều do sống trên đỉnh núi cao
Lợn Mường có tốc độ sinh trưởng chậm, khối lượng sơ sinh khá cao (0,6 kg), từ sơ sinh đến 4 tháng tuổi lợn tăng trọng thấp (3 - 4 kg/tháng), giai đoạn choai 5 - 6 tháng tuổi lợn bắt đầu cho tăng trọng khá hơn (5 - 6 kg/tháng) Sau 12 tháng tuổi lợn vẫn còn phát triển và khối lượng trung bình trên 90 kg,
có những con dạt tới 121,5 kg ở 18 tháng tuổi Lợn Mường cỏ tuổi động dục đầu tiên muộn 6 - 7 tháng tuổi), tuổi đẻ lứa đầu là khoảng một năm tuổi, thời gian động hớn dài (5 - 7 ngày), thời gian cỏ chửa 114 - 116 ngày, số con đẻ ra
và nuôi sống thấp (5 con/ lứa), khả năng nuôi con thấp do tập quán thả rông, thiếu dinh dưỡng, số lứa đẻ trong năm khoảng 1,2 - 1,3 lứa
Lợn giống lợn Mường là giống lợn quý hiếm với ưu điểm thích ứng tốt trong điều kiện tự nhiên, đồng thời sinh trưởng phát triển nhanh, tăng đàn mạnh, tăng trọng hơn hẳn các giống lợn khác, rất phù hợp với khả năng người chăn nuôi và thị hiếu người tiêu dùng, lợn Mường được chăm sóc cùng chế độ thì cũng phát triển tương đương, thậm chí giống lợn đen này còn bán chạy và được giá hơn bởi chất lượng thịt thơm ngon
*Giống lợn Đen Hòa Bình
Lợn Đen Hòa Bình Là loại lợn được lai giữa lợn Mán (Mường) và lợn khác, ăn rất khỏe, sức đề kháng tốt, nhanh lớn, tầm vóc khá to Nếu nuôi đủ 6 tháng khối lượng đạt 150 kg/con, thịt khá thơm ngon, chúng không ăn nhiều chất xơ như lợn mường mà thức ăn chính là cám gạo, ngô nghiền nấu cùng rau, cây, quả,… Thả rông trong vườn Thịt của chúng khi đạt độ tuổi giết thịt cũng cho chất lượng thơm ngon, bì dầy, mỡ dầy hơn lợn mường Giá thịt rẻ hơn lợn mường rất nhiều, khả năng sinh sản tốt hơn nái mường Màu lông đen toàn thân hoặc mầu lông đen trên thân có đốm trắng đây là 2 kiểu ngoại hình chính thường thấy ở lợn Đen Hòa Bình Mặt nhọn hình tam giác, mõm dài nhọn, mắt nâu đỏ, thể hình cứng cáp, bốn chân đứng thẳng đó là đặc điểm nổi bật của
Trang 37giống lợn này Đặc điểm này rất hiếm thấy trong các giống lợn nước ta Con đực trưởng thành có khối lượng tương đối lớn hơn con cái, phần bụng nhỏ và thon hơn con cái trưởng thành Vai tương đối nở, hông rộng, cao hơn vai Lưng dài vừa phải Lưng, sườn và bụng kết hợp chắc chắn Đùi sau phần trên tương đối đầy đặn, ít nhăn, phần dưới nhỏ, mông và đùi sau kết hợp chắc chắn Lợn cái có 2 dẫy vú, mỗi dẫy có 5 núm vú (10 vú)
- 12 con, trung bình 4 -8 con/lần Thời gian mang thai là 110 - 120 ngày, trung bình 115 ngày, thời gian cho con bú là 3 - 4 tháng Thời gian để lợn con trưởng thành trung bình 7 tháng
Đào Lệ Hằng (2008) cũng cho rằng: Trong thiên nhiên hoang dã, lợn rừng cái đẻ nhiều lần trong năm và mùa giao phối thay đổi tùy từng vùng địa lý và môi trường sinh sống Số lượng con mỗi lần sinh từ 1 - 12 con, trung bình 4 - 8 con/lần Thời gian mang thai là 110 - 120 ngày, trung bình 115 ngày, thời gian cho con bú là 3 - 4 tháng Thời gian để lợn con trưởng thành trung bình 7 tháng
Tuổi được coi là trưởng thành về mặt sinh dục có thể giao phối ở con cái là 8 - 10 tháng, trung bình là 9 tháng Ở con đực tuổi trưởng thành về
Trang 38mặt sinh dục có thể giao phối là 8 - 10 tháng, trung bình là 9 tháng Thông thường, lợn rừng cái đẻ vào mùa xuân và việc giao phối xảy ra suốt năm nhưng tập trung vào mùa ẩm ướt, thông thường là 4 - 8 con Những con cái trưởng thành sau 8 - 10 tháng, nhưng thường cho đến 12 tháng tuổi mới giao phối và những con đực thường không thích đụng đến những con lợn cái dưới 1 tuổi
Lợn rừng cái sinh con trong 1 cái ổ bằng cỏ, lợn con sẽ ở lại ổ vài ngày Lợn con thường khỏe mạnh Trái với vẻ khỏe mạnh ban đầu chỉ có khoảng một nửa lợn rừng con sống đến trưởng thành, một vài con chết vì bệnh hay bị những loài động vật khác ăn thịt Lợn rừng còn bé được mẹ cho bú chăm sóc trong vòng 3 - 4 tháng và dần dần trở nên độc lập
Trong thiên nhiên hoang dã lợn rừng có thể sống đến 10 năm, đôi khi chúng có thể sống đến 27 năm
Lợn rừng hoang dã thường được phát hiện ở những khu vực rộng lớn, chúng sống thành bầy đàn, số lượng có thể lên đến 100 con, những đàn lợn rừng này là những thế hệ con và những con chưa trưởng thành
Đàn lợn rừng có thể di chuyển cùng nhau suốt hành trình dài để tới khu vực định cư mới nhưng không di trú lợn rừng hoạt động nhiều hơn vào ban đêm, lúc chạng vạng tối và lúc bình minh Khi lợn đực trưởng thành nó sẽ rời khỏi bầy đàn và sống độc lập
Lợn rừng là loài ăn tạp và đôi khi ăn bừa bãi Thức ăn hàng ngày là nấm,
củ, thóc, lúa, trái cây, trứng, cà rốt, động vật có xương sống Nhờ khả năng ăn nhiều loại thức ăn khác nhau mà lợn rừng tồn tại ở nhiều môi trường khác nhau, từ hoang mạc cho đến vùng đồi núi
Thức ăn động vật là chim, động vật có vú, lưỡng cư, bò sát, xác chết, côn trùng, động vật chân đốt sống trên mặt đất, động vật thân mềm
Thức ăn thực vật là rễ cây, củ, vỏ cây, cỏ, thóc, trái cây Những loại thức
ăn khác là phân, thú ăn thịt, nấm