1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến sản xuất lúa trên địa bàn xã lam sơn, huyện na rì, tỉnh bắc kạn

75 101 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 2,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tính cấp thiết của đề tài Sự biến đổi khí hậu trên toàn cầu đang hàng ngày gây ra sự nóng lên của Trái Đất, kéo theo đó là vô số hệ luỵ như băng tan, nước biển dâng cao, mưa bão, lũ lụt

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

HOÀNG ĐỖ QUỲNH

Tên đề tài:

ẢNH HƯỞNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN SẢN XUẤT LÚA TRÊN

ĐỊA BÀN XÃ LAM SƠN, HUYỆN NA RÌ, TỈNH BẮC KẠN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Định hướng đề tài : Hướng nghiên cứu Chuyên ngành : Phát triển nông thôn

Thái Nguyên, năm 2019

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

HOÀNG ĐỖ QUỲNH

Tên đề tài:

ẢNH HƯỞNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN SẢN XUẤT LÚA TRÊN

ĐỊA BÀN XÃ LAM SƠN, HUYỆN NA RÌ, TỈNH BẮC KẠN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Định hướng đề tài : Hướng nghiên cứu Chuyên ngành : Phát triển nông thôn

Giảng viên hướng dẫn : Th.S Đặng Thị Bích Huệ

Thái Nguyên, năm 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Đề tài tốt nghiệp “Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến sản xuất lúa trên địa bàn xã Lam Sơn, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn”, chuyên nghành Phát

triển nông thôn là công trình nghiên cứu của riêng tôi, đề tài đã sử dụng thông tin từ nhiều nguồn khác nhau, các thông tin có sẵn được trích rõ nguồn gốc

Tôi xin cam đoan rằng các số liệu và kết quả nghiên cứu đã đưa ra trong đề tài này là trung thực và chưa được sử dụng trong bất kì một công trình nghiên cứu khoa học nào Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ trong việc thực hiện đề tài này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong đề tài này đều được chỉ rõ nguồn gốc

Thái nguyên, ngày tháng năm 2019

Sinh viên

Hoàng Đỗ Quỳnh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Được sự nhất trí của ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, sau khi hoàn thành khóa học ở trường tôi đã tiến hành thực tập tốt nghiệp tại xã

Lam Sơn, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn với đề tài: “Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến sản xuất lúa trên địa bàn xã Lam Sơn, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn”

Khóa luận được hình thành nhờ sự quan tâm giúp đỡ của thầy cô, cá nhân, cơ quan và nhà trường

Tôi xin chân thành cảm ơn Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên nơi đào tạo, giảng dạy và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu tại trường Tôi xin chân thành cảm ơn cô giáo Th.S Đặng Thị Bích Huệ, giảng viên khoa Kinh tế và PTNT, ngừời đã trực tiếp hướng dẫn và chỉ bảo tận tình tôi trong quá trình thực hiện đề tài Đồng thời tôi xin chân thành cảm ơn các thầy

cô giáo trong khoa đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi

Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của UBND xã Lam Sơn, các ban ngành cùng nhân dân trong xã đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài

Thái nguyên, ngày tháng năm 2019

Sinh viên

Hoàng Đỗ Quỳnh

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 4.1: Diện tích và cơ cấu đất xã Lam Sơn năm 2017 28

Bảng 4.2: Tình hình dân số và lao động xã Lam Sơn năm 2017 32

Bản 4.3: Diện tích, năng suất, sản lượng lúa xã Lam Sơn 2015-2017 35

Bảng 4.4: Thông tin chung về hộ và chủ hộ điều tra 36

Bảng 4.5: Nguồn tài nguyên đất đai của hộ 38

Bảng 4.6: Phương tiện sản xuất lúa của hộ điều tra 39

Bảng 4.7: Diện tích, năng suất, sản lượng lúa của các hộ điều tra năm 2015-2017 41

Bảng 4.8: Hiệu quả sản xuất lúa của các hộ điều tra 42

Bảng 4.9: Tổng hợp thiệt hại do thiên tai từ năm 2015-2017 48

Bảng 4.10 Diện tích (ha) lúa bị nhiễm bệnh của các hộ điều tra giai đoạn 2015- 2017 49

Bảng 4.11 : Thời vụ gieo trồng của các hộ điều tra giai đoạn 2015-2017 50

Bảng 4.12 : Nguồn nước cho sản xuất lúa của các hộ điều tra 51

Bảng 4.13: Thay đổi của các hộ sản xuất lúa nhằm thích ứng với BĐKH 52

Trang 6

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 4.1: Biến thiên nhiệt độ trung bình xã Lam Sơn giai đoạn

2015-2017 45 Biểu đồ 4.2: Biến thiên độ ẩm trung bình xã Lam Sơn giai đoạn 2015-2017 46 Biểu đồ 4.3: Biến thiên lượng mưa trung bình xã Lam Sơn giai đoạn

2015-2017 47

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Từ, cụm từ viết tắt Nghĩa của từ, cụm từ viết tắt

BĐKH Biến đổi khí hậu

CC Cơ cấuGDP Gross Domestic Product – Tổng sản phẩm quốc nội

IPCC Ủy ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu KT-XH Kinh tế - Xã hội

Trang 8

MỤC LỤC

Phần 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu của đề tài 2

1.2.1 Mục tiêu chung 2

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2

1.3 Ý nghĩa của đề tài 2

1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 2

1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn 3

Phần 2TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4

2.1.1 Một số vấn đề cơ bản về biến đổi khí hậu 4

2.1.2 Tổng quan về cây lúa 13

2.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 18

2.2.1 Tác động của BĐKH đến sản xuất lúa gạo trên thế giới 18

2.2.2 Tác động của BĐKH đến sản xuất lúa gạo tại Việt Nam 19

2.2.3 Tác động của BĐKH đến sản xuất lúa gạo tại Bắc Kạn 21

Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 23

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 23

3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 23

3.2 Nội dung nghiên cứu 23

3.3 Phương pháp nghiên cứu 23

3.3.1 Phương pháp điều tra thu thập số liệu 23

3.3.2 Phương pháp xử lí, phân tích số liệu 26

3.3.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 26

Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 27

4.1 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu 27

Trang 9

4.1.1 Điều kiện tự nhiên 27

4.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 30

4.2 Thực trạng sản xuất lúa của người dân trên địa bàn nghiên cứu 35

4.2.1 Tình hình sản xuất lúa trên địa bàn xã 35

4.2.2 Tình hình sản xuất lúa của các hộ điều tra 36

4.3 Diễn biến của thời tiết, khí hậu trong 03 năm qua trên địa bàn xã Lam Sơn 44

4.3.1 Diễn biến nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa trung bình giai đoạn 2015-2017 44

4.3.2 Diễn biến độ ẩm trung bình giai đoạn 2015-2017 46

4.3.3 Diễn biến lượng mưa trung bình giai đoạn 2015-2017 46

4.3 Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến đời sống của người dân xã Lam Sơn 48

4.4.1 Dịch bệnh và sâu bệnh 49

4.4.2 Thời vụ gieo trồng 50

4.4.3 Nguồn nước cho sản xuất lúa 51

4.4.4 Những thay đổi trong sản xuất lúa nhằm thích ứng với BĐKH 52

4.5 Một số giải pháp ứng phó, thích ứng với BĐKH trong sản xuất lúa tại xã Lam Sơn 52

4.5.1 Giải pháp về nguồn nhân lực 52

4.5.2 Giải pháp về đất đai 53

4.5.3 Giải pháp về giáo dục và truyền thông 53

PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 54

1 Kết luận 54

2 Kiến nghị 55

2.1 Đối với Chính quyền và đoàn thể địa phương 55

2.2 Đối với người dân địa phương 55

TÀI LIỆU THAM KHẢO 56

Trang 10

Phần 1

MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Sự biến đổi khí hậu trên toàn cầu đang hàng ngày gây ra sự nóng lên của Trái Đất, kéo theo đó là vô số hệ luỵ như băng tan, nước biển dâng cao, mưa bão, lũ lụt, cho đến các thiên tai có khả năng gây tàn phá quy mô lớn như động đất, sóng thần, hạn hán… Tất cả góp phần gây nên hậu quả là tình trạng thiếu lương thực và hàng loạt bệnh dịch ở con người và vật nuôi

Theo các nhà khoa học, chính con người với những hoạt động sản xuất công nghiệp và sinh hoạt hàng ngày là một trong những nguyên nhân chính đang gây ra sự nóng lên toàn cầu và gây ra hiệu ứng nhà kính

Sự thay đổi quy luật biểu hiện thời tiết đang ngày càng gia tăng và có tính chất bất thường hơn Với điều kiện khí hậu như vậy, sản xuất nông nghiệp gặp phải những khó khăn thách thức lớn Tương lai của nguồn cung lương thực toàn cầu đang bị đe dọa nghiêm trọng bởi sự biến mất nhanh chóng của nhiều loài động thực vật Số lượng động thực vật có thể làm nguồn lương thực cho con người ngày càng ít, khiến các hệ thống sản xuất dễ bị những cú sốc như sâu bệnh, hạn hán và thời tiết khắc nghiệt do biến đổi khí hậu gây ra

Khoảng 6.000 loài thực vật có thể được sử dụng làm thực phẩm nhưng chưa đến 200 loại được tiêu thụ rộng rãi và chỉ có 9 loại chiếm phần lớn tổng sản lượng cây trồng trên thế giới Trong hai thập kỷ qua, khoảng 20% bề mặt thảm thực vật trên trái đất giảm hiệu suất, còn ở các đại dương, 1/3 khu vực đánh cá đang bị khai thác quá mức Với ý nghĩa đó, sản xuất nông nghiệp cần được quan tâm trước thực trạng biến đổi khí hậu hiện nay [11]

Xã Lam Sơn là một xã miền núi thuộc huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn Người dân sinh sống chủ yếu bằng nghề nông nghiệp, chủ yếu là trồng lúa, phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên Tuy nhiên trong những năm gần đây,

Trang 11

hoạt động sản xuất lúa của người dân trên địa bàn xã đang phải hứng chịu rất nhiều thiệt hại do thiên tai gây ra, có nguy cơ giảm năng suất, sản lượng lương thực, ảnh hưởng tới sinh kế của người dân

Từ những lí do trên, tôi tiến hành thực hiện đề tài “Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến sản xuất lúa trên địa bàn xã Lam Sơn, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn” nhằm đánh giá tác động của các hiện tượng thiên tai đối với

hoạt động sản xuất lúa của người dân, từ đó tạo cơ sở cho việc đề xuất những giải pháp và chiến lược hợp lí để các hộ gia đình ứng phó và thích ứng trước những diễn biến ngày càng phức tạp của BĐKH

1.2 Mục tiêu của đề tài

1.3 Ý nghĩa của đề tài

1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học

- Giúp bản thân có thể vận dụng những kiến thức đã học để xử lí số liệu, viết báo cáo

- Nâng cao được năng lực cũng như rèn luyện kĩ năng của bản thân, vận dụng những kiến thức đã học vào thực tiến đồng thời bổ sung những kiến thức còn thiếu cho bản thân

- Rèn luyện kĩ năng xây dựng đề án phát triển kinh tế xã hội

Trang 12

1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn

Kết quả của đề tài giúp xã Lam Sơn đánh giá được thực trạng phát triển sản xuất lúa của các hộ trong bối cảnh BĐKH Từ đó đưa ra các giải pháp phát triển phù hợp Ngoài ra đề tài còn làm tài liệu tham khảo cho nghiên cứu và học tập, là tài liệu tham khảo cho các cơ quan lãnh đạo, quản lý tại địa phương

Trang 13

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở khoa học của đề tài

2.1.1 Một số vấn đề cơ bản về biến đổi khí hậu

2.1.1.1 Khái niệm khí hậu, thời tiết, biến đổi khí hậu

* Khái niệm khí hậu

- Khí hậu là sự tổng hợp của thời tiết, được đặc trưng bởi các giá trị trung bình thống kê và các cực trị đo được hoặc quan trắc được của các yếu tố

và hiện tượng thời tiết trong một khoảng thời gian đủ dài, thường là hàng chục năm Một cách đơn giản, có thể hiểu khí hậu là trạng thái trung bình và những cực trị của thời tiết được xác định trên một khoảng thời gian đủ dài ở một nơi nào đó.[6]

- Khí hậu là định nghĩa phổ biến về thời tiết trung bình trong khoảng thời gian dài Thời gian trung bình chuẩn để xét là 30 năm, nhưng có thể khác tùy theo mục đích sử dụng Khí hậu cũng bao gồm các số liệu thống kê theo ngày hoặc năm khác nhau

Khí hậu là trạng thái trung bình của thời tiết tại một khu vực nào đó Ví

dụ như: Trong phạm vi một tỉnh, một nước, một châu lục hoặc trên toàn cầu trên cơ sở của một chuỗi dữ liệu dài (khoảng 30 năm trở lên) [1]

Theo Từ điển thuật ngữ của Nhóm hội thảo đa quốc gia về biến đổi khí hậu (The Intergovernmental Panel on Climate Change - IPCC) định nghĩa như sau: Khí hậu trong nghĩa hẹp thường định nghĩa là "Thời tiết trung bình", hoặc chính xác hơn, là bảng thống kê mô tả định kì về ý nghĩa các sự thay đổi

về số lượng có liên quan trong khoảng thời gian khác nhau, từ hàng tháng cho đến hàng nghìn, hàng triệu năm Các số liệu thường xuyên được đưa ra là các biến đổi về nhiệt độ, lượng mưa và gió Theo Tổ chức Khí tượng thế giới (World Meteorological Organization - WMO): Khí hậu là “Tổng hợp các điều

Trang 14

kiện thời tiết ở một khu vực nhất định đặc trưng bởi thống kê dài hạn các biến

số của trạng thái khí quyển ở khu vực đó”

* Khái niệm thời tiết

- Thời tiết là trạng thái tức thời của khí quyển ở một địa điểm cụ thể, được đặc trưng bởi các đại lượng đo được như nhiệt độ, độ ẩm, gió, lượng mưa… hoặc các hiện tượng quan trắc được như sương mù, dông, mưa, nắng,… [6]

- Thời tiết là trạng thái khí quyển tại một điểm nhất định, được xác định bằng tổ hợp các yếu tố như: nhiệt độ, áp suất, độ ẩm, tốc độ gió, mưa Các hiện tượng nắng, mưa, mây, gió, nóng, lạnh… thường thay đổi nhanh chóng qua từng ngày, từng tháng, từng năm

Thời tiết có thể được dự báo hàng ngày, hàng giờ hay dài hơn đến một tuần Thời tiết là toàn bộ các hiện tượng vật lý và trạng thái lớp khí quyển gần sát mặt đất diễn ra tại một nơi nào đó trong một thời điểm xác định.Các hiện tượng vật lý như mưa, nắng, dông, bão và các trạng thái của lớp không khí được đặc trưng bởi các yếu tố như: nhiệt độ, độ ẩm, khí áp, gió thể hiện rõ nét đặc điểm thời tiết Các hiện tượng và trạng thái khí quyển luôn luôn biến động Vì vậy thời tiết cũng biến đổi không ngừng [1]

* Khái niệm biến đổi khí hậu

- Biến đổi khí hậu là sự thay đổi của khí hậu, được quy định trực tiếp hay gián tiếp là do hoạt động của con người làm thay đổi thành phần khí quyển, đóng góp thêm vào sự biến động khí hậu tự nhiên quan sát được trong khoảng thời gian so sánh được [6]

- Theo định nghĩa của Công ước khung Liên Hiệp Quốc (UNFCCC): Biến đổi khí hậu là sự thay đổi của khí hậu, được quy định trực tiếp hay gián tiếp là do hoạt động của con người làm thay đổi thành phần khí quyển, và đóng góp thêm vào sự biến động khí hậu tự nhiên quan sát được trong khoảng thời gian so sánh được

Trang 15

Theo công ước chung của LHQ về biến đổi khí hậu: “Biến đổi khí hậu

là là những biến đổi trong môi trường vật lý hoặc sinh học gây ra những ảnh hưởng có hại đáng kể đến thành phần, khả năng phục hồi hoặc sinh sản của các hệ sinh thái tự nhiên và được quản lý hoặc đến hoạt động của các hệ thống kinh tế - xã hội hoặc đến sức khỏe và phúc lợi của con người”

Theo IPCC (2007): Biến đổi khí hậu (BĐKH) là sự biến đổi trạng thái của hệ thống khí hậu, có thể được nhận biết qua sự biến đổi về trung bình và

sự biến động của các thuộc tính của nó, được duy trì trong một thời gian đủ dài, điển hình là hàng thập kỷ hoặc dài hơn Nói cách khác, nếu coi trạng thái cân bằng của hệ thống khí hậu là điều kiện thời tiết trung bình và những biến động của nó trong khoảng vài thập kỷ hoặc dài hơn, thì BĐKH là sự biến đổi

từ trạng thái cân bằng này sang trạng thái cân bằng khác của hệ thống khí hậu

BĐKH hiện đại được nhận biết thông qua sự gia tăng của nhiệt độ trung bình bề mặt Trái đất, dẫn đến hiện tượng nóng lên toàn cầu Biểu hiện của BĐKH còn được thể hiện qua sự dâng mực nước biển, hệ quả của sự tăng nhiệt độ toàn cầu

Hiện nay sự tăng lên của nhiệt độ trung bình toàn cầu đã tác động tiêu cực và ngày càng nghiêm trọng đến môi trường tự nhiên, kinh tế - xã hội Nhiệt độ toàn cầu gia tăng cùng với sự thay đổi trong phân bố năng lượng trên

bề mặt Trái đất và bầu khí quyển đã dẫn đến sự biến đổi của các hệ thống hoàn lưu khí quyển và đại dương mà hậu quả của nó là sự biến đổi của các cực trị thời tiết và khí hậu Nhiều bằng chứng đã chứng tỏ rằng, thiên tai và các hiện tượng cực đoan có nguồn gốc khí tượng ngày càng gia tăng ở nhiều vùng trên Trái đất mà nguyên nhân của nó là do sự biến đổi bất thường của các hiện tượng thời tiết, khí hậu Sự nóng lên toàn cầu cũng là nguyên nhân

cơ bản dẫn đến sự dâng mực nước biển do băng tan và dãn nở vì nhiệt của nước biển, làm cho nhiều vùng đất thấp bị ngập chìm vĩnh viễn, hiện tượng xâm nhập mặn gia tăng, v.v Các nhà khoa học khi nghiên cứu về hoạt động

Trang 16

của con người đối với sự biến đổi khí hậu đã phải đối mặt với một vấn đề quan trọng là làm thế nào để phát hiện được khí hậu có biến đổi hay không Chúng ta biết rằng thời tiết có thể biến động rất mạnh trên qui mô hàng ngày, hàng tuần thậm chí hàng năm, nhưng khí hậu với qui mô thời gian dài hơn nhiều cũng có thể biến động [1]

2.1.1.2 Nguyên nhân gây ra biến đổi khí hậu

* Nguyên nhân do tự nhiên

- Sự biến đổi trong quỹ đạo Trái Đất: Trong các yếu tố tác động đến

khí hậu, sự thay đổi quỹ đạo của Trái Đất là yếu tố có ý nghĩa quan trọng làm thay đổi năng lượng mặt trời, bởi vì dù chỉ có sự thay đổi rất nhỏ cũng đã dẫn tới những sự thay đổi trong phân phối của ánh sáng mặt trời khi tiến tới bề mặt Trái Đất

- Hoạt động núi lửa: Phun trào núi lửa là một quá trình vận chuyển vật

liệu từ dưới sâu lòng đất lên bề mặt, như là một phần của tiến trình Trái Đất loại bỏ sự dư thừa về nhiệt độ và áp suất bên trong lòng nó Sự phun trào núi lửa là sự giải phóng ở các mức độ khác nhau những vật liệu đặc biệt vào trong bầu khí quyển, làm gia tăng lượng khí cacbon có trong khí quyển [2]

* Nguyên nhân do con người

Các hoạt động của con người chính là nguyên nhân làm thay đổi môi trường Trong một số trường hợp, chuỗi quan hệ nhân quả đó có ảnh hưởng trực tiếp và rõ ràng đến khí hậu

Nguyên nhân chính làm biến đổi khí hậu Trái Đất là do sự gia tăng các hoạt động của con người khi tạo ra các chất thải nhà kính, các hoạt động khai thác quá mức các bể hấp thụ khí nhà kính như sinh khối, rừng, các hệ sinh thái biển, ven bờ và đất liền khác Nhằm hạn chế sự BĐKH, Nghị định thư Kyoto nhằm hạn chế và ổn định sáu loại khí nhà kính chủ yếu bao gồm: CO2, CH4, N2O, HFCs, PFCs và SK6

Trang 17

- CO2 phát thải khi đốt cháy nhiên liệu hóa thạch (than, dầu, khí) và là nguồn khí nhà kính chủ yếu do con người gây ra trong khí quyển CO2 cũng sinh ra từ các hoạt động công nghiệp như sản xuất xi măng và cán thép

- CH4 sinh ra từ các bãi rác, lên men thức ăn trong ruột động vật nhai lại, hệ thống khí, dầu tự nhiên và khai thác than

- N2O phát thải từ phân bón và các hoạt động công nghiệp

- HFCs được sử dụng thay thế cho các chất phá hủy tầng ozon (ODS)

và HFC-23 là sản phẩm phụ của quá trình sản xuất HCFC-22

- PFCs sinh ra từ quá trình sản xuất nhôm

- SK6 sử dụng trong vật liệu cách điện và trong quá trình sản xuất magie.[2]

2.1.1.3 Biểu hiện của biến đổi khí hậu

Biến đổi khí hậu làm cho khí quyển và Trái Đất nóng lên, làm thay đổi thành phần và chất lượng khí quyển có hại cho môi trường sống của con người và các sinh vật trên Trái Đất; mực nước biển dâng cao do băng tan, dẫn tới sự ngập úng ở các vùng đất thấp, các đảo nhỏ trên biển Sự di chuyển của các đới khí hậu tồn tại hàng ngàn năm trên các vùng khác nhau của Trái Đất dẫn tới nguy cơ đe dọa sự sống của các loài sinh vật, các hệ sinh thái và hoạt động của con người Sự thay đổi cường độ hoạt động của quá trình hoàn lưu khí quyển, chu trình tuần hoàn nước trong tự nhiên và các chu trình sinh địa hóa khác Sự thay đổi năng suất sinh học của các hệ sinh thái, chất lượng và thành phần của thủy quyển, sinh quyển, địa quyển [1]

Các hiện tượng mà BĐKH gây nên có thể kể đến là:

- Hiện tượng hiệu ứng nhà kính: Khí nhà kính là những thành phần khí

của khí quyển, cả tự nhiên lẫn nhân tạo, có khả năng hấp thụ các bức xạ sóng dài (hồng ngoại) được phản xạ từ bề mặt Trái Đất khi được chiếu sáng bằng ánh sáng mặt trời, sau đó phân tán nhiệt lại cho Trái Đất, gây nên hiệu ứng nhà kính

Trang 18

- Hiện tượng mưa axit: Mưa axit còn được gọi là hiện tượng lắng đọng của axit Hiểu theo cách khác, mưa axit là hiện tượng nước mưa có axit hay

có độ chua Hiện nay độ axit hiện nay được đo bằng thang pH Trong đó, dung dịch có pH = 7 được gọi là các dung dịch trung tính Khi độ pH trong nước mưa đo được nhỏ hơn 5,6, người ta gọi đó là mưa axit

- Thủng tầng ozon: Ozon (O3) là chất khí có màu lam nhạt (trong điều kiện nhiệt độ và áp suất tiêu chuẩn), có mùi hắc đặc trưng Ozon là chất hấp thụ mạnh các tia tử ngoại, tia nhìn thấy và tia hồng ngoại Lớp ozon ngăn cản phần lớn các tia cực tím có hại không cho xuyên qua bầu khí quyển Trái Đất Tầng ozon như lớp áo choàng bảo vệ Trái Đất trước sự xâm nhập và phá hủy của tia tử ngoại Không khí chứa một lượng rất nhỏ ozon có tác dụng làm cho không khí trong lành Với lượng ozon lớn hơn sẽ gây độc hại với con người

- Cháy rừng: BĐKH và cháy rừng tác động qua lại với nhau, các đám

cháy rừng thải một lượng lớn cacbon dioxide vào khí quyển làm Trái Đất nóng dần lên; khí hậu nóng dần lên lại tác động các đám cháy rừng diễn ra nhiều hơn

- Bão – lũ lụt – hạn hán

Bão là trạng thái nhiễu động của khí quyển và là một loại hình thời tiết cực đoan Bão là hiện tượng gió mạnh kèm theo mưa rất lớn do có sự xuất hiện và hoạt động của các khu áp thấp (low pressure area) khơi sâu

Lũ là hiện tượng nước sông dâng cao trong một khoảng thời gian nhất định, sau đó giảm dần hoặc dòng nước do mưa lớn tích lũy từ nơi cao tràn về

dữ dội làm ngập lụt một khu vực hoặc vùng trũng, thấp hơn

Hạn hán là hiện tượng lượng mưa thiếu hụt nghiêm trọng kéo dài, làm giảm hàm lượng ẩm trong không khí và hàm lượng nước trong đất, làm suy kiệt dòng chảy sông suối, hạ thấp mực nước ao hồ, mực nước trong các tầng chứa nước dưới đất gây ảnh hưởng xấu đến sự sinh trưởng của cây trồng, làm môi trường suy thoái gây đói nghèo dịch bệnh

Trang 19

- Sa mạc hóa: là hiện tượng suy thoái đất đai ở những vùng khô hạn,

bán khô hạn, vùng ẩm nửa khô hạn, gây ra bởi sinh hoạt con người và BĐKH

- Hiện tượng sương khói: Sương khói là một sự cố môi trường, xảy ra

do sự kết hợp sương với khói và một số chất gây ô nhiễm khác [7]

2.1.1.4 Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu

- Các hệ sinh thái bị phá hủy

Biến đổi khí hậu và lượng cacbon dioxite ngày càng tăng cao là thử thách cho các hệ sinh thái Các hậu quả như thiếu hụt nguồn nước ngọt, không khí bị ô nhiễm nặng, năng lượng và nhiên liệu khan hiếm, và các vấn đề y tế liên quan khác không chỉ ảnh hưởng đến đời sống con người mà còn là vấn đề sinh tồn

San hô bị tẩy trắng do nước biển ấm lên chỉ là một trong rất nhiều tác hại của biến đổi khí hậu đến các hệ sinh thái

- Mất đa dạng sinh học

Nhiệt độ trái đất hiện nay đang làm cho các loài sinh vật biến mất hoặc

có nguy cơ tuyệt chủng Khoảng 50% các loài động thực vật sẽ đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng vào năm 2050 nếu nhiệt độ trái đất tăng thêm từ 1,1 đến 6,4 độ C nữa Sự mất mát này là do mất môi trường sống vì đất bị hoang hóa,

do nạn phá rừng và do nước biển ấm lên Các nhà sinh vật học nhận thấy đã

có một số loài động vật di cư đến vùng cực để tìm môi trường sống có nhiệt

độ phù hợp Ví dụ như là loài cáo đỏ, trước đây chúng thường sống ở Bắc Mỹ thì nay đã chuyển lên vùng Bắc cực Con người cũng không nằm ngoài tầm ảnh hưởng Tình trạng đất hoang hóa và mực nước biển đang dâng lên cũng

đe dọa đến nơi cư trú của chúng ta Và khi cây cỏ và động vật bị mất đi cũng đồng nghĩa với việc nguồn lương thực, nhiên liệu và thu nhập của chúng ta cũng mất đi

Trang 20

- Chiến tranh và xung đột

Lương thực và nước ngọt ngày càng khan hiếm, đất đai dần biến mất nhưng dân số cứ tiếp tục tăng; đây là những yếu tố gây xung đột và chiến tranh giữa các nước và vùng lãnh thổ Do nhiệt độ trái đất nóng lên và biến đổi khí hậu theo chiều hướng xấu đã dần làm cạn kiệt các nguồn tài nguyên thiên nhiên Một cuộc xung đột điển hình do biến đổi khí hậu là ở Darfur Xung đột ở đây nổ ra trong thời gian một đợt hạn hán kéo dài, suốt 20 năm vùng này chỉ có một lượng mưa nhỏ giọt và thậm chí nhiều năm không có mưa, làm nhiệt độ vì thế càng tăng cao Theo phân tích của các chuyên gia, các quốc gia thường xuyên bị khan hiếm nước và mùa màng thất bất thường rất bất ổn về an ninh Xung đột ở Darfur (Sudan) xảy ra một phần là do các căng thẳng của biến đổi khí hậu

lũ rất cấp thiết, chi phí khổng lồ để dọn dẹp đống đổ nát sau bão lũ, và các căng thẳng về đường biên giới

- Dịch bệnh

Nhiệt độ tăng cùng với lũ lụt và hạn hán đã tạo điều kiện thuận lợi cho các con vật truyền nhiễm như muỗi, ve, chuột,… sinh sôi nảy nở, truyền nhiễm bệnh gây nguy hại đến sức khỏe của nhiều bộ phận dân số trên thế giới

Tổ chức WHO đưa ra báo cáo rằng các dịch bệnh nguy hiểm đang lan tràn ở

Trang 21

nhiều nơi trên thế giới hơn bao giờ hết Những vùng trước kia có khí hậu lạnh giờ đây cũng xuất hiện các loại bệnh nhiệt đới Hàng năm có khoảng 150 ngàn người chết do các bệnh có liên quan đến biến đổi khí hậu, như bệnh tim, các vấn đề hô hấp và tiêu chảy

- Hạn hán

Trong khi một số nơi trên thế giới chìm ngập trong lũ lụt triền miên thì một số nơi khác lại hứng chịu những đợt hạn hán khốc liệt kéo dài Hạn hán làm cạn kiệt nguồn nước sinh hoạt và tưới tiêu, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền nông nghiệp của nhiều nước Hậu quả là sản lượng và nguồn cung cấp lương thực bị đe dọa, một lượng lớn dân số trên trái đất đang và sẽ chịu cảnh đói khát Hiện tại, các vùng như Ấn Độ, Pakistan, và Châu Phi đang hứng chịu những đợt hạn hán, lượng mưa ở các khu vực này ngày càng thấp,

và tình trạng này còn tiếp tục kéo dài trong vài thập kỷ tới Theo ước tính, đến năm 2020, sẽ có khoảng 75 triệu đến 250 triệu người dân châu Phi thiếu nguồn nước sinh hoạt và canh tác, dẫn đến sản lượng nông nghiệp của lục địa này sẽ giảm khoảng 50%

- Bão lụt

Nhiệt độ nước ở các biển và đại dương ấm lên là nhân tố tiếp thêm sức mạnh cho các cơn bão Những cơn bão khốc liệt đang ngày một nhiều hơn Trong vòng chỉ 30 năm qua, số lượng những cơn giông bão cấp độ mạnh đã tăng gần gấp đôi

- Những đợt nắng nóng gay gắt

Các đợt nắng nóng khủng khiếp đang diễn ra thường xuyên hơn gấp khoảng 4 lần so với trước đây, và dự đoán trong vòng 40 năm tới, mức độ thường xuyên của chúng sẽ gấp 100 lần so với hiện nay Hậu quả của các đợt nóng này là nguy cơ cháy rừng, các bệnh tật do nhiệt độ cao gây ra, làm tăng nhiệt độ trung bình của trái đất

- Các núi băng và sông băng đang teo nhỏ

Trang 22

Các núi băng và sông băng đang co lại Những lãnh nguyên bao la từng được bao phủ bởi một lớp băng vĩnh cửu rất dày giờ đây được cây cối bao phủ Lấy một ví dụ, các núi băng ở dãy Hy Mã Lạp Sơn cung cấp nước ngọt cho sông Hằng - nguồn nước uống và canh tác của khoảng 500 triệu người - đang co lại khoảng 37m mỗi năm

- Mực nước biển đang dâng lên

Nhiệt độ ngày càng cao trên trái đất khiến mực nước biển đang dần dâng lên Nhiệt độ tăng làm các sông băng, biển băng hay lục địa băng trên trái đất tan chảy và làm tăng lượng nước đổ vào các biển và đại dương Các

bờ biển đang biến mất Bãi biển ở Miami nằm trong số rất nhiều những khu vực khác trên thế giới đang bị đe dọa bởi nước biển dâng ngày càng cao Các nhà khoa học đã tiến hành quan sát, đo đạc và nhận thấy rằng băng ở đảo băng Greenland đã mất đi một số lượng lớn, gây ảnh hưởng trực tiếp đến các đảo quốc hay các quốc gia nằm ven biển Theo ước tính, nếu băng tiếp tục tan thì nước biển sẽ dâng thêm ít nhất 6m nữa vào năm 2100 Với mức này, phần lớn các đảo của Indonesia, và nhiều thành phố ven biển khác sẽ hoàn toàn

Trang 23

- Thời kỳ sau cấy: Bộ rễ tăng dần về số lượng và chiều dài ở thời kỳ đẻ nhánh, làm đòng

- Thời kỳ trỗ bông: Bộ rễ đạt giá trị tối đa vào thời kỳ trỗ bông Số lượng rễ có thể đạt tới 500 – 800 cái Chiều dài rễ đạt 2- 3 km/ cây khi cây được trồng riêng trong chậu Trên đồng ruộng, phạm vi ra rễ chỉ ở những mắt gần lớp đất mặt (0-20 cm là chính) Khi cấy lúa quá sâu (>5 cm), cây lúa sẽ tạo ra 2 tầng rễ, trong thời gian mà cây lúa chậm phát triển giống như hiện tượng lúa bị bệnh nghẹt rễ Cấy ở độ sâu thích hợp (3-5cm) sẽ khắc phục được hiện tượng trên Để tạo điều kiện cho bộ rễ phát triển tốt, cần làm cỏ sục bùn điều chỉnh lượng nước hợp lí, tạo điều kiện cho tầng đất vùng rễ thông thoáng, bộ rễ phát triển mạnh Cây lúa sinh trưởng tốt, chống chịu được sâu bệnh, năng suất cao

- Số lóng dài: Từ 3-8 lóng Theo giải phẫu ngang lóng, lóng có một khoảng trống lớn gọi là xoang lỏi

- Chiều cao cây, thân: Được tính từ gốc đến cổ bông Chiều cao thân và chiều cao cây liên quan đến khả năng chống đổ của giống lúa

* Nhánh lúa

Cây lúa có thể đẻ nhánh khi có 4-5 lá thật Ở ruộng lúa cấy, sau khi bén

rễ hồi xanh cây lúa bắt đầu đẻ nhánh Lúa kết thúc đẻ nhánh vào thời kỳ làm đốt, làm đòng Từ cây mẹ đẻ ra nhánh con (cấp 1), nhánh cấp 1 đẻ nhánh cấp

2, nhánh cấp 2 đẻ nhánh cấp 3 Những nhánh hình thành vào giai đoạn cuối thường là nhánh vô hiệu Thường thì các giống lúa mới khả năng đẻ nhánh

Trang 24

cao, tỷ lệ nhánh hữu hiêu cũng cao hơn các giống lúa cũ, cổ truyền Khả năng

đẻ nhánh của cây lúa phụ thuộc vào giống, nhất là điều kiện chăm sóc, ngoại cảnh…cây lúa có nhiều nhánh, tỷ lệ nhánh hữu hiệu cao, năng suất sẽ cao

* Lá lúa: gồm bẹ lá, phiến lá, lá thìa và tai lá

- Bẹ lá: là phần đáy lá kéo dài cuộn thành hình trụ và bao phần non của thân

- Phiến lá: hẹp, phẳng và dài hơn bẹ lá (trừ lá thứ hai)

- Lá thìa: là vảy nhỏ và trắng hình tam giác

- Tai lá: Một cặp tai lá hình lưỡi liềm, lá được hình thành từ các mầm lá

ở mắt thân Tốc độ ra lá thay đổi theo thời gian sinh trưởng và điều kiện ngoại cảnh

- Thời kỳ mạ non: trung bình 3 ngày ra được 1 lá

- Thời kỳ mạ khoẻ: từ lá thứ 4, tốc độ ra lá chậm lại, 7-10 ngày ra được

1 lá

- Thời kỳ đẻ nhánh: 5-7 ngày /1lá ở vụ mùa

- Cuối thời kỳ đẻ nhánh - làm đòng: khoảng 12 – 15 ngày / lá cây lúa trỗ bông cũng là lúc hoàn thành lá đòng Số lá trên cây phụ thuộc chủ yếu vào giống, thời vụ cấy, biện pháp bón phân và quả trình chăm sóc

Thường số lá của các giống :

- Giống lúa ngắn ngày: 12 – 15 lá

- Giống lúa trung ngày: 16 – 18 lá

- Giống lúa dài ngày : 18 – 20 lá

Chức năng của lá:

Lá ở thời kỳ nào thường quyết định đến sinh trưởng của cây trong thời

kỳ đó Ba lá cuối cùng thường liên quan và ảnh hưởng trực tiếp đến thời kỳ làm đòng và hình thành hạt

Chức năng của bẹ lá:

- Chống đỡ cơ học cho toàn cây

Trang 25

- Dự trữ tạm thời các Hydratcacbon trước khi lúa trỗ bông Lá làm nhiệm vụ quang hợp, chăm sóc hợp lí, đảm bảo cho bộ lá khoẻ, tuổi thọ lá (nhất là lá đòng), lúa sẽ chắc hạt, năng suất cao

* Hoa lúa:

Quá trình thụ phấn, thụ tinh và hình thành hạt lúa:

Lúa là loại cây tự thụ phấn Sau khi bông lúa trỗ một ngày thì bắt đầu quá trình thụ phấn Vỏ trấu vừa hé mở từ 0-4 phút thì bao phấn vỡ ra, hạt phấn rơi vào đầu nhuỵ và hợp nhất với noãn ở bên trong bầu nhuỵ để bầu nhuỵ phát triển thành hạt

Thời gian thụ phấn kể từ khi vỏ trấu mở ra đến khi khép lại kéo dài khoảng 50-60 phút Thời gian thụ tinh kéo dài 8 giờ sau thụ phấn Trong ngày thời gian hoa lúa nở rộ thường vào 8-9 giờ sáng khi có điều kiện nhiệt độ thích hợp, đủ ánh sáng, quang mây, gió nhẹ Những ngày mùa hè, trời nắng to

có thể nở hoa sớm vào 7 – 8 gờ sáng Ngược lại nếu trời âm u, thiếu ánh sáng hoặc gặp rét hoa phơi màu muộn hơn, vào 12 – 14 giờ

Sau thụ tinh phôi nhũ phát triển nhanh để thành hạt Khối lượng hạt gạo tăng nhanh trong vòng 15- 20 ngày sau trỗ, đồng thời với quá trình vận chuyển và tích luỹ vật chất, hạt lúa vào chắc và chín dần

* Bông và hạt lúa:

Thời gian hình thành bông kể từ khi cây lúa bắt đầu phân hoá đòng cho đến khi lúa trỗ Thời kỳ này nếu được chăm bón tốt , cây lúa đủ dinh dưỡng bông lúa sẽ phát triển đấy đủ giữ nguyên được đặc tính của giống Thời gian phát triển bông ở giống ngắn ngày ngắn hơn ở giống dài ngày

- Hạt lúa gồm: Gạo lức và vỏ trấu

+ Gạo lức gồm : phôi và phôi nhũ

+ Vỏ trấu gồm: Trấu trên và trấu dưới Trấu dưới lớn hơn trấu trên và bao khoảng hai phần ba bề mặt gạo lức trưởng thành Ở ẩm độ 0%, một hạt lúa nặng khoảng 12 – 44 mg Chiều dài, rông, độ dày của hạt thay đổi nhiều

Trang 26

giữa các giống Quá trình chín của hạt gồm: chín sữa, chín sáp và chín hoàn toàn Thời gian chín từ 30 – 35 ngày tuỳ theo giống, môi trường và biện pháp canh tác [13]

2.1.2.2 Thời gian sinh trưởng, phát triển của cây lúa

Thời gian sinh trưởng của cây lúa được tính từ khi hạt lúa nảy mầm đến khi chín hoàn toàn, thay đổi tuỳ theo giống và điều kiện ngoại cảnh

- Đối với lúa cấy: Bao gồm thời gian ở ruộng mạ và thời gian ở ruộng lúa cấy

- Đối với lúa gieo thẳng: Được tính từ thời gian gieo hạt đến lúc thu hoạch Ở miền Bắc các giống lúa ngắn ngày có thời gian sinh trưởng 90 – 120 ngày, giống lúa trung ngày là 140 – 160 ngày Các giống lúa chiêm cũ, do thời vụ gieo cấy có điều kiện nhiệt độ thấp nên thời gian sinh trưởng kéo dài

180 – 200 ngày

Ở đồng bằng sông Cửu Long các giống lúa địa phương có thời gian sinh trưởng 200 -240 ngày ở vụ mùa, cá biệt những giống lúa nổi có thời gian sinh trưởng đến 270 ngày

Quá trình sinh trưởng phát triển của cây lúa gồm 11 giai đoạn: Giai đoạn nảy mầm

 Giai đoạn mạ

 Giai đoạn đẻ nhánh

 Giai đoạn phát triển đốt thân

 Giai đoạn làm đòng

 Giai đoạn trổ bông

 Giai đoạn nở hoa, thụ phấn và thụ tinh

Trang 27

2.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài

2.2.1 Tác động của BĐKH đến sản xuất lúa gạo trên thế giới

BĐKH gây ra những ảnh hưởng lớn đến sản xuất lúa gạo trên toàn thế giới.Tình trạng sa mạc hóa đang gia tăng với tốc độ báo động, gấp đôi so với những năm 1970

Theo tính toán, đến năm 2025 sẽ có 2/3 diện tích đất canh tác lúa ở châu Phi, 1/3 diện tích đất canh tác ở châu Á và 1/5 diện tích đất canh tác ở Nam Mỹ không còn sử dụng được Các nước Trung Á cũng bị ảnh hưởng nặng, đặc biệt Kazakhstan kể từ năm 1980, gần 50% diện tích trồng lúa đã bị

bỏ hoang vì đất quá cằn trong tiến trình sa mạc hóa

Ở Nam Âu - vùng đã từng dễ bị tổn thương bởi tính bất thường của khí hậu, BĐKH sẽ làm cho các điều kiện (nhiệt độ cao và hạn hán) nghiêm trọng hơn và nhìn chung làm giảm khả năng sử dụng nước, tiềm năng thuỷ điện, du lịch và năng suất cây trồng

Ở Châu Phi, sản xuất lúa gạo tại nhiều nước Châu Phi sẽ bị thiệt hại nghiêm trọng, gây ảnh hưởng xấu hơn tới an ninh lương thực và tăng tình trạng suy dinh dưỡng Đến cuối thế kỷ XXI, mực nước biển dâng sẽ gây ảnh hưởng tới các vùng trũng ven biển, đông dân cư Chi phí thích ứng có thể chiếm ít nhất từ 5% - 10% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) Ngược lại, ở Bắc

Mỹ, trong những thập kỷ đầu của thế kỷ XXI, BĐKH ở mức vừa phải sẽ nâng tổng sản lượng của ngành nông nghiệp dựa vào nước mưa thêm từ 5% - 20%, nhưng sản lượng tăng thêm lại thay đổi theo vùng

Hiện nay các khu vực châu thổ của các con sông lớn ở châu Á, tình trạng biến đổi ngày càng tăng giữa các mùa đang tạo sức ép đối với các nguồn cung cấp nước, trong khi đó mực nước biển dâng đang biến các nguồn cung cấp nước ngọt thành nước lợ có nồng độ mặn cao Những vấn đề đó đang đẩy tiến trình sản xuất lúa gạo của châu Á vào tình trạng khó khăn Mực nước biển dâng cao do biến đổi khí hậu sẽ làm thay đổi chất lượng nước và tăng độ

Trang 28

mặn của các khu vực này Hơn nữa, một số vịnh sông lớn, trong đó có vịnh Chao Phraya ở Thái Lan và sông Hồng ở Việt Nam, đang được coi là "chết"

do tất cả nguồn nước đầu nguồn bị ngăn chặn

Tại Nam Á, các vịnh sông Hằng và sông Indus đang trong tình trạng thiếu nước Tại Đông Nam Á, mặc dù sử dụng nước tưới dễ dàng, nhưng gần 70% vụ gieo trồng vẫn thiếu nước và dễ bị ảnh hưởng bởi những đợt biến đổi khí hậu.[1]

2.2.2 Tác động của BĐKH đến sản xuất lúa gạo tại Việt Nam

Tại Việt Nam cũng như tại nhiều nơi khác trên thế giới, nông dân nhìn chung đã nhận biết được các biểu hiện của biến đổi khí hậu và cùng với thời gian, người ta càng nhận biết chúng rõ ràng hơn Biến đổi khí hậu có thể đem lại những thay đổi như thu hẹp sản xuất lúa và phát triển thủy sản, ngừng mở rộng diện tích canh tác cà phê và các cây trồng khác… Điều này có thể giúp khai thác tốt hơn tiềm năng của ngành nông nghiệp, không chỉ về mặt thích ứng mà còn về khả năng gia tăng về giá trị, giảm đầu vào Trong mọi tình huống, những thách thức nảy sinh từ biến đổi khí hậu không nhất thiết sẽ trở thành lực cản Vấn đề này có thể thực hiện được với các dự án đầu tư có mục tiêu áp dụng các biện pháp mạnh mẽ Đó là các khoản đầu tư vào hệ thống đổi mới sáng tạo, tăng cường nguồn tài nguyên thiên nhiên, nâng cao kỹ năng quản lý sản xuất và nâng cao năng lực thể chế nhằm hỗ trợ, theo dõi và tái định hướng ứng phó với biến đổi khí hậu một cách thống nhất, tức là các thể chế có năng lực quản lý theo hướng thích ứng

Theo một phân tích của Ngân hàng Thế giới, trong một vài thập kỷ gần đây mực nước biển đã tăng với tốc độ ngày càng cao, tăng 1,3 - 2,3 mm hàng năm trong giai đoạn 1961 - 2003 và tăng 2,4 - 3,8mm hàng năm kể từ đó đến nay Dự báo đến năm 2040, mực nước biển sẽ dâng thêm khoảng 23 - 24 cm

so với giai đoạn 1980 - 1999 dọc theo bờ biển Việt Nam; và đến giữa thế kỷ, mức tăng có thể đạt 28 - 33 cm Có thể thấy rằng, nước biển dâng sẽ làm trầm

Trang 29

trọng thệm tình trạng xói lở bờ biển và xâm nhập mặn, mà trên thực tế đã và đang diễn ra Vùng đồng bằng ven biển với nền đất thấp đã bị xâm nhập mặn trong mùa khô Chẳng hạn, tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long, diện tích bị xâm nhập mặn (độ mặn trên 4g/lít) có thể tăng từ 1,3 triệu ha của năm 2010 lên 1,7 triệu ha vào năm 2050 nếu nước biển dâng thêm 30 cm

Sản xuất lúa có thể bị tác động lớn bởi xâm nhập mặn và úng lụt khi phần lớn diện tích nông nghiệp nằm tại vùng Đồng bằng sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long, có độ cao chỉ 2 m so với mực nước biển Theo một dự báo của Bộ Tài nguyên và Môi trường, năng suất lúa có thể sẽ giảm 4,3% trong giai đoạn 2016 - 2045 do tác động của biến đổi khí hậu Số liệu này cho thấy, nước biển dâng và xâm nhập mặn có thể sẽ làm thay đổi địa bàn trồng lúa trong tương lai Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng ước lượng rằng, đến năm 2030, mực nước biển sẽ dâng thêm 17 cm so với giai đoạn 1980 - 1999,

và đến năm 2100 sẽ tăng thêm đến 75 - 100 cm Như vậy, trong dài hạn có nhiều lo ngại đối với vùng ven biển Việt Nam.[8] Chính vì vậy, hiện nay có nhiều cuộc thảo luận về sự cần thiết phải xây dựng các hệ thống đê biển, đê chắn sóng, trồng rừng ngập mặn nhằm bảo vệ các vùng ven biển Những dự báo cho thấy biến đổi khí hậu sẽ làm thay đổi những thách thức đối với ngành trồng lúa Tuy vậy cần đặt chúng vào trong bối cảnh cụ thể Tác động của biến đổi khí hậu không loại trừ năng suất lúa trung bình sẽ tăng, nhất là tại các vùng chiến lược Năng suất lúa trung bình đã tăng trong hai thập kỷ vừa qua, mặc dù tốc độ tăng có suy giảm, đạt 2,87%/năm giai đoạn 1996 - 2005, 1,72%/năm giai đoạn 2006 - 2010 Nếu năng suất lúa chỉ tăng 1%/năm trong

2 thập kỷ tới, đến năm 2035 năng suất lúa sẽ đạt 6,47 tấn/ha Ngay cả khi biến đổi khí hậu làm giảm 10% năng suất thì đến năm 2035 năng suất lúa vẫn đạt 5,82 tấn/ha, tức là vẫn cao hơn so với năng suất trung bình tại bất kỳ nước nào trong khu vực Đông Nam Á hiện nay Mặt khác, cũng cần tính đến khả năng thích nghi của ngành nông nghiệp Các giống lúa mới có khả năng chịu lụt,

Trang 30

mặn, nắng nóng sẽ phần nào giảm nhẹ tổn thất về đất trồng Hiện nay đã có khác biệt lớn về năng suất giữa các địa bàn và phương thức canh tác Biến đổi khí hậu có thể làm cho sự khác biệt này càng rõ nét giữa khu vực sản xuất tự cung tự cấp và sản xuất lúa hàng hóa Hiện nay sản xuất lúa hàng hóa của Việt Nam đạt năng suất khá cao, chủ yếu tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long Vùng chuyên canh lúa đang diễn ra cùng với quá trình tập trung hóa ruộng đất, cơ giới hóa và chuyển sang tiết kiệm vật tư đầu vào, tăng cường hợp tác công đoạn xử lý sau thu hoạch, bảo quản và phân phối Năng suất vụ Đông Xuân tại các vùng chuyên canh lúa Đồng bằng sông Cửu Long hiện nay đạt khoảng 6 - 7,5 tấn/ha Vùng chuyên canh lúa chiếm phần lớn thặng dư cho xuất khẩu lúa gạo Biến đổi khí hậu có thể sẽ làm cho sản xuất lúa tập trung hơn nữa vào vùng này Đây là vùng thích hợp trồng nhiều vụ và vụ Đông Xuân là vụ thích hợp nhất để trồng lúa chất lượng cao Hiện nay, Việt Nam

dư thừa nhiều gạo để xuất khẩu, vì vậy trong vài thập kỷ tới, biến đổi khí hậu

có lẽ sẽ không đe doạ tới vấn đề an ninh lương thực.[1]

2.2.3 Tác động của BĐKH đến sản xuất lúa gạo tại Bắc Kạn

Bắc Kạn trong những năm gần đây cũng chịu nhiều ảnh hưởng của việc biến đổi khí hậu Những biến đổi đó tác động trực tiếp vào đời sống của nhân dân và sự phát triển của tỉnh Vào mùa đông trời rét kéo dài làm chết nhiều gia súc Mưa to, lũ quét, sạt lở phá hủy hệ thống giao thông, thủy lợi… Hạn hán làm mất mùa Hiện tại mực nước của nhiều sông, suối trên toàn tỉnh đã cạn đi trông thấy tiềm ẩn những nguy cơ thiếu nước nghiêm trọng Sự thay đổi về nền nhiệt độ, thời gian chiếu sáng, lượng mưa đã khiến nhiều loài vi khuẩn, côn trùng, vật chủ mang bệnh sinh trưởng và phát triển mạnh gây hại cho sức khỏe con người và sản xuất nông nghiệp [15] Năng suất, sản lượng cây trồng vụ đông xuân năm 2010: Cây lúa xuân năng suất ước đạt 48,17 tạ/ha, cây ngô đông - xuân năng suất ước đạt 37,8 tạ/ha Năng suất, sản lượng cây lương thực qua nhiều năm tăng chậm là do biến đổi của khí hậu, nắng hạn

Trang 31

và mưa lũ bất thường làm thời vụ gieo trồng bị ảnh hưởng; khả năng đầu tư chăm sóc kém, chưa đáp ứng được nhu cầu sinh trưởng và phát triển của cây trồng, nhất là giống lúa lai; công tác tổ chức phòng trừ sâu bệnh chưa kịp thời

Cơ cấu giống sản xuất trên địa bàn tỉnh trong những năm gần đây nhiều chủng loại: 11 giống lúa, 14 giống cây ngô; trong vụ xuân, tỷ lệ lúa lai chiếm trên 65%; vụ mùa giống lúa thuần chiếm tỷ lệ trên 60%, các giống đưa vào sản xuất đều do nông dân tự để giống nên giống bị thoái hoá ảnh hưởng đến năng xuất và chất lượng lúa [16]

Trang 32

Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU 3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Hoạt động sản xuất lúa của người dân và những hiện tượng thời tiết khí hậu tác động tới hoạt động sản xuất lúa ở địa phương

3.2 Nội dung nghiên cứu

- Điều kiện tự nhiên – kinh tế - xã hội xã Lam Sơn, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn

- Thực trạng sản xuất lúa của người dân trên địa bàn nghiên cứu

- Biểu hiện và diễn biến của thời tiết, khí hậu trong 03 năm qua tại địa bàn nghiên cứu

- Ảnh hưởng của BĐKH đến hoạt động sản xuất lúa của người dân trên địa bàn nghiên cứu

- Đề xuất giải pháp ứng phó, thích ứng với BĐKH trong sản xuất lúa

3.3 Phương pháp nghiên cứu

3.3.1 Phương pháp điều tra thu thập số liệu

3.3.1.1 Thu thập số liệu thứ cấp

Trang 33

Thu thập số liệu thống kê, các tài liệu liên quan đến BĐKH và sản xuất lúa tại xã Lam Sơn, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn và các cơ quan trong huyện

Na Rì, tỉnh Bắc Kạn

3.3.1.2 Thu thập tài liệu sơ cấp

* Quan sát trực tiếp: Quan sát một cách có hệ thống các sự việc, sự vật,

sự kiện với các mối quan hệ và trong bối cảnh tồn tại của nó Quan sát trực tiếp cũng là một phương cách tốt để kiểm tra chéo những câu trả lời của người dân địa phương Trong quá trình nghiên cứu đề tài tôi sử dụng phương pháp quan sát trực tiếp thực trạng hạ tầng KT – XH, môi trường…trên địa bàn xã

* Phỏng vấn bằng bảng hỏi:

Đề tài thực hiện phương pháp nghiên cứu thông qua phỏng vấn bảng hỏi đã chuẩn bị trước có nội dung về các hoạt động sản xuất lúa của hộ trong bối cảnh BĐKH Phiếu điều tra bao gồm các nội dung như sau:

- Những thông tin về tình hình cơ bản của đối tượng điều tra: họ tên, tuổi, dân tộc, trình độ văn hóa, nghề nghiệp,…

- Thông tin về sản xuất lúa; diện tích, năng suất, sản lượng, vốn sản xuất, thu nhập,…

- Thông tin về BĐKH: các hiện tượng thời tiết, tần suất xuất hiện, mức

độ ảnh hưởng đến sản xuất lúa,…

- Thông tin khác: cách phòng tránh rủi ro thiên tai, thuận lợi khó khăn trong sản xuất, nhu cầu của hộ,…

3.3.1.3 Phương pháp điều tra chọn mẫu

* Chọn điểm nghiên cứu

Lam Sơn là một xã thuần nông của huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn Người dân sinh sống chủ yếu bằng trồng trọt và chăn nuôi Tuy nhiên vài năm gần đây xã đang phải chịu hậu quả khá rõ rệt từ BĐKH Một số hiện tượng thời tiết cực đoan đã và đang diễn ra như: mưa đá, hạn hán, sương muối,… đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất lúa mỗi năm Người dân đang cần được

Trang 34

trang bị những hiểu biết về BĐKH từ đó có những biện pháp thích ứng để nâng cao năng suất và chất lượng cây trồng vật nuôi Bên cạnh đó, xã Lam Sơn có tuyến đường quốc lộ 3B đi qua địa bàn nên thuận tiện cho việc di chuyển, điều tra thu thập số liệu Từ những lí do trên tôi lựa chọn xã Lam Sơn làm địa điểm nghiên cứu, trong đó chọn ra 04 thôn: Pan Khe, Xưởng Cưa, Thanh Sơn, Pò Chẹt để tiến hành điều tra và thu thập số liệu vì đây là 04 thôn chịu ảnh hưởng khá rõ rệt của BĐKH, có số lượng hộ trồng lúa cao, khí hậu

và địa hình mang tính đại diện vùng Bên cạnh đó, 04 thôn đều nằm ven đường quốc lộ nên có điều kiện giao thông thuận lợi

* Chọn mẫu nghiên cứu

Số lượng mẫu lựa chọn nghiên cứu được xác định theo công thức Slovin (1960), độ tin cậy 90%, sai số 10%:

n = 𝑵

( 𝟏+𝑵.𝒆𝟐)Trong đó: n là cỡ mẫu

e là sai số cho phép

N là tổng thể

Trên địa bàn xã có 464 hộ sản xuất lúa, do đó số mẫu tiến hành điều tra

là 84 hộ

Tại 04 thôn đã chọn, lựa chọn số mẫu tại mỗi thôn cụ thể như sau:

Thôn Pan Khe: 21 hộ

Thôn Xưởng Cưa: 21 hộ

Thôn Thanh Sơn: 21 hộ

Thôn Pò Chẹt: 21 hộ

Sau khi xác định được kích cỡ mẫu điều tra, đối tượng nghiên cứu được chọn theo phương pháp ngẫu nhiên phân tổ theo phân loại kinh tế hộ không lặp lại theo danh sách

Trang 35

3.3.2 Phương pháp xử lí, phân tích số liệu

- Từ các nguồn số liệu điều tra thu thập được trên địa bàn nghiên cứu Sau đó tiến hành tổng hợp, xử lí và phân tích số liệ trên Excel

- Phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu: Sử dụng phương pháp này

để tổng hợp các số liệu thu thập được sau đó xử lí, biểu diễn trên các bảng biểu, phân tích đánh giá tình hình thực tiễn

- Phương pháp đối chiếu so sánh: Phương pháp này xác định xu hướng, mức độ biến động của các chỉ tiêu phân tích, phản ánh chân thực hiện tượng nghiên cứu, giúp cho việc tổng hợp tài liệu, tính toán các chỉ tiêu đúng đắn, cũng như giúp cho việc phân tích tài liệu được khoa học, khách quan, phản ánh đúng những nội dung cần nghiên cứu phân tích đánh giá tình hình thực hiện

- Phương pháp thống kê mô tả: Phương pháp này mô tả toàn bộ thực trạng về tác động của BĐKH đến sản xuất lúa của người dân trên địa bàn điều tra, thông qua các số liệu đã thu thập được đánh giá, phân tích và đề ra giải pháp phù hợp nhằm nâng cao khả năng thích ứng với BĐKH, góp phần phát triển kinh tế bền vững cho người dân tại địa bàn nghiên cứu

3.3.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu

* Diện tích, năng suất, sản lượng lúa

* Chi phí, thu nhập, lợi nhuận sản xuất lúa

* Biến đổi khí hậu

- Các hiện tượng thời tiết cực đoan

- Mức độ ảnh hưởng của các hiện tượng thời tiết cực đoan đến sản xuất lúa

Trang 36

Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 4.1 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu

4.1.1 Điều kiện tự nhiên

4.1.1.1 Vị trí địa lí

Xã Lam Sơn nằm cách trung tâm huyện Na Rì 6,5 km về phía Nam, cách thành phố Bắc Kạn 61 km, tiếp giáp với các xã như sau:

Phía Bắc giáp xã Lương Hạ, thị trấn Yến Lạc huyện Na Rì

Phía Nam giáp xã Cư Lễ huyện Na Rì

Phía Đông giáp xã Kim Lư huyện Na Rì

Phía Tây giáp xã Luơng Thành, xã Văn Minh huyện Na Rì

4.1.1.2 Địa hình

Xã Lam Sơn có địa hình đồi núi cao, giữa là những cánh đồng nhỏ hẹp chạy dọc theo quốc lộ 3B và các khe núi Độ cao trung bình từ 300m đến 700m Độ dốc trung bình từ 15 - 350

4.1.1.3 Đất đai và thổ nhưỡng

Diện tích và cơ cấu đất đai của xã Lam Sơn được thể hiện qua bảng 4.1 dưới đây:

Trang 37

Bảng 4.1: Diện tích và cơ cấu đất xã Lam Sơn năm 2017

(ha)

Cơ cấu (%) Tổng diện tích đất tự nhiên toàn xã 2267,25 100

2.2.2 Đất xây dựng công trình sự nghiệp 1,93 4,47 2.2.3 Đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp 8,18 18,94

2.3 Đất làm nghĩa trang, nghĩa địa, nhà tang lễ 0,08 0,08

2.4 Đất sông ngòi, kênh, rạch, suối 33,84 36,59

( Nguồn: Báo cáo KT – XH xã Lam Sơn)

Đất đai của xã chủ yếu là đất đỏ nâu trên đá mác ma trung tính và đất

đỏ vàng Ngoài ra còn có đất nâu vàng trên phù sa và đất phù sa ven sông, suối Xã có diện tích đất sản xuất nông nghiệp là 325,11 ha (năm 2017), chủ

Ngày đăng: 21/05/2020, 17:05

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Văn Thắng, Nguyễn Trọng Hiệu, Trần Thục (2010). Biến đổi khí hậu và tác động ở Việt Nam – Viện khoa học khí tượng thủy văn và môi trường, Viện khoa học khí tượng thủy văn và môi trường Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biến đổi khí hậu và tác động ở Việt Nam – Viện khoa học khí tượng thủy văn và môi trường
Tác giả: Nguyễn Văn Thắng, Nguyễn Trọng Hiệu, Trần Thục
Năm: 2010
2. Nguyễn Văn Viết (2002). Biến đổi khí hậu và chiến lược Nông nghiệp Việt Nam. Hội thảo khoa học Viện KH KHTV & MT năm, Hà Nội ngày 23/11/2008, 120-140 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biến đổi khí hậu và chiến lược Nông nghiệp Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Viết
Năm: 2002
6. Trần Công Minh (2007), Khí hậu và khí tượng đại cương, ĐHQG Hà Nội, Hà Nôi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khí hậu và khí tượng đại cương
Tác giả: Trần Công Minh
Năm: 2007
3. UBND xã Lam Sơn, Na Rì, Bắc Kạn, Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ phát trển kinh tế - xã hội năm 2015 Khác
4. UBND xã Lam Sơn, Na Rì, Bắc Kạn, Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ phát trển kinh tế - xã hội năm 2016 Khác
5. UBND xã Lam Sơn, Na Rì, Bắc Kạn, Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ phát trển kinh tế - xã hội năm 2017 Khác
7. Trung tâm khí tượng thuỷ văn quốc gia, Biểu hiện của biến đổi khí hậu tại Việt Nam Khác
8. Trung tâm kỹ thuật môi trường (CEE), Báo cáo chuyên đề: Tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng đến hoạt động Nông nghiệp (2016) Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w